Hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại vấn đề nổi bật của nền kinh tế
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính tất yếu
Xu thế toàn cầu hóa, HNKTQT và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bậtcủa kinh tế thế giới hiện nay Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫnnhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực Các định chế và tổ chức kinh tế khu vực
và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho kinh tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp
lý chung và để các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề lớn củakinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách đơn lẻ Gia nhậpWTO là cơ hội lớn và cũng là thách thức lớn đối với NCNĐT Việt Nam CNĐT ViệtNam bên cạnh những cơ hội mới với khả năng tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, khảnăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ sẽ phải đối mặt vớinhững thách thức to lớn xuất phát từ các quy định của WTO về thương mại hàng hoá,thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ Nâng cao năng lực cạnh tranh là giải phápthen chốt để kinh tế nói chung và CNĐT nói riêng có thể hội nhập thành công
Trong Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 đã nêu
rõ, ngành công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực, quyết định trong phát triển nềnkinh tế, đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại với một
số ngành công nghiệp chế tác tham gia vào nhóm nước đứng đầu trong khu vực Trên
cơ sở các quan điểm và mục tiêu đó, cần phát triển phù hợp cho những ngành sản xuất
có hiệu quả (điện tử, điện tử-Tin học, cơ điện tử), để trở thành các ngành mũi nhọn.Bắt đầu từ những năm giữa thập niên 90, chính phủ Việt Nam đã “bắt tay” vào xâydựng một ngành công nghiệp điện tử cho Việt Nam, nhưng theo nhiều nhà nghiên cứukinh tế thì chưa thể khẳng định là đã có ngành công nghiệp điện tử tại Việt Nam Dohàng điện tử Việt Nam với chất lượng còn thấp và không ổn định, giá cả lại cao do đó,chưa khai thác được hết tiềm năng và thế mạnh của ngành Trong một vài năm trở lạiđây, sự phát triển của thị trường hàng điện tử Việt Nam sẽ bị tác động mạnh bởi xu thếtoàn cầu hoá, tự do hoá thương mại và xu thế chuyển giao công nghệ nhanh, đặc biệt làkhi Việt Nam thực hiện lịch trình giảm thuế quan theo quy định của WTO đối với mặthàng điện tử
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao sức cạnhtranh ngành công nghiệp điện tử Việt Nam sau khi gia nhập WTO” được chọn đểnghiên cứu
Từ những kiến thức đã tổng hợp và phân tích, chuyên đề mạnh dạn đưa ra một
số giải pháp góp phần nâng cao sức cạnh tranh sau khi Việt Nam gia nhập WTO củangành công nghiệp điện tử trên thị trường
3 Đối tượng và phạm vi
Trang 2Chuyên đề tập trung phân tích giá cả, chất lượng, marketing, thực hiện quản lýtài chính, môi trường cạnh tranh ngành…của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam từnhững năm 1990 trở lại đây (do đây là thời kỳ ngành công nghiệp Việt Nam mà trong
đó có ngành công nghiệp điện tử bắt đầu phát triển về quy mô, sản lượng và trongnhững năm này Việt Nam đã mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia và khu vực lớn trênthế giới)
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác- Lê Nin làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo Đồng thời đề tài sử dụngcác phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh
Nguồn thông tin sử dụng trong chuyên đề được thu thập chủ yếu từ các trangweb của Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử (VEIA), Bộ Công nghiệp, Canon,Panasonic,Công ty điện tử Hà Nội, tài liệu của Hội điện tử, tin học, Hiệp hội phầnmềm, Hội tin học HCM…
5 Kết cấu và nội dung
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa chuyên đề được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về sức cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử và kinhnghiệm nâng cao sức cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử của một số nước
Chương 2: Tình hình cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử Việt Nam từ 1990đến nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh sản xuất ngànhcông nghiệp điện tử sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Trang 3Chương 1 Cơ sở lí luận về sức cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử và kinhnghiệm nâng cao sức cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử của một số nước
1.1 Lí luận chung về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và các khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Về phương diện kinh tế, cạnh tranh chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện của cơchế thị trường, nơi mà cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linhhồn sống của thị trường
P.Samuelson cho rằng “Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các DN cạnh tranh vớinhau để giành khách hàng hoặc thị phần”
Các học thuyết kinh tế thị trường, dù ở trường phái nào đều thừa nhận rằng,cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu vàgiá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của cơ chếthị trường, cạnh tranh là linh hồn của sản phẩm Cạnh tranh là một quy luật tất yếu và
là động lực phát triển nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khácnhau, cho nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh Có thể dẫn ra một số quanđiểm như sau:
Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìmmọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình,thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiệnsản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quátrình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận
1.1.1.2 Các khái niệm liên quan
Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, sức cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trộicủa nó so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thịtrường
Lại có quan điểm cho rằng, sức cạnh tranh của sản phẩm chính là năng lực nắmgiữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đóđem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại do chủ thể sản xuất và cung ứng khácđem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường vào thời gian nhất định
Tuy nhiên, tất cả các định nghĩa trên đều thiếu một yếu tố cơ bản mà người tiêudùng quan tâm nhất, đó là, tương quan giữa chất lượng và giá cả
Với cách tiếp cận trên, sức cạnh tranh của sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội sovới các sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm thamgia cạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng Có nghĩa là, những sản
Trang 4phẩm mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên 1 đơn vị giá cả là những sản phẩm có khảnăng cạnh tranh cao hơn.
b Năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, HNKTQT, năng lực cạnh tranh là một kháiniệm quan trọng để chỉ khả năng tăng trởng và phát triển của nền kinh tế hay DN trênthị trờng trong nớc và quốc tế.Bản chất của năng lực cạnh tranh là sự kết hợp chặt chẽgiữa quản lý nhà nước và điều hành doanh nghiệp để tạo ra giá trị gia tăng cao nhấttrên một đơn vị đầu vào (như tiền vốn, lao động, năng lượng )
Khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởinhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô Một sản phẩm cóthể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm saunữa lại không còn khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế
Năng lực cạnh tranh của DN có thể được định nghĩa là năng lực tồn tại, duy trìhay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trờng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụcủa DN Có nhiều yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của DN, trong đó cần phânbiệt các yếu tố ngoài DN và các yếu tố do DN chi phối
c Khả năng cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh là sự năng động, khả năng đáp ứng thay đổi nhanh chóngcủa thị trường, năng lực sản xuất dựa trên công nghệ là nền tảng để sống còn và pháttriển
d Chất lượng sản phẩm
Khi nêu câu hỏi “thế nào là chất lượng sản phẩm”, chất lượng thường nhậnđược rất nhiều câu trả lời khác nhau tùy theo đối tượng được hỏi là ai Các câu trả lờithường thấy như:
Đó là những gì họ được thỏa mãn tương đương với số tiền họ chi trả Đó lànhững gì họ muốn được thỏa mãn nhiều hơn so với số tiền họ chi trả Sản phẩm phảiđạt hoặc vượt trình độ của khu vực, hay tương đương hoặc vượt trình độ thế giới
Một số định nghĩa về chất lượng thường gặp :
Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng.(European Organization for Quality Control) Hay chất lượng là sự phù hợp với yêucầu (Philip B Crosby) và chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo chothực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn (ISO8402) ( thực thể trong định nghĩa trên được hiểu là sản phẩm theo nghĩa rộng)
Trên thực tế, nhu cầu có thể thay đổi theo thời gian, vì thế, cần xem xét định kỳcác yêu cầu chất lượng để có thể bảo đảm lúc nào sản phẩm của DN làm ra cũng thỏamãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng
Các nhu cầu thường được chuyển thành các đặc tính với các tiêu chuẩn nhấtđịnh Nhu cầu có thể bao gồm tính năng sử dụng, tính dễ sử dụng, tính sẵn sàng, độ tincậy, tính thuận tiện và dễ dàng trong sửa chữa, tính an toàn, thẩm mỹ, các tác động đếnmôi trường
Các DN sản xuất hoặc mua sản phẩm để bán lại trên thị trường cho người tiêudùng nhằm thu được lợi nhuận, vì thế, quan niệm của người tiêu dùng về chất lượngphải được nắm bắt đầy đủ và kịp thời Dưới quan điểm của người tiêu dùng, chấtlượng sản phẩm phải thể hiện các khía cạnh sau :
Trang 5Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹthuật hay tính hữu dụng của nó Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí.Người tiêu dùng không chấp nhận mua một sản phẩm với bất kỳ giá nào Chất lượngsản phẩm phải được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địaphương Phong tục, tập quán của một cộng đồng có thể phủ định hoàn toàn những thứ
mà thông thường người ta xem là có chất lượng Chất lượng sản phẩm có thể đượchiểu như sau : Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng củasản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xácđịnh
Một cách tổng quát, có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu Sự phùhợp nầy phải được thể hiện trên cả 3 phương diện, có thể gọi tóm tắt là 3P, đó là :Performance hay Perfectibility : hiệu năng, khả năng hoàn thiện, Price : giá thỏa mãnnhu cầu, Punctuallity : đúng thời điểm
f Giá trị sử dụng (tính hữu dụng của sản phẩm)
Khi muốn tung một sản phẩm mới vào thị trường, trước hết nhà sản xuất phảihoạch định trình độ chất lượng, dự kiến mức chất lượng, tiên đoán chất lượng kinh tếcủa sản phẩm Sau đó sản xuất thử và thử nghiệm trên thương trường Khi đã biết kháchính xác hệ số hiệu quả sử dụng của sản phẩm có khả năng cạnh tranh và nằm trongphạm vi chất lượng tối ưu, các nhà sản xuất mới tiến hành sản xuất hàng loạt sản phẩm
đó Mặt khác, khi mua một sản phẩm,người tiêu dùng bao giờ cũng quan tâm đến lợiích hay tính hữu dụng, hay giá trị sử dụng mà họ mong muốn thu được khi sử dụng sảnphẩm
Theo Karl Mark, công dụng của một vật làm cho vật đó trở thành một giá trị sửdụng Giá trị sử dụng của sản phẩm phụ thuộc vào công dụng của nó, nhưng chínhcông dụng lại phụ thuộc vào nhu cầu xã hội Nếu không có nhu cầu về một giá trị sửdụng thì mặc dù sản phẩm có công dụng cũng không có giá trị sử dụng Giới hạn củagiá trị sử dụng chính là nhu cầu tồn tại về nó
Ngày nay, có thể nhận thức thuộc tính công dụng không phải là yếu tố duy nhấttạo nên giá trị sử dụng của sản phẩm Khi người tiêu dùng mua hàng hóa, thực chất họmuốn mua cái gì đó hơn là chính bản thân sản phẩm
Theo P.A.Samuelson: “Giá trị sử dụng là một khái niệm trừu tượng để chỉ tínhthích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc một sự thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa mà có.”Giá trị sử dụng là sự cảm nhận của một cá nhân về sự thỏa mãn nhu cầu và sự thíchthú của mình thông qua việc sử dụng một sản phẩm vật chất hay một dịch vụ
Giá trị sử dụng của sản phẩm phụ thuộc vào:
Thuộc tính công dụng của sản phẩm, được tạo ra bởi chất thể của sản phẩm, dođặc tính kỹ thuật của sản phẩm qui định Thuộc tính công dụng được gọi là phần cứngcủa sản phẩm
Thuộc tính được thụ cảm bởi người tiêu dùng, là những gì mà người tiêu dùng
cảm thấy có nơi sản phẩm, được tạo ra nhờ dịch vụ bán và sau khi bán Thuộc tínhđược thụ cảm bởi người tiêu dùng được gọi là phần mềm của sản phẩm Nhiều khingười tiêu dùng mua sản phẩm không đơn thuần vì những đặc tính kỹ thuật và khảnăng phục vụ của sản phẩm mà có thể vì nó làm cho người mua có cảm giác sang
Trang 6trọng phù hợp với địa vị xã hội của họ hay một cảm giác nào đó mang lại cho kháchhàng sự thích thú nào đó của riêng họ
Thực tế kinh doanh cho thấy thuộc tính được thụ cảm bởi người tiêu dùng làmột bộ phận quan trọng cấu thành nên giá trị sử dụng của sản phẩm và là yếu tố phảiđặc biệt chú ý khi đưa sản phẩm của mình tham gia thị trường
Giá trị sử dụng của sản phẩm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng hàngcung so với cầu, sức mua, ý muốn sẳn sàng mua Nếu cung nhỏ hơn cầu, phần mềmcủa sản phẩm tăng lên Các nhà đầu cơ thường lợi dụng cách nầy để tăng giá sản phẩmtrong thị thị trường độc quyền để thu lợi bất chính Nếu cung lớn hơn cầu, phần mềmcủa sản phẩm giảm đi, đồng thời giá trị sử dụng cũng giảm theo
Tóm lại :
Công dụng của sản phẩm + sự thích thú, sự thụ cảm của người tiêu dùng
Giá trị sử dụng của sản phẩm Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nói lên khả năng có thể thỏa mãn nhu cầu củasản phẩm trong khi đó giá trị sử dụng của sản phẩm chính là mức cụ thể đáp ứng nhucầu trong tiêu dùng
Qua các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm có thể nhận biết được: Công dụng cơ bảncủa sản phẩm, các đặc điểm về kết cấu hình dáng, kích thước, điều kiện sử dụng, cácthông số kỹ thuật của sản phẩm, các chỉ tiêu kinh tế của sản phẩm
Trong khi đó, các thuộc tính của sản phẩm (cả phần cứng và phần mềm) chobiết: Lĩnh vực đại thể các nhu cầu được thỏa mãn, lĩnh vực cụ thể và mức cụ thể cácnhu cầu được thỏa mãn, các thuộc tính của sản phẩm được thụ cảm bởi người tiêudùng , chi phí để thỏa mãn nhu cầu, người tiêu dùng lúc nào cũng mong muốn đạtđược lợi ích (giá trị sử dụng) tối đa với chi phí bỏ ra tối thiểu
1.1.2 Các điều kiện cơ bản cho hoạt động cạnh tranh
Nhu cầu về lợi nhuận là động lực nảy sinh và thúc đẩy cạnh tranh: Những nămgần đây, do lợi nhuận cao và do tầm chiến lược của CNĐT đối với nền kinh tế, nhiềunước đã đổ xô vào phát triển CNĐT, dẫn đến khủng hoảng thừa các sản phẩm điện tửthông dụng Tuy nhiên, về lâu dài thị trường hàng điện tử thế giới vẫn rộng mở khôngngừng cho các sản phẩm công nghệ cao, hiện đại, có những tính năng mới, nổi trội,thông minh
Kinh tế thị trường tạo môi trường cho hoạt động cạnh tranh Việc chuyển sangkinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các DN, các tổ chức và cá nhânkinh doanh phải thích ứng với quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường, trong đó cóyếu tố cạnh tranh Cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế và cũng là cơ
sở quan trọng đảm bảo tự do kinh doanh hợp pháp và mang lại lợi ích thiết thực chongười tiêu dùng Cạnh tranh trong nội ngành dẫn đến lợi nhuận bình quân ngành Cạnhtranh giữa các ngành khác nhau sẽ dẫn tới sự thay đổi mặt bằng giá của nền kinh tế đó.Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh giữa các ngành khác nhau của các quốc gia khácnhau cũng dẫn đến mặt bằng giá khác nhau theo các thời kỳ căn cứ vào năng suất laođộng của thời kỳ đó Do đó giá cả liên quan rất chặt chẽ đến năng suất lao động vàcạnh tranh
Trang 7Sự can thiệp hợp lí của nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động cạnh tranh cóhiệu quả Hiện tại, Luật cạnh tranh là khuôn khổ pháp lý cao nhất điều chỉnh về cạnhtranh thương mại tại Việt Nam.
1.1.3 Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh
1.1.3.1 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh (hay sức cạnh tranh được sử dụng với nghĩa như nhautrong đề tài) Thuật ngữ về năng lực cạnh tranh tuy được sử dụng rộng rãi nhưng vẫnchưa có một khái niệm rõ ràng hay cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cả ở cấpquốc gia, cấp ngành, DN và ở cấp sản phẩm
Sức cạnh tranh là tổng hoà các đặc tính về tiêu dùng và giá trị vượt trội của sảnphẩn trên thị trường, có nghĩa là sự vượt trội của sản phẩm so với các sản phẩm cạnhtranh cùng loại trong điều kiện cung vượt cầu
Theo quan điểm tân cổ điển dựa trên lí thuyết thương mại truyền thống, nănglực cạnh tranh của ngành được xem xét được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phísản xuất và năng xuất Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đượcđánh giá dựa trên chi phí thấp Chi phí sản xuất thấp không chỉ là điều kiện cơ bản củalợi thế cạnh tranh mà còn đóng góp tích cực vào nền kinh tế
Lý thuyết tài chính CN xem xét năng lực cạnh tranh của ngành dựa trên khảnăng sản xuất ra sản phẩm ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến
mà không có sự tự cấp, đảm bảo cho ngành đứng vững trước các đối thủ khác hay sảnphẩm thay thế
Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lựccanh tranh là khả năng tạo ra, duy trì lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong vàngoài nước Các chỉ số đánh giá là năng suất lao động, tổng năng suất của các yếu tốsản xuất, công nghệ, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệtcủa sản phẩm
1.1.3.2 Các cấp độ cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể phân ra làm 4 cấp độ, năng lực cạnh tranh ở 4 cấp
dộ này có liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Do đó, khi xem xét vàđánh giá, đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, cần có mốiliên quan chung mật thiết của 4 cấp độ năng lực cạnh tranh này
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia:
Năng lực cạnh tranh quốc gia gồm một hệ thống chỉ số - cũng còn gọi là chỉ sốnăng lực cạnh tranh tổng hợp (GCI) được WEF công bố lần đầu tiên trong Báo cáonăng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2004-2005 Các chỉ số này được phân làm chínnhóm, còn được gọi là chín trụ cột thể hiện năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.Chín trụ cột đó gồm: (1) thể chế, (2) kết cấu hạ tầng, (3) kinh tế vĩ mô, (4) y tế và giáodục cơ bản, (5) đào tạo và giáo dục bậc cao, (6) hiệu quả thị trường, (7) mức độ sẵnsàng về công nghệ, (8) trình độ kinh doanh, (9) đổi mới và sáng tạo
Theo công bố của WEF, báo cáo tách các nước thành ba giai đoạn phát triển: ởgiai đoạn phát triển thứ nhất, năng lực cạnh tranh của các nước phụ thuộc vào bốn trụcột đầu tiên là thể chế, kết cấu hạ tầng, kinh tế vĩ mô và giáo dục cơ bản, giai đoạn tiếptheo tính đến ba trụ cột là đào tạo và giáo dục bậc cao, hiệu quả thị trường và mức độsẵn sàng về công nghệ, đến giai đoạn phát triển cao nhất gồm hai trụ cột là trình độ
Trang 8kinh doanh và đổi mới và sáng tạo Tầm quan trọng của từng yếu tố (trụ cột) lại phụthuộc vào mỗi giai đoạn phát triển của mỗi nước.
Bảng 1.1: Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên tổng số 125 quốc gia
Nguồn: Trang web Bộ Công nghiệp
Năm 2006, VN tụt ba hạng so với năm 2005, trong đó, trình độ đổi mới và sángtạo tụt 18 hạng, hiệu quả thị trường tụt 17 hạng, thể chế tụt 11 hạng Qua đó, có thểthấy: VN đang ở giai đoạn phát triển thứ nhất, vì chỉ số thể chế xếp thứ 74, kết cấu hạtầng thứ 83, kinh tế vĩ mô thứ 53 và y tế, giáo dục cấp một thứ 58 Về giáo dục đạihọc, VN xếp thứ 90, mức độ sẵn sàng về công nghệ thứ 85 Ở hai trụ cột còn lại, VNxếp thứ 86 về trình độ kinh doanh và thứ 75 về đổi mới và sáng tạo Kết quả xếp hạngnăm 2006 của WEF có thể chưa phản ánh hết những nỗ lực cải cách của VN năm
2006, như việc Luật DN và Luật Đầu tư bắt đầu có hiệu lực thi hành cũng với nhiềucải cách khác trong kinh tế theo hướng thị trường, nhưng cũng là những cảnh báo đểchúng ta chú ý, vì trong khi Việt Nam có tiến bộ trong đổi mới thì các nước cũng cónhững cải cách nhanh hơn, do đó vị trí Việt Nam trong xếp hạng chưa được cải thiện.Năng lực cạnh tranh cấp ngành:
Khả năng cạnh tranh có thể được đánh giá bằng các chỉ số định lượng như: Tỷ lệbảo hộ hữu hiệu và lợi thế so sánh biểu hiện Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,chỉ số ERP giúp chúng ta xác định được các ngành nào sẽ có lợi thế và bất lợi thế donhững thay đổi CS liên quan đến tự do hoá thương mại Chỉ số RCA càng cao thì mặthàng càng có lợi thế cạnh tranh, nếu RCA <1 thì mặt hàng không có lợi thế so sánh,nếu 1 < RCA < 2,5 thì mặt hàng có lợi thế so sánh và RCA > 2,5 thì mặt hàng có lợithế cạnh tranh cao Kết quả nghiên cứu của nhóm kỹ thuật
Một mặt, tổng số năng lực cạnh tranh của ngành trong nước tạo thành năng lựccạnh tranh của quốc gia đó Năng lực cạnh tranh của ngành bị hạn chế bị hạn chế khinăng lực cạnh tranh cấp quốc gia và năng lực cạnh tranh sản phẩm hàng hóa mà ngànhsản xuất ra thấp.mặt khác, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia thể hiện qua môi trườngcạnh tranh, cạnh tranh trong nước và quốc tế, đặc biệt là trong WTO hiện nay Trong
đó, các cam kết về hợp tác kinh tế quốc tế các CS kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp
có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của ngành, DN, và sản phẩm hàng hóaquốc gia đó
Tóm lại một ngành có năng lực cạnh tranh nếu có “năng lực duy trì được lợinhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước” Trong phạm vi nghiên cứucủa đề án, chỉ tập trung nghiên cứu khả năng cạnh tranh ngành, DN và sản phẩm.Trong thực tế, quá trình điều chỉnh của ngành diễn ra cùng với những biến đổi vềmôi trường cạnh tranh kinh tế nói chung Khả năng cạnh tranh của ngành phụ thuộcvào yếu tố do ngành tự quyết định nhưng nó cũng phụ thuộc vào các yếu tố do Chínhphủ quyết định Nó cũng phụ thuộc vào cả những yếu tố mà cả Chính phủ và ngànhchỉ kiểm soát được ở một mức độ hạn chế hoặc hoàn toàn không thể quyết định được.Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành được chia thành 4 nhóm:
Trang 9Nhóm các yếu tố do ngành quyết định: bao gồm chiến lược phát triển ngành, sảnphẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ,đầu tư nghiên cứu công nghệ, pháttriển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng.
Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh baogồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho hoạt động nghiên cứu
và triển khai, hệ thống luật phát điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường Nhóm các yếu mà cả Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như:nhân lực sản xuất, nhu cầu người tiêu dùng, môi trường thương mại quốc tế
Nhóm các yếu tố mà cả Chính phủ và ngành không quyết định được như: môitrường tự nhiên, quy luật kinh tế
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trước hết cần thấy rõ năng lực từchính bản thân ngành và một phần quan trọng khác là các chính sách của nhà nướcnhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi
Năng lực cạnh tranh ở cấp DN:
Năng lực cạnh tranh của DN là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnhtranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.Như vậy, năng lực cạnh tranh của DN trước hết phải được tạo ra từ thực lực của DN Đây làcác yếu tố nội hàm của mỗi DN, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tàichính, nhân lực, tổ chức quản trị DN… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh vớicác đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vônghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong DN được đánh giá không thông quaviệc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó,muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi DN phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối táccủa mình Nhờ lợi thế này, DN có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêucũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh
Thực tế cho thấy, không một DN nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả nhữngyêu cầu của khách hàng Thường thì DN có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặtkhác Vần đề cơ bản là, DN phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốtnhững điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của kháchhàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một DN được biểu hiện thông qua cáclĩnh vực hoạt động chủ yếu của DN như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, côngnghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh củamột DN, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ nhữnglĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và địnhlượng Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau cócác yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợpđược các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một DN bao gồm: giá cả sản phẩm
và dịch vụ, chất lượng sản phẩm và bao gói, kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bánhàng, thông tin và xúc tiến thương mại, năng lực nghiên cứu và phát triển, thương hiệu
và uy tín của DN, trình độ lao động, thị phần sản phẩm DN và tốc độ tăng trưởng thịphần, vị thế tài chính, năng lực tổ chức và quản trị DN nhưng trong để tài chỉ nghiêncứu năng lực cạnh tranh dưới 3 loại cạnh tranh cơ bản:
Cạnh tranh bằng giá trị sử dụng (chất lượng, tính năng, mẫu mã, ) Để phát triển,các DN phải không ngừng cải tiến, hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm - hàng
Trang 10hóa - dịch vụ, đồng thời không ngừng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới, tạo ra nhữngđặc trưng khác biệt của sản phẩm - hàng hóa - dịch vụ để thoả mãn tốt nhất nhu cầukhách hàng, nhằm duy trì và mở rộng thị trường Các đặc điểm trên đã làm cho chấtlượng trở thành một yếu tố cạnh tranh hàng đầu Nhiều công ty đã chuyển vốn đầu tưvào các khu vực có khả năng thoả mãn khách hàng và đem lại lợi nhuận cao Sảnphẩm có thể được thiết kế tại một nước, sản xuất tại một số nước khác và bán ở mọinơi trên thế giới Thực tế đã chứng minh rằng, các công ty thành công trên thươngtrường đều là những công ty đã nhận thức và giải quyết tốt bài toán chất lượng Sựphát triển của khoa học và công nghệ ngày nay đã tạo cơ hội cho các nhà sản xuất kinhdoanh nhạy bén tận dụng lợi thế riêng của mình, cung cấp những sản phẩm - hàng hóa
- dịch vụ có chất lượng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng vàtạo lợi thế cạnh tranh trên thương trường
Cạnh tranh bằng giá cả: Bất kỳ nhà kinh doanh nào khi tham gia thị trường đềuquan tâm đến vấn đề cạnh tranh giá cả là chủ yếu hay chất lượng là chủ yếu Về đạithể, giá cả là một chỉ tiêu quan trọng trong cạnh tranh, dù cho chất lượng sản phẩm cóhoàn hảo bao nhiêu đi nữa Ngày nay, các nhà kinh doanh không những chỉ quan tâmđến giá bán, giá mua sản phẩm mà còn phải quan tâm rất lớn đến những chi phí trongquá trình sử dụng chúng
Cạnh tranh bằng tiêu chuẩn tiêu thụ sản phẩm và các dịch vụ sau bán hàng
Trong thực tế, các DN sử dụng đồng thời cả 3 loại cạnh tranh trên Tuy nhiên, tùyvào từng hoàn cảnh cụ thẻ của DN trong thời kì nhất định có thể chú trọng hình thứccạnh tranh khác nhau
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu cuối cùng của các DN là lợi nhuận do vậy các
DN buộc phải cạnh tranh với nhau Cạnh tranh theo nghĩa cạnh tranh lành mạnh có tính chất:Tránh nguy cơ bị phá sản trong cạnh tranh, do các DN phải dùng một phần lợinhuận của mình để phát triển đầu tư công nghệ, hiện đại hóa sản xuất
Cạnh tranh tạo ra sự đồng hướng giữa mục tiêu lợi nhuận của DN và lợi ích củangười tiêu dùng cụ thể là hàng hóa chất lượng cao, giá thành giảm, phục vụ tố đồngnghĩa với thu được nhiều lợi nhuận
Các DN đều phải cố gắng giảm chi phí, nâng cao giá trị sử dụng cua sản phẩm,hình thành tổ chức tiêu thụ vì đó là cơ sở cho sự tồn tại hoặc phá sản của DN và đồngthời tạo ra nền sản xuất xã hội ngày càng cao
Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của DN: trong nội bộ DN, các yếu tố cơ bảnảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của DN có thể được biểu thị bằng qui tắc 4M, là: Men : con người, lực lượng lao động trong DN
Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chứcsản xuất của DN
Machines : khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của DN
Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư,nguyên nhiên vật liệu của DN
Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất
Các nhân tố bên ngoài DN: môi trường kinh doanh (tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ
lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối doái, các CS tài khóa và tiền tệ ), Chính trị và phápluật (kinh tế luôn đi đôi với chính trị, nếu có được một môi trường chính trị và pháp
Trang 11luật ổn định sẽ thúc đẩy các ngành, các DN yên tâm đầu tư và phát triển), khoa họccông nghệ (ngày nay đứng trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, CNsinh học, CN chế tạo các ngành, các DN luôn phải đặt yếu tố này lên hàng đầu).Các nhân tố bên trong DN: đó là các nhân tố về sản xuất như đối tượng lao đọng,lực lượng lao động, cung cấp lao động.
Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác cácnăng lực độc đáo của mình để tạo ra sản phẩm có chi phí thấp và tính dị biệt của sảnphẩm Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, DN cần xác định được lợi thế của mìnhmới có thể giành thắng lợi Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh:
Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh Cácyếu tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động, thường được xem là nguồn lực để tạo lợithế cạnh tranh
Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị chongười tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiệnkhi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chícao hơn đối thủ
Năng lực cạnh tranh ở cấp sản phẩm:
Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, sức cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của
nó so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường
Có quan điểm cho rằng, sức cạnh tranh của sản phẩm chính là năng lực nắm giữ
và nâng cao thị phần của loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra
để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại do chủ thể sản xuất và cung ứng khác đem đếntiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường vào thời gian nhất định
Tuy nhiên, các định nghĩa trên đều thiếu một yếu tố cơ bản mà người tiêu dùngquan tâm nhất, đó là, tương quan giữa chất lượng và giá cả
Với cách tiếp cận trên, sức cạnh tranh của sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội sovới các sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm thamgia cạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng Có nghĩa là, những sảnphẩm mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên 1 đơn vị giá cả là những sản phẩm có khảnăng cạnh tranh cao hơn Tính độc đáo: Đây là tiêu chí thể hiện rõ nhất năng lực cạnhtranh của sản phẩm Trong một xã hội tiêu dùng, khi vòng đời sản phẩm ngày càngngắn lại, khi sự cạnh tranh về chất lượng và giá cả được đẩy tới mức ngang bằng nhauthì sự độc đáo là yếu tố mà người tiêu dùng thường lựa chọn Sự độc đáo có thể là kiểudáng sản phẩm Sự độc đáo tạo ra một giá trị mới mà khách hàng muốn thông qua đó
để thể hiện giá trị của bản thân mình Sự độc đáo về kiểu dáng ngày càng có tiềm năng
để phát triển hơn khi sản phẩm gắn với một không gian nhất định như nhà hàng, kháchsạn, hội trường, hộ gia đình
Một sản phẩm hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng đượcnhu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm, giá cả, tính năng, mẫu mã kiểu dáng,tính độc đáo hay sự khác biệt của sản phẩm, thương hiệu hơn hẳn so với các sảnphẩm hàng hóa cùng loại
Trước hết, hàng hóa phải có khả năng cạnh tranh về chất lượng: ưu thế về các chỉtiêu kĩ thuật, chất lượng sản phẩm hàng hóa Còn về kiểu dáng, mẫu mã, thương hiệu
để có khả năng cạnh tranh cao, các yếu tố này càng phải thể hiện sự độc đáo, hấp dẫn
Trang 12người mua Muốn vậy cần phải phù hợp với xu thế tiêu dùng, lứa tuổi, giới tính Cáccông cụ để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa bao gồm: kỹ năng bán hàng, kỹnăng quảng cáo, chiến lược mở rộng thị trường, chiến lược cạnh tranh.
Ngoài các giải pháp về kỹ thuật nêu trên, để tăng khả năng cạnh tranh của sảnphẩm, còn có các giải pháp về kinh tế, như giảm giá tiêu dùng của sản phẩm Rõ ràng,giảm giá là 1 trong những giải pháp kinh tế làm tăng khả năng cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường Tuy nhiên, chỉ giảm giả thì chưa đủ, cần tiếp tục nghiên cứu bổsung các giải pháp khác dưới đây
Kết quả cho thấy, với việc áp dụng đồng bộ 3 giải pháp (giá cả, thiết kế, độ bền)thì sản phẩm đã đạt được sức cạnh tranh cần thiết Nhưng rõ ràng là, nếu không thayđổi công nghệ sản xuất thì DN cũng khó đảm bảo vững chắc thị phần của mình trên thịtrường Nhưng, thay đổi công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn cũng là bài toán không hềđơn giản
Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp kinh tế cùng một lúc (giá cả, thiết kế, độ bền
và công suất), có thể đạt được kết quả rất khả quan, làm tăng sức cạnh tranh của sảnphẩm Nhưng cũng cần phải lưu ý, cải tiến thiết kế, tăng độ bền, tăng công suất máymóc thiết bị, tất cả điều này đều dẫn đến việc tăng giá thành, làm giảm tỷ suất lợinhuận của DN Do đó, việc tính toán chi phí sản xuất và CS giá cả hợp lý là đặc biệtcần thiết đối với DN trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay Các chi phí cơ bảnlà: nguyên, nhiên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, thu nhập của người lao động, cácchi phí quản lý
Việc đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm là hết sức cần thiết, giúp nhà sản xuấtbiết rõ sản phẩm của ta đang đứng ở đâu, sức cạnh tranh như thế nào so với đối thủ
Từ đó, có chiến lược phát triển phù hợp, đầu tư vào các sản phẩm có khả năng cạnhtranh thì mới đảm bảo thị phần bền vững của DN trong nền kinh tế thị trường Trong
đó, việc lựa chọn đúng phương pháp đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm có ý nghĩathực tiễn rất lớn
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản: các yếu
tố nội tại của sản phẩm như năng lực sản xuất, giá cả, chất lượng, thị trường tiêu thụ,các yếu tố bên trong DN như trình độ nhân lực, trình độ quản lý, trình độ công nghệ,
uy tín thương hiệu, các yếu tố bên ngoài DN như điều kiện về các nhân tố sản xuất,điều kiện về cầu thị trường, vai trò của Nhà nước, yếu tố hội nhập
1.1.4 Lí luận về cạnh tranh
1.1.4.1 Quan điểm của Porter
Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cảcác ngành hoặc ở hầu hết các ngành Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thươngtrường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngànhnào đó Porter phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng ưu thế cạnh tranhcủa các DN trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối củaAdam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo Theo ông, khả năng cạnhtranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng độngcủa ngành của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hoá thì nềntảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiênban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh
Trang 13lâu dài của các DN trên thương trường quốc tế.
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mớithì vai trò của quốc gia càng tăng lên Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thôngqua quá trình địa phương hoá cao độ Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hoá, cấutrúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnhtranh Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trườngtrong nước của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất Các Công ty của họthu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc có các đối thủ mạnh trong nước,nhờ có các nhà cung cấp có khả năng trong nước, nhờ sự phong phú nhu cầu kháchhàng trong nước và sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượngthương mại quốc tế trên góc độ các DN tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhànước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranhquốc gia chứ không phải cho một vài DN cụ thể Sự thành công của các quốc gia ởngành kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia,năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành.Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mànhờ có chúng các DN kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượttrội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp Lợi thế cạnh tranh giúpcho nhiều DN có được “quyền lực thị trường” để thành công trong kinh doanh vàtrong cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh quốc gia thường bị hiểu nhầm với lợi thế so sánh.Lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đócủa một quốc gia hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tựnhiên, tài nguyên hay con người Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dào thường đượccoi là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển Tuy nhiên đây mới chỉ là cơ sở chomột lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho sự thànhcông trên thị trường quốc tế Lợi thế cạnh tranh phải là khả năng cung cấp giá trị giatăng cho các đối tượng có liên quan như: khách hàng, nhà đầu tư hoặc các đối tác kinhdoanh và tạo giá trị gia tăng cao cho DN
Chẳng hạn, các nước nổi tiếng về du lịch như Ý và Thái Lan đã tận dụng lợi thế
so sánh về thiên nhiên và các công trình văn hoá di tích lịch sử để phát triển NCNkhông khói này rất thành công và hiệu quả Tuy nhiên, họ thành công không phải chỉdựa vào những di sản văn hoá và thiên nhiên ban cho, mà vì họ đã tạo ra cả một nềnkinh tế phục vụ cho du lịch với rất nhiều dịch vụ gia tăng kèm theo, từ dịch vụ kháchsạn, nhà hàng, lễ hội đến các dịch vụ vui chơi giải trí, các trung tâm mua sắm và cácchương trình tiếp thị toàn cầu Điều đó đã tạo cho họ có lợi thế cạnh tranh quốc gia màcác nước khác khó có thể vượt trội Việt Nam có lợi thế so sánh trong ngành du lịchvới một quần thể di sản thiên nhiên và văn hoá độc đáo ở cả 3 miền của đất nước,nhưng muốn có lợi thế cạnh tranh quốc gia để giành ưu thế trên thương trường quốc tế,Việt Nam cần có sự phối kết hợp hài hoà một hệ thống cung cấp giá trị gia tăng theo
“các viên đá tảng kim cương của Porter”, những hoạt động giải quyết thị trường đầu
ra, thị trường đầu vào cung cấp các hoạt động cần thiết cho ngành du lịch, như cungcấp đồ ăn thức uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các ngành hỗ trợ, như giao thông cầuđường, các ngành vận tải đường sông, đường bộ, hàng không, đến ngành quảng cáo
Trang 14tạo ra sự liên kết chặt chẽ Đây là những mối quan hệ tương hỗ cơ bản tạo ra giá trị giatăng của ngành Sự hợp tác càng hiệu quả bao nhiêu thì năng suất lao động của ngànhcàng cao bấy nhiêu và là cơ sở tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngành và quốc gia.
Dưới góc độ kinh tế, thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về một loại hànghoá hoặc dịch vụ nhất định Nếu như các sản phẩm trên thị trường có thể thay thế hoàntoàn cho nhau (giống hệt nhau) thì người tiêu dùng có thể lựa chọn bất cứ DN nàotrong số các DN đang cung cấp sản phẩm trên thị trường Lúc này, mỗi nhà cung cấpđều phải chịu sức ép cạnh tranh từ DN khác Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy, rất hiếmkhi tồn tại một thị trường mà các sản phẩm lại có thể thay thế hoàn toàn cho nhau Các
DN luôn tìm mọi cách để dị biệt hoá sản phẩm của mình trước thói quen tiêu dùng củakhách hàng
1.1.4.2.Quan điểm của Edward H Chamberlin
Kinh tế học lý giải về tính dị biệt hoá của sản phẩm trên thị trường từ góc độ củacạnh tranh và độc quyền Theo nhà kinh tế học người Mỹ, Edward H Chamberlin,trong kinh doanh, mỗi sản phẩm mang lại tính độc đáo bằng đặc điểm riêng có của nótrong việc hình thành như thương hiệu, khác biệt về chất lượng, cung cách phục vụ…điều này thể hiện khía cạnh độc quyền của nó Mỗi sản phẩm là đối tượng cạnh tranhcủa sản phẩm khác Việc dị biệt hoá đã làm cho cả độc quyền và cạnh tranh cùng cómặt Khi đó, các sản phẩm chỉ còn có thể liên quan đến nhau khi có khả năng thay thếcho nhau theo sự lựa chọn của khách hàng Vì thế, xác định thị trường liên quan là xácđịnh số lượng DN là đối thủ cạnh tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong khuvực thị trường nhất định
Từ đó, lý thuyết cạnh tranh xây dựng nên phương pháp xác định về sự co giãnchéo của cầu để chứng minh về tính cạnh tranh giữa các sản phẩm Một khi giá cả củamột loại sản phẩm nhất định tăng, kéo theo sự gia tăng cầu của sản phẩm khác thì tồntại độ co giãn chéo về cầu theo số dương giữa hai sản phẩm nói trên Khi đó, chúngđược lý thuyết coi là có thể thay thế cho nhau
Dưới góc độ kinh tế, việc sử dụng phương pháp tính độ co giãn chéo của cầu đểxác định khả năng thay thế cho nhau của hai sản phẩm nào đó luôn phản ánh tính chấtsuy đoán cho dù là có tính toán, bởi vì:
(i) Phản ứng của người tiêu dùng khi đổi hướng tiêu dùng có thể là kết quả củanhững toan tính nhất thời (chưa cho thấy rõ sự thay đổi của thói quen tiêu thụ)
(ii) Những con số được dùng để tính toán chỉ là những giả định được cơ quan cóchức năng sử dụng Vì vậy, độ chênh của chúng so với thực tế thị trường sẽ làm chokết quả chưa thực sự thuyết phục
(iii) Nhực tế sinh động còn cho thấy, sự tăng nhu cầu đối với một sản phẩm diễn
ra đồng thời với sự tăng giá của sản phẩm khác không có nghĩa là sự tăng cầu chỉ chịuduy nhất một tác động từ việc giá tăng nói trên
Những yếu tố như sự thay đổi thói quen tiêu dùng, những biến động thị trường,thậm chí là những tin đồn thất thiệt… cũng có thể là những nhân tố tác động trực tiếpđến nhu cầu thị trường
Do đó, Marshall cũng đã khuyến cáo những người sử dụng lý thuyết này chothực tiễn phải xem xét đến các yếu tố khác đồng thời với việc tính toán độ co giãn củacầu như: thời gian có sự tăng giá, số lượng sản phẩm nằm trong phạm vi có thể thay
Trang 15thế, khả năng cung của thị trường (kể cả khả năng cung tiềm năng)….
Luật cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam quy định thị trường liên quan bao gồmthị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Trong đó, (1) “Thị trườngsản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau
về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả, (2) Thị trường địa lý liên quan là một khu vựcđịa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với cácđiều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận” Về
cơ bản, cách thức nhận dạng thị trường liên quan của luật cạnh tranh ở Việt Nam giốngvới các nước khác
1.1.5 Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành
Chỉ số về năng suất: Michel Porter, người mở ra môn học chiến lược và lợi thếcạnh tranh của Trường đại học Harvard (Mỹ), trong tác phẩm nổi tiếng nhất về cạnhtranh: “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” đã cho rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia cần đượcxem xét trên góc độ năng suất, vì đây là nhân tố cơ bản cho việc tăng sức mạnh cạnhtranh quốc gia trong dài hạn
Chỉ số về công nghệ: Về khả năng cạnh tranh trong khoa học và công nghệ (baogồm các chỉ tiêu: số lượng tiến bộ công nghệ được ứng dụng, số kỹ sư và nhà khoa họctrên một triệu dân, tổng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển): Theo đánh giá của Diễnđàn Kinh tế thế giới, Việt Nam có điểm rất thấp về sự tiến bộ công nghệ Cho đến cuốinăm 2003, vẫn chưa tạo được những cơ chế thiết thực để gắn kết khoa học - công nghệvới sản xuất, kinh doanh, chưa hình thành được thị trường khoa học - công nghệ Hoạtđộng nghiên cứu khoa học - công nghệ vẫn dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước.Chưa phân biệt rõ hoạt động nghiên cứu cơ bản cần được Nhà nước tài trợ với hoạtđộng nghiên cứu ứng dụng mà sản phẩm nghiên cứu phải trở thành hàng hóa, được tạonguồn kinh phí từ người sử dụng các sản phẩm đó Môi trường kinh doanh và sự pháttriển ít coi trọng chất lượng và còn mang nhiều yếu tố bao cấp nên chưa tạo được độnglực và sức ép buộc mọi DN chăm lo đổi mới công nghệ, tìm đến các cơ sở khoa học,công nghệ
Chỉ số về sản phẩm như chất lượng sản phẩm: đây là chỉ tiêu quan trọng trongviệc xác định năng lực cạnh tranh thực tế của mỗi một ngành hàng
Chỉ số về đầu vào và chi phi sản xuất: Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng đã và sẽ hạnchế thu hút đầu tư làm tăng chi phi sản xuất kinh doanh của DN Cạnh tranh giữa cácnước về cơ sở hạ tầng sẽ là sự cạnh tranh dài hạn, nhất là trong điều kiện các hình thức
ưu đãi trái với quy định của Tổ chức thương mại thế giới sẽ bị loại bỏ Vì vậy, phảiđặc biệt coi trọng sự phát triển cơ sở hạ tầng Các nước CN phát triển trình độ cao,dịch vụ chiếm từ 60 - 70% Quá trình CNH-HĐH và sự phân công lao động gắn vớiCNH-HĐH vừa đặt ra nhu cầu vừa tạo khả năng phát triển dịch vụ Ngược lại sự pháttriển dịch vụ sẽ làm giảm chi phi sản xuất, kinh doanh của DN Lợi thế so sánh là tiền
đề để giảm chi phi sản xuất, lưu thông, là yếu tố tăng khả năng cạnh tranh Lợi thế sosánh có thể là giá trị công nghệ, là nguồn lao động dồi dào với chất lượng cao và giánhân công thấp, là tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý Lợi thế so sánh là yếu tốđộng Ngay cả tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý, tưởng như là tĩnh, cũng thay đổitheo thời gian Vì vậy, khi tính toán lợi thế so sánh phải đặt trong việc tính toán tổngchi phí và trong tầm nhìn dài hạn
Trang 16Chỉ số về sự liên kết: Quan hệ tương tác giữa DN trong một nền kinh tế là chỉ sốquan trọng, một mặt nó thể hiện sự bền vững trong phát triển kinh tế xã hội của mộtnước, mặt khác nó thể hiện các giá trị dân chủ trong xã hội nước đó Các DN lớn xâydựng nền tảng xương sống, trong khi các DN nhỏ sẽ là các mạch máu nhỏ để duy trì sựsống của cơ thể - nền kinh tế quốc dân Trong quá trình toàn cầu hóa, các DN lớn sẽ lànhững người lính tiên phong xây dựng Năng lực cạnh tranh của quốc gia trong khi các
DN nhỏ góp phần ổn định nền kinh tế, giảm nhẹ các nguy cơ do toàn cầu hóa mangđến cho nền kinh tế đó Phát triển quan hệ hợp tác giữa các DN lớn và các DN nhỏ làmột giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong việc tăng cường Năng lực cạnh tranh củacộng đồng DN Việt Nam nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung trong thờigian tới
Chỉ số về các điều kiện về nhu cầu: Nhu cầu của con người trong tính đa dạng,phong phú có thể coi là vô cùng, nhưng trong tính đơn nhất lại có giới hạn Vì vậy, khiđầu tư phải xem xét dung lượng thị trường của sản phẩm, phải dự báo được nhu cầu và
sự thay đổi nhu cầu Nếu dung lượng thị trường bị giới hạn, dù sản phẩm có khả năngcạnh tranh vẫn khó có khả năng mở rộng, vì sẽ có nguy cơ bị áp đặt các biện phápchống bán phá giá, hoặc các biện pháp tự vệ Khi tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường còn nhỏnhưng dung lượng thị trường còn lớn và tốc độ chiếm lĩnh thị trường đang tăng lên,tức là sản phẩm có khả năng cạnh tranh, có thể mở rộng sản xuất
Chỉ số về lợi nhuận: Mục tiêu hàng đầu của DN là lợi nhuận, trong quá trình tự tổchức và cạnh tranh vì lợi nhuận của các DN tư bản, xã hội sẽ được lợi hơn và xã hội sẽtiến nhanh về phía trước hơn là hình thái đặt mục tiêu trực tiếp thoả mãn các quyền lợicủa xã hội lên trên quyền lợi của các DN Đây là luận điểm mà đại diện là AdamSmith ông tổ của kinh tế học tư bản chủ nghĩa và đã phần nào được chứng thực bằngthực tế Kinh tế thị trường là cạnh tranh, không còn độc quyền nữa, và chỉ có cạnhtranh mới đem lại sáng tạo, thực tiễn, hàng có phẩm chất cao, giá rẻ, có người tiêu thụnhiều, đem lợi nhuận lại cho người sản xuất
Chỉ số về thị phần: Thị phần DN là một trong những cơ sở để xác định các thoảthuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, xác định DN, nhóm DN có vị trí thống lĩnh trên thịtrường, xác định các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm và là căn cứ quan trọng đểđược hưởng miễn trừ đối với tập trung kinh tế
Theo Luật Cạnh Tranh của Việt Nam việc xác định Thị phần sẽ không có sựphân biệt giữa DN nhà nước hay DN tư nhân và sẽ được căn cứ trên doanh số đối vớimột loại hàng hoá dịch vụ Cơ sở để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh của DN
sẽ được cơ quan quản lý cạnh tranh căn cứ vào 4 chỉ tiêu: năng lực tài chính, năng lựccông nghệ, quyền sở hữu và quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp và quy mômạng lưới phân phối
1.2 Lí luận chung về ngành công nghiệp điện tử
1.2.1 Khái niệm
Ngành CNĐT là ngành sản xuất: vật liệu, linh phụ kiện, cấu kiện điện tử, thiếpbị trong sản xuất thiếp bị lại bao gồm: thiết kế, tổng thể thiết bị, thiết kế công nghệ,thiết kế kĩ thuật CN,thiết kế mạch điện, thiết kế chi tiết CN, thiết kế và chế tạo vỏ, đếmáy, lắp ráp(lắp ráp là khâu cuối cùng trong sản xuất thiết bị và lắp ráp là bộ phậnquan trọng của sản xuất CNĐT)
Trang 17Lắp ráp thiếp bi có 3 dạng chính, SKD(Semi Knock Down)-lắp ráp từ các linhkiện, CKD(Complex Knock Down )-lắp rắp từ các chi tiết rời trọn bộ, IKD(IncomplexKnock Down)-lắp ráp từ các linh kiện rời.
Công nghệ thông tin(Information Technology, viết tắt là IT) là ngành ứng dụngcông nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn Cụ thể,CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo
vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Vì lý do đó, những người làm việc trong ngànhnày thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình DN(Business Process Consultant), và bộ phận của một công ty hay đại học chuyên làmviệc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT
Theo Luật công nghệ thông tin Việt Nam số 67/2006/QH11 năm 2006: CN côngnghệ thông tin ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung cấp sản phẩm côngnghệ thông tin, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số
Theo định nghĩa quốc tế thông dụng, CNĐT là NCN sản xuất ra các loại thiết bị
có chức năng xử lý tín hiệu điện và các loại phụ tùng linh kiện của những thiết bị đó,bao gồm điện tử tiêu dùng, điện tử y tế, điện tử CN, điện tử viễn thông
CN nội dung số là khái niệm rất mới và trên thế giới, người ta cũng chưa tìm rađược một định nghĩa thống nhất Mỗi quốc gia có cách hiểu về lĩnh vực này khácnhau Còn ở VN, dự thảo Luật công nghệ thông tin từng đưa ra khái niệm CN nội dung
số nhưng không nói rõ nó gồm những lĩnh vực gì Tuy nhiên, quan điểm của Bộ Bưuchính Viễn thông thì cho rằng đây là ngành thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phânphối, phát hành các sản phẩm nội dung số và dịch vụ liên quan Nó bao gồm nhiều lĩnhvực như: tra cứu thông tin, dữ liệu số, giải trí số, nội dung giáo dục trực tuyến, học tậpđiện tử, thư viện và bảo tàng số, phát triển nội dung cho mạng băng rộng, mạng diđộng 3G
Công nghệ phần mềm là sự vận dụng thực tế của những kiến thức khoa học trong việcthiết kế, cấu tạo của phần mềm cũng như những tài liệu liên quan trong việc phát triển, hoạtđộng và bảo dưỡng của nó Công nghệ phần mềm bao gồm những kiến thức và ứng dụng củanhững nguyên tắc, phương pháp và công cụ cho kỹ thuật, quản lý sự phát triển phần mềm
CN hỗ trợ là NCN sản xuất những linh kiện phụ tùng cung cấp cho các nhà lắpráp - DN sản xuất chính - để họ hoàn thiện sản phẩm cuối cùng trước khi bán ra thịtrường Ở các nước có nền công nghiệp phát triển, không bao giờ một chiếc ô tô, xemáy lại do một nhà máy sản xuất ra, mà có sự phân công cho những nhà sản xuất "vệtinh" chuyên sản xuất một số linh kiện, phụ tùng nhất định
Thiết bị điện tử CN là các thiết bị dùng trong CN
Thiết bị tin học: máy tính, các thiết bị ngoại vi và các phần mềm
Thiết bị viễn thông: tất cả các thiết bị điện tử dùng để liên lạc, trao đổi, truyền tin
Trang 18từ xa gồm cả phần cúng và phần mềm.
Điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông là 3 lĩnh vực CN riêng nhưng lại có mốiliên hệ với nhau nhưng thường được nghiên cứu, đánh giá chug trong cùng một góc độNCNĐT
1.2.3 Vai trò của NCNĐT trong quá trình CNH-HĐH nền kinh tế đất nước
Không có NCN điện tử hiện đại thì Việt Nam chưa có thể nói là một nước CNvào đầu năm 2020 CN điện tử là một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế nóichung, đặc biệt là đối với mục tiêu CNH-HĐH đất nước Nó là ngành cơ sở cung cấpcác linh phụ kiện cho hầu hết các ngành then chốt như viễn thông, cơ khí, hoá chất…Nói đến CNH-HĐH thì không thể thiếu NCN điện tử, nó thể hiện ngành hàng cótrình độ công nghệ cao mang tính đột phá Sự phát triển của ngành điện tử mang lạihiệu quả kinh tế xã hội to lớn, thúc đẩy sự phát triển của mọi lĩnh vực sản xuất và đờisống, bởi vì:
NCN điện tử phát triển, tạo ra một sức phát triển mới trong mọi lĩnh vực sản xuất
và đời sống Sản xuất ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất và nhu cầu vật chất ngàycàng cao cho xã hội
Ngành tạo ra trang thiết bị cho phát triển CNH-HĐH Tạo ra sức đột phá về khoahọc kỹ thuật, công nghệ Thúc đẩy sự hiện đại hóa các NCN khác
Xuất phát từ tính chất mũi nhọn của NCN điện tử, định hướng phát triển NCNĐTthời gian tới tập trung vào một số ngành chính:
NCN sản xuất máy móc thiết bị, vật tư ngành
NCN sản xuất thiết bị, linh kiện điện tử phục vụ sản xuất và tiêu dùng
Trước sức ép hội nhập và tự nâng cao năng lực cạnh tranh thì CS bảo hộ thuế củaNhà nước sẽ không còn là chỗ dựa lâu dài cho các DN điện tử
Phát triển CN điện tử Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa kinh tế xã hội, được đặttrong chiến lược phát triển các NCN để CNH-HĐH nền kinh tế Việt Nam Hơn nữa,
CN điện tử trong tương lai là NCN mũi nhọn không chỉ thoả mãn nhu cầu thị trườngnội địa mà còn XK ra thị trường thế giới, mang lại một lượng ngoại tệ lớn cho nềnkinh tế CN điện tử còn là ngành đại diện cho một nền kinh tế có trình độ công nghệphát triển cao, là ngành sản xuất và marketing các sản phẩm chứa đựng trí tuệ và vănhoá cao Việc học tập kinh nghiệm của những quốc gia đi trước, tập trung nguồn lực
để thực hiện những giải pháp vĩ mô và vi mô là đòi hỏi khách quan Đồng thời vấn đềnày cũng liên quan trực tiếp và rất cấp thiết đối với các DN của NCN điện tử ViệtNam đang hoạt động và những DN sẽ hình thành trong tương lai, tạo nên những mốiquan hệ kinh tế mới giữa Việt Nam và nền kinh tế thế giới
Với sự phát triển của ngành Công nghệ thông tin trên thế giới hiện nay cùng vớitầm quan trọng của nó trong sản xuất và đời sống, không thể không định hướng choNCN này cho tương lai mặc dù cho tương lai xa Ngành công nghệ thông tin là mộtngành nghề còn mới đối với nước ta
Sự phát triển của NCN công nghệ thông tin mang tính đặc thù của một NCN tríthức và chất xám, do đó định hướng những năm sau năm 2020 tỷ trọng NCN này ngàycàng được nâng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong NCN
Với sự phát triển của CNĐT đã đưa hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốcgia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Cuộc cách mạng điện tử thông tin cùng
Trang 19với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời sốngkinh tế, văn hóa, xã hội, đưa xã hội loài người chuyển mạnh từ xã hội CN sang xã hộithông tin, từ kinh tế CN sang kinh tế tri thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủyếu vào năng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin Nhân loạiđang bước vào một thời đại mới, thời đại của xã hội thông tin và kinh tế tri thức, đượchình thành trên cơ sở phát triển và ứng dụng rộng rãi CN thông tin
Để phát triển kinh tế tri thức, CNĐT là một trong những động lực quan trọng nhất của
sự phát triển, là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự phát triển kinh tế-xã hội, đảmbảo an ninh quốc phòng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay CNĐT được ứngdụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyểndịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội, phong cách sống, học tập và làm việc của conngười CNĐT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề mới, làm thay đổi sâu sắc các NCN hiệntại, tăng khả năng cạnh tranh của các NCN truyền thống Tại nhiều quốc gia, CNĐT đã trởthành ngành kinh tế chủ đạo có tốc độ tăng trưởng rất cao, tạo ra nhiều việc làm Việc ứngdụng CNĐT trong các hoạt động quản lý nhà nước sẽ giúp cho quá trình ra quyết định đượcthực hiện nhanh chóng, kịp thời, và chính xác
CNTT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hìnhthành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình CNH-HĐH đất nước Ứng dụng rộng rãiCNTT là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội
và tăng năng suất, hiệu suất lao động Ứng dụng CNTT phải gắn với quá trình đổi mới
và bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phải được lồng ghép trong các chươngtrình quản lý, kinh tế, khoa học công nghệ
CNĐT là NCN kỹ thuật cao đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp HĐH nềnkinh tế quốc dân và cần được ưu tiên phát triển, lựa chọn một số loại vật liệu, tiến hànhnghiên cứu, tiếp thu công nghệ tiên tiến từ nước ngoài và tổ chức sản xuất vật liệu,linh kiện cho lắp ráp các thiết bị hoặc XK
Kinh nghiệm từ nhiều nước CN phát triển trên thế giới cho thấy, NCNĐT luônđóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung và thực tế đòi hỏi trong quá trìnhphát triển hội nhập của Việt Nam cũng đã khẳng định rõ điều đó Chính vì vậy, Đảng
và nhà nước ta đã thể hiện rõ quan điểm đề cao vai trò của CNĐT trong tiến trìnhCNH-HĐH phát triển kinh tế đất nước Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP của Chính phủ
và Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định về chiến lượcphát triển CNĐT trong giai đoạn 2001-2005 là: CNĐT và tin học phải đóng vai tròquan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, là yếu tố không thể thiếu được củaquá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cải cách kinh tế và cải cách hành chính, chuẩn bịtiền đề cho một xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức Phát triển CNĐT theo hướng
xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năngphát triển
1.2 Tổng quan về ngành công nghiệp điện tử thế giới
1.2.1 Tổng quan chung
Theo đánh giá chung của các chuyên gia ngành điện tử-tin học thế giới, trongkhoảng 20 NCN khác nhau, NCN điện tử-tin học viễn thông chiếm vị trí thứ nhất về
sử dụng lao động, thứ hai về doanh số trên vốn và thứ ba về doanh số tuyệt đối
Trong buôn bán quốc tế, các sản phẩm điện tử tham gia vào thị trường muộn hơn
Trang 20cả Từ vài thập kỷ nay, khi cảthế giới sống trong “xã hội điện tử”, NCN điện tử có sựphát triển nhanh chóng Chính sự phát triển này đã góp phần thúc đẩy sự lớn mạnh củanhiều ngành kinh tế khác.
CNĐT cần một lượng vốn lớn để đầu tư cho sản xuất, thiết kế sản phẩm, nghiêncứu triển khai, đổi mới công nghệ và một lực lượng lao động có trình độ chuyên môncao Do đặc tính kế thừa và bảo mật cao về công nghệ trong sản xuất, nên hầu hết cácsản phẩm điện tử nổi tiếng thế giới đều thuộc các nhà sản xuất có tiềm lực lớn về vốn,công nghệ và nhân lực Đó là những tập đoàn kinh doanh xuyên quốc gia như Fujitssu,Matsushita, Sanyo, LG, Sony nắm quyền chi phối phần lớn thị trường
Trong sản xuất, luôn có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các hãng trong việc tạo racác sản phẩm mới, làm cho công nghệ sản xuất luôn thay đổi với tốc độ nhanh Cùngvới sự cạnh tranh gay gắt giữa các tập đoàn kinh tế, nhiều tập đoàn và hãng lớn trênthế giới vẫn phải tìm cách liên kết, hợp tác với nhau thành từng nhóm, từng khu vực vàlập nên những mạng lưới sản xuất, kinh doanh mang tính toàn cầu
Những năm gần đây, do lợi nhuận cao và do tầm chiến lược của CNĐT đối vớinền kinh tế, nhiều nước đã đổ xô vào phát triển CNĐT, dẫn đến khủng hoảng thừa cácsản phẩm điện tử thông dụng Tuy nhiên, về lâu dài thị trường hàng điện tử thế giớivẫn rộng mở không ngừng cho các sản phẩm công nghệ cao, hiện đại, có những tínhnăng mới, nổi trội, thông minh Chu kỳ sống của sản phẩm điện tử ngày ngày rút ngắn,sản phẩm điện tử mang tính hiện đại, mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc và vật liệu chế tạothường xuyên thay đổi nhằm thích nghi, đáp ứng được tính hiếu kỳ và luôn đổi mớicủa khách hàng, nhất là điện thoại, computer, tivi Cùng với những đặc điểm và sảnphẩm, người tiêu dùng rất quan tâm đến chất lượng và giá trị sử dụng của sản phẩm.Giá sản xuất cũng thường xuyên thay đổi theo hướng giảm xuống, bản thân sản phẩmcũng nhanh chóng trở nên lạc hậu
Quá trình phát triển của CNĐT thế giới là xu hướng chuyển dịch đầu tư từ khuvực kinh tế phát triển sang khu vực kinh tế kém phát triển hơn do có sự chuyển dịch vềlợi thế so sánh Đầu tiên là từ các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu sang cácnước phát triển ở trình độ thấp hơn như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo
và gần đây là các nước ASEAN, Trung Quốc
Trong buôn bán hàng điện tử, vấn đề nhãn hiệu sản phẩm rất được quan tâm.Giới tiêu dùng coi nhãn hiệu sản phẩm như một “giấy chứng nhận” chất lượng hànghoá và uy tín của nhà sản xuất, thứ đến mới là giá cả Tuy nhiều nước phải cam kết dỡ
bỏ các rào cản trong buôn bán hàng điện tử theo quy định của WTO, nhưng trên thực
tế lại sử dụng những công cụ phi thương mại để bảo hộ như các tiêu chuẩn về môitrường Đó là vấn đề bất lợi cho các nước đang phát triển khi tham gia vào thị trườnghàng điện tử thế giới
Trong thị trường hàng điện tử dân dụng, thiết bị điện tử dân dụng chiếm khoảng 10% tổng số, trong đó chủ yếu là thiết bị nghe nhìn Trước thập niên 90 của thế kỷ trước,Nhật Bản, Tây Âu và Mỹ sản xuất tới 71% thiết bị điện tử dân dụng toàn thế giới (trong
9-đó Nhật Bản 40%, Tây Âu 18% và Mỹ 13%) Sản xuất, đặc biệt là lắp ráp các thiết bịnghe nhìn đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước khu vực châu Á-TBD Nhữngnăm gần đây, các nước mới CNH ở châu Á nổi lên như các nước cung cấp thiết bị điện tửdân dụng giá rẻ hàng đầu thế giới Giai đoạn 1999-2002, sản xuất thiết bị điện tử dân dụng
Trang 21giảm bình quân 1,4%/năm ở Nhật Bản và 1,3%/năm ở Mỹ, thì lại gia tăng bình quân3,6%/năm ở Trung Quốc, 6,8%/năm ở Trung Quốc Cũng trong giai đoạn đó, XK thiết bịđiện tử dân dụng chiếm tới 20-30% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử nói chung củacác nước mới CNH châu Á và gần 50% ở Trung Quốc.
Mỹ đứng đầu thế giới về tiêu thụ thiết bị điện tử dân dụng, tiếp đến là Nhật Bản, Đức,Anh, Pháp Một xu hướng nổi bật là số lượng thiết bị tiêu thụ tăng mạnh trong khi giá giảmđáng kể (giảm khoảng 20-40% tuỳ loại trong 5 năm qua) Thị trường ở các nước phát triểnhầu như đã bước vào giai đoạn bão hoà, trong khi ở các nước đang phát triển, tiêu thụ tăngkhoảng 10% Nhu cầu đặc biệt tăng nhanh đối với các loại thiết bị mới, có chất lượng cao(như máy phát hình có độ nét cao, màn hình tinh thể lỏng )
Về cơ cấu sản phẩm, tiêu thụ thiết bị nghe nhìn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thiết bị điện tử dân dụng, tới 60-62%, trong đó TV 35%, tiếp theo là thiết bị nghe.Gần đây, các videogames đã phát triển nhanh nhất trong nhóm sản phẩm thiết bị điện
tử dân dụng với những tính năng kết hợp được cả máy tính và TV cáp
Trong thị trường thiết bị tin học, máy tính chiếm tỷ trọng lớn nhất Xu hướng tậptrung hoá cao là đặc điểm của lĩnh vực sản xuất máy tính Hiện nay, 3 hãng Compaq,IBM, Dell Computer chiếm tới 30% doanh thu trên thị trường máy tính toàn cầu.Châu Á đang trở thành trung tâm của NCN máy tính, do có ưu thế về chi phí sảnxuất thấp Hầu hết các hãng sản xuất máy tính lớn đã thiết lập nhà máy lắp ráp máytính tại các nước Tây Âu và Mỹ Xu hướng chung của máy tính là nhỏ hơn, rẻ hơn,tiện lợi hơn và nhanh hơn Để đáp ứng yêu cầu này, các hãng sản xuất máy tính đangchuyển sang sản xuất theo đơn đặt hàng, hạn chế các trung gian, đáp ứng tốt hơn yêucầu của người tiêu dùng Mỹ là nước cung cấp tới 90% tổng lượng CPU toàn thế giới,nên đang giữ vai trò chi phối thị trường máy tính thế giới
Doanh số bán máy tính toàn cầu có tốc độ tăng 11,6%/năm giai đoạn 1995-2000,
từ 125 lên 216 tỷ USD Máy tính xách tay là một trong những sản phẩm có tỷ trọngtiêu thụ cao nhất trong nhóm thiết bị tin học, chiếm 33% tổng tiêu thụ máy tính ở Mỹ
và 20% ở Tây Âu Những năm qua, mức tăng tiêu thụ cao nhất là các máy chủ (Server)xuất phát từ nhu cầu phát triển công nghệ thông tin, các hệ thống mạng nội bộ và dịch
vụ Internet Mỹ vẫn là thị trường tiêu thụ PC lớn nhất, chiếm 40-45% tiêu thụ toàncầu, Nhật Bản và Tây Âu chiếm 20-25% Tỷ trọng tiêu thụ ở các nước châu Á-TBDnhững năm gần đây có xu hướng tăng mạnh
Trên thị trường linh kiện điển tử cũng đang có sự dịch chuyển sản xuất từ khuvực kinh tế phát triển sang khu vực có kinh tế chậm phát triển hơn Một bộ phận cơbản của thị trường linh kiện điển tử là linh kiện bán dẫn Một đặc trưng của ngành sảnxuất linh kiện bán dẫn là tính tập trung cao Do đó đòi hỏi vốn đầu tư lớn cho nghiêncứu, thiết kế, chế tạo, nên chủ yếu được sản xuất tại các nước phát triển, còn lắp rápđược thực hiện ở các nước khác
Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm trong 5 năm 1998-2002 tăng trung bình 13%/năm.Buôn bán sản phẩm điện tử là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh nhất trong 20năm qua, từ 500 tỷ USD năm 1992 lên 1 nghìn tỷ USD năm 2002
Những tiến bộ về công nghệ và sự thay đổi về yêu cầu đối với máy tính (yêu cầu
về lưu trữ giảm đi, trong khi yêu cầu về tính tiện dụng tăng lên) Vì thế, các nhà sảnxuất đang hướng tới việc thay thế các máy tính cồng kềnh bằng các thiết bị nhỏ gọn
Trang 22hơn những vẫn thực hiện được hầu hết các chức năng chủ yếu Cùng với những thayđổi trong cơ cấu sản xuất và mức độ cạnh tranh ngày càng tăng khi sự đan xen giữacác hãng sản xuất thiết bị xử lý dữ liệu (EDP) và thiết bị điện tử dân dụng trở nên phổbiến, các phương thức buôn bán trên thị trường sản phẩm điện tử ngày càng có nhiềuthay đổi Các sản phẩm máy tính chuyên dụng với các đối tượng tiêu dùng đặc biệt,loại bỏ các chức năng thông thường của máy tính đa dạng nhằm hướng tới các nhómtiêu dùng khác nhau, đang là hướng đi của hầu hết các hãng sản xuất sản phẩm điện tửhàng đầu thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn do sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, chi phísản xuất tăng trong khi giá bán 1 đơn vị sản phẩm đang có chiều hướng giảm, thịtrường hàng điện tử thế giới vẫn được dự báo là có triển vọng sáng sủa và duy trì chu
kỳ tăng trưởng trong năm 2003 cùng với sự phục hồi chung của kinh tế thế giới Theothông tin của Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDC) và SIA, thị trường linh kiện bán dẫn -nền tảng của CNĐT có mức tăng trung bình 14% trong giai đoạn 1998-2002, trong đómột số thị trường tăng khá như Mỹ tăng 21% năm 2001 và 11% năm 2002, Nhật Bảntăng tới 16% và 10%, EU 20% và 11%, đặc biệt khu vực châu Á-Thái Bình Dươngtăng tới 23% và 14% trong thời gian tương ứng
Cho tới nay, Mỹ vẫn là nước đứng đầu thế giới về CNĐT, tin học, viễn thông.Giá trị sản lượng ngành này đứng thứ 2 trong nền kinh tế Mỹ, Mỹ cũng là nước cungcấp các sản phẩm điện tử hàng đầu, có ý nghĩa then chốt với sự phát triển của CNĐTtoàn cầu, đồng thời có vai trò khống chế thị trường TBBD, PC và phần mềm Tổngdoanh số sản phẩm điện tử của Mỹ đạt khoảng 700 tỷ USD/năm Các thị trường khácphải kể đến Nhật Bản, Tây Âu, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo, Ấn Độ,Hồng Kông
Thị trường điện tử - tin học của thế giới hiện nay và thời gian đến tiếp tục pháttriển với tốc độ nhanh chóng Mỹ là nước đi đầu trong lĩnh vực CN điện tử-tin học, cóthị trường lớn nhất thế giới, là nơi tiêu thụ hàng điện tử của các nước Nhật, Hàn Quốc,Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Thị trường của Mỹ có quy mô khoảng 500 tỷUSD/năm, tổng sản lượng NCNĐT và CNTT của Mỹ khoảng trên 1000 tỷ USD Nhật là nước đứng thứ hai sau Mỹ Các nước ASEAN và các nước Châu Á xungquanh ta cũng có xu hướng phát triển mạnh NCN này ở nước ta ngành điện tử-tin họctuy mới phát triển nhưng có tốc độ nhanh (trên 20%/năm), lợi thế của Việt Nam là giánhân công chỉ bằng 15-20% so với các nước trong khu vực ASEAN
1.1.2 Nhận xét đánh giá về tình hình sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm điện tử trên toàn thế giới
Thị trường hàng điện tử thế giới đang phát triển với nhịp độ nhanh và thường haybiến động Mỗi mặt hàng, nhóm hàng cũng như mỗi khu vực thị trường có những đặctrưng khác biệt, có thể nêu lên một số đặc trưng chủ yếu của thị trường hàng điện tửthế giới như sau:
Về thị trường: Thị trường hàng điện tử thế giới đã có sự phân công sản xuất và
phân chia thị trường ở mức độ rất sâu và rất cao Với ưu thế về vốn và công nghệ, cácnước CN phát triển - Mỹ, Nhật Bản - đang chi phối thị trường hàng điện tử thế giớithông qua việc khống chế sản xuất và XK linh kiện điện tử cũng như nghiên cứu triểnkhai các sản phẩm mới Các nước đang phát triển NK linh kiện và nhận chuyển giao
Trang 23công nghệ, đồng thời sản xuất, XK lại các sản phẩm điện tử thành phẩm.
Các nước có NCN điện tử phát triển nhanh đều tập trung ở Châu Á như Hàn Quốc,Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia Những kinh nghiệm phát triển thànhcông NCN và thị trường hàng điện tử của các nước này là những bài học tốt cần tham khảokhi đề ra phương hướng và CS phát triển thị trường hàng điện tử của Việt Nam
Về mặt hàng: Tiêu thụ thiết bị điện tử chuyên dụng, thiết bị tin học trong cơ cấu
tiêu thụ hàng điện tử có xu hướng tăng trong khi tiêu thụ thiết bị điện tử dân dụnggiảm đi, đặc biệt là ở các nước phát triển Các nước đang phát triển vẫn có tốc độ tăngtiêu thụ thiết bị điện tử dân dụng cao, chủ yếu là các sản phẩm thế hệ thứ hai với giá
rẻ Samsung đang dẫn đầu thế giới về sản xuất con chíp, màn hình phẳng LCD và tivimàu Samsung cũng đang cạnh tranh quyết liệt với Motorola để trở thành nhà sản xuấtđiện thoại di động thứ hai thế giới
Hầu như không có một tuần lễ nào trôi qua mà Samsung không công bố một sảnphẩm nào đó thuộc hàng “đầu tiên trên thế giới” hoặc “lớn nhất thế giới” hoặc gì đótương tự Samsung đang có nhiều phát minh đăng ký tại Mỹ, năm 2004 là 1.600 phátminh sáng chế được đăng ký, hơn cả Intel
Đầu mùa hè này, Công ty nghiên cứu thị trường của Anh quốc Interbrand đã tínhtoán và kết luận lần đầu tiên giá trị thương hiệu toàn cầu của Samsung vượt qua cảSony Nó cho thấy mức tăng trưởng vượt bậc mà chưa có một thương hiệu của mộtcông ty toàn cầu nào đạt được
Về giá cả: ASEAN cũng như giá của hàng điện tử trên thế giới đang tiếp tục
giảm Bên cạnh đó, nhiều mặt hàng công nghệ mới tiếp tục "phủ định"các mặt hàngcông nghệ, model cũ cũng khiến cho nhóm hàng công nghệ cũ tiếp tục giảm giá
Các linh kiện bán dẫn là nền tảng của CNĐT có tỉ trọng ngày càng tăng trong
tổng giá trị thiết bị điện tử (khoảng 50% trị giá linh kiện nói chung) Nhật Bản và Mỹ
là những nước đứng đầu về cung cấp các sản phẩm bán dẫn
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã, đang và sẽ dẫn đến những thay đổinhanh chóng của các sản phẩm điện tử và tạo ra sự kết hợp đan xen giữa lĩnh vực sảnxuất thiết bị xử lý dữ liệu với thiết bị điện tử dân dụng và thiết bị điện tử CN Tuynhiên, thị trường hàng điện tử vẫn tiếp tục chịu sự chi phối của thị trường trường linhkiện Các yếu tố cung - cầu về linh kiện điện tử đóng vai trò quan trọng trong việc hìnhthành động thái thị trường hàng điện tử trong những năm tới
1.3 Kinh nghiệm nâng cao sức cạnh tranh của NCNĐT một số nước trên thế giới
1.3.1 Thực tiễn sức sản xuất các mặt hàng điện tử của một số nước
Trang 24Internet đã được phổ cập tới hơn 90% dân số Khoảng 20% trong tổng số gần 50 triệudân Hàn Quốc tham gia các lớp tin học dưới nhiều hình thức Trẻ em Hàn Quốc hiệnnay làm quen với máy tính ngay khi biết đọc, biết viết Nhiều người có thói quen sửdụng mạng để thu nhập thông tin, mua sắm, giải trí.
Với việc mở cửa thị trường, Hàn Quốc có nhiều DN tham gia vào việc cung cấpcác dịch vụ viễn thông và CNTT Các DN mới tập trung đầu tư phát triển thị trườngtrong lĩnh vực thông tin di động và truy cập Internet băng rộng Nếu trong lĩnh vựcđiện thoại di động, công ty KT chiếm thị phần gần tuyệt đối là 87,9% trong khi cáccông ty như Hanaro chiếm 6,6%, Thrunet chiếm 2,8% và các công ty còn lại chiếm2,6% (cần lưu ý là khách hàng sử dụng dịch vụ điện thoại cố định chỉ chiếm 48,8%trong tổng số 35 triệu thuê bao ở Hàn Quốc, nghĩa là chưa đến 25 triệu thuê bao sửdụng điện thoại cố định) thì tỷ lệ thị phần trong lĩnh vực thông tin di động và Internetbăng rộng có sự phân bố khác hẳn Trên thị trường thông tin di động, KT chỉ chiếm54% tỷ lệ thị phần, SK chiếm 31,6% và LG chiếm 14,4% Với Internet băng rộng: KTchỉ còn chiếm 48,6% tỷ lệ thị phần, 26,5% thị phần là của Hanaro, Thrunet có 11,5%thị phần và các công ty khác chiếm 13,4% thị phần còn lại
Để phát triển CNTT, đặc biệt là các dịch vụ thông tin băng rộng, chính phủ đãđẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tuyên truyền giáo dục cho người dân thấy ích lợi
và biết sử dụng Internet, thực hiện các CS khuyến khích cạnh tranh lành mạnh Cácdịch vụ thông tin băng rộng thường phát triển mạnh ở những khu đô thị nơi có mật độdân cư cao, đối với các khu vực nông thôn với địa bàn rộng lớn thì các modem tốc độthấp thường được sử dụng phổ biến hơn Để tăng số lượng thuê bao, việc tiếp thị giớithiệu các dịch vụ là rất cần thiết, đồng thời việc cung cấp nội dung phong phú có vaitrò hết sức quan trọng Kế hoạch phát triển CNTT của Hàn Quốc trong thời gian hiệnnay là: tiếp tục triển khai dịch vụ WCDMA ở khu vực đô thị Seoul và xung quanh,dịch vụ Internet vô tuyến 2,3 GHz (năm 2005), truyền hình số băng rộng phủ sóngtoàn quốc (năm 2006) Trong chiến lược phát triển CNTT, Hàn Quốc đặc biệt quantâm đến kế hoạch đầu tư cho nghiên cứu phát triển
Lựa chọn công nghệ phù hợp với năng lực của nền kinh tế Để lựa chọn được côngnghệ phù hợp, ngoài việc hoàn thiện luật pháp về đầu tư và phát triển công nghê, người tacòn phải có một đội ngũ cán bộ có khả năng đánh giá các phương án công nghệ Ví dụ,Chính phủ Hàn Quốc đã cho ra đời một hệ thống các cơ quan (bao gồm các nhà khoa học,các cán bộ quản lý tài năng được đào tạo cẩn thận và có lương cao) phục vụ cho việc tìmkiếm và lựa chọn, đàm phán, muavà sau đó nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ.Chính vì vậy mà nước này đã du nhập được những công nghệ thích hợp và khai thác hiệuquả của chúng Trường hợp chuyển giao công nghệ thành công điển hình là nhà máy gangthép Pohang ở QuangDu Tuy được xây dựng từ năm 1984-1988, nhưng do lựa chọn côngnghệ sản xuất và quản lý tốt và tổ chức đấu thầu thành công, nên đến nay nhà máy này vẫn
là cơ sở sản xuất gang thép hiện đại, được xây dựng với giá thành hạ nhất có chất lượngthép tốt hàng đầu thế giới Kết quả là một tấn thép chất lượng tương đương sản xuất ở HànQuốc có giá thành chỉ bằng ½ giá thành sản xuất ở Mỹ
1.3.1.2 Ấn Độ
Với mục tiêu đưa Ấn Độ trở thành siêu cường quốc về CNTT của thế giới trongthế kỷ XXI, Chính phủ Ấn Độ đã chọn phát triển CNTT đây được coi là NCN mũi
Trang 25nhọn Từ năm 1996, Ấn Độ đã thực thi kế hoạch phát triển toàn diện ngành IT, đặcbiệt là phần mềm máy tính Tiêu chí được đưa ra là: “CN phần mềm Ấn Độ là kiểumẫu của sức mạnh và thành công” Hiện nay, tổng giá trị XK của ngành CNTT Ấn Độchiếm khoảng 35% tổng giá trị XK của nền kinh tế, chiếm 75% GDP, khoảng 200trong tổng số 500 công ty lớn nhất của Mỹ đã mua các sản phẩm phần mềm của Ấn
Độ Ấn Độ đã XK phần mềm máy tính sang hơn 75 nước trên thế giới, với tốc độ tăngtrưởng 50%/năm Sự phong phú về thị trường đã hỗ trợ rất nhiều cho NCN phần mềmmáy tính Nhiều khách hàng tại Mỹ đánh giá Ấn Độ đứng đầu trong 8 nước có khảnăng cạnh tranh trong công nghệ phần mềm Một trong những trung tâm phát triểnmạnh CNTT ở Ấn Độ là Bangalore, nơi được mệnh danh là “Thủ đô tin học mới”, nơiđón nhận các tập đoàn CNTT lớn của thế giới như IBM, Digital, Hewlett Packard,Sun, Motorola…
Nguyên nhân thành công chính của sự đột phá CNTT của Ấn Độ là: Thứ nhất,
Ấn Độ đã thực hiện CS mở cửa nhằm thu hút các công ty CNTT lớn trên thế giới vàoxây dựng cơ sở vật chất tại 7 khu công nghệ cao, đựợc phân bố trên khắp cả nước vớinhững ưu đãi đặc biệt như: Cung cấp đầy đủ hạ tầng cơ sở, miễn thuế NK, thuế doanhthu trong 5 năm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính và có quyền chuyển lợi nhuận vềnước Thứ hai, theo báo cáo của WB, khả năng của các kỹ sư Ấn Độ dễ thích nghi vớinhững biến đổi kỹ thuật liên tục trong CNTT Thứ ba, sức mạnh của nền khoa học: Làmột nước có nhiều người nói tiếng Anh, có hệ thống các trường đại học tuyệt vời với
5 học viện công nghệ quốc gia, được trang bị hiện đại cùng với mạng lưới 1.200trường đại học và cao đẳng kỹ thuật nằm rải rác khắp toàn quốc, hàng năm, Ấn Độđào tạo trên 55.000 kỹ sư, trong đó có nhiều kỹ sư thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin.Nhiều nhà khoa học về máy tính của Ấn Độ giữ vị trí lãnh đạo trong các công ty hàngđầu của thế giới Đến nay, Ấn Độ có khoảng 4 triệu cán bộ khoa học, đứng thứ hai thếgiới, sau Mỹ Nhiều kỹ sư tốt nghiệp các trường đại học lớn ở Ấn Độ đã bị lôi kéo ranước ngoài làm việc Đây là thiệt hại cho Ấn Độ, nhưng điều này đồng thời cũngchứng minh một thực tế là, các kỹ sư Ấn Độ thích nghi nhanh với những biến đổi kỹthuật trong CNTT Họ nhanh chóng chuyên môn hóa các loại dịch vụ đặc biệt như:bảo trì từ xa và sửa chữa kịp thời các mạng thông tin trên thế giới; Tham gia trực tiếpvào các mạng thông tin của các khách hàng lớn như Citibank, Dautsche Bank, BritishAirway, American Express, Reekbok, France…; Các chuyên gia Ấn Độ có khả năngsáng tạo, sản xuất phần mềm, chuyên môn hóa trong các ngành quản lý, phân phối,ngân hàng, làm dịch vụ trong nước và XK
Để đẩy mạnh việc sử dụng mạng thông tin quốc tế, kinh doanh qua mạng điện tử
và thúc đẩy sự phát triển các cơ quan kinh doanh bằng trí tuệ, năm 1999, Ấn Độ đãthành lập Bộ Công nghệ thông tin thay thế Cục Công nghệ thông tin và điện tử BộCông nghệ thông tin Ấn Độ đã đề ra kế hoạch hành động tổng thể, nhằm đưa Ấn Độthành một siêu cường quốc về CNTT Bộ trưởng Bộ Công nghệ thông tin Ấn Độ chobiết, chủ trương cải cách của Chính phủ Ấn Độ là tập trung vào việc sử dụng mạngthông tin quốc tế, sử dụng ngôn ngữ Ấn Độ, thúc đẩy các dịch vụ và đào tạo cán bộ vềCNTT, khai thác thương mại điện tử và các xí nghiệp sản xuất thông tin quốc tế
Kế hoạch hành động CNTT đã được Chính phủ Ấn Độ thông qua, gồm 3 phần:
- Phần I: Tậo trung vào xây dựng CS, nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư
Trang 26vào lĩnh vực CNTT, đặc biệt vào NCN phần mềm Cụ thể: Xây dựng cơ sở hạ tầngCNTT tiêu chuẩn với mạng lưới cáp quang vệ tinh và thông tin di động trên toàn quốc,bảo đảm sự kết nối thông suốt giữa cơ sở hạ tầng thông tin địa phương với cơ sở hạtầng quốc gia và cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu, giúp việc truy cập mạng Internetcũng như các mạng ngoại vi và mạng nội bộ với tốc độ cao, đề ra các biện pháp nhằmnâng cao nhận thức của người dân về CNTT, phổ cập giáo dục CNTT, tin học hóa bộmáy của Chính phủ, phát triển kinh tế dựa trên CNTT, ứng dụng CNTT vào các vùngnông thôn, từng bước đa dạng hóa các dịch vụ IT như: ngân hàng điện tử, bệnh việnđiện tử, giáo dục điện tử, thư viện điện tử, thương mại điện tử, các trung tâm thông tinviễn thông vào trong đời sống hàng ngày, đồng thời đào tạo đội ngũ chuyên giaCNTT đạt tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và số lượng.
- Phần II: Tập trung vào phát triển sản xuất và XK phần cứng thuộc lĩnh vựcCNTT Cụ thể: Chính phủ Ấn Độ sẽ quy hoạch các KCN phần cứng, tạo điều kiệnthuận lợi để các công ty sản xuất phần cứng hoạt động hiệu quả, các ngân hàng nhànước Ấn Độ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các công ty này được vay vốn một cách dễdàng, mọi sản phẩm CNTT và linh kiện NK phục vụ sản xuất sản phẩm phần cứng sẽđược miễn thuế tiêu thụ đặc biệt, không áp dụng thuế dịch vụ đối với các sản phẩm vàdịch vụ CNTT, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất sản phẩmCNNT để XK, cho phép các công ty sản xuất phần cứng trong nước mua lại các công
ty nước ngoài
- Phần III: Tập trung vào việc hoạch định các CS CNTT quốc gia mang tính dàihạn, bao gồm: Nghiên cứu, thiết kế và triển khai CNTT, mối quan hệ tương ứng giữacon người và CNTT, quan hệ giữa Chính phủ và người dân trong quá trình phát triểnCNTT, ứng dụng CNTT hỗ trợ cho các NCN truyền thống, cung cấp tín dụng cho lĩnhvực CNTT
Ấn Độ giai đoạn đầu phát triển NCN CNTT, những liên kết gia công cho cáccông ty nước ngoài đó góp phần không nhỏ đào tạo phong cách và kinh nghiệm làmviệc cụ thể cho các chuyên gia Ấn Độ sau khi họ đã được đào tạo tại các trường đạihọc có trình độ
1.3.1.3 Mailaisia
Malaisia NCNĐT phát triển mạnh mẽ và gặt gái được nhiều thành công nhờ vàomối liên hệ, liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất linh kiện và các nhà lắp ráp điện tửcủa Nhật Bản Các công ty nước ngoài sản xuất hàng gia dụng như như tivi, tử lạnh,điều hòa, vi tính, máy giặt, máy thông tin và các thiếp bị thông tin
CS tăng cường XK nhằm phát huy lợi thế so sánh nhờ có nguồn nhân công có chấtlượng cao và giá tương đối rẻ Chính dựa vào lợi thế này mà các NCNĐT rất phát triển.Sáng kiến Hành lang Siêu xa lộ thông tin Mặc dù Malaixia tiếp tục là một trungtâm sản xuất chính của CN ĐT trong khu vực ASEAN, nhưng nước này đang bị cảntrở bởi 2 vấn đề chính: (i) Mạng lưới các NCN phụ trợ gây ra sự phụ thuộc vào các sảnphẩm NK nguyên vật liệu và phụ kiện; (ii) Tình trạng khan hiếm lực lượng lao độnggây nên chi phí lao động cao Do vậy, như là một phần trong chương trình Siêu xa lộthông tin, Chính phủ đã công bố CS thúc đẩy lĩnh vực điện và thiết bị viễn thông-phầnmềm Điều này có nghĩa là sự chuyển dịch sản xuất thiết bị hàng điện dân dụng tiêudùng sang các linh vực khác Trong bất cứ trường hợp nào, bởi vì AFTA sẽ buộc các
Trang 27quốc gia tập trung vào những lĩnh vực mà có lợi thế cạnh tranh, nên không sớm thìmuộn, tốc độ sản xuất các hàng hóa thiết bị điện tiêu dùng thông dụng sẽ có xu hướnggiảm xuống
Chương trình Siêu xa lộ thông tin đã tạo ra một trung tâm R&D cho các NCNdựa trên CNTT Trung tâm này có diện tích khoảng 15 km2 trải dài từ trung tâm thủ
đô Kuala Lumpur ở phía Bắc tới Sân bay quốc tế Kuala Lumpur ở Sepang ở phía Nam.Trung tâm này tổng cộng có 8 dự án đặc biệt bao gồm một trung tâm y tế từ xa, mộttrường học chất lượng cao, các cơ sở nghiên cứu R&D, trung tâm đa chức năng vàchính phủ điện tử Các công ty liên quan đến bất kỳ một trong những dự án trên đượcnhững ưu đãi như được lựa chọn miễn 100% thuế đầu tư hoặc là ưu đãi cho các nhàđầu tư tiên phong trong vòng 10 năm Các công ty này cũng được phép tuyển dụng cácchuyên gia nước ngoài khi cần thiết
Ban đầu, những nghi ngờ đã tồn tại xung quanh việc xây dựng Hành lang Siêu xa
lộ thông tin như là biểu tượng của sự chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức sau hậu quảcủa khủng hoảng kinh tế Nhưng trong thực tế, Hành lang Siêu xa lộ thông tin đã được
mở rộng một cách vững chắc Xấp xỉ khoảng 800 công ty trong và ngoài nước đã thamgia vào Siêu xa lộ thông tin và vào Dự án chính phủ điện tử được xúc tiến bởi Chínhphủ Malaixia, hoặc là sử dụng chúng như là một trung tâm R&D riêng của công tymình Có rất ít sự tham gia của các công ty Nhật Bản tại Hành lang Siêu xa lộ thôngtin, tuy nhiên hoạt động của các công ty Nhật tham gia dự án, như các công ty NTT vàMatsushita cũng rất nhỏ và chỉ có một số ít các chuyên gia và các nhân viên phát triểntham gia Bên cạnh đó, công ty IBM và các công ty phương Tây khác đang bắt tay xâydựng các nhóm R&D ở đó với hàng trăm các chuyên viên nghiên cứu liên quan đã tạo
ra sự phát triển mạnh mã cho NCNĐT của Malaisia
1.3.1.4 Thái Lan
NCNĐT Thái Lan bắt đầu phát triển từ những năm 1960 Từ những năm 1980,hàng điện tử Thái Lan bắt đầu XK với số lượng lớn.Thời gian này, như nhiều nướcASEAN khác, Thái Lan là nơi sản xuất chính của các hãng điện tử Nhật
Hiện nay Thái Lan có 621 DN sản xuất hàng điện tử với 300.000 nhân công,trong đó các công ty có vốn nước ngoài chiếm đa số (521) Kim ngạch XK hàng điện
tử năm 2006 đạt hơn 30 tỉ USD Hàng điện tử chiếm 35% tổng giá trị XK của nướcnày Hiện nay Thái Lan dẫn đầu ASEAN về sản xuất máy lạnh, tủ lạnh, lò viba, máy
in, máy photocopy, thứ nhì về phần cứng máy tính và máy fax
Khung CS và thể chế pháp lí: đề cập đến khung CS luật thì Thái lan đã có nhiều luậtđiều chỉnh hoạt động đầu tư cũng như các cơ quan chính phủ tham gia việc thực thi các luậttrên Tuy nhiên mức độ phạm vi tham gia của cơ quan chính phủ và các quan chức tham giavào việc thực thi những luật này có những sai khác đáng kể Ví dụ như các công ty nướcngoài được Ủy Ban Đầu Tư thừa nhận thì trên lí thuyết được phép NK vật liệu mà khôngphải nộp thuế Tuy nhiên, trên thực tế CS này chỉ hoàn lại thuế NK cho DN tại thời điểmcác DN đưa ra chứng cứ có hàng XK Thủ tục này gây ra phiền hà cho các DN là nhiềucông ty đã chỉ ra rằng việc hoàn lại thuế nhập như vậy đôi khi bị trì hoãn một cách tuỳ tiện Ngoài ra, Chính phủ thay đổi mức thuế suất NK, các công ty bị yêu cầu phải trả khoảnchênh lệch giữa mức thuế cũ và mới trước đây và điều này xảy ra rất thường xuyên Vì thếtính bền vững của CS luôn được quan tâm Phần lớn các công ty đang hoạt động ở Thái Lan
Trang 28gồm cả những công ty hoạt động trong ngành điện và điện tử đang phải đối mặt với nhữngphiền toái này và đang kêu gọi sự điều chỉnh phù hợp Mặc dù nhiệm vụ chính của Ủy BanĐầu Tư là thu hút các công ty nước ngoài đến Thái Lan nhưng giờ đây chính là lúc mà ỦyBan Đầu Tư nên dành nhiều quan tâm hơn tới việc cung cấp các dịch vụ theo dõi hỗ trợthường xuyên cho các công ty nước ngoài mà đã có mặt tại Thái Lan
Sự kém phát triển của CN phụ trợ: Ở Thái Lan từ lâu người ta đã nhận thấy rằng cầnphải khuyến khích phát triển CN phụ trợ tuy nhiên nhu cầu cấp bách này đang trở nên rõràng hơn bao giờ hết khi đất nước này theo đuổi chiến lược đang hướng ra XK Một sốviệc chuyển giao công nghệ và đào tạo tay nghề đã được thực hiện trong các lĩnh vựcnhựa và thiết bị kim loại, những ngành đó cần sự chính xác tương đối thấp Tuy nhiên cáctrình độ về sản xuất linh kiện và nguyên vật liệu, công nghệ xử lí bề mặt như phun sơn và
mạ cho các linh kiên dùng trong các sản phẩm điện tử XK vẫn còn rất hạn chế Lĩnh vựcnày cần phải được hỗ trợ nhiều hơn nữa thông qua việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật
từ các chuyên gia Nhật Bản và các biện pháp khác Trong những năm gần đây khi cáccông ty ô tô phương Tây và Nhật Bản bắt đầu xem Thái Lan như một trung tâm sản xuất
ở khu vực ASEAN thì sự tập trung và phát triển của các nhà sản xuất linh kiện cũng đangdiễn ra mạnh mẽ Điều này cũng dẫn tới việc cần thiết phải nâng cấp các NCN phụ trợmạnh mẽ hơn nữa Nếu như đạt được mục tiêu này, Thái Lan bắt đầu có khả năng pháttriển các công nghệ phức tạp trong các ngành sản xuất CN
Đảm bảo nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực mà các công ty Nhật Bản trong ngànhđiện và điện tử cần nhất là kỹ sư thiết kế, sản xuất và hệ thống thông tin cũng như cán
bộ quản lí gồm có các kế toán Chẳng hạn như trong khi họ muốn tuyển các kỹ sư thiết
kế và kế toán có tài, thì rất ít trường đại học ở Thái Lan có khoa khoa học cơ bản, kỹ
sư hoặc kế toán Khi có nhu cầu lớn về một loại lao động nào đó thì số lượng lại rấthạn chế vì thế rất khó cho các công ty có thể đảm bảo tuyển được các cán bộ có tài Đểgiải quyết vấn đề này các công ty phải đưa ra một cơ chế khuyến khích như trả thêmlương cho những người làm việc tốt hơn, tuy nhiên do lề lối quản lí lao động cũ nênhầu như không thể làm cho liên đoàn lao động chấp thuận sự chênh lệch lớn về lương(trả cho lao động) trong một công ty Ở Thái Lan có khoảng 70 trường đại học gồmChulalongkorn, Thamasat và Viện Công Nghệ Hoàng Gia Mongkut đào tạo các sinhviên ngành khoa học cơ bản và xây dựng Mặc dù nếu chỉ tính các trường đại học quốcgia và đại học công khác thì số lượng các sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học và xâydựng ước tính hàng năm chỉ vào khoảng hơn 20000 sinh viên, trong đó có khoảng
10000 học chuyên ngành hoá hoặc khoa học và chỉ khoảng 10.000 theo lĩnh vực xâydựng như kỹ sư điện, kỹ sư cơ khí Ngược lại, ở Trung Quốc có 1225 trường đại họcvới số lượng sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành khoa học và xây dựng hàng năm làtrên 450 000 sinh viên (số liệu năm 2001) Trong khi việc tuyển dụng các kỹ sư có tàivới lương thấp tương đối dễ dàng ở Trung Quốc, thì các công ty hoạt động ở Thái Lanhầu như không biết liệu họ có thể thuê được các kỹ sư có năng lực cao hay không thậmchí nếu có tìm thấy các ứng viên đó thì các công ty cũng phải trả
1.3.1.5 Đài Loan
Đài Loan là công xưởng sản xuất hàng điện tử hàng đầu thế giới Các nhà sảnxuất Đài Loan xuất xưởng hơn 2/3 màn hình LCD, 3/4 máy tính xách tay, 4/5 PDAtrên thế giới Nhưng hầu hết các thiết bị số này được sản xuất theo hợp đồng với
Trang 29những công ty lớn của nước ngoài như HP, Apple, Dell và khi đến tay người tiêu dùngthì là những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng
Các nhà sản xuất hàng điện tử Đài Loan vẫn đang trên đà phát triển trong sự vôdanh Sự giảm giá đang gây áp lực lên lợi nhuận Chẳng hạn lợi nhuận từ việc sản xuấtmáy tính xách tay đã giảm một nửa, còn 5% trong 3 năm qua
Tất nhiên, bán đồ gia dụng ra thế giới không đảm bảo sự thành công cho mộtcông ty Các công ty có nhãn hiệu lớn và họat động trên toàn cầu cũng vẫn thua lỗ nhưchơi Nhưng một nhãn hiệu có uy tín thường thuyết phục được khách hàng trả nhiềutiền hơn đối với mỗi sản phẩm, góp phần duy trì lợi nhuận trong cuộc chiến với cácnhãn hiệu ít tiếng tăm hơn Nếu không có nhãn hiệu, các nhà sản xuất theo hợp đồngcủa Đài Loan buộc phải cạnh tranh với nhau về giá để giành được hợp đồng cung cấphàng cho Apples và HP và như vậy lợi nhuận sẽ rất thấp Theo Macquarie Securities,lợi nhuận thực của 6 công ty công nghệ lớn của Đài Loan giảm xuống còn 2,9% năm
2004 so với 7% năm 2002 Giải pháp là phải “lớn lên” thật nhanh thông qua các vụ sápnhập để có thể sản xuất trên quy mô lớn kết hợp với việc xây dựng nhãn hiệu
Tuy nhiên hầu hết các công ty Đài Loan vẫn còn lo lắng bởi vì xây dựng thương hiệucho sản phẩm của mình có nghĩa sẽ phải cạnh tranh với các đối tác đa quốc gia trên một sốthị trường là như vậy có nghĩa là tự mình biến thành kẻ thù của những khách hàng tốt nhất.Các công ty điện tử Đài Loan không đủ dũng khí để xây dựng nhãn hiệu Họ chỉ dám bánsản phẩm có nhãn hiệu của riêng mình ở một số thị trường nhỏ hoặc tung ra những chiếndịch quảng cáo quy mô nhỏ Công ty Mitac International sản xuất linh kiện máy tính giớihạn các nỗ lực xây dựng nhãn hiệu đối với thiết bị PDA có hệ thống định vị toàn cầu đượccài đặt sẵn Asustek Computer bán máy tính xách tay nhãn hiệu Asus tránh tà trợ các sựkiện thể thao lớn, chỉ tập trung quảng cáo trong các tạp chí chuyên về máy tính
Ngày nay có thể nhìn thấy logo của BenQ trên máy nghe nhạc MP3, TV LCD, mànhình máy tính, máy tính xách tay và điện thoại di động Đội ngũ thiết kế gồm 80 người domột nhà thiết kế trước đây từng làm việc cho Porsche lãnh đạo đã tạo ra những thiết bị cókiểu dáng hiện đại, đẹp mắt, thời trang nhắm vào giới trẻ Châu Á, ví dụ như máy nghe nhạcMP3 nhỏ bằng đồng tiền xu có thể đeo như đồ trang sức và máy tính xách tay Joybooks.Vào tháng 5, BenQ tung ra thị trường điện thoại hình vuông Qube có chức năng của máynghe nhạc MP3 và có chức năng chụp ảnh chất lượng cao
BenQ đã thu hút được sự chú ý Cho đến nay, các sản phẩm có nhãn hiệu đã tạo
ra 44% doanh thu (công ty vẫn sản xuất các máy chiếu, màn hình LCD, điện thoại diđộng theo hợp đồng gia công) Nhưng chiến lược táo bạo của Lee có những rủi ronghiêm trọng Theo công ty tư vấn Gartner, năm 2004 Motorola đã không mua điệnthoại của BenQ nữa vì công ty này đã bắt đầu bán điện thoại di động với nhãn hiệu củariêng mình Việc mua hoạt động sản xuất điện thoại di động của Siemens cũng rủi ro.Tồn kho với hàng đống điện thoại “xấu xí”, chi phí cao và thị phần đang giảm,Siemens thua lỗ khoảng 1 triệu USD/ngày
1.3.2 Kinh nghiệm đối với việc nâng cao sức cạnh tranh hàng điện tử của Việt Nam
Các quốc gia phải nhận thức rằng, cần có một quy hoạch tổng thể ngành hoàn chỉnh choNCNĐT Quy hoạch tổng thể là một định hướng cho các nhà hoạch định CS và đầu tư nhằmthu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào NCNĐT Để thu hút các nhà đầu tưnước ngoài, Chính phủ cần phải xác định một quy hoạch tổng thể trong đó đề ra mục tiêu và
Trang 30các CS phát triển trong dài hạn và các nỗ lực cần thiết để đạt được các mục tiêu đó, đồng thờităng cường quản lí và trình độ công nghệ của các DN để thấy rõ tiềm năng của mình.
Về việc xây dựng cơ sở hạ tầng: Có sự khác biệt lớn giữa Thái Lan và Malaisia,giữa Inđônêsia và Philippines về chất lượng của các dịch vụ cơ sở hạ tầng, đặc biệt làtrong lĩnh vực cung cấp ổn định nguồn điện và các mạng lưới giao thông Đối với cáchãng nước ngoài nguồn cung ứng điện và mạng lưới giao thông có ý nghĩa quan trọngbới vì chúng quyết địnhmôi trường đầu tư và tác động lên sản xuất và chi phí Trongcác DN có quy mô lớn có thể đầu tư vào việc cung cấp nguồn năng lượng, nhưng điềunày đòi hỏi phải có chi phí về bảo dưỡng, các phương pháp chống ô nhiễm Các DNvừa và nhỏ đã tìm ra các hình thức đầu tư với chi phí quá cao và buộc phải phụ thuộcvào nguồn điện công cộng Việc thiếu hụt năng lượng ảnh hưởng lớn đến hoạt độngsản xuất kinh doanh của các DN, đặc biệt đối với các DN sản xuất đòi hỏi độ chínhxác cao trong NCN thông tin Để phát triển dường sá, cần phải có sự cải thiện hệ thốngđối với các đường xe tải quốc tế và nội địa như đường Hà Nội - Hồ Chí Minh, Hồ ChíMinh - Băng Kốc và Hà Nội và Hà Nội - Nam Trung Quốc
Phát triển nguồn nhân lực: Ngoại trừ Malaisia, Nhật Bản, các nước đưa ra nghiên cứuđều có dân số tương đối đông nên việc tuyển lựa lao động không mấy khó khăn Tuy nhiên,
do các hạn chế trong giáo dục, việc hiểu và đạt được tiêu chuẩn đào tạo 5S của các DNNhật là cực kì khó khăn Ngoài ra, số lượng các trường đại học, cao đẳng, dậy nghề đào tạođội ngũ kĩ sư và các chuyên gia còn ít, do đó các Dn gặp không ít khó khăn trong việc tuyểnlựa các chuyên gia và các kĩ sư trong việc điện tử Sự cải tiến hệ thống giáo dục đòi hỏi mộtchiến lược cơ bản của Chính phủ về mặt dài hạn Nếu nguồn ODA được sử dụng cho mụcđích này thì các nước đang phát triển nhu Việt Nam cần khẳng định rằng sự phát triển của
hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và dạy nghề là các khu vực ưu tiên để nhận viện trợnước ngoài Việt Nam cần học tập khinh nghiệm tử các chương trình: chương trình học tậptại nước ngoài ở Malaisia dưới CS “Hướng Đông”, các trung tâm đào tạo dưới sự quản lícủa các khu công nghiệp hoặc các Dn tư nhân với sự hỗ trợ chính thức như của tập đoàngiáo dục Gobel Matsushita, mời để thành lập chi nhánh đại diện ở Việt Nam của các hãngtruyền thông tử Malaisia
Tăng cường NCN phụ trợ: Các DN Nhật Bản hoạy động ở các quốc gia trên thực
sự muốn tăng giao dịch với các công ty trong nước để giảm chi phí sản xuất và cạnhtranh với Trung Quốc Thị trường ASEAn là thị trường lớn cho các NCN phụ trợ khi
sự hoạt động của AFTA giữa Trung Quốc và ASEAN, thì chúng sẽ nhanh chóng bịthôn tính bới các đối thủ Trung Quốc Để tăng tính cạnh tranh của các DN trong sảnxuất linh kiện phụ tùng thì Thái Lan và Malaisia đang cố gắng phát triển DN trongnước Tuy nhiên, các giải pháp này đã không đem lại được kết quả rõ ràng phần lớn dothái độ thiếu đúng dắn của các DNNN Nhiệm vụ tăng cường NCN phụ trợ không chỉđược tiến hành ở Việt Nam, nếu ODA được sử dụng thì các nước nhận ODA như ViệtNam có thể làm việc hiệu quả để nhận được sự hợp tác công nghệ diễn ra liên tục như
đã đề cập ở trên với trường hợp giáo dục Chính phủ Việt Nam cần phải coi trọng tầmquan trọng của một cơ chế làm việc trong mối quan hệ với các nước tài trợ
Đến nay kinh nghiệm của Pháp, Ấn Độ đã cho thấy ró không nước nào có thểphát triển một nền CNTT độc lập, mà chỉ có thẻ hội nhập vào sự phát triển chung Hộinhập mang ý nghĩa trao đổi, và để có tư thế độc lập tương đối trong trao đổi thì mỗi
Trang 31bên đối tác phải có mặt mạnh nào đó Chỉ có việc hội nhập vào nền CNĐT toàn cầutrong tư thế đó mới có thể bảo đảm một nền CNĐT đảm bảo tính cạnh tranh trên thịtrương khu vực và trên thế giới.
Du nhập công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Xu thế NK công nghệ thông qua FDI ngày càng giữ vai trò chủ đạo Lý do đơngiản là vì đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức chuyển giao công nghệ chuyên sâunhất, theo hình thức trọn gói bao gồm cả công nghệ sản xuất, và bí quyết quản lý Vềthực chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa là hình thức thể hiện của quá trình quốc tếhoá sản xuất ngày càng sâu rộng Các công ty xuyên quốc gia trong khi thết lập các chinhánh sản xuất ở nước ngoài cũng đồng thời thực hiện việc chuyển giao công nghệ, bíquyết sản xuất, kỹ năng quản lý cho nước nhận đầu tư Do nền kinh tế thế giới đangđược quốc tế hoá, các tiêu chuẩn về sản phẩm cũng được xác lập thống nhất cho nhiềuhãng Do vậy, việc nghiên cứu tạo lập một công nghệ riêng cho một nước là không cầnthiết và có thể cản trở quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Các nghiên cứu gần đâu cho thấy rằng, các nước đang CNH đã sử dụng FDI nhưmột kênh chuyển giao công nghệ chủ yếu Chẳng hạn ở Thái Lan vào năm 1982 có tới80% các hợp đồng chuyển giao công nghệ là do các chi nhánh hoặc các DN thành viênđịa phương của các hãng nước ngoài thực hiện Sự phát triển mạnh mẽ của cácNCNĐT ở Malaixia và đóng góp của nó vào XK hàng chế tạo của nước này cũng chothấy vai trò của FDI đối với chuyển giao công nghệ Việc các nhà đầu tư nước ngoài,đặc biệt là Nhật Bản, thực hiện việc chuyển giao công nghệ không đầy đủ trong quátrình thực hiện các dự án đầu tư Song đó chưa hẳn là lý do xác đáng để phủ nhận vaitrò quan trọng của kênh chuyển giao công nghệ này Việc tạo lập nền tảng công nghệtrong nước bao gồm cả NCN bổ trợ và một đội ngũ lao động được đào tạo tốt bao giờcũng là một điều kiện cần thiết cho chuyển giao công nghệ thành công
Ở Đài Loan, Xingapo, Thái Lan, Malaixia đều thực hiện các CS nhằm tạo môi trườngtrong nước thuận lợi cho việc tiếp nhận công nghệ Đó là các CS đầu tư chi nghiên cứu, triểnkhai, đào tạo đội ngũ cán bộ lành nghề, tạo lập môi trường cạnh tranh, phát triển các NCN bổtrợ Lựa chọn công nghệ phù hợp với năng lực của nền kinh tế Để lựa chọn được công nghệphù hợp, ngoài việc hoàn thiện luật pháp về đầu tư vàphát triển công nghệ, người ta còn phải
có một đội ngũ cán bộ có khả năng đánh giá các phương án công nghệ
Theo kinh nghiệm các nước, để phát triển CN CNTT, trước hết cần xác định thịtrường đầu ra khởi đầu cho sản phẩm như Mỹ là thị trường cung cấp cho lĩnh vực quân
sự, Nhật là thị trường điện tử gia dụng, Hàn Quốc là việc tập tích hợp thiết bị trước khitạo được nhu cầu thị trường cho sản xuất vi mạch, Trung Quốc sản xuất lắp ráp điện tửvới lợi thế thị trường lớn trong nước Một số nước tìm cách khắc phục hạn chế về địa
lý kinh tế tạo ra thế mạnh theo hướng chú trọng xâm nhập từng phân đoạn của thịtrường như Đài Loan Khi các mũi nhọn đột phá này phát triển sẽ lần lượt mở ra thịtrường cho CN phần mềm, phần cứng, dịch vụ tích hợp hệ thống, CN nội dung và cácứng dụng khác Sự hình thành được các công ty đa quốc gia sẽ có ý nghĩa tạo thànhtổng lực cộng hưởng đẩy mạnh quá trình phát triển này
Chương 2: Tình hình cạnh tranh ngành công nghiệp điện tử Việt Nam từ 1990
đến nay
Trang 32tử – tin học có vốn đầu tư nước ngoài cũng XK mạnh, đạt doanh số 1,75 tỷ USD và giúpngành điện tử Việt Nam đứng thứ 6 trong Top Ten ngành hàng XK của cả nước
Về CNĐT, cả nước đã có khoảng 300 công ty hoạt động trong lĩnh vực này trong
đó có 67 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng khoảng 50.000 lao động NCNđiện tử dân dụng đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu nội địa và có doanh số XK
Hình 2.1: Tổng giá trị sản xuất hàng điện tử
Từ những năm 1990, ngành điện tử trong nước bắt đầu có những bước tiến vượtbậc Theo đánh giá của VEIA, ngành điện tử Việt Nam có tốc độ tăng trưởng từ 20% -30%/năm Đến nay, sản phẩm điện tử Việt Nam đã XK vào được 35 nước Trong vòng
10 năm qua, kim ngạch XK tăng dần:
Tốc độ tăng trưởng trung bình của toàn NCNĐT Việt Nam giai đoạn 2001-2004
là 19,9%/năm, cao hơn hai lần so với tốc độ tăng trưởng của NCNĐT thế giới Điều đórất đáng mừng vì chứng tỏ NCNĐT Việt Nam đang đi lên nhanh Tuy nhiên, theo chỉtiêu sản lượng tuyệt đối thì giá trị sản lượng của NCNĐT Việt Nam so với các nướctrong khu vực còn thấp (chỉ bằng 1/51 của Trung Quốc, 1/35 của Singapo)
Trang 33nh 2.2 Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp điện tử
Theo báo cáo của VEIA, việc XK ngành hàng điện tử–CNTT (bao gồm hàngđiện tử, linh kiện máy tính) của Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ năm 1996, với giá trị 90triệu USD Năm 2000 được coi là năm đỉnh cao của XK ngành hàng này với kimngạch đạt triệu USD, các sản phẩm điện tử–CNTT được xuất đi 35 nước Sau năm, dokhủng hoảng kinh tế thế giới, kim ngạch XK hàng điện tử–CNTT tin bị giảm sútnghiêm trọng Tuy nhiên, đến năm 2003, do tình hình kinh tế thế giới đã bắt đầu ổnđịnh, giá trị XK lại tăng lên 672 triệu USD, năm 2004 đã đạt, năm 2004 đã nâng kimngạch XK hàng điện tử–công nghệ thông tin đứng thứ sáu trong số các ngành hàng
XK ở Việt Nam Tiếp tục trong 2 năm 2005 và 2006, kim ngạch XK của NCNĐT tăngmạnh năm 2006 đạt 1700 triệu USD
Đón trước thời cơ, giai đoạn 2001-2010, chiến lược phát triển của ngành là “Hộinhập và phát triển” nhằm phát huy tối đa nội lực, tạo môi trường cạnh tranh sâu hơn,rộng hơn trong nước để tiếp tục đổi mới công nghệ, mở rộng năng lực mạng lưới, đadạng hóa các loại hình dịch vụ, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, hạ giá thành
và chủ động HNKTQT Một mốc đáng nhớ là ngày 29/4/2003, thị trường viễn thôngViệt nam đã xóa bỏ độc quyền DN và chuyển sang cạnh tranh trên tất cả các loại hìnhdịch vụ, tạo lập một thị trường viễn thông sôi động, tăng trưởng vượt bậc (tốc độ tăngtrưởng đều đạt trên 20% năm), giá cước giảm mạnh (tới cuối năm 2005, theo đánh giácủa WB, giá cước viễn thông Việt Nam đã giảm tương đồng với giá cước viễn thôngtrong khu vực) Đến nay, mật độ điện thoại trên toàn quốc đạt trên 25%, người sử dụngInternet đạt trên 15% (vượt chỉ tiêu đặt ra vào năm 2010)
Viễn thông và Internet có tốc độ tăng trưởng cao, 5 năm qua liên tục đứng trongnhóm nước dẫn dầu thế giới Đến cuối năm 2005, 100% số xã trong cả nước đã có điệnthoại, đã khẳng định Việt Nam là một trong số rất ít các nước đang phát triển thực hiệntốt việc phổ cập dịch vụ viễn thông, thu hẹp khoảng cách số giữa nông thôn và thành
Trang 34thị Hiện đã có 100% các trường đại học và cao đẳng, hầu hết các trường trung họcphổ thông và một số các trường trung học cơ sở đã có kết nối Internet Internet đãxuống trên 1/3 các điểm Bưu điện - Văn hoá xã.
Dự báo, vào năm 2010, tổng doanh thu từ dịch vụ viễn thông và Internet Việtnam sẽ đạt khoảng 55.000 tỷ đồng vào năm 2010, mật độ điện thoại sẽ đạt khoảng 40-
42 máy/100 dân, mật độ thuê bao Internet: 8-12 thuê bao/100 dân (trong đó 30% làthuê bao băng rộng), phấn đấu đạt 45% số dân được sử dụng Internet, 100% số xã cóđiểm truy nhập điện thoại công cộng, 70% số xã có có điểm truy nhập Internet côngcộng, 100% số huyện và nhiều xã trong cả nước được cung cấp dịch vụ băng rộng Tất
cả các Bộ, ngành, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và huyện sẽđược kết nối Internet băng rộng 100% viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp và trung học phổ thông sẽ có truy nhập Internet tốc độ cao,trên 90% các trường trung học cơ sở, bệnh viện được kết nối Internet
Trong giai đoạn này, chiến lược phát triển của ngành đã được mở rộng phạm visang lĩnh vực CNTT với vai trò vừa là một ngành kinh tế quan trọng vừa là động lựcphát triển kinh tế xã hội
CNTT của Việt Nam đang ngày càng có những phát triển rộng rãi, được ứngdụng nhiều trong những lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thống kê, nghiên cứu, giáodục, đào tạo, bưu chính, viễn thông, dầu khí, xây dựng, hàng không Khoảng 50%
DN đã ứng dụng CNTT vào quản lý sản xuất kinh doanh và dịch vụ, trên 30% DN
có kết nối Internet, 10% lập trang tin điện tử phục vụ kinh doanh, tiếp thị trongnước và quốc tế
Ứng dụng CNTT ngày càng được triển khai sâu, rộng, thông tin điện tửngày càng phát triển và có tác dụng lớn trong xã hội Hơn 50% các Bộ, ngành vàhơn 80% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có trang Web Các tờ báođiện tử và trang tin điện tử các loại cùng với dịch vụ truyền hình qua Internet đãgóp phần đáng kể vào công tác thông tin, tuyên truyền đặc biệt phục vụ chothông tin đối ngoại
CNTT Việt Nam (bao gồm CN phần cứng máy tính, CN sản xuất thiết bị viễnthông, CNĐT, CN phần mềm và CN nội dung) phát triển với tốc độ trung bình 25%năm Tổng giá trị sản xuất CNTT Việt Nam năm 2005 vào khoảng 2,5 tỷ USD
Theo dự báo của Bộ Bưu chính Viễn thông, CNTT của Việt Nam sẽ phát triểnthành một NCN mũi nhọn với tổng doanh thu đạt khoảng 6-7 tỷ USD vào năm 2010,
có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nội địa, bước đầu có XK ra thị trường quốc tế.Trong lĩnh vực gia công phần mềm, Việt nam sẽ khẳng định được vị trí trong nhóm 10nước hàng đầu trên thị trường thế giới CN phần mềm tăng trưởng 35%/năm, đạt tổnggiá trị khoảng 1 tỷ USD vào năm 2010, trong đó XK chiếm 40% CN phần cứng máytính sẽ tăng trưởng 20%/năm, tổng giá trị đạt 2-3 tỷ USD vào năm 2010 Cơ cấu sảnphẩm của CNĐT sẽ được chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm chuyên dụnglên 50% tổng sản lượng CNĐT
CN phụ trợ và sản xuất linh kiện sẽ được phát triển theo hướng từng bước tiếpnhận, làm chủ công nghệ và tiến tới tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao mangthương hiệu Việt Nam
Trang 35NCNĐT Việt Nam vừa thuận lợi, vừa khó khăn khi nằm giữa trung tâm CNĐTthế giới- nằm trong “vòng cung Đông Á” là vòng cung CNĐT, chiếm 2/3 sản lượngCNĐT toàn cầu.
2.2 Đánh giá về khả năng cạnh tranh của hàng CNĐT Việt Nam
Chất lượng sản phẩm điện tử của Việt Nam được quản lý theo nhiều hệ thống quản
lý chất lượng tiên tiến, đặc biệt là hệ thống ISO 9000 Theo kết quả điều tra của nhóm
đề tài, trên 40 DN sản xuất và lắp ráp điện tử tại địa bàn Hà Nội và các vùng phụ cận,90% số DN điện tử đánh giá sản phẩm của mình có chất lượng ngang bằng, 10% đánhgiá thấp hơn so với sản phẩm NK từ nước ngoài, 60% số DN điện tử được đánh giá làchiếm ưu thế ở thị trường trong nước, 40% được đánh giá có vị trí chưa vững chắc.Trong năm vừa qua, sản phẩm điện tử là một trong những mặt hàng có kim ngạch
XK đạt trên 1 tỷ usd, điều này chứng tỏ, sản phẩm điện tử Việt Nam đã đáp ứng đượcphần nào yêu cầu về chất lượng của thị trường quốc tế Chất lượng một số sản phẩmđiện tử thương hiệu Việt Nam như tivi, máy vi tính đã đạt mức ngang bằng khu vực vàmột số sản phẩm điện tử do các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đãđạt yêu cầu sản phẩm chất lượng cao
Nguyên nhân quan trọng là các DN không chịu đầu tư cho sản xuất linh kiện, đổimới công nghệ để chủ động trong sản xuất Chính vì vậy mà chất lượng, mẫu mã sảnphẩm không thể đổi mới nhanh, hàng sản xuất ra bán chậm, sản lượng thấp không cóđiều kiện để giảm giá thành và lợi nhuận thấp, dẫn đến năng lực tài chính hạn hẹp Toàn Tổng Công ty Điện tử và Tin học Việt Nam năm 2003 chỉ đầu tư trên 18 tỷ đồng,trong đó riêng xây dựng nhà xưởng văn phòng đã hết trên 14 tỷ Từ nhiều năm nayTổng công ty có mức đầu tư rất thấp: tổng vốn đầu tư 1996 - 2000 là 67,386 tỷ đồng(bằng 5,7% doanh thu) Đầu tư 3 năm 2001- 2003 là 49,889 tỷ đồng (bằng 1,21%doanh thu) Nhiều DN gần như không có đầu tư mới trong suốt thời gian qua
Trong khi đó, năm 2003 Tổng Công ty Bưu chính - Viễn thông đạt doanh thu24.000 tỷ đồng, nhưng đã đầu tư 7.500 tỷ đồng (tương đương với 30% doanh thu) để
có mức tăng trưởng 20% Lấy ví dụ này để so sánh mới biết nếu không đầu tư mạnhthì sẽ chẳng có sự tăng trưởng mạnh
Như vậy, có thể nói CNĐT Việt Nam trong những năm vừa qua đã không ngừngnâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế Các sảnphẩm điện tử sản xuất tại Việt Nam đều đạt tiêu chuẩn quy định của nhà nước, đượccấp chứng chỉ ISO 9001, ISO 9002 và các sản phẩm đều có nhãn mác, được đăng kívới cơ quan quản lí nhà nước bảo hộ quyền sở hữu CN Chất lượng một số sản phẩmđiện tử thương hiệu Việt Nam như tivi, máy vi tính đã đạt mức ngang bằng khu vực vàmột số sản phẩm điện tử do các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đãđạt yêu cầu sản phẩm chất lượng cao Nhiều DN điện tử đã tập trung mở rộng thịtrường, cả trong nước và XK Những nhân tố trên đã phần nào nói lên khả năng cạnhtranh của sản phẩm điện tử Việt Nam Do vậy, các sản phẩm trong lĩnh vực dân dụng,
Trang 36chuyên dụng, thông tin do vậy đã đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.tuynhiên, chất lượng sản phẩm không đều và còn thua kém nhiều sản phẩm cùng loại lắpráp ở nước ngoài.
Tuy nhiên, ngoài vấn đề tiêu chuẩn hóa chất lượng ISO 9000, hầu hết các DNđiện tử Việt Nam chưa chú trọng đến hệ thống tiêu chuẩn xã hội SA 8000 Hoạt độngTiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực kỹ thuật điện tử vốn là nội dung quan trọng đối với các
DN và các cơ quan có liên quan, nhằm nâng cao năng lực hội nhập và cạnh tranh ởkhu vực và quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Năm 2002 Việt Nam (đạidiện là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng) chính thức là thành viên liên kếtcủa Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế (IEC), đã tạo ra cơ hội mới cho các DN và tổ chứctiếp cận được các thông tin và kinh nghiệm tiên tiến nhất về hoạt động tiêu chuẩn hóachuyên ngành kỹ thuật điện tử
2.2.1.1 Đánh giá về nguyên liệu đầu vào của sản phẩm điện tử Việt Nam
Với CNĐT thế giới, không có một quốc gia nào sản xuất trọn vẹn 1 sản phẩm màđược chia làm nhiều công đoạn khác nhau Đây là một trong những đặc trưng của toàn cầuhóa và phân công lao động thực tế Ví dụ, Nhật Bản thiết kế sản xuất vi mạch, Đài Loan sảnxuất tấm lớn, lắp ráp ở Việt Nam và phân phối đi khắp khu vực CNĐT Việt Nam có nhưngđang ở dạng thấp trong chuỗi phân công lao động quốc tế Do đó, không có gì đáng ngạcnhiên khi CNĐT Việt Nam NK nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng điện tử
Linh kiện bán dẫn (chủ yếu là IC) là nền tảng của CNĐT mà nếu thiếu thì không
có khả năng đổi mới trong CNĐT nói chung và CNTT nói riêng Việc cung cấp cáclinh kiện bán dẫn và IC nằm trong tay một số công ty độc quyền hàng đầu trên thế giớinhư Intel, Toshiba, Nec Lâu nay, Việt Nam quan tâm tới lĩnh vực công nghệ điện tử,con chip IC là một thứ khá quen thuộc, vì nó xuất hiện trong mọi sản phẩm điện tử,nhưng lại cũng rất lạ lẫm, vì hầu như không ai biết bên trong nó như thế nào Nhưnggiờ đây, Việt đã có thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết kế nên những chip ICđược sử dụng trong các thiết bị công nghệ cao cấp Dù chưa thể tự hoàn thiện từ đầuđến cuối, duy nhất một công ty tại Việt Nam, các chuyên gia của công ty Active-Semi
VN đã tham gia đáng kể vào quá trình thiết kế cấu trúc chip IC analog quản lý nguồnđiện dùng trong các thiết bị điện tử như ĐTDĐ, laptop Đó là các chip IC đóng vaitrò quan trọng trong việc kéo dài tuổi thọ và thời gian sử dụng nguồn điện pin
Trong các thiết bị tương thích với thế giới thực như điện thoại, máy quay video,laptop các tín hiệu vào ra có tính tương đồng với nhau (tiếng nói, hình ảnh, sinhhọc ) Vì vậy, để xử lý các tín hiệu này cần phải có các IC analog (còn gọi là IC tươngtự) để giao tiếp và chuyển đổi thành tín hiệu số cho các chip IC số (digital IC) xử lý.Bản thiết kế chip IC analog "made-in-VN" nói trên, sau khi triển khai tại ViệtNam, được các chuyên gia tại tổng hành dinh Tập đoàn Active-Semi tại Silicon Valley(Mỹ) hoàn thiện và chuyển qua nhà máy sản xuất chip ở Thượng Hải, Trung Quốc để
ra sản xuất thành phẩm Đây sẽ là các IC analog tích hợp mọi hoạt động quản lý nguồnđiện bên trong điện thoại di động: từ màn hình, đèn bàn phím, nguồn sạc pin đến đènLED/OLED, quản lý điện áp, hiệu suất pin, chống suy hao điện năng Sản phẩm chip
IC tích hợp này sẽ được cung cấp cho các hãng sản xuất điện thoại di động lớn trên thếgiới Tuy công nghệ sản xuất IC còn rất mới mẻ ở Việt Nam, và với cơ sở vật chất hiện
Trang 37nay, rất khó để xây dựng một ngành chế tạo và sản xuất IC Tuy nhiên, đây là ngànhcông nghệ cơ bản để phát triển NCNĐT và bán dẫn.
Xu thế của thị trường thế giới hiện nay là tiến tới các sản phẩm điện tử công nghệcao có kích thước gọn nhẹ nhưng nhiều chức năng Vì vậy thị trường về chip IC tíchhợp sẽ tiếp tục tăng trưởng rất mạnh trong thời gian tới Việc tiếp cận với các công nghệthiết kế chip IC, và không lâu nữa là lắp ráp, thử nghiệm với nhà máy ATM của Intel tạiTP.HCM, sẽ là những tiền đề quan trọng để tạo dựng NCN bán dẫn của Việt Nam.Việt Nam cũng đã sản xuất được một số linh kiện điện tử đơn giản như tụ điện,các loại cao áp, Tuy nhiên thì phần lớn sản phẩm nguyên liệu đầu vào của NCNĐTcủa Việt Nam đều là ngoại nhập Do đang ở giai đoạn phát triển ban đầu nên thị trườnghàng điện tử Việt Nam mang đầy đủ những đặc điểm thụ động của một nền sản xuấtnhận chuyển giao công nghệ, một thị trường tiêu thụ tiềm năng nhưng chưa thực sựphát triển cũng như những bất cập về CS kinh tế vĩ mô trong quá trình phát triển.Nguồn cung ứng của hầu hết các mặt hàng điện tử đều phụ thuộc vào thị trường nướcngoài Phần lớn nguyên liệu phục vụ cho lắp ráp trong nước là từ NK Giá trị gia tăngcủa các sản phẩm điện tử Việt Nam chỉ khoảng 5-10% Công nghệ sản xuất còn ở trình
độ đơn giản, loại hình lắp ráp chiếm ưu thế Phần lớn hoạt động chế tác được thực hiệntrên cơ sở hợp đồng mua bản quyền của đối tác nước ngoài
CN trong nước chưa chế tạo được linh kiện và thiết bị, tỷ lệ nội địa hoá bìnhquân chỉ đạt 20-30% Tuy nhiên, trong NK, đáng mừng là tỷ lệ NK khoa học, côngnghệ, máy móc thiết bị, phụ tùng, dụng cụ… đang gia tăng Số liệu thống kê cho thấykim ngạch NK các loại máy móc thiết bị và công nghệ đạt 5,315 tỷ USD, so với cùng
kỳ là 4,323 tỷ USD, chứng tỏ năng lực sản xuất mới của nền kinh tế đang gia tăngmạnh mẽ và sẽ phát huy trong thời gian tới
Trên thực tế, các linh kiện, phụ tùng, cụm linh kiện NK từ ASEAN chỉ chiếmkhoảng 20%-30%, còn lại là nhập từ bên ngoài ASEAN (Trung Quốc, Hàn Quốc, NhậtBản, Úc, Đài Loan và một số nước châu Âu) Như vậy, để duy trì sản xuất, các DNViệt Nam sẽ phải NK nhiều loại linh kiện ngoài ASEAN và chịu thuế NK cao, bìnhquân khoảng 15-20% trong khi sản phẩm nguyên chiếc từ ASEAN chỉ có thuế suấtbằng hoặc thấp hơn 5%
Tiếp theo là dịch vụ sau bán hàng Thực tế thời gian qua các DN điện tử ViệtNam đã làm rất tốt công việc này Những công ty như điện tử Tân Bình, Biên Hòa đãxây dựng được một hệ thống trung tâm bảo hành rộng khắp mọi tỉnh trên toàn quốc.Công ty Điện tử Biên Hòa còn mở dịch vụ bảo hành tại nhà nhưng chuyện khuyếnmãi và quảng cáo thì rất yếu ớt Khi mua hàng của Sam Sung, LG còn có các quyềnlợi khác như bốc thăm trúng thưởng, mua nhiều được tặng quà, thậm chí là đổi hàng
cũ lấy hàng mới (Sam Sung đã từng làm) Trong khi đó, người tiêu dùng lại ít khi đượcthụ hưởng những chính sách khuyến mãi tương tự khi mua các sản phẩm điện tử của
DN trong nước Những công ty như Sam Sung, LG dám bảo hành cả màn hình ti vi(người mua nếu thấy có trục trặc mang đến sẽ được thay màn hình mới) chứ các doanhnghiệp Việt Nam không làm được như vậy Ngay chuyện tài trợ cho Seagames 22 vừaqua cũng thế, nếu LG bỏ ra tổng chi phí từ 5-7 triệu USD, thì Công ty Điện tử TânBình mới chỉ chi gần 1 triệu USD Tức là năng lực tài chính yếu hơn rõ rệt
Trang 38Năng lực tài chính mạnh còn giúp các công ty này mạnh tay trong việc chi hoahồng và bán trả chậm cho các đại lý Nếu các DN này có thể cho đại lý mua chịu vài tỷtiền hàng trong thời gian dài thì các DN điện tử Việt Nam chỉ có thể cho chịu tới vàitrăm triệu Bên cạnh đó đại lý cũng được hưởng hoa hồng cao hơn khi bán những sảnphẩm Sam Sung hay LG, bán nhiều còn được thưởng, nên đã có sức hấp dẫn rất lớn.Một đại lý bán hàng điện tử tại phố Hai Bà Trưng - Hà Nội cho biết một tháng họ bántới 100 chiếc ti vi Sam Sung, nhưng chỉ bán chưa nổi 10 chiếc tivi của các DN trongnước Thực tế khách hàng luôn nhận được lời khuyên từ chủ cửa hàng nên lựa chọnnhững sản phẩm Sam Sung hay LG vì giá thì tương đương với hàng Việt Nam,thương hiệu nổi tiếng hơn và chất lượng cũng tốt hơn.
2.2.1.2 Đánh giá về kiểu dáng mẫu mã và trình độ công nghệ
Hầu hết chu kì sống của các sản phẩm điện tử là rất ngắn
Các sản phẩm điện tử dân dụng: các DN điện tử trong nước do yếu về vốn cũngnhư công nghệ nên sự đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng cho các sản phẩm điện tử chưanhiều Một số DN lớn cũng có những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam nhưHanel, Belco cũng trở nên quên với người tiêu dùng trong nước
Nhóm sản phẩm điện tử CN và chuyên dụng: các sản phẩm này được NK ở dạngnguyên chiếc và do được sử dụng trong lĩnh vực chuyên dụng nên hình dáng, mẫu mã
ít thay đổi Còn các thiết bị được thiết kế tại Việt Nam thì cũng sử dụng hầu hết cáclinh kiện ngoại nhập, do đó mầu mã vẫn theo Form có sẵn Với giá cả phải chăng, chấtlượng có thể chấp nhận, mẫu mã hiện đại và luôn thay đổi, các sản phẩm điện tử, điệngia dụng liên doanh đều bán khá chạy Tuy nhiên, phần lớn hàng Việt Nam lại đơnđiệu về mẫu mã, chậm thay đổi kiểu dáng
Nhóm thiết bị thông tin, viễn thông: liên tục có sự thay đổi trong mẫu mã, sản phẩmmới đặc biệt là điện thoại di động của các hãng lớn như Nokia, Samsung, Simen, Ericson
Về chất lượng, mẫu mã sản phẩm các DN điện tử Việt Nam hoàn toàn không cólợi thế so với những DN có vốn đầu tư nước ngoài như Sam Sung, LG, TCL (TrungQuốc) vì phần lớn các linh kiện điện tử đều phải NK Hiện nay tỷ lệ nội địa hóa đốivới sản phẩm điện tử của các DN Việt Nam mới đạt khoảng 35% (tính cả bao bì) nênsản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài Việc phải NK phần lớn linh kiện tuygiúp ta có quyền lựa chọn, nhưng lại không chủ động được trong sản xuất cũng nhưđổi mới công nghệ Và như vậy không thể có được các sản phẩm mới trong khi vòngđời của sản phẩm điện tử rất ngắn, sự đổi mới mẫu mã diễn ra nhanh đến chóng mặt.Điều này đã làm cho sản phẩm điện tử Việt Nam luôn đi sau thời đại, vừa lạc hậu, lạivừa yếu thế
Về trình độ công nghệ, chúng ta có thể chia ra hai lĩnh vực là công nghệ lắp ráp
và công nghệ sản xuất linh liện điện tử NCNĐT Việt Nam chủ yếu hiện nay là lắp ráp,trong đó đang chuyển dần từ lắp ráp thủ công sang sử dụng các dây chuyền lắp ráphiện đại, tự động hoá Công nghệ sản xuất linh kiện điện tử rất yếu kém, hầu như chưa
có gì đáng kể Về công nghệ, tuy một số doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền láp ráphiện đại, tự động hoá cao nhưng còn nhiều doanh nghiệp vẫn đang vận hành dâychuyền bán tự động và sử dụng nhiều lao động thủ công Điều này ảnh hưởng lớn đếntính đồng bộ và chất lượng của sản phẩm
2.2.1.3 Đánh giá về chi phí sản xuất và giá cả sản phẩm
Trang 39Về chi phí sản xuất: CNĐT Việt Nam chủ yếu là lắp ráp, NK linh kiện nhiều nên
tỷ trọng Nk trong giá trị sản xuất lớn, CS thuế áp dụng cho CNĐT không phù hợp vớithị trường, mức thuế áp cao đã đẩy chi phí sản xuất nguyên liệu chiếm tỷ trọng caotrong giá thành, chi phí lao động được coi là lợi thế của Việt Nam chỉ chiếm phần nhỏ.Cuộc khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam còn cho thấy NCN phụtrợ sản xuất phụ tùng linh kiện cũng phát triển chậm, không đáp ứng được nhu cầu lắpráp trong nước Với công việc lắp ráp đơn giản, hàm lượng lao động Việt Nam trongcác sản phẩm điện tử bình quân chỉ khoảng 5-10% giá trị sản phẩm Đồng nghĩa vớiđiều này là tiền thu được từ việc bán những sản phẩm này cũng ít
Ngoài ra còn có các chi phí khác như điện, nước, chi phí vận chuyển, viễn thôngcũng ảnh hưởng lớn chi phí sản xuất của sản phẩm điện tử Do NK là chính, nên chiphí sản xuất của CNĐT Việt Nam đều phụ thuộc vào thị trường thế giới, không chủđộng sản xuất được
Điều kiện chi phí sản xuất trong nước còn cao do giá thành nhiều loại vật tư,nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ đầu vào tăng, khiến cho các DN điện tử Việt Nam dùcắt giảm chi phí đến đâu cũng không thể hạ giá ngang bằng các sản phẩm ngoại nhậpcùng loại Hậu quả là việc sản xuất bị ngưng trệ, chấm dứt các hoạt động liên doanh đểchuyển thành các nhà phân phối thuần tuý các sản phẩm của nước ngoài tại thị trườngViệt Nam
Giá sản phẩm: cũng như biến động trên thị trường thế giới, giá các mặt hàngddienj tử Việt Nam đang có xu hướng ngày càng giảm Sau khi loại sản phẩm mới rađời, các sản phẩm thế hệ cũ giảm giá nhanh sau lần bán đầu tiên
Giá cả các sản phẩm điện tử có xu hướng giảm nhưng vẫn còn khá cao do phầnlớn linh kiện còn phải nhập khẩu (chiếm khoảng 78% giá thành) và phần lớn các doanhnghiệp điện tử chưa xây dựng được chiến lược giá phù hợp Sản xuất của các doanhnghiệp điện tử chủ yếu dừng ở mức độ lắp ráp, còn thiết kế gốc hầu như chưa có
Thị trường Việt Nam có 3 đối tượng các nhà sản xuất chiếm lĩnh:
Loại cao cấp thuộc về các hãng điện tử Nhật Bản (Sony, JVC, Toshiba)
Loại phổ thông thuộc về các hàng điện tử Hàn Quốc (Samsung, Tcl, LG)
Loại bình dân giá rẻ là thuộc về các DN Việt Nam như công ty điện tử Biên Hòa,Tân Bình, Hà Nội
Trước đây, các sản phẩm điện tử như TV, VCD của các DN Việt Nam tiêu thụmạnh nhờ giá rẻ Nhưng trong những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2006 và đầunăm 2007, các DN điện tử nước ngoài lớn đều đồng loạt giảm giá mạnh mẽ, gây khókhăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm của DN CNĐT Việt Nam
Các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng của các DN nước ngoài rất tốt, các trung tâmbảo hành có ở hầu hết 61 tỉnh thành trong cả nước, với nhiều chương trình khuyến màilớn, diễn ra liên tục và kéo dài trong khi đó các DN CNĐT trong nước thì không thể.DNĐT Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về giá cả và chất lượngvới các DN có vốn đầu tư nước ngoài ngay trên sân nhà, hay, nói cách khác, cạnhtranh giữa các DN trong nội bộ ngành diễn ra quyết liệt
2.2.1.4 Đánh giá về thương hiệu
Trong hội nhập, vấn đề thương hiệu đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sựphát triển của DN, vậy nhưng việc đầu tư phát triển thương hiệu tại các DN điện tử
Trang 40Việt Nam chưa được coi trọng một cách đúng mức Cũng theo kết quả điều tra, chỉkhoảng 40% các DN điện tử dành hơn 1% doanh thu cho việc phát triển thương hiệusản phẩm, quảng bá sản phẩm số còn lại thường chỉ dành từ 0,5-1%, thậm chí ít hơn0,5% doanh thu cho phát triển thương hiệu Đó là một trong những nguyên nhân khiếnrất ít thương hiệu điện tử Việt Nam được khách hàng thừa nhận, đánh giá cao và hiệnnay đang phải cạnh tranh rất gay gắt với các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài.
Những DN lớn như Vietronic Tân Bình (VTB), Hanel được nhắc đến như những
“chiến binh” sẵn sàng nhất cho cuộc chạy đua khốc liệt này bởi vì họ đã có một quátrình xây dựng và tạo được chỗ đứng khá vững chắc cho thương hiệu của mình, đồngthời có mạng lưới bán hàng ở hầu khắp cả nước với nhiều điều kiện hậu mãi vượt trộihơn hẳn
Trong lĩnh vực sản xuất điện tử dân dựng có một số thương hiệu nổi tiếng nhưHannel, VTb, Belco, Những thương hiệu này đang dần chiếm lĩnh được thị trườngtrong nước
Trong lĩnh vực sản xuất máy tính có CSC, Mekong Xanh, T&H, Robo, VinaCom, Wiscom, FPT theo số liệu thống kê thì sản phẩm bán ra của máy tính nộichiếm khoảng 7% thị trường Khi các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Sony, LG,Panasonic tham gia thị trường, các nhà sản xuất trong nước phải chuyển hướng sảnxuất kinh doanh Công ty Viettronics Đống Đa sau 4 năm lắp ráp TV đã phải chuyểnsang sản xuất thiết bị chuyên dụng ngành y tế Những tên tuổi khác như Mitsustar,Nakagawa ngoài việc sản xuất sản phẩm chính của mình còn phải kinh doanh thêm đủthứ sản phẩm, dịch vụ khác để tồn tại Tạp chí PC World series B số tháng 2 năm
2007, đánh giá máy tính năm thương hiệu máy tính hàng đầu hiện nay đều thuộc 5công ty hội viên củaVEIA: các công ty CNTT trong nước thời gian qua đã tạo dựngđược một số thương hiệu máy tính được nhiều người biết đến: E-Lead, CMS, MekongGreen, Wiscom, VietCom Tuy nhiên, trong cuộc chiến thị phần, thương hiệu Việtgặp không ít khó khăn Có thương hiệu Việt đã biến mất khỏi thị trường như Vinacomcủa công ty Vi Tính Đồng Nai, có thương hiệu chọn phương án giá rẻ để cạnh tranhnhư Vibird của Nguyễn Hoàng Informatics, nhưng giá giảm thì chất lượng cũng giảm,
hệ quả là người tiêu dùng mất lòng tin
Tuy nhiên phần lớn các công ty lắp ráp máy tính Việt Nam vẫn sản xuất với mô hìnhthủ công không có dây truyền lắp ráp CN do đó chất lượng sản phẩm kém, năng suất thấp
Số lượng máy có thương hiệu tại Việt Nam trên thị trường chưa nhiều (khoảng 20%) Một
số công ty có vốn đàu tư nước ngoài trong lĩnh vực phần cứng hoạt động khá hiệu quả, tạo
ra doanh số XK lớn Tuy nhiên các công ty đó chỉ mang tính chất tận dụng nguồn lao độngphổ thông tại Việt Nam với mức lương nhân công thấp, và chưa đóng vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy sự phát triển của nền CNp phần cứng Việt Nam
Các lĩnh vức khác như thông tin và tự động hóa nói chung là chưa có thươnghiệu riêng Các DN điện tử Việt Nam vẫn đang trong quá trình xây dựng thương hiệu.Nguyên nhân là do các DN nặng về lắp ráp lên không chú ý đến thương hiệu và xâydựng thương hiệu Để nâng cao khả năng cạnh tranh bắt buộc các DN phải chú ý đếnthương hiệu Với các thương hiệu nổi tiếng việc mở rộng thị trường, thực hiện quảngcáo, phân phối sản phẩm sẽ dễ dàng hơn và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của
DN Việc có được thương hiệu nổi tiếng cần có nhiều vốn cũng như thời gian để xúc