1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH. ĂNGGHEN. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

32 1,8K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 163,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH. ĂNGGHEN. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH ĂNG-GHEN.

Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

-I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰNHIÊN” CỦA PH ĂNG-GHEN

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của tác phẩm

Trong “Lời nói đầu” của tác phẩm “Chống đuy-rinh”, ngoài việc chứng minh

sự thống nhất của ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác và phân tích phép biệnchứng duy vật, cũng như chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vậtvới phép siêu hình và phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen; Ph Ăng-ghen đã tómtắt sự phát triển của triết học và chỉ ra tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩaMác Ông đã chứng minh tính quy luật của quá trình thay thế các thời kỳ cơ bảncủa lịch sử triết học: phép biện chứng tự phát thời cổ đại - phép siêu hình thế kỷXVII, XVIII - phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức - phép biệnchứng duy vật của chủ nghĩa Mác Ngoài ra, ở phần này, Ph Ăng-ghen cũng đánhgiá sự đóng góp của nhiều thế hệ triết gia vào sự phát triển của t duy triết học nhânloại và cho rằng, sự phát triển của khoa học tự nhiên và thực tiễn của cuộc đấutranh giai cấp là điều kiện của sự phát triển triết học (tìm xem và trích dẫn - luậngiải cho việc tác động của khoa học tự nhiên vào sự phát triển của triết học)…Thời cổ đại và cả trung đại, khoa học tự nhiên tập trung nghiên cứu vũ trụ vàcác nguyên tố cấu tạo nên vạn vật (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ - thuộc thế giới siêu vĩmô), triết học có yếu tố duy vật Thời cận đại tập trung nghiên cứu thế giới vĩ mô(các nguyên tố cụ thể, tế bào, năng lượng, nhiệt, nguyên tử…) và thời hiện đại tậptrung nghiên cứu thế giới vi mô (sóng, hạt…)

Ph Ăng-ghen viết tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” trong bối cảnh lịch sử

có những nét nổi bật là:

Trang 2

Do tác động bởi sự thất bại của Công xã Pa-ri (1871) nên phong trào đấu tranhcủa giai cấp vô sản có xu hướng chững lại; tuy nhiên, Công xã Pa-ri cũng để lạinhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho giai cấp vô sản và đó cũng là cơ sở thựctiễn giúp cho C Mác và Ph Ăng-ghen khái quát và phát triển lý luận của mình.Trong những năm thập kỷ 70 của thế kỷ XIX, ở Đức xuất hiện xu hướng tầmthướng hoá chủ nghĩa duy vật và chống lại phép biện chứng duy vật, xu hướng này

một tác phẩm có tên là “Chống Buysnơ”, để khắc phục xu hướng nguy hiểm nóitrên và bảo vệ phép biện chứng duy vật, trong đó có vấn đề cốt lõi là chỉ ra sự đốilập giữa phép biện chứng và phép siêu hình

Cũng vào thời gian này, khoa học tự nhiên đã đạt được những thành tựu mớivới nhiều phát minh quan trọng lần lượt xuất hiện, góp phần chứng tỏ mọi quátrình diễn ra trong giới tự nhiên đều có tính biện chứng Đặc biệt là ba phát minh

bảo toàn và chuyển hoá năng lượng”, định luật này đã khẳng định và chứng minhrằng thế giới vật chất và vận động của vật chất là vĩnh viễn, vật chất vận động vàphát triển thông qua quá trình chuyển hoá các dạng năng lượng từ thấp đến cao,năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không bao giờ mất đi, nó chỉ chuyển

đã xây dựng nên “Học thuyết tiến hoá” - học thuyết khoa học về sự hình thành vàphát triển của động, thực vật học, học thuyết này đã chứng minh quá trình vậnđộng, biến đổi của động, thực vật từ thấp đến cao, thông qua biến dị, di truyền vàquy luật đấu tranh sinh tồn, đây là cơ sở khẳng định quan điểm duy vật về sự sống,

từ đó khẳng định thế giới thống nhất ở tính vật chất và vận động của vật chất tuân

(1) Lút-vích Buy-sn (1824-1899) - nhà sinh lý h c và là nhà tri t h c t s n ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy c, đ i bi u tiêu bi u c a ch ngh a duy ại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ủa chủ nghĩa duy ủa chủ nghĩa duy ĩa duy

v t t m th ng ật tầm thường ầm thường ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng.

(2) Giu-li-út Rô-b c May- (1814-1878) - nhà khoa h c t nhiên l i l c ng i ự nhiên lỗi lạc người Đức, một trong những người đầu tiên ỗi lạc người Đức, một trong những người đầu tiên ại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy c, m t trong nh ng ng i đ u tiên ột trong những người đầu tiên ững người đầu tiên ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng ầm thường tìm ra “ nh lu t b o toàn và chuy n hoá n ng l ng” Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng” ật tầm thường ản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ăng lượng” ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyợng”.

(3) Giêm-x Brê-xc t Giu-l (1818-1889) - nhà v t lý h c n i ti ng ng i Anh chuyên nghiên c u v đi n t và nhi t ật tầm thường ổi tiếng người Anh chuyên nghiên cứu về điện tử và nhiệt ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng ức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ề điện tử và nhiệt ện tử và nhiệt ử và nhiệt ện tử và nhiệt (1) Sác-l Rô-b c ác-uyn (1809-1882) - nhà khoa h c t nhiên v đ i ng i Anh Đ ự nhiên lỗi lạc người Đức, một trong những người đầu tiên ĩa duy ại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng.

Trang 3

theo các quy luật khách quan; M.G Slai-đen và T Svan-nơ đã phát minh ra

“Học thuyết tế bào”, học thuyết này đã chứng minh rằng, tế bào là cơ sở của kếtcấu và sự phát triển của thế giới động, thực vật, từ đó khẳng định tính thống nhất

và tính liên hệ phổ biến trong cấu trúc và phát triển của giới tự nhiên hữu cơ

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên đã làm thay đổi quan niệm siêuhình về nhận thức giới tự nhiên, đồng thời khẳng định biện chứng khách quan củamọi quá trình trong sự vận động và phát triển của thế giới Thế nhưng, vào thờiđiểm này, hầu hết các nhà khoa học tự nhiên vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởiphương pháp siêu hình, chưa thấy được tầm quan trọng của phương pháp tư duybiện chứng, nên họ đã bất lực khi giải thích sự thống nhất, sự phát triển và các mốiquan hệ trong tự nhiên, chưa vượt qua được ranh giới trong nhận thức về giới tựnhiên vô cơ và giới tự nhiên hữu cơ; điều đó đã dẫn đến cuộc đấu tranh tư tưởngtrong lĩnh vực khoa học tự nhiên diễn ra gay gắt Vì vậy, cuộc đấu tranh chống lạichủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức trong khoa học tự nhiên vào lúc này có ýnghĩa to lớn đối với việc bảo vệ các nguyên lý triết học cơ bản của chủ nghĩa Mác.Trên cơ sở tư tưởng về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, Ph Ăng-ghen đãphát hiện ra các hình thức vận động của vật chất và đã khắc phục được hạn chếtrong nhận thức của khoa học tự nhiên lúc đó Nhờ phát hiện này, Ph Ăng-ghen đãđặt ra nhiệm vụ cho mình là cần phải nghiên cứu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa cáchình thức vận động trong cơ học, vật lý học và hoá học; đặc biệt là nghiên cứu sựchuyển hoá hình thức vận động hoá học của tự nhiên sang vận động sinh học, tức

là hình thức vận động hoá học đã sản sinh ra sự sống như thế nào Phát hiện nàythực tế đã vượt ra ngoài khuôn khổ của công trình “Chống Buy-snơ” mà ông dựđịnh viết trước đây, đồng thời nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu biệnchứng trong sự tiến hoá của giới tự nhiên và chỉ ra con đường nghiên cứu củanhững vấn đề cơ bản của phép biện chứng trong khoa học tự nhiên Kể từ thời

(2) Mát-ti-át Gia-c p Slai-đen (1804-1881) - nhà th c v t h c l n ng i ự nhiên lỗi lạc người Đức, một trong những người đầu tiên ật tầm thường ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy c, n m 1838 đã nêu ra lý thuy t các t bào ăng lượng” ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy

m i phát sinh t t bào c ừ tế bào cũ ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ũ.

(3) Tê-ô-đo Svan-n (1810-1882) – nhà sinh v t h c l i l c ng i ật tầm thường ỗi lạc người Đức, một trong những người đầu tiên ại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy c, n m 1839 đã nêu ra thuy t c u t o t bào c a ăng lượng” ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ấu tạo tế bào của ại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ủa chủ nghĩa duy các c th s ng ểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy

Trang 4

điểm này, Ph Ăng-ghen bắt đầu xây dựng tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” củaông.

Mục đích viết tác phẩm là dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph.Ăng-ghen khái quát những thành tựu quan trọng nhất của khoa học tự nhiên đã đạtđược trong thế kỷ XIX nhằm chứng minh sự đúng đắn của phương pháp tư duybiện chứng; phê phán phương pháp tư duy siêu hình, chủ nghĩa duy vật tầmthường, chủ nghĩa duy vật cơ giới; đấu tranh chống các quan điểm sai lầm của chủnghĩa Đác-uyn xã hội, chủ nghĩa cơ hội Đức, chủ nghĩa duy tâm sinh lý học, chủnghĩa tiên nghiệm trong toán học, thuyết “sự chết nhiệt của vũ trụ” và tình trạng

mê tín dị đoan đang lan tràn lúc đó…; đồng thời, chống lại sự phản kích của kẻ thùđối với chủ nghĩa Mác sau thất bại của Công xã Pa-ri

Quá trình viết tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ph Ăng-ghen đượcchia thành hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất, từ tháng 5/1873 đến tháng 5/1876, Ph.Ăng-ghen chủ yếu tập hợp tư liệu, viết các bài báo riêng và “Lời nói đầu”; sau đó,theo đề nghị của C Mác, từ tháng 5/1876 đến tháng 7/1878, Ph Ăng-ghen tạmdừng công trình này để viết tác phẩm “Chống Đuy-rinh” Thời kỳ thứ hai, từ tháng7/1878 đến tháng 3/1883, Ph Ăng-ghen hoàn thiện đề cương cụ thể của tác phẩmtương lai, viết phần lớn các đoạn ngắn và hầu hết các chương

Sau khi C Mác mất, Ph Ăng-ghen phải dừng hẳn công trình khoa học này đểtiếp tục hoàn thành nội dung và cho xuất bản các tập II, III và IV của bộ “Tư bản”

mà C Mác viết còn dang dở, đồng thời thay C Mác trực tiếp lãnh đạo phong tràocông nhân quốc tế Vì thế, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ph Ăng-ghenchưa thực sự hoàn chỉnh, nhiều phần vẫn còn là những đoạn ngắn mới tập hợp lại.Sau khi Ph Ăng-ghen qua đời vào năm 1895, bản thảo “Biện chứng của tựnhiên” nằm trong tay các lãnh tụ của Quốc tế cộng sản II, cụ thể là E Béc-xtanh,

đã lưu giữ tác phẩm suốt 30 năm không cho xuất bản Mãi tới năm 1925, lần đầutiên, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” được chuyển sang Liên Xô và được xuấtbản bằng tiếng Nga và tiếng Đức

Trang 5

Dựa theo bản in nguyên văn bằng tiếng Đức đã được xuất bản ở Stút-gát năm

1894 như đã đề cập ở trên, những người cách mạng Nga đã dịch sang tiếng củamình và lần đầu tiên xuất bản tác phẩm “Chống Đuy-rinh” ở Xanh Pê-téc-bua vàonăm 1907 Sau đó, Liên Xô tiếp tục đăng tác phẩm này trong bộ “Toàn tập C Mác

và Ph Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản sách Chính trị quốc gia Liên xô xuấtbản tại Mát-xcơ-va năm 1961

Theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,Hội đồng xuất bản toàn tập C Mác và Ph Ăng-ghen đã dựa theo bộ sách nguyênbản bằng tiếng Nga nói trên, dịch sang tiếng Việt và in trong bộ “Toàn tập C Mác

và Ph Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1994,

từ trang 07 đến trang 450

Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” là một trong những tác phẩm quan trọng nhấtcủa chủ nghĩa Mác Nội dung của tác phẩm bao gồm cả ba bộ phận cấu thành củachủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tếchính trị học và lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học Vì thế, quá trình nghiên cứutriết học Mác không thể thông nghiên cứu tác phẩm cơ bản này V.I Lênin - lãnh

tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong những thập kỷ đầucủa thế kỷ XX cho rằng, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C Mác và Ph Ăng-ghen

là “một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích”, là một trong ba tácphẩm “gối đầu giường” của người công nhân có tri thức và là tác phẩm kinh điển

đã đi vào kho tàng lý luận của nhân loại

“Chống Đuy-rinh” là một công trình tổng thể nhưng không dàn trải mà chỉ tậptrung vào những vấn đề cốt lõi, trong đó có những vấn đề được giải quyết mộtphần (vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề tồn tại, đạo đức, pháp quyền…), cónhững vấn đề được trình bày khá hoàn chỉnh, trở thành tư tưởng có tính kinh điển(phép biện chứng duy vật) Quá trình biên soạn tác phẩm, Ph Ăng-ghen đã luônđứng vững trên lập trường thế giới quan và phương pháp luận khoa học, ông đãdẫn chứng các chất liệu sống là thành quả của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên,

để tăng sức thuyết phục cho quan điểm của mình Đây là một công việc rất khó

Trang 6

khăn và phức tạp đối với Ph Ăng-ghen, nhưng một khi thực tiễn đã đặt ra thì buộcông phải tập trung giải quyết cho kỳ được Công việc ấy cũng như “ngoạm vào cáiquả chua… mà một khi đã ngoạm vào thì buộc phải nuốt cho kỳ hết Hơn nữa, nó

các quan điểm sai lầm của Đuy-rinh có phạm vi rất rộng, như Ph Ăng-ghen đã môtả: “Hệ thống của ông Đuy-rinh được phê phán trong quyển sách này bao trùm mộtlĩnh vực lý luận rất rộng; tôi buộc phải dõi theo ông khắp nơi và đem những quanđiểm của tôi ra đối lập lại những quan điểm của ông ta Vì vậy, sự phê phán tiêucực đã trở thành tích cực; cuộc bút chiến chuyển thành một sự trình bày ít nhiều có

hệ thống về phương pháp biện chứng và thế giới quan cộng sản chủ nghĩa mà Mác

Thông qua tranh luận với Đuy-rinh về hàng loạt vấn đề triết học, kinh tế chính trị,chủ nghĩa xã hội, tác phẩm đã có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh vạch trầncác quan điểm sai trái của vị giáo sư này và một số đảng viên Đảng dân chủ - xãhội Đức Vì vậy, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” không chỉ có ý nghĩa là kết quả trựctiếp của cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận trong Đảng dân chủ - xã hội Đức mà còn

là sự trình bày chủ nghĩa Mác đầy đủ nhất, rõ ràng nhất Không những thế, “ChốngĐuy-rinh” còn đóng góp lớn về mặt lý luận trong quá trình tuyên truyền, giác ngộchủ nghĩa Mác cho phong trào công nhân quốc tế và các phong trào đấu tranh vìdân sinh, dân chủ và công bằng xã hội Những vấn đề được nêu ra và giải quyếttrong tác phẩm không chỉ đóng vai trò định hướng lý luận đối với phong trào côngnhân quốc tế mà còn tạo nên chủ nghĩa lạc quan có cơ sở khoa học trong sinh hoạttinh thần của xã hội lúc đó Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của tác phẩm, chínhquyền Đức đã phải ban hành một đạo lực đặc biệt để ngăn chặn việc xuất bản vàtruyền bá cuốn sách “Chống Đuy-rinh” của C Mác và Ph Ăng-ghen vào phongtrào công nhân thế giới, đồng thời cấm lưu hành tác phẩm này ở Đức Song, hành

vi cưỡng bức của chính quyền Đức không những không ngăn cản được ảnh hưởng

to lớn của tác phẩm, mà trái lại, nó càng có sức hút mạnh mẽ, làm tăng thêm sự

(1) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(2) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.20 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Trang 7

quan tâm của nhiều người đọc ở các nước Nga, Thuỵ Sĩ, Pháp và nhiều nước khác

ở châu Âu thời bấy giờ

2 Kết cấu và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C Mác và Ph Ăng-ghen in trong C Mác

và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, 444trang, gồm lời tựa cho ba lần xuất bản (I, II, III), lời mở đầu (I: “Nhận xét chung”.II: “Ông Đuy-rinh hứa những gì”) và ba phần chính, trình bày ba bộ phận cấuthành của chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hộikhoa học

Trong “Lời nói đầu”, ngoài việc chứng minh sự thống nhất của ba bộ phậncấu thành chủ nghĩa Mác và phân tích phép biện chứng duy vật, cũng như chỉ ra sựkhác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật với phép siêu hình và phép biệnchứng duy tâm của Hê-ghen; Ph Ăng-ghen đã tóm tắt sự phát triển của triết học vàchỉ ra tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩa Mác Ông đã chứng minh tính quyluật của quá trình thay thế các thời kỳ cơ bản của lịch sử triết học: phép biện chứng

tự phát thời cổ đại - phép siêu hình thế kỷ XVII, XVIII - phép biện chứng duy tâmcủa triết học cổ điển Đức - phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Đồngthời, Ph Ăng-ghen cũng chỉ ra rằng, chính sự mở rộng chủ nghĩa duy vật để tìmhiểu lịch sử xã hội đã tạo ra cơ sở khoa học cho sự nghiên cứu phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa và nghiên cứu học thuyết về giá trị thặng dư Hai phát minh

vĩ đại của Mác (chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư) đã đưachủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học Ngoài ra, ở phần này, Ph.Ăng-ghen cũng đánh giá sự đóng góp của nhiều thế hệ triết gia vào sự phát triểncủa tư duy triết học nhân loại và cho rằng, sự phát triển của khoa học tự nhiên vàthực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp là điều kiện của sự phát triển triết học

Phần thứ nhất: Triết học (từ trang 53 đến trang 206 gồm 12 chương, từ

chương III đến chương XIV) Ph Ăng-ghen viết phần này từ tháng 9/1876 đếntháng 01/1877 Tư tưởng chính trong phần này là, song song với việc phê phán

Trang 8

quan điểm của Đuy-rinh, Ph Ăng-ghen đã làm sáng tỏ nội dung chủ yếu của triếthọc Mác Ông đã phân tích vấn đề cơ bản của triết học, tính thống nhất vật chấtcủa thế giới, các phương thức tồn tại của vật chất, lý luận nhận thức, các quy luật

cơ bản của phép biện chứng duy vật và nêu lên một số quan niệm duy vật về lịch

sử Cụ thể: trong chương III và IV, Ph Ăng-ghen viết về Chủ nghĩa tiên nghiệm và

Đồ thức luận vũ trụ Bốn chương tiếp theo, từ chương V đến chương VIII, ông viết

về triết học tự nhiên Thông qua phê phán các quan điểm sai lầm của Đuy-rinh vềcác vấn đề không gian, thời gian; thiên thể học, vật lý học, hoá học; giới hữu cơ,

Ph Ăng-ghen đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Cácchương IX, X, XI, Ph Ăng-ghen tập trung bàn về các vấn đề đạo đức và phápquyền, phê phán Đuy-rinh về quan điểm “chân lý vĩnh cửu”, bình đẳng, tự do vàtất yếu Trong chương XII và XIII, Ph Ăng-ghen trình bày các quy luật cơ bản củaphép biện chứng duy vật Trong chương XIV, Ph Ăng-ghen trình bày khái quátnhững kết luận chung

Hầu hết các chương ở phần Triết học đã được C Mác và Ph Ăng-ghen chocông bố trên tạp chí “Vorwarts” theo hình thức những bài báo, dưới nhan đề: “Ông

cả ba phần chính của tác phẩm khi nó được xuất bản thành sách riêng, vốn là haichương đầu của phần 1, đã được C Mác và Ph Ăng-ghen tách ra kể từ lần xuấtbản thứ nhất

Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học (từ trang 207 đến trang 355, gồm 10

chương, từ chương I đến chương X) Ph Ăng-ghen viết phần này từ tháng 6 đếntháng 8/1877 Riêng chương X viết về quyển “Lịch sử phê phán” do C Mác trựctiếp biên soạn Tư tưởng chính của phần này là, bên cạnh việc phân tích những vấn

đề cơ bản của kinh tế chính trị học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, thông qua

đó, C Mác và Ph Ăng-ghen còn nêu lên những vấn đề về triết học trong lĩnh vực

xã hội Các chương của phần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinh

(1) Nhan đ cu n sách c a C Mác và Ph ng-ghen đã m a mai nh i l i nhan đ tác ph m c a uy-rinh đã đ c xu t ề điện tử và nhiệt ủa chủ nghĩa duy Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16 ỉa mai nhại lại nhan đề tác phẩm của Đuy-rinh đã được xuất ại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ề điện tử và nhiệt ẩm của Đuy-rinh đã được xuất ủa chủ nghĩa duy Đ ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyợng” ấu tạo tế bào của

b n Muyn-sen n m 1865 “Kê-ri đ o l n h c thuy t v kinh t qu c dân và khoa h c xã h i” Trong tác ph m này, ản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy " ăng lượng” ản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ột trong những người đầu tiên ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ề điện tử và nhiệt ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ột trong những người đầu tiên ẩm của Đuy-rinh đã được xuất uy-rinh đã tán t ng nhà kinh t h c t m th ng Kê-ri, th y c a ông ta trong l nh v c kinh t chính tr h c.

Đ # ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ầm thường ư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duyờng ầm thường ủa chủ nghĩa duy ĩa duy ự nhiên lỗi lạc người Đức, một trong những người đầu tiên ết học tư sản Đức, đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy ịnh luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng”.

Trang 9

đảo lộn kinh tế chính trị học”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 7đến tháng 12/1877.

Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội (từ trang 356 đến trang 450, gồm 05 chương,

từ chương I đến chương V) Ph Ăng-ghen viết phần này từ tháng 8/1877 đến tháng4/1878 Tư tưởng chính của phần này là, sau khi tóm tắt lịch sử và lý luận về chủnghĩa xã hội khoa học, Ph Ăng-ghen đã chỉ rõ: chủ nghĩa xã hội khoa học là sựbiểu hiện về lý luận của phong trào vô sản, đồng thời, ông đã phác thảo những đặctrưng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản tương lai Đứng vững trên quan điểm duy vậtbiện chứng về lịch sử, Ph Ăng-ghen đã phân tích sâu sắc mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất đã được xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếmhữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt xãhội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; thông qua sự phân tíchlogic đó, ông cho rằng, chỉ có thể giải quyết mâu thuẫn cơ bản này bằng con đườngcách mạng vô sản Giai cấp vô sản sử dụng bạo lực cách mạng để giành chínhquyền về tay mình, xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phùhợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Trên cơ sở lực lượng sản xuấtphát triển cao, sự phân chia giai cấp trong xã hội sẽ không còn nữa Một khi chế

độ tư bản chủ nghĩa bị xoá bỏ và chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng, thì conngười mới thật sự có tự do, hạnh phúc, mới thật sự làm chủ tự nhiên và xã hội, mớinhảy vọt từ “vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do” Các chương củaphần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinh đảo lộn chủ nghĩa xãhội”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 5 đến tháng 7/1878

II CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG TÁC PHẨM

“CHỐNG ĐUY-RINH” CỦA C MÁC VÀ PH ĂNG-GHEN

1 Về lịch sử của phép biện chứng duy vật

Như đã nêu trong phần tư tưởng chính của tác phẩm, phép biện chứng là vấn

đề trung tâm của phần “Triết học” Để chống lại Đuy-rinh, Ph Ăng-ghen đã nêu vàphân tích phép biện chứng; đồng thời viện dẫn, áp dụng nó vào các lĩnh vực củatriết học, trong đó có chủ nghĩa duy vật lịch sử và những vấn đề triết học của khoa

Trang 10

học tự nhiên Trước hết, Ph Ăng-ghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhấtcủa tư duy khoa học và khẳng định sự phát triển của nó luôn gắn liền với lịch sửphát triển của tư duy nhân loại Trong tác phẩm, Ph Ăng-ghen đã đề cập đến phépbiện chứng cổ đại, phép siêu hình và phép biện chứng của Hê-ghen.

Đề cập đến phép biện chứng cổ đại, Ph Ăng-ghen cho rằng: “Những nhà triếthọc Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và A-ri-xtốt bộ

óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức

tích cực và mặt hạn chế của phương pháp biện chứng trên cơ sở phỏng đoán củathời kỳ này, ông viết: “Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chấtthì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đãđược Hê-ra-clít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lạikhông tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vậtđều không ngừng phát sinh và tiêu vong Nhưng cách nhìn ấy, dù cho nó có nắmđúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không đủ đểgiải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ, và chừng nào chúng ta chưabiết được các chi tiết ấy thì chúng ta chưa thể hiểu rõ được bức tranh toàn bộ ấy.Muốn nhận thức được những chi tiết ấy, chúng ta buộc phải tách chúng ra khỏi mốiliên hệ tự nhiên hay lịch sử của chúng, và phải nghiên cứu riêng từng chi tiết một

Song song với việc đánh giá phép biện chứng cổ đại, Ph Ăng-ghen đã chỉ ra

sự đối lập giữa nó với phép siêu hình Ông cho rằng, từ nửa cuối thế kỷ XV trở đithì nhân loại mới có một nền khoa học tự nhiên thật sự, bốn thế kỷ tiếp theo đó,nhờ việc phân chia giới tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt cũng như việcnghiên cứu cấu tạo bên trong của những vật thể hữu cơ theo các hình thái giải phẫunhiều vẻ của nó, là những điều kiện căn bản khiến cho khoa học tự nhiên đã đạtđược những tiến bộ ngày càng nhanh chóng, thu được những thành tựu quan trọng,đem lại cho con người hệ thống tri thức lớn về giới tự nhiên Thế nhưng, theo Ph

(1) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.34 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(2) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.35 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Trang 11

Ăng-ghen thì phương pháp nói trên của khoa học tự nhiên cũng đã đem lại chongười ta một thói quen là xem xét những sự vật và quá trình tự nhiên trong trạngthái biệt lập, ở ngoài mối liên hệ chung, do đó không xem xét chúng trong trạngthái vận động mà xem xét trong trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản là biếnđổi mà coi chúng là bất biến vĩnh cửu, không xem xét chúng trong trạng thái sống

mà xem xét chúng trong trạng thái chết Đặc biệt, khi phương pháp nhận thức ấyđược vận dụng từ khoa học tự nhiên vào triết học thì nó sẽ dẫn đến tính hạn chếđặc thù của triết học duy vật siêu hình trong thế kỷ XVII, XVIII, mà người đầu tiên

có quan niệm theo phương pháp này là Bê-cơn và Lốc-cơ Ph Ăng-ghen viết: “Đốivới nhà siêu hình học, thì những sự vật và phản ánh của chúng vào tư duy, tức lànhững khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ,

Việc Ph Ăng-ghen đề cập đến hạn chế của phép siêu hình cũng chính là để nhấnmạnh giá trị của tư duy biện chứng

Khi xem xét phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, Ph Ăng-ghen đãcho rằng, Hê-ghen là người đem đến cách hiểu mới về khái niệm phép biện chứng,vượt qua giới hạn chủ quan ban đầu, tức nghệ thuật đối thoại mà người Hy Lạp cổđại từng nêu ra, để đạt tới ý nghĩa phổ quát của một phương pháp triết học, mộthọc thuyết xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ, tác động, chuyển hoá,thâm nhập và chế ước lẫn nhau Ph Ăng-ghen viết: “Nền triết học mới của Đức đãđạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống của Hê-ghen, trong đó, lần đầu tiên - và đây

là công lao to lớn của ông - toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần đượctrình bày như là một quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hoá vàphát triển, và ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và sự phát triển

ấy Theo quan điểm ấy, lịch sử loài người […] là một quá trình phát triển của bảnthân loài người, và nhiệm vụ của tư duy hiện nay là phải theo dõi bước tiến tuần tựcủa quá trình ấy qua tất cả những khúc quanh co của nó và chứng minh tính quyluật bên trong của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài Việc Hê-ghen

(1) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.36 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Trang 12

không giải quyết được nhiệm vụ ấy, thì điều đó ở đây đối với chúng ta không quan

Nhận định trên của Ph Ăng-ghen về phép biện chứng của Hê-ghen trong triếthọc cổ điển Đức, đã cho thấy: C Mác và Ph Ăng-ghen đánh giá rất cao công laocống hiến của Hê-ghen trong tiến trình lịch sử triết học nói chung, lịch sử phépbiện chứng nói riêng, và trên thực tế, nhiều nội dung thuộc về phép biện chứngđược Hê-ghen trình bày đã trở thành “cái hạt nhân hợp lý” đối với sự phát triển của

tư duy triết học nhân loại, được C Mác và Ph Ăng-ghen trực tiếp kế thừa, hoànthiện Bên cạnh đó, do chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử thời đại mình,cho nên trong phép biện chứng Hê-ghen còn tồn tại những hạn chế cần được khắcphục, nhất là hạn chế về mặt thế giới quan, điều này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa hệthống và phương pháp triết học của ông Đề cập đến vấn đề này, Ph Ăng-ghenviết: “Mặc dù Hê-ghen, cũng như Xanh-xi-mông, là một khối óc bách khoa nhấtcủa thời đại bấy giờ, song dù sao ông vẫn bị hạn chế, một là bởi những giới hạnkhông thể tránh được của những tri thức của bản thân ông, và hai là bởi những trithức và những quan niệm của thời đại ông… Ngoài ra còn có thêm một điều thứ banữa Hê-ghen là một nhà duy tâm, nghĩa là đối với ông thì những tư tưởng trongđầu óc của chúng ta không phải là những phản ánh ít nhiều trừu tượng của những

sự vật và quá trình hiện thực, mà ngược lại, những sự vật và sự phát triển củachúng, đối với Hê-ghen, chỉ là những phản ánh thể hiện cái “ý niệm” nào đó tồn tại

nên: “Mặc dù Hê-ghen đã nắm được một cách đúng đắn và thiên tài một số mốiliên hệ riêng biệt giữa các hiện tượng… Hê-ghen cũng không tránh khỏi gò ép, giảtạo, hư cấu, tóm lại là bị xuyên tạc Hệ thống Hê-ghen, với tính cách là một hệthống như vậy, là một cái thai đẻ non khổng lồ, nhưng đó cũng là cái thai đẻ non

pháp triết học, song với những công lao cống hiến của Hê-ghen, phép biện chứng

(1) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.39, 40 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(2) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.40, 41 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(3) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.41 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Trang 13

của ông cũng thật sự tiêu biểu cho hình thức lịch sử thứ hai của phép biện chứng phép biện chứng duy tâm, hay nói như C Mác trong “Tư bản” thì đó là phép biệnchứng bị đặt lộn ngược đầu xuống đất.

-Những nhiệm vụ lịch sử về lĩnh vực triết học mà Hê-ghen vốn chỉ mới đặt ratrong phép biện chứng, đã được C Mác và Ph Ăng-ghen kế thừa và giải quyết.Trước hết, trong tác phẩm “Logic học” của mình, Hê-ghen đã trực tiếp đemđối lập phép biện chứng với phép siêu hình, nhất là phép siêu hình của thế kỷXVII, XVIII Tuy nhiên, phép biện chứng của Hê-ghen lại mang tính chất khôngtriệt để như đã đề cập ở trên và vẫn chưa loại trừ hết những yếu tố siêu hình trong

hệ thống của mình, điều này có thể nhận thấy ở phần triết học tự nhiên và triết họclịch sử của ông Tư tưởng phát triển với tính cách là nguyên lý khởi đầu của phépbiện chứng đã không được Hê-ghen phân tích thấu đáo, đi tới tận cùng của sựkhám phá chân lý Sau này, trong tác phẩm “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chungcủa triết học cổ điển Đức”, Ph Ăng-ghen đã vạch ra cơ sở xã hội của sự hạn chế

chứng trong đó có phép biện chứng Hê-ghen, để từ điểm xuất phát này xác lậphình thức hiện đại của phép biện chứng - phép biện chứng duy vật

Như vậy, việc chỉ ra bản chất “sai lầm” của chủ nghĩa duy tâm Đức, cũng nhưmặt tích cực và mặt hạn chế của nó là con đường đưa C Mác và Ph Ăng-ghen đếnvới chủ nghĩa duy vật Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác ra đời có sự kếthừa “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen với

tư cách là một tiền đề lý luận trực tiếp Tuy nhiên phép biện chứng duy vật của chủnghĩa Mác hoàn toàn khác, thậm chí còn đối lập với nó, như C Mác đã thừa nhận.Trong tác phẩm này, Ph Ăng-ghen đã khẳng định: “Có thể nói rằng, hầu như chỉ

có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học

(1) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.21, tr.391-451 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(2) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.22 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Trang 14

Trong chương XII và chương XIII, tính luận chiến trong sự trình bày các quanđiểm của chủ nghĩa Mác về phép biện chứng có tác dụng mở đường cho việc cụthể hoá các nội dung của nó Ph Ăng-ghen chỉ rõ, mặc dù Đuy-rinh đã “tái thiếtlại” phép biện chứng Hê-ghen bằng “phương pháp tổng quát” và “loại suy” điểnhình, song sự “tái thiết lại” ấy vẫn không che đậy được tư tưởng chống phép biệnchứng, vốn đặc trưng ở chủ nghĩa máy móc của ông ta, và cùng gắn với nó làphương pháp siêu hình, nghĩa là “xem xét các sự vật như là đứng im và không cósinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái

chiếu và tách biệt bên ngoài giữa các sự vật tuy có tác dụng nhất định trong đờisống, song theo Ph Ăng-ghen, nó sẽ tỏ ra bất lực một khi xem xét đến vấn đề vậnđộng, biến đổi, sự sống, sự tác động và chuyển hoá của các sự vật Nói cách khác,

óc suy nghĩ theo cách siêu hình không thể hiểu được rằng “sự sống cũng là mộtmâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình” Vì không hiểu điều

đó, nên Đuy-rinh đã từng tuyên bố phép biện chứng là “một điều thuần tuý vô

Ph Ăng-ghen cũng phê phán thái độ xuyên tạc của Đuy-rinh đối với phépbiện chứng Mác-xít nói chung, phép biện chứng do C Mác thể hiện trong việcnghiên cứu hình thái kinh tế - xã hội (bộ “Tư bản”) nói riêng Đuy-rinh tỏ ra thiển

Mác không chỉ làm sống lại phép biện chứng Hê-ghen, mà còn khắc phục tính chất

tư biện của nó, bóc dần lớp vỏ thần bí, để phép biện chứng, từ đồ thức luận logicthuần tuý đến hoá thân trong hoạt động thực tiễn của con người và mang ý nghĩacải tạo thế giới thật sự Thái độ vô trách nhiệm ấy của Đuy-rinh đã khiến cho ông

ta không phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật vớiphép biện chứng duy tâm Đó là sự “thành kiến triết học”, vì thế mà “gán cho C

(1) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.172 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(2) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.132 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(3) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.187 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(4) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.176, 179 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Trang 15

Tóm lại, trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, C Mác và Ph Ăng-ghen đã trìnhbày một cách có hệ thống về lịch sử của phép biện chứng, xem sự ra đời của phépbiện chứng như là tất yếu khách quan, là sản phẩm của khoa học tự nhiên, khoahọc xã hội và khả năng tư duy con người phát triển đến một mức độ nhất định Bêncạnh đó, C Mác và Ph Ăng-ghen cũng chỉ rõ sự đối lập giữa phép biện chứng vớiphép siêu hình, nêu lên sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau giữa phép biện chứngduy vật của chủ nghĩa Mác với phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen;đồng thời, các ông đã chỉ ra bản chất của phép biện chứng duy vật và khẳng định

đó là phương pháp tư duy khoa học, có khả năng đem lại cho con người tính tựgiác cao trong hoạt động thực tiễn

2 Về nội dung của phép biện chứng duy vật

Song song với việc phân tích về lịch sử của của phép biện chứng, chỉ rõ bảnchất của phép biện chứng duy vật… Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, C Mác và

Ph Ăng-ghen đã tập trung phân tích làm nổi bật những nguyên lý, quy luật củaphép biện chứng duy vật; đồng thời, chỉ ra tính khách quan và tính phổ biến củanhững quy luật đó Cụ thể là:

a) Nguyên lý về mối liên hệ và phát triển

Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, thông qua việc phê phán các quan điểmsai lầm, C Mác và Ph Ăng-ghen đã đề cập nhiều đến mối liên hệ phổ biến, về vậnđộng và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Quá trình

đề cập nội dung này, các ông đã chỉ ra những vấn đề bản chất của nó

Theo quan điểm của C Mác và Ph Ăng-ghen thì, phép biện chứng duy vật là

sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp tư duy biệnchứng và giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng Sự ra đời của phép biệnchứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học, là phươngpháp khác về chất so với các phương pháp tư duy trước đó; Ph Ăng-ghen viết “…đối với phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sựvật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn

Trang 16

nhau giữa chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của

trưng phổ quát nhất của thế giới Xét về bản chất, phép biện chứng duy vật khôngchỉ khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới, mà còn xem xét các sự vật,hiện tượng trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn

có của chúng, hơn thế nữa, các sự vật và hiện tượng không chỉ đơn giản vận động,

mà còn có sự thay đổi, phát triển về chất và về phương diện bản chất của mọi sựvận động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển Chính vì thế, Ph Ăng-ghen

đã gọi phép biện chứng là khoa học về sự phát triển Ông viết tiếp và khẳng định:

“Như vậy, một quan niệm đúng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sựphát triển của loài người, cũng như về sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trongđều óc con người chỉ có thể có được bằng con đường biện chứng, với sự chú ýthường xuyên đến những tác động qua lại phổ biến giữa sự phát sinh và sự tiêu

Phép biện chứng duy vật xem xét các sự vật, hiện tượng trong những mối liên

hệ lẫn nhau của chúng, nó khái quát bức tranh toàn cảnh chằng chịt những mối liên

hệ của thế giới khách quan Tính chất vô hạn của thế giới, cũng như tính chất cóhạn của mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình chỉ có thể giải thích được trong mối liên

hệ phổ biến và được quyết định bởi rất nhiều loại mối liên hệ có vị trí và vai tròkhác nhau Sự liên hệ phổ biến là đặc trưng phổ quát nhất của thế giới Vì thế,quán triệt quan điểm toàn diện là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất, chỉ đạomọi hoạt động và tư duy của con người Theo nghĩa này, phép biện chứng đượchiểu như là khoa học về mối liên hệ phổ biến Nghiên cứu những mối liên hệ, phépbiện chứng vạch ra những quy luật phổ biến, mà theo đó, mọi vận động và pháttriển được thực hiện, bởi lẽ, các quy luật trước hết là những mối liên hệ nhất định

Ph Ăng-ghen còn nhìn nhận phép biện chứng như là khoa học về các quy luậtchung nhất của vận động và ông cho rằng, các quy luật của phép biện chứng khácvới các quy luật của các khoa học cụ thể; các quy luật chung nhất của sự vận động

(1) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.38 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

(2) C Mác và Ph ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.39 Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Ngày đăng: 25/01/2015, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w