Lý do chọn đề tài: Trong quá trình giảng dạy môn Toán, điều tâm đắc nhất của mỗi người giáo viên là việc rèn luyện cho học sinh cách nắm bắt và vận dụng kiến thức vào giải toán,vào thực
Trang 1BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
môn Đại số lớp 7 “.
Họ và tên tác giả: Bùi Thị Lý
Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng
1/ Lí do chọn đề tài:
Nhằm trang bị cho học sinh kiến thức về môn toán và rèn kỹ năng giải toán chohọc sinh qua tiết luyện tập là rất quan trọng, học sinh tích cực chủ động học tập tưduy sáng tạo hoàn thiện kiến thức
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 - 2011 dạy học - kiểm tra đánh giá theoChuẩn kiến thức kỹ năng, giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinhnhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
2/ Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh lớp 7 trường
THCS Bàu Năng luyện tập môn Đại số theo hướng phát huy tính tích cực của họcsinh
Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu, tham khảo tài liệu chuyên môn về những vấn đề có liên quan + Trao đổi học hỏi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp qua dự giờ, họp tổ bộmôn
+ Tìm hiểu thực trạng học sinh, thu thập, thống kê và đối chiếu số liệu
+ Tham khảo tài liệu ở các sách, báo, trên mạng Internet
3/ Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh thông qua tiết luyện tập theohướng phát huy tính tích cực của học sinh
Trang 2Học sinh được luyện tập một cách tích cực chủ động và sáng tạo thông qua tiếtluyện tập
4/ Hiệu quả áp dụng:
Giáo viên: Thực hiện đổi mới phương pháp Vận dụng được phương pháp dạy
học tích cực đạt hiệu quả Đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh
Học sinh: Tiếp thu và vận dụng kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Phát
triển các hoạt động tư duy học sinh: phân tích, quan sát, dự đoán, tổng hợp,…
5/ Phạm vi áp dụng:
- Áp dụng giải pháp đối với bộ môn Toán trường THCS Bàu Năng
- Áp dụng giải pháp đối với bộ môn Toán các đơn vị bạn
Dương Minh Châu, ngày 20 tháng 03 năm2011
Người thực hiện
Bùi Thị Lý
I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình giảng dạy môn Toán, điều tâm đắc nhất của mỗi người giáo viên
là việc rèn luyện cho học sinh cách nắm bắt và vận dụng kiến thức vào giải toán,vào thực hành, giúp học sinh phát triển trí thông minh, niềm tin vững chắc vàokhoa học, phát triển tư duy logic, rèn luyện cho học sinh tính độc lập, tự tìm tòisáng tạo giúp học sinh có lòng yêu thích bộ môn Vấn đề ở đây là làm thế nào đểhọc sinh hứng thú khi học tiết toán nói chung và say mê giải toán trong tiết luyệntập nói riêng do đó người giáo viên phải biết phát huy khả năng sáng tạo trong đổimới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh để giờ học đạtchất lượng cao
Trang 3Thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011 dạy học - kiểm tra đánh giá theo chuẩnkiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông đổi mới phương pháp dạyhọc đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinhdưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên: học sinh tự giác chủ động tìm tòi, pháthiện, giải quyết vấn đề hoàn thành nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linhhoạt, sáng tạo các kiến thức kĩ năng đã thu nhận được.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy tình trạng học sinh giải toán Đại số như sau:Đứng trước một bài toán thường không biết làm gì? không biết đi từ đâu và đi theohướng nào? Không biết liên hệ những điều nêu trong đề bài với kiến thức đã học
Do đó nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập bộmôn, giáo viên cần hướng dẫn giải bài tập ở tiết luyện tập một cách linh hoạt, sángtạo, có định hướng khoa học đạt hiệu quả, chính xác, logic thông qua việc vận dụnghợp lý các kỹ thuật dạy học tích cực
Vì muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy, cách dạy của giáo viên quyếtđịnh cách học của học sinh Tuy nhiên thói quen học tập của học sinh cũng ảnhhưởng đến cách dạy của giáo viên Mặt khác có những trường hợp học sinh muốnđược học theo phương pháp dạy học tích cực nhưng giáo viên chưa đáp ứng được
Do vậy, tôi nhận thấy cần phải tự bồi dưỡng, phải luôn tìm tòi, đúc rút kinhnghiệm, cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của họcsinh để nâng cao chất lượng học tập của học sinh, nhất là chất lượng giảng dạy môntoán
Xuất phát từ thực tế khách quan là khả năng học tiết Luyện tập môn Đại số lớp7A1 của học sinh lớp tôi chưa đồng đều, còn lúng túng và thụ động trong giải toánnên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy bộ môn Vì vậy, để giúp họcsinh lớp 7A1 có những phương pháp học tập cũng như hứng thú khi học tiết luyện
cực của học sinh qua hướng dẫn luyện tập môn Đại số lớp 7“.
2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 4Nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh lớp 7 trường THCS Bàu Năng Luyện tậpmôn Đại số theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học ở trường phổ thông và giúp học sinh phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động sáng tạo rèn luyện thói quen khả năng tự học, tinh thần hợp tác,
kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trongthực tiễn
3 Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn toán cho học sinh lớp 7A1 thông quatiết luyện tập môn Đại số theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
- Lớp nghiên cứu: Lớp 7A1
- Lớp đối chứng: Lớp 7A3
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: giúp tôi có cơ
sở lí luận để phân tích các bài tập, các dữ kiện có liên quan
Dự giờ, học hỏi trao đổi các đồng nghiệp: tìm hiểu giáo viên khác cách hướngdẫn học sinh khai thác bài toán có hiệu quả ra sao, qua đó rút kinh nghiệm cho bảnthân
Điều tra, đàm thoại, tìm hiểu thực trạng học sinh
Kiểm tra đối chiếu, so sánh, điều chỉnh bổ sung
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, so sánh kết quả giữa lớp nghiên cứu và lớp đốichứng
5 Giả thuyết khoa học:
Các giờ học môn Toán nói chung sẽ khô khan, trừu tượng khó hiểu khi mà giáoviên chưa phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, chưa cuốn hút được họcsinh vào các hoạt động tự khám phá tìm tòi phát hiện hướng giải quyết vấn đề, còn
áp đặt trong giải toán dẫn đến học sinh vận dụng kiến thức còn thụ động phụ thuộctheo cách làm của giáo viên, dễ gây tâm lý ngại học môn Toán vì thấy khó, khôngbiết tìm hướng giải hay
Trang 5Nhưng nếu giáo viên hướng dẫn cho học sinh luyện tập môn đại số theo hướngphát huy tính tích cực, làm cho học sinh được chủ động trong các hoạt động toánhọc đa dạng phong phú thì tiết luyện tập sẽ trở nên sinh động, tạo được niềm say
mê hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp các em chủ động trong tìm lời giảibài toán và biết cách vận dụng kiến thức một cách nhanh chóng, hiệu quả, sáng tạo
sinh qua hướng dẫn luyện tập môn Đại số lớp 7 ”.
Trang 6II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận:
1.1.Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 / 5 / 2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã nêu: “Phảiphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặctrưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡngcho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỉ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niền vui, hứng thú và tráchnhiệm học tập cho học sinh"
Luật giáo dục sửa đổi năm 2010 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phảiphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡngcho người học năng lực tự học, khả năng thực hành lòng say mê học tập và ý chívươn lên"
1.2.Các quan niệm khác về giáo dục:
Các quan niệm về phương pháp dạy học tính tích cực: Phương pháp dạyhọc tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động chủ động trái với không hoạt động,
thụ động Kĩ thuật dạy học tích cực là "hạt nhân" của phương pháp dạy học tích cực
hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng vàophát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào việc pháthuy tính tích cực của người dạy
Các phương pháp dạy học tích cực được thể hiện qua các đặc trưng như: dạyhọc tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực chủ động sáng tạo thông qua tổ chứcthực hiện các hoạt động học tập của học sinh, chú trọng rèn luyện phương pháp vàphát huy năng lực tự học của học sinh, phân hóa kết hợp với học tập hợp tác kết
Trang 7hợp đánh giá của thầy, của bạn và tự đánh giá, khả năng vận dụng vào thực tế đemlại niềm vui tạo hứng thú trong học tập.
Đặc trưng của môn Toán: Môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, trongmôn toán “Dạy học toán thực chất là dạy hoạt động toán học" Đối với học sinh cóthể xem giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động Toán học Trong dạy họctoán, mỗi bài tập toán học được sử dụng với những dụng ý khác nhau, có thể dùngtạo tiền đề xuất phát, để gợi động cơ, để làm việc với nội dung mới,…đều hướngtới việc thực hiện các mục đích dạy học cho nên một trong những mục tiêu đặt ra làhọc sinh phải biết vận dụng kiến thức đã học vào giải bài tập các dạng toán trongchương trình một cách linh hoạt Để học sinh có được kỹ năng giải toán thật tốtgiáo viên cần phải có phương pháp thích hợp định hướng cho các em tư duy hợp lý
để tìm ra hướng giải quyết bài tập
Tiến trình giải một bài Toán thường liên quan đến các bước sau:
+ Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
+ Bước 2: Xây dựng chương trình giải
+ Bước 3: Thực hiện chương trình giải
+ Bước 4: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải
Mục tiêu của dạy học môn toán: Mục tiêu của bộ môn toán là tính toánbước đầu hình thành khả năng vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và cácmôn học khác để hiểu biết và vận dụng toán học yêu cầu các em phải biết tính toánnhưng làm được điều này cũng không đơn giản, hiện nay giáo viên còn dạy theo lốidạy truyền thống một chiều còn áp đặt các kiến thức có sẵn trong giải toán chưaquan tâm đến đối tượng học sinh yếu mà chỉ chú trọng đến học sinh khá và năngđộng chính vì lẻ đó nên hiệu quả các tiết luyện tập chưa cao thậm chí học sinh bịcảm thấy phụ thuộc theo cách làm của giáo viên dẫn đến việc học sinh ngại họctoán Như vậy, để quá trình dạy học môn toán đạt hiệu quả cao chúng ta cần cónhững hướng đi mới những thủ pháp mới để kích thích khả năng nhận thức và hứngthú cho học sinh
2 Cơ sở thực tiễn:
Trang 82.1.Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Qua khảo sát chất lượng đầu năm và thực tế giảng dạy cũng như dự giờ cácđồng nghiệp trong nhà trường tôi nhận thấy tiết luyện tập môn Đại số 7 còn mangcảm giác hết sức nặng nề, chưa hấp dẫn được học sinh, đa số học sinh cho rằng đây
là môn học khó, trừu tượng khô khan và khó hiểu, học sinh nỗ lực học tập không vìyêu thích môn Toán học mà vì để hoàn thành nhiệm vụ học tập
Thực trạng của việc dạy học các tiết luyện tập nói chung và tiết đại số nói riêngcòn các mặt hạn chế cụ thể như sau:
Đối với học sinh:
+ Học sinh chưa tích cực suy nghĩ chủ động tham gia vào giải toán, chưa mạnhdạn trình bày và bảo vệ ý kiến quan điểm cá nhân chưa biết đánh giá và tự đánh giácác sản phẩm hoạt động của bản thân và bạn bè
+ Đa số học sinh dạng trung bình - yếu hay quên kiến thức cũ, kiến thức cơ bản,chưa có kỹ năng trong độc lập suy nghĩ, phân tích tìm tòi cách giải và trình bày bàigiải bài tập một cách logic khoa học, dẫn đến các em cho rằng bài tập khó, khônggiải được, ngại học môn toán
Đối với giáo viên:
+ Giáo viên chưa thiết kế tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động trong tiết luyệntập với các hình thức đa dạng phong phú có sức hấp dẫn và phù hợp với đặc trưngcủa từng tiết, với đặc điểm và trình độ của học sinh cụ thể trong từng lớp
+ Giáo viên chưa quan tâm đến đối tượng học sinh yếu không mạnh dạn mà chỉchú trọng đến học sinh khá và năng động
+ Chưa tạo cơ hội cho học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động và sángtạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức
Ngoài ra do điều kiện dạy học ở từng địa phương nên giáo viên chưa sử dụngtriệt để các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hợp lí
2.2 Sự cần thiết của đề tài:
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên về tình hình học sinh không biết giải toánđại số nên bản thân tôi nghiên cứu ra đề tài này để giúp học sinh lớp 7 luyện tập
Trang 9môn Đại số theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm nâng cao hơn chấtlượng giảng dạy môn Toán ở trường THCS Bàu Năng.
Cũng nhằm thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo:
“Phương pháp dạy học tích cực" Nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tựgiác chủ động sáng tạo rèn luyện thói quen và khả năng tự học vận dụng kiến thứcvào giải bài tập một cách linh hoạt
vụ của người thầy
Các phương pháp sử dụng trong tiết luyện tập nhằm nâng cao tính tích cực củahọc sinh gồm:
- Phương pháp dạy học vấn đáp đàm thoại
- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ (thảo luận nhóm, tổ chức trò chơi, thi toán nhanh)
Hoạt động của giáo viên bao gồm:
- Thiết kế tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập với hình thức đadạng phong phú có sức hấp dẫn và phù hợp với đặc điểm và trình độ của từng họcsinh
- Động viên khuyến khích tạo cơ hội cho các em tham gia tích cực chủ động vàogiải bài tập, tạo niềm vui hứng khởi thái độ tự tin trong giải toán giúp các em pháttriển tối đa năng lực tiềm năng của bản thân
- Thiết kế hướng dẫn học sinh thực hiện thực hiện các bài tập một cách logic
Trang 10- Sử dụng phương pháp và tổ chức dạy học một cách hợp lí
Hoạt động tương ứng của học sinh gồm:
- Tích cực suy nghĩ, tích cực tham gia giải bài tập để tự khám phá và rèn luyện
kĩ năng giải toán
- Tích cực vận dụng kiến thức đã học để phân tích đánh giá giải quyết các bàitập đặt ra
- Tích cực thảo luận, mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến quan điểm của mình
- Biết tự đánh giá đúng sai về bài giải của mình và của bạn
3.2 Giải quyết vấn đề đặt ra:
3.2.1 Phương pháp dạy học vấn đáp đàm thoại: (Đàm thoại khi luyện tập) Giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời qua đó học sinh tái hiện lại kiếnthức áp dụng vào bài tập Hoạt động này chủ yếu ôn các kiến thức cơ bản bài họcthông qua sửa bài tập về nhà và kiểm tra bài cũ: Cho học sinh trình bày lời giải mộtvài bài tập đã giao cho học sinh về nhà làm ở tiết trước, nhằm kiểm tra học sinhhiểu lí thuyết đến đâu? Kỹ năng vận dụng lý thuyết trong giải toán như thế nào?Học sinh thường mắc các sai lầm gì? Giáo viên cần xác định những kiến thức nàocần tái hiện cho việc luyện tập các bài tập mới
Yêu cầu: Giáo viên đưa những câu hỏi có tính chất nêu vấn đề để huy động họcsinh làm việc, không nên hỏi quá nhiều câu hỏi vụn vặt và xây dựng một hệ thốngcâu hỏi phù hợp với yêu cầu bài tập áp dụng hấp dẫn sát đối tượng, xác định đượcvai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích câu hỏi, câu hỏi ngắn gọn và có hệthống, đồng thời giáo viên phải sữa những thiếu sót khi học sinh tiến hành giải bàitập áp dụng
Biện pháp: Giáo viên nêu câu hỏi (các định nghĩa, các khái niệm cơ bản, tínhchất) phù hợp với bài tập áp dụng và từng đối tượng học sinh Học sinh trả lờinhằm củng cố và hoàn thiện kiến thức qua đó giáo viên biết được tình trạng nắmbắt kiến thức của học sinh để sữa chữa và bổ sung những kiến thức thiếu sót nhằmkhắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh
Trang 11Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị tốt kiến thức đã học và bài tập ởnhà từ đó học sinh tiếp thu tốt hơn nhằm hoàn thiện kiến thức nâng cao chất lượng
bộ môn
Ví dụ 1: Tiết 55 Luyện tập (Đơn thức và Đơn thức đồng dạng)
Giáo viên xác định những kiến thức sẽ được vận dụng vào tiết này để kết hợpgiữa ôn cũ và chuẩn bị cho luyện tập bài mới, giáo viên kết hợp giữa kiểm tra lýthuyết với bài tập áp dụng ngay lý thuyết đó, tiết này cần ôn ba đơn vị kiến thức:đơn thức đồng dạng, cộng trừ đơn thức đồng dạng, tính giá trị biểu thức
Giáo viên có thể chọn kiểm tra 3 học sinh
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Tìm cặp đơn thức đồng dạng
+ Xây dựng chương trình giải: Xét những đơn thức có cùng phần biến
+ Thực hiện chương trình giải:
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và gọi họcsinh nhận xét bài làm của bạn
phân biệt được đơn thức đồng dạng vì có phần biến giống nhau, đơn thức không đồng dạng vì có phần biến khác nhau.
* Học sinh 2: Muốn cộng, trừ các đơn thức đồng dạng ta làm như thế nào?
-1
Trang 12+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Tính giá trị của biểu thức
+ Xây dựng chương trình giải:
Bước 1: Thu gọn đa thức
Bước 2: Thay giá trị của biến vào đa thức rồi thực hiện phép tính
+ Thực hiện chương trình giải:
Gv: Nhận xét chốt lại quy tắc cộng trừ đơn thức đồng dạng
* Học sinh 3: Muốn tính giá trị biểu thức ta làm như thế nào?
-1
2x y− 4x y x y+
Giáo viên yêu cầu học sinh tính trực tiếp
+ Thực hiện chương trình giải:
Thay x = 1, y = -1 vào biểu thức (1)Ta có:
Trang 133.2.2.Phương pháp tiếp cận, phát hiện và giải quyết vấn đề: (Làm bài tậpkhi luyện tập)
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm tri thứcmới, vừa nắm được phương pháp vận dụng tri thức đó, phát triển tư duy tích cựcsáng tạo, học sinh phát hiện và tự giải quyết vấn đề thông qua quá trình gợi ý dẫndắt, nêu câu hỏi giả định của giáo viên
Yêu cầu: Về tổ chức có thể hướng dẫn học sinh hoạt động cá nhân haythảo luận, trao đổi trong nhóm theo chỉ đạo của giáo viên Khi cho học sinh tiếp cận
và phát hiện vấn đề: giải bài tập mới, giáo viên chọn bài tập theo dạng để học sinh
có sự liên quan giữa kiến thức đã biết với vấn đề cần giải quyết, học sinh dễ chủđộng tích cực trong khám phá tìm ra cách giải
Biện pháp: Giáo viên kết hợp việc xây dựng hệ thống câu hỏi, tạo tínhhuống có vấn đề, nhằm dần hình thành cho học sinh thói quen tập trung tư duy giảibài tập một cách tích cực, tạo điều kiện cho học sinh tranh luận tìm tòi phát hiệnvấn đề thông qua các tình huống có vấn đề Các tình huống có thể do logic kiếnthức của bài học tiết trước tạo nên, cần có những khuyến khích với những pháthiện cách giải mới của học sinh Giáo viên giúp học sinh làm chủ được kiến thứcmình áp dụng nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
Trang 14* Phương pháp này đòi hỏi học sinh: đọc thông tin, tái hiện kiến thức chuẩn bịtiến hành vào hoạt động giải bài tập mới.
Ví dụ 1: (Bài 19/SGK.36) Tính giá trị biểu thức 16x2y5 - 2x3y2 tại x = 0,5; y = -1
Từ bài tập ở phần kiểm tra bài cũ học sinh sẽ nhanh chóng tìm được cách giải và
có thể thực hiện được các bước giải, giáo viên biết kết hợp câu hỏi gây kích thíchhọc sinh: Qua bài tập bạn đã làm (phần KTBC) em nào có thể nêu cách giải bài tậpnày? Và cho biết kiến thức mà em áp dụng vào?
Phương pháp:
+ Xây dựng chương trình giải: Giáo viên cho học sinh trình bày theo phương phápcủa mình, diễn đạt bằng lời, bằng ngôn ngữ toán học, theo trình tự nhất định hợp lý.Điều này thể hiện tính tích cực của các em khi nhanh chóng tìm ra cách giải
+ Thực hiện chương trình giải:
GV: Nhận xét và đi đến kết luận Hình thành bài học kinh nghiệm về cách tínhgiá trị biểu thức
3.2.3 Hoạt động hợp tác nhóm nhỏ: Phương pháp này nhằm giúp học sinh
chia sẻ những băn khoăn và kinh nghiệm của bản thân cùng nhau xây dựng nhậnthức mới Bằng cách nói rõ những điều mình đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rỏtrình độ hiểu biết của mình về bài toán cùng nhau xây dựng bài giải học hỏi lẫnnhau chứ không phải là tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Trang 15Trong hoạt động nhóm tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ýquan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viêntrong tổ chức lao động tuy nhiên giáo viên cũng phải cần tránh khuynh hướng hìnhthức và đề phòng lạm dụng
Thảo luận nhóm nhỏ:
Yêu cầu: Học sinh trong nhóm thảo luận, trao đổi ý kiến, nhóm trưởnghướng dẫn, phân tích, trình bày nếu thấy cần Cử đại diện trình bày kết quả củanhóm
Biện pháp: Giáo viên đưa phần việc mà các nhóm cần giải quyết lênbảng, tất cả học sinh đều theo dõi Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm và nêuthời gian cụ thể cho hoạt động nhóm, giáo viên hướng dẫn cách làm việc của nhóm
Ví dụ 1: (Bài 35/SGK.40) Cho hai đa thức:
+ Xây dựng chương trình giải:
Bước 1: Cho hai đa thức vào trong ngoặc, viết gần nhau và đặt dấu “+” hoặc “-”giữa hai đa thức (tùy theo yêu cầu của bài)
Bước 2: Thực hiện quy tắc bỏ dấu ngoặc
Bước 3: Áp dụng tính chất giao hoán kết hợp
Bước 3: Cộng, trừ các đơn thức đồng dạng
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu trình tự các bước giải, rồi tiến hành cho học sinhthảo luận nhóm chia lớp thành 3 nhóm
Trang 16+ Thực hiện chương trình giải:
GV: Chia bảng thành 3 phần sau đó gọi đại diện nhóm lên trình bày
GV: Nhận xét qua đó hình thành kiến thức về đa thức đối
Ví dụ 2: (Bài 20/SGK.36) Viết 3 đơn thức đồng dạng với đơn thức -2x2y, rồi tínhtổng của cả 4 đơn thức đó
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Cộng trừ đơn thức đồng dạng
+ Xây dựng chương trình giải:
Bước 2: Tính tổng của cả 4 đơn thức
Giáo viên tổ chức học sinh hoạt động theo nhóm mỗi nhóm
Giáo viên gọi đại diện nhóm lên trình bày
+ Thực hiện chương trình giải :
Ta có tổng: -2x2y + 7x2y - 5x2y + 3x2y = 3x2y
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và nhậnxét
GV: Nhận xét và khen nhóm thực hiện nhanh, đúng , trình bày đẹp
Ví dụ 3: (Bài 37/SGK.41) Viết đa thức bậc 3 với 2 biến x, y và có ba hạng tửGiáo viên cho học sinh thi đua giữa các nhóm
Trang 17Nhóm nào viết được nhiều đa thức thỏa mãn yêu cầu đề bài trong 2 phút là thắngcuộc
Kết hợp linh hoạt các kỹ thuật dạy học tích cực:
Tổ chức trò chơi trong giờ luyện tập:
Để tiết học sinh động hơn, gây hứng thú đối với học sinh, nhằm thu hútnhiều đối tượng học sinh, cần thay đổi bầu không khí lớp bằng cách kết hợp kỹthuật dạy học tích cực là vận dụng tổ thức trò chơi toán học, qua đó học sinh vừađược tham gia trò chơi, cũng vừa học kiến thức
Về phần trò chơi học tập, đó là trò chơi mà luật chơi bao gồm các quy tắcgắn với những kiến thức, kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nộidung bài học của học sinh, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân
để chơi Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vàocác tình huống của trò chơi, qua đó, học sinh được luyện tập, củng cố, mở rộngnhững kiến thức, kĩ năng đã học Như vậy, trò chơi học tập giúp học sinh tiếp thukiến thức một cách tự giác và tích cực hơn trong những hoạt động đa dạng hứng thúcủa quá trình chơi, giúp học sinh rèn luyện, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩxảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ Nhờ sử dụng trò chơi học tập, mà quá trình dạy vàhọc trở thành hoạt động vui chơi và hấp dẫn như câu nói “Chơi mà học, học màchơi” “Hoạt động làm cho lớp ồn ào hơn, nhưng là sự ồn ào hiệu quả"
Trang 18Yêu cầu: Trò chơi phải có mục đích rõ ràng nhằm củng cố, luyện tậpkiến thức, kĩ năng học toán Trò chơi phải chuẩn bị tốt, nắm vững yêu cầu, mụcđích giáo dục của trò chơi để thiết kế hành động chơi phục vụ mục đích, yêu cầu
ấy Trò chơi phải gây hứng thú học tập đối với học sinh
Biện pháp:
- Giáo viên giới thiệu trò chơi, tên trò chơi
- Giáo viên hướng dẫn cách chơi, nêu rõ luật chơi (cách xử phạt khi phạm luậtchơi)
- Học sinh tham gia trò chơi
- Sau khi hoàn thành phần tham gia trò chơi học sinh nêu nhận xét kết quả
- Giáo viên nêu phần nhận xét đánh giá hoạt động chơi của học sinh và tuyêndương đội thắng cuộc Tuy nhiên giáo viên cũng nên tìm ra những ưu điểm của độithua cuộc để tuyên dương Chẳng hạn như thái độ tham gia chơi, thực hiện nghiêmtúc luật chơi, trình bày
- Giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sailầm cần tránh
Thể lệ thi: Mỗi đội cử 8 người xếp hàng lần lượt ở hai bên Mỗi đội làm một
bảng, mỗi học sinh tính một biểu thức rồi điền các chữ tương ứng vào các ô trống ởdưới Đội nào tính đúng và nhanh là thắng (Giáo viên có thể yêu cầu cả lớp tuyêndương đội thắng cuộc bằng một tràng pháo tay hoặc một phần quà do giáo viênchuẩn bị) Giáo viên có thể nhắc nhở thêm học sinh về kĩ năng tính toán cẩn thận,chính xác, không được nhầm dấu
+ Thực hiện chương trình giải:
Trang 19− 6 xy2
2 9
phút nói về những hiểu biết của mình về nhà sử học LÊ VĂN HƯU nhằm mở rộng
kiến thức và làm cho tiết học Toán thêm hấp dẫn Ngoài ra giáo viên có thể hướngdẫn học sinh tìm đọc thêm ở cuốn “Danh nhân đất Việt” tập 1 hoặc giới thiệu chohọc sinh tham khảo thêm về LÊ VĂN HƯU ở trang web trên mạng
Ví dụ 2: (Bài 6/SGK trang 28) Tìm hiểu về một nhà toán học Việt Nam Luật chơitiến hành tương tự ví dụ 6 ở trên
+ Thực hiện chương trình giải: