1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ 3 ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

77 473 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ 3: ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Trong thực tế, các quan hệ tài chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đan xen nhau trong một tập hợp hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

CHUYÊN ĐỀ 3:

ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

GVHD: TS DIỆP GIA LUẬT Nhóm 2 - Lớp ngày 2

1 Nguyễn Hoàng Anh 8 Nguyễn Triệu Phát

5 Khúc Thanh Hương 12 Huỳnh Diễm Phương Trang

7 Nguyễn Thị Ái Mỹ 14 Trần Trịnh Tiến Vũ

Tháng 11 năm 2013

Trang 2

PHẦN ĐÁNH GIÁ TỈ LỆ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 2 – NGÀY 2

Trang 3

ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

CHƯƠNG 1 : HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 5

1.1 Khái niệm và cơ cấu của hệ thống tài chính 5

1.2 Các yêu tố cấu thành hệ thống tài chính 5

1.2.1 Thị trường tài chính 5

1.2.2 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn 6

1.2.3 Thị trường nợ và thị trường vốn chủ sở hữu 7

1.2.4 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp 7

1.2.5 Thị trường tập trung và thị trường OTC 8

1.3 Các chủ thể tài chính 8

1.3.1 Tài chính công 8

1.3.2 Tài chính doanh nghiệp 9

1.3.3 Các định chế tài chính 9

1.3.4 Tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình 12

1.4 Cơ sở hạ tầng tài chính 12

CHƯƠNG 2: CÁC CƠ CHẾ ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 15

2.1 Những quy định về điều tiết hệ thống tài chính: 15

2.1.1 Ngân hàng: 15

2.1.2 Chứng khoán: 30

2.2 Giám sát tài chính: 32

2.2.1 Định nghĩa: 32

2.2.2 Mục đích của việc giám sát tài chính: 33

2.2.3 Đôí tượng của hoạt động giám sát tài chính bao gồm: 34

2.2.4 Nội dung của giám sát tài chính: 34

2.2.5 Những nguyên tắc cơ bản về giám sát : 35

2.3 Mô hình tổ chức giám sát và điều hành hệ thống tài chính ở Việt Nam: 39

Trang 4

2.4 Những hạn chế, rủi ro còn tồn tại trong hệ thống tài chính ở Việt Nam: 41

2.4.1 Đối với thị trường bảo hiểm : 41

2.4.2 Đối với thị trường chứng khoán : 42

2.4.3 Đối với thị trường ngân hàng : 44

2.4.4 Đối với cơ chế giám sát tài chính : 46

3 Một số giải pháp để phát triển các cơ chế điều tiết và giám sát nhằm ổn định, hạn chế các rủi ro cho hệ thống tài chính Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: 48

CHƯƠNG 3: CÁC MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 56

3.1 Khủng hoảng tài chính 56

3.1.1 Khái niệm 56

3.1.2 Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính 57

3.1.3 Phân loại khủng hoảng tài chính: 58

3.1.4 Nguyên nhân và hậu quả của những cuộc khủng hoảng tài chính 61

3.2 Hướng giải quyết khủng hoảng tài chính 70

3.3 Tóm lượt một số khủng hoảng tài chính tiêu biểu 70

Trang 5

Page | 5

CHƯƠNG 1 : HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm và cơ cấu của hệ thống tài chính

Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành

và sử dụng các quỹ tiền tệ Trong thực tế, các quan hệ tài chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đan xen nhau trong một tập hợp hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế Tuy nhiên, đó không phải là một hoạt động hỗn loạn mà ngược lại, chúng tuân thủ những nguyên tắc, những quy luật nhất định, trong đó những quan hệ tài chính có tính chất đặc thù giống nhau nhóm lại thành một bộ phận riêng Giữa các bộ phận này luôn có mối liên hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau và tạo thành hệ thống tài chính

Do vậy, hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính,

mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định

Hệ thống tài chính là một hệ thống gồm có thị trường và các chủ thể tài chính thực hiện chức năng gắn kết cung – cầu về vốn lại với nhau Cơ cấu hệ thống tài chính gồm:

- Thị trường tài chính

- Các chủ thể tài chính

- Cơ sở hạ tầng tài chính của thị trường tài chính

1.2 Các yêu tố cấu thành hệ thống tài chính

1.1.1 Thị trường tài chính

Sự phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, với sự phân công lao động xã hội sâu sắc đòi hỏi các chủ thể kinh tế phải năng động trong quá trình tìm kiếm và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội Trong khi đó, một bộ phận nhàn rỗi lại có nhu cầu tái đầu tư với lợi nhuận cao và

an toàn Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa là quá trình đa dạng hóa hình thức luân chuyển vốn từ người có vốn sang người cần vốn, làm cho các công cụ tài chính- đối tượng giao dịch trên các thị trường tài chính ngày càng đa dạng và có khả năng dế dàng chuyển đổi quyền sở hữu Đây là tiền đề quan trọng để hình thành nên thị trường tài chính

Thị trường tài chính là thị trường trong đó nguồn tài chính được kết chuyển từ nguời có vốn

dư thừa sang người thiếu vốn Thông qua việc mua bán trao đổi các tài sản tài chính, Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn Hiểu theo cách đơn giản thì Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng nguồn tài chính Việc mua bán quyền sử dụng nguồn tài chính chủ yếu được thực hiện thông qua các công cụ tài chính( tín

Trang 6

Page | 6

phiếu,thương phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, chưng chỉ tiền gửi )

Thị trường tài chính là môi trường trong đó hệ thống tài chính vận động Dó đó đề cập đến Thị trường tài chính không chỉ đề cập tới phương thức giao dịch, công cụ tài chính được trao đổi

mà còn đề cập tới các chủ thể hoạt động và giám sát tại đó Việc chuyển đổi quyền sở hữu và sử dụng các nguồn tài chính trên Thị trường tài chính thông qua các phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định

Chức năng cơ bản của Thị trường tài chính là dẫn vốn từ người dư thừa vốn tới người cần vốn Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi để cung cầu về vốn gặp nhau Thị trường tài chính tạo điều kiện huy động các nguồn lực tài chính trong nước và nước ngoài để phục vụ phát triển kinh tế xã hội

Thị trường tài chính còn thể hiện chức năng giám sát thông qua sự vận động của các nguồn tài chính

Thị trường tài chính không phải là nơi sinh ra giá trị, làm tăng giá trị mà nó chỉ thực hiện việc chia sẻ, phân phối lợi nhuận và rủi ro giữa các chủ thể giao dịch

Phân loại thị trường tài chính:

- Thị trường tiền tệ và thị trường vốn

- Thị trường nợ và thị trường vốn chủ sở hữu

- Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

- Thị trường tập trung và thị trường OTC

1.1.2 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn

- Thị trường tiền tệ

Là nơi các công cụ nợ ngắn hạn được mua bán với số lượng lớn Các công cụ nợ ngắn hạn lưu hành trên thị trường tiền tệ do nhà nước, các ngân hàng, các công ty lớn phát hành, có đặc điểm là tính thanh khoản cao và rủi ro không thanh toán thấp Các công cụ nợ của thị trường tiền

tệ bao gồm các giấy tờ có giá ngắn hạn như thương phiếu, kỳ phiếu thương mại, tín phiếu kho bạc, các cam kết mua lại, các loại chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng,…

- Thị trường vốn

Là nơi các công cụ vốn, công cụ nợ trung và dài hạn (do các chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các công ty cổ phần, doanh nghiệp phát hành) được trao đổi mua bán, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật Thị trường vốn chủ yếu giao dịch các loại trái phiếu dài hạn

và cổ phiếu

Trang 7

Page | 7

Việc phân định các bộ phận của thị trường tài chính chỉ là biện pháp để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu từng loại thị trường Trên thực tế, rất khó có thể xác định rõ đâu là ranh giới của khu vực tiền tệ, và đâu là pham vi hoạt động của thị trường vốn Hai thị trường này lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau, điều này cũng có nghĩa là các định chế tài chính có mối quan hệ hữu

cơ, chặt chẽ, mật thiết với nhau và với thị trường chứng khoán Các biến đổi về giá cả , lãi suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn, mà cụ thể là thị trường chứng khoán Ngược lại, những biến động trên thị trường chứng khoán như chỉ số chứng khoán, thị giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ

1.1.3 Thị trường nợ và thị trường vốn chủ sở hữu

Các doanh nghiệp hoặc cá nhân có thể nhận được vốn trên thị trường tài chính theo hai cách Cách thịnh hành nhất hiện nay là phát hành một công cụ nợ, có thể là trái phiếu hoặc hợp đồng cầm cố Đây là loại hợp đồng mà người đi vay phải trả cho người nắm giữ công cụ nợ một số tiền nhất định ( lãi suất và vốn gốc) trong các khoảng thời gian bằng nhau cho tới một thời điểm nhất định, gọi là ngày đáo hạn, khi lần thanh toán cuối cùng được thực hiện Công cụ nợ được coi là ngắn hạn nếu ngày đáo hạn của nó dưới một năm và dài hạn nếu ngày đáo hạn là mười năm hoặc dài hơn Các công cụ nợ có ngày đáo hạn nằm giữa một năm và mười năm được gọi là trung hạn

Phương pháp thứ hai là phát hành vốn cổ phần, ví dụ như cổ phiếu phổ thông Đây là loại trái quyền cho phép chia sẻ thu nhập ròng( thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản chi phí và thuế) và tài sản của doanh nghiệp Vốn sở hữu thường đem lại các khoản thanh toán định kỳ (cổ tức) cho những người nắm giữ chúng và được coi là loại chứng khoán dài hạn vì không có ngày đáo hạn Ngoài ra, việc sở hữu cổ phiếu đồng nghĩa với việc bạn sở hữu một phần doanh nghiệp và do vậy bạn có quyền biểu quyết để thông qua các vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp, cũng như bầu ra thành viên hội đồng quản trị

Nhược điểm chủ yếu của việc sở hữu vốn cổ phần trong công ty là tính rủi ro cao, tức là công

ty phải thanh toán cho tất cả cho những người nắm các khoản nợ của mình trước khi thanh toán cho người nắm vốn cổ phần Tuy nhiên lợi thế của việc nắm vốn cổ phần là trực tiếp thu lợi từ bất kỳ sự gia tăng nào trong lợp nhuận của công ty hoặc giá trị tài sản

1.1.4 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường tài chính mà trong đó các chứng khoán mới phát hành như trái phiếu hoặc cổ phiếu được bán cho người mua lần đầu Người phát hành có thể là công ty hoặc cơ quan chính phủ muốn vay vốn

Thị trường thứ cấp là thị trường tài chính trong đó các chứng khoán đã phát hành từ trước được mua đi bán lại

Khi một người mua một loại chứng khoán chứng khoán trên thị trường thứ cấp, người bán chứng khoán đó nhận được tiền, còn công ty đã phát hành nó không kiếm thêm được đồng vốn

Trang 8

1.1.5 Thị trường tập trung và thị trường OTC

Thị trường thứ cấp có thể được tổ chức theo 2 cách Một là tổ chức thành sở giao dịch, nơi người mua và người bán chứng khoán đã niêm yết gặp nhau, thường là một địa điểm tập trung để thực hiện hoạt động trao đổi Cách khác để tổ chức thị trường thứ cấp là chấp nhận thị trường qua quày OTC Trong thị trường này, nhà buôn phải nắm giữ một số chứng khoán nhất định và sẵn sàng mua bán với bất kỳ ai, miễn là những người này chấp nhận giá mà họ đưa ra Do các nhà buôn OTC liên hệ với nhau bằng máy tính và biết giá cả của nhau, nên thị trường OTC có tính cạnh tranh cao và không khác sở giao dịch có tổ chức nhiều lắm Trên thị trường OTC, chứng khoán được giao dịch là chứng khoán chưa niêm yết ở Sở Giao dịch Chứng khoán

1.3 Các chủ thể tài chính

Các chủ thể tài chính bao gồm các thẻ nhân và pháp nhân tài chính ở khu vực tư hoạt động theo những nguyên tắc hay cơ chế nhất định Trong nền kinh tế thị trường, cấu thành các chủ thể tài chính tương ứng với từng khu vực hình thành nên các khâu tài chính như: tài chính công (Public finance), tài chính doanh nghiệp (Business/corporate finance), định chế tài chính (Financial institutions) và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình (Personal or Household finance)

1.1.6 Tài chính công

Tài chính công được đặc trưng bằng các quỹ tiền tệ của các định chế thuộc khu vực công gắn liền với việc thực hiện các chức năng của nhà nước Các tổ chức tài chính công bao gồm các đơn

vị thuộc hệ thống cơ quan công quyền, các đơn vị cung cấp dịch vụ công

Tài chính công tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội, một mặt khắt phục thất bại thị trường, mặt khác thực hiện tái phân phối thu nhập đảm bảo công bằng

xã hội Điều này được thể hiện bằng quá trình phân phối và phân phối lại của quỹ ngân sách nhà nước Tài chính công thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế Trong trường hợp ngân sách bị thiếu hụt, thì chính phủ tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành trái phiếu để vay nợ,… Trên cơ sở nguồn lực huy động được, chính phủ sẻ dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc các khu vực kinh tế nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

Trang 9

Page | 9

1.1.7 Tài chính doanh nghiệp

Chính tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính trong nền kinh tế trong hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp được coi như những tế bào có khả năng tái tạo ra các nguồn tài chính Do vậy nó có khả năng tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau, quá trình kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán mỗi quan hệ đều có những nét khác biệt và có những tác động khác nhau đến tài chính doanh nghiệp Chính sự đa dạng này phản ánh mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các bộ phận khác trong hệ thống tài chính

Trong nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của bộ phận tài chính doanh nghiệp thể hiện ở chỗ: nó bao gồm những quan hệ tài chính vận hành theo cơ chế kinh doanh hướng tới lợi nhuận cao Chính nhờ cơ chế này mà nguồn tài chính được tăng cường và mở rộng không ngừng, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.8 Các định chế tài chính

Các định chế tài chính là những định chế thực hiện chức năng cơ bản chu chuyển nguồn vốn

từ các chủ thể tiết kiệm (thừa vốn) đến các chủ thể cần vốn Khi nhấn mạnh chức năng trung gian chu chuyển vốn, các nhà kinh tế thường gọi các định chế tài chính là các trung gian tài chính Các định chế tài chính gồm: ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tài chính, Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các định chế ngày càng hoàn thiện

và đa dạng các công cụ huy động vốn và tài trợ vốn Ngoài nguồn vốn điều lệ, cơ cấu nguồn vốn huy động của các định chế tài chính còn có vốn huy động từ các loại tiền gửi, cung cấp hợp đồng bảo hiểm, phát hành các loại chứng khoán Kèm theo đó, các định chế tài chính áp dụng nhiều biện pháp phòng chống rủi ro và cung cấp nhiều tiện ích để bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, các định chế tài chính tiến hành xây dựng danh mục đầu

tư, phát triển theo mô hình kinh doanh đa năng trên nhiều lĩnh vực, qua đó đáp ứng tối đa nhu cầu vốn và các dịch vụ tài chính cho xã hội

1.1.8.1 Định chế nhận tiền gửi

Các định chế nhận tiêng gửi là các trung gian tài chính nhận tiền gởi từ các cá nhân và tổ chức, sau đó tiến hành cho vay, bao gồm các ngân hàng thương mại, các định chế tiết kiệm như hiệp hội tiết kiệm và cho vay, ngân hàng tiết kiệm hỗ trợ và liên minh tín dụng

Trang 10

Page | 10

a) Ngân hàng thương mại

Loại hình trung gian tài chính này gọi vốn trước hết bằng cách phát hành tiền gửi séc, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn Sau đó họ sử dụng số vốn thu được để cung cấp các khoản cho vay thương mại, tín dụng người tiêu dùng, hợp đồng cầm cố, mua chứng khoán của chính phủ và trái phiếu chính phủ

b) Hiệp hội tiết kiệm và cho vay

Các định chế nhận tiền gửi từ loại này gồm khoảng 1500 cơ sở Chúng nhận được vốn trước hết thông qua tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi séc Trước đây, các định chế này

bị giới hạn hoạt động chủ yếu thực hiện các khoản cho vay cầm cố để mua nhà ở Theo thời gian, nhiều hạn chế dần dần được nới lỏng và vì vậy sự phân biệt giữa chúng và ngân hàng thương mại trở nên không rõ ràng Do vậy hai dạng trung gian này ngày càng trở nên giống nhau hơn và hiện nay có khả năng cạnh tranh với nhau nhiều hơn

c) Liên minh tín dụng

Đây là các hợp tác xã rất nhỏ được tổ chức thành đơn vị, bao gồm thành viên công đoàn hay người lao động của một doanh nghiệp nhất định Họ gọi vốn bằng cách thu hút tiền gửi dưới dạng cổ phần và chủ yếu cung cấp tín dụng tiêu dùng

d) Định chế tiết kiệm theo hợp đồng

Định chế tiết kiệm theo hợp đồng, chẳng hạn công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí, là trung gian tài chính thu hút vốn định kỳ trên cơ sở hợp đồng Do có thể dự báo với mức độ chính xác hợp lý

là cần thanh toán bao nhiêu trợ cấp trong năm tới, nên họ không lo lắng nhiều như định chế tiền gửi nhận tiền gửi về việc mất vốn Cho nên họ không quan tâm nhiều tới tính thanh khoản như các định chế nhận tiền gửi Vì lý do đó, họ có xu hướng đầu tư vốn của mình trước hết vào chứng khoán dài hạn như trái phiếu công ty, cổ phiếu và hợp đồng cầm cố

e) Công ty bảo hiểm nhân thọ

Công ty bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm cho mọi người để chống lại các rủi ro về tài chính sau khi chết và bán lợi tức đồng niên (trả thu nhập hàng năm sau khi nghỉ hưu) Họ thu hút vốn bằng phí bảo hiểm mà mọi người trả để giữ cho hợp đồng của mình có hiệu lực và sử dụng nó chủ yếu để mua trái phiếu công ty và cho vay cầm cố Họ cũng mua cổ phiếu, nhưng bị hạn chế bởi số tiền mà họ có thể nắm giữ

f) Công ty bảo hiểm hỏa hoạn và tai nạn

Các công ty này bảo hiểm cho người có hợp đồng bảo hiểm với mình chống lại các tổn thất

do trộm cắp, hỏa hoạn và tai nạn Chúng rất giống công ty bảo hiểm nhân thọ: nhận được vốn thông qua phí bảo hiểm trả cho các hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên, ở đây có nguy cơ bị mất vốn lớn hơn nếu các tai nạn lớn xảy ra Vì lý do này, chúng sử dụng vốn của mình để mua các tài sản

có tính thanh khoản cao hơn so với công ty bảo hiểm nhân thọ

Trang 11

Page | 11

g) Quỹ hưu trí tư nhân và quỹ hưu trí của chính phủ

Quỹ hưu trí tư nhân và các quỹ hưu trí của chính quyền địa phương cung cấp thu nhập hưu trí dưới dạng lợi tức đồng niên cho những người lao động là thành viên của các chương trình hưu trí Quỹ thu hút tiền gửi thông qua các khoản đóng góp của người chủ hoặc người lao động dưới dạng tự động trừ vào quỹ lương hoặc đóng góp tự nguyện

1.1.8.2 Trung gian đầu tư

Loại hình trung gian tài chính này bao gồm các công ty tài chính, quỹ hỗ tương và quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ

Công ty tài chính thu hút vốn bằng cách bán thương phiếu (công cụ nợ ngắn hạn) và bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu Họ cho người tiêu dùng muốn mua các hàng hóa như đồ nội thất, ô tô và cải tạo nhà ở hoặc cho các doanh nghiệp nhỏ vay số vốn này Một số công ty tài chính được công ty mẹ tổ chức ra với mục đích góp phần bán sản phẩm của mình Ví dụ, công ty Tín dụng của công ty Ford Motor thực hiện các khoản cho vay đối với những người tiêu dùng muốn mua ô tô Ford

Các trung gian tài chính này thu hút vốn bằng cách bán cổ phần cho nhiều cá nhân và sử dụng số tiền thu được để mua một danh mục đầu tư đa dạng, bao gồm nhiều cổ phiếu và trái phiếu Quỹ hỗ tương cho phép cổ đông tập trung nguồn lực để tận dụng lợi thế về chi phí giao dịch thấp hơn khi mua nhiều loại cổ phiếu hoặc trái phiếu Ngoài ra quỹ hỗ tương cho phép cổ đông nắm giữ danh mục đầu tư đa dạng hơn Cổ đông có thể bán cổ phiếu tại bất kỳ thời điểm nào, nhưng giá trị cổ phiếu này bị quy định bởi giá trị của chứng khoán mà quỹ hỗ tương nắm giữ Do giá của chứng khoán này biến động mạnh, nên giá trị cổ phiểu của quỹ hỗ tương cũng vậy Cho nên, việc đầu tư vào quỹ hỗ tương khá rủi ro

Loại hình định chế tài chính tương đối mới này có đặc trưng của một quỹ hỗ tương, nhưng trong một chừng mực nào đó, chúng hoạt động như một định chế nhận tiền gửi do chúng sẵn sàng mở tài khoản dạng tiền gửi Giống như hầu hết quỹ hỗ tương, chúng bán cổ phần để thu hút vốn và sau đó sử dụng số vốn này để mua các công cụ trên thị trường tiền tệ vừa an toàn, vừa có tính thanh khoản cao Lãi suất thu được từ các tài sản này sau đó được trả cho các cổ đông

Đặc điểm then chốt của loại quỹ này là cổ đông có thể viết séc vào giá trị của số cổ phần mà

họ nắm giữ Kết quả là, cổ phần của quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ có tác dụng giống như tiền gửi trong tài khoản viết séc đêm lại lãi suất ở ngân hàng

Trang 12

Page | 12

1.1.9 Tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình

Theo nghĩa rộng tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình là một định chế tài chính vốn quan trọng trong hệ thống tài chính Đặc trưng cho bộ phận hoạt động tài chính này là sự tồn tại của các quỹ tiền tệ được sở hữu bởi cá nhân hoặc hộ gia đình bao gồm thu nhập từ lao động, thu nhập từ gốp vốn đầu tư cho kinh doanh và từ đầu tư tài chính, thu nhập từ tài sản thừa kế và quà tặng,… Với nguồn thu nhập có được, các cá nhân hoặc hộ gia đình thực hiện các quyết định tài chính: lập kế hoạch chi tiêu (phân chia giữa tiêu dùng và tiết kiệm); lựa chọn các doanh mục đầu tư cho phần tiết kiệm trên cơ sở phân bố mức tài trợ cho chi tiêu đối với các hoạt động như giáo dục, y tế, mua sắm các loại hàng hóa có tính bền lâu(đất đai, nhà cửa,…), mua bảo hiểm và các hoạt động đầu tư tài chính khác Việc xây dựng doanh mục chi tiêu của các ca nhân hoặc hộ gia đình lệ thuộc nhiều vào chu kỳ kinh tế Khi nên kinh tế tăng trưởng cao thì thu nhập dành cho tiêu dùng của cá nhân hoặc hộ gia đình cũng gia tăng theo và ngược lại Mức độ phát triển hệ thống tài chính có tác động rất lớn đến việc phát triển các hoạt động đầu tư tài chính của cá nhân hoặc hộ gia đình; quản lý rủi ro gắn liền với các hoạt động tài chính trên cơ sở tiếp cận các dịch vụ được cung cấp trên thị trường tài chính

Theo kinh nghiệm các nước phát triển, việc thành lập các hiệp hội tự quản để điều tiết thị trường tỏ ra rất hiệu quả Tuy nhiên cơ chế thị trường không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng, mà cần có sự tác động của nhà nước Nhà nước có vai trò quan trọng trong phát triển cơ sở

hạ tầng tài chính Đặc biệt, để đáp ứng mục tiêu can thiệp và đảm bảo sự ổn định tài chính cũng

Trang 13

- Những yêu cầu minh bạch thông tin

- Bảo hiểm tiền gởi

- Giới hạn các nghiệp vụ hoạt động

- Quy định tính lỏng, dự trữ ngân quỹ

- Quy định vốn pháp định

- Quy định các giao dịch tài chính (ngoại hối,…)

Hoạt động của hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị trường:

Người tiết kiệm - cho vay

Hộ gia đình

Doanh nghiệp

Chính phủ

Người nước ngoài

Người chi tiêu – đi vay Doanh nghiệp

Chính phủ

Hộ gia đình Người nước ngoài

Thị trường tài chính

Trang 14

Page | 14

Hệ thống tài chính vận hành theo nguyên tắc là tạo ra kênh chuyển tải vốn từ người thừa vốn đến người cần vốn Các chủ thể thừa vốn như hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ hay các cá nhân nước ngoài sử dụng vốn để đầu tư trực tiếp vào thị trường tài chính hoặc có thể thông qua các định chế tài chính trung gian để sử dụng vốn còn dư vào mục đích đầu tư kiếm lời

Trong kênh tài trợ trực tiếp người đi vay trực tiếp vay vốn từ người cho vay trên thị trường tài chính bằng cách bán chứng khoán (công cụ tài chính) cho họ Lấy 1 ví dụ công ty đang cần vốn để thực hiện một dự án kinh doanh, nó có thể vay vốn từ những người tiết kiệm bằng cách bán cho nọ trái phiếu, tức là chứng chỉ nợ hứa hẹn sẽ trả tiền định kỳ trong một khoảng thời gian nhất định

Trong kênh tài trợ gián tiếp, người đi vay có thể vay được vốn thông qua các định chế tài chính trung gian như ngân hàng để có thể tiếp cận với các nguồn vốn từ những chủ thể dư vốn ở ngoài thị trường Các định chế tài chính trung gian sẽ ăn lời dựa vào chênh lệch lãi suất của người đi vay và người gửi tiền

Khi hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả nó sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia tăng phúc lợi xã hội, người gửi tiền sẽ dễ dàng sử dụng nguồn vốn của mình qua thị trường tài chính một cách nhanh chóng và thuận tiện, còn người cần tiền cũng sẽ dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn nhàn rỗi trong thị trường và ngược lại nếu hệ thống hoạt động không có hiệu quả, sẽ kìm hãm sự phát triển làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, vốn nhàn rỗi không tiếp cận được với người cần vốn, còn những người muốn gửi tiền thì không có nơi để có thể gửi một cách hiệu quả

Mặt khác sự tồn tại của thị trường tài chính cũng có lợi ngay cả khi một người nào đó muốn vay nợ để phục vụ cho mục đích khác ( kết hôn, du lịch,…) chứ không phải gia tăng sản xuất Nói tóm lại cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính hoạt động trong nền kinh tế thị trường là phân bổ vốn một cách có hiệu quả , chúng cho phép vốn chuyển từ người không có cơ hội đầu tư vào sản xuất sang cho người có các cơ hội như thế

Trang 15

Page | 15

CHƯƠNG 2: CÁC CƠ CHẾ ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

2.1 Những quy định về điều tiết hệ thống tài chính:

2.1.1 Ngân hàng:

2.1.1.1 Quy định về bảo hiểm tiền gửi:

a) Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi:

Bảo hiểm tiền gửi được hiểu là việc cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với các tổ chức tín dụng tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền cho người dân khi tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được xem như một phương án dự phòng khi bất ổn xảy ra cho ngân hàng cũng như trấn an người dân để họ không rút toàn bộ tiền gửi do lo ngại ngân hàng mất khả năng thanh khoản Tổ chức BHTG thường hoạt động theo mô hình cơ quan của nhà nước độc lập với Chính phủ Đa phần các tổ chức tín dụng và ngân hàng phải tham gia bắt buộc BHTG trong đó có Việt Nam

Bảo hiểm tiền gửi được hình thành bắt nguồn từ những quan ngại của người gửi tiền về

sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng, những thông tin không mấy khả quan về tình hình hoạt động của các ngân hàng được công bố như: nợ xấu, thanh khoản sụt giảm, yếu kém trong quản lý…làm ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của người gửi tiền dẫn đến khả năng các khách hàng có thể rút tiền khỏi các ngân hàng và dẫn vốn vào những kênh đầu tư khác Trong khi đó hệ thống ngân hàng lại được xem như một kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế, việc thiếu đi nguồn tiền gửi từ các khách hàng sẽ dẫn đến tình trạng thiếu vốn để cung cấp cho sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung Trong những tình huống xấu hơn, các biến động không tốt trong hệ thống tài chính có thể dẫn đến vệc rút tiền hàng loạt của người gửi tiền dẫn đến việc ngân hàng có thể mất khả năng thanh toán thậm chí đi đến sụp đỗ Nếu không có biện pháp gì được thực hiện để khôi phục lòng tin của người gửi tiền, sự sụp đổ trong hệ thống ngân hàng hoàn toàn có thể lại xảy ra

Để giải quyết vấn đề trên, tại Việt Nam cũng như đa số các quốc gia khác trên thế giới đã

sử dụng “Bảo hiểm tiền gửi” như là một biện pháp điều tiết hữu hiệu để khôi phục lại lòng tin của công chúng và tránh xảy ra các biến động bất lợi đối với thị trường tài chính

Trang 16

Page | 16

b) Hạn chế của BHTG:

Một câu hỏi được đặt ra là sự lan rộng này của bảo hiểm tiền gửi trên thế giới có phải là một điều tốt? Liệu nó có giúp cải thiện hoạt động của hệ thống tài chính và ngăn chặn các cuộc khủng hoảng ngân hàng?

Trong nhiều trường hợp, bảo hiểm tiền gửi lại tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến hệ thống tài chính Nghiên cứu tại Ngân hàng Thế giới đã cho thấy rằng, trung bình, việc thông qua bảo hiểm tiền gửi (explicit) của chính phủ ít có liên quan tới sự ổn định trong khu vực ngân hàng và có nhiều liên quan hơn đối với các cuộc khủng hoảng ngân hàng Hơn nữa, tính theo trung bình, điều này dường như còn làm chậm quá trình phát triển tài chính

Khi tham gia bảo hiểm tiền gửi, các TCTD và ngân hàng cho rằng họ đã được bảo đảm an toàn,

do đó, họ có thể tham gia đầu tư vào các hoạt động rủi ro hơn mà không cần kiểm soát nhiều Bên cạnh đó, người gửi tiền và người cho vay được bảo vệ có rất ít lý do để giám sát các hoạt động của tổ chức tài chính, mà không có sự can thiệp của chính phủ, những kẻ xấu có thể lợi dụng điều này để gian lận hay tham ô để kiếm tiền, trục lợi cho các hoạt động cá nhân họ, làm cho hoạt động của các TCTD chứa đựng nhiều rủi ro hơn, có nguy cơ đổ vỡ cao hơn Từ đó, làm cho hoạt động của thị trường tài chính bất ổn

Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của bảo hiểm tiền gửi chỉ xuất hiện ở những nước có môi trường thể chế yếu kém: một sự thiếu vắng các quy định của pháp luật, việc điều tiết và giám sát ngành tài chính không hiệu quả, và tình trạng tham nhũng cao Đây chính xác là điều có thể kỳ vọng bởi vì một môi trường thể chế hoàn thiện là cần thiết để hạn chế động cơ xảy ra các rủi ro đạo đức do các ngân hàng dựa vào bảo hiểm tiền gửi tự cho phép mình tham gia vào các hoạt động có mức độ rủi ro vượt mức có thể chấp nhận Vấn đề là phát triển một môi trường thể chế hoàn thiện thì có thể rất khó khăn tại thị trường các nước mới nổi Điều này cho chúng ta đưa ra kết luận như sau: Việc thông qua bảo hiểm tiền gửi có thể là phương pháp sai lầm để thúc đẩy sự

ổn định và hiệu quả của hệ thống ngân hàng ở thị trường các nước mới nổi

c) Thực trạng tại VN:

Tổ chức BHTG Việt Nam – DIV (Deposit Insurance of Vietnam) được thành lập tháng 7/2000 với mục tiêu được đề ra là bảo vệ người gửi tiền và tham gia đảm bảo an toàn hệ thống tài chính ngân hàng Nhưng trong tình hình hiện nay chúng ta có thể đánh giá cả 2 mục tiêu trên đều khó đạt được

Trang 17

Page | 17

Thứ nhất, mức thu phí BHTG ở Việt Nam hiện nay được áp dụng đồng hạng 0,15% trên tổng số

dư tiền là không hợp lý Theo các quy định của pháp luật về BHTG thì mức phí bảo hiểm tiền gửi không phân biệt về quy mô, hình thức sở hữu cũng như mức độ rủi ro của tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm Chính điều đó đã gây ra sự không công bằng trong hệ thống ngân hàng Trái với xu hướng trên thế giới, phí bảo hiểm tiền gửi được áp dụng theo phân loại ngân hàng, ngân hàng nào hoạt động yếu kém, quy mô nhỏ và nguy cơ rủi ro lớn thì mức phí bảo hiểm sẽ cao hơn

Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ dự trữ bảo hiểm tiền gửi (quỹ BHTG/Tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm) thường là 2,5% – 3% Tỷ lệ này ở nước ta là khoảng 1%, khá thấp so với các nước khác như Mỹ 1.25%, Thụy Điển 2,5%, Đài Loan 5%, Croatia 5% và ở Kenya là 20% Sau hơn 10 năm hoạt động, quỹ DIV mới chỉ phải chi trả tiền bảo hiểm trên 18 tỷ đồng trên 6000 tỷ đồng quỹ hiện có Nhưng 6000 tỷ đồng chỉ bằng 2 lần vốn điều lệ tối thiểu của 1 ngân hàng thương mại cổ phần, trong khi DIV hiện đã cấp chứng nhận bảo hiểm tiền gửi cho 37 ngân hàng TMCP, 5 ngân hàng nhà nước và gần 1000 tổ chức tín dụng trên toàn Việt Nam Do đó khi hệ thống ngân hàng bất ổn, số tiền 6000 tỷ đồng trong quỹ của DIV rất khó có thể đảm bảo khả năng chi trả dù chỉ là mức chi trả tối thiểu cho người gửi Theo số liệu của DIV, tính đến cuối năm 2011, tổng số phí thu được từ các tổ chức tham gia là 6.074 tỉ đồng, với mức tăng trung bình hằng năm trên 20%

Hình 1 Tỷ lệ dự trữ Bảo hiểm Tiền gửi một số nước trên thế giới

Trang 18

Page | 18

Thứ hai, mức chi trả tối đa của BHTG ở Việt Nam hiện tại là quá thấp không đảm bảo được niềm tin của người gửi khi có biến cố xảy ra 50 triệu là mức chi trả tối đa cho 1 người với đối với 1 ngân hàng hay 1 tổ chức tín dụng Điều đó có nghĩa là nếu bạn có 1 tỷ bạn phải gửi vào ít nhất 20 ngân hàng thì mới có thể được đảm bảo an toàn nếu tất cả các ngân hàng đồng loạt phá sản Hiện tại 50 triệu tương đương 2.14 lần GDP đầu người Việt Nam năm 2010 thấp hơn nhiều

so với các nước khác và trong khu vực (tỉ lệ này ở Mỹ là 5.40 lần và ở Philippin là 5,42 lần)

Hình 2 Cơ cấu Tiền gửi ở Việt Nam theo số tiền

Theo biểu đồ trên, tiền gửi ở mức dưới 50 triệu chỉ chiếm 19% tổng số tiền gửi bảo hiểm Nếu các ngân hàng ngừng hoạt động, trên 81% tổng lượng tiền gửi sẽ không được chi trả đủ 100% số tiền gốc và lãi Hiện nay, có rất nhiều người dân gửi hàng tỷ đồng nhàn rỗi vào ngân hàng nhưng khi có rủi ro xảy ra, họ chỉ nhận được 50 triệu đồng thì gần như bảo hiểm không có nhiều ý nghĩa

Thêm vào đó, DIV không bảo hiểm cho các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ hoặc vàng Trong khi theo thống kê gần nhất của NHNN, hệ thống ngân hàng đang giữ hộ người dân khoảng 30 tỷ đô

và 100 tấn vàng (5 tỷ USD) Do không được bảo hiểm nên người dân có tâm lý muốn rút ngoại

tệ và vàng ra khỏi ngân hàng khi có bất ổn trong nền kinh tế Ngân hàng không thể ngay lập tức

Trang 19

Page | 19

quy đổi những khoản đầu tư vào bất động sản, hàng hóa và tài sản sinh lợi khác thành vàng và đô

la để trả cho người dân, thanh khoản cạn kiệt, có thể dẫn đến sụp đổ hàng loạt hệ thống ngân hàng

Như vậy, những quy định về mức thu phí, loại tiền được bảo hiểm và mức chi trả tối đa của BHTG hiện nay đã không phát huy được những yếu tố hỗ trợ trong tình hình tài chính bất ổn Theo ước tính hiện tại thì khoàng 60 ~ 65% lượng tiền gửi tại các thương mại là của người dân Trong trường hợp xấu, khi người dân rút tiền hàng loạt, những ngân hàng nhỏ, yếu kém sẽ phải chịu những tác động đầu tiên và nếu không có sự hỗ trợ kịp thời của ngân hàng nhà nước, nguy

cơ đổ vỡ là không thể tránh khỏi

2.1.1.2 Hiệp ước vốn Basel:

a) Quá trình ra đời của Hiệp ước vốn Basel:

Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của

10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80 Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha,Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm

Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel, gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước

Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của Uỷ ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng

lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên

Trang 20

Page | 20

Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của nhóm G10 Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho những sáng kiến của Ủy ban Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tài chính Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng Để đạt được mục tiêu đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề này

Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế Đến năm 1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành Sau khi Basel II không thể ngăn chặn được cuộc khủng hoảng toàn cầu , Basel III ra đời

b) Những quy định cơ bản về Basel I ,II ,III:

Basel I :

 Mục đích của Basel I : Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế

 Tiêu chuẩn của Basel I:

(1) Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook”: tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS với mục đích

củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là những ngân hàng hoạt động quốc

tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng

Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc/Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền

(RWA)

Trang 21

Page | 21

Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%

(2) Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa

mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của

ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3

Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự

phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill)

Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài

sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn

ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác

Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn

(3) Vốn tính theo rủi ro gia quyền:

RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán)

+ Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)

Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này

 Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Bsael I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả chi phí vốn đối với rủi ro thị trường

Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành) Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa…

Trang 22

Page | 22

Basel II:

 Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc

tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi

 Nội dung Basel II : Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:

(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối

thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi

ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng

có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng

(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp

cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi

ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk)

Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải

có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó Thứ hai, các giám sát viên nên

rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng

Trang 23

Page | 23

không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu

(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo

nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này

Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro

 Ưu điểm của Basel II so với Basel I:

 Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất là

“yêu cầu vốn tối thiểu” Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội

bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia được tăng lên bởi họ cần phải đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó

 Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất cả các ngân

hàng Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa

 Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ Basel II nhạy cảm hơn với

rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro

 Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 - 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc Tổ chức

hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation and Development) Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài

 Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo Basel II thừa nhận về kỹ

thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting)

Trang 24

Page | 24

 Hạn chế của Basel II :

Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II Đó là:

 Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn có thể được chấp nhận rộng rãi

 Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của chu kỳ kinh doanh

 Các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản phẩm dịch vụ có khoa học công nghệ cũng như mức độ rủi ro cao

Basel III:

 Mục tiêu của Basel III: Hạn chế rủi ro, phòng ngừa, ngăn chặn khủng hoảng tái phát và

ràng buộc các ngân hàng vào trách nhiệm

 Nội dung của Basel III:

Trước những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính toàn cầu và hệ lụy lâu dài của chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng toàn thế giới, Uỷ ban Basel một lần nữa lại dự thảo và thông qua phiên bản thứ 3 (Basel 3) về các tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu Nội dung bao trùm là:

 Nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% lên 4,5%

 Nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6%

 Bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%

 Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu phổ thông (common equity) Phần vốn dự phòng này chỉ đòi hỏi trong trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín dụng một cách có hệ thống

Trang 25

Như vậy, có thể thấy rằng, loại trừ khoản vốn đệm phòng ngừa rủi ro tài chính 2,5%, tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu không thay đổi (vẫn là 8%) Tuy nhiên, kết cấu của các loại vốn

đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng vốn cấp 1, đồng thời tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu phổ thông trong vốn cấp 1 Nếu tính đầy đủ cả 2 khoản vốn đệm dự phòng suy giảm tài chính và dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ kinh tế thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu được điều chỉnh tăng từ 2% (Basel 2) tăng lên thành 9,5% (4,5% + 2,5% + 2,5%) ở Basel 3 Nếu loại trừ phần vốn đệm chống chu kỳ kinh tế 2,5% (không bắt buộc trong điều kiện bình thường) thì mức tối thiểu vốn chủ cũng phải đạt mức 7% Bên cạnh đó, có thể một số khoản trước đây được tính vào vốn chủ sở hữu nay phải bóc tách ra vì không đủ điều kiện coi là vốn chủ sở hữu Chẳng hạn, khoản vốn vượt quá giới hạn 15% đầu tư vào các tổ chức tài chính khác, khoản vốn có nguồn gốc từ số thuế thu nhập lưu kỳ (hoãn lại) Vì thế, yêu cầu nâng cao tỷ

lệ vốn chủ sở hữu là bài toán không đơn giản đối với nhiều ngân hàng xét trong bối cảnh kinh tế xã hội đang có nhiều biến động

Các tiêu chuẩn của Basel 3 không có hiệu lực ngay lập tức Chúng bắt đầu có hiệu lực từ năm

2013, được thực hiện theo một lộ trình đến hết năm 2018 và sẽ thực hiện đầy đủ vào ngày 1/1/2019 Bảng sau sẽ cho thấy lộ trình cụ thể của việc thực thi hiệp ước Basel 3:

Trang 26

các khoản không đủ tiêu chuẩn

Thực hiện theo lộ trình 10 năm bắt đầu từ năm 2013

có thể làm khuyếch đại giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế thực Thứ hai là mối quan hệ phụ thuộc và những rủi ro chung của các tổ chức tài chính, đặc biệt đối với những ngân hàng

có vai trò quan trọng trong hệ thống

Như vậy, Basel III là một bước ngoặt trong việc xây dựng các quy định tài chính Lần đầu tiên trong các quy định tài chính đề cập tới các thước đo giám sát an toàn vĩ mô được sử dụng để bổ sung cho phương pháp giám sát an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng

 Hạn chế:

 Về cơ bản, Basel III chỉ siết chặt các quy định về tỉ lệ an toàn vốn và các quy định này có lộ trình thực hiện khá thoải mái, đến tận năm 2019 Basel III vẫn duy trì tỉ lệ an toàn vốn 7%, nhưng quy định vốn cấp I (vốn góp của các cổ đông và lợi nhuận được giữ lại) phải chiếm ít nhất 4,5% (hiện nay là 2%) kể từ ngày 1.1.2015 và ít nhất 7% kể từ năm 2019

Trang 27

Page | 27

Những quy định này đã được đa số giới phân tích cho là khá nhẹ nhàng, các ngân hàng hoàn toàn có thể thực hiện được Tuy nhiên, chúng lại gây ra mối lo ngại về những rủi ro khác từ một hệ thống ngân hàng được gọi là “ngân hàng mờ”

Ngân hàng mờ (shadow bank) là thuật ngữ dùng để chỉ các tổ chức tài chính phi ngân hàng (quỹ đầu tư, đầu cơ, công ty bảo hiểm ) nhưng vẫn thực hiện một số hoạt động cho vay giống như ngân hàng

Các chuyên gia phân tích lo ngại, việc cho vay của ngân hàng thương mại bị kiểm soát chặt theo quy định của Basel III sẽ tạo cơ hội cho ngân hàng mờ trỗi dậy mạnh mẽ hơn Các ngân hàng này, nhờ không bị kiểm soát bởi các quy định an toàn vốn, sẽ lấn sân mạnh sang hoạt động cho vay rủi ro cao “Rủi ro có thể sẽ dịch chuyển từ khu vực được quản lý (tức các ngân hàng thương mại) sang khu vực chưa được quản lý (các ngân hàng núp bóng)”, ông Simon Gleeson, chuyên gia về luật quản lý tài chính tại Công ty Luật Clifford Chance (Anh), nhận định

Dù có vẻ không mấy liên quan đến hoạt động ngân hàng nhưng các công ty giao dịch hàng hóa và công ty năng lượng cũng được các nhà phân tích đưa vào diện “có nguy cơ”

bị ảnh hưởng bởi Basel III Trong những năm gần đây, các công ty giao dịch hàng hóa như nông sản, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, đã phát triển mạnh việc bán các loại hàng hóa phái sinh Với lợi thế về chi phí vốn so với các ngân hàng sau Basel III, các hãng dầu

mỏ như Total, BP hay các công ty giao dịch như Cargill, Vitol có thể sẽ tiến sâu hơn nữa vào lĩnh vực hàng hóa phái sinh này, chẳng hạn như bán hợp đồng hoán đổi xăng dầu cho các hãng hàng không, hoặc hợp đồng hoán đổi ngũ cốc cho một công ty trồng trọt

Do không bị quy định về tỉ lệ an toàn vốn, các công ty này thường lỏng lẻo trong việc kiểm soát rủi ro và chấp nhận tham gia vào các giao dịch rủi ro cao, lợi nhuận lớn Tuy nhiên, vấn đề là nếu việc kinh doanh của họ gặp bất trắc, cả thị trường sẽ bị ảnh hưởng Bài học Enron, công ty năng lượng Mỹ phá sản năm 2001 do lún quá sâu vào hoạt động đầu tư tài chính, từng làm thị trường năng lượng Mỹ lao đao và lấy đi hàng tỉ USD của các nhà đầu tư, cũng đáng được lưu ý tới

Mới đây, một vài công ty đã bắt đầu rút khỏi lĩnh vực kinh doanh hàng hóa phái sinh do

lỗ nặng Tập đoàn Mitsubishi (Nhật) sẽ đóng cửa bộ phận kinh doanh dầu mỏ phái sinh

Trang 28

Âu đã phản đối tỉ lệ đòn bẩy với lập luận là chế độ kế toán bảng cân đối ngân hàng Mỹ hẹp hơn so với các đối tác quốc tế nên việc hạn chế đòn bẩy có thể dẫn đến sự đối xử không công bằng đối với các ngân hàng ngoài Mỹ

 Basel III mắc "xung đột về lợi ích" khi để các ngân hàng tự tính toán vốn dự phòng rủi

ro

Theo giám đốc điều hành tại cơ quan xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor's (S&P), Stefan Best, quy định mới về vốn ngân hàng toàn cầu hay còn gọi là Basel III ẩn chứa nhiều khuyết điểm lớn Một trong những khuyết điểm này là cho phép ngân hàng tự tính toán các yêu cầu về vốn dự phòng của họ, điều này gây “xung đột về lợi ích”

Đây là biện pháp điều tiết của chính phủ được sử dụng trong trường xảy ra khi các tổ chức tài chính gặp các vấn đề lớn có thể ảnh hưởng đến những nhà đầu tư, các khách hàng cũng như các tổ chức khác trên thị trường Chính phủ sẽ thông qua ngân hàng Trung ương thực hiện chức năng “Người cho vay cuối cùng” đối với các định chế tài chính bị khủng hoảng, các quỹ giải cứu từ ngân hàng Trung ương sẽ được cung cấp tới các tổ chức tài chính gặp khó khăn Trong một số trường hợp Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện tiếp nhận lại các ngân hàng (quốc hữu hóa) để xử lý các ngân hàng khủng hoảng thông qua hai biện pháp: phương pháp thanh toán và phương pháp “mua lại và tiếp quản”

Phương pháp đầu tiên, được gọi là “phương pháp thanh toán”:

 Nội dung :Chính phủ sẽ cho phép các ngân hàng giải thể sau đó sử dụng số tiền từ bảo hiểm tiền gửi và tài sản bị thanh lý để trả nợ cho các chủ nợ và người gửi tiền

 Ưu điểm :

- Loại bỏ ngân hàng yếu kém

- Thanh toán nợ cho các chủ nợ và người gửi tiền

Trang 29

Page | 29

 Hạn chế :

- Dễ gây ra sự sụp đổ toàn hệ thống ngân hàng ,ảnh hưởng nặng nề tới sự phát triển của nền kinh

tế và dễ gây ra cuộc khủng hoảng tài chính

Phương pháp thứ hai, được gọi là “mua lại và tiếp quản” (purchase and assumption):

 Nội dung : Chính phủ sẽ tổ chức lại ngân hàng, thường là bằng cách tìm một đối tác sẵn lòng sáp nhập và sẽ gánh tất cả các khoản nợ của ngân hàng để không có người gửi tiền hoặc các chủ nợ mất một xu nào Đồng thời chính phủ cũng sẽ giúp các đối tác sát nhập bằng cách hỗ trợ cho các khoản nợ hoặc bằng cách mua lại một số khoản nợ của ngân hàng bị phá sản Hiệu ứng ròng của phương pháp “mua lại và tiếp quản” là việc đảm bảo cho tất cả các khoản nợ và tiền gửi của khách hàng bao gồm cả những khoản tiền gửi vượt quá mức bảo hiểm tiền gửi tối đa

 Ưu điểm :

- Tránh gây ra sự sụp đổ toàn hệ thống ngân hàng

- Loại bỏ những ngân hàng yếu kém , và phát triển các ngân hàng mạnh

 Hạn chế :

- Nếu việc mua lại và tiếp quản xảy ra liên tục và mạnh thì sẽ dẫn đến sự tập trung quyền kiểm soát về ngân hàng mạnh, dễ dẫn đến tình trạng độc quyền , mất đi tính cạnh tranh

- Chính sách “Too big to fail” tạm dịch là “quá lớn để sụp đổ” (dùng để ám chỉ đến vấn đề phá

sản doanh nghiệp) được hiểu là thành ngữ dùng để chỉ đến trường hợp đặc biệt trong nền kinh tế,

đó là những công ty lớn hay tập đoàn có qui mô hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế của một quốc gia, một khi có sự đổ vỡ hay phá sản xảy ra dù vì lý do gì, chính phủ nước đó sẽ không để công ty hay tập đoàn sụp đổ bằng những biện pháp như hỗ trợ vốn, trả nợ, sáp nhập hoặc chính nhà nước sẽ mua lại tập đoàn

đó nhằm bảo đảm hoạt động của tập đoàn được duy trì một cách bình thường Tránh một sự sụp

đổ dây chuyền với các công ty có liên kết với tập đoàn này, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế nước đó Chính vì vậy, nó làm tăng động cơ thực hiện các rủi ro đạo đức đối với các ngân hàng lớn, khiến cho những người gửi tiền không có động lực để giám sát ngân hàng đó

và rút tiền của họ ra khỏi khi ngân hàng này khi nó tham gia vào các hoạt động có quá nhiều rủi

ro Những người gửi tiền cho rằng, dù cho ngân hàng có làm gì đi nữa, họ sẽ không phải chịu bất

Trang 30

Page | 30

kỳ tổn thất nào Kết quả của chính sách “quá lớn để sụp đổ” là các ngân hàng lớn có thể có rủi ro thậm chí còn lớn hơn, do đó có nhiều khả nằng gây ra sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng Tương tự như vậy, chính sách “quá lớn để sụp đổ” làm gia tăng các nhân tố thúc đẩy rủi ro đạo đức đối với các định chế tài chính phi ngân hàng - những tổ chức được mở rộng trong mạng lưới

an toàn của chính phủ Một khi biết được rằng các tổ chức tài chính sẽ được giải cứu, những người cho vay vì thế sẽ ít có động lực để giám sát cũng như rút tiền của họ ra khỏi một tổ chức nào đó khi mà tổ chức này bắt đầu đảm nhận những rủi ro vượt mức thích hợp Và kết quả là, các định chế tài chính lớn hoặc có mối liên kết với nhau sẽ càng có nhiều khả năng tham gia vào các hoạt động có mức độ rủi ro cao và do đó, khả năng rất cao sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính

Có thể nói, hệ quả của việc làm này khi nhà nước chìa tay ra cứu một doanh nghiệp nào đó đồng nghĩa với việc nhà nước sẽ lấy thêm tiền thuế của người dân, từ đó nảy sinh ra hiện tượng một người hưởng lợi nhưng cộng đồng gánh chịu rủi ro

2.1.2 Chứng khoán:

2.1.2.1 Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS):

- Mục đích :

Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp

và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong công tác lập báo cáo tài chính (BCTC) Việc áp dụng IFRS nhằm cải thiện chất lượng thông tin kế toán và

do HĐ chuẩn mực kế toán quốc tế thuận tiện cho các nghiệp vụ tài chính trên thế giới IFRS do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Hội đồng giải thích lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC) biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập báo cáo tài chính Phương thức lập BCTC được mô tả là tập trung vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tin đến thị trường vốn Cơ quan nhà nước vẫn sử dụng BCTC như là hoạt động kinh tế, tuy nhiên BCTC này được lập cho mục đích của nhà đầu tư IFRS được áp dụng sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Cụ thể, BCTC cung cấp thông tin toàn diện, đúng đắn, kịp thời và do đó nhà đầu tư có nhiều thông tin về thị trường vốn giảm được rủi ro trong việc đưa ra quyết định kinh tế BCTC được định dạng theo biểu mẫu thống nhất và loại trừ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán, các thông tin trên BCTC có tính so sánh qua đó sẽ giúp cho các nhà đầu tư giảm chi phí trong việc xử lý thông tin kế toán,

Trang 31

- Ưu điểm :

Có thể nói rằng việc áp dụng IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các chỉ tiêu và khoản mục trên BCTC IFRS được chấp nhận như chuẩn mực chuẩn mực lập BCTC cho các công ty tìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới Việc áp dụng IFRS sẽ tăng khả năng so sánh của các thông tin tài chính và tăng chất lượng thông tin cung cấp cho các nhà đầu tư, giảm sự bất định trong đầu tư, giảm rủi ro đầu

tư, tăng hiệu quả của thị trường và giảm thiểu chi phí vốn Hơn nữa, thông qua việc áp dụng IFRS sẽ giảm ngăn cách buôn bán chứng khoán bằng việc đảm bảo BCTC minh bạch hơn BCTC được lập theo IFRS dễ hiểu và có thể so sánh sẽ cải thiện và tạo lập mối quan hệ với người sử dụng BCTC

- Nhược điểm :

Tuy nhiên, việc áp dụng IFRS cũng không hoàn toàn dễ dàng đối với các doanh nghiệp Một trong những thách thức đó là phải có đội ngũ nhân viên kế toán và tài chính có năng lực Điều này không phải là vấn đề đơn giản vì IFRS được coi là rất phức tạp ngay cả đối với các nước phát triển Theo đó, phương pháp hạch toán các giao dịch theo IFRS dựa trên bản chất các giao dịch và dựa trên nhiều xét đoán và đánh giá phân tích của các nhà quản lý, những người sẽ

Trang 32

Page | 32

tư vấn cho kế toán viên lập BCTC Hơn nữa, để áp dụng IFRS đơn vị phải bỏ ra chi phí ban đầu lớn, xây dựng lại hệ thống thu thập, xử lý và trình bày các thông tin tài chính

2.1.2.2 Các nguyên tắc của IOSCO về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng:

- Sự hình thành, phát triển của IOSCO:

Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) được thành lập từ năm 1983 tại Ecuador với 11 thành viên ban đầu, nay có 190 thành viên, bao gồm: những nhà điều tiết, quản

lý thị trường tài chính từ hơn 100 quốc gia và cả các Sở giao dịch chứng khoán, các tổ chức tự giám quản cho thị trường Mục tiêu chính của IOSCO là nhằm thiết lập và thúc đẩy các tiêu chuẩn cấp cao với quan điểm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của TTCK, bảo vệ các nhà đầu tư và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhằm ngăn chặn tội phạm kinh tế

- Các nguyên tắc của IOSCO:

Nhằm mục tiêu bảo vệ nhà đầu tư, đảm bảo rằng các thị trường hoạt động công bằng, hiệu quả và minh bạch và giảm thiểu các rủi ro hệ thống, IOSCO đã đề ra 10 nguyên tắc quy định trong thị trường chứng khoán bao gồm các nguyên tắc : về cơ quan quản lý, về tổ chức tự quản, về hoạt động cưỡng chế thực thi, về hợp tác quản lý TTCK, về tổ chức phát hành chứng khoán, về quản lý quỹ đầu tư tập thể, về quản lý các trung gian thị trường ,

- Các nguyên tắc của IOSCO đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng IOSCO đưa ra ba nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, cụ thể như sau: (1) Tổ chức phát hành cần công bố đầy đủ, chính xác, kịp thời các kết quả tài chính và các thông tin quan trọng khác đối với các quyết định của người đầu tư; (2) Người sở hữu chứng khoán trong công ty cần được đối xử công bằng và như nhau; (3) Hoạt động kế toán và kiểm toán cần có chất lượng cao và được thế giới chấp nhận

2.2 Giám sát tài chính:

2.2.1 Định nghĩa:

Giám sát tài chính là hoạt động giám sát đối với các định chế tài chính, thị trường tài

chính, công cụ tài chính và hạ tầng cơ sở tài chính được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước Hoạt động này được thực hiện nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy định quản lý hiện hành đối với khu vực tài chính, với mục đích cuối cùng là để duy trì tính ổn định của thị trường tài chính

Trang 33

Page | 33

Chính phủ hoặc các cơ quan quản lý sẽ thường xuyên kiểm tra các tổ chức tài chính thông qua các báo cáo từ các tổ chức tài chính hoặc thông qua các cuộc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất Việc kiểm tra giám sát thường được dựa trên sáu lĩnh vực đánh giá: an toàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập, tính thanh khoản và sự nhạy cảm với rủi ro thị trường Với những thông tin thu thập được, các cơ quan quản lý có thể thực thi các quy định bằng cách ra những hành động như cho ngừng hoặc chấm dứt hoạt động của các tổ chức tài chính nếu như các

tổ chức tài chính không đảm bảo được các tiêu chuẩn tối thiểu đã được quy định

2.2.2 Mục đích của việc giám sát tài chính:

-Nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của khu vực tài chính: Mục đích của giám sát tài

chính nhằm đảm bảo các định chế tài chính tuân thủ các chuẩn mực an toàn do các chủ thể giám sát đặt ra Bằng cách đó hệ thống định chế tài chính (khu vực tài chính) có đủ sức chống đỡ các cú sốc bên ngoài cũng như các tác động tiêu cực từ các thị trường khác trong và ngoài nước Điều này cũng có nghĩa là đảm bảo cho các định chế tài chính đủ sức tham gia thị trường và cạnh tranh một cách bình đẳng, đồng thời loại bỏ các định chế không đủ điều kiện tham gia và cạnh tranh cung ứng dịch vụ tài chính trên thị trường

-Nhằm đảm bảo sự hiệu quả vận hành của thị trường tài chính: Một trong những yêu cầu

của giám sát tài chính là đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa những chủ thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính trên thị trường, giám sát yêu cầu minh bạch thông tin và tạo

cơ chế khai thác và công bố thông tin, giám sát tiêu chí gia nhập thị trường, hạn chế tình trạng độc quyền và sự chi phối của các chủ thể điều tiết có nguy cơ làm suy giảm mức độ cạnh tranh của khu vực tài chính Cạnh tranh sẽ làm tăng hiệu quả của thị trường tài chính thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận và định giá các dịch vụ tài chính, hạn chế các hoạt động làm tổn thương đến thị trường tài chính, phân bổ hợp lý nguồn lực đối với các tổ chức trên thị trường

-Nhằm bảo vệ nhà đầu tư: Các quy định quản lý đối với khu vực tài chính được thiếp lập

thông qua các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các định chế tài chính cũng như các quy định về đạo đức kinh doanh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trên thị trường tài chính (người gửi tiền, các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán, những người tham gia/ mua bảo hiểm) Bảo vệ người tiêu dùng là

Trang 34

2.2.3 Đôí tượng của hoạt động giám sát tài chính bao gồm:

-Các định chế tài chính: là các trung gian tài chính thực hiện việc kết nối các nhu cầu

giao dịch các công cụ tài chính trên thị trường Vai trò trung gian này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau; nó có thể là vai trò trung gian đầu tư (vừa đi vay - bán công cụ nợ, vừa cho vay - mua công cụ nợ), thuộc về nhóm này là các ngân hàng, công ty bảo hiểm; có thể là tổ chức môi giới cung cầu và hưởng hoa hồng, thuộc nhóm này là các công ty chứng khoán, có thể là quỹ đầu tư - với chức năng tập trung vốn của các nhà đầu

tư cá thể và tổ chức và chuyên nghiệp hóa hoạt động đầu tư này

-Thị trường tài chính: là nơi thực hiện việc phát hành và mua bán các công cụ tài chính

bằng cách đó mà vốn được di chuyển từ những nơi dư thừa (theo những thời hạn khác nhau) sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn Bằng cơ chế giá và quan hệ cung cầu, thị trường tài chính còn cho phép vốn được di chuyển đến những nơi được sử dụng hiệu quả nhất Thị trường tài chính được phân thành 2 thị trường: thị trường tiền tệ (vốn ngắn hạn: thị trường liên ngân hàng, thị trường hối đoái,…) và thị trường vốn (vốn trung và dài hạn: thị trường chứng khoán, thị trường tín dụn trung và dài hạn,…)

-Hạ tầng cơ sở tài chính: là hệ thống pháp luật tài chính (bao gồm cả cơ chế phá sản,

quyền chủ nợ,…), mạng lưới an toàn tài chính, cơ sở hạ tầng thanh khoản hệ thống; các

hệ thống thanh toán bù trừ và hỗ trợ giao dịch; tính minh bạch và quản trị, cơ sở hạ tầng thông tin,…

2.2.4 Nội dung của giám sát tài chính:

-Giám sát sự an toàn, lành mạnh tài chính của các định chế tài chính, đặc biệt là của các

ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm nhân thọ vì nếu xảy ra việc phá sản của các định chế này sẽ gây ra hiệu ứng lan truyền và tạo ra sự bất ổn cho khu vực tài chính

Trang 35

Page | 35

-Giám sát các hành vi giao dịch của các định chế tài chính trên thị trường tài chính (đặc

biệt là hành vi giao dịch của các công ty môi giới chứng khoán, các quỹ đầu tư,…trên thị trường chứng khoán) nhằm đảm bảo môi trường giao dịch tài chính lành mạnh, minh bạch, bình đẳng đối với tất cả người tiêu dùng tham gia trên thị trường tài chính

-Giám sát diễn biến của thị trường tài chính (lãi suất, tỷ giá, giá cả các công cụ tài chính, khối lượng giao dịch, tính thanh khoản,…) nhằm đảm bảo phát hiện, giảm thiểu

những bất cập, rủi ro của thị trường, góp phần thúc đẩy sự vận hành hiệu quả của thị trường tài chính đối với việc phân bổ hợp lý các nguồn vốn cho nền kinh tế

-Giám sát hạ tầng cơ sở tài chính (hệ thống pháp lý về hoạt động tài chính, về hoạt động

giám sát tài chính, hệ thống hỗ trợ thanh khoản, hệ thống bảo hiểm tiền gửi,…) nhằm đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho sự vận hành hiệu quả của thị trường tài chính đối với

sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

2.2.5 Những nguyên tắc cơ bản về giám sát :

Các nguyên tắc về giám sát tài chính được đề ra bởi các tổ chức quốc tế quan tâm tới giám sát tài chình như các khuyến nghị của Ủy ban Basel của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) về giám sát ngân hàng, Ủy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO), Hiệp hội Cơ quan giám sát Bảo hiểm quốc tế (IAIS) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Những văn bản quan trọng là :

1 “Những nguyên tắc cơ bản nhằm giám sát ngân hàng hiệu quả” do BIS phát hành năm

1997

2 “Mục tiêu và nguyên tắc giám sát chứng khoán” do IOSCO phát hành năm 1998

3 “Nguyên tắc giám sát bảo hiểm” do IAIS phát hành năm 1997

4 “Nguyên tắc tính minh bạch trong chính sách tiền tệ” do IMF phát hành

2.2.5.1 Những nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng của BIS:

Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) :

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlements; viết tắt: BIS) là một

tổ chức quốc tế của các NHTW, thậm chí có thể nói nó là NHTW của các NHTW trên thế giới BIS có vai trò thúc đẩy sự hợp tác giữa các NHTW và các cơ quan khác để ổn định tiền tệ và tài chính Hoạt động của BIS được thực hiện bởi các tiểu ban, ban thư ký của nó và bởi hội nghị toàn thể các thành viên được tổ chức hàng năm BIS cũng cung ứng các dịch vụ ngân hàng,

Trang 36

Page | 36

nhưng chỉ cho NHTW, hoặc các tổ chức quốc tế tương tự nó BIS được thành lập năm 1930 theo Hiệp ước Hague và có trụ sở chính tại Basel, Thụy Sỹ

Nguyên tắc của BIS về giám sát ngân hàng hiệu quả :

Theo BIS, nguyên tắc cơ bản đầu tiên mà các cơ quan giám sát phải tuân thủ trong giám sát ngân hàng là có mục tiêu và trách nhiệm rõ ràng, độc lập trong hoạt động chức năng và có đủ các nguồn lực cần thiết Một khung pháp lý phù hợp cũng được xem như là điều kiện tiên quyết nhằm giám sát ngân hàng hiệu quả Thông thường khung pháp lý này, cơ quan giám sát có quyền lực phù hợp để thực thi nhiệm vụ chức năng của mình và tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật

Cơ quan giám sát có quyền hạn giải quyết mọi vấn đề nảy sinh nhằm bảo đảm an toàn và lành mạnh cho hệ thống ngân hàng, kiểm soát hoạt động ngân hàng thông qua kiểm soát việc cấp phép tham gia hoạt động ngân hàng, có khả năng hạn chế hoạt động mua lại ngân hàng và kiểm soát sự chuyển giao quyền sở hữu ngân hàng

Đối với các ngân hàng cung cấp dịch vụ quốc tế, nguyên tắc BIS nêu rõ, cơ quan giám sát nên thực hiện hoạt động giám sát tổng thể chặt chẽ trên phạm vi toàn cầu, kiểm soát và áp dụng đầy đủ các tiêu chuẩn thận trọng đối với mọi mặt của hoạt động kinh doanh của ngân hàng quốc

tế trên toàn cầu, chủ yếu là tại chi nhánh nước ngoài

Sự nhấn mạng vào hoạt động giám sát tổng thể chặt chẽ trên phạm vi toàn cầu này đã phản ảnh những quan ngại của BIS về sự bất ổn của hệ thống ngân hàng Nhằm đạt được sự giám sát tổng thể chặt chẽ đòi hỏi sự phối hợp các cơ quan giám sát khác nhau

2.2.5.2 Nguyên tắc về giám sát tài chính của IOSCO:

Giới thiệu sơ lược về Ủy ban chứng khoán quốc tế (IOSCO):

Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) được thành lập từ năm 1983 tại Ecuador với 11 thành viên ban đầu, nay có 190 thành viên, bao gồm: những nhà điều tiết, quản

lý thị trường tài chính từ hơn 100 quốc gia và cả các Sở giao dịch chứng khoán, các tổ chức tự giám quản cho thị trường Mục tiêu chính của IOSCO là nhằm thiết lập và thúc đẩy các tiêu chuẩn cấp cao với quan điểm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của TTCK, bảo vệ các nhà đầu tư và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhằm ngăn chặn tội phạm kinh tế

Trang 37

Page | 37

Nguyên tắc của IOSCO về giám sát chứng khoán:

Nguyên tắc của IOSCO cũng khuyến nghị rằng cơ quan giám sát phải có trách nhiệm rõ rang , độc lập trong hoạt động , đủ quyền hạn và nguồn lực Do thị trường chứng khoán áp dụng công nghệ kỹ thuật cao nên nguyên tắc của IOSCO nhấn mạng vào việc nên thành lập tổ chức tự giám sát một cách hợp lý Hơn nữa , nhà phát hành chứng khoán nên duy trì những tiêu chuẩn phù hợp về tính công khai , minh bạch và khung pháp lý nên được thiết lập đối với những kế hoạch đầu tư phù hợp Trong khi nguyên tắc BIS chủ yếu tập trung vài duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính thì nguyên tắc của IOSCO đòi hỏi hoạt động giám sát thận trọng phải được thực hiện công khai hơn

2.2.5.3 Nguyên tắc của IAIS:

Giới thiệu sơ lược về Cơ quan giám sát bảo hiểm quốc tế (IAIS):

IAIS là tên viết tắt từ tiếng Anh: International Association of Insurance Supervisors (tạm dịch: Hiệp hội Quốc tế các cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm) Thành lập từ năm 1994, Hiệp hội có trụ sở chính tại Basel, Thụy Sĩ Với một lực lượng thành viên đông đảo (190 cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm của gần 140 quốc gia, chiếm khoảng 97% thị phần phí bảo hiểm toàn cầu), hoạt động của IAIS có ảnh hưởng sâu rộng tới thị trường bảo hiểm trên toàn thế giới IAIS còn có trên 120 quan sát viên là các hiệp hội bảo hiểm, hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, các tổ chức tài chính quốc tế

Mục tiêu và tôn chỉ hoạt động: phối hợp đóng góp vào quá trình hoàn thiện cơ chế quản

lý giám sát thị trường bảo hiểm ở cấp độ quốc gia và quốc tế nhằm duy trì sự ổn định, hiệu quả, công bằng và an toàn của các thị trường bảo hiểm IAIS tập trung thúc đẩy sự phát triển của các thị trường bảo hiểm có uy tín, đóng góp vào sự ổn định của nền tài chính toàn cầu

Chức năng nhiệm vụ: IAIS ban hành nguyên tắc, chuẩn mực bảo hiểm và văn bản hướng

dẫn, cung cấp các khóa đào tạo và hỗ trợ về giám sát bảo hiểm, tổ chức hội thảo Các nguyên tắc, chuẩn mực của Hiệp hội là định hướng chung và là căn cứ cho việc ban hành quy định pháp luật

về bảo hiểm thống nhất giữa các thành viên, áp dụng đối với cơ quan quản lý bảo hiểm các nước, các doanh nghiệp bảo hiểm và hiệp hội bảo hiểm

Cơ cấu tổ chức: Đứng đầu IAIS là Ban điều hành bao gồm các thành viên từ nhiều khu

vực khác nhau Dưới Ban điều hành là ủy ban kỹ thuật, ủy ban thực thi và ủy ban ngân sách Mỗi

ủy ban lại có các tiểu ban và các nhóm

Trang 38

Page | 38

Phương thức hoạt động: Hiệp hội tổ chức hội nghị thường niên; các ủy ban, các nhóm

thường xuyên tổ chức các cuộc họp, hội thảo cũng như có các báo cáo mang tính khuyến nghị hướng tới áp dụng các chuẩn mực quốc tế về quản lý, giám sát bảo hiểm

Các nguyên tắc cơ bản: AIS đưa ra 28 nguyên tắc cơ bản về quản lý giám sát thận trọng

thuộc các nhóm về các điều kiện tiên quyết để bảo đảm công tác quản lý giám sát bảo hiểm có hiệu quả; nhóm các nguyên tắc áp dụng cho các đối tượng chịu giám sát; nhóm các nguyên tắc

về giám sát thường xuyên; nhóm các nguyên tắc về yêu cầu thận trọng; nhóm các nguyên tắc liên quan đến khách hàng và thị trường; nguyên tắc về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố

Nguyên tắc của IAIS về giám sát bảo hiểm:

Nguyên tắc của IAIS tập trung vào việc bảo vệ nhà đầu tư, thậm chí còn hơn cả các nguyên tắc của IOSCO Nguyên tắc thứ nhất của IAIS là “ Tổ chức giám sát bảo hiểm chủ yếu

là bảo vệ người nắm giữ hợp đồng bảo hiểm bằng việc bảo đảm rằng các công ty bảo hiểm tuân thủ các nguyên tắc và quy định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm”

Nguyên tắc của IAIS đã trực tiếp qui định những hoạt động và quyền hạn cho tổ chức giám sát bảo hiểm Đặc biệt , những nguyên tắc này nhấn mạn rằng tổ chức giám sát bảo hiểm nên thường xuyên đánh giá hoạt động kiểm toán nội bộ , thiết lập những tiêu chuẩn thận trọng phù hợp để hạn chế rủi roc ho các công ty bảo hiểm , thiết lập chuẩn mực tài sản nợ và tài sản

có ,đưa ra các yêu cầu về an toàn vốn hợp lý và kiểm soát nhà cung cấp hợp đồng bảo hiểm thông qua hoạt động kiểm tra tại chỗ và phân tích thông tin được cung cấp và các báo cáo từ các

tổ chức kiểm toán độc lập

2.2.5.4 Nguyên tắc của IMF:

Giới thiệu sơ lược về Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF):

Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund, viết tắt IMF) là 1 tổ chức quốc tế giám

sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng việc theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu Trụ sở chính của IMF đặt tại Washington DC, thủ đô của Hoa Kỳ

Nguyên tắc của IMF về giám sát tài chính:

Nguyên tắc của IMF chủ yếu quan tâm đến tính minh bạch và sự rõ rang trong việc thực thi nhiệm vụ của tổ chức giám sát Nguyên tắc nêu rõ những mục tiêu của giám sát tài chính và

Ngày đăng: 24/01/2015, 17:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tỷ lệ dự trữ Bảo hiểm Tiền gửi một số nước trên thế giới - TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ 3 ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Hình 1. Tỷ lệ dự trữ Bảo hiểm Tiền gửi một số nước trên thế giới (Trang 17)
Hình 2. Cơ cấu Tiền gửi ở Việt Nam theo số tiền. - TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ 3 ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Hình 2. Cơ cấu Tiền gửi ở Việt Nam theo số tiền (Trang 18)
Sơ đồ 1: Mô hình giám sát tài chính hiện nay của Việt Nam - TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ 3 ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Sơ đồ 1 Mô hình giám sát tài chính hiện nay của Việt Nam (Trang 39)
Hình 3: Các dạng đường cong lãi suất - TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ 3 ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Hình 3 Các dạng đường cong lãi suất (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w