* Nhưng…Song song với sự sống dựa vào thiên nhiên, sự phát triển của loài người không dừng lại…Mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình sử dụng, nhận thức hạn chế của loài người trong thời gia
Trang 1Thảo Luận Về Đạo Đức Sinh Thái Trong Sự Phát Triển Của Loài Người Trong Tự Nhiên
GVGD: Thầy PGS.TS Nguyễn Khoa Lân HVTH: Hồ Thị Quỳnh Anh
Phạm Thị Hồng Thủy
Huế, Tháng 09/2009
Trang 2Những nội dung chính
Sự phát triển và tác động của loài người lên HST Những quan điểm, nhận thức còn hạn chế trong thời gian qua của con người đối với HST
Những tổn thất, hậu quả để lại từ sự phát triển của nhân loại
Nhu cầu và giải pháp cho một nền đạo đức sinh thái toàn cầu.
Trang 3*Trái đất của chúng ta là một HST lớn nhất bao gồm tất cả các yếu tố hữu sinh và vô sinh Trong đó, con người là sinh vật được xem là tiến hóa nhất đã tồn tại và phát triển dựa vào nó
Trang 4* Từ bao đời nay, con người đã biết dựa vào tự nhiên
để khai thác và sử dụng những nguồn lợi từ HST mang
lại
Trang 5* Nhưng…Song song với sự sống dựa vào thiên nhiên, sự phát triển của loài người không dừng lại…
Mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình sử dụng, nhận thức hạn chế của loài người trong thời gian vừa qua, con người đã sống không tuân theo quy luật tự nhiên, mà chạy theo quy luật xã hội, chủ quan của con người Chính điều đó, nhân loại
đã tác động vào HST một cách vị kỷ, tham vọng của con người là yếu tố vô hạn luôn đối nghịch với sự hữu hạn, chừng mực của tự nhiên
Trang 6Tác động của con người đến môi trường qua
các thời kỳ phát triển của xã hội
1 Thời kỳ nguyên thủy: Đốt rừng, đào hố, săn bắn
thú rừng làm giảm diện tích rừng
2 Thời kỳ xã hội nông nghiệp : Trồng trọt, chăn
nuôi, phá rừng làm thành khu dân cư, đất sản xuất Làm thay đổi đất và tầng nước mặn
3 Thời kỳ xã hội công nghiệp : Khai thác tài nguyên
bừa bãi, xây dựng nhiều khu công nghiệp, làm cho đất ngày càng thu hẹp, lượng rác thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn
Trang 7* Con người là sinh vật của HST có số lượng lớn và khả năng hoạt động được nâng cao nhờ KHKT Tác động của con người vào HST rất lớn, có thể phân ra các loại tác động chính sau đây:
- Tác động vào cơ chế tự ổn định, tự cân
bằng của HST
- Tác động vào các chu trình sinh địa hóa
tự nhiên
- Tác động vào các điều kiện môi trường
của HST: Khí hậu, thủy điện …
- Tác động vào cân bằng sinh thái
Trang 8Tác động vào cơ chế tự ổn định, tự cân bằng của HST
Cơ chế của HST tự nhiên là tiến tới tỷ lệ P/R =1 và P/B =
0 Cơ chế này không có lợi cho con người, vì con người cần tạo ra năng lượng cần thiết cho mình bằng cách tạo
ra HST có P/R>1 và P/B>0
Do đó con người thường tạo
ra các HST nhân tạo (đồng
cỏ chăn nuôi, đất trồng lương thực, thực phẩm) Các HST này thường kém ổn định, con người phải bổ sung năng lượng dưới dạng sức lao động, xăng dầu, phân bón…
Trang 9Tác động vào chu trình sinh địa hóa
tự nhiên
Con người sử dụng năng lượng hóa thạch, tạo thêm một lượng lớn khíCO 2 , SO 2 mỗi năm con người tạo thêm 550 tỷ tấn co 2
do đốt các nhiên liệu hóa thạch, đang làm thay đổi cân bằng sinh thái tự nhiên của trái đất, dẫn đến thay đổi chất lượng và quan hệ của các thành phần môi trường tự nhiên Đồng thời các hoạt động của con người trên trái đất ngăn chặn chu trình tuần hoàn nước Đó la: đắp đập, xây nhà máy thủy điện, phá rừng đầu nguồn…Việc này gây ra ngập úng hoặc khô hạn nhiêu vùng, thay đổi điều kiện sống bình thường của các sinh vật nước
Trang 10Tác động vào các điều kiện môi trường của HST
Con người tác động vào các điều kiện môi trường của hệ sinh thái tự nhiên bằng cách thay đổi hoặc cải tạo chúng như :
- Chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp làm mất đi nhiều loại động,
thực vật quý hiếm, tăng xói mòn đất, thay đổi khả năng điều hòa nước và biến đổi khí hậu v v
- Cải tạo đầm lầy thành đất canh tác làm mất đi các vùng đất ngập
nước có tầm quan trọng đối với môi trường sống của nhiều loại sinh vật và con người
- Chuyển nhiều loại đất rừng, đất nông nghiệp thành các khu công
nghiệp, khu đô thị tạo nên sự mất cân bằng sinh thái khu vực và ô nhiễm cục bộ
- Gây ô nhiễm môi trường ở nhiều dạng kinh tế xã hội khác nhau
Trang 11Kể từ năm 1980 đến nay, hành tinh của chúng ta đã trải qua 19 trong 20 năm nóng nhất lịch sử Nhưng năm 2005 và 1998 được coi như đánh bật tất cả các kỷ lục và độ nóng Hai năm 2002 và
2003 lần lượt xếp vị trí thứ 2 và thứ 3
Trang 12Đến khi giật mình vì những ca tử vong do ô nhiễm môi trường, nhân loại phải ăn, uống, hít thở chất độc bao nhiêu năm nay…4 triệu trẻ em chết mỗi năm do phải hít thở không khí ô nhiễm
Trang 13Từ phá rừng tới khai thác kiệt quệ các nguồn cá, sa mạc hóa, lan truyền các hóa chất độc hại trên toàn cầu, tạo các khu vực chết trong đại dương…Tất cả đều là bằng chứng về tác động của con người đối với môi trường sinh thái
Trang 14Trái đất chúng ta đang trải qua 24 giờ :
- Mất 116 dặm vuông rừng nhiệt đới
- Mất 72 dặm vuông do sa mạc hóa
- Mất từ 40 đến 100 loài
- Dân số gia tăng ¼ triệu người
- Gia tăng CFCs vào khí quyển 2.700tấn
- Đưa vào khí quyển lượng CO2 là 15 triệu tấn
Trang 15Con người có xu hướng sử dụng các hệ sinh thái phục vụ lợi ích trước mắt hơn là vì tương lai lâu dài Trong khi đó, những hậu quả
do sự tác động của con người đối với các hệ sinh thái thường không biểu hiện ngay lập tức Điều này có nghĩa rằng những chi phí do hiện tại gây ra sẽ đổ lên thế hệ mai sau
Nếu để tự nhiên, hầu hết những thay đổi trong các hệ sinh thái đều diễn ra chậm, có thể phát hiện ra và tiên đoán được Có những loài, đặc biệt là thực vật có thể phải trải qua thời gian cực kỳ lâu mới bị tuyệt chủng Sự chậm trễ này đem lại các cơ hội cho việc khôi phục môi trường sống và giải cứu các giống loài
Nhưng khi có sự can thiệp của con người, các hệ sinh thái dễ
có nguy cơ hứng chịu những thay đổi đột ngột và rơi vào tình trạng khó phục hồi sau khi bị huỷ hoại Một khi hệ sinh thái nào trải qua
sự thay đổi đột ngột thì việc khôi phục lại tình trạng ban đầu sẽ diễn
ra chậm chạm, tốn chi phí, và đôi khi là không thể phục hồi
Trang 16Dân số thế giới hiện nay xấp xỉ 6,5 tỷ người Dự đoán sẽ tăng lên 11 tỷ người trong vòng 30, 40 năm đến
Dân số tăng → Nhu
cầu sử dụng tài nguyên
tăng theo
Trang 17Theo báo cáo của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), cứ mỗi
6 loại động vật có vú ở châu Âu thì một loài có nguy cơ tuyệt chủng Hơn ¼ trong số tất cả các loại động vật có vú tại châu lục này bi suy giảm dân số nghiêm trọng, chỉ có 8% có khuynh hướng tăng Theo cảnh báo của các chuyên gia, nhiều loại động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng trong 10 năm nữa do sự tiêu thụ quá mức của con người
Trang 18 Tình trạng nóng lên của khí hậu trái đất, nếu không được kiểm soát, có thể đẩy 72% số loài chim trên hành tinh tới bờ vực của sự tuyệt chủng (WWF)
Khoảng một nữa trong số 40.000 loài thực vật trên trái đất và 100.000 loài thực vật chưa được phân loại có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm 2-3o C trong vòng 100 năm tới
Trang 20Những suy nghĩ và hành động của nhân loại
đã dẫn đến sai lầm
Thật sự chưa có một dạng sống nào bất chấp sự phát triển lành mạnh của HST như loài người hiện đại
Chưa có một loài nào có thể làm thay đổi trái đất một cách tàn nhẫn và khốc liệt để đạt được địa vị thống trị, độc tôn cũng như làm tổn hại đến HST như loài người
Chưa bao giờ trước đây nhân loại nhận thấy sự khác nhau lớn giữa những gì chúng ta đang làm và sẽ phải làm
Trang 21Con người phụ thuộc rất
nhiều vào HST và những lợi
ích mà chúng đem lại, đó là
nguồn thức ăn, nguồn nước
uống, nguyên vật liệu, và tất
cả toàn bộ những nhu cầu từ
tham vọng của con người
Dưới bàn tay can thiệp của con người, hầu như tất cả HST trên trái đất đều đã biến đổi Đặc biệc là trong vòng 50 năm qua, các HST
đã thay đổi nhanh chóng hơn bao giờ hết.
Trang 22Một vấn đề được đặt ra : “ Con người có phải là một chủng loại có thể tồn tại trên một hành tinh bị nguy cơ hủy diệt không?” Chúng ta phải hiểu rằng mình chỉ là một trong hơn một triệu loài đang sống phụ thuộc lẫn nhau trên trái đất, có những “quyền” sinh tồn, phát triển như nhau và hỗ trợ lẫn nhau Chúng ta có thể sống chỉ khi nào tự nhiên không bị thay đổi và vì vậy phải bảo vệ
sự nguyên vẹn của tự nhiên khỏi chủ nghĩa vị kỷ của chúng ta
“… Sự tổn hại nặng nề này hẳn là kết quả tất yếu của
nền văn minh khoa học hiện đại và sự phát triển nhanh chóng không thể kiểm soát được của nền công nghệ và kinh tế Nền văn minh này , đến lượt nó, lại là kết quả của sự phát triển cao độ của cách tư duy hữu ngã, vị kỷ
và hưởng thụ của loài người Như vậy, các nguyên nhân chính của sự khủng hoảng môi trường trọng đại đang được báo động là sự vô minh và khát ái của loài người” (E F Schumaker)
Trang 23Theo quan niệm Đạo Phật, sự khổ đau của các loại sinh vật không phải loài người do con người tạo ra phải được xác định là một vấn đề đạo đức Một nguyên tắc như vậy đã được chấp nhận trong Hội Liên Hiệp Quốc Tế về BVTN và TNTN (IUCN) Tôn chỉ về việc cư xử đối với các sinh vật khác loài người được nêu ra ở mục “Quan tâm đến quả đất” (Gland Switzerland,1991) xác nhận “ Con người phải đối xử nhẹ nhàng đối với mọi loài vật và bảo vệ chúng khỏi sự tàn ác, khổ đau có thể tránh được và giết hại không cần thiết”
Trong Đạo Phật, “Hại người/ vật vô tội cũng giống như ném bụi ngược gió với kết quả là chúng ta phải chịu hậu quả của hành động mình”
Đức Phật tôn trọng sự sống, bất cứ sự sống nào, ngay cả sự sống của côn trùng hay cây cỏ Ngài khuyên ta không giết hại, vì mọi loài hữu tình đều run sợ trước dao, gậy đối với mọi loài, sự sống đều thân thiết
Trang 24Nhu cầu về các giá trị đạo đức chung đối với Hệ sinh thái cho cả thế giới là điều căn bản bức thiết Đó là nền đạo đức bao gồm thái độ của con người đối với môi trường, nguyên tắc chủ đạo là bảo vệ môi trường và bảo tồn HST.
Phận sự của đạo đức sinh thái toàn cầu là phát họa những thay đổi
về giá trị đạo đức cần thiết để hướng dẫn nhân loại tạo thành một cộng đồng toàn cầu phát triển theo hướng sáng tạo, thúc đẩy sự sống
an lạc, bền vững khắp hành tinh.
Chúng ta đã trì hoãn quá lâu để tránh đối phó với những biến đổi lớn, và giờ đây hành động tốt nhất mà nhân loại có thể đưa ra là làm sao giúp giảm bớt hậu quả
Như vây, chúng ta có thể làm gì để thoát khỏi tình trạng này ?
Trang 25Nhân loại cần phải thay đổi, ý thức lại toàn bộ những quan niệm con người là bá chủ, độc tôn, là sinh vật tiêu thụ.
Quan niệm con người là trung tâm:
- Phá vỡ, chuyển hướng các quy luật tự nhiên
- Trốn tránh trách nhiệm
Chúng ta sẽ bị trừng phạt một cách nghiêm khắc trừ khi chúng ta thiết lập cân bằng mới giữa cuộc sống hiện đại và hệ sinh thái.
Trang 26Chúng ta cần một khái niệm mới về bảo vệ môi trường Khái niệm này cũng phải đấu tranh để bảo
vệ môi trường cho các loài cùng sống với chúng ta Những loài mà không thể tự nói lên tiếng nói của chính mình Chúng ta phải hành động thay cho chúng dựa trên những hiểu biết tốt nhất mà chúng ta
có Phải đưa điều này vào giáo dục và xã hội.
Và chúng ta phải thừa nhận trách nhiệm của con người đối với hệ sinh thái
Trang 27Sự tiến hoá của tự nhiên thông qua những cuộc đấu tranh khắc nghiệt Xã hội loài người phải tránh những cuộc xung đột khắc nghiệt Để giữ cho xã hội phức tạp của chúng ta không bị thay đổi, phải có sự khôn ngoan trong việc giảm xung đột và hài hoà giữa kinh tế và sinh thái
Để đạt được điều đó, chúng ta phải xác định rõ những lợi ích, cái tốt, xấu, những thiệt hại của phát triển kinh tế và dựa trên nền tảng sinh thái.
Trang 28Để sống sót và phát triển văn minh trong thế giới này, con người phải kiểm soát giữa phần
Chúng ta không thể phá vỡ những quy luật của HST để đưa vào đó nguyên tắc mới
Trang 292 nguyên tắc trở nên quan trọng trong tương lai loài người hơn bất cứ thứ gì:
1 Chúng ta có thể sống sót chỉ khi không làm biến đổi
tự nhiên và bởi vậy phải bảo vệ nguyên trạng.
2 Chúng ta có thể không thừa nhận những học thuyết đạo đức, nhưng không được tiếp tục từ chối hoặc thờ ơ với những giá trị khoa học đã được thực tiễn chứng minh
XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CỦA LOÀI VẬT
MỘT CÁCH KHÁCH QUAN!
Trang 30Trong thế giới loài người, chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật, bất hạnh của hàng triệu người, như vậy giải quyết những thách thức đó mà không dựa vào tự nhiên?
Nếu câu trả lời là KHÔNG, loài người sẽ biến mất từ khi bắt đầu cuộc sống và không thể tiến quá xa trong tương lai
Trang 31Để làm chuyển biến về chất trong quá trình nhận thức, ứng xử và hành động của con người đối với HST một cách đúng đắn hơn, mỗi cá nhân trong xã hội đều phải biết việc ngăn chặn sự suy thoái của HST là trách nhiệm không của riêng ai mà chính là của tất cả mọi người, nên công tác phổ cập giáo dục những kiến thức về tác hại của suy thoái HST đối với sự sinh tồn của con người phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, sâu rộng đến mọi tầng lớp dân cư, mọi thành phần xã hội, mọi vùng miền
Để được sống trong một môi trường thật sự trong lành chúng ta không chỉ nghiên cứu, sử dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại để xử lý, hạn chế, mà còn phải điều chỉnh hành vi, thái độ của mình trong ứng xử với môi trường sống, đồng thời xem đó là thước đo để đánh giá tiêu chuẩn về trình độ nhận thức, phẩm chất đạo đức, văn minh của mỗi thành viên trong xã hội Muốn có được điều đó chúng ta nên đề cao chuẩn mực đạo đức của con người trong hành vi ứng xử với môi trường sinh thái để mỗi cá nhân trong xã hội thấy được nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ HST của chúng ta vì mục tiêu phát triển bền vững của một xã hội tiên tiến.
Trang 32HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA
Thay thế các nguồn tài nguyên đang suy giảm bằng cách tăng cường tái chế, tái sử dụng, sử nguồn năng lượng sạch có thể tái tạo
Học theo nguyên tắc hoạt động của các HST, sử dụng có hiệu quả trong việc xây dựng nền kinh tế và
xã hội.
Hoà hợp giữa thế giới loài người và thế giới tự nhiên và giảm những tác động có hại của con người lên tự nhiên.
Trang 33• Điều chỉnh số người trên Trái đất cũng như nguồn năng lượng, vật chất trên đầu người phù hợp với sức tải của HST.
• Trả lại “quyền sống” của các loài sinh vật trên trái đất.
Trang 34Việc đẩy lùi sự suy thoái của các hệ sinh thái trong khi vẫn đòi hỏi chúng đáp ứng được các nhu cầu ngày càng tăng của con người là một thách thức lớn.
Chúng ta đều biết các hệ sinh thái đang bị hủy hoại nặng nề và các dịch vụ hệ sinh thái sẽ còn tiếp tục bị mất đi nếu chúng ta không
có những chương trình hành động hữu hiệu
Bảo vệ HST của của chúng ta là để phục vụ cho chính chúng ta nhưng việc sử dụng phải lâu dài và bền vững
Con người phải khôn ngoan hơn, phải sử dụng đúng mức trí tuệ vào tự nhiên nhưng phải hợp với quy luật tự nhiên và song song tồn tại với tự nhiên
Con người sống và thực hành được như vậy có nghĩa là họ đã thực hiện được nền đạo đức sinh thái , cũng là giúp chính chúng ta tồn tại
và phát triển trong môi trường bền vững lâu dài