Do đó, tác giả chọn đề tài “Một số kinh nghiệm QTNS trong điều kiệnKHTC của các tập đoàn CNC Quốc tế và khả năng vận dụng tại các DNVN cùnglĩnh vực” với mong muốn chia sẻ những bài học t
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay chóng ta đều biết rằng tất cả các nước phát triển nhanh đều dựavào nền kinh tế tri thức, mà ở đó tỉ trọng dịch vụ CNC ngày một lớn hơn trong tổngthu nhập quốc dân Nếu đầu tư tốt, ngành CNC sẽ tạo ra những sản phẩm mới, pháttriển các ngành kinh tế có hàm lượng khoa học cao, tăng tính cạnh tranh với cácnước Trong đó, năng lực cạnh tranh lại phụ thuộc vào các quốc gia có thúc đẩyđược sự phát triÓn năng lực quản lý về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp CNChay không Bởi vì đặc thù của lĩnh vực CNC là lĩnh vực có hàm lượng cao vềnghiên cứu và phát triển, được tích hợp từ thành tựu khoa học hiện đại nên luôn đòihỏi tiềm lực mạnh về nhân lực Có thể nói “vũ khí bí mật” của năng lực cạnh tranhcủa từng doanh nghiệp CNC nói riêng và của ngành CNC nói chung là ở chất lượngcủa nguồn nhân lực CNC thông qua công tác quản trị nguồn nhân lực đó
Chính vì có tầm quan trọng lớn trong nền kinh tế nên khi cuộc KHTC toàncầu bùng phát vào giữa năm 2008, nền kinh tế bị tác động mạnh thì lĩnh vực CNCcũng không thể tránh khỏi khó khăn Tác động Êy càng mạnh tương ứng quy môdoanh nghiệp càng lớn Các tập đoàn CNC Quốc tế với quy mô toàn cầu đang lànạn nhân chính của sự ảnh hưởng này Tình thế đòi hỏi các tập đoàn CNC phải cónhững quyết định tích cực về chính sách nhân sự để phục vụ cho công cuộc chốngchọi KHTC của tập đoàn Nhê vào sự nhìn nhận đúng tầm về vai trò của công tácQTNS trong việc phát huy sức mạnh của “vũ khí bí mật”, lịch sử và thực tế chothấy, các tập đoàn CNC Quốc tế không những đã vượt qua được mà còn phát triểnlên tầm cao mới sau khủng hoảng Vì thế, kinh nghiệm về công tác QTNS của cáctập đoàn CNC Quốc tế chắc chắn là mét kho báu quý giá cho thế giới nói chung vàcho các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNC nói riêng
Trong bối cảnh chung, ngành CNC Việt Nam cũng không tránh khỏi nhữngtác động của KHTC toàn cầu Tuy nhiên, nhờ vào các gói giải cứu nền kinh tế củaChính phủ, nền kinh tế Việt Nam có suy giảm nhưng nguy cơ bùng phát KHTC là
Trang 2thấp Đồng thời, cùng với chu kỳ phát triển của công nghệ, KHTC đã đem lại những
cơ hội mới cho ngành CNC Việt Nam Vấn đề đặt ra là các DNVN trong lĩnh vựcCNC có thể phát huy “vũ khí bí mật” của mình để đón nhận những cơ hội đó haykhông Đây lại là một thách thức lớn của từng doanh nghiệp CNC Việt Nam nóiriêng và của toàn DNVN nói chung Bởi vì, theo số liệu mới nhất của các công tynghiên cứu thị trường, hiện nay trung bình các DNVN chỉ sử dụng khoảng 40%
năng suất của nguồn nhân lực mà họ đang sở hữu [44] Nguyên nhân của vấn đề này
cơ bản nằm ở việc doanh nghiệp đã không nhìn nhận đầy đủ về vai trò của công tácQTNS cũng như việc thực thi các chức năng của công tác QTNS, đặc biệt là trongđiều kiện KHTC, còn rất yếu kém
Do đó, tác giả chọn đề tài “Một số kinh nghiệm QTNS trong điều kiệnKHTC của các tập đoàn CNC Quốc tế và khả năng vận dụng tại các DNVN cùnglĩnh vực” với mong muốn chia sẻ những bài học thu thập và đút rút được thông quaquá trình phân tích các kinh nghiệm QTNS trong điều kiện KHTC của các tập đoànCNC Quốc tế, kết hợp với việc nghiên cứu về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, cũngnhư thách thức của công tác QTNS của các doanh nghiệp CNC Việt Nam trong bốicảnh mới để đề xuất những giải pháp thiết thực, hiệu quả mà các DNVN trong lĩnhvực CNC có thể áp dụng cho doanh nghiệp mình Thông qua đề tài này, tác giả hyvọng người đọc - nhất là những DNVN trong lĩnh vực CNC sẽ hiểu rõ thêm côngtác QTNS trong điều kiện KHTC, suy thoái kinh tế là như thế nào, và doanh nghiệpcần làm gì để có thể vượt qua cũng như hồi phục, đón đầu cơ hội để phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Để đáp ứng với nhu cầu và phù hợp với đề tài đã chọn, mục tiêu nghiên cứuxuyên suốt, nhất quán trong đề tài gồm 03 khía cạnh sau:
Thứ nhất, giúp người đọc hiểu được một khái niệm khá mới mẻ về QTNStrong lĩnh vực CNC trước tác động của KHTC và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiêncứu kinh nghiệm QTNS trong điều kiện KHTC hiện nay của các tập đoàn CNCQuốc tế đối với DNVN cùng lĩnh vực
Trang 3Thứ hai, phân tích một số kinh nghiệm QTNS trong điều kiện KHTC hiệnnay của các tập đoàn CNC Quốc tế để giúp người đọc hiểu rõ các khía cạnh ưu,khuyết điểm cũng như các vấn đề cần lưu ý về công tác QTNS trong việc đối phóvới KHTC của các tập đoàn CNC Quốc tế; so sánh với điểm mạnh, điểm yếu củathực trạng công tác QTNS của các doanh nghiệp CNC Việt Nam, từ đó rót ra bàihọc.
Thứ ba, đề xuất giải pháp để ứng dụng các bài học đã đút rút cho doanhnghiệp CNC Việt Nam giai đoạn từ nay đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kinh nghiệm QTNS trong điều kiệnKHTC hiện nay của các tập đoàn CNC Quốc tế và thực trạng công tác QTNS củacác doanh nghiệp CNC Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm hai khía cạnh:
VÒ mặt lãnh thổ: phân tích kinh nghiệm QTNS của các doanh nghiệp, tậpđoàn trong lĩnh vực CNC trên thị trường Quốc tế và tại Việt Nam
VÒ mặt thời gian: phân tích kinh nghiệm QTNS của các tập đoàn CNC Quốc
tế dưới tác động của KHTC từ giữa năm 2008 cho đến nay, và một số giải pháp đểứng dụng các bài học được đút rút từ các kinh nghiệm đó cho doanh nghiệp CNCViệt Nam giai đoạn từ nay đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để đảm bảo tính khoa học, lô-gic hợp lý của vấn đề, đề tài được xây dựngtrên cơ sở sử dụng phương pháp so sánh - đánh giá, tổng hợp thống kê trên cơ sởnghiên cứu và phân tích các thông tin, tư liệu của chuyên gia và báo cáo của các Bộ,ngành liên quan, v.v
6 Kết cấu khóa luận:
Nội dung của đề tài được trình bày theo kết cấu sau:
Trang 4 Chương 1: Tổng quan về QTNS trong lĩnh vực CNC trước tác động củaKHTC và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu kinh nghiệm QTNS trong điều kiệnKHTC hiện nay của các tập đoàn CNC Quốc tế.
Chương 2: Một số kinh nghiệm QTNS trong điều kiện KHTC hiện nay củacác tập đoàn CNC Quốc tế và bài học cho DNVN Việt Nam cùng lĩnh vực
Chương 3: Một số giải pháp để ứng dụng các bài học về công tác QTNStrong điều kiện KHTC cho các doanh nghiệp CNC Việt Nam giai đoạn từ nay đếnnăm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
Với kiến thức có hạn và thời gian không cho phép, cũng như nguồn tài liệu
đề tài còn Ýt ái do QTNS là lĩnh vực chưa được nghiên cứu bài bản và chuyên sâutại Việt Nam, thêm vào đó là sự mới mẻ của ngành CNC nên chắc chắn đề tài vẫncòn rất nhiều thiếu sót Tác giả kính mong sự nhận xét, đóng góp từ phía các thầy
cô, các chuyên viên, cũng như các tổ chức và cá nhân có quan tâm đến vấn đềQTNS trong điều kiện KHTC để giúp đề tài hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành gởi lời cảm ơn đến cô TS Nguyễn Thị Thu Hà, đã tậntình hướng dẫn tác giả viết đề tài và đưa ra nhiều gợi ý chuyên môn có giá trị đểgiúp tác giả hoàn thành đề tài
Trang 5
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QTNS TRONG LĨNH VỰC CNC TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA KHTC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM QTNS TRONG ĐIỀU KIỆN KHTC HIỆN NAY CỦA CÁC
Trên thị trường ngày nay, các doanh nghiệp đang đứng trước thách thức phảităng cường tối đa hiệu quả cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình Điều này đòihỏi phải có sự quan tâm tới chất lượng sản phẩm và dịch vụ, tới các phương thứcMarketing và bán hàng tốt cũng như các quy trình nội bộ hiệu quả Các doanhnghiệp hàng đầu thường cố gắng để tạo sự cân bằng giữa tính chất nhất quán và sựsáng tạo Để đạt được mục tiêu này, họ dựa vào một số tài sản lớn nhất của mình,trong đó có nguồn tài nguyên nhân sự
1.1 Khái niệm QTNS:
QTNS hay quản trị tài nguyên nhân sự là sự phối hợp một cách tổng thể cáchọat động họach định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạomọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự hoạt động thông qua tổ chức, nhằmđạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức
Tài nguyên nhân sự bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ họat độngnào của tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì Tài nguyên nhân sự gắn liền với mọi tổchức có thể là một hãng sản xuất, một doanh nghiệp bảo hiểm, một cơ quan nhànước, một bệnh viện, một trường đại học, liên đoàn lao động, nhà thờ, hãng hàng
Trang 6không, v.v tổ chức đó dù lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp Tài nguyên nhân sựhiện diện khắp mọi phòng ban và bất kỳ cấp quản trị nào cũng phải tiến hành quảntrị lực lượng nhân sự của mình theo các bước sau: họach định, tổ chức, lãnh đạo,kiểm tra Do đó đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải biết cách quản trị tài nguyên nhân sự.
1.2 Mục tiêu QTNS:
QTNS nghiên cứu các vấn đề quản lý con người trong các tổ chức ở tầm vi
mô và có ba mục tiêu cơ bản: sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người hiện cónhằm tăng năng suất lao động và hiệu quả hoạt động của tổ chức; đáp ứng nhu cầungày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa năng lực
cá nhân, được động viên, khuyến khÝch nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành,tận tâm với cơ quan, doanh nghiệp; thu hút nhân lực có khả năng đáp ứng nhu cầucông việc của doanh nghiệp
Trang 7nhà quản trị phải biết cách phối hợp thực hiện cả mục tiêu của tổ chức và mục tiêucủa cá nhân Có như vậy mới đạt được hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh
QTNS giúp cho cơ quan, doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng,nâng cao hiệu suất công tác và sản xuất kinh doanh Bởi vì, về mặt kinh tế, QTNSgiúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất laođộng và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn nhân lực Về mặt xã hội,QTNS thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vịthế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi Ýchgiữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động
QTNS đóng vai trò mấu chốt của cải cách quản lý, giúp cơ quan, doanhnghiệp khẳng định vị trí và nâng cao vị thế trong điều kiện kinh tế hội nhập Trêntoàn thế giới trong mấy thập kỷ gần đây, vai trò của QTNS tăng mạnh khi cả trình
độ năng lực của nhân viên lẫn trang bị kỹ thuật được nâng cao; khi công việc ngàycàng phức tạp, đa dạng; khi hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối đầu với sự cạnhtranh ngày càng gay gắt trên thị trường, phải tìm cách đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng của nhân viên Vì vậy QTNS phải đóng vai trò mấu chốt trong cải cách quản
lý, đổi mới QTNS cho phù hợp với giai đoạn hiện tại, thực sự là nguồn tiềm năng tolớn thúc đẩy kinh tế phát triển và nâng cao mức sống cho người lao động
1.4 Môi trường QTNS:
Khi các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, họ phải hoạt độngtrong các môi trường kinh doanh nào đó Do đó, công tác QTNS của doanh nghiệpcũng chịu sự tác động mạnh từ các môi trường đó, nên buộc các quản trị gia phảitiến hành phân tích môi trường để có thể xác định mục tiêu và chiến lược kinhdoanh cho doanh nghiệp Môi trường theo quan điểm của QTNS như sau:
Môi trường thứ nhất là môi trường vĩ mô và tác nghiệp: bao gồm những yếu
tố nằm bên ngoài doanh nghiệp, định hình và có ảnh hưởng đến môi trường nội bộ,tạo ra các cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp Ví dụ, các yếu tố kinh tế, dân sốlực lượng lao động, luật lệ nhà nước, chính quyền đoàn thể, các yếu tố về văn hóa,
Trang 8xã hội, điều kiện tự nhiên và trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ trong khu vựchoặc quốc gia, các đối thủ cạnh tranh và khách hàng.
Môi trường thứ hai là môi trường nội bộ: bao gồm các yếu tố thuộc về cácnguồn lực bên trong của doanh nghiệp như sứ mạng mục tiêu của doanh nghiệp,chính sách chiến lược, văn hóa doanh nghiệp và cổ đông - công đoàn
Môi trường theo quan điểm QTNS được mô tả theo hình vẽ dưới đây:
Hình 1.1: Mô hình môi trường theo quan điểm QTNS
"
Nguồn: Quản trị nhân sự/Nguyễn Hữu Thân, Ph.D/DBA, NXB Lao động Xã hội"
Khi phân tích ảnh hưởng của môi trường QTNS, nhà quản trị cần xác địnhmột số vấn đề như: thế mạnh của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là gì; điều nàyảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành và thực hiện các chiến lược, chính sáchkinh doanh của doanh nghiệp; khả năng cung cấp ứng viên từ thị trường lao độngđịa phương cho các công việc phổ biến trong doanh nghiệp như thế nào; luật Laođộng, luật Công đoàn và các quy định về mức lương tối thiểu, về thời gian làm việc,v.v ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của nhân viên trong doanh nghiệp ra sao; cácnhân viên mong đợi gì ở doanh nghiệp, v.v
-V¨n hãa doanh nghiÖp
Sø m¹ng môc tiªu chÝnh s¸chChiÕn l îc
Qu¶n trÞ nh©n sù
Trang 9Phân tích sự thay đổi và tác động của các yếu tố trong môi trường QTNS sẽgiúp cho doanh nghiệp đánh giá chính xác các thuận lợi, khó khăn, các ưu nhượcđiểm, các cơ hội và nguy cơ, làm cơ sở cho việc xác định mục tiêu và phươnghướng hành động cho doanh nghiệp
1.5 Các chức năng cơ bản của QTNS:
Hoạt động QTNS liên quan đến tất cả các vấn đề thuộc về quyền lợi, nghĩa
vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫnnhân viên Trong thực tiễn, những hoạt động này rất đa dạng, phong phú và rất khácbiệt tùy theo các đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ kỹ thuật, nhân lực, tàichính, trình độ phát triển ở các tổ chức Hầu như tất cả các tổ chức đều phải thựchiện những hoạt động cơ bản như: xác định nhu cầu nhân viên, lập kế hoạch tuyểndụng, bố trí nhân viên, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật nhân viên, trả công, v.v Tuynhiên có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của QTNS theo các chức năng cơ bảnsau:
1.5.1 Hoạch định tài nguyên nhân sự:
Xét trên tất cả mọi lĩnh vực, nếu muốn đạt được hiệu quả cao, giảm tối đa rủi
ro và lãng phí thì phải có hoạch định Về phương diện nguồn nhân sự cũng vậy,công tác hoạch định giúp cho doanh nghiệp thấy rõ được phương hướng, cách thứcQTNS của mình, đảm bảo cho doanh nghiệp có được đúng người, đúng việc, đúngvào thời điểm cần thiết và linh hoạt đối phó với những thay đổi trên thị trường.Hoạch định tài nguyên nhân sự không chỉ đơn thuần chú ý đến việc dự báo và tuyển
đủ số lượng nhân viên cần thiết cho doanh nghiệp, mà còn phải đảm bảo cả chấtlượng nhân sự để không ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện công việc, hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Bản chất của việc hoạch định tài nguyên nhân sự là việc đối sánh giữa haithành tố nhu cầu và khả năng sẵn có để đề ra các chiến lược nhân sự Điều này đòihỏi các nhà quản trị phải dự báo Có bốn khái niệm về dự báo, đó là: khuynh hướngtrường kỳ (5 năm); biến đổi theo chu kỳ (1 năm); biến đổi theo mùa (thời vụ) và
Trang 10cuối cùng là các biến đổi bất ngờ, ngẫu nhiên Trong các dự báo thì dự báo với cácbiến đổi bất ngờ, ngẫu nhiên là gây khó khăn nhiều nhất cho công tác hoạch định tàinguyên nhân sự Do khác với các dự báo trên, các biến đổi này là các biến đổikhông theo mô hình nào, nên khó có thể tiên đoán được Ví dụ: thiên tai, chiếntranh, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng lao động, v.v Vì thế, nhà quản trị trongtrường hợp này bên cạnh các kỹ năng QTNS còn rất cần kinh nghiệm xử lý các biếnđổi bất ngờ, ngẫu nhiên.
ho ch nh c t i nguyên nhân s , nh qu n tr c n ti n h nh tu n
Đ định được tài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần được tài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ản trị cần tiến hành tuần ịnh được tài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ần tiến hành tuần ến hành tuần ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ần tiến hành tuần
t theo ti n trình sau: ự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ến hành tuần đề ra và dự báo nhu cầu, xây dựng chính sách và kế ra v d báo nhu c u, xây d ng chính sách v kài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ần tiến hành tuần ự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ến hành tuần
ho ch, ti n h nh th c hi n k ho ch v cu i cùng l ki m tra ánh giá xem cácến hành tuần ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ện kế hoạch và cuối cùng là kiểm tra đánh giá xem các ến hành tuần ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ối cùng là kiểm tra đánh giá xem các ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần đ
k ho ch v chến hành tuần ài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ương trình có phù hợp với mục tiêu đề ra hay không Trong quáng trình có phù h p v i m c tiêu ợc tài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ới mục tiêu đề ra hay không Trong quá ục tiêu đề ra hay không Trong quá đề ra và dự báo nhu cầu, xây dựng chính sách và kế ra hay không Trong quátrình ho ch định được tài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuầnnh, các doanh nghi p s g p hai trện kế hoạch và cuối cùng là kiểm tra đánh giá xem các ẽ gặp hai trường hợp: khiếm dụng hoặc ặp hai trường hợp: khiếm dụng hoặc ường hợp: khiếm dụng hoặcng h p: khi m d ng ho cợc tài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ến hành tuần ục tiêu đề ra hay không Trong quá ặp hai trường hợp: khiếm dụng hoặc
th ng d nhân s c n thi t cho các ho t ặp hai trường hợp: khiếm dụng hoặc ư ự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ần tiến hành tuần ến hành tuần động kinh doanh của mình Trong từngng kinh doanh c a mình Trong t ngủa mình Trong từng ừng
trường hợp: khiếm dụng hoặcng h p, doanh nghi p c n có các gi i pháp c th nh b ng sau:ợc tài nguyên nhân sự, nhà quản trị cần tiến hành tuần ện kế hoạch và cuối cùng là kiểm tra đánh giá xem các ần tiến hành tuần ản trị cần tiến hành tuần ục tiêu đề ra hay không Trong quá ư ản trị cần tiến hành tuần
- Thực hiện các chương trình đào tạo kỹ năng mới
- Đề bạt nhân viên doanh nghiệp, bồi dưỡng để nhânviên có thể đảm nhận được công việc ở vị trí cao hơn
- Tuyển dụng nhân viên mới từ ngoài doanh nghiệp
- Sử dông nhân viên tạm thời để khắc phục tình trạng thiếu nhân lực trước mắt
- Huy động nhân viên trong doanh nghiệp làm thêm giờ trong khuôn khổ của Luật lao động
nhu cầu hiện tại
- Sa thải nhân viên ở những công việc không còn cần thiết đối với doanh nghiệp nữa
- Thỏa thuận với nhân viên để giảm giê lao động, nghỉ luân phiên, nghỉ không lương tạm thời
- Vận động nhân viên nghỉ hưu sớm
- Cho các doanh nghiệp khác thuê nhân lực: biện pháp này thường áp dụng đối với đội ngũ lao động cao cấp
Trang 121.5.2 Tuyển dông nhân sự:
Tuyển dụng là tiến trình cung ứng và quản trị các tài nguyên nhân sự màdoanh nghiệp cần để hoàn thành các mục tiêu của mình Tuyển dụng thực chất làthuê các nhân viên mới đáp ứng yêu cầu cho công việc của doanh nghiệp Nếu việctuyển dụng xảy ra sai sót, doanh nghiệp sẽ vướng vào tình trạng thừa biên chế vàphải mất một khoản thời gian dài doanh nghiệp mới có thể nhận ra cũng như khắcphục thiệt hại của sai sót này Vì thế, muốn công tác tuyển dụng nhân sự đạt đượchiệu quả cao, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các vấn đề: nguồn tuyển dụng và cácyếu tố hạn chế khả năng thu hót ứng viên của doanh nghiệp
Nguồn tuyển dụng của doanh nghiệp gồm hai nguồn: từ trong nội bộ và từbên ngoài doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường ưu tiên nguồn tuyển dụng nội bộ
vì các ưu điểm của nó qua các hình thức đề bạt và thăng tiến Còn đối với nguồntuyển dụng bên ngoài, các doanh nghiệp cần tiến hành dự báo tác động của môitrường đến nguồn ứng viên Đặc biệt trong trường hợp thị trường lao động khanhiếm nhân lực thì việc dự báo này càng quan trọng doanh nghiệp phải sử dụngnhững chính sách ưu đãi để nắm lấy các cơ hội tuyển chọn nhân sự này ngay, nếukhông đối thủ cạnh tranh sẽ tuyển mất
Để công tác tuyển dụng đạt hiệu quả, nhà quản trị cũng nên nghiên cứunhững yếu tố hạn chế khả năng thu hút ứng viên, từ đó có phương pháp và chínhsách thu hót cho thích hợp để đảm bảo tuyển dông được nhân sự cho việc phát triểncủa doanh nghiệp Các yếu tố thu hút ứng viên của doanh nghiệp bao gồm: mức hấpdẫn của công việc, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường lao động, cácchính sách đãi ngộ của doanh nghiệp và các chính sách, luật lệ của Chính phủ
1.5.3 Đào tạo và phát triển:
Đào tạo và phát triển là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượngnguồn nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp; là điều kiện quyết định để các doanhnghiệp có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh Do đó trong các
Trang 13doanh nghiệp, công tác đào tạo và phát triển cần phải được thực hiện một cách có tổchức, có kế hoạch
Mục tiêu chung của đào tạo và phát triển nhân sự là nhằm sử dụng tối đanhân sự hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp thông qua việc giúpngười lao động hiểu rõ hơn về công việc; nắm vững hơn nghề nghiệp của mình;thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ làm việctốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trongtương lai Như vậy, mục đích của đào tạo và phát triển nhân sự là nhằm giúp chongười lao động: bổ sung những kiến thức, kỹ năng của người lao động đang bị thiếuhụt so với yêu cầu; cập nhật những kiến thức, kỹ năng mới cho người lao động giúp
họ nhanh chóng tiếp cận được với những thay đổi trong công nghệ, kỹ thuật củadoanh nghiệp; hướng dẫn kỹ năng thực hiện công việc cho người lao động mới tiếpcận với công việc để họ nhanh chóng nắm bắt được công việc và thích nghi với môitrường của doanh nghiệp; chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cơ hộithay thế, thăng tiến; kÝch thích người lao động thực hiện công việc tốt hơn
1.5.4 Đãi ngộ nhân sự:
Đãi ngộ nhân sù là sự nhìn nhận, thừa nhận của doanh nghiệp về các nỗ lựccủa nhân viên, là quá trình bù đắp các hao phí lao động của nhân viên cả về vật chấtlẫn tinh thần, là nền tảng đảm bảo sự ổn định của doanh nghiệp
Mục đích của đãi ngộ nhân sự là hình thức doanh nghiệp bù đắp và ghi nhận
nỗ lực quá khứ của nhân viên Giúp doanh nghiệp duy trì sức cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường lao động và sự công bằng trong nội bộ doanh nghiệp Là công
cụ giúp doanh nghiệp kÕt nối thành tích của nhân viên với mục tiêu của doanhnghiệp Giúp doanh nghiệp kiểm soát được ngân sách và thu hút nhân viên mới,cũng như giảm thiểu tỉ lệ bỏ việc và chuyển công tác
Cơ cấu hệ thống đãi ngộ nhân sự gồm hai phần: phần thứ nhất là đãi ngộ vậtchất hay đãi ngộ trực tiếp, bao gồm lương cơ bản, phụ cấp, các hình thức thưởng(hoa hồng, cổ tức, bậc thưởng), phúc lợi; và phần thứ hai là đãi ngộ phi vật chất,
Trang 14bao gồm cơ hội thăng tiến, công việc thú vị, văn hóa doanh nghiệp, môi trường làmviệc, các hoạt động xây dựng tinh thần tập thể, các hoạt động vì trách nhiệm cộngđồng, xã hội Hệ thống đó thường được thể hiện qua môi trường làm việc của doanhnghiệp, một môi trường làm việc tuyệt vời là những gì doanh nghiệp hướng tới.
1.5.5 Giao tế nhân sự:
Trong công tác QTNS có rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm như đã trình bày
ở trên, phần cốt lõi đã được giải quyết nhưng một khía cạnh khác được xem như lànghệ thuật lãnh đạo của nhà quản trị đó là giao tế nhân sự Trong giao tế nhân sự cókhông Ýt những vấn đề mà nhà quản trị cần giải quyết một cách hợp tình hợp lýnhư: quan hệ nhân sự, thương nghị tập thể, giải quyết các tranh chấp lao động, giao
tế nhân sự thực hành Thật không đơn giản đối với những nhà quản trị trẻ và chưanhiều kinh nghiệm, bởi đôi khi nghệ thuật lãnh đạo này cũng là yếu tố quyết định sựthành - bại của doanh nghiệp Đặc biệt là trong các tình huống khủng hoảng, khitâm lý nhân viên thật sự bất an vì doanh nghiệp có nguy cơ không đảm bảo được sự
an toàn về công việc cho nhân viên Lúc này, rất cần sự cảm thông và tâm huyếtphấn đấu vì mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Điều này chỉ có thể đạt đượcmột cách nhanh nhất và hiệu quả nhất thông qua giao tế nhân sự
2 Đặc trưng của công tác QTNS trong lĩnh vực CNC trước tác động của
KHTC
2.1 Khái niệm về nhân lực CNC:
Theo điều 10 của Luật Công nghệ cao sè 21/2008/QH12 được Quốc hội khóaXII thông qua vào ngày 13/11/2008 và có hiệu lực vào ngày 01/07/2009, một sèkhái niệm về lĩnh vực, trong đó có khái niệm về nhân lực CNC được hiểu như sau:
- CNC là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sảnphẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môitrường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mớihoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có
Trang 15- Doanh nghiệp CNC là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNC, cung ứng dịch
vụ CNC, có hoạt động nghiên cứu và phát triển CNC
- Nhân lực CNC là đội ngũ những người có trình độ và kỹ năng đáp ứng đượcyêu cầu của hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng CNC, dịch vụ CNC, quản
lý hoạt động CNC, vận hành các thiết bị, dây chuyền sản xuất sản phẩm CNC
Tuy nhiên, theo khảo sát yêu cầu của thị trường lao động Việt Nam thì nhânlực CNC được hiểu là đội ngũ những người lao động có các tố chất: kiến thức, kinhnghiệm, kỹ năng học hỏi và khả năng tính lũy từ quá trình hoạt động Trong đó, tínhsáng tạo được coi là quan trọng nhất
Do đó, có thể đút kết lại thành một khái niệm khá toàn diện về nhân lựcCNC: đó là nhân lực có hàm lượng chất xám cao (kỹ năng chuyên nghiệp, trình độngoại ngữ, năng suất lao động cao, v.v) và thường có sù khan hiếm trên thị trườnglao động Là đội ngũ có vai trò quyết định trong việc áp dụng các lý thuyết CNCvào thực tiễn và ngược lại, nghiên cứu từ thực tiễn để phát triển các lý thuyết CNC
2.2 Đặc trưng của công tác QTNS trong lĩnh vực CNC:
Do đặc thù của lĩnh vực CNC là lĩnh vực có hàm lượng cao về nghiên cứu vàphát triển, được tích hợp từ thành tựu khoa học hiện đại nên luôn đòi hỏi tiềm lựcvốn mạnh và đặc biệt là có sự đầu tư lớn về nhân lực Từ các đặc thù đó, bản chấtcông tác QTNS trong lĩnh vực CNC có các điểm khác biệt so với các lĩnh vực khác
và thể hiện như sau:
Về công tác hoạch định tài nguyên nhân sự: vấn đề xác định nên sử dụngnguồn lực chất lượng cao bên ngoài hay phát huy và đào tạo nguồn nhân lực bêntrong luôn làm các nhà QTNS phải cân nhắc kỹ lưỡng Việc kết hợp hoạch địnhchiến lược công nghệ và chiến lược con người cùng một lúc là điều bắt buộc, nhưngtrong các lĩnh vực khác, hai chiến lược này thường đi song hành với nhau nhưng Ýtkhi nào phải kết hợp
Khá khác biệt so với các lĩnh vực khác là công tác tuyển dông nhân sự củangành CNC thường chiếm chi phí lớn vì nguồn tuyển dụng đa phần là nguồn nhân
Trang 16lực chất lượng cao, thường khan hiếm ở thị trường và mang tính cạnh tranh cao giữacác doanh nghiệp cùng ngành
Tương tù cũng có sự khác biệt ở công tác đào tạo và phát triÓn: là công tácbắt buộc và thường xuyên, luôn được coi trọng hàng đầu trong các chức năng củaQTNS Vì mỗi doanh nghiệp CNC sở hữu mỗi bí quyết công nghệ và đây là nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp nên việc đào tạo nhân viên để họ sử dụng và pháttriển công nghệ đó là điều kiện sống còn của doanh nghiệp
Và cuối cùng là các chính sách đãi ngộ nhân sự: bên cạnh chính sách lươnghậu hĩnh thì việc xây dựng môi trường làm việc rất quan trọng Vì đây là yếu tố tạotiền đề cho việc khai thác tối đa khả năng tư duy sáng tạo của nguồn nhân lực
Chính vì các đặc điểm trên mà chi phí cho công tác QTNS trong lĩnh vựcCNC luôn chiếm một tỉ lệ rất lớn trong tổng chi phí của toàn doanh nghiệp CNC.Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay với sự cạnhtranh gay gắt về công nghệ, nếu doanh nghiệp muốn tìm cho mình một chỗ đứng vàkhông bị bật ra khỏi cuộc chơi thì doanh nghiệp phải đầu tư vào công tác QTNS đểluôn đảm bảo được nguồn nhân lực có kĩ năng cần thiết Quá trình này cần bắt đầu
ở cấp cao nhất, từ những CEO Nhưng ngược lại, công tác QTNS tốt với việc bố trínhân lực CNC đúng người, đúng vị trí, đúng thời điểm sẽ đem lại nguồn lợi nhuậnkhổng lồ cho chính doanh nghiệp thông qua hiệu suất lao động cao
Ở các lĩnh vực khác, lợi nhuận và chi phí là hai khoản mục có yếu tố tráingược trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Nhưng cả hai yếu tố này cócùng hệ số tỉ lệ thuận trong công tác QTNS ở lĩnh vực CNC Điều đó có nghĩa là,nếu chi phí cho việc QTNS càng lớn thì nguồn lợi nhuận thu được từ đó cũng cànglớn Nhiệm vụ chính của công tác QTNS trong lĩnh vực CNC chính là việc gia tăng
hệ số giữa một đồng chi phí và khoản lợi nhuận thu được từ nguồn nhân lực CNC
Từ các lập luận trên có thể miêu tả công tác QTNS trong lĩnh vực CNC qua mô hình
Nguån nh©n lùc cña
Trang 17Hình 1.2: Mô hình miêu tả công tác QTNS trong lĩnh vực CNC
2.3 Nhận định về công tác QTNS trong lĩnh vực CNC trước tác động của
KHTC hiện nay:
Công tác QTNS trong lĩnh vực CNC ở điều kiện kinh doanh bình thườngđược hiểu rằng: chi phí bỏ ra cho công tác QTNS càng lớn thì nguồn lợi nhuận màdoanh nghiệp thu được từ hiệu suất lao động của nhân viên càng lớn Nhưng trongđiều kiện KHTC, các khoản mục tÝn dụng thắt chặt, việc tồn tại của doanh nghiệpgiờ đây phụ thuộc rất nhiều vào khả năng cắt giảm chi phí, thì công tác QTNSkhông thể áp dụng quy luật trên nữa Tình thÕ buộc các nhà QTNS phải áp dụngquy tắc mới, nằm trong sự hài hòa và tích hợp với các chiến lược cắt giảm chi phícủa toàn doanh nghiệp Đó là: chi phí cho công tác QTNS chỉ được ở mức tối thiểunhưng hiệu suất lao động hay gián tiếp là nguồn lợi nhuận đem về cho doanh nghiệpphải ở mức tối đa Mô hình công tác QTNS trong lĩnh vực CNC lúc này thay đổinhư sau:
Hình 1.3: Mô hình miêu tả công tác QTNS trong lĩnh vực CNC trong điều kiện
Chi phÝ tèi thiÓu
QTNS
Trang 18cạnh tranh gay gắt trong thị trường nhân lực cao cấp do doanh nghiệp nào cũngmuốn tăng sức mạnh nguồn nhân lực để có thêm nội lực vượt qua suy thoái Thêmvào đó là các thách thức mới của thị trường nhân lực với những xu hướng đi ngượclại quy luật bình thường; và một yếu tố không hiện hữu trên các số liệu thống kênhưng là nhân tố quan trọng - việc bất ổn trong tâm lý nhân viên trước sự thay đổicác chính sách QTNS của doanh nghiệp.
Trong điều kiện KHTC hiện nay, nếu xâu chuỗi hàng loạt những cử độngtrong mét doanh nghiệp sẽ thấy một vòng tròn mâu thuẫn: lạm phát tăng cao - đồngtiền mất giá - đồng lương thực tế bị giảm - nhân viên yêu cầu tăng lương; chi phíđầu vào tăng - cuộc cạnh tranh càng trở nên khốc liệt - khách hàng giảm - thị phầnthu hẹp - doanh thu giảm - phải tiết kiệm các loại chi phí để tồn tại, kể cả phải giảmquỹ lương Cùng một nguyên nhân là nền kinh tế khó khăn, doanh nghiệp nào còngbuộc phải giải hai bài toán cùng một lúc: tăng lương cho nhân viên để tăng năngsuất lao động, tối đa hóa lợi nhuận và giảm quỹ lương cho doanh nghiệp để tiếuthiểu hóa chi phí
Hai bài toán đặt ra cùng một thời điểm Để có đáp án cho cả hai bài toán,buộc các nhà quản trị phải có những nhiệm vụ chiến lược Đó là:
- Triển khai mạnh mẽ các biện pháp của công tác hoạch định tài nguyên nhân
sự để tối thiểu hóa chi phí
- Tăng cường duy trì và tuyển dông nhân tài về với doanh nghiệp để tăng sứcmạnh nguồn nhân lực Thông qua đó, doanh nghiệp có thể tối đa hóa lợi nhuận,vượt qua được khủng hoảng
- Đẩy mạnh công tác giao tế nhân sự để động viên, hỗ trợ nhằm ổn định tâm lýnhân viên Điều này sẽ giúp đảm bảo năng suất làm việc, đồng thời tạo niềm tin chonhân viên về tương lai của doanh nghiệp Từ đó, nhân viên sẽ cống hiÕn tài năngcho doanh nghiệp; gắn bó, tận tâm, trung thành với doanh nghiệp trong hoàn cảnhkhó khăn cũng như giúp doanh nghiệp hồi phục sau khủng hoảng
Trang 19II Tổng quan về công tác QTNS Việt Nam trong lĩnh vực CNC trước tác
động của KHTC hiện nay
1 Bối cảnh chung của thị trường lao động Việt Nam trước tác động của
KHTC hiện nay:
Theo dự báo về tác động của KHTC toàn cầu đến việc làm thì số việc làm bịgiảm đi so với khả năng tạo việc làm của nền kinh tế nước ta trong năm 2009 sẽ là405.000 người Tình trạng thất nghiệp có nguy cơ tăng ngược trở lại, từ 4,64% năm
2008 lên trên mức 5% Trong năm 2008, theo ước tính sơ bộ, tổng việc làm mới tạo
ra thấp, trên 800.000 so với khoảng 1,3 triệu các năm trước (chỉ tăng 1,82% so vớinăm 2007); 1% tăng đầu ra sản xuất, sẽ làm tăng 0,69% số việc làm Các ngành cótương quan giữa lao động và sản phẩm đầu ra cao nhất là nông nghiệp Tiếp đó làcác ngành dịch vụ cộng đồng, ngành cung cấp gas, điện nước và xây dựng, v.v.Điều này cho thấy, lao động làm việc trong các ngành sẽ chịu tác động lớn nếu sảnxuất bị thu hẹp
Bên cạnh đó, tình hình lạm phát trong nước tuy có nhiều khả quan trong quíI/2009 (đã giảm còn 14%) nhưng tình hình kinh tế nước ta vẫn còn gặp nhiều khókhăn Chính phủ dự tính lạm phát năm 2009 sẽ là 8% Tốc độ tăng trưởng kinh tếthấp là nguyên nhân khiến tốc độ tăng việc làm thấp Đồng thời tăng áp lực lên vấn
đề tăng lương cho nhân viên [32]
Dù thị trường nhân lực CNC tại Việt Nam mang đặc điểm khan hiếm so vớinhu cầu xã hội (cung lúc nào cũng thấp hơn cầu) nhưng vẫn chịu các tác động trongbối cảnh chung của thị trường lao động Việt Nam Khoảng cách chênh lệch về cung
- cầu tạm được rút ngắn vì cầu giảm, nhưng vấn đề tăng lương do lạm phát lại cànglàm phình to quỹ lương của doanh nghiệp trên cơ sơ mức lương căn bản cao, do đặcthù của nhân lực CNC
2 Tổng quan về nguồn nhân lực CNC Việt Nam hiện nay
Nguồn cung của nhân lực CNC Việt Nam hiện nay bao gồm hai nguồn chủyếu là trong nước và ngoài nước Mỗi nguồn cung lại mang những đặc điểm khác
Trang 20nhau và trong điều kiện KHTC, những đặc điểm này tác động rất lớn đến công tácQTNS của các doanh nghiệp CNC Việt Nam.
2.1 Nguồn cung nhân lực CNC trong nước:
Trọng tâm CNC của nước ta là tập trung đầu tư vào một số lĩnh vực nhưcông nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và công nghệ tự độnghóa, nên nguồn cung trong nước chủ yếu là nguồn nhân lực được đào tạo theo chỉtiêu tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng có các lĩnh vực đó Theo thống kê
[11] về số lượng nhân lực được đào tạo trong các lĩnh vực đó cho thấy:
Chỉ tiêu tuyển sinh của ngành công nghệ thông tin tăng rất nhanh trong banăm qua: năm 2008 khoảng 50.000 người, tăng 125% so năm 2007 và 160% so vớinăm 2006 Các trường đại học, cao đẳng cả nước cung cấp cho thị trường mỗi nămtrung bình 110.000 kỹ sư công nghệ thông tin, nhưng thực tế chỉ 10% số đó có thểphục vụ tốt cho ngành này
Tự động hoá là một trong những ngành thiếu nhân lực trầm trọng nhất Dùhầu hết các trường thuộc khối ngành kỹ thuật đều có ngành này, nhưng nhân lựccho ngành tự động hoá vẫn bị khan hiếm Hiện số người làm việc trong các lĩnh vực
có liên quan của ngành này của cả nước chỉ khoảng 5.000 người
Ngành công nghệ vật liệu hiện có 6.000 cán bộ nhưng nhân lực cho ngànhvẫn thiếu rất nhiều, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ để có thể chuyểnkiến thức thành công nghệ, chuyển kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệmthành quy trình sản xuất CNC
Tương tự, nhân lực cho ngành công nghệ sinh học cũng không khả quan hơn.Đến năm 2007, Việt Nam mới có 1.500 cử nhân/kỹ sư, 400 thạc sĩ và 90 tiến sĩ vềcông nghệ sinh học Thêm vào đó, ngành công nghệ này hiện rất hiếm chuyên gia,tổng công trình sư đầu đàn xứng tầm để điều khiển nền công nghệ sinh học nôngnghiệp một cách nhịp nhàng, đồng bộ Mặc dù mạng lưới phòng thí nghiệm về côngnghệ sinh học được thiết lập ở nhiều nơi, nhưng vẫn chưa có sự phối hợp trongnghiên cứu, đào tạo và ứng dụng
Trang 21Nếu so với dù kiÕn đào tạo đội ngũ nhân lực CNC đến năm 2020 của Nhànước, Chính phủ: 30.000 sinh viên công nghệ thông tin, 25.000 sinh viên công nghệsinh học, 25.000 sinh viên công nghệ tự động hóa và 25.000 sinh viên công nghệvật liệu; bên cạnh đó, phải đào tạo 28.000 người trình độ sau đại học về các lĩnh vựcnày; thì rõ ràng ngành CNC nước ta đang thiếu nhân lực trầm trọng
Trong khi đó, môi trường đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng của nước
ta còn nhiều bất cập Trình độ và kiến thức của các sinh viên thường thiếu kỹ năngngoại ngữ, kỹ năng giải quyết vấn đề cũng như khả năng ứng dụng một loại côngnghệ chuyên sâu nào đó; nên hầu hết doanh nghiệp đều phải có chiến lược đào tạo
và phát triển lâu dài trong công tác QTNS đối với nguồn nhân lực này Tuy nhiên,
để có thể đạt được yêu cầu sau khi đào tạo và phát triển thì doanh nghiệp phải lựachọn sinh viên có nền tảng kiến thức và có tiềm năng phát triển Nhưng trong sèsinh viên Việt Nam tốt nghiệp các chuyên ngành CNC thì cũng có thể nói có một sốlượng rất lớn sinh viên không đáp ứng được yêu cầu (mức độ đáp ứng tùy thuộc vàotiêu chí tuyển chọn của từng doanh nghiệp)
Vì vậy, có thể nói đội ngũ nhân lực CNC Việt Nam hiện nay không chỉ thiếu
về số lượng mà còn yếu về chất lượng khi chưa theo kịp với nhu cầu xã hội Tuytrong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, mọi hoạt động kinh doanh đều bị cắt giảmnhưng việc tìm được nguồn nhân lực CNC đáp ứng yêu cầu là điều kiện tiên quyết
để vượt qua khủng hoảng Do đó, dưới tác động của KHTC, thị trường lao độngCNC trong nước càng gây thêm nhiều khó khăn cho công tác QTNS của các DNVNtrong lĩnh vực CNC
2.2 Nguồn cung nhân lực CNC ngoài nước:
Nguồn nhân lực CNC từ nguồn cung ngoài nước bao gồm chủ yếu các đốitượng lao động là sè Ýt người nước ngoài và phần lớn còn lại là các Việt kiều hồihương Họ là những người muốn quay về quê hương làm việc, hoặc là lao động bịcác tập đoàn CNC Quốc tế sa thải trong các đợt cắt giảm nhân sự
Trang 22Mặc dù chỉ chiếm một số Ýt trên thị trường lao động song đây cũng là nhân
tố lạ, thu hút sự chú ý của nhà tuyển dụng Bởi họ tuy nằm trong diện sa thải củacác doanh nghiệp nước ngoài nhưng đều là những người có kinh nghiệm và có trình
độ cao so với mặt bằng lao động tại Việt Nam
Trong đặc thù của ngành CNC Việt Nam, nếu so sánh với nguồn nhân lựctrong nước thì nguồn cung ngoài nước này, mà cụ thể là nguồn nhân lực Việt kiều
có các ưu điểm hơn hẳn:
Ưu điểm đầu tiên là mức lương vừa phải NÕu so với lao động trong nước
thì lương của lao động Việt kiều thường chỉ cao hơn khoảng 20% [20], nhưng chất
lượng và hiệu quả công việc thì cao hơn đáng kể Bên cạnh đó, so với nhân lực cùng
vị trí là người nước ngoài thì lao động Việt kiều lại không đòi hỏi mức lương quácao Trước đây, với các vị trí cao cấp, đặc biệt là trong lĩnh vực CNC, các doanhnghiệp Việt Nam có xu hướng tuyển dụng nhân sự nước ngoài với một khoản chiphí rất lớn Nhưng với sự tham gia của nguồn nhân lực Việt kiều, với cùng ưu thế
về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, phong cách và các kỹ năng mềm, các doanhnghiệp Việt Nam đã có sự lựa chọn mới
Hơn nữa, do được đào tạo trong môi trường giáo dục bài bản, từng va chạmthực tế trong môi trường làm việc khắc nghiệt ở nước ngoài, lao động Việt kiều cónhững kỹ năng, kiến thức mà lao động trong nước còn khiếm khuyết Ưu thế nổi bật
là các kỹ năng mềm, đặc biệt là khả năng làm việc nhóm rất hiệu quả Bên cạnh đó,ngoại ngữ tốt khiến họ dễ dàng cập nhật và xử lý thông tin từ nước ngoài Đặc biệt
họ là những người đã có kinh nghiệm ở các tập đoàn CNC Quốc tế nên có thêm vốnKH&CN cao hơn so với nhân lực trong nước
Xét về khía cạnh hiệu quả làm việc thì một nhân sự Việt kiều có khi bằng ba,bèn lao động trong nước Sở dĩ có được điều này là do những lao động Việt kiềubiết tổ chức công việc một cách khoa học, phát huy tối đa năng lực của các cộng sự
và trên hết là phong cách làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm Điều này đáp ứngđược yêu cầu về sự chính xác và khoa học của lĩnh vực CNC mà lao động trongnước còn thiếu
Trang 23Rõ ràng với các ưu điểm nổi bật, lực lượng lao động Việt Kiều như là mộtchiếc phao cứu sinh cho các doanh nghiệp CNC Việt Nam trong điều kiện khó khănhiện nay Họ chÝnh là một trong những nhân tố quan trọng mang đến thành côngcho quá trình phát triển của các doanh nghiệp CNC Việt Nam trong bối cảnh thịtrường nhân lực CNC trong nước còn nhiều vấn đề bất cập Nhìn theo hướng tíchcực thì lực lượng này còn có thể tạo một cú hích để thúc đẩy nâng cao nguồn nhânlực CNC trong nước.
Tuy nhiên, bên cạnh các ưu điểm trên, thì trong thị trường nhân lực CNCViệt Nam, nguồn nhân lực Việt kiều cũng có những hạn chế nhất định:
Hạn chế đầu tiên liên quan đến các thủ tục, cơ chế của đãi ngộ của Chínhphủ ĐÓ có việc làm trong nước, điều kiện đầu tiên là lao động Việt Kiều phải xingiấy phép lao động của cơ quan quản lý Nhà nước địa phương Tuy nhiên rất nhiềulao động này đã không thể xin giấy phép dễ dàng, và điều này gây ra nhiều khókhăn cho cả nhà tuyển dụng
Thêm vào đó là sự khó hòa nhập Một nguyên nhân không nhỏ khiến ngườilao động Việt Kiều khó hòa nhập vào môi trường làm việc trong nước là sự khácbiệt văn hóa và phong cách làm việc Phong cách làm việc tự do, và sáng tạo, luônthẳng thắn đề xuất các ý tưởng mới là những điểm khác biệt lớn so với phong cáchlàm việc còn mang nặng tính bao cấp của một số doanh nghiệp CNC trong nước
Theo dự báo của một số chuyên gia thị trường lao động, làn sóng lao độngViệt Kiều đổ về nước tìm việc sẽ còn tăng cao trong thời gian tới Có thể khi kinh tếthế giới phục hồi, một số sẽ trở về làm việc ở nơi định cư, nhưng chắc chắn sẽ cóhàng nghìn người làm việc lâu dài ở Việt Nam Vì thế, các doanh nghiệp CNC ViệtNam cần có những chiến lược tuyển dụng phù hợp để có thể đem lại hiệu quả caonhất cho doanh nghiệp mình
3 Tổng quan về công tác QTNS của các doanh nghiệp CNC Việt Nam
trong điều kiện KHTC hiện nay:
Trang 24CNC là lĩnh vực còn khá mới mẻ ở nước ta Mặc dù Việt Nam ta đã hìnhthành các khu CNC như Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh, Khu CNC Hòa Lạcnhưng chủ yếu thu hút đầu tư nước ngoài Phần còn lại là hàng trăm DNVVN đượchình thành từ Vườn ươm doanh nghiệp CNC, và các tổ chức, doanh nghiệp đượctách ra từ Viện nghiên cứu và ứng dụng KH&CN theo tinh thần nghị định115/2005/NĐ - CP về “Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chứckhoa học và công nghệ công lập” Trong sè 1.200 tổ chức KH&CN cả nước hiệnnay có 560 tổ chức của Nhà nước hay còn gọi là công lập Khoảng một nửa tổ chứccông lập Êy sẽ chịu sự điều tiết của Nghị định 115 Trước mắt, khoảng 2/3 trongnhóm tổ chức chịu điều tiết sẽ áp dụng ngay Đến cuối tháng 12/2009, tất cả các tổchức KH&CN công lập trong diện chuyển đổi sẽ phải chuyển đổi thành một tronghai hình thức, hoặc là thành tổ chức KH&CN tù trang trải kinh phí hoặc là thành
doanh nghiệp KH&CN [1]
Sự khác biệt về nguồn gốc hình thành cũng như thông lệ quản lý ở các loạihình tổ chức khác nhau làm cho công tác QTNS trong mỗi doanh nghiệp CNC củaViệt Nam có các điểm mạnh, điểm yếu khác nhau:
3.1 Các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài:
Các doanh nghiệp này đã xây dựng được một đội ngũ có năng lực thực hiệnvai trò nhân sự hiệu quả và chuyên nghiệp hơn so với các doanh nghiệp khác Hệthống sẵn có và văn hoá quản lý con người từ tập đoàn mẹ ở nước ngoài tiếp tụcđược phát huy ở Việt Nam Những kinh nghiệm tốt về QTNS thường xuất phát từnhững doanh nghiệp này
Về công tác hoạch định tài nguyên nhân sự: do có hệ thống quản lý danh mụcnhân sự hiện đại và chuyên nghiệp nên công tác dự báo tài nguyên nhân sự hầu hếtrất chính xác nhờ sự trợ giúp từ các công cụ dự báo hiện đại Thêm vào đó, kinhnghiệm dự báo với các biến đổi bất ngờ, ngẫu nhiên như KHTC hiện nay cũng đónggóp không nhỏ trong việc hoạch định tài nguyên nhân sự của các doanh nghiệp này
Trang 25Về công tác tuyển dụng: việc tuyển chọn ứng viên thông qua chương trình
“Management trainee” (Quản trị viên tập sự) khá phổ biến tại các doanh nghiệp nàytrên cơ sở ứng dụng chương trình gốc từ tập đoàn mẹ Quy trình thông thường củachương trình gồm các vòng: sơ tuyển hồ sơ, kiểm tra kiến thức và kỹ năng xử lý vấn
đề, phỏng vấn trực tiếp và cuối cùng là kiểm tra kỹ năng lãnh đạo Nếu được tuyểnchọn, các ứng viên sẽ trải qua thời gian khoảng 02 năm làm việc vừa được đào tạodưới sự hướng dẫn trực tiếp của “Line Manager” (Giám đốc trực tuyến) với lươngbổng hấp dẫn, được thuyên chuyển qua nhiều bộ phận và nhiều chi nhánh tại cácnước Do đó, hầu như các doanh nghiệp này Ýt phải trả giá cho sù sai sót trongcông tác tuyển dụng nhờ vào cơ chế “sàng lọc” gắt gao như trên Thêm vào đó,
“thương hiệu” mà các doanh nghiệp này có được từ danh tiếng của tập đoàn mẹ làmột trong những yếu tố đầu tiên thu hút các ứng viên so với các doanh nghiệp khác.Tuy nhiên, nhìn ở khía cạnh ngược lại thì trong bối cảnh thị trường nhân lực CNCViệt Nam yếu cả về “chất” lẫn “lượng”, việc tuyển dụng được số lượng ứng viênđáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp là điều vô cùng khó khăn
Về công tác đào tạo - phát triển: hầu hết các doanh nghiệp đều lựa chọn ứngviên tiềm năng và sau đó tổ chức đào tạo và phát triển tại quốc gia có công nghệnguồn từ bên ngoài Việt Nam Vì thế, chi phí cho công tác đào tạo - phát triểnthường chiếm tỉ lệ rất lớn trong cơ cấu chi phí nhân sự của doanh nghiệp Nguyênnhân là do các doanh nghiệp CNC này thường có các công nghệ tiên tiến và độcquyền từ tập đoàn mẹ, nên để có thể vận hành khi dây chuyền của tập đoàn mẹ tiếnhành kinh doanh tại Việt Nam, nguồn nhân lực bắt buộc phải được đào tạo bài bản
Về công tác đãi ngộ nhân sự: bên cạnh mức lương hấp dẫn, cơ hội được đàotạo và phát triển thì một môi trường làm việc tuyệt vời là điều thường thấy ở cácdoanh nghiệp này Các chính sách chăm lo sức khỏe cho nhân viên, các hoạt độngcông tác xã hội và kiến trúc, cơ sở hạ tầng hiện đại, cũng như cung cách làm việc
mở và sáng tạo, v.v đã giúp cho các doanh nghiệp này khai thác tối đa năng suấtlàm việc của nhân viên, cũng như duy trì được lòng trung thành, tận tụy của nhânviên với doanh nghiệp
Trang 26Về công tác giao tế nhân sự: chiếm một phần quan trọng trong công tácQTNS của các doanh nghiệp Đây là điều kiện bắt buộc cho môi trường làm việc đavăn hóa của doanh nghiệp Tuy nhiên, vấn đề về ngôn ngữ, cũng như phong tục tậpquán khác nhau của nhân viên đến từ nhiều nước đã gây ra không Ýt khó khăn chodoanh nghiệp
Trong bối cảnh KHTC, ngoài tác động từ xu hướng chung của thị trườngnhân lực trong nước, các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài còn chịu thêm ảnhhưởng từ các chính sách toàn cầu của tập đoàn mẹ, chẳng hạn như việc tiếp nhậnnguồn nhân lực bị thuyên chuyển từ doanh nghiệp khác - nơi chịu tác động củaKHTC nặng nề hơn trong cơ cấu của tập đoàn, đã gây ra nhiều khó khăn cho côngtác QTNS, đặc biệt là vấn đề nội địa hóa nguồn nhân lực khi khủng hoảng qua đi
3.2 Các DNVVN được hình thành từ Vườn ươm doanh nghiệp CNC:
Tuy nhận được sự hỗ trợ, tư vấn từ Vườn ươm trong những năm đầu thànhlập về mọi phương diện hoạt động của doanh nghiệp, nhưng do đặc điểm quy môvừa và nhỏ (từ 18 - 30 người), nên hầu hết các doanh nghiệp này đều không có sự rõràng trong chức năng của bộ phận nhân sự Nhân sự lại đa phần là nhân sự trẻ, Ýtkinh nghiệm, bản thân người làm giám đốc (đa phần là người có chuyên môn về cáclĩnh vực CNC, nhưng không chuyên sâu về nhân sự) lại kiêm nhiệm luôn công tácQTNS
Chính vì lẽ đó nên các quyết định trong công tác hoạch định tài nguyên nhân
sự thường mang thiên hướng chủ quan cá nhân và hầu như không tiến hành dự báo
về nguồn tài nguyên nhân sự, đặc biệt là dự báo cho các biến động bất ngờ nhưKHTC Điều đó đã làm cho nhiều DNVVN rơi vào tình trạng thừa biên chế Vì thếcùng lúc các doanh nghiệp phải giải quyết hai tình trạng mâu thuẫn trong công táchoạch định tài nguyên nhân sự: thiếu nhân viên CNC có tiêu chuẩn phù hợp với yêucầu của doanh nghiệp hay các nhân sự cao cấp nhưng lại thừa lao động không cótrình độ lành nghề hoặc có những kỹ năng được đào tạo không còn phù hợp vớinhững yêu cầu hiện tại, dẫn đến năng suất lao động thấp
Trang 27Về công tác tuyển dụng nhân sự: chưa tiếp cận được quan điểm tuyển dụnghiện đại, doanh nghiệp vẫn nhìn nhận con người dựa trên tiêu chí hiểu biết (bằngcấp) chuyên môn và IQ thay vì kỹ năng làm việc và EQ Do đó, sai sót trong côngtác tuyển dụng rất hay xảy ra, và doanh nghiệp phải mất thời gian dài để phát hiện
ra sai sót này Thêm vào đó, sự mới mẻ trên thị trường CNC cũng làm cho doanhnghiệp rất khó tiếp cận các nguồn nhân lực cao cấp trong công tác thu hót
Về công tác đào tạo - phát triển: do quy mô vốn đầu tư nhỏ trong khi công tácđào tạo - phát triển lại chiếm chi phí lớn, nên tại các DNVVN, công tác này thường
bị bỏ qua Đa phần các doanh nghiệp đều tuyển ứng viên với vốn đào tạo sẵn có,nhưng lại không hề có kế hoạch đào tạo hay phát triển ứng viên đó Vì thế, điều này
đã vô tình hạn chế khả năng sáng tạo của nguồn nhân lực doanh nghiệp
Về công tác đãi ngộ nhân sự: tuy lĩnh vực CNC thường mang lại nhữngkhoản lợi nhuận khổng lồ nhưng cũng có một số DNVVN có hiệu quả sản xuất kinhdoanh thấp nên thu nhập của nhân viên thấp, cộng thêm là tác động của tình hìnhlạm phát trong nước nên càng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, sự nhiệt tình và hiệuquả làm việc của nhân viên Thêm vào đó, tư tưởng của người làm công tác QTNSvẫn chưa thoát khỏi quan điểm: coi người lao động chỉ mưu cầu nhiều lợi Ých tàichính và danh vọng, chứ chưa coi trọng mong muốn được khám phá và phát triểnkhả năng cá nhân tạo nên sự hài lòng về nghề nghiệp Do đó, các khái niệm về xâydựng một môi trường làm việc tuyệt vời hầu như không được đề cập trong doanhnghiệp
Về công tác giao tế nhân sự: mối quan hệ giữa nhà lãnh đạo và nhân viên vẫncòn mặng nặng phong cách “chủ - tớ” Nhân viên mang tư tưởng là “bán sức laođộng” cho doanh nghiệp, nên chỉ làm hết trách nhiệm, bổn phận của mình trongnhững khoản lương mình được trả
Các tác động của KHTC hầu như đã làm “đóng băng” các chính sách QTNScủa các DNVVN trong lĩnh vực CNC Nguyên nhân một phần là do đặc điểm củangành CNC cần vốn đầu tư ban đầu rất lớn, vì bên cạnh chi phí sản xuất thì cácdoanh nghiệp phải dành một khoản đầu tư không nhỏ cho công tác nghiên cứu và
Trang 28phát triển, trong khi đó, các DNVVN trong lĩnh vực CNC của Việt Nam thì đa phầnvốn yếu, sản phẩm lại phải cạnh tranh với hàng nhập ngoại, nên trong hoàn cảnhkinh doanh khó khăn do tác động của KHTC, công tác QTNS hầu như bị đóng băngtrong chiến lược cắt giảm chi phí Phần khác là do, DNVVN hầu như không có kinhnghiệm, cũng như tiềm lực để có thể vạch ra chiến lược nhân sự dài hạn trong bốicảnh hiện tại, nên dẫn đến tình trạng thụ động và các quyết định nhân sự chỉ mangtính đối phó nhất thời.
3.3 Các tổ chức, doanh nghiệp được hình thành theo tinh thần Nghị định
115/2005/NĐ - CP:
Khi trở thành doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN công lập từ nay trở đi cóhàng loạt quyền mới, trong đó có quyền về nhân sự Cụ thể, người đứng đầu từ naytrở đi có quyền quyết định toàn bộ biên chế của tổ chức, có quyền bổ nhiệm, miễnnhiệm, biệt phái, nghỉ hưu, chấm dứt hợp đồng lao động, khen thưởng, kỷ luật tất cảcác chức vụ trong tổ chức của mình Thủ trưởng đơn vị có quyền “trực tiếp quyếtđịnh mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ranước ngoài công tác” (Khoản b, Tiết 4, Điều 5, Mục 1, Chương II, Nghị định số
115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005) [1]
Việc thực hiện quy định này sẽ chấm dứt tình trạng nhức nhối lâu nay trongcông tác hoạch định tài nguyên nhân sự của các tổ chức, doanh nghiệp này Đó làtình trạng nhiều cán bộ sau khi vào biên chế cứ thế yên vị cho đến hưu cho dù nănglực yếu kém hoặc lười biếng hoặc làm việc không hiệu quả Tuy nhiên công táchoạch định nhân sự vẫn còn bị hạn chế là chức phó của tổ chức vẫn phải được thủtrưởng cơ quan quản lý cấp trên quyết định nhằm tránh nguy cơ người đứng đầuđơn vị trục lợi, đưa người thân quen của mình vào các vị trí chủ chốt nhất trong tổchức Do đó, tuy mang danh nghĩa là tự chủ nhưng việc thực thi công tác hoạchđịnh nhân sự vẫn mang tính cơ chế quan liêu, mang nặng tư duy bao cấp
Về công tác tuyển dụng nhân sự: đa phần thụ động và mang nặng hình thức
“con ông, cháu cha” Con của các cán bộ đảm nhận chức vụ lớn lại thường được ưu
Trang 29tiên tuyển dụng Chính điều này đã cản trở rất lớn việc tuyển dụng đúng người- mộtyếu tố then chốt của công tác QTNS.
Bên cạnh đó, sự hạn chế về trình độ nhận thức và kỹ năng lãnh đạo cũng như
kỹ năng về QTNS của cán bộ làm công tác QTNS trong doanh nghiệp cũng là mộtthách thức lớn trong công tác đãi ngộ nhân sự nói riêng của các tổ chức, doanhnghiệp này Đãi ngộ nhân sự thường được thực hiện theo thiên hướng dựa trên thờigian gắn bó của nhân viên thay vì dựa vào hiệu suất làm việc Điều này đã cản trở
sự đóng góp và lòng tận tâm của các nguồn nhân lực trẻ
Công tác giao tế nhân sự: hầu như không được xem trọng trong các doanhnghiệp này, thay vào đó là lối giao tiếp theo phong cách “thượng đội hạ đạp”
Trong điều kiện KHTC, do được sự bảo hộ của Chính phủ (vẫn còn tồn tạitrên thực tế) nên áp lực về chi phí nhân sự không nặng nề như các doanh nghiệpkhác Do đó, công tác QTNS tại các doanh nghiệp này vẫn còn mang tính “ỷ lại” vàthường không có quyết định lớn
Những khó khăn, hạn chế trong công tác QTNS của các doanh nghiệp CNCViệt Nam cùng với việc tích hợp với các chiến lược đối phó KHTC, đang đặt ra yêucầu cấp thiết về việc thay đổi cơ bản cách thức hoạt động quản trị con người trongdoanh nghiệp CNC Việt Nam Để làm được điều đó đòi hỏi những người làm côngtác QTNS trong doanh nghiệp CNC nước ta phải có sự học hỏi, tiếp thu kinhnghiệm từ các tập đoàn CNC Quốc tế đi đôi với việc sáng tạo trong phương thức ápdụng vào công tác QTNS của từng doanh nghiệp
III Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu kinh nghiệm QTNS trong điều
kiện KHTC hiện nay của các tập đoàn CNC Quốc tế đối với DNVN cùng lĩnh vực
1 Tầm quan trọng của ngành CNC đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam:
Ngày nay chóng ta đều biết rằng tất cả các nước phát triển nhanh đều do nềnkinh tế tri thức, mà ở đó tỉ trọng dịch vụ CNC ngày một lớn hơn trong tổng thu nhậpquốc dân Có thể nói, tiềm lực KH&CN của thế giới hiện đại, chủ yếu tập trung ở
Trang 30các nước có thế mạnh về CNC, đó là các nước: Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Anh vàPháp Ngoài ra, một số nước và vùng lãnh thổ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương(Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Singapore và Đài Loan) đã và đang có nhữngthành tựu về của ngành CNC
Theo đánh giá của các chuyên gia, trong sản xuất sản phẩm CNC, thế giới đã
sử dụng tới gần 50 loại công nghệ lớn CNC bao hàm toàn bộ kiến thức và năng lựcsản xuất để sản xuất ra các sản phẩm có hàm lượng khoa học cao như: máy bay, tàuthủy, lò phản ứng hạt nhân, vật liệu kết cấu mới, thiết bị liên lạc viễn thông, chươngtrình máy tính, v.v Trong đó, giá trị sản lượng sản phẩm CNC đóng góp to lớn vàotổng giá trị GDP - 70% giá trị thương mại toàn cầu, 25/50 ngành có tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu cao nhất thế giới thuộc ngành có hàm lượng CNC của nền kinh tếvào năm 2007 Ngành CNC phát triển với nhịp độ cao sẽ quy định các phương
phướng phát triển chủ yếu của tiến bộ khoa học và công nghệ [8]
Việt Nam trong những năm qua đã duy trì tương đối ổn định tốc độ tăngtrưởng kinh tế là điều thật đáng tự hào Tuy nhiên, tính ổn định và tốc độ tăngtrưởng kinh tế còn có thể cao hơn nữa nếu CNC trở thành nòng cốt của nền kinh tế,trở thành công cụ sắc bén cho tiến trình xây dựng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóađất nước Nhận định đó hoàn toàn có cơ sở, biểu hiện qua những đóng góp hiện tạicủa ngành vào nền kinh tế Việt Nam cũng như các dấu hiệu cho thấy tiềm năng pháttriển của ngành
1.1 Những đóng góp của ngành CNC trong nền kinh tế Việt Nam:
Nhận thức được tầm quan trọng của CNC đối với sự phát triển đất nước,ngay từ cuối những năm 80 đầu 90 của thế kỷ trước, Chính phủ ta đã xác định bènlĩnh vực CNC chủ yếu: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới và tựđộng hóa song song với việc thực hiện bèn chương trình nghiên cứu trọng điểmquốc gia kéo dài nhiều năm
Mét trong những công cụ để chuyển nhanh các kết quả nghiên cứu và triểnkhai nội sinh của bốn chương trình trên ra thị trường công nghệ là các khu CNC,nơi tập trung cao độ về nghiên cứu - phát triển sản phẩm, thương mại hóa trong thời
Trang 31gian ngắn trong môi trường thuận lợi của các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ,các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tốt nhất
Hiện tại, Việt Nam tuy chỉ mới có hai khu CNC là Khu CNC Thành phố HồChí Minh ở phía Nam và Khu CNC Hòa Lạc ở phía Bắc nhưng ngành CNC, thôngqua các dự án đầu tư vào hai khu CNC này đã có những đóng góp to lớn cho nềnkinh tế Việt Nam
14 dự án FDI - 1,289 tỷ USD và 14 dự án đầu tư trong nước - 1.828 tỷ đồng VN).Riêng 10 tháng đầu năm 2007 đã thu hót 100 triệu USD đầu tư FDI Trong số các
dự án đầu tư trong nước, có các doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực côngnghệ thông tin như VTC, FPT, v.v Đặc biệt, Khu CNC đã cấp giấy phép đầu tư chonhiều tập đoàn nổi tiếng từ các quốc gia khác nhau trên thế giới : Intel (Hoa Kỳ);Jabil (Singapore); Sonion (Đan Mạch); Nidec (Nhật Bản), v.v Các dự án đầu tư chủyếu tập trung vào các lĩnh vực lắp ráp, kiểm tra linh kiện điện tử
Sự kiện thu hút tập đoàn Intel đầu tư vào Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh(tháng 02/2006) đã tạo cú hích cho công tác xúc tiến đầu tư và hợp tác quốc tế -nhiều doanh nghiệp, đối tác tìm hiểu cơ hội đầu tư và hợp tác với Khu CNC Hiệnđang có 40 nhà đầu tư quan tâm và đang hoàn thành các thủ tục đầu tư vào KhuCNC với tổng vốn đầu tư khoảng 722 triệu USD (hơn 132 ha đất); ngoài ra, 5 nhàđầu tư có nhu cầu thuê 65.000m2 nhà xưởng để đầu tư khoảng 113 triệu USD chocác hoạt động sản xuất CNC Cũng kể từ thời điểm đó mà Việt Nam đã có tên trên
bản đồ CNC thế giới [14]
Trang 321.1.2 Khu CNC Hòa Lạc:
Khu công nghệ cao Hoà Lạc với tổng diện tích 1.650ha dự kiến đến năm
2020 là dự án trọng điểm quốc gia, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1998tại huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây
Ban quản lý Khu CNC Hòa Lạc cho biết, từ đầu năm đến nay Ban này đã kýbiên bản ghi nhớ đầu tư tổng trị giá khoảng 500 triệu USD cho giai đoạn 2007-
2008 Trong tám tháng đầu năm 2007, đã có hàng trăm đoàn doanh nghiệp NhậtBản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Trung Quốc, v.v đến tìm hiểu cơ hội đầu tư vào Khu Côngnghệ này, trong đó đáng kể là các công ty IMI (Philippines), ACE (Hàn Quốc),APSS (Hoa Kỳ), NPC (Óc), Công ty Viễn thông Quân đội Viettel v.v Để đáp ứngcác nhu cầu của các nhà đầu tư, Ban quản lý đã tiến hành quy hoạch chi tiết các khuchức năng như Khu công nghiệp CNC, Khu đào tạo, Khu phần mềm cũng như xây
dựng các công trình cơ sở hạ tầng chung trong khuôn viên, v.v [18]
Mét khi những dự án đầu tư vào Khu CNC Hòa Lạc hoàn thành và đi vàophát triển thì hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng năm của các đơn vị và doanhnghiệp trong Khu CNC sẽ góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
và đưa Việt Nam sớm trở thành một nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
1.2 Tiềm năng phát triển của ngành CNC Việt Nam
1.2.1 Thời cơ phát triển CNC ở Việt Nam:
Theo định nghĩa thường được các nhà đầu tư quan tâm: sản phẩm CNC làsản phẩm chỉ xét chủ yếu trên giá trị lợi nhuận của thời kỳ trưởng thành của một sảnphẩm đi từ nghiên cứu và triển khai Theo cách nhìn này: hàm lượng tri thức trongsản phẩm chỉ có giá trị khi được thương mại hoá thành công Sản phẩm CNC ở đâyđược hiểu là sản phẩm vật chất và cả giải pháp phi vật chất
Do tuổi đời của một sản phẩm CNC ngắn, nên sau thời kỳ trưởng thành thìsản phẩm CNC bước vào thời kỳ suy thoái về tỷ suất lợi nhuận nhưng vẫn hơn mộtsản phẩm truyền thống bình thường nên được tạm gọi là sản phẩm kỹ thuật cao Sảnphẩm kỹ thuật cao thường chuyển giao cho các nước có môi trường sản xuất đảmbảo giá thành cạnh tranh trong bối cảnh sự cạnh tranh khốc liệt của tiến trình toàn
Trang 33cầu hoá Như vậy sản phẩm CNC sinh ra ở các nước “Dẫn đầu” về công nghệ (Hoa
Kỳ, Đức, Nhật, Nga, v.v) cần phải nhanh chóng chuyển qua sản xuất tại các nước
“Phát triển” (Đài Loan, Hàn quốc, Israel v.v) ở đây thành phần nghiên cứu - pháttriển vẫn tiếp tục tăng cường bổ sung cho vào sản phẩm nhưng thường là nghiêncứu công nghệ thích nghi Khi mức lợi nhuận không hấp dẫn nhưng sản phẩm tiếptục có nhu cầu sản lượng tăng trong ý nghĩa nó được phân ra nhiều thành phần giaocho công nghiệp hỗ trợ (hay hệ thống sản phẩm công nghệ), sản phẩm công nghiệp
kỹ thuật cao được phân lại cho các nước “Tiếp thu” (Trung quốc, Malaysia,Singapore v.v) dưới dạng outsourcing (thuê nhân lực bên ngoài) hay B2B (doanhnghiệp và doanh nghiệp) Mét khi công nghệ gần như phổ biến chỉ còn vài bí quyếtcông nghệ về chất lượng sản phẩm kỹ thuật cao sẽ được sản xuất ngay tại các nước
“Làm theo” tức các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Rõ ràng đây là thời cơ cho một nước đang phát triển như Việt Nam tham giavào thị trường CNC toàn cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Việt Namđang nổi lên với vai trò là điểm đến của dòng đầu tư CNC vào Châu Á
1.2.2 Nhận thức của Chính phủ về tầm quan trọng của CNC trong nền kinh tế:
Chính phủ Việt Nam đã sớm khẳng định tầm quan trọng của CNC trong nềnkinh tế: CNC là hạt nhân của khoa học công nghệ và mọi phát triển khoa học côngnghệ phải hướng đến CNC nhằm mục đích nâng cao thực lực khoa học công nghệ
để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng CNC có ý nghĩachiến lược với quốc gia, đòi hỏi tính cạnh tranh quốc tế Đặc biệt trong bối cảnhKHTC hiện nay, CNC tạo điều kiện để tạo ra và phát triển những sản phẩm có chấtlượng và giá trị gia tăng cao, mở ra ngành nghề mới, giúp nền kinh tế vượt quanhững tác động của cuộc KHTC Với sù quan tâm xây dựng và phát triển ngànhCNC, Chính phủ ta chủ trương xây dựng nền Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đấtnước là xây dựng nền công nghiệp đồng bộ và trên nền tảng CNC, biến CNC thànhlực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế, tạo sức bật cho việc đổi mới cán cânchênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, phát huy cao độ các tác động tốt đẹp củaCNC đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế
Trang 34Kết quả nêu trên cho thấy cơ hội xây dựng và phát triển ngành CNC ViệtNam còn nhiều triển vọng, với nhiều đối tượng và lĩnh vực ngành nghề CNC.
2 Bề dày kinh nghiệm QTNS trong điều kiện KHTC của các tập đoàn
CNC Quốc tế:
Kinh tế thế giới thường phát triển theo chu kỳ hình sin và chu kỳ phát triểncủa nền kinh tế thế giới thường là 10 - 12 năm Không bao giê kinh tế thế giới liêntục tăng trưởng cao hay liên tục giảm xuống thấp trong thời kỳ dài hàng chục năm
Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới trong mấy chục năm gần đây đã xảy ra một
số cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sau:
Vào năm 1973: thế giới xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng với giá dầu thô
đã tăng lên tới hơn 100 USD/thùng
Đến năm 1985: thế giới đã xảy ra cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế trên phạm
vi toàn cầu, trong đó nền kinh tế thế giới với mô hình chủ yếu từ nền kinh tế đạicông nghiệp cơ khí (với đặc trưng là công nghiệp cơ khí máy móc to lớn, cồng kềnh
và ô nhiễm môi trường) chuyển sang nền kinh tế dịch vụ (hay còn gọi là nền kinh tếtri thức, nền kinh tế hậu công nghiệp) với đặc trưng chủ yếu là CNC, năng suất cao,sạch và thân thiện với môi trường Chính trong bước nhảy quan trọng này, thế giới
đã hình thành nhiều tập đoàn CNC như: Micorsoft, IBM, Intel, v.v và thiết lập mạngInternet trên phạm vi toàn cầu
Tiếp đến năm 1997: thế giới xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu
Á (điển hình nhất là ở Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc) đã ảnh hưởng đến toàn bộnền kinh tế thế giới
Với lập luận như trên là nền kinh tế thế giới phát triển theo chu kỳ hình sinkhoảng 12 năm, thì trong năm 2009 nền kinh tế thế giới sẽ xảy ra khủng hoảng.Thực tế là cuối năm 2008, nền kinh tế Hoa Kỳ đã bị khủng hoảng tài chính - tiền tệnặng nề với việc phá sản của hàng loạt ngân hàng lớn và đã ảnh hưởng trầm trọng
đến nền kinh tế thế giới [13]
Những dữ kiện trên cho thấy các tập đoàn CNC Quốc tế đã ra đời từ trongchính khủng hoảng và đã trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ có tính
Trang 35chất gần giống như cuộc KHTC hiện nay Mỗi cuộc khủng hoảng qua đi là sự ra đờicho một tiến bộ mới, mà trong đó, sự đổi mới về công nghệ là điều tiên phong Với
sự từng trải qua các cuộc khủng hoảng, kỹ năng và kinh nghiệm về hoạch địnhchiến lược kinh doanh, trong đó có công tác QTNS của các tập đoàn CNC Quốc tế
là mét kho báu quý giá cho thế giới nói chung và cho các doanh nghiệp trong lĩnhvực CNC nói riêng
3 Lợi Ých của việc nghiên cứu kinh nghiệm QTNS trong điều kiện KHTC
hiện nay của các tập đoàn CNC Quốc tế đối với DNVN cùng lĩnh vực:
Cuộc KHTC toàn cầu đã tác động to lớn đến nền kinh tế thế giới Theo cácchuyên gia nhận định, nền kinh tế thế giới không thể hồi phục vào năm 2008, vàkhủng hoảng chắc chắn sẽ tiếp tục gây ra nhiều khó khăn vào năm 2009 Với sự hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam tuy không tránhkhỏi những tác động đó nhưng nhờ vào hiệu quả của các chính sách giải cứu nềnkinh tế của Chính phủ, nên những tác động đó chỉ làm suy thoái kinh tế , và nguy cơ
làm bùng phát KHTC trong nền kinh tế Việt Nam là thấp [43] Trong các chính sách
giải cứu nền kinh tế đó, với mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế trong bối cảnh kinh tếsuy giảm thì nhiệm vô tái cơ cấu ngành công nghiệp - nâng cao hàm lượng CNCđược đặt lên hàng đầu Ngành CNC sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn trong tiến trình
xây dựng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước [10] Cùng với chu kỳ phát triển
của công nghệ thế giới, Việt Nam giờ đây là điểm đến hấp dẫn cho dòng đầu tưCNC thế giới cả về vốn lẫn tri thức tại Châu Á Có thể nói, KHTC đã tạo ra đòn bẩycho các doanh nghiệp CNC Việt Nam tham gia và phát triển trên thị trường CNCtoàn cầu Giai đoạn hậu KHTC sẽ là thời cơ cho ngành CNC Việt Nam nâng tầmcao của mình trên trường Quốc tế
Các điều trên cho thấy ngành CNC Việt Nam đã hội tụ đủ hai yếu tố “thiênthời và địa lợi”, vấn đề còn lại là ở yếu tố “nhân hòa” Nếu không có yếu tố này thìngành CNC Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp CNC Việt Nam nói riêng sẽkhông thể tận dụng được các cơ hội trên Bởi lẽ, nguồn nhân lực là đội ngũ có vaitrò then chốt quyết định tính cạnh tranh của doanh nghiệp, điều này càng đúng đắnvới lĩnh vực CNC - mét trong những lĩnh vực có “hàm lượng chất xám” cao của nền
Trang 36kinh tế Do đó, mục tiêu của các doanh nghiệp CNC Việt Nam giờ đây, không chỉ làtối thiểu hóa chi phí để tồn tại trong thời điểm suy thoái kinh tế mà còn là tăng hiệusuất lao động, chuẩn bị nội lực cho giai đoạn lớn mạnh sau KHTC toàn cầu Điềunày chỉ có thể thực hiện thông qua công tác QTNS của doanh nghiệp Tuy nhiên đólại là một thách thức lớn cho hầu hết các doanh nghiệp CNC Việt Nam Do công tácQTNS tại Việt Nam nói chung đều chưa được nhìn nhận đúng tầm, thêm vào đó làthách thức riêng về sự yếu kém của nhân lực CNC Việt Nam càng làm cho công tácQTNS tại các doanh nghiệp CNC Việt Nam trong điều kiện KHTC toàn cầu trở nênquan trọng hơn bao giờ hết
Ngành CNC Việt Nam tuy còn non trẻ so với thế giới, nhưng nếu xÐt trêntiến trình phát triển, ngành có rất nhiều điểm chung với quá trình phát triển của cáctập đoàn CNC Quốc tế Những gì mà nền CNC Việt Nam sắp trải qua chắc chắn cáctập đoàn CNC Quốc tế cũng đã trải qua Đặc biệt là công tác QTNS trong điều kiệnKHTC Bởi vì, thực tế cho thấy, các tập đoàn CNC Quốc tế đã hình thành và pháttriển từ trong chính khủng hoảng có tính chất gần giống với cuộc KHTC hiện nay.Thành tựu mà các tập đoàn đã đạt được chứng minh rằng những kỹ năng và kinhnghiệm về công tác QTNS trong điều kiện KHTC của các tập đoàn CNC Quốc tế làmét kho báu quý giá cho thế giới nói chung và cho các doanh nghiệp trong lĩnh vựcCNC nói riêng Do đó, các DNVN trong lĩnh vực CNC cần nghiên cứu kinh nghiệmQTNS trong điều kiện KHTC của các tập đoàn CNC Quốc tế để đút rót ra nhữngbài học quý báu cho doanh nghiệp trong điều kiện KHTC để đạt yếu tố “nhân hòa”,
từ đó có thể tận dụng được các cơ hội phát triển sau KHTC
Chương 2: MỘT SÈ KINH NGHIỆM QTNS TRONG ĐIỀU KIỆN KHTC HIỆN NAY CỦA CÁC TẬP ĐOÀN CNC QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO
DNVN CÙNG LĨNH VỰC
I Thực tiễn về công tác QTNS trong lĩnh vực CNC của các tập đoàn CNC
Quốc tế trước tác động của KHTC hiện nay
Trang 37Sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng tài chính lớn trên thế giới đã gây nêncuộc KHTC toàn cầu, tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới trong đó có các tậpđoàn CNC Quốc tế Cuộc KHTC đã làm giảm chi tiêu tiêu dùng và chi tiêu củadoanh nghiệp, gây ảnh hưởng tới tất cả các tập đoàn CNC Bởi lẽ ngành CNC kinhdoanh với nhiều doanh nghiệp và khách hàng tiêu dùng trong nền kinh tế toàn cầu,nên bất cứ điều gì xảy đến với nền kinh tế đều tác động tới ngành Tuy không cóđược sự thống kê chính xác của cả ngành CNC thế giới nhưng sự sụt giảm trong giátrị cổ phiếu và doanh thu của một số tập đoàn CNC tầm cỡ Quốc tế cũng đã chothấy việc bị ảnh hưởng nặng nề của toàn ngành trong điều kiện KHTC
Theo tường thuật của mạng SiliconRepublic.Com ngày 30/09/2008 cho biết,hàng loạt cổ phiếu của các tập đoàn CNC Quốc tế đã bị rớt giá: cổ phiếu của Applegiảm 20% so vào ngày hôm trước, mức thấp nhất kể từ 16 tháng qua; còn cổ phiếucủa hãng công nghệ thông tin di động RIM (Research In Motion), chủ sở hữuthương hiệu BlackBerry nổi tiếng, thì bị sụt giảm tới 27%
Cổ phiếu của hai hãng CNC Quốc tế trong lĩnh vực internet là Google vàYahoo cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự như đối với Apple và RIM Cổ phiếu củaGoogle xuống dưới mức 400USD/cổ phiếu lần đầu tiên trong hai năm qua, còn cổphiếu của Yahoo thì bị mất đi 10,78% giá trị Các tập đoàn CNC khác trong lĩnhvực phần mềm và phần cứng như IBM, HP, Sony cũng có mức giảm giá cổ phiếu ở
dưới hai con số (dưới 10%) [38]
Còng trong cùng thời gian, Intel và Cisco Systems cho biết doanh thu đanggiảm ở mức chỉ thấy trong lần khủng hoảng dot.com Doanh số bán hàng của Ciscogiảm 9% trong tháng 10/2008 so với cùng kỳ năm ngoái và dự báo cả quý sẽ giảmchừng 10% so với mức 7% được Wall Street dự báo cách đấy không lâu RiêngIntel báo động mức sụt giảm doanh sè quý IV/2008 sẽ có thể đến mức 19% so với
cùng kỳ năm 2007 [34]
Trong bối cảnh đó, các tập đoàn CNC đã có những chiến lược đối phó, vàdẫn đến hệ lụy là sự thay đổi các chính sách QTNS trong nội bộ các doanh nghiệp,
Trang 38tập đoàn CNC cùng với các tác động đến xu hướng phát triển của thị trường nhânlực CNC
1 Làm thay đổi các chính sách QTNS trong nội bộ doanh nghiệp:
Sự sụt giảm thê thảm của nền kinh tế do bị ảnh hưởng bởi KHTC toàn cầu đãtác động mạnh mẽ đến các chính sách QTNS trong nội bộ doanh nghiệp CNC Hầuhết các nhà QTNS của doanh nghiệp đều có những thay đổi quan trọng mang tầmngắn hạn với mục đích là thắt chặt chi phí nhân sự, động viên tinh thần nhân viên vàhoạch định các chiến lược để đối phó với các thử thách nhân sự sau khủng hoảng.Nếu trước đây, các doanh nghiệp CNC chấp nhận đầu tư những khoản chi phíkhổng lồ cho công tác QTNS để quy tụ đội ngũ nhân sự có khả năng nghiên cứu,sáng tạo các công nghệ mới, tiên tiến, hay các sản phẩm ứng dụng CNC đắt tiền,đưa doanh nghiệp phát triển lên tầm cao mới; thì nay, mục tiêu Êy chỉ đơn giản làgiúp doanh nghiệp tồn tại vượt qua sự khó khăn về tài chính, và bảo vệ doanhnghiệp tránh khỏi thảm họa của sự phá sản
1.1 Là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thặng dư nhân viên:
Từ tháng 10/2008, khi cuộc KHTC lan rộng khắp toàn cầu, các doanh nghiệp,tập đoàn CNC lần lượt báo cáo sự sụt giảm chưa từng thấy trong đơn hàng, từ cảkhối doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng cá nhân Nhiều lãnh đạo so sánh tình hìnhhiện nay với sự sụp đổ bong bóng dot.com năm 2000 khi hàng trăm doanh nghiệpbiến mất và Thung lòng Silicon mất hết một phần năm nhân lực
Trên bình diện toàn cầu, khối doanh nghiệp và Chính phủ chi tiêu cho hàngCNC mỗi năm đều giảm mạnh Sự chi tiêu cho ngành CNC có vai trò quan trọng vìCNC thúc đẩy năng suất và đầu tư vào CNC là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đangphát triển Nay KHTC buộc mọi doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí, vì thế cũng cắtgiảm luôn chi tiêu cho hàng CNC Trước đây, ngành CNC vượt qua khó khăn mộtphần nhờ sự chi tiêu của người tiêu dùng cá nhân cho các sản phẩm CNC như máychơi trò chơi điện tử, điện thoại di động, xu hướng thay máy tính để bàn bằng máytính xách tay và đặc biệt là sự bùng nổ ti-vi LCD Nay khó khăn của khối doanh
Trang 39nghiệp đang lan ra với người tiêu dùng cá nhân Trong tình hình địa ốc suy thoái, tíndụng thắt chặt, không ai muốn mua sắm những món chưa thật sự cần thiết Đặc biệt,các mặt hàng CNC lại là những mặt hàng phục vụ những nhu cầu cao cấp khi conngười có mức thu nhập cao.
Doanh thu sụt giảm, hàng tồn kho cao ngất, buộc các tập đoàn phải cắt giảmsản lượng, thu hẹp quy mô đầu tư Thậm chí, một số tập đoàn còn tuyên bố phá sảnhay bị mua lại bởi các đối thủ cạnh tranh khi không còn khả năng chống chọi vớiKHTC Việc cắt giảm sản xuất đã dẫn đến tình trạng thặng dư nhân viên trong côngtác hoạch định nhân sự Doanh nghiệp có danh mục đầu tư càng dàn trải thì tìnhtrạng thặng dư nhân viên xảy ra càng lớn Thêm vào đó, áp lực về chi phí đã buộccác tập đoàn đề ra hàng loạt các chính sách nhằm cắt giảm chi phí Điều này cànglàm cho vấn đề hoạch định nhân sự của tập đoàn trở nên khó khăn hơn bao giờ hết
1.2 Làm tăng sự cạnh tranh trong công tác tuyển dụng và duy trì nhân sự
cao cấp giữa các doanh nghiệp CNC:
Nhân sù cao cấp của doanh nghiệp là những nhân sự có khả năng đem lại lợinhuận và hiệu quả sản xuất, kinh doanh lớn cho doanh nghiệp Họ là những người
có trình độ thực hiện những công việc mang tính chiến lược, là những bộ óc luôn đềxuất ra những ý tưởng mới đóng góp vào toàn bộ hoạt động và sự vận hành củadoanh nghiệp, đồng thời là những người có kỹ năng quản lý Trong bối cảnh KHTChiện nay, những nhân sự cao cấp như thÕ được coi là “vật báu”, nắm định hướngchiến lược và vạch ra tầm nhìn để chèo lái con tàu doanh nghiệp trụ vững và vượtqua sóng gió suy thoái Chính vì lẽ đó, họ là đối tượng thu hút sự chú ý nhiều nhấtcủa các doanh nghiệp khác, đặc biệt là các đối thủ đang trực tiếp cạnh tranh vớidoanh nghiệp Do đó, song song với cuộc KHTC hiện nay là “Cuộc chiến nhân tài”trong lĩnh vực CNC KHTC đã tạo thời cơ cho doanh nghiệp tuyển dụng nhữngnhân sự cao cấp này nhưng đồng thời cũng tăng sức Ðp buộc doanh nghiệp phải tìmmọi cách duy trì nhân sự cao cấp của doanh nghiệp mình Hai tác động ngược chiềunày đã làm cho thị trường nhân lực CNC trở nên “nóng” hơn bao giờ hết
Trang 40Để “chiến thắng” trong cuộc chiến này, có rất nhiều doanh nghiệp thực hiệnchiêu thức “tiền lương cao, chế độ khen thưởng hậu hĩnh” làm “miếng mồi ngon”
để rút ruột các nhân viên giỏi từ các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh trực tiếp,nhưng đồng thời cũng là các biện pháp để duy trì nhân sự của mình Thực tế đókhiến rất nhiều doanh nghiệp nhất là những người làm công tác nhân sự đứng trướcnhững bài toán khó Thực hiện chế độ lương thưởng cao trong lúc khó khăn tàichính thực sự không phải là biện pháp lâu dài và dễ gây sự mất cân bằng và sự ổnđịnh trong nội bộ doanh nghiệp cũng như càng làm tăng nhiệt cho “Cuộc chiến nhântài”
2 Tác động đến xu hướng phát triển của thị trường nhân lực CNC:
Tình cảnh chao đảo của lĩnh vực CNC đã dẫn đến việc hình thành hai xuhướng trái ngược hoàn toàn với các xu hướng trước đây của thị trường nhân lựcCNC, tạo ra sù thay đổi lớn trong thị trường mà vốn dĩ là mét trong những thịtrường “khát” nhân lực nhất:
2.1 Hiện tượng đảo ngược “dòng chảy chất xám” từ các tập đoàn CNC Quốc
tế vào các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn:
Việc sa thải nhân viên mà doanh nghiệp dày công đào tạo, thậm chÝ cả nhânviên cao cấp là việc làm gây tổn thất nhiều nhất cho doanh nghiệp xét theo tầm nhìnlâu dài Nhưng nay trong tình cảnh kinh doanh khó khăn, các tập đoàn CNC Quốc
tế buộc phải làm điều đó để lấy ngắn nuôi dài Con số thất nghiệp ngày càng giatăng, việc làm ngày càng hạn hẹp đã làm cho thị trường lao động CNC phải trở nên
“bình dân” hơn bao giờ hết Nếu như trước đây, những nhân viên CNC có kinhnghiệm và có kỹ năng luôn được các doanh nghiệp trong ngành săn đón, thì naytrên bình diện chung, nhân sự tất cả doanh nghiệp CNC đều bị cắt giảm, họ phảichuyển sang các khu vực doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn, thậm chí là đổi ngành
để có thể có được việc làm
Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm cho các doanh nghiệp đối thủ trong lĩnh vựcCNC cạnh tranh nhau về nguồn nhân lực cao cấp, bởi lẽ vấn đề tuyển dụng cũng