Khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động hỗ trợ học sinh lớp 12 THPT tự học ToánLàm rõ những yếu tố tích cực của Công nghệ thông tin nói chung, Mlearning nói riêng trong đó có việc sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) đến quá trình tự học Toán của học sinh (HS).
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS ĐÀO THÁI LAI
2 PGS.TS NGUYỄN THỊ TĨNH
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đào Thái Lai và PGS.TS Nguyễn Thị Tĩnh Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực, có nguồn trích dẫn Các kết quả công bố chung đều được đồng nghiệp cho phép sử dụng đưa vào luận án
Nghiên cứu sinh
Trịnh Thị Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC HÌNH VẼ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 4
6.2 Phương pháp quan sát, điều tra 5
6.3 Phương pháp chuyên gia 5
6.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 5
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 5
7 Những luận điểm đưa ra bảo vệ 5
8 Đóng góp của luận án 5
8.1 Đóng góp của luận án về mặt lí luận 5
8.2 Đóng góp của luận án về mặt thực tiễn 6
9 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 7
1.2 Vấn đề tự học 8
1.2.1 Quan niệm về tự học 8
1.2.2 Quá trình tự học 10
1.2.3 Vai trò của tự học 11
1.2.4 Các cấp độ tự học 12
1.2.5 Hình thức tự học 13
1.2.6 Tổ chức hoạt động tự học 14
Trang 51.2.7 Năng lực tự học Toán 15
1.2.8 Vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học Toán cho học sinh 17
1.3 Tự học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông 18
1.3.1 Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông đến tự học của học sinh 18
1.3.2 Khai thác công nghệ thông tin và truyền thông trong tự học 20
1.4 Tổng quan về học tập di động 23
1.4.1 Khái niệm học tập di động (M-learning) 23
1.4.2 Thành phần, đối tượng, mô hình kết nối của hệ thống M-learning 25
1.4.3 Quy trình thiết kế hệ thống M-learning 28
1.4.4 Học liệu điện tử 29
1.5 Tự học trong môi trường M-learning 32
1.5.1 Một số đặc điểm của M-learning 32
1.5.2 Tự học trong môi trường M-learning 38
1.5.3 Một số kỹ năng của HS khi tự học trong môi trường M-learning 40
1.5.4 Một số kỹ năng của giáo viên dạy tự học trong M-learning 41
1.6 Thực trạng khai thác M-learning trong dạy học 42
1.6.1 Thực trạng khai thác M-learning trên thế giới 42
1.6.2 Thực trạng khai thác M-learning ở Việt Nam 44
1.7 Thực trạng về tự học Toán và sử dụng điện thoại di động trong tự học Toán đối với học sinh lớp 12 54
1.7.1 Thực trạng tự học Toán của học sinh lớp 12 54
1.7.2 Thực trạng việc sử dụng điện thoại di động trong tự học Toán 56
1.7.3 Quan điểm về tài liệu tự học Toán của học sinh và giáo viên 59
1.8 Kết luận chương 1 63
Chương 2: SỬ DỤNG MỘT SỐ CHỨC NĂNG CỦA ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG HỖ TRỢ HỌC SINH LỚP 12 TỰ HỌC TOÁN 65
2.1 Định hướng khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động hỗ trợ học sinh tự học Toán 65
2.1.1 Đảm bảo tính khả thi trong điều kiện thực tế của Việt Nam 65
2.1.2 Phát huy được những yếu tố tích cực của M-learning 66
2.1.3 Đảm bảo tính sư phạm 69
Trang 62.2 Xây dựng hệ thống M-learning hỗ trợ học sinh lớp 12 tự học Toán 69
2.2.1 Một số yêu cầu đối với hệ thống M-learning 69
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống M-learning hỗ trợ học sinh lớp 12 tự học Toán 75
2.2.3 Cấu trúc hệ thống M-learning hỗ trợ học sinh lớp 12 tự học Toán 76
2.2.4 Các chức năng của hệ thống M-learning hỗ trợ học sinh lớp 12 tự học Toán 80
2.3 Xây dựng học liệu điện tử hỗ trợ học sinh tự học Toán thông qua việc khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động 86
2.3.1 Những yêu cầu đối với học liệu điện tử 86
2.3.2 Các nguyên tắc thiết kế nội dung học liệu điện tử hỗ trợ học sinh tự học Toán thông qua việc khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động 87
2.4 Quy trình khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động hỗ trợ học sinh tự học Toán 94
2.5 Phương án khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động trong tự học Toán của học sinh ngoài giờ lên lớp 101
2.5.1 Đối tượng “giáo viên”, “học sinh” tham gia hệ thống 101
2.5.2 Phương án tự học có hướng dẫn trực tiếp của giáo viên 102
2.5.3 Phương án tự học không có hướng dẫn trực tiếp của giáo viên 103
2.5.4 Phương án học sinh tự học độc lập 105
2.5.5 Triển khai các hoạt động tự học theo nhóm 109
2.6 Phương án khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động trong tự học Toán của học sinh trong giờ lên lớp chính khóa 110
2.6.1 Khai thác kết quả tự học của học sinh trong quá trình lên lớp 110
2.6.2 Khai thác chức năng lưu trữ, tra cứu thông tin của điện thoại di động 116
2.6.3 Khai thác các ứng dụng được cài trên điện thoại di động 117
2.7 Kết luận chương 2 118
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 120
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 120
3.2 Thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm sư phạm 120
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 121
3.3.1 Phương pháp điều tra 121
3.3.2 Phương pháp quan sát 121
3.3.3 Phương pháp thống kê toán học 121
3.3.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 122
3.3.5 Xây dựng phương thức và tiêu chí đánh giá 122
Trang 73.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm 123
3.4.1 Tài liệu thực nghiệm sư phạm 123
3.4.2 Nội dung 1: Tập huấn cho giáo viên và học sinh nhóm thực nghiệm 125
3.4.3 Nội dung 2: Điều tra, phỏng vấn GV và HS 126
3.4.4 Nội dung 3: Cho HS tự học thông qua việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ 126
3.4.5 Nội dung 4: Tổ chức dạy học các giáo án đã soạn 127
3.4.6 Nội dung 4: Nghiên cứu trường hợp 127
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 128
3.5.1 Kết quả tập huấn 128
3.5.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 1 (năm học 2012 - 2013) 128
3.5.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2 (năm học 2013 - 2014) 134
3.5.4 Theo dõi sự tiến bộ của một nhóm HS (Nghiên cứu trường hợp) 144
3.6 Điều tra tính khả thi của hệ thống M-learning Toán 12 trong việc hỗ trợ tự học cho học sinh trung học phổ thông 155
3.6.1 Thăm dò giáo viên về hệ thống M-learning Toán 12 155
3.6.2 Thăm dò HS về việc khai thác hệ thống M-learning Toán 12 trong quá trình tự học Toán 157
3.7 Kết luận chương 3 158
KẾT LUẬN 161
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 164 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
GSM Global System for Mobile Communications
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Bảng:
Bảng 1.1 Một số giải pháp để khắc phục các hạn chế của ĐTDĐ 36
Bảng 1.2 So sánh việc sử dụng MTĐT và ĐTDĐ trong dạy học 37
Bảng 1.3 Các chức năng cơ bản của một số hệ thống M-Learning 50
Bảng 1.4 Khả năng tương tác, tính thân thiện của một số hệ thống M-learning 51
Bảng 1.5 Cấu trúc nguồn HLĐT hỗ trợ HS lớp 12 tự học một số hệ thống M-learning 51
Bảng 1.6 Kết quả tìm hiểu về mục đích tự học toán của HS lớp 12 54
Bảng 1.7 Thời lượng tự học Toán của HS lớp 12 THPT trong ngày 54
Bảng 1.8 Các công việc đã thực hiện trong tự học Toán của HS lớp 12 55
Bảng 1.9 Hình thức tự học Toán có hiệu quả đối với HS lớp 12 55
Bảng 1.10 Đánh giá của GV về ý thức tự học Toán của HS lớp 12 56
Bảng 1.11 Đánh giá của GV về việc hình thành động cơ tự học Toán của HS 56
Bảng 1.12 Đánh giá về hiệu quả tự học Toán ngoài giờ lên lớp của HS lớp 12 56
Bảng 1.13 Kết quả ý kiến thăm dò quan điểm về việc sử dụng điện thoại di động trong tự học tại thời điểm trước khi triển khai đề tài (tháng 10/2012) 57
Bảng 1.14 Kết quả tìm hiểu về việc HS lớp 12 được gia đình trang bị ĐTDĐ của một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 57
Bảng 1.15 Kết quả tìm hiểu về thực trạng sử dụng ĐTDĐ 58
Bảng 1.16 Lý do HS không tra cứu, khai thác các website Toán 59
Bảng 1.17 Ý kiến của HS tài liệu hướng dẫn tự học môn Toán 59
Bảng 1.18 Ý kiến HS về cấu trúc hệ thống bài tập hỗ trợ tự học 60
Bảng 1.19 Ý kiến HS về học liệu điện tử hỗ trợ tự học Toán 61
Bảng 1.20 Ý kiến của GV về trang web hỗ trợ HS tự học Toán 62
Trang 10Bảng 3.1 Thống kê kết quả học tập của HS nhóm TN và ĐC trước khi
TNSP 128
Bảng 3.2 Phân bố điểm của nhóm TN và nhóm ĐC sau khi TNSP vòng 1 130 Bảng 3.3 Phân bố tần suất luỹ tích hội tụ lùi sau khi TN vòng 1 131
Bảng 3.4 Kết quả học tập của HS nhóm TN, ĐC trước khi TNSP vòng 2 134
Bảng 3.5 Phân bố điểm của nhóm lớp TN và nhóm lớp ĐC sau khi TN vòng 2 139
Bảng 3.6 Phân bố tần suất luỹ tích hội tụ lùi của nhóm TN, ĐC sau TN vòng 2 139
Bảng 3.7 Ý kiến của GV về học liệu điện tử hỗ trợ tự học Toán 12 155
Bảng 3.8 Ý kiến của GV về khả năng hỗ trợ quá trình dạy của GV và tự học của HS với hệ thống M-learning Toán 12 156
Bảng 3.9 Ý kiến của HS về hệ thống M-learning Toán 12 157
Biểu đồ: Biểu đồ 3.1 Đa giác đồ về chất lượng học tập của nhóm TN và ĐC 129
Biểu đồ 3.2 Đường biểu diễn tần suất luỹ tích hội tụ lùi sau khi TN vòng 1 131
Biểu đồ 3.3 Đường biểu diễn tần suất luỹ tích hội tụ lùi của nhóm TN và ĐC trong đợt TNSP vòng 2 141
Sơ đồ: Sơ đồ 1.1: Minh họa mô hình tổ chức dạy học bằng M-learning 34
Sơ đồ 1.2: Minh họa thành phần của một hệ thống M-learning 26
Sơ đồ 1.3: Minh họa các đối tượng của một hệ thống M-learning 27
Sơ đồ 1.4: Minh họa mô hình kết nối hạ tầng M-learing 27
Sơ đồ 2.1: Minh họa mô hình của hệ M-learning 78
Sơ đồ 2.2: Các mô đun chính của hệ thống M-learning 78
Sơ đồ 2.3: Minh họa mô hình tổng thể hệ thống M-learning 79
Sơ đồ 2.4: Minh họa mô hình các mô đun của hệ thống M-learning 80
Sơ đồ 2.5 111
Sơ đồ 2.6 112
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Minh họa hình ảnh giao diện của mStudy 47
Hình 1.2 Minh họa giao diện hệ thống ViettelStudy 48
Hình 1.3 Minh họa giao diện hệ thống kiến thức Việt 50
Hình 2.1 81
Hình 2.2 82
Hình 2.3 82
Hình 2.4 84
Hình 2.5 84
Hình 2.6 84
Hình 2.7 85
Hình 2.8 85
Hình 2.9 85
Hình 2.10 86
Hình 2.11 87
Hình 2.12 89
Hình 2.13 89
Hình 2.14 91
Hình 2.15 93
Hình 2.16 94
Hình 2.17 102
Hình 2.18 103
Hình 2.20 107
Hình 2.21 107
Hình 2.19 107
Hình 2.22 108
Hình 2.23 108
Hình 2.24 108
Hình 2.25 110
Hình 2.26 113
Hình 2.27 114
Hình 2.28 116
Hình 2.29 117
Hình 2.30 117
Hình 3.1 127
Hình 3.2 158
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII , Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
về đổi mới căn bản , toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam đã chỉ rõ: Phương pháp dạy và học phải khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều , ghi nhớ máy móc ; phát huy tính tích cực , chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học [1] Theo các chuyên gia giáo dục, quá trình đổi mới PPDH Toán phải tiếp
cận, thực hiện các vấn đề mấu chốt sau:
- Dạy học Toán theo định hướng giải quyết vấn đề để phát huy tính chủ động của học sinh (HS) và cá thể hóa việc học;
- Dạy HS cách học: HS phải biết tự học Toán, biết sử dụng trang thiết
bị hiện đại để tìm kiếm kiến thức, sử dụng các kiến thức khoa học của nhân loại phục vụ nhu cầu của mình…
Năm học 2013-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã nhấn mạnh: Các nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện trong hoặc ngoài giờ lên lớp, ở trong hay ngoài phòng học Ngoài việc tổ chức cho HS thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS
học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường [4]
Ngay từ đầu thế kỷ XXI, vấn đề sử dụng công nghệ thông tin (CNTT)
để công nghệ hoá quá trình dạy học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đã trở thành một xu thế phát triển mạnh
mẽ trên thế giới nhằm góp phần đổi mới nội dung dạy học, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và hình thức tổ chức dạy học Chỉ thị số 58 CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII đã chỉ rõ:
“Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội” [2]
Trang 13Mặt khác, để hội nhập quốc tế, chúng ta cần biết tận dụng những thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT đã nêu rõ: “Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”[3]
Một trong những ứng dụng của CNTT&TT trong GD&ĐT chính là học
tập điện tử: E-learning (electronic learning) Tiếp theo, với sự ra đời và phát
triển của các thiết bị di động có khả năng truy cập Internet đã hình thành phương
thức học tập di động: M-learning (mobile learrning) Ngoài việc cung cấp một
kho tàng kiến thức khổng lồ của nhân loại và tạo cơ hội học tập cho nhiều người
ở các trình độ khác nhau, các hình thức học tập điện tử này còn góp phần tạo ra
sự bình đẳng, dân chủ trong học tập, giúp thực hiện được mục tiêu do tổ chức UNESCO đề ra cho GD&ĐT ở thế kỷ XXI là “học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dạy cho mọi người với mọi trình độ tiếp thu khác nhau”
Điện thoại di động (ĐTDĐ) là một thiết bị điện tử đặc trưng cho kỷ nguyên số Từ khi ra đời nó đã phát triển với tốc độ rất nhanh Theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay Việt Nam có khoảng 156,1 triệu thuê bao điện thoại, trong đó có khoảng 93,3% là thuê bao di động Theo số liệu và dự báo của công ty phân tích thị trường Mediacells thì tại thời điểm tháng 8/2013 Việt Nam có khoảng 17 triệu người sử dụng smartphonne và năm 2014 sẽ tiêu thụ khoảng 17,22 triệu smartphone Mặt khác về số người sử dụng Internet thì Việt Nam là quốc gia đứng ở top 20 trên
thế giới, đứng thứ 8 ở châu Á (nguồn www.vtctelecom.com.vn)
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, ĐTDĐ ngày càng được tích hợp nhiều chức năng, đặc biệt là khả năng kết nối Internet Do vậy, khai thác các tiềm năng học tập thông qua trang web trên ĐTDĐ là một xu hướng rất phù hợp trong điều kiện hiện nay Ở Việt Nam hiện nay, có một
Trang 14số công ty đã thiết kế các trang web trên ĐTDĐ với mục đích đưa tin tức, thông tin quảng cáo tới người sử dụng web Tuy nhiên, việc sử dụng ĐTDĐ trong việc hỗ trợ HS học tập thì chưa có nghiên cứu nào đề cập đến một cách hệ thống và đầy đủ
Các kết quả nghiên cứu về lý luận dạy học đã chỉ rõ: Nhu cầu tự học Toán gắn liền với quá trình học tập của HS, đặc biệt đối với HS lớp 12, đứng trước kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng thì nhiệm
vụ học tập, trong đó có tự học càng trở nên cấp bách và đặc biệt quan trọng đối với mỗi HS Muốn đạt được mục tiêu học tập, ngoài các hình thức học tập trên lớp học truyền thống, HS không thể không thực hiện việc tự học Như vậy, việc xác định những biện pháp sư phạm hỗ trợ HS tự học một cách chủ động, có hiệu quả có một ý nghĩa lớn, không chỉ đối với bản thân HS mà còn
có tác động tích cực đối với xã hội
Như vậy, việc nghiên cứu khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ vào dạy học nói chung, tự học nói riêng mang tính thời sự và cần thiết Xuất phát
từ những lí do trên, đề tài nghiên cứu được chọn là: “Khai thác một số ứng
dụng trên điện thoại di động hỗ trợ học sinh lớp 12 THPT tự học Toán”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định rõ định hướng thiết kế, biên tập và xây dựng một hệ thống học liệu điện tử (HLĐT) với nội dung kiến thức môn Toán lớp 12 và đề xuất các phương án khai thác HLĐT qua việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ nhằm hỗ trợ HS lớp 12 THPT tự học Toán
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán ở lớp 12 THPT với
sự hỗ trợ của CNTT&TT
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ
HS lớp 12 THPT tự học môn Toán
Trang 153.3 Phạm vi nghiên cứu: Việc khai thác các ứng dụng trên ĐTDĐ trong dạy
học là rất rộng Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ tập trung vào việc thiết kế, biên tập HLĐT với nội dung kiến thức môn Toán 12 và khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ để hỗ trợ HS lớp 12 tự học với nguồn HLĐT nói trên
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế, biên tập được hệ thống HLĐT môn Toán lớp 12 theo hướng phân hóa, có tính tương tác, phù hợp với các thiết bị di động và đề xuất được các hướng dẫn sư phạm khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ trong việc tự học của HS thì sẽ làm phong phú thêm môi trường tự học, góp phần nâng cao chất lượng tự học môn Toán cho HS lớp 12 THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học, xu hướng và kết quả khai thác ĐTDĐ trong dạy học trên thế giới và ở Việt Nam
(2) Điều tra, khảo sát thực trạng khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS lớp 12 tự học Toán hiện nay
(3) Thiết kế, biên tập hệ thống HLĐT Toán 12 có tính phân hóa, tính tương tác, cấu trúc, cách thức sử dụng phù hợp nhằm hỗ trợ HS lớp 12 tự học Toán thông qua ĐTDĐ
(4) Đề xuất các phương án khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ khai thác hệ thống HLĐT hỗ trợ HS lớp 12 tự học Toán
(5) Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả của các phương án do luận án đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
NCS thực hiện việc nghiên cứu về lý luận và PPDH môn Toán, tập trung vào vấn đề tự học, đồng thời nghiên cứu việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học Toán, tập trung vào nghiên cứu việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS tự học
Trang 166.2 Phương pháp quan sát, điều tra
NCS thiết kế và phát phiếu điều tra đối với GV và HS để tìm hiểu tình hình khai thác ĐTDĐ trong quá trình học tập môn Toán ở trường THPT sau
đó tiến hành điều tra, quan sát thu thập ý kiến về tác động việc khai thác ĐTDĐ trong tự học Toán
6.3 Phương pháp chuyên gia
NCS xin ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục học, CNTT, các
GV dạy học Toán về việc dạy học Toán với sự hỗ trợ của CNTT&TT
6.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
NCS theo dõi, phân tích và đánh giá kết quả tự học của một số HS tham gia thực nghiệm sư phạm để thấy rõ tác động của các tác động sư phạm đối
với các đối tượng HS yếu, trung bình, khá và giỏi
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
NCS tổ chức thực nghiệm có đối chứng ở một số trường THPT trên địa
bàn thành phố, nông thôn và miền núi
7 Những luận điểm đưa ra bảo vệ
(1) Việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS lớp 12 tự học Toán là khả thi
(2) Có thể thiết kế, biên tập HLĐT thích hợp nhằm hỗ trợ HS lớp 12 THPT tự học Toán với sự hỗ trợ của ĐTDĐ phù hợp với lý luận và thực tiễn dạy học Toán ở Việt Nam
(3) Phương án khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS lớp 12
tự học môn Toán là có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng tự học
8 Đóng góp của luận án
8.1 Đóng góp của luận án về mặt lí luận
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS tự học Toán
Trang 17(2) Đề xuất phương hướng cho việc thiết kế, biên tập HLĐT nhằm hỗ trợ
HS lớp 12 tự học Toán thông qua việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ (3) Đề xuất các phương án tổ chức cho HS lớp 12 tự học Toán trên cơ
sở khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ
8.2 Đóng góp của luận án về mặt thực tiễn
(1) Làm rõ các yếu tố thực tiễn qua kết quả điều tra, phân tích việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS lớp 12 tự học Toán tại một số trường THPT
(2) Luận án bổ sung thêm nguồn HLĐT giúp HS lớp 12 tự học môn Toán (3) Luận án bước đầu giúp khẳng định tính khả thi và hiệu quả việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS lớp 12 tự học Toán
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ học sinh lớp
12 tự học Toán
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 18
sự đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay: PPDH cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích
cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu [17]
Điều 5, chương I, Luật Giáo dục (2005) đã ghi rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông cần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [20]
Theo Nguyễn Bá Kim [17], điều căn bản của PPDH là khai thác những hoạt động tiềm ẩn trong mỗi nội dung dạy học để đạt được mục tiêu dạy học Quan điểm này đã thể hiện rõ mối liên hệ hữu cơ giữa mục tiêu, nội dung và PPDH và phù hợp với luận điểm cơ bản của giáo dục học là con người phát triển trong HĐ và học tập diễn ra trong HĐ Những đặc trưng cơ bản của những PPDH theo định hướng HĐ bao hàm: Người học là chủ thể HĐ học tập hoặc hợp tác; Kiến thức được cài đặt trong những tình huống có dụng
ý sư phạm; Dạy việc học và dạy tự học; Dạy đánh giá và tự đánh giá thông qua toàn bộ quá trình dạy học; Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học để tiếp nối và gia tăng sức mạnh của con người; Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân người học; Xác định vai trò mới của người Thầy với tư cách người thiết kế, gợi động cơ, điều khiển và chốt kiến thức
Trang 19Định hướng trên đã được các chuyên gia giáo dục Nguyễn Hữu Châu [6], Thái Duy Tuyên ([32], [34]), Trần Kiều ([14], [16]), Trần Bá Hoành [9], Nguyễn Bá Kim [17] cụ thể hóa, chỉ rõ các biện pháp cụ thể để đổi mới PPDH là:
Dạy học thông qua việc tổ chức các HĐ có ý đồ sư phạm để HS khám phá, phát hiện, tiếp cận và chiếm lĩnh những tri thức mới (đối với bản thân HS)
Chú trọng truyền đạt và tăng cường rèn luyện cho HS những tri thức phương pháp, đặc biệt là hướng dẫn HS cách nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo để bổ sung, hệ thống hóa và hoàn thiện kiến thức
Phối hợp các PPDH, khai thác các kỹ thuật dạy học một cách hợp lý nhằm tạo ra môi trường thuận lợi để HS thể hiện năng lực bản thân trong quá trình tham gia các HĐ
Kết hợp giữa đổi mới PPDH với đổi mới kiểm tra, đánh giá…
Thực tế thực hiện đổi mới PPDH cho thấy GV cần tạo điều kiện, hướng dẫn HS rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu SGK và tài liệu tham khảo, bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ; xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý, phù hợp với các đối tượng, giúp HS vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, khắc phục việc ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản chất Trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy học, giáo dục, GV cần coi trọng việc quan sát và hướng dẫn HS tự quan sát các hoạt động và kết quả hoạt động học tập, rèn luyện của các em; nhận xét định tính và định lượng các hoạt động về kết quả hoạt động, qua đó đề xuất hoặc triển khai kịp thời các hướng dẫn, góp ý, điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS
1.2 Vấn đề tự học
1.2.1 Quan niệm về tự học
Khái niệm tự học đã được nhiều học giả và những nhà nghiên cứu giáo dục định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau Quan niệm về tự học cũng được
Trang 20nhiều chuyên gia giáo dục như Vũ Văn Tảo, Lê Khánh Bằng, Phan Trọng Luận, Nguyễn Công Triêm, Đặng Thành Hưng, Bùi Văn Nghị đề cập Theo Nguyễn Cảnh Toàn ([28], [29]), tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình
Theo Nguyễn Kỳ [18], tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào
vị trí người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho bản thân: Nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, hình thành và xây dựng giải pháp giải quyết vấn đề tự học phụ thuộc vào quá trình cá nhân hóa việc học
Phân tích quan niệm về tự học của các chuyên gia cho thấy:
- Tự học là quá trình tích lũy thay đổi kinh nghiệm của cá thể bởi chính
HĐ tương tác của cá thể với các nhân tố môi trường Tự học là học ở trình độ độc lập, tự giác, chủ động
- Bản chất của tự học là quá trình người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các HĐ học tập để thực hiện
có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập
- Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm Người học hoàn toàn làm chủ mình, tận dụng mợi cơ hội để học tập
- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, một kết luận khác
- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và
có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [28]
Trang 21Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ cho rằng chất lượng đào tạo sẽ đạt hiệu quả cao khi dạy học (ngoại lực) cộng hưởng với tự học (nội lực) [28] Như vậy người học sẽ phát huy được tính tích cực cao nhất nếu như có tác động của thầy
“cộng hưởng” với năng lực tự học của trò, tức là quá trình dạy học phải đảm bảo được sự thống nhất giữa tính “vừa sức” và yêu cầu “phát triển”
Giữa dạy và học có mối quan hệ biện chứng với nhau, thực chất đó là mối quan hệ giữa ngoại lực và nội lực, trong đó năng lực tự học chính là nội lực để phát triển bản thân người học, còn ngoại lực đó là sự tác động của môi trường, mà môi trường là GV, xã hội, lớp học… tức ngoại lực đóng vai trò đến sự phát triển của người học
Theo quy luật khách quan, nội lực bao giờ cũng là yếu tố giữ vai trò quyết định đến sự phát triển của sự vật hiện tượng Điều này không có nghĩa
là ta phủ nhận vai trò của ngoại lực, ngoại lực đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển, nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật hiện tượng và trong dạy học cũng vậy để phát huy được tính tích cực của người học thì người thầy phải biết tác động và tạo ra môi trường hay tình huống nhằm kích thích người học
Bước 4: Tự kiểm tra việc thực hiện kế hoạch
Từ các kết quả tự học của HS sẽ nảy sinh các động cơ tự học mới làm khởi đầu cho hoạt động tự học tiếp theo Như vậy, quá trình tự học gồm nhiều quá trình đồng hóa và điều ứng kế tiếp nhau
Trang 22Để đúc kết kinh nghiệm trong việc học, người học đánh giá mình đã đạt được những mục tiêu đã đề ra ban đầu chưa và phương pháp thực hiện hiệu quả không để qua đó họ tự điều chỉnh việc hoạch định và thực hiện kế hoạch học tập của mình Vì thế, tự học có liên quan chặt chẽ với việc học thông qua
HĐ phân tích hành động Như vậy, ta có thể thấy rằng tự học sẽ phát huy năng lực độc lập học tập của người học
Hoạt động tự học có một số đặc trưng nổi bật:
Tính độc lập cao;
Động cơ tự học có tính chất nội sinh;
Có khả năng lựa chọn cao cả về nội dung, phương pháp, hình thức tự học;
Phương pháp tự học mang tính cá nhân rất cao [28]
Trong tự học, vai trò người học được thể hiện ở việc:
Tự quyết định lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các nội dung tự học;
Tự lựa chọn các hình thức, phương pháp tự học;
Tự lựa chọn phương thức đánh giá quá trình tự học của bản thân để từ
đó điều chỉnh tiến trình học tập với ý thức trách nhiệm cao;
Như vậy, để việc tự học đạt được mục đích, GV có các biện pháp phù hợp để HS tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, tham gia các HĐ học tập và chủ động xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình tự học của cá nhân với ý thức trách nhiệm cao
1.2.3 Vai trò của tự học
Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường [28]… đã nêu rõ vai trò của tự học với tư cách là nội lực Học về cơ bản là tự học, nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người học Nội lực của người học bao gồm các yếu tố: nền tảng học vấn; mục đích, động cơ, nhu cầu học, ý chí, nghị lực học tập; cách học hiệu quả; khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng; tận dụng những thuận lợi, khó khăn để tự học tốt
Trang 23Ngoại lực của người học là toàn bộ các yếu tố của các cơ chế, môi trường, điều kiện, phương tiện… có liên quan đến tự học
Ngoại lực là quá trình những chuyển đổi bên ngoài, nội lực là quá trình những chuyển đổi bên trong của người học, hai quá trình này thống nhất và đối lập nhau tạo nên sự phát triển của tự học
Năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt động và giao lưu của con người Định hướng góp phần nâng cao chất lượng dạy học là: học bằng hoạt động tự học, tự nghiên cứu của người học; thông qua hoạt động tự lực để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và thái độ cho người học
Hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI trong báo cáo “Học tập, một kho báu tiềm ẩn” (1996) gửi UNESCO, khẳng định: Học suốt đời là một trong những chìa khoá nhằm vượt qua những thách thức của thế kỷ XXI, với đề nghị gắn nó với 4 trụ cột giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người, hướng về xây dựng một xã hội học tập Quan niệm mới “học tập suốt đời: một động lực xã hội” sẽ giúp con người đáp ứng những yêu cầu thế giới thay đổi nhanh chóng Điều này thể hiện những đòi hỏi chẳng những có thật mà còn đang ngày càng mãnh liệt hơn Không thể thỏa mãn những đòi hỏi đó được nếu mỗi con người không học cách học Học cách học chính là học cách tự học Vậy, tự học là một trong những yếu tố quyết định chất lượng dạy học
1.2.4 Các cấp độ tự học
Theo Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường [28],
có thể phân chia hoạt động tự học theo hai cấp độ: Cấp độ thấp và cấp độ cao Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, với cách tiếp cận cấp độ tự học theo tiêu chí xét về mức độ can thiệp của yếu tố "ngoại lực" trong quá trình tự học, luận án hiểu các cấp độ tự học một cách cụ thể như sau:
Trang 24- Cấp độ thấp: Việc tự học của HS cần đến khá nhiều sự hỗ trợ và chịu
sự can thiệp rõ rệt của yếu tố "ngoại lực", chẳng hạn GV tạo động cơ tự học cho HS, GV xác định mục tiêu, nội dung tự học cho HS, GV hỗ trợ HS lựa chọn phương pháp, hình thức tự học, GV là người giám sát, đánh giá kết quả
tự học của HS Như vậy việc học cá nhân được sự giúp đỡ hướng dẫn của
GV và tăng cường thêm một số yếu tố của công nghệ dạy học hiện đại
- Cấp độ cao: HS thể hiện rõ tính chủ động, độc lập trong một số khâu hoặc toàn bộ các khâu trong quá trình tự học HS không nhất thiết phải đến trường, không cần sự hướng dẫn trực tiếp của nội dung động học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra, đánh giá, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm rất cao
1.2.5 Hình thức tự học
Theo Nguyễn Cảnh Toàn [29], có các hình thức tự học chính sau:
Hình thức tự học trực tiếp: GV và HS mặt giáp mặt tương tác trực tiếp:
GV giúp HS chiếm lĩnh kiến thức, giáo dục cho HS những phẩm chất cần có để thắng các lực cản trong quá trình học Đối với hình thức này, việc
tự học của HS diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV với sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học trên lớp Việc tự học của HS chịu sự định hướng và điều khiển của GV nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã được xác định từ trước Lúc này việc tự học của HS có đủ GV, HS, SGK, tài liệu… trong môi trường là các lớp học truyền thống Thuận lợi của hình thức này là khi HS gặp điều gì không hiểu thì có thể hỏi ngay để GV giúp đỡ
Hình thức tự học gián tiếp: Không có GV bên cạnh HS:
Trong hình thức này, HS tự học với nguồn học liệu mà mình có được như SGK, SBT, sách tham khảo, băng ghi âm, ghi hình bài giảng Việc tự học sẽ đòi hỏi HS phải thực sự làm việc độc lập, tự mình vượt khó Ngày nay với sự hỗ trợ của CNTT & TT và các nguồn HLĐT nên hình thức tự học này
Trang 25ngày càng phát triển và hiệu quả hơn vì CNTT&TT đã tạo ra môi trường cho phép tích hợp việc tự học của cá nhân HS với tự học có tương tác với bạn học,
GV từ xa qua mạng Internet
1.2.6 Tổ chức hoạt động tự học
Có nhiều quan niệm về tổ chức hoạt động tự học Qua nghiên cứu các tài liệu [28], [29], [30], [32] chúng tôi thấy tổ chức hoạt động tự học là sự sắp xếp các thao tác, các hoạt động dạy học với hoạt động tự học Với quan điểm này tổ chức hoạt động tự học cho HS là quá trình thiết kế, sắp xếp các biện pháp tổ chức giảng dạy của GV nhằm tiến hành hướng dẫn điều khiển, chỉ đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp các biện pháp tự học, tự nghiên cứu của
HS, giúp HS phát huy tới mức cao nhất năng lực tự học, tự nghiên cứu của mình, thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ học tập Bản chất của việc tổ chức hoạt động tự học cho HS là sắp xếp và tiến hành các biện pháp dạy học sao cho phát huy được tính tích cực, tính tự giác của HS ở mức độ cao nhất Như vậy, tổ chức hoạt động tự học là quá trình tiến hành các biện pháp nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức ở trên lớp,
ở nhà và trong các hoạt động thực hành, ngoại khoá
Như vậy, ở tự học cấp độ cao, việc tổ chức hoạt động tự học có thể do
HS đóng vai trò chủ đạo hoặc độc lập hoàn toàn Trong trường hợp để đạt được mục đích phát triển năng lực tự học cho HS, người GV sẽ trực tiếp tổ chức hoạt động tự học hoặc ủy thác cho HS tham gia một phần
Theo chúng tôi hoạt động tự học của HS mang tính cá nhân cao Hiệu qủa tự học phụ thuộc vào các yếu tố nội lực đồng thời cũng chịu sự tác động của yếu tố môi trường tự học, cụ thể:
- Nguồn học liệu dành cho tự học (sách in, tài liệu điện tử);
- Điều kiện cơ sở vật chất như thư viện, mạng, máy tính;
- Điều kiện tương tác giữa HS với HS và HS với GV
Trang 261.2.7 Năng lực tự học Toán
Năng lực là một thuộc tính quan trọng của nhân cách Hiện nay, khái niệm năng lực được các nhà tâm lý học đưa ra theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau
Theo từ điển tiếng Việt, năng lực là sản phẩm tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao
Theo Phạm Minh Hạc [7], năng lực là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy
Theo Đặng Thành Hưng [12], năng lực được cấu thành từ những thành
tố cơ bản: Tri thức về hoạt động hay quan hệ đó; Kỹ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến ứng xử với quan hệ nào đó; Những điều kiện tâm lý để tổ chức
và thực hiện tri thức kỹ năng nào đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng
Ta thấy các quan niệm trên đều có một điểm chung đó là: Năng lực là khả năng thực hiện một loại hoạt động nhất định nào đó của con người và năng lực được hình thành, phát triển và có thể quan sát được trong quá trình con người giải quyết các yêu cầu đặt ra
Với cách quan niệm như trên thì ta có thể quan niệm năng lực tự học là những thuộc tính tâm lý đảm bảo thành công cho việc tự học của mỗi cá nhân Theo các chuyên gia, năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác [19]
Trên cơ sở hệ thống hóa các tài liệu, Phạm Đình Khương [13] đã đưa ra cấu trúc của năng lực tự học Toán bao gồm các thành phần:
Trang 27 Năng lực nhận thức Toán học
Năng lực tiến hành các hoạt động tự học trong môn Toán
Năng lực tự quản lý hoạt động tự học
Trong đó năng lực tự học Toán là điều kiện tâm lý để hoạt động tự học Toán diễn ra Nếu HS không có năng lực tự học Toán thì không thể có hoạt động tự học Toán Tuy nhiên, nếu chỉ có năng lực tự học Toán mà thiếu các yếu tố khác như động cơ, mục đích, ý chí, hứng thú tự học thì hoạt động
tự học Toán sẽ không diễn ra hoặc có diễn ra nhưng không đạt được hiệu quả mong muốn
Như vậy, năng lực tự học Toán không chỉ là điều kiện tâm lý để có hoạt động tự học Toán mà còn là mục đích của hoạt động tự học Toán Điều cần lưu ý là năng lực tự học Toán được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động tự học Toán
Trong năng lực tự học toán của HS THPT, ta thấy có những thành phần chính là những kỹ năng cụ thể trong quá trình tự học như: Kỹ năng nghe giảng; kỹ năng đưa ra các câu hỏi; kỹ năng trả lời các câu hỏi; kỹ năng nghiên cứu, làm việc với SGK, tài liệu học tập; kỹ năng khai thác thông tin trên mạng; kỹ năng tương tác với GV và các bạn HS; kỹ năng vận dụng tri thức và kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình tự học Toán vào học tập và thực tiễn Năng lực tự học của HS cũng bao gồm những kỹ năng không biểu hiện một cách trực quan như: Kỹ năng xác định nhu cầu, mục đích, động cơ tự học; kỹ năng thực hiện các hoạt động trí tuệ; kỹ năng thu nhận và xử lý, lưu trữ và sử dụng lại thông tin; kỹ năng xây dựng, thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc tự học [13]
Thực tế tổ chức hoạt động tự học Toán cho thấy: kết quả tự học phụ thuộc vào năng lực tự học của mỗi HS Để hoạt động tự học của HS đạt được mục đích, GV cần chú trọng bồi dưỡng phát triển năng lực tự học cho HS, chẳng hạn
có thể sử dụng đồng bộ các biện pháp sư phạm sau: Động cơ hóa hoạt động học
Trang 28tập của HS; phát triển các kỹ năng, thao tác và hoạt động trí tuệ phù hợp với năng lực tự học Toán của HS; rèn luyện những kỹ năng học tập cơ bản phù hợp với nhiệm vụ tự học của HS; tổ chức hoạt động tự học hợp lý [13]
Để việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS tự học Toán đạt được mục đích, yêu cầu thì năng lực tự học Toán của HS là một trong những tác nhân quan trọng Kết quả nghiên cứu về năng lực tự học Toán sẽ là một trong những cơ sở để đề tài xác định các nguyên tắc, biện pháp sư phạm cho việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ hỗ trợ HS tự học Toán
1.2.8 Vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học Toán cho học sinh
Theo Nguyễn Cảnh Toàn [28], Thái Duy Tuyên [32] để bồi dưỡng năng lực tự học Toán cho HS, GV có thể thực hiện các biện pháp sau:
(1) Khuyến khích HS chủ động trong việc xây dựng kế hoạch tự học:
GV yêu cầu HS đối chiếu vốn kiến thức, kỹ năng mà bản thân đã tích lũy được với chuẩn kiến thức kỹ năng môn Toán để từ đó HS tự xác định mục tiêu cũng như nhiệm vụ tự học một cách cụ thể cho bản thân Tiếp theo căn cứ vào quỹ thời gian và khả năng của bản thân, HS sẽ xây dựng kế hoạch tự học một cách phù hợp
(2) Đánh giá cao kết quả làm việc độc lập của HS: Năng lực làm việc độc lập của HS trong quá trình tự học được thể hiện qua nhiều góc độ, ví dụ:
HS mở hướng dẫn và cố gắng hoàn thành bài tập; HS chỉ xem lời giải hoặc
“cầu cứu” sự giúp đỡ của GV và các bạn sau khi đã cố gắng hết sức HS không phụ thuộc một cách máy móc vào cách giải quyết vấn đề được giới thiệu trong HLĐT Thực tế cho thấy, khi HS độc lập tự học thì thường có xu hướng mong muốn được kiểm tra kết quả, cách giải quyết vấn đề của mình là chính xác hay không? Trong giờ giảng, GV cần khuyến khích HS đưa ra nhận xét kết quả của mình và đánh giá cao cả về ý thức lẫn kết quả tự học của HS trước lớp để tăng thêm động lực tự học cho HS
Trang 29(3) Yêu cầu HS phải thực hiện các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh: GV cần cài đặt trong nhiệm vụ tự học Toán các yêu cầu đòi hỏi HS khi làm việc phải thực hiện các hoạt động tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh Mặt khác, do HS được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác nhau nên HS phải thực hiện việc so sánh, tổng hợp để lựa chọn được các cách giải quyết vấn đề một cách hợp lý nhất
(4) Yêu cầu HS thường xuyên đánh giá sự tiến bộ của bản thân: Ngoài đánh giá của GV, HS cần phải thường xuyên thực hiện việc tự đánh giá kết quả tự học của mình một cách tự giác bằng các hình thức:
- Thực hiện các bài tập, đề kiểm tra;
- Sau khi hoàn thành các bài tập có trợ giúp, HS phải tiếp tục giải quyết các bài tập trong SGK, SBT để tự kiểm tra thực chất việc nắm và vận dụng kiến thức vào giải bài tập của mình
(5) Khuyến khích HS tranh luận và trình bày quan điểm của mình: Ngoài hình thức tổ chức cho HS tranh luận, trình bày quan điểm cá nhân trên
cơ sở kết quả tự học trong các giờ lên lớp, GV cần khuyến khích HS tham gia tranh luận, bảo vệ quan điểm của mình
1.3 Tự học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông
1.3.1 Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông đến tự học của học sinh
Việc khai thác CNTT&TT sẽ tạo ra những yếu tố mới tác động tích cực đến việc tự học của HS như:
(i) Bên cạnh việc tiếp nhận kiến thức từ GV, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo thì HS còn có thể tiếp cận với kiến thức, với thế giới khách quan qua “sách giáo khoa điện tử”, CD-ROM, Internet
(ii) Các phần mềm dạy học (PMDH) sẽ trợ giúp, khuyến khích một cách kịp thời tại các thời điểm cần thiết không chỉ trong các giờ học tại trường
mà cả trong thời gian tự học ở nhà, giúp HS hoàn thành nhiệm vụ chiếm lĩnh kiến thức và có điều kiện phát triển tối đa năng lực của bản thân Mặt khác, việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mỗi HS không làm ảnh hưởng tới các HS
Trang 30khác, những HS hoàn thành sớm nhiệm vụ học tập có thể tiếp tục tiếp cận với các nội dung mới, nhiệm vụ mới để phát huy hết khả năng của bản thân (iii) Các PMDH tạo ra một môi trường thuận lợi, một thế giới sinh động thu nhỏ để kích thích trí tò mò, gợi nhu cầu tìm hiểu, khám phá giúp
HS chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức
(iv) HS chủ động lên kế hoạch, triển khai việc tự học của mình tại bất
kỳ thời điểm nào mà bản thân có nhu cầu nhờ các chương trình hướng dẫn trên MTĐT hoặc các chương trình dạy học từ xa qua mạng
(v) Song song với việc khai thác CNTT&TT nhằm “cá nhân hoá” việc học tập của mỗi HS, việc tổ chức các nhóm HS cùng sử dụng mạng trong hoạt động nhóm và tương tác với các nhóm khác đã góp phần hình thành và phát triển năng lực lập kế hoạch, hoạt động hợp tác cho HS
(vi) HS có thể sử dụng PMDH để biểu diễn các mô hình, biểu đồ, hình
vẽ, thí nghiệm ảo một cách trực quan, sinh động Chỉ với một vài thao tác đơn giản là có được hình ảnh về đối tượng nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, hoặc có thể thay đổi một vài yếu tố của đối tượng để nghiên cứu các thành phần còn lại từ đó phát hiện ra các mối quan hệ, tính chất của chúng Theo chúng tôi: CNTT&TT đã làm cho quá trình dạy học không còn bị ràng buộc bởi không gian và thời gian HS có thể học ở mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời Việc học tập trở nên uyển chuyển, linh hoạt, căn cứ vào nhu cầu của HS HS được phép lựa chọn những phương thức học tập có hiệu quả, lựa chọn nội dung bài giảng và các tài liệu có liên quan phù hợp với năng lực bản thân HS chủ động trao đổi và khai thác các thông tin trên Internet nhằm đáp ứng nhu cầu về kiến thức liên quan đến nội dung học tập của mình CNTT&TT cũng đã tạo ra một môi trường tương tác để người học hoạt động
và thích nghi trong môi trường đó Như vậy, CNTT&TT tạo điều kiện cho người học độc lập với mức độ cao và hỗ trợ cho người học vươn lên trong quá trình học tập
Trang 311.3.2 Khai thác công nghệ thông tin và truyền thông trong tự học
Khai thác công nghệ thông tin và truyền thông trong hình thức tự học
có hướng dẫn trực tiếp của giáo viên
Trong môi trường dạy học truyền thống, tự học có hướng dẫn trực tiếp của GV được hiểu là trong quá trình HS tự học luôn có GV ở bên cạnh để đưa
ra các hỗ trợ khi cần thiết Như vậy, GV chỉ có thể hướng dẫn trực tiếp HS qua các giờ lên lớp Tuy nhiên, thời lượng dành cho lên lớp của GV chủ yếu
để giảng giải kiến thức mới nên rất khó để dành ra một thời lượng cho việc hướng dẫn HS tự học trong các giờ chính khóa
Trong điều kiện có sự hỗ trợ của CNTT&TT, khái niệm tự học có hướng dẫn trực tiếp được mở rộng Hình thức tự học có hướng dẫn trực tiếp là hình thức học tập, trong đó HS nhận được sự hỗ trợ trực tiếp của GV trên lớp học hay được thực hiện qua mạng Internet (lớp học ảo) CNTT&TT sẽ giúp GV
“mở rộng thời gian, không gian” hướng dẫn HS tự học dưới nhiều hình thức.Như vậy, mọi khó khăn của HS đều nhận được sự hướng dẫn trực tiếp của GV một cách kịp thời và chắc chắn HS sẽ có nhiều cơ hội hơn để hoàn thành nhiệm
ra mọi sự chỉ dẫn nên HS có thể gặp khó khăn và HS bắt buộc phải đợi một thời gian để gửi những khó khăn đến GV và cũng phải tiếp tục đợi cho đến khi nhận được thông tin hỗ trợ từ GV Như vậy, quá trình tự học của HS có nguy cơ không thể diễn ra liên tục theo kế hoạch đã dự định
Trang 32Để kịp thời hỗ trợ HS trong việc tự học ở hình thức này, chúng ta hoàn toàn có thể khai thác CNTT&TT để tạo ra một “GV ảo” luôn ở bên cạnh HS Người GV “ảo” sẽ ngay lập tức đưa ra sự hỗ trợ để HS vượt qua các trở ngại tiếp tục tự học bằng các biện pháp cụ thể sau:
(i) Thiết kế các HLĐT có tương tác để cài đặt nhiệm vụ và dự kiến trước các hướng dẫn để HS hoàn thành nhiệm vụ tự học cũng như các câu hỏi dạng trắc nghiệm để kiểm tra kết quả tự học của HS Ta có thể hình dung nội dung kiến thức HS cần chiếm lĩnh được cấu trúc dưới dạng lặp không biết trước số lần Nội dung tự học được thiết kế thành các nhiệm vụ cụ thể Chỉ khi nào HS hoàn thành nhiệm vụ đang thực hiện thì tài liệu mới mở ra nhiệm
vụ mới Với mỗi nhiệm vụ tự học tùy vào sai lầm của HS, tài liệu sẽ đưa ra các hướng dẫn tương ứng
(ii) Yêu cầu HS truy cập vào website nhận nhiệm vụ, nghiên cứu tài liệu và trả lời các câu hỏi Trong quá trình tự học, HS sẽ tương tác với HLĐT
để nhận nhiệm vụ, khẳng định kết quả tự học cũng như nhận được các thông tin hỗ trợ để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ tự học
(iii) Khai thác công nghệ web, khả năng tương tác để các HLĐT ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra
và đánh giá kết quả
(iv) Thông qua trang web, GV thu nhận thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS sau quá trình tự học và sẽ giúp đỡ điều chỉnh nhịp độ học tập của HS cho phù hợp với năng lực của HS, dẫn dắt HS tự học từ thấp lên cao,
tự học từng phần cho đến tự học phần lớn nội dung
(v) Với sự hỗ trợ của CNTT&TT, ta không chỉ tạo ra một GV “ảo” thay mặt người GV hỗ trợ cho HS một phần nào trong quá trình tự học mà người
GV “ảo” này còn có thể tạo ra sự khác biệt với người GV trên lớp học ở chỗ
có thể “nhân bản” thành nhiều GV “ảo” và cùng một thời điểm sẽ đưa ra các
sự trợ giúp khác nhau hỗ trợ cùng một lúc nhiều HS
Trang 33 Khai thác công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động tự học độc lập của HS
Đây là hình thức HS tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sự hướng dẫn của GV Hình thức này gần với việc tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quả của quá trình tự học này đi đến sự sáng tạo và tri thức khoa học mới (đối với HS tại thời điểm đó), dạng tự học này đòi hỏi
HS có một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải
có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu
Ta sẽ phân tích rõ vai trò của CNTT&TT trong hình thức tự học này
- CNTT&TT làm nảy sinh động cơ tự học của HS: Internet sẽ đưa HS
vào siêu xa lộ thông tin, trong vô vàn vấn đề sẽ có những vấn đề gây được sự chú ý của HS, hoặc khi HS truy cập các diễn đàn, sẽ đọc được những thắc mắc, những kết quả của các HS khác đưa lên diễn đàn… dẫn đến việc nảy
sinh động cơ muốn tìm hiểu, làm sáng tỏ vấn đề
- CNTT&TT cung cấp các thông tin để giúp HS rút ra kết luận cho bản thân mình: Đứng trước một vấn đề, HS hoàn toàn tìm được các thông tin liên
quan Việc nghiên cứu các thông tin này sẽ từng bước giúp HS tích lũy kiến thức và giải quyết thỏa đáng nhiệm vụ tự học mà HS đã tự đặt ra cho mình
- CNTT&TT giúp HS chia sẻ, kiểm chứng kết quả tự học của mình:
Trước hết trong quá trình tìm tòi, khám phá kiến thức, HS có thể đưa vấn đề mình đang nghiên cứu lên các diễn đàn để chia sẻ và nhận được các thông tin
hỗ trợ từ các HS khác Tiếp theo HS đưa kết quả, nhận định của mình lên diễn đàn để nhờ mọi người cùng kiểm chứng Trong hình thức tự học này, nguồn tri thức nhân loại trên Internet chính là người GV “ảo” hướng dẫn HS tự học Với sự hỗ trợ của CNTT&TT, các hình thức tự học truyền thống có yếu tố mới:
- Bổ sung thêm đối tượng GV “ảo” Mặc dù CNTT&TT không thể thay thế vai trò người GV nhưng nó cũng có thể đảm nhiệm vai trò người GV tại một số thời điểm để cùng hỗ trợ, kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của HS
Trang 34- Mở rộng phạm vi lớp học Bên cạnh các lớp truyền thống sẽ có các lớp học “ảo” với quy mô HS không hạn chế
- Mở rộng khái niệm trực tiếp từ “mặt đối mặt trên lớp học” thành GV
và HS tương tác với nhau trên lớp lớp học truyền thống hoặc trên các lớp học
ảo qua mạng Internet
Theo chúng tôi, các yếu tố trên đều là các yếu tố có tác động tích cực đến quá trình tự học của HS nếu chúng ta biết khai thác chúng hợp lý và chú trọng bồi dưỡng cho HS các khả năng sau:
(1) Chủ động, độc lập trong việc xác định mục đích, chương trình, nội dung tự học;
(2) Nắm được phương pháp tìm kiếm tư liệu, tương tác với GV, tương tác với bạn bè, tự đánh giá trong môi trường CNTT&TT
(3) Biết tận dụng các cơ hội việc tự học có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi
và tận dụng tối đa khả năng hỗ trợ của CNTT&TT để tiếp cận với nguồn HLĐT và tương tác với GV, bạn bè
1.4 Tổng quan về học tập di động
1.4.1 Khái niệm học tập di động (M-learning)
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm về học tập di động learning) nhưng tập trung theo hai xu hướng chính:
(M-(i) Xu hướng gắn M-learning với việc sử dụng các thiết bị công nghệ: Các quan niệm theo hướng này coi M-learning là việc học tập với sự giúp đỡ của các thiết bị di động Theo xu hướng này có các chuyên gia như Quinn, Sariola, Traxler [66] Theo chúng tôi, quan niệm này chưa thể hiện rõ được yếu tố học mọi lúc, mọi nơi của UNESCO đề xuất cho mô hình giáo dục thế kỷ XXI
(ii) Xu hướng gắn M-learning với tính di động của người học: Theo xu hướng này, M trong thuật ngữ M-learning có thể hiểu là “MY”, nghĩa là
“chính bản thân người học” Việc học tập diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi Vậy, learning nghĩa là hình thức cung cấp dịch vụ học tập cho đối tượng HS di
Trang 35M-động Theo xu hướng này, phải kể đến các chuyên gia như Oloruntoba [45], Rebecca-rjhogue [58]… Theo chúng tôi, quan niệm trên sẽ không đầy đủ vì chỉ quan tâm đến tính di động của người học Chúng ta đều biết, nếu vắng mặt các thiết bị di động thì người học vẫn không thể thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào địa điểm và thời gian tổ chức lớp học nên không thể “di chuyển” theo đúng nghĩa của nó Mặt khác, người học khi tham gia M-learning không nhất thiết cứ phải di chuyển về địa lý
Một trong những điểm chưa tường minh trong hai xu hướng trên đó là vai trò của công nghệ mà chủ yếu là công nghệ mạng không dây
Trên cơ sở phân tích các mô hình, dự án về M-learning trên thế giới,
chúng tôi cho rằng các yếu tố: Công nghệ mạng, thiết bị di động và khả năng chủ động của người học là không thể tách rời trong bởi các lý do sau:
(1) Về công nghệ mạng:
Sự phát triển của công nghệ không dây như wifi, wimax, bluetooth và các hệ thống kết nối viễn thông không dây toàn cầu như: Hệ thống định vị toàn cầu GPS; hệ thống truyền thông toàn cầu GSM; dịch vụ radio theo gói GPRS; thế hệ mạng 3G và 4G; công nghệ đa truy cập CDMA… cùng hệ thống các vệ tinh thu phát sóng trên khắp thế giới đã mang lại nhiều đột phá mang tính cách mạng trong nhiều lĩnh vực của khoa học công nghệ và đời sống, trong xu hướng này, giáo dục đào tạo không thể là một trường hợp ngoại lệ Vậy, công nghệ mạng không dây là nhân tố đảm bảo sự kết nối của người học với GV, lớp học và nguồn học liệu được thực hiện mọi nơi
(2) Về thiết bị di động:
Để việc học được đảm bảo diễn ra mọi lúc, mọi nơi không phụ thuộc vào không gian, thời gian, địa điểm đặt lớp học thì người học phải sử dụng các các thiết bị di động cá nhân Các thiết bị di động cá nhân này là tác nhân chính đảm bảo cho việc cá nhân hóa cao trong học tập và đảm bảo, đáp ứng nhu cầu học mọi lúc, mọi nơi của người học
Trang 36Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung chủ yếu vào việc người học sử dụng điện thoại thông minh smartphone bởi chúng gọn nhẹ,
dễ sử dụng, tương tác tốt, có thể sử dụng bất cứ lúc nào, có giá thành hợp lý
và đang trở thành phổ biến ở Việt Nam (phụ lục 13)
(3) Về khả năng chủ động của người học
Tính chủ động của người học được thể hiện theo hai góc độ Thứ nhất
là người học hoàn toàn có thể học trong quá trình di chuyển Thứ hai người học hoàn toàn chủ động về thời gian, nội dung, thời lượng học tập
Như vậy, ta có thể hiểu M-learning là bước chuyển tiếp của E-learning M-learning tập trung vào khai thác tính chủ động của người học và khả năng tương tác với tài nguyên học tập nhờ công nghệ di động và các thiết bị di động Đây là một hình thức học tập mà bản thân người học có thể thực hiện được việc học tập ở mọi lúc, mọi nơi nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị di động
như ĐTDĐ, máy tính bảng Thậm chí có thể tiến hành một số hoạt động học
tập ngay cả khi không có kết nối wifi hay 3G nhờ khả năng lưu trữ thông tin của các thiết bị di động này và các dịch vụ của nhà cung cấp mạng di động
Theo cách tiếp cận này, chúng tôi cho rằng M-learning chỉ việc học tập, đào tạo mà việc quản lý, chia sẻ các nội dung và sự tương tác được thực hiện nhờ việc sử dụng các thiết bị di động trên nền công nghệ mạng không dây
1.4.2 Thành phần, đối tượng, mô hình kết nối của hệ thống M-learning
Các thành phần chính của hệ thống M-learning bao gồm hệ thống quản
lý học tập và hệ thống quản lý nội dung học tập (sơ đồ 1.1)
Trang 37Dịch vụ từ xa Công cụ cho
giảng viên
Quản lý khóa học
Sơ đồ 1.1: Minh họa thành phần của một hệ thống M-learning
Các đối tượng tham gia hệ thống M-learning bao gồm:
Quản trị hệ thống: Là người có trách nhiệm quản trị hệ thống phần cứng,
phần mềm và các đối tượng sử dụng các dịch vụ của hệ thống (GV, HS)
Giáo viên: Là những người đảm nhận nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức cho
HS tham gia các hoạt động học tập, hỗ trợ trực tuyến hoặc gián tiếp trong suốt quá trình học tập của HS và tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả học tập của
HS Đội ngũ GV không chỉ bao gồm các GV đang trực tiếp tham gia vào các hoạt động giới thiệu nội dung, định hướng trao đổi, giải đáp các thắc mắc của người học mà còn các GV khác đang đóng vai trò cố vấn, nghiên cứu lý luận, PPDH, lập chương trình đào tạo, thiết kế nội dung học liệu, kiểm tra đánh giá Như vậy tại mỗi thời điểm, mỗi HS có thể được nhiều hơn một GV hỗ trợ
Trang 38Người học: Là đối tượng được phép khai thác các dịch vụ mà hệ thống
cho phép và sự trợ giúp, hướng dẫn của GV để hoàn thành nhiệm vụ học tập Như vậy, người học không bó hẹp là những người đang “có mặt” trong một lớp học cụ thể, mà là những người đang “đăng nhập hệ thống” và chia sẻ về nội dung một chủ đề nào đó hoặc cùng tham gia các hoạt động học tập với những bạn học khác theo gợi ý của GV Mặt khác, các bạn học “cùng lớp”
này có thể khác biệt về tuổi tác, dân tộc…(sơ đồ 1.2)
Các phương tiện giao tiếp
Web
Máy tính bảng
Giảng viên
Chuyên viên CNTT
Sơ đồ 1.2: Minh họa các đối tượng của một hệ thống M-learning
Mô hình kết nối hạ tầng trong M-learning (sơ đồ 1.3)
Sơ đồ 1.3: Minh họa mô hình kết nối hạ tầng M-learing
Trang 391.4.3 Quy trình thiết kế hệ thống M-learning
Quy trình thiết kế hệ thống M-learning hoàn toàn tương tự như quy trình thiết kế hệ thống E-learning, cụ thể:
Bước 1: Lập kế hoạch
Việc lập kế hoạch bao gồm các nội dung xác định mục tiêu sư phạm của hệ thống M-learning, xây dựng tiến trình dạy học kiến thức, thu nhập và phân tích thông tin, xác định nội dung và phạm vi của hệ thống M-learning, xác định công nghệ và tính năng tương tác cần thiết để đáp ứng được mục tiêu đề ra Giai đoạn này phải xác định phương pháp sư phạm áp dụng cho hệ thống M-learning, lựa chọn phương tiện phù hợp tự động hóa quá trình dạy học
Bước 2: Thiết kế cấu trúc hệ thống M-learning
Nhiệm vụ của bước này là xác định toàn bộ cấu trúc liên kết giữa các thành phần, cách tổ chức hệ thống M-learning, cấu trúc khóa học trực tuyến phù hợp với phương pháp đã nêu ra, lựa chọn các tương tác cần thiết giúp người sử dụng dễ dàng khai thác, lựa chọn ngôn ngữ cần thiết để thể hiện các tương tác đó, phác thảo thiết kế đồ họa, thiết kế các trang web, phân đoạn thông tin thành các trang riêng lẻ
Bước 3: Xây dựng hệ thống M-learning
Việc xây dựng hệ thống bắt đầu từ việc sử dụng các công cụ xây dựng
hệ thống M-learning đến công việc thiết kế các trang riêng lẻ để thực hiện theo các chiến lược xây dựng hệ thống M-learning đã nêu ra
Bước 4: Thiết kế, biên tập hệ thống học liệu điện tử
Căn cứ vào mục đích và danh mục những khóa học dự kiến, một công việc đặc biệt quan trọng và triển khai việc thiết kế, biên tập hệ thống HLĐT Một hệ thống M-learning chỉ thực sự phát huy được hiệu quả khi có được một
hệ thống HLĐT đáp ứng được nhu cầu người học
Nếu hệ thống HLĐT được thiết kế để dạy tự học thì ngoài các tiêu chí
chung, phải phù hợp với việc tự học của HS (xem thêm mục 2.3)
Trang 40Bước 5: Thiết kế các khóa học trực tuyến
Thiết kế khóa học trực tuyến là việc căn cứ vào nguồn HLĐT của hệ thống và nhu cầu thực tiễn, người quản lý hệ thống kết hợp với GV thiết kế các khóa học với chương trình, nội dung cụ thể để người học lựa chọn, đăng
ký tham gia
Bước 6: Thực nghiệm, đánh giá và ứng dụng hệ thống M-learning
Trong quá trình triển khai thực nghiệm hệ thống M-learning luôn luôn phải thập thông tin phản hồi, số liệu điều tra từ người học để làm căn cứ đánh giá, rút kinh nghiệm, sửa đổi chức năng và nội dung hệ thống M-learning
Lưu ý: Với xu hướng làm rõ vai trò của lý luận và phương pháp dạy tự
học và sự kết nối giữa dạy tự học với việc khai thác một số ứng dụng trên ĐTDĐ nên chúng tôi đã chi tiết hơn việc chuẩn bị học liệu tự học cho HS thành một bước độc lập (bước 4)
Khái niệm HLĐT mới xuất hiện trong thời gian gần đây nên hiện nay chưa có được một định nghĩa chung, thống nhất Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng các quan niệm về HLĐT đều có điểm chung: HLĐT là các tài liệu học tập được số hóa theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định được lưu trữ trên thiết bị nhớ nhằm phục vụ việc dạy và học qua các thiết
bị công nghệ số như MTĐT, ĐTDĐ…