Sau đó nhờ những nỗ lực trồng rừng và bảo vệ rừng thông qua các chính sách quản lý đất lâm nghiệp nóichung và đất rừng nói riêng.. - Phân loại đất rừng 3 : Theo NĐ 163, Điều 3 Nhà nước g
Trang 1Phần I: Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài (0)
Rừng là chiếc nôi sinh ra loài người, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với con
người, nhưng hiện nay nó đang phải đối mặt với sự suy giảm nhanh về số lượng và chấtlượng Vào thời kỳ tiền sử diện tích rừng trên thế giới đạt tới 8 tỷ ha, chiếm 2/3 diện tíchlục địa, đến thế kỷ 19 còn khoảng 5,5 tỷ ha và năm 2005 chỉ còn khoảng 2,6 tỷ ha Diệntích rừng đang suy giảm nhanh với tốc độ chóng mặt mỗi phút mất đi khoảng 30 ha rừng
và theo dự báo với tốc độ này chỉ khoảng 160 năm nữa toàn bộ rừng trên trái đất sẽ biếnmất
Ở Việt Nam rừng cũng đã suy giảm nhanh, đầu thế kỷ 20 độ che phủ đạt khoảng50% sau đó suy giảm mạnh đến cuối những năm 80 chỉ còn gần 30% Sau đó nhờ những
nỗ lực trồng rừng và bảo vệ rừng thông qua các chính sách quản lý đất lâm nghiệp nóichung và đất rừng nói riêng Cụ thể là Luật Đất đai (1987, 1993, 1996, 1998, 2001, 2003), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991, 2004), Luật Bảo vệ môi trường (1993, 2005), cácNghị định như NĐ 01, NĐ 02, NĐ 163 của Chính phủ về giao đất, giao rừng, cho tổ chức,
hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp (riêng NĐ163còn có thêm nội dung là cho thuê đất lâm nghiệp), một số chương trình lớn như chươngtrình 327 (phủ xanh đất trống đồi núi trọc), chương trình 661 (chương trình trồng mới 5triệu ha rừng)… Những chính sách quản lý này đã có những tác động tích cực vì vậy độche phủ rừng dần được cải thiện 33% năm 2001, 34.4% năm 2003, 36% năm 2004, 37%năm 2005 Tuy nhiên, trong những năm qua do các chính sách trên thực hiện vẫn chưađồng bộ, không thống nhất với nhau, cán bộ quản lý rừng yếu kém nên rừng vẫn bị tànphá nghiêm trọng do: nhu cầu thị trường, tình trạng du canh, phá rừng làm nương rẫy,cháy rừng, công nghệ khai thác và chế biến gỗ còn lạc hậu…
Để giải quyết tình trạng này thì việc thực hiện các chính sách quản lý đất rừng mộtcách đồng bộ, hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể là cực kỳ quan trọng, chính bởinhận thấy được tầm quan trọng của các chính sách này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Chính sách quản lý đất công áp dụng trường hợp đất rừng”.
Trang 21.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra cơ sở lý luận về chính sách quản lý đất rừng
Tìm hiểu và đánh giá thực tiễn các chính sách quản lý đất rừng tại Việt Nam
Đưa ra kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về chính sách quản lý đất rừng,
từ đó, đề xuất một số định hướng về chính sách quản lý đất rừng tại Việt Nam
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ 20/10/2008 – 13/11/2008
Không gian: Khu vực có đất rừng trên toàn Việt Nam
Chủ đề: Chính sách quản lý đất rừng
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin về chính sách quản lý đất rừng ở trên các phương tiện thông tinđại chúng: Báo; tạp chí; internet; các văn bản, các nghị định, các nghị quyết của Quốc hội,Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Bộ NN và PTNT
1.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin
Các thông tin thu thập được, được các thành viên trong nhóm thảo luận Nhóm đưa
ra các ý kiến, sau đó tổng hợp ý kiến và đưa ra nhận xét
Trang 3Phần II- Cơ sở lý luận của chính sách quản lý đất rừng
2.1 Khái niệm
- Đất là gì (1) ?
Đất trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bề mặt Trái Đất, có khả năng hỗtrợ sự sinh trưởng của thực vật và phục vụ như là môi trường sinh sống của các dạng sựsống động vật từ các vi sinh vật tới các loài động vật nhỏ
và các hoàn cảnh khác
- Đất rừng là gì?
Đất rừng là khu vực gồm các vật chất nằm trên bề mặt Trái Đất, có khả năng hỗtrợ sự sinh trưởng của quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu và phục
vụ như là môi trường sinh sống của các động vật và vi sinh vật trong rừng
Ở khía cạnh bài nghiên cứu này, chúng tôi hiểu đất rừng theo nghĩa rộng và là đấtlâm nghiệp Có thể hiểu đất lâm nghiệp (theo NĐ 163, Điều 2) là đất có rừng tự nhiên, đấtđang có rừng trồng ; đất chưa có rừng được quy hoạch được sử dụng vào mục đích lâmnghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nghiên cứu thí nghiệmlâm nghiệp
- Phân loại đất rừng (3) : Theo NĐ 163, Điều 3 Nhà nước giao đất, cho thuê đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâmnghiệp, gồm các loại đất lâm nghiệp sau:
Đất rừng đặc dụng là vùng đất lâm nghiệp quy hoạch xây dựng, phát triển rừng đểbảo tồn thiên nhiên; mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia; nguồn gen thực vật,động vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam
Trang 4thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái, bao gồm:Vườn quốc gia; Khu rừng bảo tồn thiên nhiên; Khu rừng văn hoá - lịch sử - môitrường (bảo vệ cảnh quan)
Đất rừng phòng hộ là vùng đất lâm nghiệp quy hoạch xây dựng, phát triển rừngchủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điềuhoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Đất rừng sản xuất là vùng đất lâm nghiệp quy hoạch chủ yếu để sản xuất kinhdoanh cây rừng, các loại lâm sản khác, đặc sản rừng, động vật rừng và kết hợpphòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái
- Chính sách là gì?
Có thể hiểu chính sách theo những cách khác nhau :
Chính sách là tập hợp những chủ trương và hành động về phương diện nào đó củanền kinh tế xã hội do chính phủ thực hiện, nó bao gồm mục tiêu mà chính phủ thựchiện va cách làm mục tiêu đó
Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định,dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra (4)
Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủtrong các lĩnh vực chính trị - xã hội (5)
Chính sách nông nghiệp: Là tập hợp các chủ trương và hoạt động của chính phủlàm thay đổi cho nông nghiệp phát triển bằng cách tác động vào thể chế, tổ chức, tác độngvào giá đầu vào – đầu ra, vào thị trường đầu vào – đầu ra và tác động vào nghiên cứu,phát triển
=> Chính sách quản lý đất rừng là những sách lược và kế hoạch cụ thể của nhà nước đề ranhằm quản lý, bảo vệ và sử dụng đất rừng một cách hợp lý
Trang 5Cấp “ Cơ quan chỉ đạo” “ Cơ quan thực hiện”
Các tổ chức tại địa phương (như các Hội nông dân, cựu chiến binh, phụ
nữ, người cao tuổi và Đoàn thanh niên), các nhóm hộ gia đình, các hộ giađình và cá nhân
- Thời gian áp dụng: Đối với từng chính sách khác nhau, thời gian áp dụng có thể khácnhau nhưng nhìn chung các chính sách quản lý đất rừng đều có thời gian lâu dài, thường từ 5 nămtrở lên (Đối với đất và rừng trồng được giao cho các hộ gia đình với thời hạn là 50 năm, khu vựcđất trống đồi núi trọc thì được giao với thời hạn lâu hơn.)
2.3 Nhân tố ảnh hưởng
- Nhân tố chủ quan:
Xuất phát từ những người đề ra chính sách, một chính sách đưa ra không phải lúcnào cũng đúng, sát và phù hợp với thực tế Nguyên nhân chủ yếu là do những người đề rachính sách có cái nhìn nhầm lẫn, sai lệch khi xây dựng chính sách
Xuất phát từ các đối tượng được đề cập tới trong chính sách đó chính là các nhàquản lý, những người bảo vệ, các tổ chức hay cá nhân tham gia phát triển và trồng rừng.Nếu họ thực hiện một cách nghiêm túc theo chính sách đề ra thì dĩ nhiên sẽ đem lại nhữngtác động tích cực nhưng có thể có một số khác không hiểu hay cố tình không thực hiệnhoặc thực hiện thì cũng chỉ để đối phó thì sẽ đem lại tác động tiêu cực cho chính sách
- Nhân tố khách quan:
Xuất phát từ các điều kiện bên ngoài như điều kiện thời tiết, khí hậu, thay đổi vềđất đai, thổ nhưỡng hay những thay đổi về xã hội Đây là những nhân tố bất khả kháng màchúng ta khó có thể khắc phục mà chỉ có thể đề ra các biện pháp dự phòng để hạn chế cácrủi ro gây ra bởi các nhân tố này
Trang 62.4 Tác động của chính sách
2.4.1 Tới nền kinh tế
Thông qua các chính sách hỗ trợ phát triển đất rừng, đặc biệt là cho đất rừng sảnxuất, sẽ tạo ra những tác động tích cực tới nền kinh tế bởi những chính sách này sẽ tạo cơhội cho cây lấy gỗ và các lâm sản khác có cơ hội thuận lợi phát triển: mở rộng diện tích,tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng, từ đó sẽ tạo ra nhiều hàng hóa lâm sản hơnkhông những giúp giảm bớt nhập khẩu mà còn tăng cơ hội xuất khẩu ra nước ngoài đemlại nguồn lợi to lớn về kinh tế
2.4.2 Tới nông nghiệp
Xét nông nghiệp theo nghĩa rộng thì bao gồm cả lâm nghiệp bên trong, nó cũngđóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung Do đó nếu cácchính sách quản lý đất rừng hợp lý và được thực hiện nghiêm túc thì nguồn lợi đem lạicho nông nghiệp là rất lớn
2.4.3 Tới người sản xuất
Việc thực hiện các chính sách quản lý đất rừng sẽ giúp nhiều người dân có thể tiếpcận với các đầu vào từ tài nguyên rừng tạo thuận lợi hơn trong việc tổ chức khai thác –tiến hành trồng rừng Qua đó giúp cho việc sử dụng tài nguyên rừng có quy mô, trongkhuân khổ đúng theo sự phân công do đó người sản xuất có trách nhiệm hơn
Giải quyết được tình trạng thiếu đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, giảmdiện tích rừng sử dụng không hiệu quả hoặc chưa sử dụng ở các lâm trường, ban quản lýrừng để giao cho người dân quản lý, bảo vệ, sử dụng
2.4.4 Tới an sinh xã hội
Nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong việc duy trì và bảo vệnguồn tài nguyên rừng tại nơi họ sinh sống
Tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương dựa trên cơ sở tiềm năng
và thế mạnh của địa phương đó
Nâng cao nhận thức của người dân bản địa về lợi ích của việc duy trì và bảo vệnguồn tài nguyên rừng
Trang 7Phát huy truyền thống của người dân địa phương trong việc duy trì và bảo vệ rừng
đã có trước đây
2.4.5 Tới dịch chuyển nguồn lực
Việc thực hiện các chính sách này sẽ tạo cho nhiều người dân tại các khu vực cóđất rừng có cơ hội có một cuộc sống ổn định, từ đó sẽ giảm bớt tình trạng di dân ra thànhphố kiếm sống
Trang 8Phần III: Thực tiễn chính sách quản lý đất rừng tại Việt Nam
3.1 Đặc điểm đất rừng Việt Nam
Việt Nam là nước có rừng nhiệt đới khá lớn, khoảng hơn 19 triệu ha đất rừng,nhưng diện tích rừng chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha, với trữ lượng gỗ khoảng 600 triệu m3.Hơn nữa nước ta lại nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm mưanhiều nên thích hợp với nhiều loại động thực vật phát triển
Động thực vật ở rừng Việt Nam rất phong phú về thành phần và chủng loại Thựcvật bậc cao có mạch có 12.000 loài Trong tài nguyên thực vật này, có 28 họ có trên 20loài, có họ có 40 loài như họ cà phê, cam, cánh bướm, dâu tằm,…
Tuy nhiên, diện tích rừng nước ta không ổn định, có có sự biến động khác nhauqua các thời kỳ, cụ thể được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng: Biến động diện tích rừng qua các năm từ 1945 – 2002
Năm Diện tích (triệu ha) % so với rừng tự nhiên
Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thời gian từ năm 1945 đến năm 1985, do tác động của cuộc chiến tranh và tìnhhình khai thác rừng không có kế hoạch nên diện tích rừng có chiều hướng giảm xuống,làm ảnh hưởng đến điều kiện sống của các loài động vật rừng và gây thiệt hại cho conngười Tuy nhiên thời gian về sau do khai thác có kế hoạch kết hợp với công tác trồngrừng đã làm tăng diện tích rừng từ 7,8 triệu ha vào năm 1985 lên 12 triệu ha vào năm
2002, tăng 4,2 triệu ha
Cũng theo thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn diện tích rừng tínhđến ngày 31/12/2005 của cả nước là trên 12,6 triệu ha Trong đó có 1,9 triệu ha rừng đặcdụng, 6,2 triệu ha rừng phòng hộ và 4,5 triệu ha rừng sản xuất Trong số này tỷ lệ rừng
Trang 9trồng mới đạt 1/6 tổng số diện tích có rừng Độ che phủ rừng năm 2005 đạt 37% diện tích
cả nước Trong 6 năm (1999 - 2005) diện tích rừng cả nước tăng 1,4 triệu ha
3.2 Thực tiễn áp dụng chính sách quản lý đất rừng ở VN (7)
3.2.1 Chính sách giao đất, giao rừng, cho thuê đất rừng
* Trước cải cách ruộng đất 1954
Rừng chủ yếu do các cộng đồng địa phương (thôn, bản) quản lý và sử dụng Hìnhthức quản lý này tồn tại hầu như ở khắp mọi nơi ở miền núi Việt Nam Vào thời gian đórừng chiếm một diện tích rộng lớn và giàu tài nguyên Việc quản lý rừng cộng đồng tronggiai đoạn này tỏ ra rất hiệu quả về khía cạnh sử dụng tài nguyên rừng hợp lý
kế hoạch của Nhà nước
- Các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) tham gia trồng khoảng 29% diện tích rừng trồngtập trung HTXNN trồng rừng chủ yếu để nhận tiền công lao động do Nhà nước trả làchính Chưa có quyền sở hữu rừng trồng và chưa quan tâm đến kết quả rừng mình gâytrồng nên
* Thời kỳ 1982 – 1992
- Quyết định số 184 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồngcây, gây rừng (11/1982)
- Chỉ thị số 29/CT- TƯ (12/11/1983) về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng, xây dựng rừng
và tổ chức kinh doanh theo nông lâm kết hợp
- Thông tư liên Bộ số 01/TT/LB của Bộ lâm nghiệp và tổng cục quản lý ruộng đất ngày6/02/1991 đã hướng dẫn việc giao rừng và đất trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân để sửdụng vào mục đích lâm nghiệp
- Ngày 15/9/1992 Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 32-CT về một số chủtrương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, bải bồi ven biển và mặt nước, trong đó
Trang 10ban hành chính sách hổ trợ 40% tổng vốn đầu tư dần cho các hộ gia đình vay theo nguyêntắc không lấy lãi Việc hoàn trả vốn vay bắt đầu từ lúc có sản phẩm
- Ngày 22/7/1992 Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 264/CT về chính sáchđầu tư phát triển rừng
* Thời kỳ 1993 – 2003
- Luật đất đai đã được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực từ ngày15/10/1993 Thực hiện Luật Đất đai năm 1993, ngày 15/1/1994 Chính phủ đã ban hànhNghị định số 02/CP về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổnđịnh lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Nghị định số 01/CP (01/11/1995) về giao khoán và sử dụng vào mục đích nông lâmnghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, trong các doanh nghiệp Nhà nước
- Quyết định 661/QĐ - TTg (29/7/1998) về chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng
- Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/CP (16/11/1999) về giao đất, cho thuê đất lâmnghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâmnghiệp Trong đó:
Đối tượng được Nhà nước giao đất lâm nghiệp (Điều 4):
1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, làmmuối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất đó, được ủyban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất lâm nghiệp xác nhận
2 Ban Quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
3 Doanh nghiệp Nhà nước đang sử dụng đất lâm nghiệp do Nhà nước giao trướcngày 01 tháng 01 năm 1999
4 Trạm, trại, xí nghiệp giống lâm nghiệp, trường học, trường dạy nghề;
5 Tổ chức khác thuộc các thành phần kinh tế đã được Nhà nước giao đất lâm nghiệptheo Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ trước ngày 01 tháng
01 năm 1999 được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn giao đất Khi hết thời hạn đã giaophải chuyển sang thuê đất lâm nghiệp;
6 Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng đất lâm nghiệp kết hợp vớiquốc phòng
Trang 11Đối tượng được Nhà nước cho thuê đất lâm nghiệp (Điều 5):
1 Hộ gia đình, cá nhân, kể cả hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 4 củaNghị định này, có nhu cầu và khả năng sử dụng đất lâm nghiệp để sản xuất kinh doanh;
2 Tổ chức trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế;
3 Tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng được sửa đổi, bổ sung năm 2004
- Luật Bảo vệ Môi trường được sửa đổi, bổ sung năm 2005
Trên cơ sở đó thì hiện nay ở Việt Nam tồn tại 4 hình thức quản lý rừng đó là Nhànước, tập thể, cá nhân và cộng đồng
Cụ thể:
Qua 24 năm thực hiện giao đất giao rừng (1968-1992) đã giao được tổng số trên 11triệu ha trong đó 5,8 triệu ha giao cho quốc doanh, 1,3 triệu ha giao cho hộ gia đình, 3,7triệu ha giao cho hợp tác xã nông nghiệp trên thực tế mới sử dụng 30% diện tích giao sốcòn lại vẫn không được khai thác bảo vệ vẫn còn hoang hoá
Theo số liệu tổng hợp của Cục kiểm lâm, đến cuối năm 1999 cả nước giao được8.786.572 ha đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đạt 59% tổng diện tíchquy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp, bao gồm:
Trong quy hoạch đất lâm nghiệp 3 loại rừng theo mục đích sử dụng:
+ Rừng đặc dụng 2.119.547 ha đã giao được 972.375 ha chiếm 46%
+ Rừng phòng hộ với diện tích quy hoạch 6,8 triệu ha, đã giao được 3.196.343 ha chiếm47%
+ Rừng sản xuất 9,6 triệu ha, đã giao với diện tích 4.617.872 ha chiếm 48% Trong đógiao cho 27.312 tổ chức, với diện tích 6.179.913 ha, giao 452.168 hộ gia đinh, cá nhânvới diện tích là 2.606.659 ha
Trang 12Cấp giấy quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 1.368 tổ chức, 200.168 hộ gia đình, cánhân với tổng diện tích là 1.173 ha mới chiếm 13% tổng diện tích đã giao.
Theo kết quả kiểm kê năm 2005 Quyết định số 1970/QĐ/BNN- KL ngày 6/7/2006của Bộ NN&PTNT, diện tích rừng đã được giao cho các chủ quản lý, sử dụng như sau:doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) 2.878.701 ha, ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH)1.553.285 ha, ban quản lý rừng đặc dụng (BQLRĐD) 1.625.046 ha, đơn vị liên doanh(Liên doanh) 66.630 ha, hộ gia đình (HGĐ-CN) 2.854.883 ha, tập thể 559.470 ha, đơn vị
vũ trang (ĐVVTrang) 262.493 ha, Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp 2.816.191 ha
Diện tích rừng phân theo loại chủ quản lý (tính tới ngày 31/12/2005)
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp&PTNT
3.2.2 Chính sách có liên quan đến đầu tư và tín dụng
- Chỉ thị số 202-CT (28/6/1991) về việc cho vay vốn sản xuất nông lâm ngư nghiệp đến
hộ gia đình
- Quyết định 264/HĐBT (22/7/1992) về chính sách đầu tư và phát triển rừng Quyết địnhnày giải quyết những khó khăn về vốn cho nhân dân gây trồng cây lâm nghiệp ở vùngđịnh canh định cư, nhà nước hỗ trợ cho vay vốn không tính lãi
Trang 13-Nghị định số 14/CP (2/3/1993) về chính sách cho hộ vay vốn để sản xuất nông lâm ngưnghiệp.
- Chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn số 67/1999/QĐ-TTg(1/4/1999), cụ thể là:
Nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn: Vốn của ngân hàng huy động,Vốn ngân sách nhà nước, Vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tế và nước ngoài
Nguồn vốn huy động cho phát triển nông nghiệp và nông thôn chủ yếu dựa vào cáchình thức: Huy động tiết kiệm, từng bước đã dạng hoá các vốn trung và dài hạn để bảođảm cho các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn trong từng thời kỳ
Thực tế là ở Việt Nam chương trình 327 ( do hội đồng bộ trưởng ban hành năm1992) được thực hiện trong vòng 10 năm được cấp 68 triệu USD và nguồn kinh phí nàychủ yếu lấy từ Bộ Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp và thực phẩm, Bộ Lâm nghiệp (hiện nay là
Bộ NN và PTNT) Cụ thể tại Nghệ An, chương trình 327 tiến hành từ năm 1993 đến 1999tỉnh đã được cấp nguồn kinh phí để thực hiện các dự án trồng rừng, xây dựng cơ sở hạtầng, quản lý hành chính là 114.007.360đ và nguồn vốn của địa phương là23.141.106.120đ
Chương trình 661 ( còn gọi là chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, ban hànhnăm 1998 của Thủ tướng Chính phủ) Chương trình này trước mắt sẽ thực hiện đến 2010(Tổng vốn đầu tư tại Nghệ An là 1000 tỷ đồng, trong đó vốn vay là 400tỷ đồng)
- Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân làm 3 loại rừng (điều 6): Rừngphòng hộ, Rừng đặc dụng, Rừng sản xuất
Trang 14- Quy hoạch và kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng, đất trồng rừng đã được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Chủ rừng có những quyền lợi sau đây (điều 40):
Được sử dụng rừng, đất trồng rừng ổn định, lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch củanhà nước; được chủ động trong sản xuất kinh doanh, trong quản lý, sử dụng rừngtheo quy định của pháp luật
Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng, đất trồng rừngđược giao, được thừa kế, chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư chongười khác theo quy định của pháp luật
Được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước
- Chủ rừng có những nghĩa vụ sau đây (điều 41):
Sử dụng rừng, đất trồng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyếtđịnh giao rừng, đất trồng rừng và theo quy chế quản lý, sử dụng đối với từng loạirừng Chấp hành quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ, phát triển rừng và sử dụngđất trồng rừng
Điều quan trọng của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được sửa đổi năm 2004 là đã đềcập đến rừng cộng đồng và giao rừng cho cộng đồng quản lý, đây là một chủ trươngquan trọng về xã hội hoá ngành lâm nghiệp nhằm tăng hiệu quả quản lý rừng và đấtrừng
* Luật Bảo vệ môi trường, vấn đề quản lý đất rừng bền vững rất được quan tâm
Cụ thể:
Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ các giống, loài thực vật, động vật hoang dã,bảo vệ tính đã dạng sinh học, bảo vệ rừng, biển và các hệ sinh thái - Việc khaithác rừng phải đúng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 Nhànước có kế hoạch tổ chức cho các tổ chức, cá nhân trồng rừng để phủ xanh đất trống,đồi núi trọc để mở nhanh diện tích đất rừng
Việc sử dụng, khai thác khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên phải đượcphép của cơ quan quản lý ngành hữu quan, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi