Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽtrên tất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đềphòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt độ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong đề tài là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Trang 2MỤC LỤC Chữ viết tắt 2
BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT
3 NH Eximbank Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽtrên tất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đềphòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một trongnhững hoạt động cơ bản và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của Ngânhàng thương mại
Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam (Eximbank) là một trong nhữngngân hàng thương mại hàng đầu trên địa bàn thủ đô, vấn đề tăng trưởng bềnvững đã và đang được đặt ra hàng đầu trong công cuộc đổi mới và hội nhập,đặc biệt là trong việc hạn chế rủi ro tín dụng Với tỷ lệ chiếm 80-85% trêntổng thu nhập cho thấy các sản phẩm tín dụng có vị trí quan trọng trong hoạtđộng kinh doanh, có ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực kinh doanh khác NHEximbank chi nhánh Long Biên với tầm quan trọng của hoạt động tín dụng vàmối tương quan của hoạt động này với các hoạt động kinh doanh khác tại NH,việc nghiên cứu đo lường và đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng làviệc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho công cuộc xây dựng pháttriển bền vững của Eximbank chi nhánh Long Biên
Nhận thức được tầm quan trọng củ vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Hạn chế rủi ro tín dụng tại NH Eximbank chi nhánh Long Biên” làm đề tài cho
chuyên đề thực tập
2 Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng đồng thờiđưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của ngânhàng Eximbank chi nhánh Long Biên
Trang 53 Đối tượng và pham vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác hoạt động tín dụng trong những năm2007-2009 tại ngân hàng Eximbank chi nhánh Long Biên
- Phạm vi nghiên cứu :Các số liệu trong bảng tổng kết tài sản và Báocáo kết quả kinh doanh của NH Eximbank chi nhánh Long Biên trong nhữngnăm 2007-2009
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp so sánh, tổnghợp thống kê
5 Kết cấu của đề tài.
Đề tài được chia làm 3 chương
Chương 1: Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Eximbank chi nhánh Long Biên
Chương 3: Đề xuất nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Eximbank chi nhánh Long Biên.
Trang 6CHƯƠNG 1 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
đó người cho vay tin tưởng rằng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mụcđích, đúng các thỏa thuận, làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả đủ cả gốc vàlãi đúng thời hạn Mặc dù có thể diễn giải tín dụng bằng những từ ngữ khácnhau, song chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệvay mượn trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và ngườicho vay Có thể định nghĩa tín dụng như sau:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên làngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên làcác tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa làngười đi vay vừa là người cho vay
Hiện nay, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất đối với các
tổ chức kinh tế, dân cư Với tư cách là tổ chức huy động để cho vay, ngânhàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thươngnhân giúp họ có thêm vốn để bổ sung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tận
Trang 7dụng được cơ hội làm ăn tăng lợi nhuận cho chính mình Là người huy độngvốn, ngân hàng sẽ thực hiện việc tìm kiếm, thu hút vốn từ các tổ chức kinh tếtrên phạm vi toàn xã hội, là người cho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốncho các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sungtrong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Với vai trò này, tín dụngngân hàng đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêucầu tái sản xuất xã hội- cơ sở khách quan để hình thành chức năng phân phốilại vốn tiền tệ của tín dụng ngân hàng là do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quátrình tái sản xuất xá hội đã thường xuyên xuất hiện hiện tượng tạm thời thừavốn ở các tổ chức cá nhân này, trong khi các tổ chức cá nhân khác lại có nhucầu vốn Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thờigian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức cánhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục Tíndụng thương mại đã không giải quyết được vấn đề này, chỉ có ngân hàng là tổchức chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó khingân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm:+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác trong và ngoàinước
Ngày nay, tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốntiền tệ trong nền kinh tế thị trường
1.1.2 Vai trò của hoạt động tín dụng
- Thứ nhất, tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất
Trang 8Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quantrọng đối với mỗi doanh nghiệp, bên cạnh đó quan hệ mua bán chịu luôn tồntại trên thị trường, do đó với hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trìnhluân chuyển vốn trong nền kinh tế được diễn ra nhanh hơn, giúp cho ngườicần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạtđộng sản xuất kinh doanh được liên tục và giúp cho người thừa vốn có thểbảo quản an toàn, đồng thời kinh doanh kiếm lời.
Trong nền sản xuất hàn hóa, tín dụng là một trong những nguồn hìnhthành vốn cho doanh nghiệp, góp phần đưa vật tư hàng hóa đi vào sản xuất,thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa hoc kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình tái sảnxuất xã hội
- Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạmthời nhàn rỗi phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội để thực hiện cho vay tớicác đơn vị kinh tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.Đầu tư tập trung là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, hạn chế
sự lãng phí vốn, tiết kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốncho sản xuất
- Thứ ba, tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyểntiền tệ
Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hóa vàluân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngànhkinh tế trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế Hoạt động tín dụngluôn chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của Chínhphủ, vì vậy đã góp phần vào việc đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ trong
Trang 9nền kinh tế thị trường, hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong quá trình sảnxuất kinh doanh, đẩy nhanh vòng quay của vốn.
- Thứ tư, tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế
Với sự tài trợ tín dụng của ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thựchiện một chế độ hạch toán kinh tế và các định chế tài chính khác một cáchminh bạch và hiệu quả hơn Khi sử dụng vốn vay ngân hàng các doanhnghiệp phải tôn trọng các hợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và
nợ vay đúng hạn, cũng như việc chấp hành các quy định rang buộc tráchnhiệm nghĩa vụ khác ghi trong hợp đồng như là vấn đề tài chính Vì vậy đòihỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay của ngân hàng phải quan tâm tớiviệc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tănglợi nhuận của doanh nghiệp
- Thứ năm, tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước yêu cầu cácdoanh nghiệp phải mở rộng mối quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm vi mộtquốc gia mà còn phải mở rộng ra phạm vi khu vực và thế giới Tín dụng đã trở thành cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với thế giới và khuvực Đối với nước ta, một nước đang trong quá trình công nghiệp hóa hiệnđại hóa, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng nhất là trong công tác xuất nhậpkhẩu, trong công cuộc quản bá thương hiệu người Việt trên thế giới Tín dụngngày nay là một công cụ để giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có đủ nănglực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc mua bán chịu hànghóa, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêucầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới
- Thứ sáu, tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém pháttriển và các ngành kinh tế trọng điểm
Trang 10Với công cụ tín dụng, Chính phủ sẽ tài trợ cho các ngành kinh tế kémphát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn dài, mức vốnlớn Ngoài ra, Chính phủ còn tập trung vốn tín dụng vào việc phát triển cácngành kinh tế mũi nhọn, để tạo động lực thúc đẩy ngành kinh tế khác pháttriển theo, điều này được thể hiện rõ trong chính sách, chiến lược phát triểnđất nước từng thời kỳ.
- Thứ bảy, tín dụng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính sách kinh tế,hạn chế lạm phát
Ngân hàng tạo ra các nguồn vốn chủ yếu từ việc huy động các nguồntiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua chính sách lãi suất linh hoạt hấpdẫn, sau đó đầu tư vào nền kinh tế, vào các công trình trọng điểm trong chínhsách phát triển đất nước mà Chính phủ đã đề ra Bên cạnh đó vẫn đảm bảođược không ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình giá cả và lưu thông tiền tệ quốcgia, ngược lại, Nhà nước sử dụng biện phát khác, ví dụ như phát hành tiềngiấy để tạo nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, sẽ gây ra sự mất cân đối tronglưu thông, trong quan hệ hàng hóa-tiền tệ, làm tăng lạm phát, kết quả là ảnhhưởng tiêu cực tới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.3 Đặc điểm của hoạt động tín dụng
- Những hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay và cho
thuê Tài sản giao dịch trong cho vay là bằng tiền và tài sản trong cho thuê làbất động sản và động sản Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đượccấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện
- Lòng tin: Quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở niềm tin rằng người
đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn
Trang 11- Về mặt pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tíndụng, khế ước, đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những tráchnhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay.
- Tính hoàn trả: Người đi vay thông thường phải thanh toán phần lãi ngoàivốn gốc, vì vậy người đi vay phải thanh toán nhiều hơn so với lúc đầu đi vay
- Tính thời hạn: là khoảng thời gian mà người đi vay phải hoàn trả đúng hạn
- Tính rủi ro: rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiếncho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc khôngtrả đầy đủ vốn và lãi Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngânhàng không dự kiến là khoản vay đó sẽ bị tổn thất Tuy nhiên những khoảnvay đó luôn hàm chứa rủi ro
1.2 Rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tíndụng cho một khách hàng, hay có thể hiểu là khả năng khách hàng không trảđược nợ theo hợp đồng tín dụng Xét về khía cạnh của ngân hàng, thì rủi rotín dụng đồng nghĩa với thu nhập dự tính của ngân hàng từ các tài sản có sinhlời không được hoàn trả đầy đủ cả về mặt số lượng và thời hạn, do quan hệ tíndụng được hiểu theo hai chiều là đi vay và cho vay, vì vậy, cũng cần phải hiểurủi ro tín dụng theo hai chiều đó là rủi ro trong cho vay và rủi ro trong hoạtđộng đi vay Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu cấp thiết vềnguồn vốn đầu tư càng lớn thì mức độ rủi ro tín dụng càng cao Nguồn thunhập chính của các ngân hàng là từ lãi suất mà người vay sẽ thanh toán chongân hàng, phần khác là từ hoạt động trao đổi các món vay hoặc từ việc bảođảm và cung cấp các dịch vụ tương tự Nguồn thu nhập này phụ thuộc chủyếu vào doanh số và lãi suất cho vay
Trang 12Tuy nhiên không có gì đảm bảo chắc chắn rằng tiền vay và tiền lãi sẽđược người vay hoàn trả đúng hạn và đầy đủ Sự mất mát vốn vay và thu nhậpnày do nhiều nguyên nhân khác nhau, đó chính là những rủi ro mà ngân hàngthường gặp khi cho vay Những rủi ro này là một nhân tố quan trọng có thểquyết định sự tồn tại của cả một ngân hàng Vì vậy, mục tiêu chính của cácnhà quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo lợi nhuận tối đa ở các mức rủi ro cóthể chấp nhận được Trong điều kiện cạnh tranh việc cung cấp dịch vụ tàichính, ngân hàng gia tăng và bị áp lực từ nhiều phía Do đó có thể nói rằngtình trạng rủi ro và đặc biệt là rủi ro tín dụng của ngân hàng đang được hếtsức chú trọng.
1.2.2 Sự cần thiết phải phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
*Đối với bản thân ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh tức là thunhập giảm Thu nhập giảm làm cho việc mở rộng tín dụng sẽ gặp khó khăn.Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán, rủi ro tín dụng khiến cho việchoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn Các khoản cho vay cóthể mất hoặc khó đòi trong khi tiền gửi khách hàng vẫn phải trả lãi Làm mất
đi những cơ hội kinh doanh tốt của ngân hàng Nếu rủi ro xảy ra mức độ quálớn, nguồn vốn của ngân hàng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòngtin của khách hàng giảm tất yếu sẽ dẫn tới phá sản ngân hàng
*Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liênquan đến rất nhiều thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chứckinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác Vì vậy, kết quả kinh doanh củangân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đươngnhiên nó phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các
Trang 13doanh nghiệp và khách hàng Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể
có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cáchkhác hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt độngkinh tế có nhiều rủi ro Rủi ro xảy ra dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thịtrường tiền tệ, gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, làmảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Do đó, hạn chế rủi
ro tín dụng không những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêucầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn
xã hội
1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng.
1.2.3.1 Phân loai nợ
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 ban
hành quy định về phân loại nợ, theo Phương pháp “định lượng” thành 5
nhóm gồm:
- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
+ Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khảnăng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn và các khoản nợ có khả năngphát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhậnthanh toán
- Nhóm 2: Nợ cần chú ý
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã
cơ cấu lại
- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90-180 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo
Trang 14- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
+ Các khoản nợ quá hạn từ 180-360 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90-180 ngày theothời hạn đã cơ cấu lại
Lần đầu tiên phương pháp “định tính” được Quyết định 493 cho phép
áp dụng đối với tổ chức tín dụng đủ điều kiện Theo phương pháp này, nợcũng được phân thành 5 nhóm tương ứng như 5 nhóm nợ theo cách phân loại
nợ theo phương pháp định lượng, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngàyquá hạn chưa thanh toán nợ, mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ và chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng được NHNN chấpnhận
Trang 15• Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không cókhả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn;
• Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổnthất cao;
• Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ được đánh giá là khôngcòn khả năng thu hồi, mất vốn
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đo lường
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan, song ngân hàng phải quản lí rủi ro tíndụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Từ nhữngnguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng cụ thể hóa thành những chỉtiêu hoặc dấu hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi rotín dụng:
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ qúa hạn trên tổng dư nợ
- Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ
- Nợ có vấn đề
- Tính đa dạng hóa của tài sản
- Tình hình tài chính và phương án của người vay (các yếu tố của người vay)hoặc xếp hạng tín dụng người vay;
- Đảm bảo tiền vay
- Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
- Môi trường hoạt động của người vay
Bên cạnh nợ quá hạn và nợ khó đòi, nhà quản lí ngân hàng còn sử dụngcác hình thức đo rủi ro tín dụng khác, gắn liền với chiến lược đa dạng hóa tàisản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập quỹ dự phòng, đặt giá đối với các khoảncho vay…
Trang 16- Điểm của khách hàng
Thông qua phân tích tình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả
dự án, mối quan hệ và tính sòng phẳng… ngân hàng lập hồ sơ về khách hàng.Xếp loại và cho điểm Khách hàng loại A hoặc điểm cao, rủi ro tín dụng thấp,khách hàng loại C hoặc điểm thấp, rủi ro cao Chỉ tiêu này được xây dựng dựatrên các dấu hiệu rủi ro mà ngân hàng xây dựng Điểm của khách hàng chothấy rủi ro “tiềm ẩn”
- Các khoản cho vay có vấn đề
Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quá trìnhtheo dõi, nhân viên ngân hàng nhận thấy nhiều khoản tài trợ đang có dấu hiệukém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn Khoản cho vay có vấn đềđược xây dựng dưa trên quy định của ngân hàng
- Tính kém đa dạng của tín dụng
Đa dạng hóa là biện pháp hạn chế rủi ro Những thay đổi trong chu kì củangười vay là khó tránh khỏi Nếu ngân hàng tập trung tài trợ cho một nhómkhách hàng, của một ngành, hoặc một vùng hẹp thì rủi ro sẽ cao hơn so với đadạng hóa
Để có thể đánh giá được đúng mức độ rủi ro tín dụng của các NHTM cần phải dựa trên một số chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ Nợ tín dụng trên tổng nguồn vốn
Dư nợ tín dụng
Tổng nguồn vốn huy động
Từ đó có thể đánh giá được, rằng hiệu quả sử dụng vốn nói chung củangân hàng và hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng Rủi ro tín dụngchỉ có thể xảy ra khi bản than ngân hàng cho vay quá nhiều so với tiêu chuẩn
an toàn của ngân hàng nhà nước so với quy mô vốn huy động
Trang 17Hiện nay, các ngân hàng thường cho vay với tỷ lệ chiếm khoảng trên70% trong toàn bộ danh mục có Nếu cho vay quá mức sẽ ảnh hưởng đến khảnăng thanh khoản, khả năng quản lý của ngân hàng, khi đó khả năng xảy rarủi ro tín dụng sẽ rất lớn.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng Chỉ tiêu nàycàng thấp càng tốt, khi tỷ lệ này cao chứng tỏ ngân hàng đang gặp rủi ro vềthu hồi vốn
- Chỉ tiêu: Nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.
1.2.4.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng.
Trang 18- Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thường tạo điều kiện chorủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩavới việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tíndụng đối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm choviệc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng.
- Trình độ cán bộ hạn chế, nhất là cán bộ tín dụng người trực tiếp nhận
hồ sơ khách hàng, phân tích và thẩm định khách hàng cũng như dự án vayvốn.Vì vậy nếu trình độ cán bộ tín dụng không cao, thẩm định không tốt, cóthể chấp nhận cho vay những khoản vay không khả thi hoặc bị khách hàng lừagạt
- Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đềukhiến cho NHTM gặp phải rủi ro tín dụng Việc đánh giá giá trị tài sản thếchấp, cầm cố cũng là vấn đề rất lớn, hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trongquy chế tín dụng tại các NHTM
- Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa cácNHTM khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài, qua loa hơn Hơnnữa, nhiều NHTM do quá chú trọng đến lợi nhuận nên đã chấp nhận rủi rocao, bất chấp những khoản vay không lành mạnh, thiếu an toàn
- Ngoài ra, còn rất nhiều nhân tố khác thuộc về NHTM gây ra rủi ro tíndụng như: chất lượng thông tin và xử lý thông tin trong NHTM, cơ cấu tổchức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực công nghệ
1.2.4.2 Nguyên nhân do khách hàng.
- Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinhdoanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắmbắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh Vì vậy, khi dự ánvay vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tíndụng là điều không thể tránh khỏi
Trang 19- Lợi dụng điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa đảo
để được vay vốn Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấpcầm cố giả mạo, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng bộ hồ sơ
- Sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho nguồn trả
nợ trở nên bấp bênh Vì vậy, khi khách hàng đã sử dụng vốn sai mục đích,việc thanh toán gốc và lãi đúng hạn rất khó xảy ra, rủi ro tín dụng xuất hiện
- Việc trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ đã uỷ quyền và bảo lãnh cũng
là một nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho NHTM Một số công ty, tổng công tyđứng ra bảo lãnh hoặc uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vayvốn của NHTM để tránh sự kiểm tra giám sát của ngân hàng cho vay chính.Khi đơn vị vay vốn mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh và uỷ quyền khôngchịu thực hiện việc trả nợ thay
1.2.4.3 Nguyên nhân khác
- Do môi trường pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ, hoặc thay đổi theohướng bất lợi cho doanh nghiệp thì cũng khiến các khoản vay NHTM gặp khókhăn
- Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá,lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như ngân hàng
- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cậptrong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ ngân hàng
- Ngoài ra, những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bãolụt, hạn hán, tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng, làm chokhách hàng khó có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó cũng gây ra rủi ro tín dụng
Trang 20CHƯƠNG 2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại NH Eximbank chi nhánh Long Biên
2.1 Khái quát về Eximbank chi nhánh Long Biên.
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Eximbank chi nhánh Long Biên
Vào ngày 24/5/1989, Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩuViệt Nam (Eximbank Việt Nam) được thành lập với tư cách một pháp nhânngân hàng thương mại cổ phần giao dịch trên thị trường
Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Ngày06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốnđiều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới làNgân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (VietnamExport Import Commercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank.Đến nay vốn điều lệ của Eximbank đạt 7.220 tỷ đồng Vốn chủ sở hữu củaEximbank đạt 13.627 tỷ đồng Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng
có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam Ngânhàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cảnước với Trụ sở chính đặt tại số 7 Lê Thị Hồng Gấm, quận I, TP Hồ ChíMinh và 122 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, NhaTrang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Vinh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, BìnhDương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng vàTP.HCM Đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 750 Ngân hàng ở tại 72 quốcgia trên thế giới
Eximbank Long Biên được thành lập từ ngày 13/8/2004
Thông tin về Eximbank Việt Nam
Trang 21Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt NamTên viết tắt: EXIMBANK
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Export Import Commercial Joint-Stock BankViết tắt : Vietnam Eximbank
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Eximbank chi nhánh Long Biên
Tuy là chi nhánh tại một tại một quận nhưng do có nhiều ngành kinh tếđang phát triển, có nhiều nhà máy, xí nghiệp và mật độ dân cư đông nên vốnhuy động được cũng như doanh số cho vay và dư nợ của Chi nhánh luôn ởmức cao Với phương châm hoạt động “ổn định, an toàn, hiệu quả, pháttriển” Eximbank Long Biên đã có những chính sách, biện pháp phù hợpnhằm mục đích nâng cao chất lượng kinh doanh, hạn chế mức thấp nhấtnhững ảnh hưởng xấu từ các nhân tố khách quan, thực hiện đúng chính sáchtiền tệ của Chính phủ và NHNN Chính vì vậy chi nhánh đã mở rộng và duytrì tốt mối quan hệ với khách hàng, ngày càng được nhiều khách hàng biếtđến Kết quả đó thể hiện cụ thể thông qua một số nghiệp vụ của chi nhánh
2.1.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh
Bất cứ một ngân hàng nào muốn tồn tại và phát triển đều phải có thunhập Thu nhập để trang trải những chi phí, để tích luỹ, mở rộng quy mô Vìvậy mục tiêu quan trọng của các ngân hàng là kinh doanh phải có lãi bởi bêncạnh mục tiêu “an toàn” còn là mục tiêu “hiệu quả”
Trang 22Bảng 1:Tình hình kết quả kính doanh năm 2007-2009 của
NH Eximbank chi nhánh Long Biên
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Lợi nhuận của năm 2008 cao hơn so với năm 2007 là 6.025 triệu đồng
và đến năm 2009 là 20.420 triệu đồng, tăng so với năm 2008 là 5.320 triệuđồng Điều đó cho thấy lợi nhuận của chi nhánh tăng ở mức cao
Năm 2008, với một năm hoạt động hiệu quả của Eximbank Long Biên,mặc dù bị tác động bởi một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả tài chính trongnăm như:
Thực hiện quy định về hạch toán dự thu, dự trữ nên có chênh lệch dựtrả lớn hơn dự thu
Trích dự phòng rủi ro tăng hơn so với các năm trước
Do chi nhánh mới được thành lập nên chi phí cho việc bổ sung, nângcấp máy móc, trụ sở làm việc và các chi phí khác phát sinh cao
Tuy nhiên, lợi nhuận năm 2009 vẫn vượt kế hoạch Với kết quả kinhdoanh của mình, năm 2009 chi nhánh được hội đồng thi đua Ngân hàngTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam xếp chi nhánh là đơn vị kinh doanh xuất sắc
Có được thành tích trên là do có sự nhất trí cao của Ban giám đốc, sựphối kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban và sự cố gắng của tập thể cán bộtrong cơ quan biết vận dụng và triển khai một cách linh hoạt nhiệm vụ kinh
Trang 23doanh năm 2009, đã đề ra được các biện pháp tích cực, chủ động trong vệcthực hiện, tìm kiếm những dự án tốt, thu hồi nợ đến hạn, quá hạn và cáckhoản mới phát sinh
2.1.2.2 Tình hình huy động vốn
Chi Nhánh Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Long Biên với lợi thế
hoạt động trong khu vực có nhiều ngành kinh tế, khu công nghiệp, dân cư
đông đúc và làng nghề truyền thống Thêm vào đó là mạng lưới các quỹ tiếtkiệm, phòng giao dịch và chi nhánh phụ thuộc được phân bố rộng khắp, cùngvới ưu thế về cơ sở vật chất, trình độ cán bộ và bề dày kinh nghiệm các nămqua đã huy động được một lượng vốn khá lớn phục vụ cho hoạt động kinhdoanh của mình
Bảng 2: Tình hình huy động vốn NH Eximbank chi nhánh Long Biên
Đơn vị: Triệu đồng
1 Phân theo vốn huy động
2 Phân theo thời hạn
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Nếu năm 2007 chi nhánh mới chỉ huy động được 10.658 triệu đồng thìđến ngày 31/ 12/ 2008 tổng nguồn vốn huy động được đã lên tới 15.555 triệuđồng, tăng 4.897 triệu đồng Và đến 31/ 12/ 2009 tổng vốn huy động của năm
2009 đã là 62.554 triệu đồng, tăng so với năm 2008 là 46 999 triệu đồng.Như vậy, có thể thấy rằng tốc độ huy động vốn của chi nhánh tăng nhanh
Trang 24Đạt được tốc độ tăng cao như vậy là do chi nhánh đã biết tận dụng cáclợi thế của mình, áp dụng một cơ chế lãi suất linh hoạt và đa dạng hoá các loạihình huy động Ngoài ra, kết hợp với sự năng động sáng tạo và khéo léo củađội ngũ tiếp thị và sự niềm nở, ân cần, tận tình phục vụ khách hàng của độingũ cán bộ giao dịch tại các quỹ tiết kiệm Sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng và
có hiệu quả giữa các phòng ban Đặc biệt, chi nhánh đã chú trọng tới kháchhàng gửi tiền là doanh nghiệp Nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệpthường rất lớn và có chi phí thấp (thường là loại tiền gửi thanh toán và tiềngửi không kỳ hạn), như vậy đã làm tăng thêm lợi nhuận cho chi nhánh Cácnăm qua tốc độ tăng tiền gửi doanh nghiệp là rất cao, điều đó chứng tỏ quan
hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng hết sức tốt đẹp Với việc huy động đượcnguồn vốn dồi dào, tăng trưởng cao qua các năm, chi nhánh đã có đủ vốn đểcung cấp cho các doanh nghiệp trên địa bàn
2.1.2.3 Hoạt động tín dụng:
Cũng như huy động vốn, hoạt động tín dụng của Eximbank Long Biêntrong các năm qua tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Tình hình hoạtđộng tín dụng được cụ thể qua bảng sau:
Trang 25Bảng 3: Tình hình sử dụng vốn của NH Eximbank chi nhánh Long Biên
Đơn vị: Triệu đồng
I Doanh số cho vay 265.254 295.154 378.121
(Báo cáo của Eximbank Long Biên)
Tính đến ngày 31/12/2008, tổng dư nợ của chi nhánh đạt 81.287 triệuđồng (trong đó DNNH: 74.222 triệu đồng) tăng 9 002 triệu đồng so với năm
2007 Và tổng dư nợ năm 2009 là 121.242 triệu đồng, tăng 39.955 triệu đồng
so với năm 2008 Tình hình sử dụng vốn của Eximbank Long Biên đã cónhững bước tăng mạnh
Có được kết quả trên là do chi nhánh chủ động tìm kiếm khách hàng,linh hoạt trong thủ tục cho vay và áp dụng một mức lãi suất hợp lý cho từngđối tượng vay Chi nhánh đã tập trung đầu tư vào các dự án lớn, khách hànglớn với ngành hàng có xu hướng phát triển và có ưu thế cạnh tranh cao nhưngành Giao thông cầu đường, Dệt may, Xi măng, Xuất Nhập Khẩu
2.1.2.4 Các hoạt động khác
Trong tình hình hiện nay, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càngdiễn ra gay gắt, việc cho vay ngày càng khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro Mặtkhác, trên thế giới hiện nay ở rất nhiều ngân hàng, doanh thu từ hoạt động tíndụng không còn là duy nhất, nguồn lợi nhuận từ các dịch vụ ngân hàng ngàycàng tăng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng lợi nhuận, chẳng hạn như ởnhững thành phố lớn, những nơi đang trên đà phát triển, doanh thu của ngânhàng cũng tập trung nhiều vào các dịch vụ như : thanh toán thu mua ngoại tệ,chi trả kiều hối, mở rộng các hoạt động chuyển tiền nhanh Việc cung cấp,
Trang 26đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng một mặt tạo thêm thu nhập, mặt khác còn
có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thu hútkhách hàng mới đến với ngân hàng tạo thêm sức cạnh tranh cho ngân hàng
Ý thức được điều đó, trong thời gian qua Eximbank Long Biên đã vàđang không ngừng mở rộng, phát triển thêm nhiều hoạt động khác khôngnhững với mục đích tìm kiếm thêm lợi nhuận, tăng doanh thu cho Chi nhánh
mà còn là để tạo uy tín, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của kháchhàng, giữ chân được khách hàng cũ, thu hút thêm khách hàng mới, mở rộngquy mô của ngân hàng, cố gắng phục vụ tốt và đáp ứng được yêu cầu của mọithành phần khách hàng Từ khách hàng là các cá nhân đơn lẻ, hộ gia đình, các
hộ kinh doanh nhỏ cho đến các doanh nghiệp nhỏ và lớn, các doanh nghiệpnhà nước cũng như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Nhìn chung, trong các năm qua, tuy là một Chi nhánh mới được thànhlập trong điều kiện nền kinh tế đang bắt đầu trên đà phát triển nhưng cònnhiều khó khăn, đội ngũ cán bộ nhân viên còn trẻ, chưa thực sự có nhiều kinhnghiệm trong công việc, bên cạnh đó là sự cạnh tranh với các ngân hàng bạnnhưng hoạt động kinh doanh của Eximbank Long Biên cũng đã đạt đượcnhững kết quả đáng khích lệ như: Tổng nguồn vốn huy động, chính sách chovay, dư nợ và lợi nhuận đều tăng
* Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tín dụng của Eximbank Long Biên.
* Thuận lợi :
• Chi nhánh huy động được nguồn vốn dồi dào, tăng trưởng ổn định quacác năm Tỷ lệ vốn huy động không kỳ hạn và ngắn hạn chiếm tỷ lệ cao, chiphí huy động vốn thấp (do tiền gửi doanh nghiệp chiếm đa số) thuận lợi chohoạt động tín dụng của ngân hàng Ngân hàng có thể điều chỉnh được lãi suấthợp lý sao cho khách hàng cảm thấy chấp nhận được Thu hút được nhiều
Trang 27khách hàng đến với ngân hàng.
• Nằm trong địa bàn có nhiều ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông,thương nghiệp, phát triển Nhu cầu vốn tín dụng nói chung và vốn tín dụngngắn hạn nói riêng là rất cao Trên địa bàn tập trung nhiều NHTM, làm ăn ổnđịnh, hiệu quả, do đó có thể hạn chế được rủi ro
• Là chi nhánh nhiều năm qua luôn đạt mức dư nợ cao, có nhiều kinhnghiệm trong hoạt động tín dụng có đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ, cónăng lực và đặc biệt là phương hướng, mục tiêu và giải pháp trong hoạt độngđược ban lãnh đạo chỉ đạo sát sao, kịp thời, phối hợp được với các phòng bankhác hỗ trợ cho hoạt động tín dụng
• Có mạng lưới cơ sở rộng khắp, hoạt động marketing được quan tâm.Không chỉ cán bộ tín dụng mà ngay cả lãnh đạo chi nhánh cũng luôn thựchiện việc tiếp xúc khách hàng, thu hút khách hàng và tìm giải pháp làm thoảmãn yêu cầu khách hàng
• Một số vướng mắc về xử lý tài sản bảo đảm, xử lý nợ xấu đã được dỡ
bỏ do sự ra đời của thông tư liên tịch số 03/ 2001/ BTC-TCĐC “về việc hướng dẫn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợcho các tổ chức tín dụng”
TTLT-NHNN-BTP-BCA-* Khó khăn:
- Do sự chững lại của nền kinh tế, cộng với tác động của cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã gây ra những biến động về tỷ giá,tiền tệ, làm ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp có quan hệ tíndụng với ngân hàng , nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu, xây lắp
- Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng trên địa bànkhông những làm giảm nguồn thu từ cho vay mà còn làm cho các khoản vaykhông đạt được chất lượng cao
- Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng ngân hàng còn gặp
Trang 28sửa đổi nhưng thiếu nhất quán, chưa sát thực.
- Những trở ngại trong quy định về xử lý tài sản bảo đảm, phátmại tài sản tuy đã có những sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa được nhất quán,
còn nhiều vướng mắc cả về chủ quan lẫn khách quan
2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại NH Eximbank chi nhánh Long Biên
2.2.1 Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ tín dụng trên tổng nguồn vốn huy động
Bảng 4: Tình hình dư nợ tín dụng trên tổng nguồn vốn huy đông của NH
Eximbank chi nhánh Long Biên
số tiền
Tỷ lệ dư nợ tín dụng/tổng vốn huy động
số tiền
Tỷ lệ dư nợ tín dụng/tổng vốn huy động
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Qua bảng trên cho ta thấy: Về tốc độ huy động vốn năm 2007 huy động
460 tỷ, năm 2008 huy động tăng 4% đat 478 tỷ đăc biệt năm 2009 huy động
tăng 104% so với năm 2008 tức là tăng 499 tỷ đồng vây tại sao năm 2009 lại
huy động tăng như vậy? Để hiểu được điều này chúng ta biết rằng đây là thời
kỳ nền kinh tế vừa thoát ra khỏi cuộc suy thoái cùng với chính sách kích thích
kinh tế của Chính phủ, trong khi năm 2007-2008 thế giới rơi vào khủng hoảng
tài chính toàn cầu tồi tệ nhất trong 60 năm qua.Việt Nam không thoát khỏi
ảnh hưởng đó cùng với đó là chính sách của nhà nước là kiềm chế lạm phát
năm 2007 sau đó kinh tế lại rơi vào giảm phát năm 2008 sau đó là chính sách
kích thích kinh tế
Trang 29Đây là lý do vì sao tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng tăng 49% năm
2008 so với năm 2007 và 19% của năm 2009 so với năm 2008 chúng ta cóthể thấy rõ qua biểu đồ sau
Biểu đồ 1: Tình hình dư nợ tín dụng của NH Eximbank chi nhánh
Trang 302.2.2 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Bảng 5: Tình hình nợ quá hạn trên tổng dư nợ của NH Eximbank
chi nhánh Long Biên
Tỷ lệ Nợ quá hạn/tổng nợ
Nợ quá hạn 72.285 18.68% 81.287 14.14% 121.242 17.75%
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Cùng với tốc độ tăng trưởng tín dụng thì tốc độ tăng nợ quá hạn cũngtăng lên từ 112% năm 2008 so với năm 2007(tăng 9 tỷ đồng) lên 149% củanăm 2009 so với năm 2008 ( tăng 39.955 tỷ ) điều này cho ta thấy rủi ro tíndụng của Ngân hàng đang tăng lên nếu không có giải pháp để hạn chế rủi rothì sẽ ảnh hưởng đến an toàn cũng như lợi nhuận của ngân hàng trong thờigian tới
Điều này dễ nhận thấy qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2: Tình hình nợ quá hạn của NH Eximbank chi nhánh Long Biên
Trang 31Để phân tích sâu hơn nưa về nợ quá hạn của ngân hàng ta đi sâu phântích về tỷ lệ nợ quá hạn theo khả năng thu hồi vốn
2.2.3 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn theo khả năng thu hồi vốn
Bảng 6: Tình hình nợ quá hạn theo khả năng thu hồi vốn.
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Qua bảng trên ta thấy nhìn chung tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng nợ quá hạndưới 180 ngày, những năm 2008 và 2009 có tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trên 5%
cụ thể năm 2008 là 8.6% và 2009 là 5.4% trong khi tỷ lệ này năm 2007 chỉchiếm 2.5% trên tổng nợ quá hạn đây là tỷ lệ cao và ảnh hưởng đến rủi ro tíndụng của ngân hàng Mặc dù ngân hàng đã cố gắng giảm tỷ lệ nợ quá hạn khóđòi nhưng cần giám sát chặt chẽ chỉ tiêu này trong các năm tiếp theo
Biểu đồ 3: Tình hình nợ khó đòi của NH Eximbank chi nhánh Long Biên
Trang 32Để phân tích sâu hơn ta tìm hiểu tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trên tổng dư
nợ tín dụng của các năm thấy qua bảng sau
Bảng 7: Tình hình nợ quá hạn khó đòi theo dư nợ tín dụng của NH
Eximbank chi nhánh Long Biên
Đơn vị : triệu đồng
Nợ quá hạn khó đòi 1.835(0.48%) 6.997(1.22%) 6.58(0.96%)
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Vậy qua bảng trên càng cho ta thấy rủi ro tín dụng của ngân hàng đang cao do tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ có xu hướng tăng năm 2007 chỉ chiếm0.48% trong khi đó sang năm 2008 tăng lên 1.22% và năm 2009 tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao là 0.96% cao gấp đôi so với năm 2007 từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng
Nợ khó đòi cao như vậy một phần là do trong cơ chế thị trường kháchhàng vay vốn gặp rủi ro Nhưng một phần không nhỏ là do trách nhiệm củacán bộ tín dụng từ khâu nắm bắt thị trường, nghiên cứu và thẩm định dự ánhời hợt, thiểu kiểm tra, kiểm soát để sử lý kịp thời khi khách hàng vay vốn códấy hiệu khó trả nợ Đây là một khó khăn rất lớn của ngành ngân hàng vì vậyngân hàng cần sớm có biện pháp sử lý
2.2.4 Cơ cấu tín dụng của NH Eximbank chi nhánh Long Biên
Bảng 8: Tình hình cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn của NH Eximbank
chi nhánh Long Biên
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Qua bảng trên cho ta thấy đa phần dư nợ tín dụng là nợ ngắn hạn chiếmkhoảng 90% trong khi nợ tín dụng có xu hướng tăng, như vậy ngân hàng đã ý
Trang 33thức được rủi ro mất cân đối kỳ hạn nên hạn chế cho vay dài hạn điều này sẽlàm rủi ro tín dụng giảm đi Trên thực tế việc tránh được rủi ro do mất cân đốitín dụng kỳ hạn là rất quan trọng vì đây là nguyên nhân chính gây ra khủnghoảng tài chính do nguồn vốn mà ngân hàng đi vay đa phần là nguồn vốnngắn hạn nên khi tập trung nhiều vào tín dụng dài hạn sẽ gây ra rủi ro rất lớnvới khả năng thanh toán nhanh của ngân hàng.
Bảng 9: Tình hình cơ cấu tín dụng theo thành phần kinh tế của NH
Eximbank chi nhánh Long Biên
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Năm 2007 tỷ lệ dư nợ là khách hàng cá nhân chiếm 24%
Năm 2008 tỷ lệ dư nợ là khách hàng cá nhân chiếm 18.6%
Năm 2009 tỷ lệ dư nợ là khách hàng cá nhân chiếm 27.2%
Trên thực tế khi dư nợ là khách hàng cá nhân càng cao thì rủi ro tíndụng cao vì với doanh nghiệp khi đi vay thì việc hạn chế rủi ro được thẩmđịnh kỹ lưỡng bởi cả ngân hàng cũng như chính doanh nghiệp vay Tuy nhiênphân khúc tín dụng là cá nhân là rất lớn đây cũng chính là thị trường tiềmnăng mặc dù lợi nhuận cao đi kèm với nó là rủi ro cũng cao Chính vì vậyviệc đảm bảo an toàn tín dụng với khách hàng là cá nhân cũng rất quan trọng,
để hạn chế tối đa rủi ro từ khách hàng cá nhân thì ngân hàng cần phải tuân thủnghiêm quy trình cho vay tín dụng để hạn chế tối đa rủi ro này
2.2.5 Chỉ tiêu trích lập dự phòng rủi ro của chi nhánh NH Eximbank chi nhánh Long Biên
Bản 10: Tình hình trích lập dự phòng trên tổng dư nợ
Trang 34Đơn vị: Triệu đồng
Trích lập dự phòng rủi ro 1,741.5 2,012.5 3,415
DPRR/Tổng dư nợ 0.45% 0.35% 0.5%
(Báo cáo tổng hợp của Eximbank Long Biên).
Qua bảng số liệu ta thấy số tiền trích lập dự phòng ngày càng tăng từ1.7415 tỷ đồng lên 3.415 tỷ đồng tức là tăng từ 0.45% lên 0.5% trên tổng dư
nợ Ngân hàng có điều kiên sử dụng quỹ dự phòng để sử lý nợ quá hạn, nợkhó đòi từ mấy năm trước còn đọng lại Với biện pháp trích lập dự phòng rủi
ro giúp cho ngân hàng có thể chủ động hơn trong công tác quản trị rủi ro vàtrong hoạt động kinh doanh của mình
2.3 Đánh giá rủi ro tín dụng tại NH Eximbank chi nhánh Long Biên 2.3.1 Kết quả đạt được
Qua phân tích tình hình hoạt động của ngân hàng Eximbank chi nhánhLong Biên cho thấy kết quả đạt được tương đối toàn diện góp phần phát triểnkinh tế ổn định Tổng dư nợ luôn tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước.Tích cực mở rộng tín dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh ngày càng pháttriển, ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ tiện ích của Ngân hàng
Để có được kết quả trên ngân hàng đã áp dụng một số giải pháp sau:
- Tăng qui mô kinh doanh đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng hạn chế phát sinh mới nợ quá hạn, nợ khó đòi
- Đối với khoản nợ quá hạn khó đòi với lý do khách quan phát sinh từcác năm trước, ngân hàng đã sử dụng các biện pháp như trình lên ngân hàngcấp trên xem xét cho phép giãn nợ,giảm lãi suất quá hạn nhằm bớt khó khăn
về tài chính để đơn vị tiếp tục được đầu tư vốn, duy trì sản xuất kinh doanh để
có thể trả nợ cho ngân hàng