Nội dung 2.1 Cơ sở lý luậnChính sách giao đất, giao rừng là một trong những chính sách cơ bản mà Nhà nước thực hiện nhằm trao quyền sử dụng đất và rừng cho các đối tượng trong xã hội và
Trang 1Tên đề tài: “Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng
và chính sách hưởng lợi ở tỉnh Sơn La”
Trang 2I Đặt vấn đề 1.1 Tính cấp thiết
Để phát triển Lâm nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung thì đất đai là một
tư liệu sản xuất không thể thiếu Trong những năm gần đây, bằng nhiều chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước đã góp phần rất lớn vào công cuộc đổi mới nông thôn nước ta Nó đã phát huy được tác dụng như: tăng hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, ổn định tình hình kinh tế
xã hội ở nông thôn…
Bên cạnh đó, tài nguyên rừng nước ta rất đa dạng và phong phú Hằng năm rừng cung cấp nhiều loại hàng hóa phục vụ cho các ngành kinh tế như gỗ và các loại lâm đặc sản khác Ngoài những vai trò to lớn đó, rừng còn có nhiều tác dụng trong các lĩnh vực như phòng hộ, môi trường sinh thái và cảnh quan
Có thể nói, rừng có vai trò và tác dụng quan trọng không gì thay thế được trong nhiều lĩnh vực, nó luôn gắn bó với đời sống con người Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tài nguyên đất và rừng ở nước ta đã bị suy giảm nghiêm trọng Nguyên nhân chính của tình trạng này là đất và rừng không có chủ thực sự dẫn đến tình trạng khai thác sử dụng bừa bãi quá mức
Với nhận thức là ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn miền núi thì trước tiên phải ổn định tình hình đất và tài nguyên rừng Trong hoàn cảnh như vậy, một loạt các chính sách về giao đất, giao rừng đã được ban hành Theo đó, đất và rừng được giao đến tân tay người dân để sản xuất, kinh doanh theo quy định của Nhà nước và pháp luật, mỗi mảnh đất rừng đã có chủ quản lý thực sự
Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, có tổng diện tích rừng là 480.057ha, trong đó rừng tự nhiên là 439.592ha, rừng trồng 41.047ha, độ che phủ của rừng đạt khoảng 40%, có vị trí là mái nhà phòng hộ cho đồng bằng Bắc Bộ, điều chỉnh nguồn nước cho thuỷ điện Hoà Bình và là một trong những tỉnh mạnh dạn thí điểm giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng Từ khi thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, kinh tế Lâm nghiệp và nông thôn Sơn La
đã có bước chuyển mình đáng kể Có sự biến đổi to lớn từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất lâm nghiệp có sự tham gia của toàn xã hội
Trang 3Vì vậy, việc “Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở Sơn La” sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về công cuộc bảo vệ và phát triển rừng ở tỉnh Sơn La nói riêng, cả nước ta nói chung.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở Sơn La nói riêng, cả nước ta nói chung
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở Sơn La
- Đánh giá tồn tại, hạn chế và bất cập của chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở Sơn La từ đó đưa ra một số kiến nghị để đề xuất hoàn thiện chính sách
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
a, Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tiểu luận nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở tỉnh Sơn La
- Phạm vi thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu: 1999 – 2003
+ Thời gian thực hiện nghiên cứu: 10/2012
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở tỉnh Sơn La
b, Đối tượng nghiên cứu
Chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở tỉnh Sơn La
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập số liệu thứ cấp từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, Sở KH&ĐT, Cục thống kê, Sở NN & PTNT từ niên giám thống kê tỉnh Sơn La; các báo cáo dự án (trong và ngoài nước) trên địa bàn, các điều tra/ nghiên cứu đã triển khai trên địa bàn
- Phương pháp đánh giá, so sánh
Trang 4II Nội dung 2.1 Cơ sở lý luận
Chính sách giao đất, giao rừng là một trong những chính sách cơ bản mà Nhà nước thực hiện nhằm trao quyền sử dụng đất và rừng cho các đối tượng trong
xã hội và hình thành hệ thống các chủ rừng, trong đó có gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn
Chính sách hưởng lợi từ rừng là chính sách mà Nhà nước thực hiện nhằm đưa ra những lợi ích và nghĩa vụ mà người được giao, được thuê, nhận khoán rừng
và đất lâm nghiệp được hưởng
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ vai trò
to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, nơi cư trú của động vật và lưu trữ các nguồn gen quí hiếm
Bên giao rừng: Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp huyện giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Bên được giao khoán rừng: Là các tổ chức Nhà nước được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, gồm: Lâm trường quốc doanh, Nông trường quốc doanh, Ban quản lý khu rừng đặc dụng, Ban quản lý khu rừng phòng hộ, Công ty, Xí nghiệp, Trạm, Trại lâm nghiệp , đã tiến hành giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình để bảo
vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng thông qua hợp đồng khoán
Quyền hưởng lợi trên đất lâm nghiệp là những lợi ích từ rừng mà người được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp được hưởng Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình chỉ được thực hiện trong thời hạn được giao,
Trang 5được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp và được quyền thừa kế theo quy định của pháp luật.
2.1.2 Mục tiêu của chính sách
Giao đất giao rừng là một chủ trương lớn có tính chiến lược trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững dựa vào người dân, cộng đồng của chính phủ Việt Nam
Mục tiêu chung của chương trình giao đất lâm nghiệp được khái quát là (i) khuyến khích các hộ nông dân khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, thông qua đó bảo vệ và phục hồi nguồn tài nguyên rừng đang bị suy giảm và (ii) xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống và hạn chế tập quán du canh du cư và (iii) phát triển trồng rừng sản xuất tiến tới làm giàu bằng nghề rừng Do đó trong xây dựng, thực thi và giám sát, đánh giá công tác giao đất giao rừng người dân phải là trung tâm, phải xuất phát từ nhu cầu, năng lực, nguyện vọng của người dân Đồng thời giao đất lâm nghiệp sẽ từng bước góp phần nâng cao năng lực của các cộng đồng sống trong và gần rừng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, thu hút được sự tham gia có hiệu quả người dân để tiến hành xã hội hoá lâm nghiệp
Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá tổng thể tác động của chương trình giao đất giao rừng ngoài một số nghiên cứu trường hợp điển hình với những kết luận nhiều chiều Các nghiên cứu chỉ ra rằng giao đất lâm nghiệp là chính sách mang lại hiệu quả rõ rệt trên bình diện người dân đã nắm quyền kiểm soát mảnh đất được giao, đời sống người dân được cải thiện, thu nhập từ hoạt động kinh tế lâm nghiệp cao gấp 6 lần so với bình quân chung cả nước, nhận thức được nâng cao, độ che phủ rừng gia tăng và việc trồng cây lâu năm cũng được thực hiện nhiều hơn, góp phần định canh, định cư Khi đất đai đã có chủ, những hộ gia đình khá giả, nhạy bén tiếp cận thị trường và công nghệ giống cây lâm nghiệp tốt thì phát huy tốt hiệu quả của chính sách giao đất lâm nghiệp
2.1.3 Nguyên tắc giao đất giao rừng và nguyên tắc xác định quyền hưởng lợi của người dân
2.1.3.1 Nguyên tắc giao đất giao rừng
Giao đất lâm nghiệp phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và xem xét truyền thống sử dụng đất của cộng đồng bào dân tộc thiểu số:
Trang 6Để việc giao đất rừng có tính hệ thống, phục vụ cho việc phát triển ổn định lâu dài, bền vững cần căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất và xét đến truyền thống, phong tục tập quán sử dụng đất của những người đang sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng Do đó việc giao đất rừng phải thỏa mãn những điều kiện sau:
- Diện tích giao phải nằm trong khu vực quy hoạch đất rừng cấp xã
- Giao đất giao rừng cần được xem như là một bổ sung vào việc quy hoạch
sử dụng đất rừng, trong đó cần xem xét đến khu vực rừng truyền thống và đất canh tác nương rẫy hiện tại của thôn buôn để tạo thuận lợi cho việc kế thừa và phát huy những ưu điểm trong quản lý rừng theo truyền thống của người dân tộc thiểu số
- Giao đất rừng cho người dân cần cân đối quy hoạch quản lý đất rừng của các thành phần kinh tế khác như lâm trường, công ty, địa phương, … Trong đó phần lớn vùng giao được lấy từ đất các lâm trường đang quản lý, do đó cần xem xét đến quy mô quản lý thích hợp của lâm trường để cân đối giữa khả năng quản lý với lợi ích lâu dài giữa các bên trong tiến trình quản lý rừng bền vững ở từng địa phương
- Quy mô giao phải phù hợp với năng lực quản lý, lao động để bảo vệ và kinh doanh của đối tượng nhận và không vượt quá quy định hiện hành
- Vùng giao không có tranh chấp với các cá nhân, tổ chức, thôn bản và địa phương khác
- Vùng giao cần ưu tiên là nơi rừng có nguy cơ bị mất hoặc giảm chất lượng trong tương lai gần nếu không tiến hành giao cho dân để nhằm thu hút lực lượng đông đảo này tham gia bảo vệ, phát triển rừng và hưởng lợi từ rừng
Giao đất lâm nghiệp phải được tiến hành có sự tham gia của người dân, cộng đồng:
Việc giao đất lâm nghiệp là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc, do đó chỉ thiết kế từ bên ngoài mang tính chủ quan của cán bộ quản lý, kỹ thuật sẽ kém thích ứng với điều kiện của người dân, cộng đồng do đó sẽ kém hiệu quả và không bền vững Vì vậy giao đất lâm nghiệp cần tiến hành theo cách tiếp cận có sự tham gia trực tiếp của người dân, thôn bản trong suốt tiến trình từ chuẩn bị cho đến khi
tổ chức giao trên thực địa
Tiếp cận có sự tham gia nhằm đạt được các yêu cầu sau trong giao đất lâm nghiệp:
Trang 7- Người dân tự nguyện, tự giác: Giao đất lâm nghiệp cần xem xét nhu cầu và nguyện vọng của người dân, cần đạt được sự cam kết của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng
- Phát huy truyền thống quản lý của cộng đồng và kiến thức bản địa: Giao đất lâm nghiệp thu hút sự tham gia của người dân nhằm phát huy tốt các mặt tích cực của truyền thống và các kiến thức quản lý tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng dân tộc thiểu số Thông qua đó nâng cao năng lực quản lý, tổ chức của cộng đồng
- Bảo đảm tính công bằng và hợp lý trong quy mô, vị trí, phương thức giao: Đất lâm nghiệp được giao có sự thống nhất và nhất trí trong cộng đồng, không gây nên mâu thuẫn, bảo đảm tính công bằng và hợp lý về quy mô diện tích, loại rừng, trạng thái rừng, vị trí giao cho các đối tượng nhận như hộ, nhóm hộ, dòng
họ, thôn bon
- Có tính khả thi: Năng lực cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng được đánh giá, bảo đảm các đối tượng nhận có sự cam kết rõ ràng cũng như có đầy đủ khả năng tổ chức quản lý sử dụng tài nguyên rừng được giao
- Đạt hiệu quả và bền vững: Giao đất giao rừng phải có ý nghĩa trong góp phần phát triển sinh kế và bảo vệ môi trường, lưu vực nơi cộng đồng sinh sống và được ổn định lâu dài
Do đó trong thực hiện giao đất lâm nghiệp, tiếp cận có sự tham gia đóng vai trò rất quan trọng, giúp cho việc bảo đảm các yêu cầu trên, đồng thời làm cho công tác này trở thành một hoạt động có tính xã hội cao, thu hút được sự quan tâm của người dân và cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng vì sự phát triển của chính
họ và xã hội, thực hiện được chủ trương phát huy dân chủ cơ sở và chiến lược phát triển lâm nghiệp xã hội
2.1.3.2 Nguyên tắc xác định quyền hưởng lợi của người dân
- Đảm bảo lợi ích hài hoà giữa Nhà nước với người trực tiếp bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo
vệ môi trường sinh thái và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lâu dài
- Quyền hưởng lợi trên đất lâm nghiệp bao gồm: gỗ, các lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm trồng xen, tiền công tương xứng với tiền của, công sức của hộ gia đình,
cá nhân đã đầu tư vào rừng
Trang 8- Quyền hưởng lợi và nghĩa vụ chỉ được thực hiện trong thời hạn được giao, được thuê hoặc nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
2.2 Hệ thống văn bản liên quan đến chính sách
Do sự vận động của nền kinh tế và biến động tài nguyên mà ở mỗi giai đoạn, mỗi vùng miền cần có những chính sách sao cho phù hợp nhất để phát huy tối đa hiệu quả của những diện tích đất và rừng hiện có Các chủ trương, chính sách giao đất, giao rừng có thể khái quát qua những giai đoạn sau:
Giai đoạn trước năm 1983
Một nghị định nhằm cụ thể hóa chủ trương giao đất, giao rừng là nghị định 184/HĐBT ban hành ngày 06/11/1982 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng tập thể nhân dân trồng rừng
Ngày 13/12/1982, Bộ Lâm nghiệp ban hành thông tư số 46/TT/HTX cùng với chỉ thị 100 trong Nông nghiệp góp phần đẩy mạnh việc giao khoán đất rừng cho nhân dân làm cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình
Giai đoạn này Đảng và Nhà nước có nhiều văn bản quan trọng nhằm bổ sung vào công tác giao đất, giao rừng như:
Thông tư liên bộ 08/BLN ngày 25/09/1989
Nghị quyết 22/TW ngày 17/07/1989
Nghị định 22/HĐBT ngày 13/10/1990
Nghị định 22/HĐBT ngày 13/10/1990
Giai đoạn 1992 đến nay
Năm 1992, Hiến pháp mới ra đời làm cơ sở cho việc xây dựng Luật đất đai sửa đổi bổ sung ngày 14/07/1993 Luật đất đai năm 1993 nhằm đổi mới cơ chế
Trang 9quản lý đất đai nói chung và ngành nông lâm nghiệp nói riêng đồng thời phổ biến việc giao đất, giao rừng.
Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 quy định về giao đất Nông nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
Nghị định 02/CP ban hành ngày 15/01/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước
Chỉ thị số 286/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng
Quyết định 661/QĐTTg ngày 29/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình trồng mới năm triệu hecta rừng
Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 16/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất Lâm nghiệp
Nghị định số 163/TTg ngày 16/11/1999 về giao đất cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (thay thế nghị định 02/CP ngày 15/01/1994)
Thông tư liên tịch giữa Tổng cục Địa chính với bộ Tài chính số 1442/1999/TTLT- TCĐC- BTC ngày 21/9/1999 hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chỉ thị số 18/1999/CT- TTg ngày 1/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ
Thông tư liên tịch giữa Bộ NN & PTNT với Tổng cục Địa chính số 62/2000/TTLT/BNN- TCĐC ngày 6/6/2000 hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
Quyết định 178/2001/QĐTTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa
vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN- BTC của Bộ NN & PTNT và Bộ Tài chính ngày 03/09/2003 về “Hướng dẫn thực hiện quyết định 178/2001/QĐ- TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của
Trang 10hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, được nhận khoán rừng và đất Lâm nghiệp”.
Luật đất đai ngày 10/12/2003
Luật bảo vệ và phát triển năm 2004
Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về thi hành Luật đất đai
Nghị định số 23/2006/NĐ- CP ngày 03/03/2006 của Chính phủ về việc thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Quyết định số 186/2006/QĐ- TTg ngày 14/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng
2.3 Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở tỉnh Sơn La
Nghị định 163/NĐ-CP quy định giao và cho thuê đất lâm nghiệp đến các tổ chức, các hộ gia đình và cá nhân để phục vụ cho mục đích sử dụng lâu dài, được Chính phủ ban hành tháng 11/1999 Nó chính thức thay thế Nghị định 02/CP vào năm 2000 Sơn La bắt đầu thực hiện Nghị định này trên toàn tỉnh từ tháng 7/2001
Một điều đáng lưu ý ở đây là trên thực tế chính quyền tỉnh Sơn La đã tiến hành giao đất lâm nghiệp tới các hộ gia đình từ trước khi có Nghị định 163/NĐ-CP
Lý do là tại thời điểm đó, ở Sơn La, hiện tượng canh tác nương rẫy bừa bãi diễn ra khá phổ biến, đồng thời tỉnh cũng có một diện tích đất đồi trọc rất lớn Để phủ xanh phần diện tích này mà vẫn đảm bảo có đất cho dân canh tác, tỉnh Sơn La đã ra Quyết định 1483/1999/QĐ-UB ngày 28/8/1999 về xác định ranh giới cho hoạt động canh tác nương rẫy trong tỉnh Theo Quyết định này, một quả đồi sẽ được chia làm 3 phần: đỉnh, giữa, chân Người dân được phép canh tác ở phần chân đồi Phần giữa đồi được sử dụng để trồng cây ăn quả hoặc cây công nghiệp, còn phần đỉnh đồi để trồng rừng và cấm tuyệt đối không khai thác
Hiện nay, Nghị định 163/NĐ-CP đã hết hiệu lực, thay vào đó là Quyết định 178/2001/QĐTTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình,
cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Trang 112.3.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách
2.3.1.1 Tổ chức thực hiện
Căn cứ vào quyết định của Chính phủ, Tỉnh Sơn La đã xây dựng kế hoạch tuyên truyền phổ biến chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi, cụ thể:
- Ban hành các văn bản nhằm cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng, Chính sách của Nhà nước vào thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Sơn La Tuyên truyền phổ biến nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách tạo điều kiện
để người dân tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
- Tổ chức mở chuyên trang, chuyên mục thường kỳ hàng tháng, tuần để tuyên truyền phổ biến chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi trên các thông tin đại chúng của tỉnh
- Trong quá trình tham mưu giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân luôn kịp thời giải quyết, không né tránh, buông trôi, không để tình trạng đùn đẩy, dây dưa…, đã góp phần lập lại trật tự kỷ cương, góp phần gây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước;
- Tham gia kiểm tra các cấp các ngành trong việc thực hiện chính sách để bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của nông dân Tăng cường vận động hội viên nhân dân hòa giải các mô thuẫn trong nội bộ người dân và thực hiện có hiệu quả về chính sách của Đảng và Nhà nước
2.3.1.2 Tổ chức và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phổ biến
Cơ cấu tổ chức của hội đồng phối hợp công tác phổ biến chính sách
Tỉnh đã phân công một đồng chí Phó Giám đốc phụ trách công tác tuyên truyền phổ biến chính sách của ngành, đồng chí Chánh thanh tra là thường trực ban chỉ đạo tuyên truyền phổ biến chính sách
Đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến chính sách
Tỉnh Sơn La đã kiện toàn lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ quan gồm 5 đồng chí Các đồng chí là những cán bộ có trình độ đai học, có kinh nghiệm trong việc truyền tải những kiến thức về chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi
2.3.1.3 Các hoạt động cụ thể
Trang 12+ Các đơn vị trực thuộc Tỉnh Sơn La căn cứ vào chức năng nhiệm vụ điều kiện của từng đơn vị xây dựng nội dung kế hoạch tuyên truyền phổ biến chính sách chuyên ngành cho cán bộ công nhân viên chức trong đơn vị: Các phòng chức năng Tỉnh biên soạn tài liệu, nội dung tập huấn để thực hiện công tác tuyên truyền phổ biến phù hợp với từng đối tượng cần tuyên truyền ở cơ sở.
- Thường xuyên xây dựng nội dung tuyên truyền trên Báo, Đài truyền hình Sơn La, chủ đề thực hiện theo từng nội dung tuyên truyền:
+ Tình hình về chấp hành Luật đất đai đối với các cơ sở hoạt động trên địa bàn tỉnh
+ Những họat động và kết quả trong công tác quản lý đất đai đo đạc bản đồ lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Giới thiệu các Quyết định, Nghị định của Nhà nước về chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi
+ Giải đáp Pháp Luật đất đai, thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 13-Tuyên truyền trên thông tin đại chúng: Báo, Đài truyền hình.
- Thông tin về Chính sách ban hành trên các website của Tỉnh
- Tuyên truyền thông qua tủ sách Pháp luật
- Mở lớp tập huấn hướng dẫn thực hiện chính sách tại các huyện
Phối hợp và chỉ đạo thực hiện chương trình:
Thường xuyên chỉ đạo các phòng ban liên quan, các huyện, thị tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến chính sách cho cán bộ và nhân dân với nội dung:
- Tập trung tuyên truyền phổ biến chính sách những vấn đề mang tính cấp bách, thời sự theo từng chuyên đề, phù hợp với từng đối tượngtrên địa bàn, có tính chất khả thi đảm bảo thực hiện có hiệu quả mà trọng tâm là truyên truyền công tác quản lý về bảo vệ rừng: Luật Đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng
Nguồn lực cho công tác phổ biến giáo dục Pháp luật:
Căn cứ vào nguồn ngân sách cấp cho địa phương Công tác tuyên truyền đã được phối kết hợp chặt chẽ, tuyên truyền giữa các tổ chức, cộng đồng cùng thực hiện có như vậy mới có hiệu quả
2.3.2 Công tác lập kế hoạch triển khai thực hiện
2.3.2.1 Trình tự, thủ tục giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân
Bước 1: chuẩn bị
- Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách của Nhà nước về việc giao rừng và nghĩa vụ, quyền lợi của chủ rừng cho nhân dân ở địa phương mình
- Thành lập ban chỉ đạo và Hội đồng giao rừng: Uỷ ban nhân dân cấp huyện thành lập Ban chỉ đạo giao rừng và Tổ công tác giao rừng cấp huyện Uỷ ban nhân dân cấp xã thành lập Hội đồng giao rừng của xã
- Chuẩn bị kinh phí, vật tư kỹ thuật phục vụ cho việc giao rừng
Bước 2: tiếp nhận đơn và xét duyệt đơn
- Hộ gia đình, cá nhân nộp đơn xin giao rừng tại thôn hoặc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã
- Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:
Trang 14+ Hướng dẫn cho thôn họp toàn thể đại diện các hộ gia đình của thôn để xem xét và đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã phương án và điều chỉnh phương án giao rừng cho từng hộ gia đình trong phạm vi thôn.
+ Chỉ đạo Hội đồng giao rừng của xã thẩm tra về điều kiện giao rừng hộ gia đình, cá nhân có đơn đề nghị được giao rừng báo cáo Uỷ ban nhân dân xã
Kiểm tra thực địa khu rừng dự kiến giao cho hộ gia đình, cá nhân để đảm bảo các điều kiện, căn cứ giao rừng theo quy định của pháp luật; khu rừng giao không có tranh chấp
+ Xác nhận và chuyển đơn của hộ gia đình, cá nhân đến cơ quan có chức năng tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý lĩnh vực lâm nghiệp (sau đây viết tắt là cơ quan chức năng cấp huyện)
Thời gian thực hiện của Bước 2 là 15 (mười lăm) ngày làm việc kể từ sau khi Uỷ ban nhân dân xã nhận được đơn của hộ gia đình, cá nhân
Bước 3: thẩm định và hoàn thiện hồ sơ
Cơ quan chức năng cấp huyện sau khi nhận được đơn của hộ gia đình, cá nhân từ Uỷ ban nhân dân cấp xã chuyển đến có trách nhiệm:
- Kiểm tra việc xác định tại thực địa và thẩm định hồ sơ khu rừng sẽ giao cho hộ gia đình, cá nhân
- Tổ chức việc kiểm tra xác định tại thực địa phải lập thành văn bản có chữ
ký của đại diện tổ chức tư vấn về đánh giá rừng (tổ chức tư vấn chịu trách nhiệm chính trong việc đánh giá chất lượng rừng; đại diện Uỷ ban nhân dân xã và đại diện
hộ gia đình, cá nhân xin giao đất Nội dung thẩm định hồ sơ nhằm bảo đảm các quy định hiện hành của Nhà nước về giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân
- Lập tờ trình kèm theo hồ sơ, trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân
- Thời gian thực hiện bước 3 là 15 ngày làm việc
Bước 4: quyết định việc giao rừng
Uỷ ban nhân dân cấp huyện sau khi nhận được tờ trình hồ sơ giao rừng do
cơ quan chức năng cấp huyện chuyển đến, xem xét quyết định giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân (phụ lục 4) Quyết định giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, được gửi đến Uỷ ban nhân dân cấp xã, cơ quan chức năng cấp huyện và hộ gia đình, cá nhân Thời gian thực hiện bước 4 là 3 ngày làm việc
Bước 5: thực hiện quyết định giao rừng
Trang 15- Khi nhận được quyết định giao rừng của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, UBND cấp xã có trách nhiệm: tổ chức việc bàn giao rừng tại thực địa cho hộ gia đình, cá nhân có sự tham gia của các chủ rừng liền kề; việc bàn giao rừng phải lập thành biên bản bàn giao rừng có sự tham gia và ký tên của đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã, đại diện hộ gia đình, cá nhân.
- Sau khi nhận bàn giao rừng tại thực địa hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm xác định rõ ranh giới đóng mốc khu rừng được giao, được thuê với sự chứng kiến của đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã và các chủ rừng liền kề
Trong quá trình thực hiện các bước công việc nêu trên, khi hồ sơ đến cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm xem xét và bổ sung vào hồ sơ giao rừng những nội dung công việc của mỗi bước cho tới khi hoàn thành việc giao rừng; nếu
hộ gia đình, cá nhân không đủ điều kiện được giao rừng thì cơ quan nhận hồ sơ phải trả lại hồ sơ cho cơ quan gửi đến và thông báo rõ lý do về việc hộ gia đình, cá nhân không được giao rừng Thời gian thực hiện bước 4 là 3 ngày làm việc
2.3.2.2 Trình tự, thủ tục giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn
Bước 1: chuẩn bị
- Cộng đồng dân cư thôn họp thôn để thống nhất các vấn đề chủ yếu sau:+ Thông qua đơn đề nghị Nhà nước giao rừng cho cộng đồng thôn, Đơn phải nêu rõ địa điểm, diện tích, mục đích sử dụng và các thông tin liên quan khác
+ Thông qua kế hoạch quản lý khu rừng sau khi được Nhà nước giao rừng,
kế hoạch quản lý rừng do cộng đồng dân cư thôn
Bước 2: nhận hồ sơ và xét duyệt hồ sơ
- Cộng đồng dân cư thôn nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, hồ sơ gồm:+ Đơn xin giao rừng do đại diện thôn ký
+ Kế hoạch quản lý rừng do cộng đồng dân cư thôn cùng biên bản thông qua của cộng đồng thôn
- Uỷ ban nhân dân cấp xã sau khi nhận được hồ sơ của cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm:
+ Chỉ đạo Hội đồng giao rừng của xã thẩm tra về điều kiện giao rừng cho cộng đồng báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp xã
+ Kiểm tra thực địa khu rừng dự kiến giao cho cộng đồng dân cư thôn để bảo đảm các điều kiện, căn cứ giao rừng theo quy định của pháp luật
+ Xác nhận và chuyển đơn của cộng đồng dân cư thôn đến cơ quan chức năng cấp huyện
Trang 16Thời gian thực hiện bước 2 là 15 làm việc ngày kể từ sau khi nhận đơn của cộng đồng dân cư thôn.
Bước 3: thẩm định và hoàn thiện hồ sơ
Cơ quan chức năng cấp huyện sau khi nhận được hồ sơ từ Uỷ ban nhân dân cấp xã chuyển đến có trách nhiệm:
- Tổ chức việc xác định đặc điểm khu rừng sẽ giao cho cộng đồng dân cư thôn (xác định về chất lượng rừng được giao cho cộng đồng - của cơ quan tư vấn lâm nghiệp có trách nhiệm)
- Chủ trì việc thẩm định kết quả xác định đặc điểm khu rừng trên cơ sở có xác nhận của tổ chức tư vấn có trách nhiệm về đánh giá rừng (tổ chức tư vấn là người chịu trách nhiệm trách nhiệm chính trong việc đánh giá chất lượng rừng, cùng ký vào biên bản đánh giá còn có chủ rừng, có người đại diện chính quyền địa phương); sự phù hợp của việc giao rừng với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng hoặc quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch ba loại rừng; tính khả thi của kế hoạch quản lý rừng của cộng đồng dân cư thôn
- Lập tờ trình, trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn
- Thời gian thực hiện bước 3 là 10 ngày làm việc
Bước 4: quyết định việc giao rừng.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện sau khi nhận được tờ trình từ cơ quan chức năng chuyển đến có trách nhiệm xem xét và quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn (phụ lục 4); chuyển quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, Uỷ ban nhân dân cấp xã và cho cơ quan chức năng cấp huyện Thời gian thực hiện bước 4
là 3 ngày làm việc
Bước 5: thực hiện quyết định giao rừng.
- Uỷ ban nhân dân cấp xã sau khi nhận được quyết định giao rừng của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, có trách nhiệm:
+ Thông báo và đôn đốc cộng đồng dân cư thôn thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có)
+ Tổ chức bàn giao rừng ngoài thực địa có sự tham gia của cơ quan chức năng và các chủ rừng có chung ranh giới; lập biên bản bàn giao rừng giữa Uỷ ban nhân dân cấp xã với cộng đồng dân cư thôn
Trang 17- Cộng đồng dân cư thôn ngay sau khi nhận rừng tại thực địa có trách nhiệm đóng cột mốc khu rừng được giao có sự chứng kiến của đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã và chủ rừng có chung ranh giới.
Trong quá trình thực hiện các bước công việc nêu trên, khi hồ sơ đến cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm xem xét và bổ sung vào hồ sơ giao rừng những nội dung công việc của mỗi bước cho tới khi hoàn thành việc giao rừng; nếu cộng đồng dân cư thôn không đủ điều kiện được giao rừng thì cơ quan nhận hồ sơ phải trả lại hồ sơ cho cơ quan gửi đến và thông báo rõ lý do về việc cộng đồng dân
cư thôn không được giao rừng
Thời gian thực hiện bước 5 là 3 ngày làm việc
2.3.2.3 Trình tự, thủ tục giao rừng đối với tổ chức.
và Phát triển nông thôn
- Tổ chức có nhu cầu được giao rừng làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Uỷ ban nhân dân cấp huyện để được giới thiệu và thoả thuận địa điểm khu rừng đề nghị Nhà nước giao hoặc cho thuê
Bước 2: Nộp hồ sơ
Tổ chức có nhu cầu sử dụng rừng nộp hồ sơ tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hồ sơ gồm:
- Đơn xin giao rừng
- Quyết định thành lập tổ chức hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh (bản phô
tô công chứng)
- Văn bản thoả thuận địa điểm khu rừng của Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Uỷ ban nhân dân cấp huyện
- Dự án đầu tư khu rừng
Bước 3: Thẩm định và hoàn chỉnh hồ sơ
Sau khi nhận hồ sơ xin giao rừng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm: