1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ BÀI DỊCH CONSUMPTION TAXES AND REDISTRIBUTION

41 453 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ BÀI DỊCH CONSUMPTION TAXES AND REDISTRIBUTION Nghiên cứu này bàn về việc thay hệ thống thuế hiện thời của Mỹ bằng chỉ một loại thuế thu nhập đường thẳng. Và điều được xem là mâu thuẫn với các tài liệu nghiên cứu trước đây, chothấy rằng việc cải cách này sẽ làm giảm được sự bất bình đẳng và gia tăng phúc lợi cho xã hộicho người nghèo.

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- - HỌC PHẦN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

BÀI DỊCH CỦA PAPER 4

CONSUMPTION TAXES AND

REDISTRIBUTION

GVHD: TS DIỆP GIA LUẬT NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2013

Trang 2

2

THUẾ TIÊU THỤ VÀ SỰ TÁI PHÂN PHỐI THU NHẬP

VÀ CỦA CẢI CHO XÃ HỘI

Bài viết của tác giả Isabel Correia*

Nghiên cứu này bàn về việc thay hệ thống thuế hiện thời của Mỹ bằng chỉ một loại thuế thu nhập đường thẳng Và điều được xem là mâu thuẫn với các tài liệu nghiên cứu trước đây, cho thấy rằng việc cải cách này sẽ làm giảm được sự bất bình đẳng và gia tăng phúc lợi cho xã hội cho người nghèo Các kết quả thu được từ một mô hình đơn giản để xác định các kênh truyền dẫn chính mà qua đó cải cách này ảnh hưởng đến nền kinh tế Nó được hiển thị cũng có những kết quả mới phụ thuộc vào sự phân bố của cải và thu nhập, và họ giữ cho các bản phân phối thực nghiệm có liên quan (JEL D31, H23 , H25 )

Hầu hết các mã số thuế trong các nền kinh tế phát triển là vô cùng phức tạp và cồng kềnh Chi phí cao kết hợp với hệ thống như vậy đã thúc đẩy một cuộc thảo luận rộng rãi về những ưu điểm của một cuộc cải cách nền tảng của thuế (a fundamental tax reform) Một trong những cải cách là thay thế cho vốn luỹ tiến và thuế thu nhập của người lao động hiện tại bằng thuế tiêu thụ đường thẳng (flat consumption tax) Cuộc cải cách này bi phản đối vì nó sẽ làm tăng sự bất bình đẳng Như Robert McIntyre, một chuyên gia về thuế, tuyên bố rằng " có rất ít hoặc không có bất đồng giữa các nhà phân tích về sự thay thế hiện tại, thay đổi thuế thu nhập lũy tiến với một mức thuế suất sẽ thay đổi đáng kể gánh nặng thuế từ những người giàu có sang tầng lớp trung lưu và người nghèo" (xem Joel Slemrod và Jon Bakija năm 1996, trang 10) Trong bài viết này, tôi cho rằng việc áp dụng thuế tiêu thụ đường thẳng không chỉ làm tăng hiệu quả, mà còn làm giảm sự bất bình đẳng trong xã hội

Cụ thể, tôi thảo luận về tác động đối với sự bất bình đẳng phúc lợi thay thế các loại thuế thu nhập của người lao động hiện tại bằng thuế tiêu thụ đường thẳng, bổ sung bằng việc chuyển giao một lần cho mỗi hộ gia đình Cuộc cải cách này có thể được xem như là một sự đổi mới của quốc phòng nổi tiếng của Kaldor, trên cơ sở vốn chủ

Trang 3

Những kết quả này tương phản mạnh với hầu hết các tài liệu hiện có, trong đó tuyên bố rằng việc áp dụng một mức thuế suất tiêu thụ sẽ làm tăng sự bất bình đẳng

về tài sản, thu nhập và phúc lợi

Theo hai ý chính của tài liệu này, người ta sử dụng số liệu dân số chi tiết cho người nộp thuế và xây dựng bảng phân phối cho các chế độ tài chính hiện trạng, và sau đó cho các chế độ khác, với mục tiêu tính toán tác động của cải cách về nghĩa vụ thuế cho từng người nộp thuế Cả số lượng chi tiết và tổng hợp (Both individual and aggregate quantities) cũng như giá cả, được cho là không bị ảnh hưởng bởi các cải cách tài chính Hai nghiên cứu chi tiết về các hậu quả của thuế tiêu thụ đường thẳng cho nền kinh tế Mỹ là Daniel R Feenberg, Andrew W Mitrusi, James M Poterba (1997), William M Gentry và R Glenn Hubbard (1997), khác nhau chủ yếu trong các

dữ liệu sử dụng Feenberg, Mitrusi và Poterba (1997) sử dụng dữ liệu về đặc điểm cá nhân về tiêu thụ, thu nhập, và Thuế Họ nhận ra rằng gánh nặng thuế đối với các hộ gia đình có thu nhập cao thường thấp hơn theo chế độ với thuế tiêu thụ (the regime with consumption taxes) Ngược lại, Gentry và Hubbard (1997) sử dụng dữ liệu trên các thành phần của danh mục đầu tư của hộ gia đình và thấy rằng các cải cách thuế tiêu thụ có thể cải thiện Những nghiên cứu này sử dụng tất cả sự phong phú của Thuế

cá nhân, có ý nghĩa bổ sung cho các nghiên cứu hiện tại, trong đó tóm tắt từ các dữ liệu thanh toán thuế cá nhân để đơn giản hóa các mô hình, cho phép nó có tính đến

Trang 4

4

các tác động của cải cách trên mức giá cân bằng và quyết định của các hộ gia đình Những tác động cân bằng, có thể khuyếch đại hoặc bù đắp cho tác động trực tiếp được

mô tả bởi nghiên cứu này

* Banco de Portugal, DEE, Rua Almirante Reis, 1100 Lisboa, Portugal (e-mail: mihcarvalho@bportugal.pt) Tôi cảm ơn những tác giả vô danh, Pedro Teles, Bernardino Adão, Iván Werning, và Juan Pablo Nicolini, cũng như các đại biểu tham dự hội thảo tại U Pompeu Fabra, the Federal Reserve Bank of Chicago, và Centro De Estudios Monetarios y Financieros, và các cuộc họp của Society for Economic Dynamics Tôi chân thành cảm

ơn sự hỗ trợ tài chính của Fundação para a Ciência e Tecnologia Các ý kiến bày tỏ ở đây là chỉ của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Banco de Portugal.

(1) Hall and Rabushka (1995) có lẽ là đề nghị nổi tiếng nhất của một hệ thống thuế đường th ẳng

Ý chính thứ hai của bài nghiên cứu, trong đó bài viết này có thể được bao gồm,

sử dụng các nền kinh tế nhân tạo để hiểu các tác động tổng hợp và chi tiết của việc cải cách Các tài liệu cân bằng chung đều tập trung vào những hậu quả của các giai đoạn cải cách thuế cơ bản , ngoại trừ Don Fullerton, Diane Lim Rogers (1996), Dale W Jorgenson và Peter J Wilcoxen (1997 ), ví dụ cũng cho phép các mức thu nhập khác nhau trong mỗi giai đoạn Họ chỉ nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của việc giới thiệu các loại thuế tiêu thụ và kết luận rằng những tác động suy thoái Gustavo Ventura (1999)

và David Altigetal (2001) là hai ví dụ của các bài tập cân bằng chung sau này sẽ gần gũi hơn với những thay đổi trong bài viết này, mặc dù sự khác biệt là rất quan trọng Ventura sử dụng sự khác biệt tuổi tác và kỹ năng (inborn) trong năng suất lao động, cũng như thu nhập riêng (idiosyncratic earnings shocks), vì các nguồn không đồng nhất và so sánh các bản phân phối ổn định của thu nhập và tài sản thu được trước và sau khi cải cách , kết luận rằng thuế tiêu thụ đường thẳng làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng về sự phân bố của cả thu nhập và tài sản Altigetal (2001) tính toán toàn bộ quá trình chuyển đổi trạng thái cân bằng chung trong một mô hình vòng đời với sự không đồng nhất giữa các giai đoạn, kết luận rằng những thành viên nghèo trong giai đoạn hiện tại và tương lai sẽ giảm với thuế tiêu thụ đường thẳng Cả hai bài trên đều tóm lược từ những dữ liệu có sẵn (voluntary bequests), và các nguồn chính của họ không đồng nhất về tuổi tác và hiệu quả lao động Đây là những khác biệt quan trọng

Trang 5

5

với các nghiên cứu này Tôi nhấn mạnh rằng thật dễ dàng để thấy rằng khi các thông tin (agents) khác nhau về hiệu quả lao động, việc thay đổi thuế tiêu thụ sẽ có ảnh hưởng đối với vốn chủ sở hữu trái với điều mà tôi đang nghiên cứu (contrary to the one I find) Kết luận quan trọng trong bài nghiên cứu của tôi là sự tập trung cao của

sự giàu có (that the high concentration of wealth ) là một trong những điều kiện cần thiết chính cho nghiên cứu Ai cũng thấy rằng mô hình chồng chéo trong các giai đoạn

mà tóm lược từ việc thừa kế không thành công sự tập trung giàu có được quan sát thấy ở Hoa Kỳ (2) Việc tính toán (Since accounting) cho các phân phối của cải là cơ sở

để đánh giá những hiệu quả của cuộc cải cách thuế này, điển hình mô hình giai đoạn lặp lại không thể áp dụng trong nghiên cứu của tôi (replicate my results)

Theo những chiến lược khác nhau từ bài nghiên cứu này và xem như nền kinh

tế với các hộ gia đình là tồn tại vô hạn Các hộ gia đình trong mô hình nền kinh tế của tôi khác nhau về sự giàu có ban đầu và trong hiệu quả lao động Kể từ khi tôi giả định các phân phối là tác động bên ngoài, tôi có thể mô phỏng chính xác những giai đoạn phân phối của cải và thu nhập đó là yếu tố rất quan trọng để đánh giá những ảnh hưởng của cuộc cải cách thuế (3)

Sự phân phối tác động bên ngoài của sự giàu có ban đầu và hiệu quả lao động, cũng như các điều kiện cho Gorman tập hợp, ví dụ rằng có một chủ thể đại diện, đơn giản hóa đáng kể việc tính toán các hiệu ứng cân bằng tổng hợp chung Những sự khác biệt với các mô hình trước đó cho phép tôi để thực hiện các nghiên cứu mà không

có một đặc tính đầy đủ của việc phân phối của cải và thu nhập Nghiên cứu có thể được phát triển đang sử dụng chỉ là một tập hợp con của những khoảnh khắc của những người phân phối (the moments of those distributions)

(2) See Ana Castañeda, Javier Diaz-Giménez, and José-Víctor Ríos-Rull (2003)

(3) Trong mô hình, các hộ gia đình thuộc nhóm tương tự nếu họ chia sẻ lợi nhuận như nhau / tỷ lệ giàu có

do đó bị ảnh hưởng tương tự nhau bởi các cuộc cải cách thuế Các nghiên cứu khác, chẳng hạn như Krusell, Vincenzo Quadrini, và Ríos-Rull (1996), sử dụng phân vùng tương tự theo khu dân cư Thuế được sử dụng

để tài trợ cho chuyển nhượng, nhưng chuyển là tác động bên trong và một phần của trạng thái cân bằng

Trang 6

6

chính trị

Để đo lường tác động của cải cách, tôi so sánh phân phối phúc lợi xã hội trước và sau khi cải cách Để làm được, tôi tính toán ảnh hưởng đến trợ cấp suốt đời của quá trình chuyển đổi và trạng thái ổn định mới

Cấu trúc này, đơn giản hơn so với các tài liệu trước đây , cho phép tôi để có được một sự hiểu biết rõ ràng của các kênh chính mà qua đó một sự thay đổi trong thuế ảnh hưởng đến việc phân phối trợ cấp Đặc biệt, nó tạo điều kiện đánh giá sự phù hợp của các loại ngoại sinh không đồng nhất đối với các hộ gia đình Tôi thấy rằng , mặc dù các kết quả phụ thuộc chủ yếu vào một số đặc tính của phân phối chung của các đặc điểm giữa các hộ , không cần thiết phải tính đến các mô tả đầy đủ những đặc điểm đó Bằng cách này, kết quả của tôi cũng có giá trị đối với các nền kinh tế đáp ứng những đặc tính trên.4

Tôi thừa nhận một chuỗi các chi tiêu chính phủ phải được tài trợ bằng thuế gây biến dạng , và tôi tiến hành theo hai bước Trước tiên, tôi phân tích tác động phân phối trợ cấp của việc thay thế một hệ thống mà đánh thuế vốn và lao động ở những

tỷ lệ khác nhau với một hệ thống mà đánh thuế vốn , nhưng đánh thuế tiêu dùng và lao động thay thế Tôi thấy rằng nói chung cải cách này làm giảm sự bất bình đẳng miễn là tỷ lệ chi phí được tài trợ bởi thuế tiêu dùng là đủ cao Đây là trường hợp khi chi tiêu chính phủ được cấp một cách độc quyền với một thuế tiêu dùng đồng nhất Nền kinh tế đại diện là một nền kinh tế đóng Tuy nhiên , tôi có thể ước đoán rằng sự thay đổi các loại thuế được đề xuất là một ràng buộc thấp hơn cho các thay đổi hợp

Trang 7

7

Trong bước thứ hai , tôi phân tích hậu quả của việc cho phép cho các khoản giảm trừ , hoặc chi chuyển nhượng, trong Luật thuế Từ sự đơn giản của phương pháp này đòi hỏi phải sự tổng hợp Gorman , tôi sử dụng các chi chuyển nhượng , đại diện cho các khoản khấu trừ , hơn là miễn xem xét trong đề xuất truyền thống của cải cách thuế đồng nhất Tôi cho rằng thuế tiêu dùng có thể được sử dụng để sử dụng cho chi chuyển nhượng theo cách mà hiệu quả được duy trì tương đối với các trường hợp với không chuyển nhượng Tôi cũng cho thấy sự bất bình đẳng phúc lợi được giảm trong chi chuyển nhượng Cải cách bảo đảm hiệu quả của hệ thống thuế bởi vì sự kết hợp giữa thuế tiêu dùng và thuế lao động tương đương với một khoản thuế trên vốn ban đầu

Do đó nó không gây biến dạng Cải cách làm giảm sự bất bình đẳng vì chi chuyển nhượng tăng lũy tiến , nâng cao trợ cấp của các hộ gia đình phúc lợi kém hơn tương ứng

Kết quả chính của nghiên cứu này, là một cuộc cải cách thuế trong đó giới thiệu thuế tiêu dùng cùng với một khoản giảm trừ tiềm ẩn có thể làm giảm sự bất bình đẳng

và nâng cao hiệu quả và do đó có thể đảm bảo rằng ít nhất là hộ gia đình có phúc lợi thấp hơn mức trung bình nhận được tốt hơn sau khi cải cách Đặc điểm chính của mô hình dẫn đến suy giảm sự bất bình đẳng là sự tập trung cao của của cải

Bài viết này được tổ chức theo cách sau : Trong mục I, tôi phân tích một số kết quả quan trọng tương đương trên toàn hệ thống thuế Kết quả này sẽ được sử dụng

để hiển thị các ảnh hưởng của một cuộc cải cách thuế tiêu dùng đồng nhất trên hiệu quả và phỏng đoán về tác động của cải cách này có thể có trên sự bất bình đẳng phúc lợi Tại mục II , tôi lấy được những tác động đối với việc phân phối trợ cấp của việc cải cách, có tính đến các dữ liệu của Hoa Kỳ về sự phân bố của cải và thu nhập Tại Mục III , tôi thấy rằng nó có thể sử dụng chi chuyển nhượng để giảm sự bất bình đẳng mà không ảnh hưởng đến hiệu quả

4 Một sự lựa chọn tương tự cũng được thực hiện để đánh giá lợi ích của cử tri trung lập trong Krusell và Ríos - Rull (1999 ), trong đó số liệu về tài sản và thu nhập , phân bố theo độ tuổi được phản ánh cẩn thận dữ liệu có thể được sử dụng bởi một mô hình cũ tương tự như trong bài viết này

Trang 8

8

5 Xem Santiago Budria Rodriguez , Javier Diaz- Giménez , Vicenzo Quadrini , và Ríos - Rull ( 2002)

6 Các tính chất chung giống nhau đặc trưng cho các nước châu Âu (xem Santiago

Budria Rodriguez và Javier Diaz-Giménez 2007).

I Các kết quả tương đương

Như chúng ta đã biết sự ra đời của thuế tiêu dùng trong Luật thuế có tác động hiệu quả tích cực Để hiểu được lý do lợi ích này trong hiệu quả , nó rất hữu ích để thiết lập một sự tương đương giữa , một mặt , thuế tiêu dùng và , mặt khác , một hệ thống với hai thành phần, thuế thu nhập cá nhân và thuế khoán trên tài sản ban đầu Kết quả tương đương này hỗ trợ các phỏng đoán rằng tăng cường vai trò của thuế tiêu dùng trong Luật thuế có thể đạt được một hệ thống công bằng hơn , ngoài ra còn có hiệu quả hơn

Các thiết lập là một nền kinh tế xác định có vốn, nơi có thị trường cạnh tranh.7 Để đơn giản hóa, tôi cho rằng sự biến dạng trong nền kinh tế chỉ phát sinh từ nhu cầu tài trợ cho tiêu dùng công ngoại sinh với thuế gây biến dạng , hoặc thay thế bằng thuế khoán mà không thể phân biệt đối xử giữa các hộ Sở thích giống nhau giữa các hộ ,

biểu thị bởi i , và được xác định qua một chuỗi các mặt hàng tiêu dùng {Cit}∞ t=0 và

qua một chuỗi các giờ làm việc { Nit }t=0 ∞ Các hộ gia đình không đồng nhất vì họ có

cổ phần tài sản ban đầu khác nhau, ví dụ : tài sản phi nhân lực có thể được tích lũy - vốn vật chất và trái phiếu -8 và bởi vì họ khác nhau về hiệu quả làm việc , điều mà không đổi theo thời gian và ngoại sinh đến quyết định của các tác nhân Hộ gia đình là người chấp nhận giá và ẩn danh trên thị trường, có nghĩa là mỗi hộ gia đình phải đối mặt với cùng một mức giá

Chính phủ không có thông tin về các đặc điểm phân biệt các tác nhân , do đó, đối

xử với mọi tác nhân ẩn danh , có nghĩa là mức thuế suất thuế thu nhập vốn , thu nhập

cá nhân , và thuế tiêu dùng , và số tiền chi chuyển nhượng( khi được cho phép ) là giống hệt nhau giữa các hộ Tôi so sánh chính sách tài chính - mức thuế và chi chuyển

Trang 9

sự quay lại thực ròng trên tài sản ban đầu E i và A i0 là những đặc điểm ngoại sinh để

phân biệt các tác nhân trong nền kinh tế này: Ei là hiệu quả lao động của tác nhân i,

và A i0 đại diện cho mức độ ban đầu của của cải phi nhân lực của tác nhân i Giá và các loại thuế , p = { d t , w t , τc , τn } t = 0 và r0, và chi chuyển nhượng , Tr , là ngoại sinh cho

hộ gia đình cá nhân Sự ẩn danh của các hộ gia đình có nghĩa là chính phủ không thể

để tăng doanh thu (hoặc chị chuyển nhượng) được thiết kế cho một cá nhân cụ thể i

Do đó thuế khoán và chi chuyển nhượng được loại ra khỏi Luật thuế

Hệ thống này không có thuế phân biệt đối xử là tương đương , theo định nghĩa sau đây , với hệ thống ảo xem xét dưới đây , trong đó bao gồm thuế một lần phân biệt đối

xử trên sự giàu có ban đầu , bằng L ( 1 + r0 ) Ai0

7 Những hạn chế này đối với môi trường không liên quan về kết quả Sự không thích hợp của các nền kinh tế tiền tệ , nhỏ bé và cố định , và cạnh tranh không hoàn hảo cho kết quả này được chứng minh trong Isabel Correia , Juan- Pablo Nicolini , và Pedro Teles (2008)

8 Chúng tôi cũng có thể có nguồn nhân lực là tài sản , trên đó công nghệ sẽ phụ thuộc , có thể được lựa chọn sau khi thời gian không Để đơn giản, chúng ta chỉ xem xét lao không tích lũy và vốn vật chất được sản xuất

9 Đây là ảo bởi vì nó bao gồm một tiền ban đầu mà không có sẵn trong Luật thuế theo phân tích

Trang 10

10

ĐỊNH NGHĨA 1: Hệ thống thuế với các bộ công cụ khác, hoặc với các giá trị khác cho

các công cụ tương đương khi họ phân quyền công bằng về việc phân bổ tổng thể và cá nhân và giá trước thuế

Một chính sách fXlà một vector những chính sách công cụ với các yếu tố theo thứ tự sau: thuế suất tiêu thụ, thuế suất thu nhập lao động, thuế suất trên thu nhập vốn, chuyển nhượng bình quân theo đầu người qua mỗi kỳ, và tiền thuế thu ban đầu Một chính sách fX là một vector những chính sách công cụ với các yếu tố theo thứ tự sau: thuế suất tiêu thụ, thuế suất thu nhập lao động, thuế suất trên thu nhập vốn, chuyển nhượng bình quân theo đầu người qua mỗi kỳ, và tiền thuế thu ban đầu

BỔ ĐỀ 1: Chính sách tương đương với một chính sách

ảo

Chứng minh:

Chính sách fA đặc trưng bởi loại thuế tiêu thụ cao hơn chính sách fB Sự ràng buộc ngân

sách do tác nhân i liên kết với chính sách fA

Giả định giá cân bằng wt, dt và r0 là như nhau ở cả hai chính sách, fAvà fB Sau đó, giá tương đối cho các hộ gia đình sẽ như nhau, và vì những ràng buộc ngân sách sẽ giống nhau, nên sự phân bổ tổng thể và cá nhân cũng sẽ giống nhau Vì xác định wt, dt và

Trang 11

11

r0, điều kiện tiên quyết của các công ty là thỏa mãn giữa lao động và nguồn vốn cùng cấp Do đó, cùng đường chi tiêu của chính phủ, điều kiện điểm thị trường bán sạch sẽ được thỏa mãn Mức giá cân bằng như nhau ở hai chính sách, cho nên hai chính sách này tương đương nhau

Trong tác phẩm này, mặc dù các hộ gia đình là khác nhau nhưng nền kinh tế vẫn tuân theo thuyết Gorman aggregation10 Một hộ gia đình đại diện với i = r, và do đó sự phân

bổ cân bằng tổng thể và giá được xác định một cách độc lập với việc phân phối các đặc điểm, phúc lợi cá nhân Năng suất lao động được chuẩn hóa nên w đại diện cho mức lương của các đại lý đại diện, Er=1 Tôi sử dụng bổ đề 1 để chứng minh thuế tiêu thụ

có hiệu quả như sau:

Định nghĩa 2: Một sự thay đổi của chính sách dẫn đến sự gia tăng hiệu quả khi phúc

lợi của đại lý đại diện tăng

Thuế tiêu thụ có hiệu quả để đạt được điểm cân bằng đầu tiên tốt nhất Với kết quả này, công cụ thuế tiêu thụ và thuế thu nhập lao động thực hiện tốt nhất, có thể chứng minh dễ dàng bằng ứng dụng Lemma 1 Wilbur John Coleman II (2000) cũng cung cấp một bằng chứng khác cho kết quả này

10 Cho đến nay, chúng ta giả định danh tính các đại lý trên thị trường và cho chính phủ Sự giả định này chỉ ra giá, thuế ròng, giống nhau ở các đại lý, đây là điều kiện cần thiết cho thuyết Gorman aggregation Đây là những điều kiện ngoài các điều kiện chúng ta áp đặt trong mục III

Hệ luận 1 (tác giả Coleman, 2000): Chính sách thuế tiêu thụ và trợ cấp lao

động tại cùng một tỷ lệ, chính sách f FB = (τ, −τ, 0, 0, 0), với τ là ngân sách chính phủ liên thời hạn hạn chế tại mức được chấp nhận/mức lí tưởng, đạt được trạng thái cân bằng đầu tiên tốt nhất

Chứng minh:

Sử dụng mệnh đề 1: chính sách f FB tương đương với chính sách ảo f V= (0, 0,

0, 0, L), trong đó khoản “tài chính” chi tiêu/sử dụng chỉ với các khoản thuế khoán/thuế

thân Từ đó sẽ không có biến động trong chinh sách ảo, nền kinh tế đạt được trạng trái tốt nhất.11

Trang 12

12

Chính sách kiến nghị của một khoản thuế khoán trên số vốn ban đầu12 yêu cầu lao động được trợ cấp và có thể do đó mà khó để thực hiện được Coleman lập luận rằng các khó khăn trong việc trợ cấp lao động là do : cao, “chuyên quyền/chuyên chế trong mức có thể” cao,chi phí của việc xác minh/kiểm tra công việc.Những hạn chế đó

là thuế thu nhập lao động không tiêu cực phải có hiệu lực và khi nó được áp dụng thì

sẽ không còn đạt được mức trạng thái đầu tiên tốt nhât Vì vậy tôi so sánh,về hiệu quả,một chuỗi các chính sách nơi thuế tiêu thụ được gia tăng,và thuế thu nhập lao động giảm,cho đến khi thuế thu nhập lao động tiến đến bằng 0.Mỗi chính sách,dĩ nhiên,tài chính cùng một đường tiêu thụ với ngoại sinh công khai

Mệnh đề 1 : Ta cho thuế trên vốn và các giao dịch chuyển bằng 0, τK = 0 and

Tr = 0 A Sự kết hợp doanh thu trung lập của sự gia tăng thuế tiêu thụ và giảm thuế

thu nhập lao động,hạn chế sau này là không âm,luôn làm tăng hiệu quả

Chứng minh:

Xem xét một chính sách f 1, trong mỗi trình tự của một chi tiêu công khai được tài trợ với một khoản “thuế liên tục” tiêu thụ τ c, và một khoản thuế thu nhập lao động liên tục, tích cực, τ n ≥0 Chính sách này sẽ là bằng với một chính sách khác f 2, nơi

mà “trình tự của một chi tiêu công khai” tương tự được tài trợ với một khoản thuế

tiêu thụ cao hơn, τ c > τ c, và một khoàn thấp hơn, nhưng không âm, thuế thu nhập

lao động 0 ≤τ n < τ n

Từ mệnh đề 1, f 1 = (τ c, τ n, 0, 0, 0) tương đương với chính sách ảo f 1V = (0, τ

n , 0, 0, L ), nơi τ n = ((1 + τ n)/(1 + τ c))−1 và L = 1 − (1/(1 + τ c))

Hơn nữa f 2 = (τ c, τ n, 0, 0, 0) tương đương với chính sách ảo f = (0, τ n, 0, 0, L)

nơi mà τ n = ((1 + τ n)/(1 + τ c)) − 1 và L = 1 − (1/(1 + τ c)) τ c > τ c cho nên > L,.Những

chia sẻ của những tài trợ tiêu thụ công khai với một khoảng thuế không biến sạng cao

hơn trong chính sách hơn chinh sách f 2 hơn chinh sách f 1 , và từ đó τ n, τ n ≥0,nó

phải là τ n < τ n do đó chính sách f hiệu quả hơn chính sách f1.13

Trang 13

13

Hệ luận 2: Nếu thuế trên vôn và các giao dịch chuyển đều bằng 0 , τK = 0 and

Tr = 0 , và tỷ lệ thuế thu nhập lao động được hạn chế để không âm,vậy chính sách hiệu

quả nhất là thuế tiêu thụ độc quyền f E = (τc, 0, 0, 0, 0).14

11 : Vốn ban đầu và giá trị hiện tại của chi tiêu chính phủ phải tồn tại một trạng thái cân bằng với số tiền L

12 : Chính sách này không khả thi với các mô hình chỉ có lao động

13 : Nhận thức của kết quả này rất giống với một trong những kết quả trong Elhanan Helpman và Efraim Sadka (1982) Ở đó, khoản thuế được thông qua việc đánh thuế tuyệt đối trên lợi nhuận,được giảm về quy mô của công nghệ

14 : Trong trường hợp này, nơi mà mã số thuế được áp dụng trên thuế thu nhập lao động không âm,khoản thuế tối ưu trên vốn là tích cực,vì vậy khoản tiền ban đầu có thể được sử dụng để tiếp tục làm giảm các biến dạng của hệ thống.Tuy nhiên, số lượng, sự tối ưu,các khoản thuế cố định trên vốn là khoảng bằng 0

Như đã nêu ở mệnh đề 1, sự thay đổi của chính sách mà trong đó thuế tiêu thụ tăng và thuế thu nhập lao động giảm sẽ tương đương với thu nhập lao động bị đánh thuế ở mức thấp hơn và tài sản ban đầu được đánh thuế ở mức cao hơn.Điều đó là trực quan để nghĩ rằng để giảm thiểu sự bất bình đẳng,chúng ta nên sử dụng một nền tảng thuế tập trung hơn.Nếu lí do chính của sự bất bình đẳng là sự tập trung tài sản ban đầu,nó là tự nhiên để phỏng đoán rằng sự gia tăng trong thuế tiêu thụ sẽ dẫn đến

sự phân phối phúc lợi công bằng hơn.Tuy nhiên,các hộ gia đình không đồng nhất không chỉ vì bất đồng tài sản ban đầu mà còn vì sự khác nhau về năng suất lao động Trong việc xác định tác động trên vốn chủ sở hữu của việc tăng thuế tiêu thụ,nó là quan trọng để hiểu rằng các hệ thống tương đương giảm trên thuế thu nhập lao động

và tăng trong thuế trên tài sản ban đầu,tương tác với sự phân phối chung của tài sản ban đầu và năng suất lao động.Ngoài ra,tác động phụ thuộc vào hiệu ứng cân bằng chung về giá cả Các nghiên cứu về hiệu ứng trên vốn chủ sở hữu của sự thay đổi trong chính sách phải được thực hiện thông qua việc sử dụng một mô hình hoàn chỉnh cân bằng tổng thể.Đây là chủ đề của phần tiếp theo

Trang 14

14

II Tăng thuế tiêu thụ

Phần này sẽ phân tích sự tác động trên vai trò của sự tăng tưởng vốn chủ sở hữu trong hệ thống thuế hiện hành,sử dụng mô hình tổng thể với các tác nhân không đồng nhất và giả sử dòng tiêu thụ công khai là ngoại sinh

Tôi giả sử tổng hợp Gorman, sự cân bằng tổng hợp không phụ thuộc vào sự phân chia nghiên cứu tiêu biểu và có thể được mô tả bằng mô hình hộ gia đình đại diện.Nhưng ngoài sự tiện lợi của kết quả này,sự giả định của tổng hợp Gorman là quan trong để hiểu được những hiệu ứng của cải cách tài chính có ảnh hưởng trên sự phân phối phúc lợi tiêu biểu

Để có được tổng hợp Gorman,các tác nhân phải đối mặt với giá như nhau,làm cho thuế cận biên giống hệt nhau qua các tác nhân.Mô hình hệ thống thuế ban đầu đăc trưng bởi các loại thuế theo tỷ lệ trên cả thu nhập vốn và thu nhập lao động.Thuế cao hơn trên thu nhập vốn và mối tương quan tích cực giữa thu nhập vốn và tổng thu nhập dọc theo các tác nhân với ý nghĩa thuế suất tăng trên tổng thu nhập,nhưng tôi không kiểm tra sự so sánh của sự lũy tiến này trong hệ thống thuế hiện hành.Tổng hợp Gorman cũng đòi hỏi sự giấu mặt của các hộ gia đình,ngăn chặn bao gồm các khoản trích và chuyển,phụ thuộc vào đặc diểm của mỗi cá thể,đặc trưng cho hệ thống hiện hành,Đây là chi phí của phương pháp đơn giản mà tôi sử dụng,nhưng nó được giảm nhẹ bằng cách sử dụng sự chuyển biến chung qua các hộ gia đình để kiểm soát sự lũy tiến của hệ thống thuế cả cách

A Mô hình

Nền kinh tế được mô tả bởi một tập hợp vô hạn các hộ gia đình không đồng

nhất ghi bằng i = 1,….Tiêu chí sở thích của mỗi hộ gia đình có thể được miêu tả bởi các

chức năng tiện ích chung15

15: Để đảm bảo sự tổng hợp,chức năng tiện ích tạm thời phải là đồng dạng trong Cit − Ct and 1 − Nit,

hoặc biến phụ và tuyến tính trong ít nhất một đối số.Tôi sử dụng các lớp chức năng tiện ích của Jeremy

Trang 15

15

Greenwood, Zvi Hercowitz, và Gregory W Huffman (1988, henceforh GHH) đề xuất,tiêu chí GHH, họ chấp nhận

sự nhân rộng các đểm dữ liệu về giờ làm việc của người giàu và người nghèo, trong đó các đại diện đồng dạng không thể tái tạo.Kết quả định tính của sự phân phối, như đã thảo luận trong mục 3.6, không bị ảnh hưởng bởi

Loại công thức lợi ích này thì không đồng nhất về mức tiêu thụ và sức lao động, C và

N Tuy nhiên, tôi cho rẳng công thức trên có thể được chuyển sang công thức tương

đối đồng nhất về mức tiêu dùng, và chúng ta có thể giải quyết được quyết định tối ưu của các hộ gia đình trong 2 giai đoạn Giai đoạn thứ nhất, lượng thời gian làm việc của mỗi chu kỳ được tính toán Sự cân bằng về tỷ lệ thay thế thời gian làm việc và mức lương thực tế dẫn đến quyết định thời gian làm việc dựa trên i:

(5)

Điều kiện đầu tiên phản ánh rằng, đối với dạng sở thích này, không có tác dụng nhiều đến sự cung ứng lao động Để đưa ra được sự đánh giá, nguồn lao động trong giai đoạn trên phụ thuộc hoàn toàn vào mức lương ròng và mức thuế suất tiêu thụ trong khoảng thời gian đó Đối mặt với giá cả đồng nhất, việc lựa chọn sức lao động bởi những hộ gia đình nhiều tài sản và những hộ gia đình ít tài sản trùng khớp với những giá trị giống nhau về mức độ hiệu quả, Ei Trong trường hợp này, nhân tố nhiều tài sản và ít tài sản chỉ được phân biệt bởi quyết định tiêu dùng của họ 16 Nếu những nhân tố nhiều tài sản có mức hiệu quả lao động cao hơn, thì họ chọn làm việc nhiều thời gian hơn so với nhân tố tạo ít tài sản hơn Trong nhiều trường hợp, các qui tắc quyết định thời gian làm việc thì giống như tất cả các yếu tố khác và được đặt trong

E i1/(φ-1), vì vậy chúng có thể được gộp chung lại khi xét trong toàn nền kinh tế

Trang 16

16

Giai đoạn 2, lượng thời gian làm việc được thay thế trong công thức lợi ích bởi nguồn cung lao động, và vấn đề tiêu dùng tối ưu được giải quyết trong công thức lợi ích tài chính dạng Stone-Geary,

Trong đó

Tiêu biểu cho những sở thích, đồng nhất trong công thức (Cit − Cit), chỉ ra rằng công

thức lợi ích ban đầu có thể được viết như công thức tương đối đồng nhất về mức tiêu

dùng Sự hạn chế ngân sách, (2), sau khi thay thế Nit bằng những giá trị tối ưu, có thể

được viết lại là:

Sử dụng ngân sách bị giới hạn và những điều kiện đầu tiên về chuỗi thời gian

16

Những hộ gia đình cũng sẽ có những mức tiết kiệm khác nhau Những nhân tố nhiều phúc lợi hơn có tỉ lệ tiết kiệm nhiều hơn so với các nhân tố có phúc lợi ít hơn

Các quy tắc quyết định tối ưu cho Cit – đối Cit có thể được tính khi t ≥0 Đơn

giản để cho thấy rằng những quyết định tối ưu được ánh xạ trong

Eiφ/(φ−1) và trong Ai 0 cho các tác nhân và các chu kỳ.

Trang 17

17

Thuận lợi của việc giả định tổng hợp Gorman tất nhiên đến từ thực tế rằng cân

bằng trong việc tổng hợp giá cả và sự phân bổ có thể đạt được mà không càn

theo dõi sự phân bổ cá nhân Sự cân bằng tổng hợp có thể được tính bằng cách

sử dụng tác nhân thay thế ( i = r) trong các quy tắc quyết định Chú ý rằng lựa

chọn cá nhân của giờ làm việc (5) là tuyến tính trong Eiφ/(φ−1) , bởi vậy tổng

lao động tuyến tính trong ∑i=1I Eiφ/(φ−1) :

Trong đó ENr được định nghĩa như là chỉ số trung bình về mức độ hiệu quả liên quan đến tổng giờ làm việc Các quyết định cá nhân của việc tiêu dùng được mô tả bởi (7)

và (8), Cho Cit được định nghĩa như trong (6), là tuyến tính trong Eiφ/(φ−1) và Aio

Nó sinh ra một tổng mức tiêu thụ là tuyến tính trong ∑i=1I Eiφ/(φ−1) và ∑i=1 Ai 0

Trong đó Ecr là chỉ số trung bình về mức độ hiệu quả liên quan đến tổng mức tiêu thụ

Để mô tả sự cân bằng tổng thể, thêm nhiều thông tin kinh tế được thiết lập là càn thiết Công nghệ được mô tả bởi một hàm sản xuất tân cổ điển, Yt = F(Kt, Nr t), trong đó Yt là bình quân đầu người sản xuất và Kt là bình quân cổ phiếu trên mỗi đầu

Trang 18

18

người của nguồn vốn vật chất Có một tỷ lệ δ khấu hao liên tục, và không có chi phí điều chỉnh tích lũy vốn Chính phủ được mô tả bởi chi bình quân đầu người Gt và thuế suất tiêu dùng τc, τn, và τk, thu nhập của lao động và thu nhập ròng vốn khấu hao, tương ứng Các khoản thuế này là dứt khoát và không đổi theo thời gian Mỗi chu kỳ chi chuyển nhượng đổi được đặt ra bởi Tr, và nợ công ban đầu bình quân đầu người của

B g

Cân bằng tổng hợp được xác định bởi một chuỗi các định lượng bình quân đầu người

{Yt, Crt,Nrt, Gt, Kt} t=0, giá và thuế p={dt, wt, τc, τn, τK} t=0 và r0, chi chuyển nhượng

Tr, và điểu kiện ban đầu K0 và B0 đáp ứng các quy tắc quyết định của các biến thay thế tượng trưng, cùng với các điều kiện sau đây 17:

17) Fj là đạo hàm từng phần của hàm F đối với đối số thứ j.

Trang 19

19

Sở thích, kỹ thuật, tài sản trung bình ban đầu, và chính sách của chính phủ quyết định

sự cân bằng nói chung, độc lập cả về sự phân phối ban đầu của tài sản Ai0, và sự phân phối của mức độ hiệu quả

Ảnh hưởng của việc cải cách thuế trong sự cân bằng được đo lường bởi ảnh hưởng của nó lên sự phân phối của tiền trợ cấp thất nghiệp Sử dụng điều kiện 7 và 8 trong

cấu trúc hữu dụng Ui trong phần (6), chúng ta có thể biểu diễn lợi ich gián tiếp Vi như sau:

Lưu ý rằng cấu trúc lợi ích gián tiếp này là phép biến đổi của biểu thức cái mà có mối quan hệ giữa và Ai0 Tính chất này là kết quả trực tiếp của những điều kiện được đặt trong tổng số Gorman, thế là các hãng xưởng phải đối mặt với những mức giá giống nhau và những sở thích đó phụ thuộc vào những trường phái được mô tả ở trên Dạng này cho cấu trúc lợi ích gián tiếp của mỗi hộ gia đình là công cụ để sắp xếp các chính sách sao cho cân bằng, thậm chí với thông tin giới hạn trong việc phân phối chéo của các đặc tính một cách không đồng nhất Mục đích phụ kế tiếp để chứng minh khả năng này

B Phương pháp

Để so sánh hiệu quả của các chính sách trong sự mất cân bằng, tôi sắp xếp việc phân phối trợ cấp thất nghiệp bởi quan điểm của Lorenz, quan niệm mối quan hệ khác nhau,

được đại diện bởi ≻rd Trong thực tế, nó hàm ý việc so sánh tỉ lệ lợi ích của 2 hộ gia

đình bất kì thông qua các chính sách Trong những điều kiện lỏng lẻo, điều này có nghĩa rằng chính sách 1 là cân bằng hơn chính sách 2 khi, xem xét 1 cặp 2 hãng xưởng,

tỷ lệ phần trăm giữa nhận trợ cấp so với mức tiêu dùng (hoặc là tiêu dùng chuyển nhượng) 19 phải tăng để cân bằng trợ cấp là thấp hơn ở chính sách 1 so với chính sách

Trang 20

20

2 Một cái nhìn đơn giản của phương pháp này được phát triển ở Correia (1999b), 20

Có một sự miêu tả ngắn gọn được trình bày ở phụ lục 1

Chỉ số ưa thích cái mà cho phép sự so sánh trong đầu con người là chỉ số lợi ích

vi = (1- 𝛿 )Vi 1/(1-δ) với vi được xác định ở (9), cái đươc đưa ra như sau:

18 để xác định và nó cần thiết phải có thông tin trung bình một dãy thời gian của thu nhập và giờ làm việc

19 ví dụ của tiêu dùng chuyển nhượng là C –

20 Marco Bassetto và Jess Benhabib (2006) sử dụng phương pháp tương tự nhau

Hãy xem như vs là kênh phân phối các tiện ích trên thông qua các đại lý theo chính sách s Trong Correia (1999b) cho thấy rằng, khi sự không đồng nhất có thể được tóm tắt chỉ bằng một chiều (xi), chúng ta có thể viết,

và theo sau là

nơi vs là chỉ số tiện ích cho đại lý i với chính sách s, ps là véc tơ giá cho chính sách s, và a( p ) đại diện cho kỳ hạn phổ biến cho tất cả các đại lý, trong khi g( p ) đại diện cho các hệ số phổ biến dựa trên các đặc tính khác nhau giữa các đại lý Trong trường hợp này, mặt khác mức trung bình mang tính đặc trưng cho đại lý đại diện, việc xếp hạng các chính sách bất bình đẳng chỉ phụ thuộc vào tác động của chúng trên mức giá cân bằng tổng thể, chứ không phải những thời điểm mang tính phân bố không đồng nhất các đại lý Phương pháp này giúp ta có thể suy ra các tác động phân phối chất lượng

Ngày đăng: 24/01/2015, 17:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tăng thuế suất tiêu thụ - LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ BÀI DỊCH CONSUMPTION TAXES AND REDISTRIBUTION
Bảng 1 Tăng thuế suất tiêu thụ (Trang 23)
Bảng 1 tóm tắt kết quả. - LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ BÀI DỊCH CONSUMPTION TAXES AND REDISTRIBUTION
Bảng 1 tóm tắt kết quả (Trang 24)
Hình 2 cho thấy kết quả, qua các chính sách, cho νi &lt;νr. - LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ BÀI DỊCH CONSUMPTION TAXES AND REDISTRIBUTION
Hình 2 cho thấy kết quả, qua các chính sách, cho νi &lt;νr (Trang 27)
BẢNG 1 – ƯỚC LƯỢNG TỶ LỆ VỀ THU NHẬP TRƯỚC THUẾ, THU NHẬP SAU THUẾ - LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ BÀI DỊCH CONSUMPTION TAXES AND REDISTRIBUTION
BẢNG 1 – ƯỚC LƯỢNG TỶ LỆ VỀ THU NHẬP TRƯỚC THUẾ, THU NHẬP SAU THUẾ (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w