DANH MỤC CÁC BẢNG.3.1 Tình hình tài sản của Công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn 73.2 Tình hình nguồn vốn của Công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn 93.3 Tình hình lao động và thu nhập của người l
Trang 1DANH MỤC CÁC BẢNG.
3.1 Tình hình tài sản của Công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn 73.2 Tình hình nguồn vốn của Công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn 93.3 Tình hình lao động và thu nhập của người lao động trong Công ty 10
Trang 2MỤC LỤC.
Trang
II/ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ CÁC
CÔNG CỤ THỰC HIỆN XÂY DỰNG BẢN CHIẾN LƯỢC
4
1) Vài nét về Công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn 52) Tình hình tài sản, nguồn vốn, lao động và thu nhập của lao động trong Công ty 63) Kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 1998 – 2003 11
IV/ BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC, ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU. 13
Trang 3VII/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 211) Xem xét lại các mục tiêu, điều kiện môi trường và các chiến lược 212) Đánh giá, điều chỉnh và đảm bảo cung ứng nguồn lực 21
4) Triển khai chiến lược hoặc thay đổi chiến lược 23
Trang 4CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH DOANH “CÔNG TY VẬT TƯ TỔNG HỢP LẠNG
SƠN” GIAI ĐOẠN 2003 – 2006 I/ LÝ DO XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, quốc tế hóa và khu vực hóa ngày càng cao thì sự cạnhtranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt Việc phát triển lớn mạnh và sự hoạt độngphong phú, đa dạng của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đòi hỏi phải có những công cụsắc bén để quản lý kinh tế và tài chính, và để phát triển kinh doanh đạt được hiệu quả cao thì cầnphải có một chiến lược phát triển phù hợp
Chiến lược kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và hoạt động củadoanh nghiệp Nó định ra được các mục tiêu lớn, theo đó cần phải huy động hợp lý các nguồnlực cả ngắn hạn và dài hạn Nó đảm bảo cho các kế hoạch không bị lạc hướng Chiến lược kinhdoanh được xây dựng tốt giúp cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận, có chỗ đứng vữngchắc an toàn trong kinh doanh, chủ động thích ứng với môi trường kinh doanh
Chính vì thế, một lần nữa, chúng tôi khẳng định: trong hoạt động kinh doanh của mình, cácdoanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp với từng điềukiện và hoàn cảnh cụ thể, đây chính là yêu cầu cần thiết đối với bất cứ một doanh nghiệp nào.Tồn tại trong nền kinh tế thị trường với xu hướng quốc tế hóa và khu vực hóa ngày càngcao, đồng thời cũng là ở trong một môi trường với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngàycàng khốc liệt – Công ty Vật tư tổng hợp Lạng Sơn là một doanh nghiệp Nhà nước nằm trong địabàn thành phố Lạng Sơn, một tỉnh miền núi phía bắc và cũng là một địa bàn có hoạt động kinhdoanh thương mại khá mạnh Tuy nhiên, ở đâu mà có thị trường kinh doanh hoạt động càng sôiđộng, càng mạnh mẽ thì cũng có sự cạnh tranh càng gay gắt, khốc liệt Do vậy, để tồn tại và pháttriển thì vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp là phải xây dựng một bản chiến lượcphát triển thật phù hợp Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó đối với các doanh nghiệpnên chúng tôi đã dựa vào bài luận văn Thạc Sĩ của Chu Ngọc Phượng với nội dung “ Phân tíchkết quả kinh doanh của công ty Vật tư tổng hợp Lạng Sơn” để xây dựng lên một bản chiến lược
phát triển của công ty đó với tên gọi “ Chiến lược phát triển kinh doanh công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn giai đoạn 2003 – 2006”.
II/ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ CÁC CÔNG CỤ THỰC HIỆN XÂY DỰNG BẢN CHIẾN LƯỢC.
1) Phương pháp tiếp cận.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Với phương pháp này, các nhà hoạch định chính sách đã
có sự tổng hợp và phân tích tổng thể tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Từ đó, nắm được tình hình phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xác định những ưuđiểm, cơ hội cũng như những hạn chế và thách thức của mình Trên cơ sở đó đặt ra các mục tiêuphát triển
- Phương pháp tiếp cận từ trên xuống: Với phương pháp này, nhà hoạch định chiến lược đã
có sự phân tích vĩ mô từ bức tranh tổng thể nền kinh tế thế giới, khu vực và tình hình kinh tế đấtnước để có những nhận định, đánh giá tổng quan
Với phương pháp tiếp cận từ trên xuống, các nhà hoạch định chiến lược của công ty đã nắmđược tình hình chung, tổng thể của nền kinh tế đất nước cũng như bối cảnh nền kinh tế thế giới
để xây dựng Chiến lược phát triển kinh doanh của công ty mình
Trang 5- Phương pháp tiếp cận từ dưới lên: Ngược với phương pháp tiếp cận từ trên xuống, cách
tiếp cận từ dưới lên bỏ qua các điều kiện kinh tế vĩ mô mà đi vào tiếp cận trực tiếp các mặt hàngthuộc thành phần kinh doanh qua các chỉ tiêu phát triển
+ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
+ Tiếp cận quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó phân tích sâu các yếu tố ảnhhưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp; các cơ chế, chính sách tác động đến hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xây dựng chính sách phát triển kinh doanh đi từ dướilên
- Tiếp cận dựa trên quan điểm phát triển: Các nhà hoạch định chiến lược đã có sự tiếp cận
dựa trên các quan điểm phát triển:
+ Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốttrong chiến lược
+ Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lựcchủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển
+ Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao;đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2) Phương pháp xây dựng.
- Phương pháp định tính: Chiến lược sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để đánh giá
về kết quả kinh doanh của doanh nghiêp giai đoạn 1998 – 2003
- Phương pháp định lượng: Chiến lược đã sử dụng phương pháp định lượng để đưa ra các chỉtiêu tổng hợp, chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ…để phát triển kinh doanh 2003 –2006
- Phương pháp khung logic: đây là một phương mà sinh viên thích sử dụng vì nó được lậpmột cách dễ dàng hơn, chiến lược sử dụng phương pháp này để khái quát hóa một cách chi tiếtvấn đề của chiến lược
3) Công cụ xây dựng chiến lược.
- Công cụ SWOT
Lựa chọn công cụ SWOT, tìm ra những cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu củaCông ty để từ đó xây dựng lên một bản chiến lược có tính khả thi nhất giúp Công ty kinh doanhđạt hiệu quả cao và đạt được sự phát triển bền vững
III/ THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2003.
1) Vài nét về Công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn.
- Thành lập năm 1968, tiền thân là trạm kim khí Lạng Sơn
- Năm 1976, công ty trực thuộc Bộ vật tư nay gọi là Bộ Thương Mại
- Năm 1994, công ty được chuyển giao từ Bộ Thương Mại về Sở Thương Mại Lạng Sơn trựctiếp quản lý và Công ty vẫn mang tên là: Công ty Vật tư tổng hợp Lạng Sơn Tên giao dịch quốc
Trang 6- 5/1997, công ty đã tách bộ phận xăng dầu giao về công ty xăng dầu Hà Bắc và Công ty chủyếu kinh doanh hàng xuất nhập khẩu.
- Hiện nay, Công ty Vật tư tổng hợp Lạng Sơn là một đơn vị có hoạt động kinh doanh với quy
mô vừa, số lượng hàng hóa tiêu thụ thay đổi theo từng năm
- Từ khi chuyển đổi cơ chế xóa bỏ bao cấp sang cơ chế thị trường và do cạnh tranh của thịtrường thì các mặt hàng kim khí, vật liệu điện, hóa chất bị giảm xuống rõ rệt Do vậy, Công tychuyển sang kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu nông hải sản và nhập khẩu một số các mặt hàngvật tư công – nông nghiệp, thuôc bảo vệ thực vật
Như vậy, thực chất đây là Công ty thương mại nhưng hiện nay Công ty đã có sự chuyểnhướng kinh doanh tổng hợp nên đã đầu tư lập cơ sở sản xuất hạt điều ở Bình Dương, thu mua hạtđiều của nông dân sau đó gia công, chế biến, đóng gói để chủ yếu xuất khẩu sang các nước Châu
Âu và Trung Quốc
2) Tình hình tài sản, nguồn vốn, lao động và thu nhập của lao động trong Công ty
- Tài sản cố định gồm những tài sản tồn tại trong doanh nghiệp một thời gian dài như tài sản
cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, các khoản đầu tư dài hạn khác
- Tỷ trọng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong đó các khoản phảithu Điều đó thể hiện nguồn vốn của Công ty bị chiếm dụng ngày càng nhiều, công tác thu hồicông nợ còn yếu kém Hàng hóa tồn kho cũng chiếm tỷ trọng cao do việc dự báo nhu cầu thịtrường, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh không sát với thực tế gây nên tồn đọng mộtlượng vốn lớn trong khi nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp đang còn thiếu
- Đối với tài sản cố định và đầu tư dài hạn trong giai đoạn 2002, 2003 có tỷ trọng lớn Nhưvậy cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty ngày càng được tăng cường và quy mô năng lực sản xuấtngày càng cao Tuy nhiên, một số tài sản cố định không sử dụng được nữa như ô tô, máy tính,điều hòa nhưng thời gian khấu hao chưa hết Như vậy việc xây dựng thời gian khấu hao của một
số tài sản cũng có phần chưa hợp lý ( bảng 3.1)
b) Nguồn vốn.
- Để tiến hành sản xuất kinh doanh, Công ty cần phải có lượng vốn nhất định bao gồm vốn cốđịnh, vốn lưu động và các loại vốn chuyên dùng khác Nhiệm vụ của Công ty là phải tổ chức huyđộng và sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tíndụng và chấp hành pháp luật
- Công ty vật tư tổng hợp Lạng Sơn cũng như nhiều Công ty khác, từ khi xóa bỏ bao cấpchuyển sang cơ chế thị trường mọi cái đối với Công ty đều mới mẻ Song với sự nhạy bén củaban giám đốc công ty đã thống nhất quản lý tập chung công tác tài chính tại phòng kế toán tài vụ
Kế toán trưởng là người thừa hành của giám đốc, quản lý và chỉ đạo các khâu theo một hệ thốngNguồn vốn của Công ty bào gồm: vốn lưu động, vốn cố định, các loại vốn vay, các quỹ (quỹ đầu
Trang 7tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng mất việc làm, quỹ khen thưởng phúc lợi),các hình thức góp vốn liên doanh.
Bảng 3.1 (phai pho to de dinh kem)
Trang 8- Để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả cao, tăng lợi nhuận, nâng cao thu nhậpcho công nhân viên, mở rộng quy mô kinh doanh nên trước một kỳ sản xuất kinh doanh Công ty
đã xây dựng kế hoạch sử dụng vốn, kế hoạch vay và trả, kế hoạch huy động nguồn vốn khác
- Bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu, Công ty còn sử dụng nguồn vốn tín dụng như vay ngânhàng, vay của các tổ chức tín dụng khác, huy động vay của cán bộ công nhân viên Vì Công ty cókhối lượng kinh doanh hàng xuất nhập khẩu lớn nên nhu cầu về vốn kinh doanh cao Thực tếnguồn vốn kinh doanh của Công ty là thiếu so với nhu cầu nên chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay.Trong những năm gần đây, nguồn vốn của Công ty bị khách hàng chiếm dụng nhiều Vì thế đểđáp ứng nhu cầu kinh doanh cần nâng cao nguồn vốn vay nên hiệu quả kinh doanh đạt thấp dophải trả lãi vay nhiều ( bảng 3.2)
- Nguồn vốn của Công ty năm 1998: nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn chứng tỏ tìnhhình tài chính của Công ty ổn định và chủ động hơn trong mọi hoạt động kinh doanh Từ năm
1999 cho đến nay nguồn vốn chủ sở hữu rất thấp đặc biệt trong những năm 2002 chiếm 18.87%
và năm 2003 chiếm 20% trong tổng nguồn vốn Nguồn vốn kinh doanh cũng đang tăng dần quacác năm nhưng tốc độ tăng chậm so với quy mô hoạt động của Công ty và cũng chiếm tỷ trọngnhỏ
- Đối với các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn trong những năm gần đây ngày càng tăng cao, dư
nợ lớn bởi nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty thấp mà quy mô sản xuất kinh doanh nhiều, ngoài
ra Công ty đầu tư thêm các tài sản cho hoạt động sản xuất điều, mua sắm nhà xưởng Như vậy,trong những năm tới Công ty sẽ gặp rất nhiều khó khăn về tình hình tài chính nếu hoạt động kinhdoanh không có hiệu quả cao
c) Tình hình về lao động và thu nhập của lao động trong công ty.
- Công ty Vật tư tổng hợp Lạng Sơn có số lượng lao động ở bộ phận quản lý và kinh doanhdao động trong khoảng 40 đến 50 người Trong những năm trước đây số lượng nhân viên trongcác phòng ban được bố trí nhiều nhưng hiệu quả công việc lại không cao Từ năm 1999 Ban lãnhđạo Công ty đã quyết định giảm bớt lượng nhân viên trong các phòng ban ra các đơn vị trựcthuộc hoặc các cá nhân tự nhận khoán nếu có năng lực kinh doanh Ngoài ra Công ty đã banhành những chính sách mới về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động Xây dựng chế độ làmviệc chặt chẽ về thời gian và công việc, kỷ luật cao, ban hành chế độ thưởng phạt nhất định Saumột thời gian hoạt động đã đi vào nề nếp và ý thức làm việc của cán bộ công nhân viên tốt hơn
- Trong những năm 2000 đến 2002 hoạt động kinh doanh của Công ty cũng đã có phần tăngtrưởng nên mức thu nhập của người lao động được nâng cao Năm 2001 có mức thu nhập bìnhquân của người lao động cao nhất do năm này Công ty đạt được kết quả kinh doanh cao, ngoài racông nhân làm thêm giờ, vượt mức sản phẩm và được thưởng Hằng năm vào cuối các quý, cuốinăm Công ty bình xét thưởng cho những cá nhân hay đơn vị có thành tích cao trong công việc
- Đối với bộ phận sản xuất ngoài mức lương cơ bản yêu cầu số lượng sản phẩm hoàn thànhtrong tháng, nếu vượt mức Công ty sẽ trả thêm lương cho số sản phẩm vượt mức Ngoài ra cuốicác quý, các tổ sản xuất sẽ tiến hành bình bầu xét thưởng
Tình hình lao động và thu nhập của người lao động trong Công ty (bảng 3.3)
Trang 9Bảng 3.2 (Phải pho to để đính kèm)
Trang 10Bảng 3.3(Phải pho to để đính kèm)
Trang 113) Kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 1998 – 2003.
Công ty Vật tư tổng hợp Lạng Sơn có mức doanh thu và doanh thu thuần khá cao và tăngtrưởng qua các năm Tuy nhiên mức lãi gộp không cao so với doanh thu thuần đạt được Lợinhuận thuần thấp, kết quả hoạt động tài chính nhìn chung lỗ, do vậy lợi nhuận trước thuế thấp
Để phân tích biến động kết quả kinh doanh của Công ty chúng tôi dùng phương pháp sosánh các năm với năm 1998 Tuy nhiên đây chỉ phân tích mức độ biến động đơn thuần của cácchỉ tiêu mà chưa tính đến ảnh hưởng của các nhân tố khác quan khác trong suốt một khoảng thờigian dài như vậy
Khi phân tích biến động thì trước hết phân tích biến động qua cả giai đoạn 1998 đến 2003bằng cách so sánh % của năm 2003 với năm 1998
Kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 1998 – 2003 ( bảng 4.1)
Qua bảng 4.1 cho thấy
- Mức doanh thu và doanh thu thuần
Năm 2003 so với năm 1998 doanh thu thuần đạt 196% nhưng trong từng năm có biến độngkhác nhau
Năm 1999 so với năm 1998 doanh thu và doanh thu thuần giảm với tỷ lệ không lớn lắm Cácnăm sau đó tỷ lệ này tăng và tăng mạnh nhất vào các năm 2001, 2002 và năm 2003 tỷ lệ tăng cóthấp hơn so với năm 2001 và năm 2002
Nguyên nhân của sự biến động này là do sang năm 1999 Công ty chuyển hướng kinh doanhchủ yếu sang lĩnh vực xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng mạnh của thị trườnghàng hóa Trung Quốc Ngoài ra nhằm tận dụng những hàng hóa nông sản có lợi thế ở Việt Nam,chính sách khuyến khích cho xuất khẩu của chính phủ như được hoàn thuế GTGT và thuế xuấtkhẩu 0% Nhưng vì mới tiếp cận với hình thức xuất khẩu này nên doanh thu của Công ty năm
1999 không cao và bị giảm sút do phải giảm tỷ trọng hàng nhập khẩu Bắt đầu từ năm 2000 mứcdoanh thu và doanh thu thuần tăng mạnh do Công ty tăng được lượng hàng hóa xuất khẩu sangTrung Quốc, giá của các nhà máy, xí nghiệp chế biến ở Trung Quốc tăng cao Sang năm 2002nhu cầu này có xu hướng giảm và đến năm 2003 giảm đáng kể Hàng hóa xuất khẩu sang TrungQuốc chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng là chủ yếu
- Lãi gộp
Năm 1999 tỷ lệ lãi gộp tăng cao (73.68%) mặc dù doanh thu và doanh thu thuần giảm.Tương tự các năm 2000 đến năm 2003 tỷ lệ lãi gộp tăng nhanh và cao hơn nhiều so với tỷ lệ tăngcủa doanh thu
Nguyên nhân chính của kết quả này là do trong những năm qua Công ty đã giảm thiểu đượcgiá vốn hàng bán Điều đó đánh giá khả năng tìm kiếm được những nguồn hàng có giá bán thấp
và tiết kiệm được chi phi trong quá trình thu mua và sản xuất Đối với hoạt động thu mua hànghóa để xuất khẩu, một số mặt hàng Công ty đã cử người đến tận các địa phương để thu mua củanông dân Ngoài ra với những mặt hàng có khối lượng xuất khẩu lớn, Công ty hợp đồng thu muahẳn với các cơ sở thu mua tại địa phướng đó Như vậy sẽ giảm thiểu được các chị phí trung gian
Trang 12Bảng 4.1 (Phải pho to để đính kèm)