Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, ngành công nghiệp hương liệu nói chung cũng như các công ty nước hoa nói riêng đã ra đời như một cứu cánh để giúp cuộc sống con người tron
Trang 1Mục Lục:
I.Giới thiệu chung 2
II.Tổ chức RIFM 4
III.Tổ chức IFRA 5
IV.Ảnh hưởng quang học 7
V.Dị ứng da 8
1.Cấu trúc da 8
2.Cơ chế gây kích ứng da 9
3.Phân loại các bệnh dị ứng da 9
VI.Nhiễm độc thần kinh 11
1.Khái niệm 11
2.Hợp chất AEET 11
VII.Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản 12
Trang 2Tính an toàn và ảnh hưởng của hương liệu
I. Giới thiệu chung:
Như chúng ta đã biết, ăn và mặc là hai nhu cầu cơ bản của con người, thế nhưng khi chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao thì con người không chỉ dừng lại ở việc sinh hoạt bình thường, họ còn đặt ra những yêu cầu cao hơn là
ăn như thế nào và mặc ra làm sao để có thể hưởng thụ cuộc sống một cách trọn vẹn nhất Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, ngành công nghiệp hương liệu nói chung cũng như các công ty nước hoa nói riêng đã ra đời như một cứu cánh để giúp cuộc sống con người trong thời đại mới trở nên tiện nghi hơn
Tuy nhiên, tại sao nước hoa hay các sản phẩm liên quan lại trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt hiện nay?
Theo một số nghiên cứu trên thế giới thì sử dụng nước hoa sẽ làm tăng thêm sự
tự tin và quyến rũ: một sự thật không thể phủ nhận được là người sử dụng nước hoa phù hợp cảm thấy tự tin vào bản thân, điều này đặc biệt đúng đối với nữ giới Thêm vào nữa, hương thơm kích thích sự lôi cuốn giới tính, làm nam giới thấy phụ nữ quyến rũ hơn
Nước hoa cũng đem lại cảm giác sảng khoái và hưng phấn cho cơ thể: các mùi hương cam, quýt bưởi giúp mang lại cảm giác hạnh phúc, mùi oải hương làm dịu cơn đau, mùi ớt cay giúp vượt qua nỗi buồn chán, hương bạc hà giúp tăng cường năng lực cơ thể, mùi hương chocolate giúp tăng cường trí nhớ
Hơn thế xịt nước hoa giúp bạn trông thon thả hơn: Nghe có vẻ khó tin nhưng theo các nhà khoa học đối với 1 nhóm đàn ông, khi phụ nữ xức nước hoa có mùi vị cây cỏ thì dường như trọng lượng của người đẹp nhẹ hơn khoảng 2kg so với thực tế Điều này có lý do từ việc hương thơm khiến tâm trạng nhẹ nhàng, nhìn nhận người khác ít khắt khe hơn và hương thơm làm người đối diện bị xao nhãng, khiến họ không chú ý vào những vùng béo trên cơ thể người khác
Không chỉ dừng lại ở vị trí làm đẹp cho con người, nước hoa hay chính xác hơn
là các loại hương tính còn đóng góp một phần không nhỏ trong công nghiệp thực phẩm hiện nay, đó là các mặt hàng như tinh dầu chuối mà thi thoảng ta vẫn hay ngửi được khi đi ngang các quán chè hay là các túi ngủ vị hương mà ắt hẳn trong các buổi tiệc nướng không thể thiếu, hay là các lọ bột vani tạo mùi thơm rất riêng cho những chiếc bánh flan mềm mại…
Thế nhưng một câu hỏi đặt ra là: “Liệu rằng nước hoa nói riêng và các sản phẩm có liên quan đến nó có an toàn như mọi người đã từng nghĩ hay không?”
Trang 3• Ngày nay, khi cuộc sống của con người ngày càng hiện đại thì cũng kéo theo nhiều hệ lụy liên quan Những sản phẩm hương liệu mà con người cần dùng không chỉ đáp ứng về mặt hương tính mà còn phải luôn đáp ứng kịp thời đúng mọi thời điểm trong năm và dĩ nhiên phải hợp về mặt kinh tế Thế nhưng trong
tự nhiên có một quy luật mà con người không thể nào phá vỡ được đó chính là quy luật tuần hoàn, mọi thứ diễn ra đều theo một chu kỳ nhất định, hơn nữa những sản phẩm hương liệu được chiết tách từ tự nhiên thì giá thành không hoàn toàn rẻ để có thề chạm đến tay của tất cả mọi tầng lớp Do đó đa số những sản phẩm tạo hương thơm hiện nay đều có nguồn gốc từ dầu mỏ chứ không phải
từ nguyên liệu thiên nhiên như trước kia Về nguyên lý hóa học, những mùi thơm trên được tạo thành bởi những vòng benzen, vòng thơm này khi phát tán
có thể theo đường hô hấp vào cơ thể gây khó thở, viêm đường hô hấp, kích thích cơn hen, đồng thời có khả năng bẻ gãy cấu trúc tế bào cơ thể gây rối loạn nội tiết
• Các nghiên cứu trước đó của Viện Khoa học Sức khỏe Môi trường Mỹ từng khẳng định: Việc tiếp xúc với sáp thơm, nước hoa xịt phòng có chứa chất hữu
cơ tên là 1,4 dicholorobenzene có thể làm giảm 4% chức năng phổi Một số chất hữu cơ khác như acetone, limonene, este có thể gây dị ứng mắt, kích thích đường hô hấp, gây đau đầu và chóng mặt Chất phthalates có trong nước thơm tẩy mùi có thể làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và phát triển, tổn thương nội tạng, suy giảm miễn dịch, rối loạn nội tiết Một nghiên cứu khác tiến hành ở
10 nước châu Âu cho thấy, sử dụng thường xuyên các sản phẩm tạo mùi thơm hằng ngày khiến các bà mẹ mang thai dễ bị đau đầu và trầm cảm hơn, đồng thời con của họ dễ có nguy cơ tiêu chảy, dị ứng, mẩn ngứa
• Đáng lo ngại hơn nữa là rất nhiều sản phẩm sáp thơm, nước hoa xịt phòng có chứa các chất ô nhiễm gây ung thư thuộc nhóm đặc biệt nguy hiểm TS Anne Steineman - giáo sư ngành công nghệ môi trường dân dụng Đại học Washington, Mỹ đã tiến hành nghiên cứu với 6 sản phẩm hóa chất tẩy rửa, nước hoa xịt phòng bán chạy trên thị trường Mỹ và nhận thấy tất cả đều chứa tới gần
100 loại hợp chất VOC, trong đó có 5 trên 6 sản phẩm chứa các “chất ô nhiễm không khí cực kỳ nguy hiểm” như benzen, fromaldehyde, toluene hay naphtalene Đây là những chất mà Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư liệt vào danh sách những chất có thể gây ung thư và được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ EPA cho là “không có ngưỡng tiếp xúc an toàn”
Dù biết các sản phẩm nước hoa nói riêng đều đem lại những sự rủi ro nhất định như trên nhưng nhiều người vẫn thường xuyên sử dụng Sự tin tưởng của họ xuất phát từ lịch sử sử dụng nước hoa an toàn lâu dài, mà lần lượt là kết
Trang 4quả của sự nỗ lực đáng kể mà ngành công nghiệp nước hoa áp dụng đối với các sản phẩm Thế nhưng phải chăng không có một điều luật pháp lý nào liên quan đến việc chế tài, quản chế đối với ngành này?
Trên toàn thế giới ngành công nghiệp nước hoa thực sự là "self regulation" vì có rất ít luật pháp, ngoài luật người tiêu dùng bình thường, để điều chỉnh các thành phần trong việc sản xuất nước hoa Điều này không có nghĩa là ngành công nghiệp nước hoa làm việc trong một thế giới không có pháp luật Pháp luật về hóa chất, sở hữu trí tuệ, sức khỏe nghề nghiệp và an toàn
mỹ phẩm, là những ví dụ rõ ràng nhất áp dụng cho ngành công nghiệp nước hoa
Vào khoảng 40 năm trước đây ngành công nghiệp nước hoa thật sự thiếu vắng các quy định liên quan đến các thành phần có thể được sử dụng trong nước hoa, hoặc sự an toàn của nước hoa trong sản phẩm tiêu dùng, điều đó đồng nghĩa với việc người tiêu dùng có thể gặp phải những rủi ro không mong muốn
và điều này đã dẫn đến sự can thiệp của chính phủ trong ngành công nghiệp Để tránh vấn đề như vậy, ngành công nghiệp quyết định thành lập một hệ thống tự quản lý mà sau này là sự hình thành hai tổ chức nước hoa quốc tế lớn Đó là Viện Nghiên cứu Vật liệu Nước Hoa (RIFM) và Hiệp hội nước hoa thế giới (IFRA)
II. Tổ chức RIFM
RIFM được thành lập vào năm 1966 bởi các ngành công nghiệp nước hoa Đây là một tổ chức phi lợi nhuận, là một cơ quan độc lập có nhiệm vụ đánh giá sự an toàn của các thành phần nguyên liệu tổng hợp nên hương thơm Cho đến nay, RIFM đã thử nghiệm hơn 1300 nguyên liệu hương thơm bao gồm tất cả các thành phần thường được sử dụng Khi có kết quả kiểm tra cho mỗi nguyên liệu sau đó bản kết quả sẽ được xem xét và thảo luận bởi một ủy ban quốc tế độc lập từ các học viện, trong đó bao gồm các nhà độc chất học, dược
sĩ, bác sĩ da liễu và các nhà khoa học môi trường, kết quả cuối cùng được công
bố như một chuyên đề trong tạp chí "Food and chemical toxicology” RIFM cũng chuyên thu thập tất cả các thông tin có sẵn cho một nguyên liệu từ các tài liệu khoa học, từ các nhà sản xuất hoá chất thơm để đưa vào các sách chuyên khảo
Các loại xét nghiệm cơ bản được thực hiện bởi RIFM bao gồm độc tính cấp tính đường miệng, nhiễm độc da cấp tính nếu độc tính đường miệng là đáng
Trang 5kể, thì khả năng nguồn nguyên liệu đó có thể gây ra kích ứng da và mẩn cảm da, còn nếu vật liệu hấp phụ trong phạm vi tia cực tím thì có thể gây ra nhiễm độc quang học Trong trường hợp cần thiết , những nghiên cứu chi tiết hơn nữa được tiến hành, trong đó liên quan đến việc nghiên cứu nuôi tiểu mãn tính, hấp thụ qua da và quá trình chuyển hóa Thông qua IFRA, RIFM còn thu thập các thông tin về thành phần hương thơm mà người tiêu dùng ưu thích Điều này đảm bảo rằng dữ liệu thử nghiệm nó sử dụng có liên quan đến tình hình thị trường và cũng cung cấp hướng dẫn về bản chất của nghiên cứu trong tương lai Mặc dù vậy RIFM cũng tiến hành xem xét lại các dữ liệu về tính an toàn của nguyên liệu, điều này có thể gây rối loạn các nghiên cứu trước đó nếu kết quả của các cuộc điều tra chỉ ra rằng một thành phần đặc biệt đang xảy ra trong một phạm vi lớn hơn của các sản phẩm hoặc ở nồng độ cao hơn so với khi nó được kiểm tra đầu tiên
III. Tổ chức IFRA
IFRA được thành lập vào năm 1973 bởi một số hiệp hội thương mại và hương hương liệu đại diện cho hơn 100 nhà sản xuất nước hoa trong 15 quốc gia Có trụ sở chính tại Geneva, IFRA đại diện cho các chuyên gia khoa học và
kỹ thuật của các ngành công nghiệp và chịu trách nhiệm phát hành và cập nhật cuốn 'Code of Practice "(IFRA, 1973), bao gồm các chính sách tự điều chỉnh IFRA được gây quỹ bởi các công ty sản xuất nước hoa-tất cả những người đồng
ý tuân theo các quy tắc trong cuốn “Code of Practice”-trong khi họ vẫn là thành viên của hiệp hội Các quy tắc này có nhiều chức năng bao gồm thiết lập các tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt trong ngành công nghiệp, kiểm soát chất lượng, ghi nhãn và quảng cáo, cũng như thiết lập giới hạn trên, hoặc cấm sử dụng một thành phần nhất định
Các nguyên tắc khắt khe của “Core of Practice” mà IFRA áp dụng không chỉ bảo vệ người tiêu dùng mà còn bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của những người làm việc trong ngành công nghiệp này Điều này được minh chứng bởi một nghiên cứu thực hiện năm 1985, trong đó đã chỉ ra được không có sự gia tăng trong tỷ lệ tử vong từ bất kỳ loại ung thư trong một nhóm công nhân làm việc trong các ngành công nghiệp nước hoa và hương vị, nơi tiếp xúc với nhiều loại hóa chất (Guberan và Raymond, 1985)
Vì ngành công nghiệp nước hoa không sử dụng các chất độc hại, gây ung thư hoặc ăn mòn, vậy tại sao lại sử dụng hạn chế một số thành phần? Nguyên nhân phổ biến nhất đối với hạn chế này là khả năng gây mẫn cảm da của một số
Trang 6thành phần nguyên liệu Không giống như kích ứng da, thường biến mất ngay sau khi kích thích đã được loại bỏ, da nhạy cảm liên quan đến việc kích hoạt hệ thống miễn dịch và các phản ứng có thể kéo dài lâu hơn nữa sau khi tiếp xúc ban đầu và có thể trở nên nghiêm trọng hơn cho những lần tiếp xúc sau nữa
Mẫn cảm da đã được công nhận như một vấn đề lớn gần như ngay từ đầu khi tiến hành đánh giá một thành phần nguyên liệu Các nguyên liệu ban đầu được thử nghiệm trong một thử nghiệm bản vá tiên đoán-nhạy cảm của con người ở một nồng độ lớn hơn ngưỡng mà người tiêu dùng có khả năng tiếp xúc tới 10 lần Nếu thử nghiệm này chỉ ra kết quả là âm tính thì nguyên liệu đầu vào được kết luận là an toàn và được phép sử dụng Tuy nhiên, trong những ngày đầu, nếu có những dấu hiệu của sự nhạy cảm RIFM sẽ phát hành thư tư vấn và nguyên liệu đó sẽ không còn được sử dụng trong nước hoa
Tuy vậy, phương pháp này không thể phân biệt giữa mức độ mẫn cảm da yếu và mạnh, IFRA đã thông qua một phương pháp tiếp cận mới Ủy ban cố vấn
kỹ thuật của IFRA đã nghiên cứu kết quả của các bài kiểm tra bằng phương pháp trên, và thiết lập một mức độ được gọi là “no effect” cho mỗi loại nguyên liệu ban đầu Ở mỗi mức độ xác định, ủy ban thiết lập một giá trị hướng dẫn và cho phép chỉ một phần mười mức độ “no effect” sẽ được sử dụng trong một sản phẩm tiêu dùng Rõ ràng là trong một số trường hợp mức này còn thấp hơn mức độ mà tại đó các nguyên liệu tạo nên hương tính cho sản phẩm và ở trường hợp này thì IFRA đề nghị một lệnh cấm hoàn toàn Một ví dụ thú vị của phương pháp này là trans-2-hexenal đây là một cấu tử mang tone hương xanh, trái cây,
rau mùi Cấu tử này được tìm thấy là chất gây kích ứng ở mức 0,2% chứ không phải ở 0,02% và IFRA thiết lập một mức độ sử dụng là 0.002% (20 ppm) cho một sản phẩm tiêu dùng, tuy nhiên ở cấp độ đó cấu tử vẫn
có thể cho mùi hương đặc trưng đặc biệt là ngưỡng mùi của nó đã được đo ở mức dưới 0,1 ppm
IV. Ảnh hưởng quang học
Trang 7Một loại nguyên liệu được cho là kích ứng với ánh sáng khi nó hội tụ đủ hai điều kiện đó chính là, nó phải đáp ứng lên da và tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời Trong cuối những năm 1970, nguyên nhân bất thường gây ra viêm da ở những người sử dụng một loại kem chống nắng đã được tìm ra là do sự hiện diện của 6 methylcoumarin, là thành phần tạo mùi hương trong sản phẩm (Kaidbey và Kligman, 1978) Sau đó các nhà khoa học đã chỉ ra rằng một số dẫn xuất coumarin có khả năng gây kích ứng da nhưng chỉ khi chúng được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời
Theo kết quả của bảng trên ta có thể thấy rõ ràng rằng 6 - và 7-methylcoumarins và 7-methoxycoumarin là photosensitisers có khả năng gây kích ứng da ở mức độ mạnh và trung bình do đó nó đã bị cấm sử dụng bởi IFRA
Một số lớp dầu Bergamot được biết đến có chứa 5-methoxypsoralen (bergaptene,), là một một chất gây phototoxic mạnh (Zaynoun et al., 1977) Việc sử dụng các lớp dầu, có thể chứa tới 0,3% bergaptene và đương nhiên đã bị hạn chế bởi IFRA Bên cạnh đó một số loại tinh dầu lá sung và một số vỏ các loại cam, chanh, quýt, bưởi chứa các thành phần phototoxic tự nhiên, thường được gọi là furocoumarins (Marzulli và Mailbach, 1970; Fisher và Trama, 1979) Mặc dù ngành công nghiệp hiện nay có xu hướng sử dụng các loại dầu cam quýt mà furocoumarins đã được loại bỏ bằng cách chưng cất hoặc khai thác nhưng tinh dầu lá sung tuyệt đối vẫn bị cấm sử dụng bởi vì đối với ngay cả ở mức 0,001%, nó vẫn có thể gây ra phản ứng dị ứng quang học (Opdyke, 1982)
Trang 8V. DỊ ỨNG DA:
heo Tổ chức phi lợi nhuận Environmental Working Group, có khoảng 10,500 thành phần hóa học được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân Trong đó, chỉ có có khoảng 13% trong số thành phần trên được đảm bảo an toàn với sức khỏe cho con người Hầu hết các thành phần đều gây kích ứng da ở mức độ nhẹ khi chúng ở trạng thái đậm đặc
T
1. Cấu trúc da:
Da là cơ quan của hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi của môi trường bên ngoài đối với cơ thể Ngoài ra, chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng hợpvitamin B và D Da được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể Diện tích bề mẵt là 2m2
Da người có cấu tạo gồm ba lớp: Lớp biểu bì, lớp bì và lớp mỡ dưới da
a.Lớp biểu bì:
• Tầng sừng gồm có các tế bào đã chết, sếp xít nhau, rất dễ bong ra
• Tầng tế bào sống gồm các tế bào có khả năng phân chia tạo thành tế bào mới, chứa các hạt sắc tố tạo nên màu da, một số tế bào sống phân hóa thành tế bào sinh lông và tế bào sinh móng
b.Lớp bì: được cấu tạo từ các sợi mô liên kết bền chặt, gồm các thụ quan, tuyền nhờn, tuyền mồ hôi, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máu
• Tuyến nhờn: Nhiệm vụ của tuyến nhờn là tiết chất nhờn, tạo thành một lớp chất nhờn bao phủ bề mặt da, giúp da mềm mịn và không bị thầm nước
• Tuyến mồ hôi: Dạng chùm dưới da (nhiều nhất ở bàn tay, bàn chân, nách, háng, trán)có từ 2đến 3 triệu tuyến Nhiệm vụ là tiết
mồ hôi (là các chất thải bã được lọc từ máu ra), giúp điều hòa thân
Trang 9nhiệt cơ thể, làm nhiệt độ cơ thể giảm xuống nhiệt độ bình thường khi quá nóng Muối lysozym có tính kháng khuẩn cao Có 2 loại tuyến mồ hôi là tuyến mồ hôi toàn vẹn và tuyến mồ hôi bán hủy
• Lông và các phụ quan liên quan: Lông gồm có:chân lông, bao lông,
cơ co chân lông, cơ co chân lông có nhiệm vụ co lại mỗi khi trời lạnh, làm cho lông dựng đứng lên, che khít lỗ chân lông, không cho hơi ấm trong cơ thể bay ra không khí, như thế sẽ giữ ấm được cơ thể
c.Lớp mỡ dưới da:
• Mô mỡ: Bảo vệ da khỏi những tác động cơ học, cách nhiệt, dự trữ năng lượng
• Dây thần kinh: Giúp da nhận biết những kích thích từ môi trường
• Mạch máu:Giúp da trao đổi chất
2. Cơ chế gây kích ứng da:
Da bị dị ứng có thể được giải thích thông qua tất cả 4 giai đoạn:
• Các hoá chất là tác nhân dị ứng xâm nhập vào da, các chất hoá học này xuyên qua lớp biểu bì của Da
• Các tác nhân kích thích sẽ gặp hệ thống miễn dịch của cơ thể
• Dưới tác động qua lại của tác nhân dị ứng và hệ thống miễn dịch:
Da sẽ bị sưng, đỏ, và có thể gâ viêm nhiễm
3. Phân loại các bệnh dị ứng da:
Dựa vào mức độ ảnh hưởng các các tác nhân gây dị ứng, người ta phân loại:
Kích ứng da (Skin Irritation)
Mẫn cảm da (Skin Sensitization)
a. Kích ứng da:
Biểu hiện bên ngoài:Nổi mẫn đỏ,sưng tấy
Có thể hết sau khi loại bỏ các tác nhân kích
ứng
Penetration
Trang 10Hầu hết các thành phần có trong nước hoa đều được xếp loại vào dạng kích ứng da nhẹ khi chúng ở trạng thái đậm đặc
b. Mẫn cảm da:
Sự tiếp xúc với các tác nhận gây kích ứng da trong giai đoạn đầu không
có biểu hiện ra bên ngoài
Sau 1-2 ngày, da bắt đầu có dấu hiệu bị viêm
Sau 2-3 ngày, triệu chứng trọ nên nặng hơn (ngay cả sau khi đã tránh tiếp xúc các tác nhân gây kích ứng da)
Các loại bệnh về mẫn cảm da thường gặp:
Viêm da di ứng
Viêm da tiếp xúc
Ứ viêm da
Ứ viêm da Viêm da di ứng