1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HSG HÓA HỌC

23 361 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 272,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một nhiệm vụ không phải trường nào cũng có thể làm tốt vì nhiều lý do như: do môn học mới đối với bậc trung học cơ sở học sinh bắt đầu được học từ lớp 8 nên kiến thức kỹ năng củ

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ:

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Ngày nay, xã hội ngày một phát triển nên nhiệm vụ xã hội đặt ra cho giáo dục ngày càng cao hơn Ngoài nhiệm vụ nâng cao chất lượng hiểu biết kiến thức và vận dụng kỹ năng, các nhà trường còn phải chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác mũi nhọn và trọng tâm Nó

có tác dụng thiết thực và mạnh mẽ; không những hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh, tạo ra khí thế hăng say vươn lên học tập giành những đỉnh cao trong học sinh mà còn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ các thầy cô giáo Đối với nhà trường; Chất lượng học sinh giỏi khẳng định xu thế phát triển, khẳng định được chất lượng dạy của Thầy và chất lượng học của trò Bên cạnh đó chất lượng học sinh giỏi còn khẳng định thương hiệu của nhà trường và uy tín đối với các cấp quản lí, đặc biệt là đối với nhân dân địa phương Đây là một nhiệm vụ không phải trường nào cũng có thể làm tốt vì

nhiều lý do như: do môn học mới đối với bậc trung học cơ sở ( học sinh bắt

đầu được học từ lớp 8) nên kiến thức kỹ năng của học sinh còn nhiều chỗ

khuyết; nhiều giáo viên chưa có đủ các tư liệu cũng như kinh nghiệm để đảm nhiệm công việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, chế độ đãi ngộ đối với giáo viên

dạy bồi dưỡng thấp …

Trường THCS Nghĩa Trung là một trong những trường lớn của huyện Bù Đăng, nhưng đã nhiều năm (từ năm 1993 đến năm 2009) tuy đã chú trọng, đã

có nhiều giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng vẫn rất hiếm có học sinh giỏi các cấp Là học sinh cũ của trường, nay lại là giáo viên về công tác tại trường

Từ năm học 2000 – 2001 tôi được giao nhiệm vụ dạy đồng thời luôn được tạo điều kiện bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng kết quả không như mong đợi Thấy

Trang 2

được vai trò hết sức quan trọng của công tác bồi dưỡng HSG, tôi luôn trăn trở : Mình phải làm gì để góp sức lực nhỏ bé của mình vào sự nghiệp trồng người của xã nhà ??? Làm sao để nâng cao chất lượng, số lượng học sinh giỏi môn Hóa nói riêng và các môn học khác nói chung ??? Với những trăn trở về mặt kiến thức, kinh nghiệm, Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, tham khảo ý kiến Thầy, Cô, đồng nghiệp Tham mưu với tổ chuyên môn, với ban giám hiệu, tôi mạnh dạn thay đổi giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi và kết quả thật mĩ mãn

Trong đề tài này, tôi cũng mạnh dạn nêu những “ Kinh nghiệm bồi

dưỡng học sinh giỏi môn Hóa ở trường THCS Nghĩa Trung đạt hiệu quả ”

để cùng đồng nghiệp trao đổi, góp ý nhằm giúp công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Hóa nói riêng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Tìm ra các giải pháp tối ưu bồi dưỡng cho đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa của trường đạt kết quả ngày càng cao

III TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI :

Trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của các Thầy, Cô và đồng nghiệp, tôi đã xây dựng được 6 giải pháp mới, có tính đột phá, phù hợp với thực trạng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THCS Nghĩa Trung

IV ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, GIỚI HẠN, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:

Bồi dưỡng học sinh giỏi là một quá trình lâu dài, là một việc làm cần thiết đối với tất cả các khối lớp trong nhà trường THCS Tuy nhiên ở đây tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi chương trình Hóa học lớp 8, 9 bậc THCS đối với các học sinh có học lực từ khá trở lên yêu thích bộ môn và có hướng phấn đấu dự

Trang 3

thi học sinh giỏi các cấp, ở trường THCS Nghĩa Trung - Huyện Bù Đăng - Tỉnh Bình Phước, từ năm học 2009 – 2010 đến nay.

Trang 4

I THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ :

Từ năm 2000 tôi về trường công tác, tôi được giao nhiệm vụ dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa của trường Năm học 2003 – 2004 tôi có 1 học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh, nhưng ròng rã trong những năm tiếp theo tôi không có học sinh nào đạt giải các cấp, có lẽ năm 2003 – 2004 tôi may mắn có được học sinh quá giỏi chứ không phải do tôi có phương pháp bồi dưỡng đúng

Năm học 2008 – 2009 là năm đầu tiên trường THCS Nghĩa Trung tổ chức lớp 2 buổi nhằm mục đích nâng cao chất lượng, số lượng học sinh giỏi các cấp Tôi cũng rất hy vọng với kì thi học sinh giỏi năm học này tôi sẽ có học sinh giỏi các cấp nhưng kết quả thật tệ, môn Hóa cũng như các môn học khác kết quả không khác gì những năm trước đây, làm cho ban giám hiệu, phụ huynh học sinh, các em học sinh cũng như tôi rất thất vọng

Kết quả học sinh giỏi môn Hóa từ năm 2000 đến năm 2009:

- Được sự quan tâm, hỗ trợ của ban giám hiệu, tổ chuyên môn

- Sự quan tâm, hợp tác của phụ huynh học sinh

- Có nguồn học sinh giỏi từ lớp 2 buổi khá giỏi

Trang 5

2 Khó khăn :

- Môn Hóa được đưa vào chương trình muộn hơn so với các môn học khác (từ lớp 8) mà bản thân tôi chưa tạo được niềm tin cho học sinh, cũng như phụ huynh học sinh nên rất khó định hướng, lôi cuốn các em học sinh giỏi lựa chọn môn Hóa để học bồi dưỡng

- Bản thân chưa có kinh nghiệm nên thường hay nôn nóng, bỏ qua bước làm chắc cơ bản

- Chưa có giải pháp giúp học sinh tư duy logic

- Cơ sở vật chất của trường gặp nhiều khó khăn không có đủ phòng học bồi dưỡng học sinh giỏi

- Thời gian học bồi dưỡng quá ít, không rèn được kỹ năng luyện giải đề thi cho học sinh

- Thiếu sự theo dõi, kiểm tra đánh giá học sinh để có hướng điều chỉnh, giúp đỡ kịp thời

II CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI :

Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi là một hoạt động quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Thông qua hoạt động này, học sinh sẽ lĩnh hội kiến thức chuyên sâu và có điều kiện thuận lợi để phát huy tối đa năng lực của bản thân trong môn học có ưu thế Đồng thời giáo viên cũng có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, rèn kỹ năng sư phạm

Trong dạy học, thông thường nếu giáo viên giúp học sinh học giỏi một

bộ môn nào đó thì các em sẽ có hứng thú để theo đuổi và có năng lực, động cơ

để học tập tốt môn đó

Là giáo viên, ai cũng muốn mình có được những học sinh mà bản thân mình thấy tâm huyết, có được các học sinh tâm huyết giáo viên đó sẽ cố gắng

Trang 6

đào sâu chuyên môn, đầu tư về phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi và đây cũng là tiền đề quan trọng để giáo viên đó thực hiện một giờ dạy, môn dạy với các học sinh thuộc nhiều đối tượng khác đạt hiệu quả, nâng cao chất lượng bộ môn.

III BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN :

Trên cơ sở những thuận lợi và những khó khăn được xác định như trên Sau ba năm tìm tòi, nghiên cứu, thực nghiệm tôi đã rút ra được kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa ở trường THCS Nghĩa Trung đạt được hiệu quả như sau :

1/ Định hướng cho học sinh yêu thích, lựa chọn học sinh thông qua các tiết dạy trên lớp :

Để học sinh có được sự yêu thích, hứng thú lựa chọn bộ môn học bồi dưỡng không phải là một ngày hay một tháng mà đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, nhẫn nại vun đắp lý tưởng cho học sinh thông qua mỗi tiết học, mỗi giờ thực hành trong một thời gian dài

Hằng năm, bắt đầu vào năm học lớp 8, song song với việc dạy kiến thức

cơ bản tôi luôn có sự mở rộng kiến thức thực tế cho học sinh, cập nhật các thông tin thời sự có liên quan và ứng dụng của bộ môn vào thực tế cuộc sông qua mỗi tiết học, từ đó hình thành cho học sinh hứng thú học tập bộ môn

Sau đây tôi xin đưa ra một số ví dụ

Ví dụ 1 :

Ngay bài « Mở đầu » lớp 8 ta có thể đưa vào phần vai trò của môn Hóa học trong cuộc sống một số kiến thức giúp học sinh giải thích được một sô hiện tượng như :

“Ma trơi” là gì?

Trang 7

Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá trình hóa học xảy ra trong tự nhiên Thường gặp ma trơi ở các nghĩa địa vào ban đêm.

( Trong xương của động vật luôn có chứa một hàm lượng photpho Khi

cơ thể động vật chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành photphin PH3 và lẩn một ít điphotphin P2H4 Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ thường Khi đun nóng đến 150oC thì nó mới cháy được Còn điphotphin P2H4 thì tự bốc cháy trong không khí và tỏa nhiệt Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình này làm cho photphin bốc cháy Quá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia sáng của mặt trời nên ta không quan sát rõ như vào ban đêm

Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng “ thần

bí ”nào đó, tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành mạnh.)

Ví dụ 2:

Sau bài ‘‘Phân bón hóa học’’ giáo viên có thể đưa câu hỏi đặt vấn đề khi

mở bài sau đó cuối tiết giải thích cho học sinh hiểu

Tại sao sau cơn mưa giông cây cối thường tươi tốt hơn ? hoặc có thể

dùng câu ca dao:

“Lúa chim lấp ló ngoài bờ

hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên” Mang ý nghĩa hóa học gì ?

Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao Vì sao vậy ?

( Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi Khi có sấm chớp( tia lửa điện) thì:

Trang 8

2N2 + O2 → 2NO Sau đó: 2NO + O2 → 2NO2

Khí NO2 hòa tan trong nước: 4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3

Cứ ngày qua ngày như vậy hầu như cả lớp đều có sự yêu thích bộ môn và có xu hướng tìm hiểu sâu về bộ môn ngày càng nhiều Từ đó qua các tiết dạy ta có thể lựa chọn được những học sinh tâm huyết

Đây là thành công bước đầu trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

2/ Tham mưu với ban giám hiệu; phối hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm, với phụ huynh học sinh để cùng phối hợp giáo dục, tạo điều kiện cho học sinh ôn tập, rèn luyện một cách tốt nhất :

Không phải chỉ cần lôi cuốn được học sinh lựa chọn bộ môn của mình để dạy bồi dưỡng là đủ mà cần phải tuân theo kế hoạch chung của trường, cần có cái nhìn chung cho tất cả bộ môn bồi dưỡng Vì vậy cần có sự phối hợp, tham mưu với ban giám hiệu, với giáo viên chủ nhiệm, với các giáo viên dạy bồi

dưỡng khác để có được sự giáo dục, bồi dưỡng đồng bộ với tất cả các bộ

môn trong nhà trường về thời gian, về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác

dạy và học bồi dưỡng, kinh phí …

Trang 9

Một yếu tố quan trọng hỗ trợ cơng tác bồi bưỡng học sinh giỏi nữa đĩ là phụ huynh học sinh Cần làm sao cho phụ huynh hiểu rõ, biết được kế hoạch bồi dưỡng cho con, em họ ; Từ đĩ phụ huynh sẽ cĩ sự phối hợp tốt nhất về điều

kiện thời gian, kiểm tra đơn đốc, và hỗ trợ một phần kinh phí bồi dưỡng

cho giáo viên bồi dưỡng ( Nếu chỉ cĩ chế độ 20 tiết đối với ơn thi học sinh giỏi huyện, 30 tiết đối với ơn thi học sinh giỏi huyện và tỉnh thì kết quả sẽ khơng thể như mong đợi ) Việc này cần cĩ sự phối hợp với ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm

Để bồi dưỡng được một học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi các cấp không phải chỉ có một mình giáo viên bộ môn chỉ giảng dạy kiến thức không là đủ, mà cần phải có sự phối hợp một cách đồng bộ của ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm lớp, các giáo viên bộ môn và cả phu huynh học sinh.

Cĩ được sự đồn kết, thống nhất giữa ban giám hiệu, phụ huynh học sinh, tập thể giáo viên cùng sự cố gắng của học sinh thì tất yếu sẽ thành cơng

3/ Hệ thống hĩa kiến thức cơ bản cho học sinh :

Nhiều giáo viên thường hay nơn nĩng, bỏ qua bước làm chắc cơ bản, hoặc chưa cĩ giải pháp giúp học sinh tư duy logic

Kiến thức tồn bộ chương trình cấp học nếu như khơng cĩ sự hệ thống hĩa kiến thức cơ bản thì học sinh khơng tài nào nhớ hết được

Nhằm giúp học sinh nhớ nhanh, nhớ sâu giáo viên cần:

- So sánh, tổng hợp khái quát hĩa các khái niệm

Trang 10

- Đưa kiến thức ra dưới dạng công thức, sơ đồ nhằm giúp học sinh dễ

hiểu, kích thích tính tò mò tự tìm hiểu của học sinh

Ví dụ :

TÝnh chÊt ho¸ häc cña c¸c hîp chÊt v« c¬

Mèi quan hÖ gi÷a c¸c lo¹i hîp chÊt v« c¬

+ Oxit Baz¬

+ Baz¬

+ dd Muèi + KL

+ Níc + Níc

Muèi

+ dd Axit + dd Baz¬

Trang 11

Các phơng trình hoá học minh hoạ thờng gặp

+ dd Kiềm + Oxbz

+ Bazơ + Axit+ Kim loại

+ dd Kiềm

+ Axit + Oxax + dd Muối

t0

+ H 2 O

+ Axit

+ Oxi + H 2 , CO

+ Oxi

Muối + h 2 O

Oxit axit Oxit bazơ

- Khi oxit axit tác dụng với dd Kiềm thì tuỳ theo tỉ lệ số mol sẽ tạo ra muối axit hay muối trung hoà.

VD:

NaOH + CO 2 → NaHCO 3

2NaOH + CO 2 → Na 2 CO 3 + H 2 O

- Khi tác dụng với H2SO4 đặc, kim loại

sẽ thể hiện hoá trị cao nhất, không giải phóng Hidro

VD:

Cu + 2H 2 SO 4 → CuSO 4 + SO 2↑ + H 2 O

Trang 12

19 20 21

13 14 15 16 17 18 12

6 7 8 9

10 11

10 CaO + H 2 O → Ca(OH) 2

11 NaCl + 2H2O dpdd→ NaOH +

Cl 2↑ + H 2↑

Axit + baz¬

Oxit baz¬ + dd axit

Oxit axit + dd kiÒm

Kim lo¹i + dd axit Kim lo¹i + dd muèi

12 Ba(OH) 2 + H 2 SO 4 → BaSO 4↓ + 2H 2 O

13 CuO + 2HCl → CuCl 2 + H 2 O

14 SO 2 + 2NaOH → Na 2 SO 3 + H 2 O

15 CaO + CO 2 → CaCO 3

16 BaCl 2 + Na 2 SO 4 → BaSO 4↓ + 2NaCl

17 CuSO 4 + 2NaOH → Cu(OH) 2 + Na 2 SO 4

Trang 13

So sánh tính chất hoá học của nhôm và sắt

* Giống:

- Đều có các tính chất chung của kim loại.

- Đều không tác dụng với HNO 3 và H 2 SO 4 đặc nguội

- Là kim loại nhẹ, dễ dát mỏng, dẻo.

- Kim loại màu trắng xám, có ánh kim, dẫn điện nhiệt kém hơn Nhôm.

axit 2Al + 6HCl → 2AlCl 3 + 3H 2 Fe + 2HCl → FeCl 2 + H 2

Al 2 O 3 + 2NaOH → 2NaAlO 2 + H2O

- Al(OH) 3 kết tủa dạng keo, là hợp chất lỡng tính

- FeO, Fe 2 O 3 và Fe 3 O 4 đều là các oxit bazơ

- Fe(OH) 2 màu trắng xanh

- Fe(OH) 3 màu nâu đỏ

Kết luận - Nhôm là kim loại lỡng tính, có thể

tác dụng với cả dd Axit và dd Kiềm

Trong các phản ứng hoá học, Nhôm thể hiện hoá trị III

- Sắt thể hiện 2 hoá trị: II, III + Tác dụng với axit thông thờng, với phi kim yếu, với dd muối: II

+ Tác dụng với H 2 SO 4 đặc nóng, dd HNO 3 , với phi kim mạnh: III

Sản xuất C + O2 →t0 CO 2

CO 2 + C →t0 2CO 3CO + Fe 2 O 3 →t0 2Fe + 3CO 2

4CO + Fe 3 O 4 →t0 3Fe + 4CO 2

CaO + SiO 2 →t0 CaSiO 3

2Fe + O 2 →t0 2FeO FeO + C →t0 Fe + CO FeO + Mn →t0 Fe + MnO 2FeO + Si →t0 2Fe + SiO 2

Trang 14

4/ Bồi dưỡng kiến kiến thức cho học sinh theo các chuyên đề cụ thể :

Các năm học trước, khi bồi dưỡng học sinh tơi không soạn thành các chuyên đề cụ thể vì thế, khi làm bài thi các em đều cảm thấy lúng túng, quên kiến thức nên hiệu quả không cao

Để giúp học sinh tiếp thu kiến thức có hệ thống tôi đã soạn các chuyên

đề theo chương trình và kiến thức bổ trợ theo các chuyên đề riêng

Ví dụ : CHUYÊN ĐỀ : PHA TRỘN DUNG DỊCH

Trong chương trình hĩa học THCS chỉ cĩ 2 tiết liên quan đến phần này Nếu giáo viên bồi dưỡng khơng soạn thêm kiến thức bổ trợ cĩ hê thống mà chỉ cho học sinh làm bài tập để củng cố thì khi chỉ cần thay đổi một số dữ kiện đề bài thì học sinh sẽ khơng làm được, mà bài tập thì thay đổi, biến hĩa muơn hình, muơn dạng Vì vậy tơi quyết định bỏ cơng sức, dành thời gian để biên soạn chuyên đề

Trong mỗi chuyên đề tơi lại chia ra các dạng để học sinh nắm được đặc điểm, cách làm cũng như tránh một số nhầm lẫn thường gặp

Dạng 1: Bài tốn pha lỗng hay cơ dặc một dung dịch.

Dạng 2: Bài tốn hồ tan một hố chất vào nước hay vào một dung dịch cho sẵn.

Dạng 3: Bài tốn pha trộn hai hay nhiều dung dịch

Với giới hạn của đề tài này tơi chỉ xin trình bày minh họa một dạng trong chuyên đề này :

Dạng 2: Bài tốn hồ tan một hố chất vào nước hay vào một dung dịch cho sẵn.

* Đặc điểm bài tốn:

- Hố chất đem hồ tan cĩ thể là chất khí, chất lỏng hay chất rắn

- Sự hồ tan cĩ thể gây ra hay khơng gây ra phản ứng hố học giữa chất đem hồ tan với H2O hoặc chất tan trong dung dịch cho sẵn

Trang 15

+ Nếu chất tan có phản ứng hoá học với dung môi, ta phải tính nồng

độ của sản phẩm phản ứng chứ không được tính nồng độ của chất tan đó

- Bước 2: Xác định lượng chất tan(khối lượng hay số mol) có chứa trong dung dịch sau cùng

+ Lượng chất tan(sau phản ứng nếu có) gồm: sản phẩm phản ứng và các chất tác dụng còn dư

+ Lượng sản phẩm phản ứng(nếu có) tính theo PTPƯ phải dựa vào chất tác dụng hết (lượng cho đủ), tuyệt đối không được dựa vào lượng chất tác dụng cho dư (còn thừa sau phản ứng)

- Bước 3: Xác định lượng dung dịch mới (khối lượng hay thể tích)

+ Để tính thể tích dung dịch mới có 2 trường hợp (tuỳ theo đề bài)

Nếu đề không cho biết khối lượng riêng dung dịch mới(D ddm )

Khi hoà tan 1 chất khí hay 1 chất rắn vào 1 chất lỏng có thể coi:

Thể tích dung dịch mới = Thể tích chất lỏng Khi hoà tan 1 chất lỏng vào 1 chất lỏng khác, phải giả sử sự pha trộn không làm thay đổi đáng kể thể tích chất lỏng, để tính:

Thể tích dung dịch mới = Tổng thể tích các chất lỏng ban đầu

Nếu đề cho biết khối lượng riêng dung dịch mới(D ddm )

Thể tích dung dịch mới: Vddm =

ddm

ddm D m

mddm: là khối lượng dung dịch mới

Để tính khối lượng dung dịch mới

mddm = Tổng khối lượng(trước phản ứng) – khối lượng kết tủa(hoặc khí bay lên) nếu có

Bài tập áp dụng:

0,4M được dung dịch B Tính nồng độ mol/lit các chất trong dung dịch B.Đáp số: Nồng độ của NaCl là: CM = 0,4M

Nồng độ của Na2CO3 còn dư là: CM = 0,08M

dịch HCl Tính nồng độ mol/lit và nồng độ % của dung dịch thu được

Đáp số: CM = 2,5M ; C% = 8,36%

Ngày đăng: 23/01/2015, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w