Lý do chọn đề tài: Do sự chuyển biến về dạy và học tích cực của giáo viên và học sinh còn chậm chuyển biến, cách tổ chức tiết dạy trên lớp không gây hứng thú cho HS rất nhiều giáo viên k
Trang 1BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI TÊN ĐỀ TÀI: Hướng dẫn đọc, thảo luận văn bản trong sách giáo khoa địa lí 8, giúp phát huy tính tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh
Họ và tên tác giả: Trần Thị Tuyết Hồng – Võ Thị Hạnh.
Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng
1 Lý do chọn đề tài:
Do sự chuyển biến về dạy và học tích cực của giáo viên và học sinh còn chậm chuyển biến, cách tổ chức tiết dạy trên lớp không gây hứng thú cho HS rất nhiều giáo viên khai thác SGK còn đơn điệu, hướng dẫn học sinh đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí quá sơ sài đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh khi học môn Địa lí;
từ đó việc dạy và học Địa lí không chỉ trở thành gánh nặng của thầy và trò mà để lại sự nhàm chán, học sinh không thích học bộ môn
Dạy và học như trên sẽ không đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, không phát huy tính tích cực trong học tập, hạn chế chất lượng học tập bộ môn
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Thời gian thực hiện từ đầu năm học 2010- 2011
- Đối tượng:
+ Đối với giáo viên tập trung vào hai vấn đề: hướng dẫn đọc, hướng dẫn đọc
và thảo luận các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 giúp phát huy tính tích cực nhằmnâng cao chất lượng học tập của học sinh
+ Đối với học sinh phải khai thác các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 như thế nào để phát huy tính tích cực học tập và nâng cao chất lượng học tập bộ môn.+ Phạm vi nghiên cứu được giáo viên tập trung vào kiến thức phần Địa lí Việt Nam lớp 8 và tác động trên lớp 8A1 của trường THCS Bàu Năng
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu lí thuyết: các văn bản, quan điểm giáo dục của Đảng; sách thamkhảo
Trang 2+ Điều tra, khảo sát: qua tiết dự giờ, chuyên đề và thăm dò lấy ý kiến từ cácgiáo viên dạy Địa lí ở đơn vị bạn và thực nghiệm trên hai lớp 8A1 ( trước và sautác động )
3 Đề tài đưa ra các giải pháp:
- Sử dụng văn bản trong SGK để dạy học là một việc làm thường xuyên, có tínhchất “ truyền thống” trong dạy học địa lí; song sử dụng như thế nào để mang lạihiệu quả cao trong học tập và phát huy được tính tích cực của học sinh?
- Tổ chức các hoạt động đọc và thảo luận văn bản như thế nào để mang lại hiệuquả cao trong học tập và phát huy được tính tích cực của học sinh?
LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, cùng với việc đổi mới về mục tiêu, chươngtrình, sách giáo khoa (SGK) Địa lí THCS theo những định hướng của cải cách giáo
Trang 3dục thì việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Địa lí cũng được chú trọng Tuynhiên cho đến nay việc đổi mới PPDH bộ môn diễn ra vẫn còn rất chậm, chưa đápứng được mục tiêu giáo dục Có thể nêu một số nét về bức tranh chung trong việcdạy học Địa lí hiện nay như sau: đa số giáo viên truyền thụ kiến thức theo kiểuthuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng về thông báo giảng giải, nhẹ về phát huy tính tíchcực và phát triển tư duy học sinh (HS), HS thụ động tiếp thu kiến thức; hình thức tổchức dạy học còn đơn điệu, dạy theo lớp là chủ yếu, nếu có hoạt động nhóm thìhầu như không hiệu quả; khai thác các phương tiện dạy học
( PTDH ) đặc biệt là sách giáo khoa ( SGK ) rất hạn chế; hay việc tạo động cơ họctập đúng đắn cho HS và thực hiện các hình thức khen thưởng động viên đối vớingười học không được quan tâm một cách thích đáng Nhìn chung, giờ Địa líchưa mang lại nhiều hứng thú cho HS tuy rằng trong nhà trường đã xuất hiện ngàycàng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viên ( GV ) giỏi, theo hướng tổ chức cho HShoạt động, tự chiếm lĩnh tri thức
Có thể nói, rất nhiều GV khai thác SGK còn đơn điệu, hướng dẫn HS sử dụngSGK quá sơ sài đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng dạy học, đồng thờihạn chế việc phát triển trí tuệ của HS khi học môn Địa lí; từ đó việc dạy và học Địa
lí trở thành gánh nặng của cả thầy và trò Cách dạy và học như trên không thể đápứng được yêu cầu của sự phát triển xã hội, đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước
Vì vậy, GV phải có giải pháp hướng dẫn HS khai thác SGK như thế nào có hiệuquả đặc biệt là khai thác các loại văn bản, đó là một trong những vấn đề quan trọng
mà GV phải thực hiện để phát huy tính tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tậpcủa HS trong bộ môn Địa lí
2 Mục đích nghiên cứu:
Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học cần chú trọng rèn luyện phương pháphọc tập phát huy năng lực tự học của học sinh để thực hiện được vấn đề trên, giáoviên không chỉ đơn thuần truyền đạt tri thức mà còn phải tìm ra các giải pháphướng dẫn HS biết đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8, giúp phát huy tínhtích cực học tập nhằm nâng cao kết quả bộ môn
3 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 4Đối với giáo viên tập trung vào hai vấn đề:
- Thứ nhất, hướng dẫn đọc các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 để phát huy tínhtích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS
- Thứ hai, hướng dẫn đọc và thảo luận các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 giúpphát huy tính tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS
Đối với học sinh phải biết khai thác các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 Như thế nào để phát huy tính chủ động nâng cao hiệu quả trong học tập
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hướng dẫn HS đọc, thảo luận các văn bảntrong sách giáo khoa phần Địa lí Việt Nam lớp 8 và tác động trên lớp 8A1, 8A4 củatrường THCS Bàu Năng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Ý tưởng về nghiên cứu đề tài này đã xuất hiện trong chúng tôi từ rất lâu.Trongmột thời gian chuẩn bị ngay vào đầu năm học 2010-201 chúng tôi đã thực nghiệm
đề tài vào dạy và học Địa lí 8 đi sâu vào phần Địa lí Việt Nam, với một số phươngpháp như sau:
a) Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sưu tầm tài liệu có liên quan, đó là các văn
bản về quan điểm giáo dục, đường lối phát triển giáo dục của Đảng, Nhà nước, cáctài liệu chuyên môn như hướng dẫn chuẩn kiến thức- kĩ năng, sách tham khảo,sách giáo khoa… là cơ sở lí luận trong quá trình nghiên cứu ( GV +PHT )
b) Phương pháp điều tra, khảo sát:
- Thông qua các tiết dự giờ các giáo viên trong đơn vị và trường bạn để tìm hiểucác giáo viên hướng dẫn học sinh đọc và thảo luận văn bản như thế nào? cácphương pháp, hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh khai thác văn bản có minhchứng cho chuẩn kiên thức – kĩ năng, có phát huy tính tích cực trong giờ học địa líkhông? Có nâng cao chất lượng bộ môn không? ( GV + PHT )
- Ngoài ra còn điều tra, khảo sát bằng các phiếu câu hỏi, lấy ý kiến trên diệnrộng ở các đơn vị bạn cụ thể các phiếu sau:
Trang 5+ Phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên Địa lí ( bài T- test ) cách sử dụng các vănbản có hiệu quả trong dạy và học Địa lí ( Mẫu số 1) ( PHT )
+ Phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên Địa lí cần hướng dẫn HS đọc và thảoluận các văn bản trong sách giáo khoa Địa lí 8 như thế nào giúp phát huy tính tíchcực nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS.( Mẫu số 2) ( PHT )
c) Trên cơ sở những quan sát, điều tra, giáo viên tiến hành phương pháp thực nghiệm trên lớp 8A1 kiểm tra đánh giá việc thực hiện, so sánh đối chiếu kết quả
chưa áp dụng giải pháp và khi đã áp dụng giải pháp.( trước tác động và sau tácđộng ) ( GV + PHT )
5 Giả thuyết khoa học:
Vấn đề hướng dẫn HS đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8 có khôngnhiều bài viết về đề tài này, được trình bày trong các tài liệu bồi dưỡng GV như:Tài kiệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III ( 2004-2007 )môn Địa lí của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Các tài liệu trên chủ yếu bàn về hướng dẫn HS đọc, thảo luận văn bản trongSGK Địa lí như thế nào nói chung mà chưa đi sâu vào tính hiệu quả Như vậy,hướng dẫn đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8 có phát huy được tính tíchcực, nâng cao chất lượng học tập của HS không?
Chúng tôi muốn có một đề tài cụ thể hơn, một kết quả thiết thực hơn thông quacác giải pháp và khẳng định rằng: hướng dẫn đọc và thảo luận văn bản trong SGKĐịa lí 8 sẽ phát huy được tính tích cực, nâng cao chất lượng học tập của HS
Trang 6II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận:
a) Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
Việc đổi mới toàn diện quá trình giáo dục, trong đó có đổi mới PPDH đã đượckhẳng định ở những văn bản của Đảng và Nhà nước, cụ thể:
- Nghị quyết TW 2 ( khóa VII ) nêu rõ: “ Đổi mới phương pháp giáo dục và đàotạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của ngườihọc Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vàotrong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu choHS…”
- Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 ( Ban hành kèm theo Quyết định số201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ ), ở mục5.2 ghi rõ: “ Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp dạy học Chuyển từ việc truyềnthụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tưduy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thunhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triểnnăng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS trong quátrình học tập…”
b) Các quan niệm khác về giáo dục:
Các loại văn bản trong sách giáo khoa Địa lí gồm có: bài đọc chính, bài đọcthêm, các hướng dẫn hoạt động hay thực hành kĩ năng Mỗi loại văn bản có vai trò
và chức năng khác nhau
Bài đọc chính, đây là loại văn bản chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong hệ thống kênhchữ trong SGK Bài đọc chính hợp với các phần phụ trợ thuộc kênh chữ ( bài đọcthêm, bảng thống kê, hệ thống câu hỏi, bài tập và thực hành ), cũng như phần hình (hình vẽ, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ ) tạo thành bài học hoàn chỉnh Bài đọc chính
có chức năng là một trong những nguồn cung cấp thông tin chính của bài học, là
Trang 7một trong những cơ sở đáng tin cậy để GV xác định mục tiêu, nội dung, phươngpháp Thông qua việc đọc, thảo luận bài đọc chính, HS không chỉ có được nhữngkiến thức cần thiết của bài học mà còn phát triển khả năng đọc hiểu, phân tích, tổnghợp, trao đổi thông tin từ kênh chữ, học cách diễn đạt thông tin bằng kênh chữ.Bài đọc thêm thường được sắp xếp ở sau bài học chính, có nhiệm vụ hổ trợ chobài học chính, làm tăng tính hấp dẫn của các bài học địa lí Trong SGK Địa lí, bàiđọc thêm có các chức năng sau: Thứ nhất, cung cấp biểu tượng, giúp HS hình thànhkhái niệm địa lí tương ứng trong bài học chính, Ví dụ bài đọc thêm trang 91 SGKĐịa lí 8: Vùng biển chủ quyền của nước Việt Nam, giúp cho việc hình thành kháiniệm về các bộ phận của biển Việt Nam, Thứ hai, bổ sung, mở rộng kiến thức chobài học chính như bài đọc thêm: Gió Tây khô nóng ở nước ta trang 113 SGK Địa lí
8, có tác dụng giúp HS hiểu thêm về hiện tượng phơn ở nước ta Thứ ba, thông quaviệc đọc các bài đọc thêm, HS không chỉ có thêm một số kiến thức cụ thể, sinhđộng về một số sự vật, hiện tượng địa lí mà còn phát triển trí tưởng tượng, lòngham hiểu biết khoa học
Các hướng dẫn hoạt động hay thực hành kĩ năng, loại văn bản này có chức nănghướng dẫn HS tiến hành các hoạt động học tập cụ thể như quan sát hình nào, làmnhững gì… trong quá trình học tập Vì vậy, loại văn bản này có vai trò lớn trongviệc định hướng cho GV về phương pháp dạy học, hướng dẫn HS cách học, trên cơ
sở đó mà hình thành, rèn luyện kĩ năng và phương pháp học tập bộ môn
2 Cơ sở thực tiễn:
a) Thực trạng của việc dạy và học Địa lí ở đơn vị và các trường khác trong huyện hiện nay:
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, thăm dò khảo sát các đơn
vị bạn, chúng tôi nhận thấy những vấn đề sau:
Trang 8- Hoạt động dạy và học chưa thật sự đổi mới vì trong giảng dạy vẫn còn một sốgiáo viên thực hiện một số tiết hoặc một số đoạn trong bài dạy còn lấy hoạt độngdạy làm trung tâm, đôi lúc giáo viên giảng học sinh nghe, giáo viên ghi bảng – họcsinh chép vào vở, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức.
- Các phương tiện dạy học chưa thật sự được xem là nội dung để khai thác kiếnthức cơ bản của bài học, mà đôi lúc giáo viên còn dùng phương tiện dạy học đểminh họa cho tiết dạy, bởi vì giáo viên thường sợ cho học sinh khai thác sẽ làm mấtthời gian không hoàn thành được bài dạy trong tiết theo thời gian Đây chính là hạnchế mà giáo viên còn mắc phải khi thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theohướng dạy học tích cực Từ hạn chế trên dẫn tới một số học sinh chưa biết đọc vàthảo luận văn bản trong SGK như thế nào để tìm ra kiến thức kĩ năng bài học
- Thường các câu hỏi GV đưa ra còn đơn giản chưa kích thích sự tư duy sángtạo của HS hay chưa tạo ra tình huống có vấn đề cho HS động não
- Bộ môn địa lí chưa có chuyên đề riêng về “hướng dẫn học sinh đọc, thảo luậnvăn bản trong sách giáo khoa” có chăng thì cũng tổ chức chuyên đề chung vớinhóm tổ bộ môn Sử - Địa –Anh
b) Sự cần thiết của giải pháp:
Việc hướng dẫn đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8 có nhiều ưu điểm:
Về HS: biết rõ yêu cầu, mục đích của bài học về chuẩn KT-KN và các thao tác
tư duy Biết dành thời gian thích đáng để tự làm việc với SGK và nhạy bén hơntrong các hoạt động Biết cách đọc và thảo luận các văn bản, làm việc hợp tác, vídụ:tìm hiểu đặc điểm khí hậu và hải văn của biển ( Bài 24, mục 1b, Địa lí 8 ), HSchuẩn bị ở nhà đọc nội dung SGK mục 1b kết hợp với các phần phụ trợ là hình24.2 và hình 24.3, đấy là cách đọc truyền thống Ngoài ra, HS còn phải biết pháthiện ra những kiến thức chưa rõ cần phải giải quyết như: Tại sao mưa trên biển lại
ít hơn trên đất liền? Thế nào là vùng nước trồi, vùng nước chìm? Các câu hỏi này
HS có thể tự giải thích hoặc trao đổi với các bạn Như thế việc đọc văn bản mới cóhiệu quả
Về giáo viên: hạn chế giải thích, thuyết trình, minh họa, hạn chế các câu hỏi vụnvặt mà sẽ tập hợp các câu hỏi thành những gơi ý hướng dẫn HS giải quyết vấn đề
Trang 9trọn vẹn, Ví dụ: để tìm hiểu về đặc điểm lãnh thổ ( Bài 23, mục 2 Địa lí 8), GV yêucầu HS đọc mục 2 SGK GV không nên đưa ra những câu hỏi như: Phần đất liềnnước ta kéo dài bao nhiêu km? Đường bờ biển có hình gì dài bao nhiêu km? vìnhững kiến thức ấy chỉ nhìn vào SGK là trả lời được Như vậy, GV phải làm thếnào? Chỉ một câu hỏi: Lãnh thổ nước ta có đặc điểm gì và hình dạng lãnh thổ cóảnh hưởng gì tới các điều kiện tự nhiên và hoạt động giao thông vận tải?, HS sẽphải phát huy các thao tác tư duy, tổng hợp và sắp xếp kiến thức một cách hoànchỉnh Bên cạnh đó còn giúp GV chọn PPDH phù hợp, phát huy được các kĩ thuậtdạy học tích cực: kĩ thuật XYZ, kĩ thuật trình bày 1 phút…đây là những kĩ thuậtday học nhất thiết phải rèn cho HS trong dạy và học Địa lí.
3 Nội dung vấn đề:
a) Hướng dẫn đọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8 ( phần Địa lí Việt Nam ) như thế nào giúp phát huy tính tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS?
Nhiều tiết dạy mẫu, tiết minh họa chuyên đề, tiết hội giảng… đều được giáoviên quan tâm trong việc chọn phương pháp và các phương tiện dạy học tích cực.Tuy nhiên các tiết dạy ấy mặt tồn tại được rút kinh nghiệm nhiều nhất là học sinhchưa tích cực hoạt động: chưa biết sử dụng SGK, đọc các văn bản nhưng khôngkhai thác được kiến thức, kĩ năng từ văn bản ấy nên hiệu quả dạy và học còn hạnchế Có bao giờ giáo viên nghĩ rằng việc HS không biết sử dung văn bản hay chỉyêu cầu HS đọc được văn bản là đủ, hoặc các hoạt động nhóm trên lớp không cầnđọc các văn bản trong SGK, các tiết dạy như thế vẫn phát huy tính độc lập, tíchcực ở học sinh và không ảnh hưởng gì đến chất lượng học tập của HS.Chưa hẳn lànhư thế
Những năm gần đây, phương pháp giảng dạy Địa lí tuy đã có một số cải tiếnnhằm phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tăng cường các hoạt động của
HS trên lớp, kể cả ở nhà.Việc chuẩn bị bài ở nhà được GV dành thời gian thíchđáng với rất nhiều câu hỏi bài tập, kĩ năng: đọc đoạn nào, chú ý nội dung gì? Trênlớp, GV chú ý phát triển tư duy trong quá trình giảng bài mới, chẳng hạn trước khithảo luận , HS phải đọc văn bản cá nhân, tự trao đổi rồi mới tiến hành nhóm, nhưng
Trang 10những việc làm đó cũng vẫn chỉ hạn chế trong phạm vi những kiến thức sẵn cótrong văn bản Tuy nhiên, quá trình HS tiếp thu thụ động đã giảm đi nhiều
Thực hiện các giải pháp để hướng dẫn HS đọc và thảo luận văn bản trong SGKĐịa lí 8 ( phần Địa lí Việt Nam ) sẽ mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy và họctập Nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên là trở thành người thiết kế các giải pháp thựchiện cho việc học tích cực của học sinh trong bối cảnh cụ thể Nhiệm vụ truyềnthống của giáo viên trước đây là chuyển giao thông tin, nay được điều chỉnh và mởrộng thành một nhiệm vụ tạo ra các điều kiện học tập và hổ trợ quá trình học tậpcủa học sinh, thông qua đó người học xây dựng mối liên hệ giữa thông tin mới vànhững kiến thức kĩ năng sẵn có Điều này có thể đạt được thông qua các phươngpháp dạy học và các hoạt động học tập khác nhau, trong đó có nhiệm vụ hướng dẫnđọc và thảo luận văn bản trong SGK Địa lí 8
Hiện nay, những hạn chế trong đọc vả thảo luận các văn bản trong SGK Địa lílà:
- Học sinh chưa được trang bị đầy đủ những kĩ năng cần thiết để tự mình biếtkhai thác các nguồn tri thức từ các loại văn bản trong SGK Địa lí
- Học sinh khai thác sách giáo khoa còn nặng về luợng kiến thức có sẵn
- Phương tiện, các trang thiết bị phục vụ dạy, học còn hạn chế
- Một số giáo viên còn quen cách dạy truyền thống, tự mình làm nốt công việccủa HS đó là chủ động truyền đạt kiến thức…
Vấn đề đặt ra:
Trong điều kiện hiện nay, với những hạn chế trên để hướng dẫn đọc và thảoluận văn bản trong SGK Địa lí 8 (phần Địa lí kinh tế việt Nam) có hiệu quả, pháthuy tính tích cực và nâng cao chất lượng bộ môn cần tập trung vào:
- Sử dụng văn bản trong SGK để dạy học là một việc làm thường xuyên, cótính chất “truyền thống” trong dạy học Địa lí; song sử dụng như thế nào để manglại hiệu quả cao trong học tập và phát huy được tính tích cực của HS?
- Tổ chức các hoạt động đọc và thảo luận văn bản như thế nào để mang lạihiệu quả cao trong học tập giúp phát huy được tính tích cực nhằm nâng cao chấtlượng học tập của học sinh?
Trang 11- Chuyên môn lên kế hoạch thực hiện chuyên đề ngay từ đầu năm học.chỉ đạo
tổ chuyên môn mở chuyên đề về “hướng dẫn học sinh đọc, thảo luận văn bản trongsách giáo khoa môn địa lí”
b) Giải quyết vấn đề đặt ra:
Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi đã có những kinh nghiệm trong việc hướngdẫn cho HS đọc và thảo luận văn bản:
* Hướng dẫn sử dụng các loại văn bản trong SGK Địa lí 8 ( phần Địa lí Việt Nam)
- Đọc tên bài và lướt xem có những mục gì
- Tìm hiểu cho rõ nghĩa những từ hoặc thuật ngữ khó, những câu chưa hiểu,nếu cần thì tra cứu bằng thuật ngữ ở phần phụ lục ( nếu có ) hoặc nhờ sự giúp đỡcủa GV Ví dụ bài 25: “Lich sử phát triển của tự nhiên Việt nam”, trước khi thảoluận nhóm ở mục 1, cá nhân đọc mục 1 và phải hiểu được thuật ngữ “ Nền cổ” đểcủng cố thêm các nền móng sơ khai hình thành lãnh thổ nước ta; bài 24 “ Vùngbuển Việt Nam” nếu nói về đặc điểm hải văn của biển, ngoài khái niệm về dòngbiển, chế độ triều thì vùng nước trồi, nước chìm là gì? HS phải hiểu được kháiniệm của hai hiện tượng trên Như thế mới nói lên được tính đa dạng của hải vănbiển Việt Nam, HS có thể nhờ đến sự giúp đỡ của GV
- Xác định vị trí các đối tượng địa lí tương ứng trên bản đồ trong SGK, gắnchúng với những đối tượng địa lí đã biết để nhớ vị trí của chúng trên bản đồ Bài26:”Đặc điểm tài nguyên khoáng sản Việt Nam” đề biết Việt Nam là nước giàu tàinguyên khoáng sản, HS đọc mục 1 Câu hỏi cuối mục “ Em hãy tìm trên hình 26.1một số mỏ khoáng sản lớn nêu trên”, không chỉ đọc đoạn văn bản đó mà phải đưađoạn đó vào bản đồ, tức là đọc đến đâu xác định đến đấy rèn được kĩ năng đọc bản
Trang 12đồ, để dễ nhớ các em gắn liền với một địa danh như than ( Quảng Ninh ), dầu khí( thềm lục địa phía nam ).
- Khi gặp những số liệu trong bài thì cần hình dung ra và nắm được ý nghĩabằng cách đối chiếu, so sánh với những số liệu về cùng loại đối tượng mà chínhmình biết Khi nói về diện tích của Biển Đông là 3.447.000km2 HS phải phân biệtvới diện tích của biển Việt Nam khoảng 1 triệu km2, để biết rằng Biển Đông khôngphải là biển của riêng Việt Nam.( bài 24:” Vùng biển Việt Nam”)
- Nếu bài có kênh hình ( lược đồ, tranh ảnh, biểu đồ…) thì cần quan sát, phântích thêm kênh hình để hiểu rõ và lĩnh hội sâu sắc các ý được trình bày trong bàihọc.Để khai thác khu vực đồng bằng ( bài 29, mục 2 ) nhiệm vụ HS phải đọc mục 2mới nắm được đặc điểm tiêu biểu của hai đồng bằng châu thổ Tiếp sau HS phải sosánh địa hình hai đồng bằng trên dựa vào hình 29.2 và 29.3 nhận thấy chúng giống
và khác nhau như thế nào? Như thế thì hiểu đầy đủ các đặc điểm của hai đồngbằng sông Hồng và sông Cửu Long
- Gặp câu hỏi xen giữa bài, cần dừng lại suy nghĩ, tìm câu trả lới hoặc làm theogợi ý để hiểu được thấu đáo và nắm được nội dung kiến thức mới
- Ghi lại những ý chính, những khái niệm, kiến thức cơ bản của một đoạn hoặc
- Hướng dẫn HS sử dụng bài đọc thêm:
Bài đọc thêm trong SGK Địa lí 8 ( phần Địa lí Việt Nam ) không phải bài nàocũng có Bài đọc thêm có tính chất hổ trợ cho bài đọc chính, nên không đòi hỏi HSphải mất nhiều thời gian vào việc nghiên cứu bài đọc thêm, tuy nhiên cũng không
vì thế mà bỏ hẳn bài đọc thêm
Trang 13- Nếu bài đọc thêm có vai trò cung cấp biểu tượng giúp cho việc hình thành kháiniệm địa lí tương ứng trong bài đọc chính thì nên tổ chức cho HS đọc và thảo luậncùng với bài đọc chính ở trên lớp, bài đọc thêm “ Gió Tây khô nóng ở nước ta” củabài 31” Đặc điểm khí hậu Việt Nam”, nói đến tính thất thường của khí hậu ViệtNam GV phải cho HS đọc bài đọc thêm để hiểu sâu sắc hơn đặc điểm của khí hậuViệt Nam Không sử dụng bài đọc thêm này vẫn không ảnh hưởng đến kiến thức,nhưng HS sẽ mơ hồ về gió Tây khô nóng như thế nào mà gây nên tính thất thườngcủa khí hậu nước ta.
- Trong trường hợp bài đọc thêm nhằm bổ sung, mở rộng kiến thức trong bàiđọc chính, GV có thể cho HS đọc qua một lượt trên lớp hoặc cho HS về nhà đọc vàquan trọng là phải ghi những điểm quan trọng vào vở hay sổ tay địa lí Khi tìm hiểu
sự đa dạng về hệ sinh thái ( mục 3, bài 37 “ Đặc điểm sinh vật Việt Nam” ), nói vềcác khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia GV cho HS đọc bài đọc thêm “ CúcPhương, vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam” ở trên lớp để thấy sự đa dang sinhhọc nơi đây về nhà ghi nội dung quan trọng bổ sung bài học trên lớp Sau bài 43 “Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ” bài đọc thêm “ Kì thú vườn quốc gia Yok Đôn”
sẽ giới thiệu rõ hơn vể đặc đểm hệ sinh thái tự nhiên độc đáo ở đậy
* Hướng dẫn HS sử dụng các văn bản hướng dẫn hoạt động và thực hành:
Các văn bản này có nhiệm vụ hướng dẫn HS tiến hành các hoạt động học tập, có
ý nghĩa trong phát huy tính tư duy độc lập ở HS Việc hướng dẫn HS sử dụng vănbản trên được tiến hành trước khi HS thực hiện các hoạt động học tập, thực hànhvới kênh chữ, kênh hình Khi hướng dẫn HS sử dung các văn bản hướng dẫn hoạtđộng và thực hành, GV phải cần đặc biệt chú trọng tới việc yêu cầu HS đọc và hiểuđúng các yêu cầu, chỉ dẫn của văn bàn; chẳng hạn, đọc đoạn nào, quan sát cái gì,tiến hành những hoạt động nào vv…GV cũng nên yêu cầu HS thảo luận ( khi cần )
để nêu bật được những ý chính của văn bản khi HS tỏ ra chưa hiểu rõ văn bản Bởichỉ trên cơ sở nắm vững các yêu cầu, các chỉ dẫn thì HS mới có thực hiện đúng cáccông việc học tập, thực hành mà văn bản yêu cầu Như mục 1, bài 33 “ Đặc điểmsông ngòi Việt Nam” đoạn văn bản thực hành như sau : Dựa vào bảng 33.1 và chobiết mùa lũ trên các lưu vực sông có trùng nhau không và giải thích vì sao có sự
Trang 14khác biệt đó?, HS có thể tự làm việc cá nhân vừa xác định thời gian lũ vừa giảithích tại sao lũ xuất hiện vào thời gian trên ở từng lưu vực Như vậy sẽ mất nhiềuthời gian hoạt động, kiến thức HS thu thập nhiều hơn GV nên tổ chức thảo luận ởđoạn này để HS nêu suy nghĩ của mình trước tập thể, hình thành kĩ năng hợp táctrong hoạt động học tập, đồng thời khắc phục được những khó khăn trên.
* Tổ chức các hoạt động đọc và thảo luận văn bản:
Trong dạy học địa lí, việc tổ chức cho HS đọc và thảo luận các văn bản thườngđược tổ chức theo các hình thức sau đây:
a Đọc cá nhân:
Hình thức này được sử dụng trong trường hợp HS chuẩn bị cho việc thảo luậnnhóm/lớp, hoàn thành các nhiệm vụ học tập ở trên lớp hoặc giúp cho việc củng cố,
mở rộng kiến thức, làm báo cáo về một vấn đề trong quá trình tự học ở nhà
Hình thức đọc cá nhân có vai trò quan trọng trong việc hình thành, rèn luyện cho
HS các kĩ năng đọc, hiểu, tìm và ghi một cách khoa học các nội dung chính của vănbản, ý thức tự giác, tính kiên trì trong học tập Tuy nhiên, nếu không kết hợp vớihình thức học tập khác thì việc đọc văn bản cá nhân sẽ bị một số hạn chế sau: HShiểu không rõ hoặc hiểu sai nội dung văn bản, những HS không có ý thức tự giác
có thể bỏ qua, không đọc văn bản, từ đó hạn chế đến kết quả học tập.Để có thể giúp
HS đạt kết quả cao và biết cách làm việc với các văn bản theo hình thức đọc cánhân, GV cần đặc biệt chú trọng tới việc hướng dẫn để HS nắm được yêu cầu,trình tự các bước tiến hành đọc và sử dụng các loại văn bản nói chung
Quy trình đọc, sử dụng một văn bản nói chung là:
- Nắm được mục đích việc làm: đọc bài, đoạn nào, để làm gì? Ví dụ: Đọc mục1trang 110 ( Bài 31 “ Đặc điểm khi hậu Việt Nam” ) tìm các biểu hiện của tính chấtnhiệt đới gió mùa ẩm của khí hậu nước ta
- Đọc và gạch chân/ đánh dấu những từ hoặc ý chính phục vụ mục đích đã đề ratrong việc đọc văn bản Ví dụ, biểu hiện của tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của khíhậu Việt Nam, trong đoạn văn bản của mục 1 nếu HS chỉ đọc lướt qua và ghi nhớthì thay vào đó là hoạt động ghi nhớ khác có hiệu quả hơn vừa đọc vừa đánh dấuhay gạch chân những ý chính Cụ thể gach chân các ý sau:
Trang 15+ Quanh năm chan hòa ánh nắng, cung cấp một nguồn nhiệt năng to lớn, bìnhquân 1m2 lãnh thổ nhận trên 1 triệu kilo calo, số giờ nắng từ 1400-3000 giờ trongmột năm.
+ Nhiệt độ trung bình năm vượt đến 210 C và tăng dần từ bắc vào nam
+ Khí hậu chia hai mùa, phù hợp với hai mùa gió: gió mùa đông bắc và giómùa tây nam
+ Lượng mưa lớn ( 1500-2000mm/năm ), độ ẩm rất cao trên 80%
- Đối chiếu với hình vẽ, bản đồ, số liệu để hiểu rõ hơn các nội dung của văn bản,
Ví dụ: Quan sát bảng 31.1 sẽ làm rõ hơn những tháng có nhiệt độ cao nhất và thấpnhất, biên độ chênh lệch; những tháng nào có nhiệt độ không khí giảm dần từ nam
ra bắc và giải thích tại sao?; lượng mưa phân bố ra sao và tập trung vào nhữngtháng nào?
- Ghi các ý chính ( dàn ý ) của văn bản Ví dụ: ghi các biểu hiện tính chất nhiệtđới gió mùa ẩm của khí hậu nước ta, có ba biểu hiện:
+ Chế độ nhiệt: ( các biểu hiện của tính chất nhiệt đới )
+ Chế độ gió: ( các biểu hiện của tính chất gió mùa )
+ Chế độ mưa: ( các biểu hiện của tính chất mưa ẩm )
- Trình bày các hiểu biết của bản thân về nội dung văn bản Đây là mục đích mà
GV muốn hình thành cho HS, các em có thể tự mình trình bày một vấn đề trước lớpthay cho phần khởi động vào bài mới, GV có nhiệm vụ giúp HS kiểm chứng lạinhững ý kiến của HS trên lớp
b Đọc và thảo luận văn bản theo nhóm/lớp:
Ngoài việc đọc cá nhân, việc tìm kiếm kiến thức từ văn bản còn được tồ chứctheo hình thưc đọc và thảo luận theo nhóm hoặc theo lớp Thông qua hình thức đọc
và thảo luận này, HS hiểu và nắm vững hơn các nội dung học tập, các yêu cầu hoặchướng dẫn thực hành trong văn bản, đồng thời phát triển được kĩ năng trình bàythông tin, khả năng phối hợp hay chia sẻ các hoạt động, tính tự tin trong học tập vàcuốc sống, nói khác đi là hình thành kĩ năng sống thông qua môn Địa lí Tuy nhiên,nếu việc tổ chức đọc và thảo luận văn bản không tốt sẽ không phát huy được tínhtích cực của tất cả HS trong nhóm/lớp hoặc HS chỉ đọc lại các nội dung của văn
Trang 16bản mà không có sự suy nghĩ, tìm hiểu bản chất của nội dung học tập có trong vănbản Đây là một vấn đề mà bản thân đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm từ các tiếtdạy của các đồng nghiệp, Phần lớn hoạt động nhóm GV theo trình tự sau:
+ GV nêu vấn đề cần thảo luận ( một, hai, ba, cả bốn vấn đề )
+ Phân công nhóm: một nhóm thảo luận một nội dung hay hai nhóm một nộidung
+ HS thảo luận công viếc của nhóm mình Sau đó báo cáo kết quả, GV chuẩn kiếnthức
Từ hoạt động trên có những hạn chế như sau:
+ GV không chú ý đến số lượng của nhóm có hợp lí không ( tối đa 10HS/nhóm)
+ Chưa có biện pháp để thu hút hoạt động của tất cả nhóm và không yêu cầu
HS đọc nhiệm vụ của nhóm mình, đó là cơ sở để nhóm lựa chọn đoạn văn bản nào.+ HS trước khi thảo luận không phải đọc cá nhân
+ kết quả các nhóm thường không bám sát nội dung yêu cầu, nên GV là ngườichủ động trong việc chuẩn kiến thức
Để khắc phục tình trạng này, GV cần đưa ra các câu hỏi, bài tập yêu cầu cả các
HS trong nhóm/lớp cùng chuẩn bị dựa trên cơ sở đọc văn bản sau đó mới tiến hànhthảo luận Kết thúc quá trình thảo luận nhóm/ lớp cần có những kết luận cần thiết
về nội dung học tập thông qua đọc và thảo luận văn bản Những kết luận này có thể
là đề cương cùa bản báo cáo, những ý chính của bài hoặc đoạn văn bản, các sơ đồ,biểu bảng, tranh vẽ… thể hiện nội dung học tập có trong văn bản tùy theo yêu cầu,nhiệm vụ được giao khi đọc và thảo luận văn bản
Khi hướng dẫn HS đọc và thảo luận văn bản cần đi theo quy trình sau:
+ GV định hướng cho HS ý thúc được công việc sắp phải làm
+ GV giao nhiệm vụ cho các cá nhân hoặc nhóm bằng các câu hỏi, bài tập.+ GV hướng dẫn cách làm và sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực phù hợpvới nội dung vấn đề
+ HS tự làm việc đọc, thảo luận văn bản theo nhóm/lớp
+ HS trình bày kết quả chung cả lớp ( nếu trước đó có thảo luận nhóm )
Trang 17+ GV hoặc HS chốt những ý chính cần nắm vững từ văn bản.
* Ví dụ 1: Bài 25 “ Lịch sử phát triển của tự nhiên Việt Nam”, GV tổ chức hoạt
động nhóm cho toàn bài
Bước 1: GV khởi động bằng cách gọi một HS trình bày những hiểu biết của
mình về bài học hôm nay
Bước 2: GV phân công nhóm có 6 nhóm, nhiệm vụ của từng nhóm:
- Nhóm 1,2: Tìm hiểu giai đoạn Tiền Cambri ( đọc mục 1 )
- Nhóm 3,4: Tìm hiểu giai đoạn Cổ kiến tạo ( đọc mục 2 )
- Nhóm 5,6: Tìm hiểu giao đoạn Tân kiến tạo ( đọc mục 3 )
Bước 3: GVgợi ý cho các nhóm
- Đọc cá nhân đoạn văn bản và thảo luận theo gợi ý: Thời gian từng giaiđoạn, đặc điểm chính từng giai đoạn, ảnh hưởng của từng giai đoạn tới địahình, khoáng sản, sinh vật
- Các nhóm phải lập ra được sơ đồ về lịch sử phát triển của tự nhiên Việt nam( Kĩ thuật lược đồ tư duy )
Bước 4: HS tự đọc và thảo luận nhóm
- Nhóm 1,2 lập sơ đồ như sau:
Giai đoạn Tiền Cambri
Đặc điểm chính
- Tạo lập nền móng sơ khai của lãnh thổ.
- Đại bộ phận nước ta còn
là biển.
Thời gian
Cách đây 542 triệu năm
Ảnh hưởng tới địa hình, khoáng sản, sinh vật
- Các mảng nền cổ tạo thành các điểm tựa cho sự phát triển lãnh thổ sau này như Việt Bắc, sông Mã, Kon Tum.
- ………
Trang 18- Tương tự với nhóm 3,4 và 5,6 cũng lập sơ đồ hai giai đoạn còn lại.
Bước 5: Từng nhóm báo cáo nhiệm vụ của mình.
GV hình thành sơ dồ trên bảng với một ô viết tên chủ đề ở trung tâm, từngnhóm lên hoàn thành sơ đồ bằng bài làm của nhóm mình, Kết quả sơ dồ như sau:
Sơ đồ lịch sử phát triển của tự nhiên Việt Nam
* Ví dụ 2: Bài 24 “ Vùng biển Việt Nam”, GV tổ chức hoạt động nhóm ở mục 1b
với kĩ thuật lược đồ tư duy như sau:
GV có thể đặt câu hỏi: Tính chất nhiệt đới gió mùa của biển Việt Nam biểu hiệnnhư thế nào?, giáo viên giao việc cho nhóm hoạt động Tuy nhiên trong quá trìnhdạy, giáo viên có thể cho học sinh liên hệ với tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm củakhí hậu nước ta mà hình thành nội dung bằng sơ đồ qua hệ thống câu hỏi của giáoviên:
Lịch sử phát triển của tự nhiên Việt Nam
Giai đoạn Cổ Kiến tạo Giai đoạn Tân Kiến tạo Giai đoạn Tiền Cambri
Ảnh
gian
Đặc điểm chính
Ảnh hưởng
Trang 19+ Tính chất nhiệt đới gió mùa của biển Việt Nam thể hiện qua các yếu tố nào?+ Phân tích chế độ gió trên biển Đông Dẫn chứng.
+ Chế độ nhiệt của biển biểu hiện ra sao? Dẫn chứng
+ Chế độ mưa của biển như thế nào? Cụ thể số liệu
+ So sánh khí hậu của biển và trên đất liền và rút ra kết luận
Với từng câu hỏi giáo viên hướng dẫn học sinh lập sơ đồ đến hết nội dung
Sơ đồ thể hiện tính chất nhiệt đới gió mùa của biển Việt Nam
* Ví dụ 3: Cũng ví dụ 2 để khai thác đặc điểm khí hậu của biển ( mục 1b, bài 24),
GV có thể hoạt động cả lớp, kết hợp với các kĩ thuật dạy học: thuyết trình tích cực,viết tích cực và trình bày 1 phút Phương pháp này tổng hợp nhiều kĩ năng nghe,viết, nói; HS phải tự giác, suy nghĩ, tự tin mới hoàn thành bài báo cáo trước lớp Cụthể:
Bước 1: Thuyết trình tích cực, GV nêu câu hỏi và lưu ý HS tìm câu trả lời trong
khi lắng nghe thuyết trình ( đọc mục 1b SGK ), câu hỏi khí hậu của Biển Đông nóichung và biển Việt Nam nói riêng có những đặc điểm gì?
Bước 2: Viết tích cực, GV yêu cầu HS dựa vào đoạn văn bản trên và hoàn thành
theo mẫu sau:
ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU CỦA BIỂN VIỆT NAM
Tính chất nhiệt đới gió mùa của biển
………
………
Trang 20Yếu tố Đặc điểm
- Chế độ gió:
- Chế độ nhiệt:
- Chế độ mưa:
………
………
………
………
………
………
Bước 3: Trình bày 1 phút, GV chỉ định một vài HS trình bày 1 phút những nội
dung mình đã làm trước lớp
c Tổ chức các trò chơi dựa vào nội dung văn bản:
Dựa vào nội dung văn bản ( bài đọc chính, bài đọc thêm ) GV có thể tổ chức cho
HS chơi các trò chơi như sắm vai, thi kể chuyện, đố vui… Thông qua các trò chơi,
HS hiểu nội dung văn bản, nắm vững kiến thức, kĩ năng, phát triển trí thông minh,
óc sáng tạo Các trò chơi còn giúp cho việc học tập bớt căng thẳng, tạo cho HS những cảm xúc tốt đẹp và niềm vui trong học tập
* Ví dụ 1: Bài 26 “ Đặc điểm tài nguyên khoáng sản Việt Nam”, mục 3 của bài
là kiến thức nâng cao và đây cũng là địa chỉ tích hợp giáo dục môi trường, tiết kiệm năng lượng hiệu quả GV có thể tổ chức trò chơi cho nội dung này Trò chơi “ Tôi ở đâu”
- Mục tiêu: Qua trò chơi này, học sinh hiểu rõ thêm loại hình của các loại tài nguyên có trong môi trường tự nhiên
- Hoạt động:
+ Mỗi học sinh có1 mảnh giấy trắng và tự ghi lên đó tên một loại tài nguyên ( ví dụ : dầu mỏ, than, sắt, năng lượng thuỷ triều, sức gió…)
+ Chọn 3 học sinh đứng vào 3 góc lớp Mỗi em mang một bảng giấy ghi rõ “ Tài nguyên vô tận”, “ Tài nguyên tái sinh”, “ Tài nguyên cạn kiệt”
+ Nhóm ( khoảng 10 HS) đứng thành vòng tròn khép kín, chuyển nhanh liên tục mảnh giấy của mình cho người bên cạnh, theo chiều kim đồng hồ
Trang 21+ Giáo viên phát hiệu lệnh “ngừng chuyển” Mỗi học sinh nhìn vào nội dungmảnh giấy mình đang cầm trên tay và ngay lập tức chạy đến một trong ba vị tríthích hợp ở góc lớp, chỗ có em mang mảnh giấy “ Tài nguyên vô tận”, “ Tàinguyên tái sinh”, “ Tài nguyên cạn kiệt” Ví dụ : em cầm mảnh giấy có ghi “ dầumỏ” thì chạy về phía góc có mang bảng hiệu “ Tài nguyên cạn kiệt”.
+ Em học sinh đứng ở góc kiểm tra nội dung các mảnh giấy bằng cách đọc tolên cho mọi người cùng nghe và xác nhận, giáo viên làm trọng tài Ai đứng khôngđúng vị trí thì mời ra ngoài
+ Học sinh về chỗ và cùng nhau thảo luận với câu hỏi:
1) Em hiểu như thế nào là “ Tài nguyên vô tận”, “ Tài nguyên tái sinh”, “ Tàinguyên cạn kiệt”?
2) Tại sao tài nguyên lại bị cạn kiệt? Con người cần phải có cách sử dụng tàinguyên như thế nào trong tình hình cạn kiệt tài nguyên nhanh chóng như hiệnnay?
3) Tại sao phải đặt vấn đề khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quảnguồn tài nguyên này?
* Ví dụ 2: Khai thác đoạn văn bản thực hành ở mục 1, bài 32 “ Các mùa khí hậu
và thời tiết ở nước ta”, HS làm theo hướng dẫn SGK Để HS tự giác hơn trong việctìm kiến thức và tự tin trước quyết định của mình, GV có thể tổ chức trò nhỏ khôngchiếm quá nhiều thời gian tiết học trên lớp, trò chơi: Đóng vai
Bước 1: GV mời 3 HS lên bảng, mỗi HS đòng vai người dân ở 1 thành phố ( Hà
Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh ) đại diện cho ba miền khí hậu khác nhau
Bước 2: Mỗi HS sẽ tự trình bày một vài đặc điểm nổi bật về khí hậu của thành