Tìm hiểu công tác chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp Việt Nam
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đến thời điểm này, quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Namdiễn ra một cách mạnh mẽ Bên cạnh nỗi lo cạnh tranh của các doanhnghiệp, nông dân nước ta cũng đang đứng trước một thách thức không nhỏ.Nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng nông sản hàng hóa là biện phápsống còn để hội nhập, trong đó, không thể thiếu vai trò của công nghệ Làmthế nào để đưa sản phẩm công nghệ đến tay nông dân là một thực tế gắt gaođang đặt ra
Theo đánh giá của các nhà khoa học, trong vòng 5 năm gần đây, côngnghệ đã đóng góp khoảng 30% trong giá trị tăng trưởng của nông nghiệp ởnước ta Trên cơ sở xây dựng mối liên kết giữa các nhà khoa học và nôngdân, các cơ quan nghiên cứu đã nắm bắt được những đòi hỏi của thực tế sảnxuất và nhu cầu của xã hội, nên đã có những định hướng nghiên cứu phùhợp và thu được những thành tựu nổi bật
Thời gian qua chúng ta đã thực hiện chương trình chuyển giao ứngdụng khoa học công nghệ vào phục vụ nông nghiệp nông thôn (giai đoạn
2004 – 2010) Mục tiêu của chương trình này là chuyển giao các mô hình đãđược khẳng định như chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; giống mới, côngnghệ mới; cung cấp thông tin KH – CN cho nông dân
Thế nhưng, những công nghệ đã được áp dụng hiện nay vẫn chưatương xứng với tiềm năng và nhu cầu, nông dân vẫn “đói” công nghệ là mộtnghịch lý khó chấp nhận Chưa lúc nào, yêu cầu chuyển giao công nghệ chonông dân lại đặt ra hết sức gay gắt như lúc này Muốn hay không, việc hộinhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới cũng sẽ đem lại không ít bất lợi, nếusản xuất nông nghiệp thiếu bước chuyển mình thật sự Nông dân hiện nay rấtcần kỹ thuật cao; cần được các nhà khoa học, quản lý và nhà nước chăm sóctốt hơn nữa Tuy nhiên, điều này không thể nói suông, mà phải cụ thể hóabằng chính sách
Trang 2
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu công tác chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp Việt Nam” mong muốn khắc phục được
phần nào thực trạng nền kinh tế Việt Nam và hợn thế là mong muốn pháttriển nền nông nghiệp Việt Nam vươn tới một tầm cao mới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp
- Tìm hiểu thực trạng công tác chuyển giao công nghệ trong nông nghiệpcho người nông dân thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ chongười dân
1.3 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin: Tiến hành thu thập thông tin, số liệu thứ cấp đã đượccông bố trên các phương tiện như sách báo, tạp chí, các trang Website củamạng Internet
- Xử lý và phân tích số liệu: Tổng hợp, sắp xếp các số liệu đã thu thập được,đồng thời sẽ phân tích và đưa ra các nhận xét, giải pháp phù hợp
Trang 3PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Một số khái niệm
- Công nghệ trong nông nghiệp: theo nghĩa chung nhất là tập hợp có hệthống các tri thức của khoa học vận dụng vào trong sản xuất và đời sống.Công nghệ là tập hợp những kỹ thuật hay những tri thức được tổng kết vàđúc rút từ nghiên cứu hay thực tiễn, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tốđầu vào và lượng sản phẩm sản xuất ra
- Đổi mới công nghệ là cải tiến, thay đổi nhận thức về các tri thức khoa học,phương pháp sản xuất nhằm tăng cường khả năng sản xuất kinh doanh củacon người trước những rủi ro của tự nhiên, xã hội và thị trường đảm bảothỏa mãn tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của con người
2.2 Vai trò của công nghệ trong nông nghiệp
- Công nghệ giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra có hiệu quả
- Công nghệ là hướng để làm tăng sản phẩm trong điều kiện nguồn lực ngàymột khan hiếm
- Công nghệ làm cho người sản xuất có thu nhập cao hơn, có nhiều thời gianrảnh rỗi hơn và do đó góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của người laođộng
2.3 Đặc điểm của công nghệ trong nông nghiệp
- Công nghệ trong nông nghiệp gắn liền với quá trình sinh học
- Công nghệ trong nông nghiệp là sự kết hợp chặt chẽ giữa các kỹ thuật hiệnđại và cổ truyền
- Công nghệ trong nông nghiệp được xây dựng theo hướng của một nềnnông nghiệp bền vững
Trang 4PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam
Nền nông nghiệp Việt Nam những năm qua đã thu được nhữngthành tựu hết sức đáng mừng, xác lập được vị thế đáng ghi nhận trên thế giớithông qua một số loại nông sản như: hồ tiêu, cà fê, gạo, điều Từ một nướcnghèo đói, Việt Nam đã trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản trên thếgiới như: xuất khẩ gạo và café thứ 2 trên thế giới Nông nghiệp hàng nămđóng góp khoảng 1/5 tổng GDP
Nông nghiệp Việt Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn của sự pháttriển kinh tế như: qui mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, độđồng đều, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng hợp tác liên kết của nôngdân Việt Nam còn rất yếu Dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho việc pháttriênt nông nghiệp nông thôn không theo kịp với đà tăng trưởng kinh tế củatoàn xã hội
Hiện nay sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta đang đượctriển khai ở nhiều địa phương theo các mẫu cải tiến nhà kính,nhà lưới củanước ngoài như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, … đã khiến cho giátrị sản xuất nông lâm sản luôn giữ ở mức tăng trưởng khá Cụ thể, năng suấtcác loại cây trồng đều tăng (năng suất lúa tăng 3,28%, bắp tăng 3,7%, mìtăng 3%, đậu tăng 7,6% )
Tuy nhiên, những mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở trong nướcchỉ mới xuất hiện, quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ thiếu đồng bộ nên hiệuquả chưa cao Trong thời gian qua, một số nông sản của Việt nam đã phảiđối mặt với cạnh tranh của các sản phẩm nước ngoài và kết quả cho thấy sựhạn chế về năng lực cạnh tranh của các sản phẩm Dù có tiềm năng, songmía đường không cạnh tranh được với đường nhập ngoại, dẫn tới tình trạngmột số nhà máy đường phải giải thể hoặc phá sản
Có một thực tế đang tồn tại là trình độ sản xuất của bà con nông dâncòn ở mức độ thấp, bộc lộ nhất là giống cây trồng, vật nuôi vẫn chưa kiểmdịch đầy đủ và cũng chưa kiểm soát nguồn gốc, chưa kiểm soát tốt phân hoáhọc, phân bón, công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu hàng hoá
Trang 5thương hiệu vẫn chưa đáp ứng theo chuẩn mực yêu cầu của quốc tế trongqua trình hội nhập, quy mô sản xuất bình quân diện tích đất trên một nông
hộ còn rất thấp khoảng 0,7ha/hộ, vì vậy muốn sản xuất với quy mô lớn, chấtlượng đồng đều là rất khó Đi đôi với những bất lợi đó là việc giá thành sảnxuất vẫn còn cao, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được quantâm đầy đủ khi đưa sản phẩm ra thị trường
3.2 Thực trạng của công tác chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất 3.2.1 Chuyển giao công nghệ trong trồng trọt
Trồng trọt là bộ phận quan trọng bậc nhất của ngành nông nghiệpViệt Nam Do đó nghiên cứu, chuyển giao những công nghệ mới vào sảnxuất là yêu cầu hết sức bức thiết Trong hơn hai thập kỷ qua, công nghệ sinhhọc đã có những bước tiến nhảy vọt góp phần mang lại những thành tựu tolớn cho loài người Nhờ công nghệ sinh học hiện đại, các sinh vật biến đổigen và sản phẩm của chúng được tạo ra với những đặc tính ưu việt đã từngbước khẳng định vị trí trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp thựcphẩm và y tế
Công nghệ sinh học (CNSH) có 3 cấp độ khác nhau: CNSHtruyền thống như các hoạt động chế biến thực phẩm (rượu, giấm , sữa chua,dưa chua, cà muối, pho-mát, tương, nước mắm, men bánh mì ), ủ phân,phơi ải đất, diệt khuẩn và ức chế vi sinh vật có hại CNSH cận đại với việcsản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm của công nghệ lên men, côngnghệ vi sinh vật (cồn, bia, dung môi hữu cơ, bột ngọt và các acid amin khác,acid citric và các acid hữu cơ khác, chất kháng sinh, nhiều vitamin, các loạinvaccin, kháng độc tố, các kit chẩn đoán bệnh truyền nhiễm, thuốc trừ sâusinh học, phân bón sinh học ) CNSH hiện đai chỉ mới xuất hiện trong vàithập kỷ gần đây CNSH hiện đại sử dụng các kỹ thuật trao đổi, sửa chữa, tổhợp hoặc cải tạo vật chất di truyền ở mức độ phân tử để tạo ra những loại visinh vật mới hoặc bắt các sinh vật này tạo ra các protein hay các sản phẩmkhác mà vốn dĩ chúng ta không tạo ra được Một công nghệ quan trọng bậcnhất trong trồng trọt đó là công nghệ cấy chuyển gen
Trang 6Theo các nhà khoa học, cây chuyển gen có ích lợi tiềm tàng đốivới môi trường Chúng giúp bảo tồn các nguồn lợi tự nhiên, sinh cảnh vàđộng, thực vật bản địa; góp phần giảm sói mòn đất, cải thiện chất lượngnước, cải thiện rừng và nơi ngụ cư của động vật hoang dại Thực vật với khảnăng tự bảo vệ chống lại côn trùng và cỏ dại có thể giúp giảm liều lượng vànồng độ các thuốc trừ sâu sử dụng.
Ở các quốc gia thường xuyên không đủ lương thực để phân phối và giálương thực ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của đại bộ phận dân chúng thìlợi ích tiềm tàng của cây chuyển gen là không thể phủ nhận Các loại câybiến đổi gen được trồng phổ biến nhất hiện nay là ngô, đậu tương, cà chua,cải dầu, bông Nhưng điều quan tâm hơn cả đối với cộng đồng là sản phẩmchế biến từ cây biến đổi gen có ảnh hưởng đến sức khỏe con người haykhông? Qua nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học vẫn chưa đi đến kếtluận cuối cùng nên pháp luật mỗi nước có những quy định riêng về vấn đềnày Nhưng họ cũng thống nhất rằng, thực phẩm xuất xứ từ cây chuyển genphải được ghi rõ cụ thể để người tiêu dùng được quyền lựa chọn Ngày nay, các nhà khoa học đang hướng tới tạo những cây chuyển gen thế
hệ thứ hai có đặc điểm tăng giá trị dinh dưỡng hoặc có những tính trạngthích hợp cho công nghiệp chế biến Lợi ích của những cây trồng này hướngtrực tiếp hơn vào người tiêu dùng Ví dụ: lúa gạo giàu vitamin A và sắt;khoai tây tăng hàm lượng tinh bột; vắc-xin ăn được ở ngô và khoai tây;những giống ngô có thể trồng trong điều kiện nghèo dinh dưỡng; dầu ăn cólợi cho sức khỏe hơn từ đậu nành và cải dầu
Không phát triển rầm rộ, các nghiên cứu về cây trồng biến đổi gen
đã và đang được thực hiện tại một số cơ sở chuyên nghiên cứu về công nghệsinh học (CNSH) ở nước ta Các nhà khoa học đã bước đầu thành công trongviệc chuyển gen kháng sâu bệnh, pro- vitamin A vào cây lúa, bắp cải, ngô,
đu đủ, cây hoa Tuy nhiên, những thành công này chỉ dừng lại ở mức độphòng thí nghiệm Nhưng các chuyên gia khẳng định, thị trường thực phẩmcủa Việt Nam đã xuất hiện các cây trồng và sản phẩm biến đổi gen
Trang 7cây chuyển gen đem lại rất nhiều lợi ích như: tăng sản lượng, cungcấp nhiều hơn thực phẩm cho dân số ngày càng tăng; giảm chi phí sản xuất,tăng lợi nhuận nông nghiệp; tăng giá trị dinh dưỡng hoặc tính thích hợp chocông nghiệp chế biến thực phẩm; tạo ra các sản phẩm có lợi cho sức khỏe.
3.2.1.1 Chuyển giao công nghệ trong trồng trọt lúa và hoa màu
* Ứng dụng công nghệ mới để lai tạo các giống cây trồng có khả năng chống chịu sâu bệnh
Trước tình hình sâu bệnh, dịch hại lúa và hoa màu diễn ra ngày càngmạnh và bất thường gây thiệt hại to lớn cho người nông dân, các nhà khoahọc đã vào cuộc nghiên cứu công nghệ lai tạo ra các giống lcây trồng mới cókhả năng chống chịu tốt với sâu bệnh Phương pháp hữu hiệu này cho phépcác nhà tạo giống mới thu được giống mới nhanh hơn và vượt qua những kỹthuật tạo giống truyền thống
Nhìn chung việc ứng dụng cây lúa chuyển gien có những lợi ích rõrệt sau: cây lúa chuyển gien có khả năng kháng các vi khuẩn gây bệnh,kháng côn trùng phá hoại, chống chịu chất diệt cỏ, sản suất Vitamin A từ đó
- Tăng sản lượng
- Giảm chi phí sản xuất
- Tăng lợi nhuận nông nghiệp
- Cải thiên môi trường
* Ứng sụng công nghệ lai tạo giống cây trồng có chất lượng cao
- Những năm gần đây, sản xuất lúa gạo cũng như hoa màu ở nước ta
đã có những bước phát triển đáng kể và đang hướng tới nền sản xuất hànghóa Mặt khác do đời sống của người dân không ngừng được cải thiện, nên
từ nhu cầu đủ no đã và đang tiến tới nhu cầu ăn ngon Vì vậy, nhu cầu vềgạo đặc sản có chất lượng cao cũng không ngừng tăng Do đó, một số giốnglúa thơm ngon đã được lai tạo và đưa vào sản xuất như: Nàng Hương, Oryzasativa L ……
- Ngoài ra nhiều giống lúa có khả năng chịu hạn, chịu mặn cũng đãđược lai tạo để đưa vào sản xuất đại trà phù hợp với điều kiện khắc nghiệtcủa một số địa phương như: OM 4498, OM 5930 ……
Trang 8* Cơ giới hoá trồng trọt
Trước đây, trong quá trình cày cấy, thu hoạch bà con nông dân phảidùng các công cụ thô sơ Thì nay với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến,công nghệ hiện đại máy móc đã được đưa vào sản xuất bao gồm:
- Công cụ gieo lúa theo hàng
- Máy gieo lúa theo hàng liên kết với máy kéo 4 bánh
- Máy gặt đập liên hợp
- Máy sấy lúa dùng sấy lúa cho các hộ nông hộ
- Máy cấy lúa MC8-20
- Máy bóc hạt ngô, máy thu hoạch lạc …
3.2.1.2 Giải pháp phát triển công nghệ trong sản xuất lúa
Để góp phần tăng năng suất, sản lượng, chất lượng và hiệu quảtrong sản xuất lúa.Ngoài việc hướng dẫn, chỉ đạo nông dân thực hiện tốt hệthống các biện pháp canh tác Cần tiếp tục thực hiện dồn điền đổi thửa để tậptrung ruộng đất, hình thành vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, thuận lợicho việc áp dụng công nghệ, cơ giới trong sản xuất nông nghiệp, thực hiệntốt công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; tăng cườngquản lý nhà nước về sản xuất lúa Trước hết cần ứng dụng có hiệu quả côngnghệ cây, con lai; đây là hướng quan trọng để tạo ra bước đột phá về năngsuất, chất lượng Nghiên cứu ứng dụng công nghệ trước, trong và sau sảnxuất theo hướng đồng bộ, khép kín, giảm đầu tư chi phí, nâng cao hiệu quảcủa sản xuất Gắn chặt hơn nữa sản xuất với thị trường Xây dựng một số môhình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất lúa Nghiên cứu quy trình quản
lý, khai thác có hiệu quả tài nguyên nước, đất và hệ thống các công trìnhgiúp trong việc trồng trọt lúa
Tất cả các hướng nghiên cứu, ứng dụng trên phải gắn chặt với xâydựng các mô hình trình diễn, các ruộng thí nghiệm và mở các lớp tập huấn,khuyến nông để hướng dẫn, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật cho nông dân; gắnkết chặt chẽ giữa nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng
3.2.1.3 Ứng dụng công nghệ trong trồng cây ăn quả
Trang 9Nhằm đáp ứng nhu cầu trái ngon của thị trường, nhiều giống cây ăntrái đã được du nhập vào nước ta, đồng thời qua các Hội thi Cây Giống Tốt
do Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam (Trung tâm Cây ăn quả LongĐịnh cũ) kết hợp với Hội khuyến nông và các Trung tâm Khuyến nông tổchức đã phát hiện nhiều giống cây ăn trái đặc sản như: sầu riêng hạt lép,nhãn xuồng cơm vàng, xoài cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi
Chính vì giống có chất lượng ngon, nên được thị trường chấp nhậnnhanh chóng, điều này làm cho giá cây giống cũng tăng vọt lên, kích thíchngười dân mạnh dạn đầu tư mua cây giống mới Tuy nhiên để đáp ứng sớmnhu cầu tiêu dùng về trái cây có chất lượng cao thay vì trồng cây mới mất 3-
4 năm mới cho trái với kỹ thuật ghép giống mới trên cây đã có sẵn; chúng ta
có trái ngon trên cùng gốc ghép trong khoảng 1 - 1,5 năm
Kỹ thuật thay giống này đã được sử dụng phổ biến ở một số nước cónền nông nghiệp phát triển như: Israel, Australia, Đài Loan Ở nước ta, trướcđây do tập quán của người dân, cũng như do chưa được sự giúp đỡ của Nhànước về định hướng các giống cây ăn trái Trên thị trường cây ăn quả hiệnnay có quá nhiều giống thương phẩm trên cùng một chủng loại, do đó phẩmchất cũng rất khác nhau Mặc dù điều này sẽ làm phong phú thêm nguồn gencây ăn trái ở nước ta, nhưng để sản xuất hàng hóa cây ăn quả, thì chính làmột trở ngại, khó khăn cho xuất khẩu và chế biến
Ví dụ: Chỉ riêng xoài, ta có xoài Cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, xoàiBưởi, xoàn Thanh Ca, xoài Mật Để công nghiệp hóa, các giống xoài nàynên sớm được rút lại 3-4 giống thôi, trong đó chú ý xoài Cát Hòa Lộc, CátChu; bằng cách ghép đọt lên cành non, ghép đoạn già hơn lên cành già củacây xoài Bưởi, xoài Thanh Ca
Vì vậy ngoài việc trồng cây giống tốt từ cây ghép đạt tiêu chuẩn xuấtvườn ươm, thì việc ghép mắt, ghép đọt, ghép đoạn cành non tốt lên trên gốcghép có sẵn cùng chủng loại rất nên khuyến khích, việc này sẽ làm rút ngắnthời gian cho trái của cây, cây sẽ sớm ra hoa kết trái nhờ bộ rễ đã phát triểntrước và đủ mạnh để cung cấp dinh dưỡng cho cây
3.2.1.4 Giải pháp về phát triển công nghệ trong trồng cây ăn quả
Trang 10- Đầu tư cho các công trình nghiên cứu nông nghiệp tốt như laigiống, tạo phân bón nhằm cho những công nghệ đạt hiệu quả cao cho trồngtrọt
- Tuyên truyền cho nhân dân những kinh nghiệm có từ xưa haynhững công nghệ tiên tiến, giúp dân áp dụng nhanh chóng vào trồng trọt
- Cử những chuyên gia giỏi sang nước ngoài học hỏi kinh nghiệm về
Sản phẩm trồng trọt c ủa nước ta hiện nay đang ngày một tăng cao
về số lượng và chất lượng nhưng để đáp ứng nhu cầu nông sản chất lượngcao trong nước và xuất khẩu chúng ta cần phải có những nghiên cứu mớichú trọng về chất lượng sản phẩm
3.2.1.5 Công nghệ bảo vệ và chăm sóc cây trồng
* Thuốc bảo vệ thực vật:
Thuốc bảo vệ thực vật là các loại hoá chất do con người sản xuất ra
để trừ sâu bệnh và cỏ dại có hại cho cây trồng Thuốc bảo vệ thực vật đượcphân thành hai loại chính là thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ Các loại thuốcnày có ưu điểm là diệt sâu bệnh, cỏ dại nhanh, sử dùng lại đơn giản, nênđược nông dân ưa thích Nhưng thuốc bảo vệ thực vật cũng có rất nhiều táchại, đó là:
Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu hại khác nhau, có loại sâu ẩnnúp dưới lá, có loại đục vào thân cây, có loại lại chui vào đất, nên phải dùngnhiều loại thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng Việc này gây khó khăn chongười sử dụng, nhất là những người nông dân có trình độ văn hoá thấp.Nhiều người chỉ thích mua thuốc rẻ để phun, không cần biết phạm vi tác