Trong đó, cá là đối tượng nuôi phổ biến, dễ thích nghi với điều kiện nuôi, có vai trò quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn, cung cấp thực phẩm hàng ngày cho người dân, cung
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng em, xuất phát từ quá trình làm việc nghiên túc dưới sự hướng dẫn tận tình của Th.s Đỗ Thị Thanh Huyền Các kết quả, số liệu được nêu trong bài là trung thực tin cậy căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương thực tập, không sao chép copy ở bất kỳ bản nào
Tác giả khóa luận tốt nghiệp
Sinh viênNguyễn Thị Huyền
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu cũng như để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của nhiều cá nhân
và tập thể Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
Các thầy cô trong Khoa Kinh tế & PTNT và các thầy cô giáo trong trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Cán bộ UBND xã Thuần Lộc, UBND tỉnh Thanh Hóa và bà con nuôi
cá trên địa bàn xã đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực tập ở địa phương
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất tới cô giáo ThS Đỗ Thị Thanh Huyền đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho
em trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực tập của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2014
Sinh viênNguyễn Thị Huyền
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nuôi trồng thủy sản là ngành đã có từ lâu đời, trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp và đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong đó, cá là đối tượng nuôi phổ biến, dễ thích nghi với điều kiện nuôi, có vai trò quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn, cung cấp thực phẩm hàng ngày cho người dân, cung cấp nguyên liệu cho các nghành công nghiệp chế biến, cung cấp mặt hàng cá thịt có giá trị kinh tế cao cho xuất khẩu, có khả năng thu về ngoại tệ lớn, góp phần tăng tích lũy vốn, tạo việc làm cho người lao động, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong những năm qua, phát triển nghề nuôi cá đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, tăng cường huy động được các nguồn lực cần thiết
để phát huy lợi thế về thủy sản, vươn lên là nghề sản xuất hàng hoá mũi nhọn,
có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, có cơ cấu sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu, tiếp tục giữ vững kim ngạch xuất khẩu cao và có tỷ trọng GDP đáng kể trong các ngành nuôi trồng thủy sản trong các năm tới
Là một xã đồng bằng, có sông Trà Giang chảy qua, xã Thuần Lộc là cầu nối giao thương quan trọng của 4 xã thuộc 2 huyện lớn Hoằng Hóa – Hậu Lộc của tỉnh Thanh Hóa, nghề nuôi cá được biết đến từ lâu và phát triển mạnh
đi đôi với nền nông nghiệp lúa nước, với tổng diện tích mặt nước chiếm 1/3 diện tích đất sản xuất nông nghiệp, hệ thống sông ngòi, ao hồ thuận lợi cho phát triển nuôi cá của hơn 300 hộ nuôi, lực lượng lao động trẻ dồi dào Nuôi
cá đã và đang đem lại nguồn thu nhập ổn định, giảm sức ép về vấn đề việc làm, đời sống người dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã
Bên cạnh đó Nghề nuôi cá của các hộ nông dân xã Thuần Lộc vẫn còn gặp không ít những bất cập và phải đối mặt với hàng loạt thách thức như
Trang 4công tác quy hoạch chưa theo kịp với tốc độ phát triển, đầu tư còn dàn trải, cơ sở
hạ tầng còn yếu kém, hàm lượng khoa học công nghệ còn thấp, nguồn lợi thuỷ sản đang có xu hướng giảm, sự phát triển còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, không theo kịp quy hoạch dẫn đến môi trường một số hộ có dấu hiệu suy thoái, dịch bệnh phát sinh và có sự mất cân đối giữa cung và cầu Qua quá trình nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng nuôi cá thịt của các hộ nông dân xã Thuần Lộc,
huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa”, tôi rút ra một số kết luận như sau:
1 Hầu hết tình hình nuôi cá thịt của các hộ nông dân tại xã Thuần Lộc phát triển tự phát, các hộ nông dân tận dụng đất sản xuất nông nghiệp để nuôi
cá nên hiệu quả và kinh nghiệm nuôi vẫn còn lạc hậu và kinh tế đạt hiệu quả chưa cao Các hộ chưa tận dụng hết tiềm năng về mặt nước, diện tích ao cá của các hộ tương đối rộng, nhỏ nhất là 3 sào và lớn nhất là 6,5 với bình quân
1 lần thu hoạch mỗi hộ chỉ khoảng 363kg cá thịt, doanh thu từ cá thịt bình quân năm của mỗi hộ chỉ khoảng 30 triệu đồng
Phương thức sản xuất truyền thống, các hộ nuôi cá theo hình thức quảng canh cải tiến và bán thâm canh, các hộ áp dụng nhiều kiểu ghép nuôi phong phú với các đối tượng cá nuôi truyền thống như: mè, trôi, chim, chép, trắm, rô phi đơn tính…, các hộ tiến hành thả vụ cá giống mới khoảng tháng 2 – 3, nuôi khoảng 5 – 6 tháng tiến hành đánh tỉa những đối thượng cá từ 0,5 –
1 kg trở lên và thả bù thêm cá giống mới, vốn đầu tư hạn chế và việc áp dụng công nghệ vào chăn nuôi ít, công tác chăm sóc chưa thực sự được quan tâm
hợp với điều kiện thời tiết khắc nghiệt dẫn đến trong những năm gần đây, hiện tượng cá bị bệnh chết hàng loạt xảy ra ngày càng nhiều, làm giảm thu nhập và gây ra nhiều thách thức cho các hộ nông dân
Qua quá trình điều tra, tìm hiểu tình hình nuôi cá thịt của các hộ nông dân xã Thuần Lộc kết hợp với một số hiểu biết của bản thân về tính toán và
Trang 5cao, bà con nên đầu tư cải thiện ao nuôi cá và ưu tiên nuôi với các loại cá rô phi đơn tính, trắm cỏ, mè trắng, trôi trắng đem lại doanh thu cao, phù hợp với thị trường địa phương, việc áp dụng kiểu ghép nuôi đối với ao nuôi cá trắm cỏ làm chủ đạo: trắm cỏ (55%) – mè trắng (20%) – rô phi đơn tính (15%) – trôi trắng (10%) đạt doanh thu cao khoảng 5 triệu đồng mỗi kg cá giống nuôi, tăng cường thêm nguồn thức ăn công nghiệp là hướng đi bền vững cho sự phát triển nghề nuôi cá thịt của các hộ nuôi cá thịt trên địa bàn xã Thuần Lộc.
2 Quá trình nuôi cá của các hộ nông dân xã Thuần Lộc chịu nhiều yếu
tố ảnh hưởng, qua quá trình điều tra và phỏng vấn các hộ nuôi cá, tôi tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng theo 2 khía cạnh:
Yếu tố khách quan: nguồn nước, thị trường tiêu thụ, giống cá nuôi, điều kiện khí hậu thời tiết và bệnh cá
Yếu tố chủ quan: ý thức trình độ và kinh nghiệm người nuôi, vốn, thức ăn, cơ sở vật chất, hình thức nuôi và chăm sóc
3 Dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cá của các hộ điều tra, tôi đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá trên địa bàn toàn xã Thuần Lộc, đó là:
Giải pháp về nguồn vốn: Cấp chính quyền nên đứng ra hỗ trợ quyền lợi cho các hộ nuôi cá
Giải pháp về thị trường đầu ra: Liên kết chặt chẽ giữa chính quyền địa phương – các hộ nuôi cá thịt – cá nhân và tổ chức thu gom sản phẩm cá thịt
Giải pháp về yếu tố tự nhiên: Các hộ nên chủ động quản lý ao cá, các giải pháp chống nóng, chống rét…
Giải pháp về nguồn lực đầu vào: Con giống, thức ăn, khoa học công nghệ.Ngoài ra còn một số giải pháp khác liên quan: bệnh cá, hình thức nuôi
và chăm sóc
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH x
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Một số vấn đề cơ sở lý luận 5
2.1.1.2Phân loại hộ nông dân 5
2.1.1.3Vai trò của kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển 6
2.1.2.1Vài nét về nghề nuôi cá thịt 7
2.1.2.4Tính ưu việt của nghề nuôi cá so với chăn nuôi gia súc, gia cầm 10
2.1.2.5Vai trò của cá đối với đời sống con người 10
2.1.3.1Các phương thức nuôi cá lấy thịt điển hình 11
2.1.4.1Đối tượng nuôi 14
2.2Cơ sở thực tiễn 15
2.2.1.2 Sản lượng cá thịt nuôi giữa các khu vực trên thế giới 16
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1.1Vị trí địa lý 29
3.1.1.2Đặc điểm địa hình 30
3.1.2.4Tình hình an ninh, trật tự xã hội, giáo dục và y tế 36
Trang 73.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 37
PHẦN IV:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1Thực trạng nuôi cá thịt của các hộ điều tra xã Thuần Lộc 40
4.1.1 Thông tin chung của các hộ điều tra xã Thuần Lộc 40
4.1.1.1Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 40
4.1.2.2Chi phí mua cá giống của các hộ điều tra 53
4.1.2.3Doanh thu cá thịt đối với các giống cá nuôi 54
4.1.3.1Một số kiểu ghép nuôi của các hộ điều tra 56
4.2.1Yếu tố khách quan 65
4.3.1Giải pháp về nguồn vốn 70
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KUYẾN NGHỊ 74
5.1 Kết luận 74
5.2 Kuyến nghị 75
5.2.1 Đối với xã 75
5.2.2 Đối với các hộ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ trọng sản lượng nuôi trồng thủy sản của các khu vực trên thế giới trong năm 2012 (%) Error: Reference source not found Bảng 2.2: Diện tích nuôi và sản lượng cá nuôi cả nước .Error: Reference source not found
Bảng 2.3: Tình hình nuôi và thu hoạch cá thịt của một số tỉnh phía Bắc năm 2013 Error: Reference source not found Bảng 2.4: Tình hình nuôi và thu hoạch cá thịt khu vực phía Nam năm 2013 Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Diện tích, sản lượng và năng suất cá thịt của một số huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa năm 2013 Error: Reference source not found Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất của xã năm 2011-2013 Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã giai đoạn 2011-2013 Error: Reference source not found
Bảng 4.1: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra Error: Reference source not found Bảng 4.2: Thông tin chung về chủ hộ Error: Reference source not found Bảng 4.3: Tình hình vay vốn của các hộ điều tra năm 2013 .Error: Reference source not found
Bảng 4.4: Tình hình trang bị tư liệu phục vụ sản xuất cá của các hộ Error: Reference source not found
Bảng 4.5: Chi phí đầu tư cho hoạt động nuôi cá thịt trung bình mỗi hộ Error: Reference source not found
Bảng 4.6: Các giống cá được sử dụng nuôi của các hộ điều tra Error: Reference
Trang 9Bảng 4.1: Chi phí mua cá giống bình quân mỗi hộ 54 Bảng 4.8: Doanh thu cá thịt bình quân 1 lần thu hoạch của mỗi hộ đối với các giống
cá nuôi Error: Reference source not found Bảng 4.2: Một số kiểu ghép nuôi phổ biến áp dụng từ đầu vụ của các hộ điều tra………57 Bảng 4.10: Chi phí mua cá giống bình quân mỗi hộ theo kiểu ghép nuôi Error: Reference source not found
Bảng 4.11: Doanh thu cá thịt bình quân mỗi hộ theo kiểu ghép nuôi Error: Reference source not found
Bảng 4.12: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cá thịt của các hộ điều tra Error: Reference source not found
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Biểu đồ 1: Sản lượng cá nuôi trên thế giới giai đoạn 2005-2013 và dự báo đến năm 2020………… Error: Reference source not found Biểu đồ 2: Nhu cầu thực phẩm cá trên thế giới Error: Reference source not found Biểu đồ 3: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã Thuần Lộc năm 2013 Error: Reference source not found
Biểu đồ 4: Diện tích và số năm kinh nghiệm nuôi cá của các hộ điều tra Error: Reference source not found
Biểu đồ 5: Cơ cấu các giống cá được các hộ sử dụng nuôi Error: Reference source not found
Sơ đồ 1: Kênh tiêu thụ sản phẩm cá thịt của các hộ điều tra Error: Reference source not found
Hình 1: Một góc ao cá của các hộ nông dân nuôi cá xã Thuần Lộc .Error: Reference source not found
Hình 2: Thu lượm thức ăn cho cá Error: Reference source not found Hình 3: Thu hoạch cá thịt của hộ nông dân Nguyễn Văn Hiếu Error: Reference source not found
Hình 4:Quá trình tiêu thụ cá thịt của các hộ nông dân xã Thuần LộcError: Reference source not found
Trang 11PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi trồng thủy sản là một trong những ngành đã có từ lâu đời, những năm gần đây ngành nuôi trồng thủy sản đã góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế đất nước, mở ra hướng làm ăn đầy triển vọng, góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn Nuôi trồng thủy sản đã trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Đối tượng nuôi trồng thủy sản phong phú và hình thức nuôi đa dạng, trong đó cá là đối tượng nuôi phổ biến, dễ thích nghi với điều kiện nuôi, có vai trò quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn, cung cấp thực phẩm hàng ngày cho người dân, cung cấp nguyên liệu cho các nghành công nghiệp chế biến, cung cấp mặt hàng cá thịt có giá trị kinh tế cao cho xuất khẩu, có khả năng thu về ngoại tệ lớn, góp phần tăng tích lũy vốn, tạo việc làm cho người lao động, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, phát triển nuôi cá đã trở thành nhu cầu bức thiết của cả nước nói chung và các địa phương nói riêng nhằm tăng thu nhập trên một diện tích đất canh tác, cải thiện cuộc sống và làm giàu cho nhân dân
Trong những năm qua, phát triển nghề nuôi cá đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, tăng cường huy động được các nguồn lực cần thiết
để phát huy lợi thế về thủy sản, vươn lên là nghề sản xuất hàng hoá mũi nhọn,
có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, có cơ cấu sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu, tiếp tục giữ vững kim ngạch xuất khẩu cao và có tỷ trọng GDP đáng kể trong các ngành nuôi trồng thủy sản trong các năm tới Phát triển nghề nuôi cá nhanh và bền vững trên cơ sở khai thác, sử dụng tốt mọi
Trang 12tiềm năng về đất đai, mặt nước và lao động, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ sản xuất gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái.
Nghề nuôi cá vẫn còn gặp không ít những bất cập và phải đối mặt với hàng loạt thách thức như công tác quy hoạch chưa theo kịp với tốc độ phát triển, đầu tư còn dàn trải, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, hàm lượng khoa học công nghệ còn thấp, nguồn lợi thuỷ sản đang có xu hướng giảm, sự phát triển còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, không theo kịp quy hoạch dẫn đến môi trường một số nơi có dấu hiệu suy thoái, dịch bệnh phát sinh và có sự mất cân đối giữa cung và cầu Do đó, để khắc phục những tồn tại nêu trên, đáp ứng được những biến đổi về khí hậu, các yêu cầu của hội nhập kinh tế toàn cầu, sự suy thoái môi trường, sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường về chất lượng
và vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như theo kịp sự tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại thì rất cần một chiến lược phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển nghề nuôi cá một cách bền vững, góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đáp ứng thị trường trong nước và phục
vụ xuất khẩu Phát triển bền vững cần có sự kết hợp hài hoà của ba mặt như tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Đặc biệt sự phát triển bền vững không chỉ thoả mãn nhu cầu hiện tại của con người mà còn phải đảm bảo một cơ sở tài nguyên phong phú, bảo tồn các giống loài quý hiếm, một môi trường trong sạch không ô nhiễm, một xã hội tiến bộ cho người dân trong tương lai
Là một xã đồng bằng, có sông Trà Giang chảy qua, xã Thuần Lộc là cầu nối giao thương quan trọng của 4 xã thuộc 2 huyện lớn Hoằng Hóa – Hậu Lộc của tỉnh Thanh Hóa, nghề nuôi cá được biết đến từ lâu và phát triển mạnh
đi đôi với nền nông nghiệp lúa nước, với tổng diện tích mặt nước chiếm 1/3 diện tích đất sản xuất nông nghiệp, hệ thống sông ngòi, ao hồ thuận lợi cho
Trang 13cá đã và đang đem lại nguồn thu nhập ổn định, giảm sức ép về vấn đề việc làm, đời sống người dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã
Hầu hết tình hình nuôi cá thịt của các hộ nông dân tại xã Thuần Lộc phát triển tự phát, các hộ nông dân tận dụng đất sản xuất nông nghiệp để nuôi
cá nên hiệu quả và kinh nghiệm nuôi vẫn còn lạc hậu và kinh tế đạt hiệu quả chưa cao Từ những phương thức sản xuất truyền thống, quy mô nhỏ, vốn đầu
tư hạn chế và việc áp dụng công nghệ vào chăn nuôi ít dẫn đến trong những năm gần đây, hiện tượng cá bị bệnh chết hàng loạt xảy ra ngày càng nhiều, làm giảm thu nhập và gây ra nhiều thách thức cho các hộ nông dân Là một người con xã nhà mong muốn đóng góp phần nhỏ công sức vào việc phát triển kinh tế của xã nói chung, tìm ra nguyên nhân, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng suất cá thịt, đem lại thu nhập cao hướng tới giấc mơ làm giàu, phát triển bền vững cho các hộ dân nuôi cá thịt trên ao nhà nói riêng nên tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Thực trạng nuôi cá thịt của các hộ nông dân xã
Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng nuôi cá thịt của xã Thuần Lộc trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển nuôi cá thịt của xã trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nuôi cá thịt của các hộ nông dân
Tìm hiểu thực trạng nuôi cá thịt của các hộ nông dân xã Thuần Lộc
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cá thịt của các hộ nông dân
xã Thuần Lộc
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển nuôi cá thịt của các
hộ nông dân xã Thuần Lộc trong những năm tới
Trang 141.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính:
nuôi và thu hoạch cá thịt cho địa phương
Đối tượng có liên quan:
tầng, thị trường tiêu thụ…
và PTNT, UBND huyện, UBND xã, Phòng Nông nghiệp, Trạm khuyến nông
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Tiến hành nghiên cứu tại xã Thuần Lộc - huyện Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hóa
Về thời gian: Tìm hiểu thực trạng nuôi cá thịt của các hộ nông dân tại
xã Thuần Lộc từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014 và một số thời điểm khác phục vụ cho kết quả nghiên cứu
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trang 152.1 Một số vấn đề cơ sở lý luận
2.1.1 Hộ nông dân
2.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao (Frank Ellis, 1993)
Theo nhận thức cá nhân, tôi cho rằng:
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở các mức độ khác nhau
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng, không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân
2.1.1.2 Phân loại hộ nông dân
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp với mục tiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào: Khả năng mở rộng diện tích đất đai, có thị trường lao động để họ mua nhằm lấy lãi, có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập, có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
Trang 16Hộ nông dân sản xuất hàng hoá chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối
đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động
Theo tính chất của ngành sản xuất hộ gồm có:
mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp
công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hoá Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên
Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ phân ra các hộ giàu, hộ khá,
hộ trung bình, hộ nghèo và hộ đói
2.1.1.3 Vai trò của kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển
Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thốn g, ngoài ra còn do truyền thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm lí đạo đức gia đình, dòng họ Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lí và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế Các thành viên trong nông
Trang 17phát triển, ngày càng giàu có Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ
hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và hiệp tác lao động một cách hợp lí
Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao - phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ nông trại và các thành viên trong gia đình Động lực lớn nhất thúc đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế của các thành viên trong gia đình.Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp Kinh
tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội khoảng 90% sản lượng thịt và cá, khoảng 90% sản lượng trứng, 90% sản lượng rau quả, góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và xuất khẩu, góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nhân dân
2.1.2 Nghề nuôi cá thịt
2.1.2.1 Vài nét về nghề nuôi cá thịt
Trong hoạt động kinh tế của nước ta hiện nay, nghề nuôi cá thịt đang phát triển mạnh, sản phẩm làm ra không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khẩu.Những năm vừa qua, sản lượng cá xuất khẩu đã tăng nhanh, mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nước.Hiện nay trên cả nước, nghề nuôi cá nhất là nuôi cá nước ngọt được mọi tầng lớp nhân dân tham gia đông đảo vì họ thấy
rõ việc nuôi cá cho năng suất và sản lượng cao hơn hẳn tập quán thả cá.Mặt khác, nghề nuôi cá có thể mang lại nguồn lợi kinh tế rất lớn, giúp người dân làm giàu một cách nhanh chóng Việc đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trang 18vào nuôi cá ở nước ta đang có những bước phát triển tốt, nhất là trong các khâu sản xuất giống, thức ăn và lai tạo giống cá.
2.1.2.2 Đặc điểm hoạt động của nghề nuôi cá thịt
Đối tượng lao động là những loài cá mà người nuôi chọn làm đối tượng nuôi thường có những ưu điểm đó là: Cá chóng lớn, thịt ngon, được nhân dân
ưa chuộng Cá sinh sản tự nhiên hoặc có thể cho đẻ nhân tạo được để chủ động sản xuất giống, những loài cá có khả năng thích nghi và phát triển ở ao
hồ, phù hợp với điều kiện địa phương Thức ăn của cá nuôi đơn giản, rẻ tiền, phù hợp với khả năng mà địa phương có
Các công việc chủ yếu của nghề nuôi cá Kỹ thuật nuôi cá đòi hỏi sử dụng hợp lý mặt nước nuôi cá, chọn đúng đối tượng cá nuôi, tận dụng được thức ăn mà địa phương có sẵn Kỹ thuật nuôi cá gồm các công việc chính sau:
thao tác: tát cạn nước ao, dọn vệ sinh, đắp lại bờ ao, đáy ao, rắc vôi bột tẩy trùng, bón lót phân hữu cơ…
không để lở bờ, rò rỉ cá đi mất; phát hiện cá bị bệnh thiếu oxy và tìm cách khắc phục; đánh giá màu nước ao để quyết định tăng hoặc giảm khẩu phần ăn trong ngày; thực hiện công việc phòng và chữa một số bệnh thông thường; kiểm tra sinh trưởng…
2.1.2.3 Vị trí, vai trò của nghề nuôi cá thịt
Hiện nay, ở nước ta lực lượng lao động nông nghiệp vẫn còn đông chiếm trên 60% dân số, trong đó có một bộ phận quan trọng nông dân làm nghề nuôi thuỷ sản đặc biệt là nghề nuôi cá Nghề nuôi cá được xác định là
Trang 19việc giải quyết việc làm, tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển, xóa đói giảm nghèo cho người dân, xây dựng nông thôn mới ở nhiều tỉnh, góp phần chuyển đổi cơ cấu nghành thủy sản theo hướng nuôi trồng thay thế cho đánh bắt
Nghề nuôi cá có vai trò quan trọng trong việc duy trì, tái tạo các nguồn lợi thuỷ sản Các nguồn lợi thủy sản là nguồn lợi tự nhiên với tính chất có hạn, khan hiếm khi khai thác đánh bắt một cách tràn lan không có kế hoạch thì nguồn lợi này lại càng trở nên khan hiếm, thậm chí một số loài gần như tuyệt chủng Sản phẩm cá nuôi không những có khả năng phục hồi mà còn có thể phát triển đa dạng nhiều chủng loại, do đó nuôi cá là một trong những nghề để nông dân làm giàu, nâng cao chất lượng đời sống người dân, góp phần phát triển nền kinh tế đất nước
Trong xu thế ngày càng hạn chế khai thác cá tự nhiên nhằm bảo vệ môi trường như hiện nay thì nuôi cá đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp nguyên liệu cho chế biến Nuôi cá là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số ngành nghề sản xuất nông nghiệp khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa mà một số đối tượng cá có giá trị cao như cá ngừ, cá tra, cá bassa còn
là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu
Cùng với mức sống của người dân dần được cải thiện, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cao, giàu protein ngày một tăng thì nghề nuôi cá ngày càng trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho thị trường nội địa, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn Có thể nói nuôi cá đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân
Ngày nay, xu hướng chuyển đổi diện tích trồng kém hiệu quả như trồng lúaruộng trũng 1 vụ bấp bênh, năng suất thấp, đất trồng cói, làm muối kém hiệ
u quả và đất cát, đất hoang hoá sang sử dụng có hiệu quả hơn cho nuôi cá
Trang 20Nguyên nhân là do giá cá thịt trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi cá diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tích được chuyển đổi sang nuôi cá hoặc kết hợp nuôi cá Nuôi cá đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả kinh tế
- xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân Hơn nữa, nuôi cá cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp TNHH, doanh nghiệp cổ phần …nuôi cá phát triển cũng kéo theo sự phát triển của các ngành Dịch vụ – Công nghiệp Vì vậy, phát triển nuôi cá đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển nhanh và bền vững
2.1.2.4 Tính ưu việt của nghề nuôi cá so với chăn nuôi gia súc, gia cầm
So với gia súc, gia cầm thì cá tiêu tốn ít thức ăn hơn,có thể tận dụng nhiều nguồn thức ăn tự nhiên (cỏ, rau muống, bèo), thức ăn nông nghiệp (lá ngô khoai, bột cám, bột ngô, chuối), chất thải chăn nuôi (phân gia súc gia cầm)…
So với nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm thì nghề nuôi cá không đòi hỏi nhiều vốn, thời gian thu hồi vốn ngắn, kĩ thuật không đòi hỏi cao, các bộ phận dân chúng đều có thể tham gia
2.1.2.5 Vai trò của cá đối với đời sống con người
Trong đời sống con người cá có nhiều ý nghĩa khác nhau: Trước hết cá được coi là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có gía trị vô cùng quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm của con người Bột cá và dầu cá là sản phẩm thủy sản được phát triển rất nhanh trong thời gian gần đây Bột cá
Trang 21em; loại chế biến từ sản phẩm thừa của đồ hộp thì được làm bột thức ăn gia súc Sản phẩm phụ của quá trình chế biến bột cá là dầu cá, dầu cá có thể dùng
để ăn hoặc dùng làm fomat nhân tạo
Thức ăn chín chế biến từ cá bao gồm: xúc xích cá, lạp xườn cá, ruốc cá, batê cá, bánh cá, cá nướng đây là loại sản phẩm đang phát triển và đang trở thành bộ phận quan trọng trong công nghệ chế biến cá Nhật Bản được coi là nước sản xuất thức ăn chính từ cá nhiều nhất
Xét về mặt dinh dưỡng cá được coi là loại thực phẩm giàu đạm, đủ các thành phần chất vô cơ, đủ các thành phần chất vô cơ, nguyên tố vi lượng, các acid amin, các vitamin như Vitamin A1; B1, B2, B12, C, D3, D6, E So với các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật khác cá là một loại thực phẩm khá toàn diện, hàm lượng mỡ thấp, nên dễ tiêu hóa
2.1.3 Các hình thức nuôi cá thịt
2.1.3.1 Các phương thức nuôi cá lấy thịt điển hình
Nuôi quảng canh hay còn gọi là nuôi truyền thống: là hình thức nuôi bằng nguồn thức ăn tự nhiên trong các ao hồ, đầm ở nông thôn và các vùng ven biển
Nuôi quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi chủ yếu bằng nguồn giống
và thức ăn tự nhiên, nhưng bổ sung thêm giống nhân tạo ở mức độ nhất định, đồng thời có đầu tư cải tạo thủy vực nhằm tăng sản lượng
Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống nhân tạo và thức ănnhân tạo, nhưng kết hợp nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực
Ngoài ra, hệ thống hồ ao nuôi còn được đầu tư cơ sở hạ tầng như điện, thiết bị cơ khí, thủy lợi…nhất là chủ động về nguồn nước cung cấp.Có khả năng xử lý và khống chế môi trường bằng hệ thống máy bơm sục khí
Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân tạo, được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ (quy hoạch hệ thống ao hồ, thủy
Trang 22lợi, giao thông, điện nước, cơ khí), có thể chủ động khống chế các yếu tố môi trường, mật độ giống thả dầy, năng suất cao
Nuôi công nghiệp: (Nuôi siêu thâm canh) là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân tạo với mật độ rất cao Sử dụng các máy móc
và thiết bị nhằm tạo cho vật nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện tối
ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thời gian ngắn nhất đạt các mục tiêu sản xuất và lợi nhuận
2.1.3.2 Các hình thức nuôi cá thịt nước ngọt năng suất cao ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nuôi cá nước ngọt đã hành thành và phát triển các hình thức nuôi cá năng suất cao, đa dạng về giống loài và thủy vực
Nuôi cá nước tĩnh: Để đạt năng suất cao, người ta thường nuôi ghép nhiều loại có tập tính ăn khác nhau Trong ao nuôi truyền thống, nuôi ghép:
mè, trôi ta, trắm đen, chép Sau này nuôi trồng thủy sản phát triển người ta đưa ra một vài công thức nuôi ghép với quy trình kỹ thuật lấy một loài chủ rồi ghép với các loài khác, ví dụ như:
Ao nuôi với cá mè làm chủ đạo (tính cho 1 ha): Mè trắng(60%) - mè hoa(5%) -trắm cỏ(3%) - cá trôi (25%) – chép(7%)
Ao nuôi cá trắm cỏ làm chủ đạo (tính cho 1 ha): Trắm cỏ(50%) - mè trắng(20%) - mè hoa(2%) - cá trôi(18%) – chép(4%) - rô phi(6%)
Ao nuôi cá rô phi làm chủ đạo (tính cho 1 ha) : Rô phi(45%) - mè trắng(20%) - mè hoa(5%) - cá trôi(20%) - trắm cỏ(4%) – chép(6%)
Nuôi cá nước chảy của các hộ gia đình ở miền núi: Tận dụng các khe suối, kênh rạch có nước chảy làm ao nuôi, hoặc đào ao nuôi rồi dẫn dòng chảy qua đường ống vào ao Cách làm rất đa dạng sáng tạo, quy mô ao nhỏ bé, nhưng tổng diện tích rất rộng có khi cả xã cũng có ao như Sơn La, Bình Liêu (Quảng Ninh), Mai Châu (Hoà Bình), Cẩm Thủy (Thanh Hóa)…do
đó có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn Đối tượng nuôi chủ yếu là cá trắm cỏ, có
Trang 23luồng, hóp, gỗ, sắt, lưới, ni lông…Nuôi cá bè trên sông rất phát triển ở miền Tây Nam Bộ, mạnh nhất là ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, đối tượng chính
là cá basa, cá tra Nhà ở làm ngay trên lồng bè nuôi cá, có bố trí chỗ ăn ở hợp
lý và phòng chống ô nhiễm nước vùng nuôi
Nuôi cá nước thải sinh hoạt ở ngoại vi thành phố, thị xã: Nuôi cá nước thải đã có từ thập niên 60 của thế kỷ trước Hợp tác xã Yên Duyên, Thanh Trì – Hà Nội là lá cờ đầu vào thời gian đó Có thể nuôi trên diện rộng từ 5-
10 ha, phải quy hoạch bờ vùng, mương tưới, cống tiêu, và trạm bơm, xử lý nước thải cho phù hợp với điều kiện nuôi, ngăn ngừa vi khuẩn gây bệnh và các kim loại nặng như chì, thủy ngân… có trong nước thải Đối tượng nuôi chủ yếu là các loại ăn tạp, mùn bã hữu cơ như rô phi, chép, trôi Ấn Độ và cá mè…vùng nuôi cá nước thải ở ven đô thị cung cấp một lượng thủy sản tươi sống cho dân sống trong thành phố
Nuôi cá ruộng trũng: Nghề nuôi cá ruộng có lịch sử phát triển từ lâu đời
ở nước ta và các nước Đông Nam Ấ Hiện nay, có các loại hình nuôi cá ruộng phổ biến là xen canh và luân canh Ở các tỉnh phía Bắc kết hợp trồng lúa - nuôi cá ở các chân ruộng trũng hoặc luân canh một vụ lúa, một vụ cá.Đối tượng nuôi chủ yếu là cá chéo, rô phi, các ruộng nuôi cá phải được quy hoạch,
có bờ vùng, bờ thửa.Bờ phải cao hơn mức nước cao nhất hàng năm là 0,5m Mặt bờ rộng 0,7- 0,8m để có thể trồng cây ăn quả và lấy bóng râm Trong ruộng phải có mương, chuôm cho cá trú nắng khi nhiệt độ cao Tại nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ như Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Kiên Giang…nuôi xen canh lúa – cá, lúa –tôm nước mặn hoặc nuôi luân canh một vụ lúa, một vụ tôm Ở nước ta hiện nay có những vùng ruộng trũng rộng lớn, tập trung mang
ý nghĩa kinh tế - sinh thái quan trọng cho sự phát triển lâu dài và bền vững
Trang 242.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cá thịt
2.1.4.1 Đối tượng nuôi
Cá là các cơ thể sống, chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Các cơ thể sống này rất nhạy cảm với những điều kiện ngoại cảnh, chỉ một sự biến động nhỏ của môi trường sống cũng dễ gây ảnh hưởng đến bản thân chúng Các ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài như : gió, mưa, bão, lũ, hạn hán… đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng
2.1.4.2 Yếu tố tự nhiên
Thủy vực được xem là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được trong hoạt động nuôi cá Thủy vực là ao, hồ, sông đầm mặt nước ruộng trũng… nói chung là các loại hình mặt nước được sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản Thủy vực là nơi cư ngụ của các loại động thực vật thủy sản và thủy vực bị giới hạn về diện tích và có tính chất vị trí cố định, chất lượng không đồng đều Do đó diện tích thủy vực tác động mạnh đế hiệu quả và việc phát triển nuôi cá
Đối tượng cá chịu tác động của điều kiện tự nhiên: khí hậu thời tiết, nguồn nước địa hình nơi sản xuất, đây là những yếu tố quyết định đến sự thành công của hoạt động nuôi Môi trường nước được phân thành ba loại: nước ngọt, nước mặn, nước lợ Đối với mỗi loại nước có một đối tượng nuôi trồng phù hợp
Trang 252.1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Các yếu tố xã hội như các yếu tô dân cư, lao động, chính sách về quy hoạch, vốn đầu tư, các chính sách khuyến nông khuyên ngư của địa phương cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động nuôi Nuôi trồng cá mang đặc điểm vùng
rõ rệt vì mỗi vùng có những đặc điểm về xã hội khác nhau
Khoa học kỹ thuật đang ngày càng phát triển, nó đang tác động đến hầu hết các ngành và các lĩnh vực Việc ứng dụng những thành tựu khoa học vào quá trình nuôi cá là một tất yếu và là một yêu cầu bắt buộc để tăng năng suất cũng như tăng hiệu quả kinh tế
Yếu tố thị trường là một yếu tố tác động sau cùng nhưng nó lại có tác động lớn đến quy mô doanh thu của toàn bộ quá trình nuôi Thị trường là nơi quyết định mọi vấn đề về giá, sản lượng bán, doanh thu của người nuôi Vì vậy trong quy hoạch nuôi trồng cần chú ý đến yếu tố thị trường, cụ thể cần xác định được một thị trường nhiều tiềm năng cho sản phẩm nuôi trồng
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng nuôi cá thịt trên thế giới
2.2.1.1 Sản lượng cá thịt nuôi trên thế giới
Dân số tăng nhanh cùng với nhu cầu tiêu thụ thủy sản ngày càng nhiều đang gây sức ép lên nguồn cung thủy sản hạn chế, nhất là đối với thực phẩm
cá Nuôi cá được coi là ngành sản xuất có tốc độ phát triển nhanh nhất, đối tượng nuôi phong phú trên 600 loài và được nuôi dưới nhiều hình thức khác nhau cung cấp phần lớn protein cho con người và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản lượng thủy sản toàn cầu, sản lượng cá được nuôi trên thế giới biểu thị qua biểu đồ 1
Trang 26Biểu đồ 1: Sản lượng cá nuôi trên thế giới giai đoạn 2005-2013 và dự báo
đến năm 2020
Ta có thể thấy sản lượng cá liên tục tăng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản lượng thủy sản thế giới, giai đoạn 2010-2012 nuôi cá trên thế giới đạt 59,9 triệu tấn, chiếm 40,5% so với tổng sản lượng thủy sản, tương đương 119 tỷ USD, sản lượng tăng 7,5% so với 50,7 triệu tấn giai đoạn 2005-2009, chiếm 38,04% so với tổng sản lượng thủy sản và tăng gần gấp đôi so với dự báo đến năm 2020 là 93 triệu tấn chiếm 51,38% so với tổng sản lượng thủy sản toàn cầu
Những năm gần đây, các điều kiện về kinh tế, xã hội, tự nhiên và môi trường đã ảnh hưởng không nhỏ tới sản lượng cá nuôi thế giới, cụ thể là dịch bệnh đã làm cho sản lượng nuôi cá ở các nước giảm sút Bên cạnh đó, nhiều nước bị tổn thất nặng nề về sản lượng cá do thảm họa tự nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão nhiện đới Ngoài ra, nguồn nước ô nhiễm ngày càng đe dọa đến việc sản xuất thủy sản của một số nước công nghiệp mới và các vùng phát triển đô thị hóa
2.2.1.2 Sản lượng cá thịt nuôi giữa các khu vực trên thế giới
Sự phân bố sản lượng cá nuôi giữa các vùng và các nước có mức độ phát triển kinh tế khác nhau vẫn còn chưa cân đối, được thể hiện qua bảng 2.1
Trang 27Bảng 2.1: Tỷ trọng sản lượng nuôi trồng thủy sản của các khu vực trên thế giới trong năm 2012 (%)
Cá là đối tượng được hầu hết 4 khu vực nuôi phổ biến Trong năm
2012, mười nước sản xuất cá hàng đầu chiếm 87,6 % về số lượng và 81,9%
về giá trị nuôi cá toàn cầu Về mặt số lượng, châu Á chiếm 89% sản lượng nuôi trên thế giới, trong đó, Trung Quốc dẫn đầu về mặt sản lượng nuôi, chiếm hơn 60% Tiếp theo là các nước Ấn Độ, Việt Nam, In-đô-nê-xi-a, Băng-la-đét, Thái Lan, Mi-an-ma, Phi-lip-pin và Nhật Trong khu vực châu Á, thị phần nuôi cá nước ngọt đóng góp ngày càng tăng trong sản lượng nuôi toàn cầu 65,6 % trong năm 2012
Tỷ trọng sản lượng nuôi cá của châu Phi đứng vị trí thứ nhất 93,3%, đóng góp 2,2% trong tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn cầu trong mười năm qua Trong đó, sản lượng nuôi cá nước ngọt của châu Phi đạt 39,5% trong năm 2012 do sự phát triển nhanh về nuôi nước ngọt ở vùng phía Nam sa mạc Sahara, đặc biệt là các nước Nigeria, Uganda, Zambia, Gana và Ken-ni-a
Tại châu Âu, nuôi cá có tỷ trọng 81,5% năm 2012 đứng vị trí thứ hai Trong mấy năm qua, sản lượng nuôi cá ở các nước Bắc Mỹ không tăng, trong khi tại Nam Mỹ lại tăng trưởng mạnh, đặc biệt ở Peru và Brazin
Châu Đại dương chiếm thị phần khá nhỏ trong sản lượng nuôi cá thế giới.Nuôi trồng cá nước ngọt chỉ chiếm khoảng 5%
Trang 282.2.1.3 Xu hướng tiêu dùng thực phẩm cá trên thế giới
Hiện nay, mức tiêu thụ cá trung bình trong khoảng 29kg/người/năm, tương đương khoảng 116 triệu tấn/năm, ước tính tới năm 2020, nhu cầu sẽ tăng thêm 16 đến 20 triệu tấn/năm và đến năm 2030 sẽ tăng thêm 25 triệu tấn/năm, số liệu về nhu cầu thực phẩm cá trên thế giới được biểu thị qua biểu
đồ 2
Biểu đồ 2: Nhu cầu thực phẩm cá trên thế giới
Nhu cầu thực phẩm cá trên thế giới ngày càng tăng qua các năm Đến những năm tới, người tiêu dùng trên thế giới có xu hướng sẽ chuyển sang tiêu dùng thiên về các loại cá tươi, sống, nhất là các loại có giá trị cao như: cá ngừ, cá hồi, cá tra, rô phi và các loại cá thịt trắng
2.2.2 Thực trạng nuôi cá thịt ở Việt Nam
Trong những năm qua, nghề nuôi cá của nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Tổng sản lượng cá thịt năm 2012 là 3,27 triệu tấn, chiếm 55,2% tổng sản lượng thủy sản, tăng 7,2% so với năm 2011, và 287,4% so với năm 2002 Việt Nam là quốc gia đứng thứ 3 trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương về sản lượng cá nuôi và là một trong 10 quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu cá
Trang 29Nước ta có diện tích bề mặt nước ngọt lớn với 653.000 ha sông ngòi, 394.000 ha hồ chứa, 85.000 ha đầm phá ven biển, 580.000 ha ruộng lúa nước Ngoài ra, ở ĐBSCL, hàng năm có khoảng 1.000.000 ha diện tích ngập lũ từ 2 đến 4 tháng… Nhờ vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam thực sự phong phú và xác định được 544 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam Ngoài ra, nước ta còn nhập nội thêm hàng chục loài khác như: cá trắm cỏ, cá rô phi, cá rôhu
Hiện nay nghề nuôi cá đã phát triển rộng khắp trong cả nước, không chỉ
ở các tỉnh đồng bằng, ven biển mà còn ở cả các tỉnh miền núi, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, vừa xuất khẩu vừa cải thiện nguồn cung cấp thực phẩm cho dân cư trong nước Tuy nhiên, vùng nuôi cá xuất khẩu lớn nhất vẫn chỉ tập trung ở ĐBSCL với loài chủ yếu là con cá tra, basa, được nuôi với quy mô rộng lớn, được đầu tư đúng mức để trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực Hiện nay, nuôi cá phát triển mạnh cả về diện tích và sản lượng, số liệu mô tả qua bảng 2.2
Bảng 2.2: Diện tích nuôi và sản lượng cá nuôi cả nước
350,823,2327,6
35126,5324,5
355,627,9327,7
356,628,3328,2
359,228,9330,3Sản lượng(nghìn
rô phi, rô đồng, cá lóc chủ yếu nhiễm các loại bệnh: xuất huyết, viêm ruột,
Trang 30nấm, đốm đỏ hoặc do các yếu tố môi trường, nhưng thiệt hại không đáng kể Bệnh xuất hiện nhiều tháng, nhưng tập trung vào các tháng 4-5 Vì vậy cần nhanh chóng cá biện pháp phòng và trị bệnh cho cá, hạn chế tối đa dịch bệnh, nâng cao năng suất nuôi cá Trong chiến lược Phát triển thủy sản đến năm
2020 và Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đã xác định sẽ ưu tiên phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, hiện đại, nâng cao chất lượng và bền vững, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới và thân thiện với môi trường Thực trạng nuôi cá thịt có sự khác biệt và đặc trưng của từng khu vực, từng địa phương như sau
2.2.2.1 Thực trạng nuôi cá thịt ở khu vực phía Bắc
Với lợi thế có nhiều hệ thống sông ngòi, diện tích hồ chứa khá lớn nên nghề nuôi cá ở các tỉnh phía bắc đã và đang phát triển khá nhanh, góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân ở các địa phương Nuôi cá ở các tỉnh phía Bắc hiện nay đã dần chuyển sang sản xuất hàng hóa và đang từng bước trở thành một trong những nghề sản xuất chính mang lại hiệu quả cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo Chất lượng và giá trị của các sản phẩm nuôi trồng ngày càng cao, đóng góp đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu thủy sản chung của cả nước Đến hết ngày 30/3/2014, khu vực phía Bắc đã thả nuôi 56.075 ha, trong đó diện tích nuôi cá là 55.481 ha chiếm 98.9% diện tích thả nuôi Phần lớn diện tích thả nuôi theo hình thức quảng canh, xen canh, nuôi ghép; đối tượng nuôi truyền thống như trắm cỏ, chép, trôi Một số địa phương có diện tích nuôi thâm canh, bán thâm canh chuyên nuôi cá rô phi, điêu hồng như: Hải Dương (3.614 ha chiếm 36% diện tích nuôi của tỉnh) thì mới bắt đầu thả giống Các địa phương khác thì diện tích thả nuôi cá rô phi vẫn chưa nhiều do thời tiết chưa thuận lợi Sản lượng nuôi cá nước ngọt 3
Trang 31Hồng là 74.452 tấn, chiếm 79,3 % tổng sản lượng của toàn khu vực Những địa phương có sản lượng cá nước ngọt lớn gồm Hà Nội (24.015 tấn), Hải Dương (18.200 tấn) và Bắc Ninh (12.162 tấn).
Tuy nhiên, nghề nuôi cá ở khu vực phía bắc hiện nay vẫn chủ yếu mang tính tự phát, chưa theo quy hoạch, chưa gắn với bảo vệ môi trường cũng như chưa tạo được hệ thống tiêu thụ và thị trường ổn định
Nhờ hệ thống sông lớn như sông Đà, sông Lô, Thái Bình và các hồ thủy điện Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang, Ba Bể, Đại Lải, Núi Cốc nên nghề nuôi cá với hình thức nuôi lồng ở các tỉnh phía bắc phát triển khá mạnh Đặc biệt với ưu điểm là dễ chăm sóc, nuôi mật độ cao, dễ thu hoạch, đầu tư ban đầu không cao, chi phí thức ăn thấp do tận dụng thức ăn sẵn có ở địa phương như lá sắn, lá ngô, củ sắn, hạt ngô băm nhỏ nên tổng chi phí thường không cao
Các tỉnh miền bắc có tiềm năng diện tích có thể phát triển nuôi cá theo hình thức lồng, bè là hơn 200.000 ha diện tích mặt nước Tuy nhiên, các địa phương mới chỉ khai thác được một phần rất nhỏ so với tiềm năng diện tích mặt nước của sông và hồ chứa Theo thống kê, tổng diện tích lồng nuôi cá ở các tỉnh miền bắc ước khoảng 300.530 m3, số lượng gần 5.000 lồng, với năng suất đạt hơn 2.000 tấn/năm Ngoài ra một số số liệu được thể hiện qua bảng 2.3
Bảng 2.3: Tình hình nuôi và thu hoạch cá thịt của một số tỉnh phía Bắc năm 2013
Trang 32lồng cá ( lồng ) (tấn/năm) (tấn/lồng) (trđ/ lồng)
là cá rô phi, diêu hồng, chép V1, lăng, nheo Năng suất đạt được từ 5 đến 7 tấn cá/lồng (108 m3) tại một số hộ nuôi trên sông Kinh Thầy (Hải Dương), sông Đuống (Bắc Ninh), sông Trà Lý (Thái Bình), sông Hồng (Hà Nam) Ngoài ra, ở một số tỉnh miền núi như: Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu… cũng rất phát tiển mô hình nuôi cá bỗng tạo việc làm, đem lại thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân
Tiềm năng để phát triển nghề nuôi cá lồng ở các tỉnh phía Bắc là rất lớn nhưng hiện nay các địa phương vẫn chưa khai thác hết Mặc dù năm 2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nghiệm thu quy hoạch phát triển nghề cá hồ chứa đến năm 2020 Đây là căn cứ để các địa phương xây dựng quy hoạch chi tiết và triển khai các dự án nuôi cá lồng, bè trên sông, suối, hồ chứa Trên thực tế một số địa phương đã có quy hoạch nuôi trồng thủy sản, trong đó quan tâm tới nuôi lồng bè nhưng cơ quan chuyên môn không chủ động tham mưu đề xuất để UBND các tỉnh phê duyệt triển khai thực hiện các
dự án nuôi cá lồng bè tập trung, các mô hình trình diễn, cơ chế khuyến khích phát triển dẫn đến quy hoạch không được thực hiện
Trang 33Có thể khẳng định nuôi trồng cá thịt thương phẩm vùng Đồng bằng sông Cửu Long là ngành sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao; là ngành sản xuất thủy sản chủ lực cung cấp cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng trong vùng; đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế; tạo thêm nhiều việc làm tăng thu nhập cho người dân, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo và bảo
vệ môi trường sinh thái, khai thác hợp lý tiềm năng mặt nước, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, sản lượng; phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng sản lượng trung bình đạt trên 5%/năm trong giai đoạn 2010-2020 cùng với phát triển nuôi các đối tượng đặc hữu, có giá trị kinh tế cao, phấn đấu giá trị tăng trưởng trong giai đoạn 2010-2020 đạt trên 6%/năm
Với tiềm năng mặt nước lớn nhất cả nước, hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt, dân số đông thì khu vực phía Nam nước ta không chỉ là vựa lúa trời mà còn là bể cá lớn cung cấp nguồn cá tươi sống phục vu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu với các loài cá đặc trưng, có giá trị cao như: cá tra,
cá basa, cá rô đồng, cá rô phi, sặc rằn, cá lóc….hình thức nuôi thâm canh lồng
cá công nghiệp, đầu tư vốn lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhất là đối với hai loại cá tra và cá basa được nuôi phổ biến nhất ở các tỉnh khu vực phía nam, năng suất cao và là nguồn cá xuất khẩu lớn của nước
ta Tình hình nuôi và thu hoạch cá thịt của các tỉnh phía Nam thể hiện qua bảng 2.4
Bảng 2.4: Tình hình nuôi và thu hoạch cá thịt khu vực phía Nam năm 2013
STT Địa phương Tổng lượng
giống thả
Diện tích hiện thả
Diện tích
đã thu
Sản lượng thu (tấn)
Năng suất bình quân
Trang 34Đầu năm 2013, các loại dịch bệnh trên cá đã xảy ra tại 71 xã thuộc 21 huyện của 6 tỉnh với tổng diện tích cá bị bệnh là 732,1ha, gồm: Bến Tre (7,6ha), Đồng Tháp (639ha), Hậu Giang (0,1ha), thành phố Cần Thơ (1,2 ha), Trà Vinh (9,1 ha) và Vĩnh Long (75 ha) Các bệnh cá thường mắc là: Gan thận mủ (chiếm khoảng 48%), xuất huyết (khoảng 32%), ký sinh trùng (khoảng 4%) và một số bệnh khác Dịch bệnh xuất hiện quanh năm, nhưng bị nặng nhất vào giai đoạn từ tháng 12-2 và tháng 6-8.Không những thế, trong tổ
Trang 35theo chuỗi giá trị sản phẩm chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất Trong hoạt động xuất khẩu cá như cá tra, basa hiện nay có quá nhiều đầu mối, nên xảy ra tình trạng cạnh tranh thương mại không lành mạnh Sự cạnh tranh không lành mạnh như lạm dụng tỷ lệ mạ băng, gia tăng hàm lượng nước làm ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh Đây cũng
là một trong những nguyên nhân giá cá trong nước sụt giảm, ảnh hưởng không ít đến phát triển bền vững ngành hàng cá xuất khẩu
2.2.2.3 Thực trạng nuôi cá thịt ở khu vực miền Trung
Đây là khu vực có truyền thống nuôi trồng cá nước ngọt, gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đều giáp biển là lợi thế không hề nhỏ để phát tiển nghề nuôi cá thịt Với các mô hình chuyển đổi từ cây lúa, khắc phục khó khăn trong việc “dồn điền đổi thửa”, một số diện tích đất trồng lúa và sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, những khu vực đất trũng, dải đất ven sông… đã được chuyển đổi sang nuôi trồng cá thịt; với các hình thức nuôi từ truyền thống đến thâm canh công nghiệp, hay mô hình lúa-cá, luân canh 1 vụ lúa- 1 vụ cá, lợi dụng kênh mương
để thả cá với các loài cá phổ biến được người dân ưa dùng như: cá chép, rô phi, cá chim, mè, trắm, lóc, trê, vược… đã và đang đem lại hiệu quả cho người dân ở các tỉnh trong khu vực, những năm gần đây diện tích đất nuôi cá thịt không ngừng được mở rộng Gần đây các loại cá có năng suất cao như: diêu hồng, hóc khế… có khả năng thích nghi nhanh với khí hậu và điều kiện nguồn nước trong khu vực với nguồn thức ăn khan hiếm, quá trình chăm sóc không khó, mà lại cho hiệu quả kinh tế cao so với nhiều giống cá khác đã được nhiều người dân trong vùng nhân giống và mở rộng diện tích nuôi, đã và đang đem lại hiệu quả cao cho người nuôi trong những năm gần đây
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sản xuất cá của các tỉnh khu vực miền trung vẫn còn nhiều hạn chế như diện tích nuôi còn manh mún, nhỏ
lẻ, chưa chủ động được nguồn nước, diện tích nuôi thâm canh còn ít, năng
Trang 36suất thấp, chưa có cơ sở sản xuất cá đạt tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP, Hầu hết các cơ sở sản xuất giống cá cơ sở vật chất xuống cấp, chưa có đối tượng chủ lực xuất khẩu, chưa có nhiều đối tượng mới có giá trị kinh tế đáp ứng yêu cầu của thị trường; số lượng các cửa hàng kinh doanh về thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y phục vụ thủy sản còn ít Chưa quy hoạch phát triển thuỷ sản theo vùng, đối tượng, lượng vốn đầu tư vào sản xuất thủy sản của người dân chưa nhiều.
2.2.3 Tình hình nuôi cá thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển nghề nuôi cá thịt với hơn 102km bờ biển, diện tích mặt nước, đầm phá, hệ thông sông ngòi, ao hồ dày đặc, lực lượng lao động dồi dào nghề nuôi cá thịt đã và đang phát triển mạnh mẽ Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 18.050 ha, trong đó diện tích nuôi cá nước ngọt 6.350 ha, sản xuất giống nước ngọt được 850 triệu cá bột Nghề nuôi cá thịt đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, cùng với những nguồn lực đã có là lợi thế để xác định phát triển nuôi cá thịt là hướng đi đúng đắn và cần thiết để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân Để thực hiện điều đó tỉnh đã đưa ra nhiều chính sánh hỗ trợ, hướng dẫn, chỉ đạo xuống tận các xã để mở rộng và phát triển phong trào nuôi cá trên toàn tỉnh, thành lập các hội và tổ chức như hội làm vườn và trang trại, câu lạc bộ và hội nghề cá
đã thu hút được sự tham gia của người dân, hỗ trợ nguồn lực để hoạt động nuôi cá được triển khai rộng và gặt hái không ít thành công, giúp nông dân phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần xoá nghèo, làm giàu hiệu quả Phong trào nuôi cá thịt phát triển trên toàn tỉnh, số liệu qua quá trình tìm hiểu ở một số huyện tôi tiến hành tổng hợp vào bảng 2.5
Bảng 2.5: Diện tích, sản lượng và năng suất cá thịt của một số huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa năm 2013
Trang 37(Nguồn: Sở NN & PTNT tỉnh Thanh Hóa)
Nông dân các huyện, thị xã, thành phố đã thả nuôi cá nước ngọt vụ xuân năm 2013 như: Nông Cống, Hoằng Hóa, Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Yên Định, Triệu Sơn đã chủ động chuyển diện tích vùng đồng sâu trũng cấy lúa kém hiệu quả trong vụ mùa sang xây dựng trên 500 mô hình trang trại nuôi cá nước ngọt kết hợp sản xuất lúa và chăn nuôi gia súc, gia cầm Qua bảng tổng hợp trên, huyện Nông Cống đứng đầu cả về diện tích và sản lượng cá thịt, huyện Hậu Lộc đứng vị trí thứ 2 Ngoài các loài cá truyền thống, như: trắm cỏ, mè, trôi, chép, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
đã phối hợp với các địa phương xây dựng các mô hình nuôi thâm canh cá diêu hồng, cá rô đầu vuông, cá lóc, cá trắm đen… Các hộ dân nuôi cá trong tỉnh đã được Đảng ủy tỉnh hỗ trợ nguồn vốn vay và con giống để mở rộng hơn diện tích nuôi, tu bổ và đầu tư trang thiết bị, nguồn con giống được ổn định và có chất lượng hơn, việc mở các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật được
bà con hưởng ứng tham gia nhiệt tình Đại đa số các ao nuôi của bà con là nuôi ghép các loại cá truyền thống (trắm, trôi, mè, chim, chép, rô phi…) và việc kết hợp một số đối tượng nuôi gia súc gia cầm khác như gà, vịt, lợn…, hay kết hợp trồng vườn cây táo, chuối, đu đủ… các mô hình VAC, ao – vườn hay ao – chuồng, đã và đang mang lại nguồn thu nhập trung bình một năm từ
30 đến 40 triệu đồng, việc kết hợp thức ăn công nghiệp và thức ăn tự nhiên đã giảm được chi phí nuôi Cùng với tinh thần sáng tạo, việc nắm bắt được nhu cầu thị trường đầu ra, nhiều hộ nuôi đã mạnh dạn đầu tư nuôi thâm canh một
số loại cá có giá trị cao và được thị hiếu người tiêu dùng hơn như cá trắm, rô
Trang 38phi, rô hu, diêu hồng, cá lóc… được các hộ áp dụng với số lượng ngày càng nhiều Đặc biêt là việc nhân giống và nuôi thành công một số giống cá từ tự nhiên đã đem lại nguồn thu nhập cao, cải tạo và gìn giữ nguồn con giống quý góp phần bảo vệ môi trường và hệ sinh thái tự nhiên như cá lóc (cá chuối/ cá quả) và cá rô đầu vuông, cá rô đồng và một số loại cá có giá trị cao Do môi trường sống ngày càng thu hẹp và bị khai thác quá mức khiến cho hai loài này
ở ngoài tự nhiên càng trở nên khan hiếm, nhiều nơi có nguy cơ cạn kiệt Từ năm 2008,Thanh Hóa đã rất thành công ở mô hình nuôi cá lóc,cá rô đồng, cá
rô phi vằn đơn tính Đài Loan tại các huyện trong tỉnh như Nga Sơn,Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung, Nông Cống, Quảng Xương, Đông Sơn, Thiệu Hóa, Yên Định, Triệu Sơn, Thạch Thành, Thọ Xuân, Ngọc Lạc, TP Thanh Hóa, từ các mô hình này giờ đã nhân ra diện rộng trong toàn tỉnh Phong trào nuôi cá rô phi vằn, cá lóc, rô đồng phát triển nhanh và có hiệu quả,
cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, trọng lượng cá đạt từ 80 đến 200g/con sau 1 lứa nuôi (từ 100 đến 123 ngày) Những lứa cá thu hoạch vào cuối năm 2013, năng suất đạt 60 tấn/ha/vụ, trung bình toàn tỉnh đạt 30 tấn/ha/vụ, vì việc cung ứng giống, hướng dẫn kỹ thuât, tiêu thụ sản phẩm đã có những hội viên Hội làm vườn & trang trại chuyên lo Nhiều gia đình nuôi trong ao đất, cho hiệu quả kinh tế cao, người nuôi có lợi nhuận từ 30 đến 50% tổng chi phí Ngoài
ra, Hội còn thu thập và cung cấp cho nông dân các thông tin thiết thực về sản xuất và thị trường, Hội đã hướng cho nông dân sản xuất theo nhu cầu thị trường, tạo đầu ra cho sản phẩm giúp sản xuất kinh doanh có lãi, nông dân không rơi vào tình trạng sản phẩm dư thừa, bị ép giá Các mô hình nuôi cá đều có lãi là động lực thúc đẩy nông dân mở rộng sản xuất quy mô hàng hóa
và đạt giá trị sản phẩm năm sau cao hơn năm trước
Như vậy, tình hình nuôi cá thịt của tỉnh Thanh Hóa đã không ngừng phát triển, việc nuôi kết hợp nuôi cá với gia súc gia cầm đã mang lại nhiều lợi
Trang 39thức ăn cho cá và nguồn nước để vệ sinh chuồng trại và phục vụ tưới tiêu đã tiết kiệm được nhiều chi phí cho người nuôi, làm tăng hiệu quả trên một đơn
vị diện tích, đem lại nguồn thu nhập cao cho các hộ nuôi, đảm bảo an sinh xã hội, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, có được sự thành công như vậy không tránh khỏi những rủi ro và thách thức trong qua trình nuôi như: nguồn con giống chưa đảm bảo dịch bệnh, giá con giống và giá thức ăn còn cao, thức ăn không đảm bảo dinh dưỡng, bà con chưa nuôi đúng kỹ thuật cắt đứt giai đoạn, thời tiết thất thường ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng và chất lượng sản phẩm cũng như về thị trường đầu ra, môi trường, ý thức người dân khi nuôi… Đây là những bài toán khó, những trăn trở cần được tháo gỡ
và giải quyết
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Thuần Lộc nằm ở phía Nam của huyện Hậu Lộc, có đường quốc lộ
10 đi qua Phía đông giáp xã Hoằng Xuyên, huyện Hoằng Hóa; Phía nam giáp các xã Hoằng Xuyên và Hoằng Khê, huyện Hoằng Hóa; Phía tây giáp xã Hoằng Khê, huyện Hoằng Hóa; Phía bắc giáp xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa và Văn Lộc, huyện Hậu Lộc Vì vậy, xã Thuần Lộc có nhiều cơ hội giao lưu kinh tế xã hội, buôn bán qua lại với các địa phương khác Đặc biệt với lợi thế có 2 chợ (chợ Phủ và chợ Cầu Sài) là nơi để các hộ dân nuôi cá bán buôn,
Trang 40bán lẻ sản phẩm cá với người dân trong và ngoài xã, giúp tăng thu nhập và tạo việc làm cho các thành viên trong hộ.
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Là xã đồng bằng, địa hình tương đối bằng phẳng thoai thoải về phía bờ sông, gần nguồn nước nên việc lấy nước vào ao và vệ sinh ao nuôi cá dễ dàng nhưng khi mùa mưa lũ đến ao cá thường bị ngập, cá lọt bờ hay lọt cống ao Hầu hết các hộ sử dụng đất nông nghiệp vào việc sản xuất cá, diện tích nuôi
cá ổn định qua các năm nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp lại có xu hướng giảm nhẹ, hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp được biểu thị qua biểu
đồ 3
Biểu đồ 3: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã Thuần Lộc năm 2013
Đất nông nghiệp có 161,31ha (chiếm 84,6%) là đất sản xuất nông nghiệp, còn lại 19,01 ha (chiếm 15,4%) là diện tích nuôi cá; so với tổng diện tích mặt nước thì diện tích nuôi cá chiếm 37,09% Nền kinh tế xã thuần túy là sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa và nuôi cá thịt, các hộ nuôi cá thịt ở xã đã và đang tận dụng triệt để diện tích mặt nước để thả cá thịt
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết và thủy văn