1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

73 1,4K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý thuế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 1

MỤC LỤC

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NQD

5

1.2 Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD 151.2.1 Vị trí, vai trò, đặc điểm của doanh nghiệp NQD 151.2.2 Thất thu thuế và sự cần thiết nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế

1.2.3 Quy trình quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp 19

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN GIA LÂM.

23

2.1 Những đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Gia Lâm 23

2.1.2 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Gia Lâm 252.1.3 Bộ máy quản lý thu thuế của chi cục thuế Gia Lâm 26

2.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn huyện Gia Lâm

2.3 Đánh giá tình hình quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên

Trang 2

2.3.1 Những mặt làm được 53

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THU

THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NQD

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM.

57

3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT trong thời gian tới 57

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT đối

3.2.1 Những biện pháp trong công tác quản lý thuế của chi cục 59

3.2.4 Tăng cường công tác tư vấn hỗ trợ người nộp thuế và công tác tuyên truyền

3.2.5 Một số kiến nghị đối với Nhà nước và cơ quan thuế cấp trên 67

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Để thực hiện mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, nước ta ngày càng đòi hỏi nhiều về nguồn vốn, trong đó nguồn vốn chủ yếu để ổn định tình hình đất nước là nguồn vốn từ NSNN và khoản thu chủ yếu của NSNN là từ thuế Thuế là nguồn thu chủ yếu để đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đối với nước ta hiện nay và trong những năm sau này, thuế tiếp tục trở thành công cụ tài chính quan trọng giúp Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội

Trong hệ thống thuế của nước ta, thuế GTGT là một trong các sắc thuế chủ đạo, đóng góp một phần không nhỏ trong tổng số thuế thu được hàng năm Luật thuế GTGT đã thay thế luật thuế doanh thu đã lỗi thời, được bắt đầu áp dụng từ ngày 01/01/1999, đến nay đã được hơn 11 năm Thuế GTGT đã bộc lộ nhiều ưu điểm, mang lại những tác động tích cực đến nền kinh tế, nhưng đồng thời trong công tác quản lý thuế GTGT cũng còn rất nhiều vướng mắc, gây ảnh hưởng tới số thu cũng như các vấn đề kinh tế - xã hội khác

Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế trong những năm qua, hoạt động của khu vực kinh tế NQD ở nước ta đã và đang ngày càng mở rộng trên khắp các địa bàn trong từng địa phương và cả nước Song đây cũng là khu vực rất khó quản lý về thuế, hiện tượng trốn thuế, lậu thuế vẫn còn xảy ra Vì vậy quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD phải tiếp tục cải tiến và hoàn thiện nhằm thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của quá trình đổi mới công tác quản lý thuế đặt ra

Trang 4

Xuất phát từ thực tế trên và qua thời gian thực tập ở chi cục thuế huyện

Gia Lâm, em tâm đắc chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Gia Lâm”

làm nội dung tìm hiểu và nghiên cứu của mình

Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thu thuế GTGT đối

với doanh nghiệp NQD

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh

nghiệp NQD trên địa bàn huyện Gia Lâm

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế

GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Gia Lâm

Do còn nhiều hạn chế về thời gian và trình độ lý luận cũng như thực tiễn, bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Võ Thị Phương Lan - giáo viên trực tiếp hướng dẫn, các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý Tài chính công và các cô chú, anh chị trong Đội kê khai - kế toán thuế - tin học thuộc Chi cục thuế huyện Gia Lâm, TP Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn của mình

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU

THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NQD

1.1 Nhận thức chung về thuế GTGT

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT

1.1.1.1 Khái niệm thuế GTGT

Thuế GTGT được một người Đức tên là Carl Friedrich Von Siemens đưa

ra lần đầu tiên vào năm 1918, nhưng ý tưởng này của ông không được chính phủ Đức áp dụng Đến năm 1954, thuế GTGT lần đầu tiên được áp dụng tại Pháp dưới hình thức thuế đánh vào giai đoạn sản xuất Đến năm 1968, thuế này được nhập vào thuế lưu thông đánh vào dịch vụ và thuế địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất chung Từ đó đến nay, do tính ưu việt của mình, thuế GTGT ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Năm 1988 số nước áp dụng thuế GTGT là 47 nước, tăng lên hơn 100 nước vào năm 1995 và hiện nay là trên 120 nước

Ở Việt Nam, thuế GTGT được Quốc Hội khoá IX thông qua ở kỳ họp thứ

11 vào ngày 10 tháng 05 năm 1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 Sau hơn 11 năm áp dụng, những quy định trong luật thuế GTGT đã có nhiều điều chỉnh để phù hợp hơn với nước ta cũng như tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, và đã thể hiện tính ưu việt của mình trong vai trò huy động nguồn tài chính cho NSNN cũng như điều tiết kinh tế vĩ mô

Theo luật thuế GTGT số 13/2008/QH12, thuế GTGT được định nghĩa như

sau: Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ

phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Trang 6

1.1.1.2 Đặc điểm của thuế GTGT

Thuế GTGT có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu: Đối tượng

nộp thuế GTGT là người bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ còn người chịu thuế

là người tiêu dùng hàng hoá dịch vụ cuối cùng Nói cách khác Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thông qua người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ

Thứ hai, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn: Thuế GTGT là

thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng để mua hàng hoá dịch vụ, nói cách khác là đánh vào khâu tiêu dùng cuối cùng Tuy nhiên, do rất khó phân biệt khâu tiêu dùng cuối cùng và khâu tiêu dùng trung gian nên thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng

Thứ ba, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: Thuế GTGT không phải

là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hoá dịch vụ Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu kỳ kinh tế; sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi

Thứ tư, thuế GTGT có tính chất luỹ thoái so với thu nhập: Người chịu

thuế GTGT là người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải chịu số thuế như nhau Như vậy, nếu so sánh tỷ lệ giữa số thuế phải trả với thu nhập thì người có thu nhập cao hơn thì tỷ

lệ này sẽ thấp hơn và ngược lại

Trang 7

1.1.2 Các nội dung cơ bản của thuế GTGT ở nước ta

Thuế GTGT ở nước ta hiện nay đang được thực hiện theo luật thuế GTGT

số 13/2008/QH12, bao gồm một số nội dung cơ bản sau:

1.1.2.1 Phạm vi áp dụng

* Đối tượng nộp thuế:

Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi là người nhập khẩu)

* Đối tượng chịu thuế:

Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ 25 nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT Các hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế có các tính chất

cơ bản sau:

+ Là các hàng hoá, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ cho nhu cầu đời sống sản xuất cộng đồng, không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng

+ Là các hàng hoá, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu

xã hội, nhân đạo, không mang tính chất kinh doanh

+ Là các hàng hoá, dịch vụ của một số ngành cần khuyến khích

+ Các hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu nhưng không phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam

+ Một số hàng hoá, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm như dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư

Những cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào

Trang 8

Giá tính thuế GTGT bao gồm các trường hợp:

- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT

- Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có)

- Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này

- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT

- Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm

- Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế GTGT

- Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT

Trang 9

- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa

có thuế GTGT, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp NSNN

- Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế GTGT

- Đối với hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau:

Giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán / (1 + thuế suất (%))

* Thuế suất

Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hoá, dịch

vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất gia công và kinh doanh thương mại Hiện nay, thuế GTGT áp dụng các mức thuế suất 0%, 5% và 10%

- Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc

tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch

vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch

vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến

- Thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng và các hàng hoá, dịch vụ cần ưu đãi như: nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt; phân bón, thuốc trừ sâu; sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; thiết bị, dụng cụ y tế; giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập; dịch

vụ khoa học, công nghệ …

Trang 10

- Thuế suất 10%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thông thường không thuộc diện miễn thuế hoặc hưởng thuế suất 0%, 5%.

1.1.2.3 Phương pháp tính thuế

Thuế GTGT được tính theo hai phương pháp: phương pháp khấu trừ GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

* Phương pháp khấu trừ

Đối tượng áp dụng: là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành

lập theo luật doanh nghiệp, luật doanh nghiệp Nhà nước, luật hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT

Điều kiện áp dụng: áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế

độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, trừ các đối tượng

áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế x thuế suất

Số thuế GTGT đầu ra phải nộp bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn GTGT

Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu và đáp ứng điều kiện:

+ Có hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu

Trang 11

+ Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng.

+ Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện trên còn phải có hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hoá, cung ứng dịch vụ, hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu

* Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Đối tượng áp dụng: Cơ sở kinh doanh, cá nhân, hộ kinh doanh, không thực

hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý

Cách xác định số thuế GTGT phải nộp:

Thuế GTGT

phải nộp =

GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra x

Thuế suất của hàng hoá, dịch vụ đó (%)Trong đó:

GTGT của hàng hoá, = Doanh thu x Tỷ lệ % GTGT tính trên

Trang 12

dịch vụ chịu thuế bán ra doanh thu

1.1.2.4 Quy định về hoá đơn, chứng từ

Cơ sở kinh doanh khi mua bán hàng hoá dịch vụ đều phải có hoá đơn chứng từ theo quy định của pháp luật

Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn GTGT Khi lập hoá đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trên hoá đơn Đối với hoá đơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế; nếu không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán, trừ trường hợp sử dụng chứng từ đặc thù

Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng

1.1.3 Vai trò của thuế GTGT

1.1.3.1 Vai trò của thuế GTGT đối với NSNN

Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi

tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN Bên cạnh đó, thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu kỳ kinh tế, nên nguồn thu này đặc biệt

có ý nghĩa trong thời kỳ suy giảm của nền kinh tế

1.1.3.2 Vai trò của thuế GTGT đối với lưu thông hàng hóa

Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ thu nộp thuế Do đó Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh cuả sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu

Trang 13

dùng Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nước thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lặp đối với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trước Ðiều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hoá Ưu điểm của thuế GTGT là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh như mô hình thuế doanh thu Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nước trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế GTGT, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất cuả các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm, hay chỉ suất giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trường hợp tăng thuế suất thuế GTGT đối với một số mặt hàng trong định kỳ điều chỉnh.

Như vậy có thể thấy, việc áp dụng thuế GTGT đã góp phần ổn định giá cả,

mở rộng lưu thông hàng hóa, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu

1.1.3.3 Vai trò của thuế GTGT đối với quản lý kinh tế - xã hội

Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý

vĩ mô đối với nền kinh tế Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, do đó thuế GTGT có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau:

Một là, thuế GTGT khuyến khích đầu tư, phát triến sản xuất kinh doanh

Điều đó thể hiện ở những quan điểm mà luật thuế GTGT áp dụng cho một số đối tượng không chịu thuế Thuế GTGT không thu vào vốn, nên khuyến khích các

Trang 14

cơ sở sản xuất kinh doanh bỏ vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triến sản xuất, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của nước ta.

Hai là, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch

vụ qua các khâu luân chuyển, không tính trên toàn bộ giá cả của hàng hoá, dịch

vụ Do vậy thuế GTGT đã khắc phục tính đánh trùng của thuế doanh thu, đồng thời thúc đẩy chuyên môn hoá, nâng cao năng suất, chất lượng hạ giá thành sản phẩm

Ba là, thuế GTGT có diện bao quát rộng, bao gồm hầu như toàn bộ hoạt

động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Thuế GTGT không những đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước mà còn đánh ở khâu nhập khẩu hàng hoá, một phần tăng thu NSNN, một phần làm tăng giá vốn hàng nhập khẩu, hạn chế hàng nhập khẩu, khuyến khích và một phần bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa

Bốn là, thuế GTGT có 3 mức thuế suất, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong

việc tính thuế của ĐTNT và trong quản lý thuế của cơ quan thuế chức năng Bên cạnh đó, với ít mức thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập, vì về cơ bản không can thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khính hay hạn chế sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tiêu dùng, theo ngành nghề cụ thể; không gây phức tạp trong việc xem xét từng mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều

Năm là, thuế GTGT góp phần khuyến khích hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu

trên cơ sở áp dụng thuế suất 0% đối với hàng xuất khẩu Vì vậy làm giảm giá thành hàng xuất khẩu tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Sáu là, thuế GTGT được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc

căn cứ vào hoá đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước.Vì vậy thuế GTGT khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh khi mua hàng hoá phải có hoá đơn đầu vào và khi bán hàng phải xuất hoá đơn theo quy định Với

Trang 15

nguyên tắc đó thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế được những sai sót, gian lận trong việc ghi chép hoá đơn Hoạt động mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ có hoá đơn chứng từ kèm theo được đưa vào nề nếp là tiền đề cho việc áp dụng tin học vào quá trình quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý thu thuế được tốt hơn, hạn chế thất thu cho NSNN.

Thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Nhìn chung trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT được coi là phương pháp thu tiên bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn của chính sách thuế

1.2 Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD1.2.1 Vị trí, vai trò, đặc điểm của doanh nghiệp NQD

Từ khi đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế được đưa vào thực hiện ở nước ta từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, thành phần kinh tế tư bản tư nhân ngày càng khẳng định vai trò của mình trong việc phát triển nền kinh tế Đây là thành phần kinh tế rất năng động, nhạy bén với kinh tế thị trường nên có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX có đoạn viết: “ Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không

Trang 16

cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phiếu cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước, xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp với người lao động.” Các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần này như công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh mẽ về số lượng, đóng góp không nhỏ cho nguồn thu của NSNN Theo số liệu điều tra doanh nghiệp của tổng cục thống kê năm 2006, doanh nghiệp NQD tăng rất nhanh về số lượng, phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ Năm 2000 mới có 35.004 doanh nghiệp hoạt động, đến 2005 đã lên đến 105.569 doanh nghiệp, mỗi năm tăng trung bình 14.113 doanh nghiệp Lao động bình quân năm 2005 là 32 người/doanh nghiệp tăng không đáng kể so với mức 30 người năm 2000; số vốn bình quân đạt 7 tỷ đồng/doanh nghiệp so với 3 tỷ đồng năm 2000

Kinh tế dân doanh, đặc biệt là các loại hình doanh nghiệp phát triển mạnh,

đã góp phần quan trọng thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước như chủ trương xoá đói giảm nghèo, phân bố lại cơ cấu nền kinh tế, giảm dần sự tách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi… Trên cơ sở đánh giá những ưu điểm của kinh tế dân doanh, đánh giá những tiềm năng phát triển, phân tích các nguyên nhân kìm hãm, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những giải pháp

cơ bản để phát triển những loại hình doanh nghiệp này trong thời gian tới, trong

đó có những giải pháp về tài chính nói chung và về thuế nói riêng

Như vậy, bằng sự khẳng định trong đường lối nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và những giải pháp cụ thể, khu vực kinh tế dân doanh nói chung và doanh nghiệp NQD nói riêng sẽ phát triển nhanh chóng và đóng vai

Trang 17

trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

1.2.2 Thất thu thuế và sự cần thiết nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghệp NQD

* Các hình thức thất thu thuế:

Thất thu thuế là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ những tổ chức cá nhân có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh cần phải được động viên vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía Nhà nước, cơ quan thuế hay chính những đối tượng nộp thuế gây ra mà những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN Như vậy, thất thu thuế có thể hiểu là số thực thu vào NSNN thấp hơn số thuế lẽ ra phải thu trong khoảng thời gian đó

Về pháp lý, thất thu thuế được phân biệt theo hai loại là thất thu tiềm năng

và thất thu thực tế:

Thất thu tiềm năng: là thực trạng có nhiều nguồn thu cần thiết phải động

viên đóng góp cho NSNN, nhưng không được thu vì pháp luật chưa quy định chế

độ thu

Thất thu thực tế: được hiểu là có nhiều khoản thu được pháp luật quy định

rõ, nhưng trên thực tế lại không thu được do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó, một phần là do chính sách, chế độ thuế chưa thật sự phù hợp, do tổ chức và biện pháp quản lý thu thuế kém hiệu quả, một phần là do ĐTNT cố ý hay vô tình không làm tốt nghĩa vụ về thuế với Nhà nước

* Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế:

Nguyên nhân khách quan:

- Do những đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp trong thành phần kinh

tế dân doanh là sở hữu tư nhân, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, trình độ công nghệ, trình độ quản lý, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, số

Trang 18

lượng đối tượng đông, trải rộng trên khắp các miền trong cả nước làm cho công tác quản lý thuế gặp nhiều khó khăn, phức tạp.

- Do các cơ chế quản lý khác chưa đồng bộ, chưa hỗ trợ tích cực cho công tác quản lý thu thuế, có nhiều cơ chế quản lý còn quá thông thoáng dẫn đến sơ

hở để cho các cơ sở kinh doanh lợi dụng Bên cạnh đó, chưa có sự phối hợp đồng

bộ giữa các cấp, các ngành trong quản lý thu thuế

- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế vẫn còn hạn chế như

cơ quan thuế chưa có quyền được điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm pháp luật thuế…

Nguyên nhân chủ quan:

- Trong quản lý thu thuế khu vực kinh tế dân doanh chưa thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy trình và biện pháp nghiệp vụ do ngành thuế đề ra, chưa tranh thủ được sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự phối hợp giữa các ngành và sự ủng hộ của nhân dân

- Đội ngũ cán bộ quản lý thu thuế các cơ sở dân doanh còn ít, số lượng đơn vị phải quản lý lớn

- Một số cán bộ chưa đáp ứng được các yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhất là trong giai đoạn cải cách hiện nay

* Hậu quả của thất thu thuế:

Về mặt kinh tế: Thuế và phí là nguồn thu chủ yếu của NSNN, đảm bảo nhu

cầu chi tiêu hợp lý của Nhà nước, bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Thất thu thuế sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc giảm nguồn thu của NSNN, đồng thời cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế; ảnh hưởng đến khả năng huy động các nguồn lực

Về mặt xã hội: Một trong những mục tiêu quan trọng của thuế là đảm bảo

bình đẳng và công bằng xã hội Tình trạng thất thu thuế sẽ tạo điều kiện cho

Trang 19

những hoạt động sản xuất kinh doanh ngầm trái phép hoạt động ngày càng mạnh, ảnh hưởng không tốt tới việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sản xuất kinh doanh chính đáng Thất thu thuế ảnh hưởng tới trật tự xã hội, vi phạm pháp luật kinh tế Những người trốn lậu thuế, gian lận tiền thuế thì xem thường pháp luật; coi nhẹ kỷ cương Nhà nước; những người chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước ngày càng mất lòng tin vào chính sách, chế độ, pháp luật thuế, nguy hiểm hơn là sự mất lòng tin vào đường lối của Đảng trong phát triển kinh tế.

Vậy, qua các vấn đề nêu trên, có thể nói, để chống thất thu thuế nói chung

và thất thu thuế GTGT nói riêng, tất yếu phải nâng cao công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp NQD lên một bước

1.2.3 Quy trình quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp

Thực hiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp có các nội dung:

1.2.3.1 Quản lý đăng ký cấp mã số thuế.

Quy trình được quy định chi tiết tại Quyết định 443/QĐ-TCT ban hành ngày 29/04/2009, bao gồm các công việc sau:

- Hướng dẫn lập hồ sơ đăng ký cấp mã số thuế, nơi nộp hồ sơ

- Tiếp nhận và kiểm tra thủ tục hồ sơ đăng ký thuế

- Nhập và xử lý thông tin đăng ký thuế

- Trả kết quả đăng ký thuế cho người nộp thuế

- Nhận kết quả cấp mã số doanh nghiệp từ Sở kế hoạch & đầu tư

1.2.3.2 Quản lý khai thuế

Quy trình này được quy định chi tiết tại Quyết định số 422/QĐ-TCT ban hành ngày 22/4/2008, bao gồm các nội dung:

- Quản lý tình trạng kê khai thuế của người nộp thuế

- Xử lý hồ sơ khai thuế, gồm:

Trang 20

+ Cung cấp thông tin hỗ trợ người nộp thuế thực hiện kê khai thuế.+ Tiếp nhận, phân loại, kiểm tra hồ sơ khai thuế.

+ Nhập hồ sơ khai thuế vào cơ sở dữ liệu quản lý thuế+ Hạch toán nghĩa vụ thuế do người nộp thuế tự tính, tự khai trên hồ

sơ khai thuế

+ Kiểm tra lỗi số học hồ sơ khai thuế

+ Gia hạn nộp hồ sơ khai thuế của người nộp thuế

+ Xử lý hồ sơ khai thuế điều chỉnh, bổ sung của người nộp thuế.+ Điều chỉnh hồ sơ khai thuế của người nộp thuế do cơ quan thuế nhầm lẫn, sai sót

+ Lưu hồ sơ khai thuế của người nộp thuế

- Xử lý vi phạm về việc nộp hồ sơ khai thuế

1.2.3.3 Quản lý thu nộp tiền thuế

Quy trình này được quy định chi tiết tại Quyết định số 422/QĐ-TCT ban hành ngày 22/4/2008, bao gồm các nội dung:

- Tiếp nhận chứng từ nộp tiền thuế tại KBNN

- Xử lý đối với chứng từ nộp tiền không đúng quy định

- Chuyển tiền thuế từ tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế (921) vào tài khoản thu NSNN tại KBNN (741)

- Phân bổ và thông báo chứng từ nộp tiền của người nộp thuế được nộp tại

Sở giao dịch KBNN

1.2.3.4 Quản lý cưỡng chế nợ thuế.

Quy trình này được quy định chi tiết tại Quyết định số 490/QĐ-TCT ban hành ngày 08/05/2009, bao gồm các nội dung:

- Xác định người nợ thuế phải cưỡng chế

- Thu thập, xác minh và kiểm tra thông tin

Trang 21

- Tổ chức thực hiện cưỡng chế.

- Theo dõi quá trình thực hiện cưỡng chế nợ thuế

1.2.3.5 Quản lý hoàn thuế

Quy trình này được quy định chi tiết tại Quyết định số 422/QĐ-TCT ban hành ngày 22/4/2008, bao gồm các nội dung:

- Hoàn thuế từ quỹ hoàn thuế GTGT: Lập ủy nhiệm chi, kèm theo Quyết định hoàn thuế gửi KBNN đồng cấp để thực hiện chi tiền hoàn thuế cho người nộp thuế; theo dõi, tiếp nhận chứng từ chi hoàn tiền thuế do KBNN chuyển sang

để cập nhật và thực hiện kế toán số thuế đã hoàn cho người nộp thuế

- Hoàn trả số tiền nộp thừa từ NSNN

- Thoái trả tiền thuế đã nộp vào tài khoản tạm giữ cho người nộp thuế theo Quyết định giải quyết khiếu nại về thuế

1.2.3.6 Quản lý thanh tra, kiểm tra thuế.

* Thanh tra thuế

- Lập kế hoạch thanh tra năm:

+ Thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về người nộp thuế

+ Đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra.+ Trình, duyệt kế hoạch thanh tra thuế năm

+ Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra

- Tổ chức thực hiện thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế:

+ Chuẩn bị thanh tra

+ Công bố Quyết định thanh tra thuế

+ Phân công công việc và lập nhật ký thanh tra thuế

+ Thực hiện thanh tra theo các nội dung trong Quyết định thanh tra.+ Thay đổi, bổ sung nội dung thanh tra hoặc gia hạn thời gian thanh tra

Trang 22

+ Lập Biên bản thanh tra thuế

+ Công bố công khai Biên bản thanh tra

- Xử lý kết quả sau thanh tra

* Kiểm tra thuế

- Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế:

+ Thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra hồ sơ khai thuế

+ Lựa chọn cơ sở kinh doanh để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế

+ Duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế

+ Kiểm tra hồ sơ thuế

+ Xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế

- Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế:

+ Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế

+ Lập biên bản kiểm tra

+ Xử lý kết quả kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế

Chúng ta đã tìm hiểu về thuế GTGT và sự phát triển của các doanh nghiệp NQD hiện nay, để từ đó thấy được sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD Trong chương 2 của đề tài chúng ta sẽ cùng nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Gia Lâm, tìm ra những điểm đã làm được

và chưa làm được của chi cục thuế Gia Lâm cùng những nguyên nhân của nó để

đề ra những giải pháp phù hợp

Trang 23

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN GIA LÂM.

2.1 Những đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác quản

lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Gia Lâm

2.1.1 Đặc điểm kinh tế – xã hội huyện Gia Lâm

* Vị trí địa lý

Gia Lâm là một huyện ngoại thành nằm ở phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, phía Đông, Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh; phía Nam, Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp quận Long Biên, quận Hoàng Mai; phía Bắc, Tây Bắc giáp huyện Đông Anh; với hai con sông chảy qua là sông Hồng và sông Đuống, cùng các quốc lộ 1A, 1B đi các tỉnh phía bắc, quốc lộ 5 đi Hải Dương, Hải Phòng đây thực sự là một vị thế rất có lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội

Huyện Gia Lâm có 22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị trấn: thị trấn Yên Viên, thị trấn Trâu Quỳ và 20 xã: Lệ Chi, Kiêu Kỵ, Đình Xuyên, Dương Hà, Ninh Hiệp, Bát Tràng, Kim Sơn, Cổ Bi, Dương Xá, Dương Quang, Đa Tốn, Phú Thị, Đặng Xá, Kim Lan, Văn Đức, Yên Viên, Đông Dư, Yên Thường (Đình Vỹ), Phù Đổng, Trung Mầu

* Tình hình kinh tế - xã hội

Trước tháng 11 năm 2003 khi quận Long Biên chưa được thành lập thì diện tích của huyện là 172,9 km², dân số 340.200 người Năm 2003 khi quận trên

Trang 24

được thành lập thì diện tích huyện chỉ còn là 114,79 km² với dân số 190.194 người Tính đến năm 2009, dân số của huyện vào khoảng 227.600 người.

Huyện Gia Lâm có một số làng nghề nổi tiếng : Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (dát bạc, sơn son thếp vàng, đồ gỗ), Ninh Hiệp (trồng và kinh doanh thuốc Bắc, buôn bán vải vóc) Hiện nay, thôn Đình Vỹ - xã Yên Thường đang nổi lên như một điểm đầu tư hấp dẫn của các doanh nhân

Huyện Gia Lâm là khu vực phát triển đô thị ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội; là nơi tập trung các công trình đầu mối giao thông và hạ tầng kỹ thuật quan trọng của quốc gia và của thành phố Bên cạnh đó, đây cũng là khu vực phát triển các cơ sở công nghiệp quy mô, các trung tâm dịch vụ, thương mại lớn và là khu vực nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội Toàn huyện hiện có 3 siêu thị lớn, 17 chợ, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp NQD vào khoảng trên 13 nghìn người Đây đồng thời cũng là vành đai xanh, cung ứng thực phẩm của thành phố.

Có thể nhận thấy nền kinh tế Gia Lâm ngày càng khởi sắc, đang dần đi vào ổn định và phát triển mạnh Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của huyện ngày càng được cải thiện và được đầu tư xây dựng mới theo quy hoạch, tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, sản xuất kinh doanh dịch vụ ngày càng phát triển, cơ cấu kinh tế ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, biểu hiện ở việc tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm, thay vào đó là tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng được tăng lên Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới; an ninh trật tự và an toàn xã hội về cơ bản được ổn định; hiệu lực quản lý Nhà nước trên các mặt được nâng cao Năm 2008

đã có hơn 10.000 lao động của huyện được tạo việc làm và có thu nhập ổn định;

số hộ nghèo giảm còn 2,3%; xoá xong nhà dột nát; 100% xã, thị trấn có trạm y tế

Trang 25

đạt chuẩn; 22 trường học đạt chuẩn quốc gia; 100% các đường liên thôn, xã đã được bê tông hoá.

Có thể nói, huyện Gia lâm có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ Tuy nhiên, bên cạnh đó nảy sinh rất nhiều khó khăn, phức tạp như dân số đông, địa bàn rộng lại là đầu mối giao thông dẫn đến nảy sinh những vướng mắc trong công tác quản lý xã hội và quản lý thu thuế

Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban nhân dân TP Hà nội, huyện uỷ – hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân huyện cùng với cục thuế TP Hà nội, sự hỗ trợ tích cực có hiệu quả của các cơ quan hữu quan cũng như sự giúp đỡ của quần chúng nhân dân, chi cục thuế Gia Lâm đã có nhiều giải pháp đồng bộ, khai thác những tiềm năng thế mạnh nên chi cục ngày càng củng cố và có vị trí vững chắc đóng góp rất nhiều trong công tác thu ngân sách của toàn thành phố

2.1.2 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Gia Lâm.

Huyện Gia Lâm là một trong những địa bàn trong cả nước đang trong quá trình đô thị hoá với sự mọc lên của nhiều xí nghiệp lớn tạo thành các khu công nghiệp Kinh tế xã - hội phát triển mạnh, cuộc sống trở nên sôi động, nhờ đó mà

sự phát triển của khu vực kinh tế NQD nói chung và kinh tế ở doanh nghiệp NQD phát triển rất đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau: các ngành sản xuất, ngành xây dựng, ngành thương nghiệp, ngành vận tải, ngành phục vụ, ngành nông lâm thuỷ sản; được tổ chức hoạt động dưới những loại hình doanh nghiệp khác nhau: công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, HTX, tổ sản xuất, chi nhánh xí nghiệp, và các loại hình doanh nghiệp khác

Đối với các ngành sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, sản xuất tiếp tục phát triển ổn định, thu hút lao động và giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho

Trang 26

hàng ngàn lao động Các ngành nghề truyền thống, hoạt động dịch vụ vận tải, dịch vụ cơ giới phục vụ nông nghiệp tiếp tục phát triển.

Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của các cấp lãnh đạo cũng như sự nỗ lực không ngừng của người dân trên địa bàn huyện, trong những năm qua khu vực kinh tế NQD trên địa bàn huyện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Giá trị sản xuất công nghiệp NQD năm 2008 đạt gần 603 triệu đồng Trong quý I năm 2009, giá trị sản xuất các ngành kinh tế tăng 10,96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thương mại dịch vụ là 16,7%, công nghiệp xây dựng tăng 12,2%

Tuy nhiên, công tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, chưa đồng bộ Theo thống kê của chi cục thuế Gia Lâm, số doanh nghiệp phát sinh ngày càng tăng, song nhiều doanh nghiệp không có năng lực kinh doanh đã có đơn xin nghỉ và giải thể doanh nghiệp; còn có một số hiện tượng doanh nghiệp tồn tại danh nghĩa, trốn thuế nhà nước; chưa thực hiện đúng luật lao động về mua bảo hiểm xã hội cho người lao động; việc tranh chấp lao động ở một số doanh nghiệp đôi khi chưa được xử lý kịp thời, hiệu quả thấp

Tuy còn nhiều những khó khăn, nhưng với mục tiêu xác định phát triển doanh nghiệp NQD là chiến lược, mang lại nguồn thu chủ yếu, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của huyện, nên khu vực kinh tế này luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành trong toàn huyện

2.1.3 Bộ máy quản lý thu thuế của Chi cục thuế Gia Lâm.

Chi cục thuế huyện Gia Lâm là tổ chức trực thuộc cục thuế TP Hà Nội, có trụ sở tại số 55 - Cổ Bi – Gia Lâm – TP Hà Nội Là một chi cục đóng trên địa bàn thủ đô, chi cục thuế huyện Gia Lâm nằm trong hệ thống thu thuế Nhà nước, chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế và cơ quan chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương Là cơ sở trực tiếp tổ chức thu thuế dựa vào kế hoạch

Trang 27

được giao, quyết toán thuế và đánh giá kết quả, kiểm tra xử lý các trường hợp được giao, giải quyết đơn khiếu nại theo thẩm quyền.

Căn cứ vào việc phân cấp chức năng, nhiệm vụ của từng cấp cơ quan quản

lý thuế song song với việc thi hành Luật quản lý thuế, chi cục thuế trực tiếp quản

lý thuế đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các đối tượng nộp thuế TNCN (không qua khấu trừ tại nguồn), các khoản thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, các loại phí, lệ phí phát sinh trên địa bàn quận, huyện, thị xã… và các sắc thuế mới ban hành trong giai đoạn 2008- 2010 theo chương trình cải cách của Nhà nước Chi cục thuế thực hiện tất cả các chức năng quản lý thuế, trừ nhiệm vụ thanh tra thuế

Theo khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ đã được xác định, cơ cấu tổ chức của hệ thống Tổng cục Thuế được kiện toàn theo Quyết định 76/2007/QĐ- TTg ngày 28/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 729/QĐ- TCT về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của chi cục thuế thuộc cục thuế và chức năng nhiệm vụ của các đội thuộc chi cục thuế

Hiện nay, chi cục thuế huyện Gia Lâm có tổng số 67 cán bộ viên chức, bao gồm:

1 Chi cục trưởng (đ/c Nguyễn Đức Hiển)

3 Chi cục phó

1 Đội tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

1 Đội kê khai - kế toán thuế và tin học

1 Đội kiểm tra thuế

1 Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

1 Đội nghiệp vụ - dự toán

1 Đội hành chính - nhân sự - tài vụ - ấn chỉ

1 Đội quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác

Trang 28

1 Đội quản lý thuế TNCN

3 Đội thuế liên xã, bao gồm:

Đội thuế liên xã số 1 ( xã Yên Viên, Yên Thường, Ninh Hiệp, Trung Mầu, Phù Đổng, Dương Hà, Đình Xuyên và thị trấn Yên Viên)

Đội thuế liên xã số 2 ( xã Cổ Bi, Dương Xá, Phú Thị, Đặng Xá, Kim Sơn Lệ Chi, Dương Quang

Đội thuế liên xã số 3 ( xã Đa Tốn, Kiêu Kỵ, Đông Dư, Bát Tràng, Kim Lan, Văn Đức và thị trấn Trâu Quỳ)

Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm lãnh đạo chi cục thuế thực hiện theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ trưởng Bộ Tài chính Chi cục trưởng chịu trách nhiệm trước cục trưởng cục thuế về toàn bộ hoạt động của chi cục thuế; phó chi cục trưởng chịu trách nhiệm trước chi cục trưởng về lĩnh vực công tác được phân công Các đội thuế thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định

Trang 29

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của chi cục thuế Gia Lâm:

2.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2007- 2009.

2.2.1 Quản lý đối tượng nộp thuế

Quản lý ĐTNT là khâu đầu tiên của quá trình quản lý thu thuế, quản lý ĐTNT tốt sẽ tạo tiền đề định hướng cho quản lý doanh thu tính thuế, chi phí hợp

lý, hợp lệ trong việc xác định thu nhập chịu thuế

Chi cục phóChi cục phó

Đội nghiệp vụ- dự toán

Đội tuyên truyền

hỗ trợ người nộp thuế

bạ và thu khác

Đội kê khai -

kế toán thuế và tin học

Đội quản lý thuế TNCN

3 đội

thuế

liên xã

Đội quản lý

nợ và cưỡng chế nợ

Đội hành chính -nhân sự-tài vụ-ấn chỉ

Chi cục phóChi cục trưởng

Trang 30

Theo luật thuế GTGT thì tất cả các cơ sở kinh doanh đều phải kê khai đăng ký thuế Công tác này không chỉ để thực hiện quy trình thu nộp vào ngân sách mà còn thực thi kiểm tra, kiểm soát quá trình vận động của nền kinh tế Qua

đó, Nhà nước và cơ quan thuế có thể nắm bắt được số hộ sản xuất kinh doanh, phân loại và có những chính sách quản lý phù hợp

Trong những năm vừa qua, số lượng ĐTNT trên địa bàn huyện không ngừng tăng lên, chủ yếu là các đơn vị được cấp mã số thuế mới và các đơn vị ở nơi khác chuyển về Để đáp ứng yêu cầu ngày càng phức tạp trong việc quản lý ĐTNT, chi cục thuế huyện Gia Lâm đã áp dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau như: quản lý theo mã số thuế, quản lý theo loại hình doanh nghiệp, quản lý theo địa bàn, quản lý theo ngành nghề kinh doanh, quản lý theo thuế môn bài Mỗi cách quản lý được vận dụng tuỳ vào từng hoàn cảnh và phù hợp với các mục tiêu quản lý nhất định Ở đây chúng ta đi vào xem xét hai trong số các phương pháp mà chi cục thuế huyện Gia Lâm đã thực hiện và mang lại hiệu quả

Quản lý theo thuế môn bài

Theo quy định của pháp luật, các đơn vị tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh đều có trách nhiệm nộp thuế môn bài theo các mức thuế khác nhau, tuỳ thuộc vào vốn kinh doanh của đơn vị đó Hiện nay, có 4 mức thuế được áp dụng cho các tổ chức kinh doanh là 3 triệu đồng, 2 triệu đồng, 1,5 triệu đồng, 1 triệu đồng Số doanh nghiệp nộp thuế môn bài theo từng mức được tổng hợp trong bảng sau:

Trang 31

Bảng 2.1: Báo cáo thực thu thuế môn bài theo bậc môn bài của các doanh nghiệp NQD

( Nguồn: Báo cáo thống kê môn bài – Chi cục thuế Gia Lâm )

Qua các số liệu tổng hợp từ các năm 2007 đến 2009 tại bảng 2.1 có thể thấy số doanh nghiệp có trách nhiệm nộp thuế môn bài mà chi cục quản lý không ngừng tăng lên Năm 2007 đơn vị nộp thuế môn bài là 545 đơn vị, thu tương ứng 665,5 triệu đồng Năm 2008 là 742 đơn vị, tăng 197 đơn vị so với năm 2007, thu thuế môn bài 892,5 triệu đồng Năm 2009 là 951 đơn vị, tăng 209 đơn vị so với năm 2008, và số thuế môn bài thu được là 1.160 triệu đồng Tại chi cục thuế Gia Lâm, số doanh nghiệp nộp thuế môn bài theo bậc 4 (D) chiếm đa số và cũng tăng lên mạnh nhất, cho thấy chiếm đa số trên địa bàn huyện là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

Quản lý theo loại hình doanh nghiệp

Trong 3 năm từ 2007 đến 2009, số lượng doanh nghiệp mà chi cục quản lý không ngừng gia tăng Năm 2007, chi cục quản lý 659 đơn vị, trong đó số nghỉ hoạt động do các lý do khác nhau là 114 đơn vị (chiếm 17%), số đang hoạt động

là 545 đơn vị Năm 2008, số đơn vị chi cục quản lý đã tăng lên 780 đơn vị, trong

đó số nghỉ hoạt động là 38 đơn vị (chiếm 5%, giảm so với năm 2007), số đang hoạt động là 742 đơn vị Cũng với tốc độ tăng đó, năm 2009, số lượng đã tăng

Trang 32

tới 1.010 đơn vị, trong đó nghỉ hoạt động là 59 đơn vị (chiếm 6%), số đang hoạt động là 951 đơn vị.

Các loại hình doanh nghiệp NQD do chi cục quản lý bao gồm: công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, chi nhánh, HTX, tổ sản xuất và các loại hình khác Nhìn chung, trong các năm, công ty TNHH vẫn chiếm số lượng lớn nhất Số lượng cụ thể các loại hình doanh nghiệp thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.2: Cơ cấu doanh nghiệp NQD trên địa bàn phân theo loại hình doanh nghiệp

Số

sở quản lý

Số nghỉ hoạt động

Số hoạt động

Số

sở quản lý

Số nghỉ hoạt động

Số hoạt động

Số cơ

sở quản lý

Số nghỉ hoạt động

Số hoạt động

( Nguồn: Báo cáo ghi thu – Chi cục thuế Gia Lâm )

Nhìn chung, tình hình quản lý ĐTNT tại chi cục thuế Gia Lâm được thực hiện tương đối tốt, đáp ứng được yêu cầu trong đổi mới công tác quản lý thuế Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, chi cục phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ trong việc theo dõi ĐTNT về quy mô, tình hình sản xuất kinh doanh thực tế để có biện pháp quản lý phù hợp Đối với các doanh nghiệp nghỉ hoạt động, chi cục tiến hành xác định rõ nguyên nhân, gồm có tạm nghỉ kinh

Trang 33

doanh, bỏ trốn, giải thể Số lượng các doanh nghiệp giải thể do không đủ năng lực hoạt động chiếm đa số trong các doanh nghiệp nghỉ hoạt động: năm 2007 là

52 đơn vị, năm 2008 là 20 đơn vị và năm 2009 là 24 đơn vị Đối với các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, chi cục cử cán bộ tiến hành xác minh địa điểm hoạt động và thực hiện các thủ tục đưa doanh nghiệp vào quản lý Các doanh nghiệp đều được hướng dẫn, đôn đốc kê khai thuế kịp thời, đầy đủ

Tuy nhiên, việc quản lý ĐTNT trên địa bàn huyện cũng gặp phải nhiều khó khăn, dẫn đến một số hạn chế Việc số lượng các doanh nghiệp không ngừng tăng lên trong khi nhân lực ngành thuế có giới hạn đã gây ảnh hưởng không nhỏ, khiến cho việc theo dõi sát sao các đối tượng quản lý càng trở nên khó khăn Bên cạnh đó, nhận thức về công tác thuế của nhiều đối tượng còn hạn chế, một số đơn vị nghỉ kinh doanh nhưng không thông báo cho cơ quan thuế hoặc có đơn xin nghỉ kinh doanh nhưng vẫn hoạt động Những nguyên nhân đó gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý ĐTNT của chi cục

2.2.2 Quản lý căn cứ tính thuế

Bên cạnh việc quản lý tốt ĐTNT, việc quản lý căn cứ tính thuế nhất là quản lý doanh thu, mức thuế suất đối với khu vực NQD cũng được xem là điểm then chốt, vì việc xác định đúng giá tính thuế cũng như đưa ra mức thuế suất hợp

lý sẽ giúp cơ quan thuế hoàn thành kế hoạch thu cũng như khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế -

Trang 34

Lâm đã tiến hành quản lý theo ba nhiệm vụ chủ yếu là: quản lý công tác kế toán doanh nghiệp, quản lý việc miễn giảm thuế và quản lý việc sử dụng hóa đơn chứng từ.

2.2.2.1 Quản lý công tác kế toán doanh nghiệp

Công tác kế toán doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp Các số liệu trong sổ sách kế toán phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn cứ để các nhà quản lý đề ra các kế hoạch phát triển phù hợp với tình hình thực tế Riêng đối với lĩnh vực quản lý thuế, kế toán doanh nghiệp là căn cứ trong việc tính toán số thuế phải thu Nói cách khác,

số liệu kế toán đầy đủ là điều kiện quan trọng trong việc phát huy hiệu quả công tác quản lý thuế

Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng hiện nay công tác kế toán doanh nghiệp vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, gây khó khăn trong quản lý thuế

Đa phần các doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên chủ yếu chỉ sắp xếp một người làm kế toán, thậm chí là kiêm nhiệm chưa qua đào tạo chính quy hoặc khi có thanh tra, kiểm tra mới thuê kế toán Điều này làm cho công tác kế toán không phản ánh đúng thực tế sản xuất kinh doanh của đơn vị Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp vẫn chưa có ý thức tự giác thực hiện công tác

kế toán, nhiều khi chỉ thực hiện mang tính hình thức, chống chế, có nhiều nghiệp

vụ bỏ ngoài sổ sách kế toán

Có thể kể ra một số sai phạm thường gặp trong công tác kế toán là: Đưa vào khấu trừ thuế đầu vào không có hoá đơn hoặc hoá đơn không hợp pháp; kê khai hoá đơn dịch vụ không được khấu trừ của hàng hoá không dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT; kê khai trùng lặp thuế GTGT đầu vào…vv Ví dụ: trong quỹ 4 năm 2009, chi cục thuế Gia Lâm đã

ra quyết định xử phạt hành chính đối với công ty TNHH Bảo Quang, mã số thuế:

Trang 35

0101309362, ở xóm 1 – thôn Bát Tràng – xã Bát Tràng – huyện Gia Lâm - TP

Hà Nội, đã vi phạm:

+ Ghi chép sổ sách kế toán không kịp thời, theo đúng quy định của chế độ

kế toán

+ Sửa chữa tẩy xoá sổ kế toán không đúng quy định

Và đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 2,5 triệu đồng

Theo báo cáo năm 2008: số quyết định xử phạt là 342 quyết định, tổng số tiền là 2.784.420.000 đồng, trong đó truy thu thuế là 1.825.750.000 đồng, phạt vi phạm hành chính là 958.670.000 đồng Năm 2009, số quyết định xử phạt là 412 quyết định, số tiền 3.443.560.000 đồng, trong đó truy thu thuế là 2.543.370.000 đồng, phạt vi phạm hành chính 900.190.000 đồng

Việc sai phạm của các doanh nghiệp về chế độ kế toán tăng lên, mà tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp kinh doanh về khách sạn, dịch vụ ăn uống, xây dựng, vận tải mà nguyên nhân một phần do nhận thức chưa đầy đủ của doanh nghiệp về tính cấp thiết của công tác kế toán, mặt khác do đặc thù ngành kinh doanh, không thể theo dõi một cách chính xác doanh thu, chi phí, dẫn đến chế độ

kế toán còn có nhiều hạn chế Còn đối với chi cục thuế việc kiểm tra sổ sách ngày càng được nhấn mạnh, chú trọng, quản lý ngày càng tốt hơn, thực hiện xử phạt hành chính một cách kiên quyết hơn đối với doanh nghiệp thực hiện không tốt chế độ kế toán

2.2.2.2 Quản lý việc miễn giảm thuế

Giai đoạn 2007 – 2009 là giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến động Lạm phát cao và đi kèm sau đó là suy thoái kinh tế đã đặt nhiều doanh nghiệp bên bờ vực phá sản Trước tình hình đó, Chính phủ đã có nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, trong đó có công cụ thuế Riêng đối với thuế GTGT, Bộ Tài

Trang 36

chính đã ban hành hàng loạt các văn bản về việc miễn giảm thuế nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, có thể kể đến:

+ Thông tư số 13/2009/TT- BTC ngày 22 tháng 01 năm 2009 hướng dẫn thực hiện giảm thuế GTGT đối với một số hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp kinh doanh gặp khó khăn

+ Thông tư số 18/2009/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện giảm 50% mức thuế suất thuế GTGT theo Danh mục hàng hoá của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

+ Thông tư số 85/2009/TT-BTC ngày 28 tháng 04 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 58/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo

gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp

+ Thông tư số 91/2009/TT-BTC ngày 12 tháng 05 năm 2009 của Bộ Tài chính Ban hành Danh mục bổ sung một số mặt hàng được giảm 50% mức thuế suất thuế GTGT theo Quyết định số 16/2009/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm

2009 của Thủ tướng Chính phủ

+ Thông tư số 112/2009/TT-BTc ngày 02 tháng 06 năm 2009 hướng dẫn điều kiện áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với vận tải quốc tế và dịch vụ của ngành hàng không, hàng hải

+ Công văn số 10219/BTC-TCT ngày 20 tháng 07 năm 2009 của Bộ Tài chính gửi Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc giảm thuế GTGT

Nhận thức được mục tiêu của việc miễn giảm thuế GTGT cho các doanh nghiệp, chi cục thuế Gia Lâm đã tiến hành xác định, thống kê số đơn vị được miễn giảm, lập kế hoạch và trình lãnh đạo ký duyệt Tính riêng năm 2009, số

Ngày đăng: 30/03/2013, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của chi cục thuế Gia Lâm: - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức của chi cục thuế Gia Lâm: (Trang 29)
Bảng 2.1:  Báo cáo thực thu thuế môn bài theo bậc môn bài của các doanh - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bảng 2.1 Báo cáo thực thu thuế môn bài theo bậc môn bài của các doanh (Trang 31)
Bảng 2.2: Cơ cấu doanh nghiệp NQD trên địa bàn phân theo loại hình doanh - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bảng 2.2 Cơ cấu doanh nghiệp NQD trên địa bàn phân theo loại hình doanh (Trang 32)
Bảng 2.3: Số cơ sở phải nộp tờ khai thuế GTGT trong tháng 12 các năm 2007, 2008, 2009 - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bảng 2.3 Số cơ sở phải nộp tờ khai thuế GTGT trong tháng 12 các năm 2007, 2008, 2009 (Trang 40)
Bảng 2.4: Bảng báo cáo tổng kết thu thuế - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bảng 2.4 Bảng báo cáo tổng kết thu thuế (Trang 44)
Bảng 2.5: Báo cáo thực thu thuế GTGT theo ngành - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bảng 2.5 Báo cáo thực thu thuế GTGT theo ngành (Trang 46)
Bảng 2.7: Tỷ lệ nợ đọng thuế GTGT - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bảng 2.7 Tỷ lệ nợ đọng thuế GTGT (Trang 47)
Bảng 2.8: Tình hình hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp NQD - Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bảng 2.8 Tình hình hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp NQD (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w