1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển

127 315 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 5,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngư trường Sản lượng năm 1000 tấn Biển và đại dương còn có nguồn năng lượng tiềm tàng sinh ra từ các dòng chảy, hoạt động của thủy triều, gió biển…, cùng với nhiều các tài nguyên khác ch

Trang 1

MÔN HỌC

SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN BIỂN GIỚI THIỆU CHUNG

thành sa mạc khô cằn

Biển và đại dương cung cấp cho con người một kho tàng khổng lồ

về thực phẩm, khí đốt, hóa chất, vật liệu, điều hòa môi trường, phát triển du lịch và giải trí là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội và tạo dựng nền văn minh cho loài người Người ta dự đoán vào những thế kỷ tới biển và đại dương sẽ là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về thực phẩm, năng lượng và nguyên nhiên liệu

Biển có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển và an ninh của các nước nói riêng và thế giới nói chung Một số nước và vùng lãnh thổ đã tận dụng thế mạnh về biển để đạt được trình độ phát triển rất cao Các nước có biển đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển

Trang 2

Giống như các dạng tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên biển nói riêng được hình thành trong những điều kiện môi trường cụ thể của biển và đại dương Sự hình thành chúng liên quan mật thiết đến cấu trúc và địa động lực đáy biển và đại dương, đến cấu trúc và động lực khối nước phủ trên Ngoài ra, chúng còn bị chi phối bởi hàng loạt quá trình như: quá trình địa chất, sinh học, hóa học; thủy động lực; các tương tác nội-ngoại sinh, sông-biển, khí quyển-đại dương

Theo tính toán sơ bộ, dân số thế giới và các đô thị lớn phát triển tập trung ở vùng ven đại dương, vùng ven biển cách đường bờ biển chừng 100 km về phía lục địa và trên các đảo Xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới do nhịp

độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng và mạnh mẽ Điều này cũng kéo theo sự tăng cao nhu cầu tiêu thụ và sử dụng tài nguyên biển Hậu quả là tài nguyên biển có nguy cơ bị suy giảm, suy thoái do bị khai thác quá mức; một số dạng tài nguyên quí hiếm dễ có nguy cơ mất hẳn Môi trường biển bị ô nhiễm và suy thoái đang tác động trực tiếp vào các hệ thống tài nguyên biển, vào khả năng tái tạo và phục hồi các dạng tài nguyên cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng hợp lý và quản lý hiệu quả tài nguyên biển trở nên hết sức cấp bách không chỉ đối với các quốc gia có biển mà còn cả đối với cả cộng đồng quốc tế Điều đó quyết định sự tồn tại và chất lượng cuộc sống của loài người trong tương lai Đặc biệt khi nguồn tài nguyên trên lục địa bị cạn kiệt và bầu khí quyển bị ô nhiễm

Vùng biển Việt Nam chiếm phần lớn diện tích biển Đông, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với diện tích khoảng 1 triệu km2 Đảng và Nhà nước ta nhận định: Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng có vai trò lớn trong định hướng phát triển tương lai Qua thăm dò, khảo sát cho thấy, tiềm năng tài nguyên biển Việt Nam tuy không thuộc hàng giàu có của thế giới, nhưng rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước Dọc bờ biển nước ta đã hình thành những trung tâm đô thị lớn, trên 100 địa điểm có thể xây dựng những cảng biển lớn, nhỏ; nhiều đảo, hòn đủ điều kiện và lợi thế phát triển du lịch, bảo vệ an ninh quốc phòng; vùng biển có nhiều tiềm năng thủy sản, dầu khí…

Trang 3

Biển Việt Nam được phân chia thành 5 vùng chính: Vùng biển Vịnh Bắc

Bộ, vùng biển Trung Bộ, vùng biển Đông Nam Bộ, vùng biển Tây Nam Bộ và vùng biển Giữa Biển Đông Tại các vùng biển này hình thành nhiều ngư trường với sản lượng thủy sản lớn, phục vụ các nghề khai thác: nghề lưới rê, nghề câu vàng, nghề lưới kéo đáy đơn Từ năm 2000-2005, tổng trữ lượng khai thác thủy sản biển đạt khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cá nổi khoảng 2,8 triệu tấn, chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là hiện nay tại những vùng ven bờ đã và đang bị tận dụng khai thác quá mức, làm cho nguồn lợi thủy sản có nguy cơ bị cạn kiệt Với 84% số lượng tàu thuyền lắp máy có công suất dưới 90CV và thuyền thủ công hoạt động chủ yếu ở vùng nước ven bờ đã gây sức ép quá lớn cho nguồn lợi thủy sản ven bờ, làm tăng nguy cơ cạn kiệt Vì nhiều lý do mà đã qua, lượng tàu phát triển một cách tự phát, không theo định hướng quy hoạch phát triển biển và số lượng tàu cá có công suất nhỏ vẫn tăng bình quân 2.300 chiếc/năm, số lượng ngư dân trực tiếp khai thác hải sản tăng bình quân 23.155 người/năm Điều này đồng nghĩa với việc cạnh tranh trong khai thác ven bờ với cường độ cao, ráo riết hơn Vì cuộc sống trước mắt, nhóm ngư dân này dùng mọi biện pháp để đánh bắt: Giảm kích thước mắt lưới, tăng cường độ khai thác hoặc dùng những biện pháp khai thác mang tính hủy diệt, như: Sử dụng chất

nổ, chất độc, xung điện… Sự suy giảm nguồn lợi cá đã ảnh hưởng nghiêm trọng

và trực tiếp đến hiệu quả đánh bắt của các loại nghề khai thác hải sản Tỷ lệ cá tạp, cá con trong các mẻ lưới ngày càng cao, chiếm 40-95% sản lượng đánh bắt, tùy theo loại ngành nghề khai thác, kéo theo doanh thu các hoạt động khai thác có

xu hướng thấp dần

Quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nêu rõ: “Phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển… Có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực phát triển kinh tế biển… giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển” Hiện nay, ngành Thủy sản đang xây dựng các giải pháp về quản lý; điều chỉnh năng lực

Trang 4

tàu thuyền, cơ cấu nghề nghiệp; cơ sở hậu cần nghề cá; khoa học - công nghệ; bảo

vệ phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản; đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế trong khai thác thủy sản Theo đó, dự kiến đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP và 55-60% kim ngạch xuất khẩu cả nước Để đạt được kết quả trên, Nhà nước, ngư dân và hậu cần nghề khai thác hải sản phải cùng chung tay, liên kết chặt chẽ hơn nhằm khép kín lộ trình thành một dây chuyền sản xuất, đưa nghề khai thác hải sản trở thành một trong những ngành kinh tế đầu tàu, góp phần quan trọng vào tốc độ phát triển chung của đất nước Đối với Cà Mau, ngành Thủy sản và chính quyền các cấp đang cố gắng quản lý, khống chế lượng tàu thuyền khai thác ven bờ, phương tiện có công suất nhỏ, nhằm hướng đến chuyển đổi ngành nghề cho đối tượng ngư dân này một cách hợp lý, trong điều kiện khai thác hợp lý

Việt Nam với hơn 3.200 km bờ biển, khoảng 3.000 hòn đảo, và hơn 11.000 loài sinh vật biển, là cơ sở để nước ta phát triển nghề khai thác biển vững mạnh Tuy nhiên, nếu không có một chiến lược khai thác hợp lý, thì tiềm năng biển sẽ không còn Do vậy, để phát triển bền vững nghề khai thác hải sản, cần đảm bảo tính bền vững về môi trường sinh thái, nguồn lợi và ổn định xã hội

Việt Nam là một quốc gia với tiềm năng tài nguyên biển to lớn Biển đã được Nhà nước đặt vào vị trí chiến lược quan trọng về cả kinh tế lẫn an ninh quốc phòng Khai thác biển ở nước ta cũng là một trong những nghề truyền thống tuy còn lạc hậu; khả năng quản lý biển còn yếu Vì thế, giống như các nước trong khu vực, nước ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường và tài nguyên biển, đang diễn ra theo chiều hướng tiêu cực Một trong những nguyên nhân chính

là hiểu biết về bản chất môi trường biển và nhận thức về tài nguyên biển còn rất yếu Trong bối cảnh kinh tế thời mở cửa, nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên biển phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tăng rõ rệt Vì thế, việc nghiên cứu sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên môi trường biển cần được ưu tiên cao trong thời gian tới

Trang 5

Do vậy, môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển có ý nghĩa và thực tiễn cao giúp cho sinh viên nắm được các khái niệm cơ bản về tầm quan trọng của biển đối với con người, giá trị và tiềm năng to lớn của tài nguyên biển đối với phát triển kinh tế - xã hội trong những thế kỷ tới để từ đó xây dựng các định hướng nghiên cứu cũng như kế hoạch khai thác và bảo vệ tài nguyên biển và môi trường biển một cách hợp lý

CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BIỂN 1.1 Những khái niệm chung về biển và các vấn đề liên quan

Như đã biết, biển và đại dương chứa đựng nhiều hệ thống tự nhiên ở những cấp độ và qui mô khác nhau, bao gồm các loại hình thủy vực, các hệ sinh thái biển và ven bờ khác nhau Vì vậy, hiểu biết chính xác khái niệm về chúng giúp các nhà nghiên cứu và quản lý nhận biết đúng đối tượng nghiên cứu và quản

lý của mình ngay từ khi bắt đầu công việc

1.1.1 Thủy vực (water-body)

Là một vùng trũng bất kỳ trên bề mặt Trái đất có chứa nước thường xuyên, bất kể nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, với các hình thái và qui mô khác nhau Mỗi loại hình thủy vực được đặc trưng bởi các quá trình và có bản chất tự nhiên riêng Ví dụ: ao, hồ, đầm, phá, vịnh…

1.1.2 Đại dương thế giới (world ocean)

Là toàn bộ các thủy vực có chứa nước mặn của Trái đất và không phân biệt

ranh giới Như vậy, trên hành tinh chúng ta chỉ tồn tại một đại dương thế giới

1.1.3 Đại dương (ocean)

Là những thủy vực nước mặn có qui mô lớn trong đại dương thế giới Nó cũng là những bộ phận quan trọng của đại dương thế giới và được phân định tương đối bởi ranh giới “nhân tạo” Thông thường, ranh giới về phía lục địa của

Trang 6

đại dương được phân định với các vùng biển phía trong bởi các hệ thống đảo, tương ứng với các đới phá hủy cấu trúc địa chất của rìa lục địa ở phía dưới

Trước kia, dựa vào truyền thuyết, người ta đã chia ra thành 7 đại dương là: Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Đại Tây Dương, Nam Đại Tây Dương, Bắc Thái Bình Dương, Nam Thái Bình Dương và Đại Dương Nam Cực Đến năm

1845, tên của 3 đại dương: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mới được thừa nhận chính thức Đến nay, người ta chia ra và thừa nhận 4 đại dương chính: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương, Hình 1.1

Hình 1.1: Đại dương, biển và các vịnh lớn trên trái đất

Diện tích và độ sâu trung bình của 4 đại dương được cho trong bảng 1.1

Trang 7

nước biển thường có thành phần và tính chất khác với nước đại dương Cho nên trong các văn liệu, người ta còn gọi chúng là các biển rìa (marginal sea)

Vào thế kỷ 15, theo quan niệm của người Hồi giáo, trên thế giới có 7 biển là: Địa Trung Hải, Biển Đỏ, Biển Đông Phi, Biển Tây Phi, Biển Đông, Ấn Độ Dương và vịnh Persian Đến nay, phòng Thủy đạc Quốc tế đã thống kê và lập danh sách khoảng 68 biển trên thế giới, trong đó một số biển lại nằm trong biển khác lớn hơn Ví dụ, Địa Trung Hải lại bao gồm 7 biển nhỏ khác

Bảng 1.1: Diện tích và độ sâu trung bình của lòng/lưu vực 4 đại dương

4 Đại Tây dương

Cụ thể hơn, diện tích vùng lõm được tính trong phạm vi đường mực triều thấp nhất ven bờ vịnh (vùng lõm) và đường thẳng nối liền hai điểm gần nhau nhất

ở 2 phía cửa vào tự nhiên của vịnh, không tính các cửa nhân tạo Ví dụ: vịnh Bắc

Trang 8

Bộ, vịnh Thái Lan Ví dụ minh họa các Vịnh trên biển của Việt Nam được cho trong Bảng 1.2

1.1.6 Vũng (bay)

Là một loại hình thủy vực nằm sát bờ, đây là một bộ phận của vịnh hoặc biển, có kích thước khác nhau Ranh giới các vũng thường là bờ của các cung bờ hoặc các đảo ở phía ngoài, nhiều khi phải phân biệt nhờ địa hình đáy có dạng lòng chảo Trong thực tế Việt Nam đôi khi cũng gọi lẫn vũng là vịnh Ví dụ: vũng Rô, vũng Tàu, vịnh Hạ Long, vịnh Chân Mây,…

Ví dụ minh họa các Vịnh trên biển của Việt Nam được cho trong Bảng 1.2 1.1.7 Vụng (embayment)

Là một bộ phận lõm vào lục địa của vũng, vịnh hoặc biển, có kích thước nhỏ và thông với vùng biển bên ngoài bởi một hoặc vài cửa (inlet) Đôi khi cũng được gọi lẫn với tên là vịnh Ví dụ: vịnh (vụng) Bãi Cháy

Ví dụ minh họa các Vịnh trên biển của Việt Nam được cho trong Bảng 1.2

1.1.8 Phá (coastal lagoon)

Là một loại hình thủy vực ven bờ, phía ngoài ngăn cách với biển bởi một

hệ thống các doi cát chắn (sand barrier) dọc bờ và thông với biển bởi một hoặc vài cửa

Các phá điển hình thường phát triển ở rìa các đồng bằng cát ven biển, nơi giàu bồi tích cát, trong điều kiện động lực của vùng bờ có xu thế san bằng và với vai trò thống trị của dòng sóng dọc bời Ví dụ: phá Tam Giang

Một số phá được địa phương gọi là đầm như: đầm Lăng Cô, Ô Loan, Trường Giang, Cù Mông, Nước Mặn, Nước Ngọt, Trà Ổ, Thủy Triều, Thị Nại, Đầm Nại Tuy nhiên, người Việt Nam thường gọi phá là đầm phá

Trang 9

Bảng 1.1 Bảng 1.2: :

Trang 10

1.1.9 Cửa sông (estuary/river mouth)

Là phần cuối cùng của các sông trước khi đổ vào biển Đây là một khu vực

bờ biển thường bị sụt chìm (đôi khi cũng ở trạng thái ổn định), nơi xảy ra các tương tác trực tiếp và mạnh mẽ giữa sông và biển Tùy thuộc vào bản chất động lực, hình thái, cấu trúc của cửa sông, người ta phân loại thành các kiểu cửa sông chính như: cửa sông hình phễu (cửa sông Bạch Đằng, sông Thị Vải), cửa sông châu thổ (cửa Định An, cửa Ba Lạt), cửa sông kiểu “cúc áo” (cửa sông Đà Rằng), hoặc dạng đầm phá,…

Mô phỏng cửa sông tiếp giáp với đới bờ được thể hiện trong Hình 1.2

1.1.10 Đường bờ biển (coastline)

Đường bờ biển gọi tắt là đường bờ - là đường tiếp tuyến giữa bề mặt nước

biển ở vị trí mực thủy triều trung bình và bề mặt sườn bờ lục địa

1.1.11 Đới bờ biển (coastal zone)

Trang 11

Đới bờ biển gọi tắt là đới bờ - nằm chuyển tiếp giữa biển và lục địa, luôn

chịu tác động tương tác của các quá trình biển và lục địa, cũng như nội – ngoại sinh và có hình dạng kéo dài dọc đường bờ Ranh giới phía lục địa được tính đến rìa các đồng bằng châu thổ hiện đại (Holoxen muộn), hoặc giới hạn thâm nhập mặn dọc sông, hoặc cách đường bờ 10 km ở khu bờ núi ven biển (đôi khi lấy ranh giới các huyện ven biển) Còn ranh giới phía biển được tính đến rìa thềm lục địa hiện đại tương ứng độ sâu 200 m Đới bờ gồm hai phần: dải ven biển và dải ven

bờ

Mô phỏng phần đới bờ tiếp giáp với cửa sông và đường bờ được thể hiện trong Hình 1.2

Hình 1.2: Vị trí vùng cửa sông, đới bờ và vùng bờ

Nguồn: Iman and Nordstrom, 1971

Ví dụ đặc trưng về các cửa sông Mekong và phân bố lưu lượng cho các nhánh sông (cửa sông) được thể hiện trong Hình 1.3

Trang 12

1.1.12 Dải ven biển (coastal land)

Là dải lục địa ven biển, bất kể đồng bằng hay vùng núi, tính từ đường bờ trở vào lục địa đến nơi chấm dứt ảnh hưởng của biển, tương ứng ranh giới phía lục địa của đới bờ

Hình 1.3: Các cửa sông Mekong và phân bố lưu lượng cho các nhánh sông

1.1.13 Dải ven bờ (coastal waters)

Là dải biển ven bờ, tính từ đường bờ ra khơi đến nơi chấm dứt ảnh hưởng trực tiếp của các quá trình lục địa, tương ứng ranh giới phía biển của đới bờ Tham khảo như trong Hình 1.2

1.1.14 Vùng bờ (coastal area)

Vùng bờ là một phần của đới bờ, có hình dạng bất kỳ với qui mô khác nhau tùy thuộc vào mục đích và năng lực quản lý Giống như đới bờ, vùng bờ cũng gồm hai phần: ven biển và ven bờ

Trang 13

1.2 Vai trò của biển trong đời sống con người

1.2.1 Những đóng góp của biển

Toàn bộ các biển và đại dương chiếm tới 361 triệu km2, nghĩa là khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất Thực sự, nhân loại đang sống trên những hòn đảo khổng lồ giữa các đại dương mênh mông của một quả cầu nước

Được sinh ra và tiến hóa trên bề mặt các hòn đảo đó, từ lâu, con người vẫn sống nhờ vào đất Khoảng 5 tỷ người hiện nay đang dựa vào một diện tích canh tác nhỏ hẹp, chừng 3% bề mặt hành tinh để sinh sống, đồng thời chỉ mới nhận nguồn thức ăn rất nhỏ bé từ biển, đại dương

Giờ đây nguồn của cải ở trên cạn không còn là vô tận nữa, đặc biệt trong thời kỳ mà nhân loại đang tạo nên những kỳ tích trong các lĩnh vực khoa học và

kỹ thuật, con người đòi hỏi không chỉ nguồn thực phẩm dồi dào mà cả các nguyên vật liệu, nguồn năng lượng, thậm chí cả nguồn nước ngọt…, từ đại dương Nhân loại đang trong tư thế tiến chiếm các vùng nước mênh mông và giàu có mà trước đây chỉ mới khai thác một phần

Biển và đại dương chứa đựng nguồn vật chất tiềm tàng Sản lượng các loài thực vật trong toàn bộ khối nước đạt tới 550,2 tỷ tấn, còn động vật 56,2 tỷ tấn Những năm gần đây, nghề khai thác các đối tượng sinh vật biển thường đạt trên dưới 80 triệu tấn/năm, trong đó cá chiếm 90% tổng sản lượng Người ta tính rằng, năng suất sinh học hiện tại là 5,4 – 15,0 kg/km2 đối với vùng đáy thềm và dốc lục địa Do đó, sản lượng hải sản có thể đạt 100 triệu tấn năm trong những năm sắp tới

Từ năm 1970 trở lại đây, nguồn tài nguyên sinh vật biển của Thế Giới được coi là hữu hạn, đặc biệt là những loài có ý nghĩa kinh tế Nhiều loài bị khai thác quá mức, vượt quá khả năng tái tạo của chúng, một số loài có nguy cơ tuyệt chủng

Trang 14

So sánh với sản lượng khai thác hàng năm ở nước ngọt thì ở biển và đại dương luôn vượt hơn khoảng 50 lần Nhịp độ khai thác (triệu tấn) tăng dần theo thời gian, Bảng 1.3

Bảng 1.3: Sản lượng thủy hải sản khai thác trên đại dương và nước ngọt

Theo đánh giá của FAO, đến nay có hơn 50 loài tôm biển tự nhiên được khai thác, nhưng chỉ có 10 loài có sản lượng lớn Sản lượng tôm khai thác tự nhiên vẫn chiếm tỉ lệ cao (72%) trong tổng số lượng tôm Thế Giới và có giá trị khoảng 10,7 tỉ USD Hiện nay có bảy ngư trường khai thác tôm quan trọng nhất Bảng 1.4

Bên cạnh nguồn lợi sinh vật, biển còn là mỏ khoáng khổng lồ, trong thềm lục địa là những túi dầu với trữ lượng rất lớn Hầu hết các nguyên tố hóa học đều

có mặt trong nước biển Song, muối ăn có hàm lượng cao nhất Nếu như toàn bộ muối ăn trong đại dương được kết tinh lại sẽ cho một khối lượng lớn đến mức mà

nó có thể trải trên toàn lục địa một lớp dày 150m Người ta cũng biết rằng, khai thác được toàn bộ lượng vàng hòa tan trong nước đại dương, khi chia đều cho nhân loại thì mỗi chúng ta sẽ nhận chừng 2 kg

Bảng 1.4: Bảy ngư trường quan trọng nhất khai thác tôm trên đại dương

Trang 15

Ngư trường Sản lượng năm (1000 tấn)

Biển và đại dương còn có nguồn năng lượng tiềm tàng sinh ra từ các dòng chảy, hoạt động của thủy triều, gió biển…, cùng với nhiều các tài nguyên khác chưa được khai thác hay chưa phát hiện hết… Mai đây, con người coi biển là môi

trường hoạt động chính của mình, chẳng kém gì những vùng đất mới khai phá

Từ lâu con người đã hướng đến việc khai thác các đối tượng thủy sản nhằm

bổ sung cho sự thiếu hụt ngày một tăng của nguồn đạm động vật trên cạn (động vật nuôi, chim thú, rừng…) nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi dân số đang trong trạng thái “bùng nổi” và khi nhu cầu dinh dưỡng của con người ngày một cao

Các chuyên gia dinh dưỡng đã tính rằng, trong một ngày đêm cong người đòi hỏi 80 – 100g đạm (Pokrovskii 1964) để duy trì mọi hoạt động bình thường của mình Trừ các nước có nền kinh tế phát triển, còn phần lớn cư dân trên thế giới phải khai thác nguồn đạm chủ yếu từ thực vật (67%) Đạm động vật trong khẩu phần thức ăn thường thấp, trung bình gồm 24% từ thịt và sữa, 4% từ trứng

và 5% từ cá (Schaefer, 1965) Nhiều dân tộc còn sống nghèo khổ, dưới mức năng lượng tối thiểu của thế giới (2000 – 3000 kcal/ngày đêm) và luôn luôn đói về nguồn thức ăn đạm động vật

Theo Moixev (1969) nếu như coi tỷ lệ đạm động vật trong khẩu phần dinh dưỡng là 35 – 40% (khoảng 20 – 25g đạm tối thiểu) thì hàng năm chúng ta phải cung cấp 525 – 660 nghìn tấn đạm động vật để thỏa mãn nhu cầu bình thường cho

72 triệu dân, trong đó nghề cá biển chỉ mới đáp ứng được chừng 30% tổng số

Trang 16

Cá là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị về mặt dinh dưỡng Ngoài hàm lượng đạm cao, trong cá còn chứa nhiều chất vô cơ, các nguyên tố vi lượng, axít amin và giầu các loại vitamin A, B1, B2, B12, C, D3, D6, E…so với các thực phẩm có nguồn gốc động vật khác thì cá thuộc loại thực phẩm toàn diện, hàm lượng mỡ thấp, dễ tiêu hóa Bởi lẽ đó, việc nâng tỷ lệ cá trong khẩu phần thức ăn của nhiều nước hiện nay không phải chỉ bù đắp sự giảm sút nguồn đạm động vật mà còn là việc làm định hướng

Ngoài cá là đối tượng chủ yếu, nghề biển còn tiến hành khai thác hàng loạt các loài động, thực vật khác, vừa có giá trị làm thực phẩm, làm thức ăn gia súc, vừa cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp hóa chất, dược liệu…Nhìn chung, những đối tượng này cũng có hàm lượng đạm cao cùng với nhiều axít amin không thay thế… có lợi cho đời sống của con người Chẳng hạn, tỷ lệ đạm tính theo trọng lượng khô của sò huyết là 59,4%, bào như 49,9, ngao 62,0, sá sùng 65,0% trong khi đó thịt bò chỉ đạt 44,9; thịt cừu 40,5; thịt lợn 34,5% Bởi vậy, trong những năm gần đây, thế giới đã khai thác một lượng lớn hải sản (không kể cá) thuộc các loài động vật không xương sống như: Thân mềm, Giáp xác (khoảng 6% tổng sản lượng đánh bắt), thú biển và rong tảo (4%) Trong nhóm Thân mềm (Mollusca) thân mềm Hai Vỏ (Bivalvia) chiếm gần 60% (sò, vẹm…), sau đó là Chân đầu (Cephalopoda) với trên ¾ là mực gần 1/3 là bạch tuộc Đối với Giáp xác, tôm chiếm tỷ lệ cao nhất (66%) sau là cua (22%), các đối tượng Giáp xác khác chỉ chiếm 12% Như vậy, chia theo dân số trên thế giới, bình quân mỗi người hàng năm nhận được khoảng dưới 18kg thủy sản các loại

Ngày nay, trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, biển càng giữ vai trò cực kỳ quan trọng Biển với tài nguyên đa dạng và phong phú của mình trở thành tư liệu sản xuất với những ưu thế riêng so với đất liền Con người

và những hoạt động của nó trên biển đã tạo ra ở đây một hình thái kinh tế mới – kinh tế biển

Trang 17

Kinh tế biển cùng với kinh tế đồng bằng, kinh tế miền núi tổ hợp nên nền kinh tế quốc gia thống nhất, đặc trưng cho những nước có biển Ở nước ta 25 tỉnh, gần 100 huyện và nhiều thành phố lớn như Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh… nằm dọc bờ biển là những địa bàn quan trọng tham gia và sự phát triển của nền kinh tế biển hiện tại cũng như trong tương lai, đặc biệt là những tam giác kinh tế mới ra đời như Hà Nội – Quảng Ninh – Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Bà Rịa Vũng Tàu là tiền đề nhằm huy động tài nguyên của lục địa và biển cũng như nguồn nhân lực, tài lực cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước

Kinh tế biển bao gồm trước hết là khai thác và nuôi trồng thủy sản, phát triển hàng hải, khai thác dầu mỏ và khí đốt, khai thác khoáng sản và hóa chất, mở mang du lịch và phát triển nông – lâm – nghiệp…sau nữa là phát triển các ngành dịch vụ, đảm bảo cho những lĩnh vực trên hoạt động một cách đồng bộ như xây dựng các cơ sở hạ tầng, mở mang công nghiệp đóng và sửa chữa tầu thuyền, chế biến hải sản, tinh chế dầu mỏ, khoáng hóa chất, xây dựng bến bãi kho tàng cũng như phát triển các loại dịch vụ khác Tất cả việc làm trên tựu trung, nhằm tập hợp khai thác một cách hợp lý thế mạnh tổng hợp của biển, tạo nên những giá trị cao của nền kinh tế hàng hóa Trên cơ sở như vậy, kinh tế biển không chỉ tham gia vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân một cách tích cực mà còn tạo điều kiện trực tiếp để đưa nền kinh tế nước ta hội nhập với nền kinh tế chung của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế

Nghề khai thác thủy sản của nước ta gần nửa thế kỷ qua, mặc dầu có những thăng trầm nhưng cũng đã đạt được những thành tích đáng kể Ở giai đoạn từ

1985 đến 1990, nhịp điệu khai thác hàng năm tăng trên 9,0%, đạt sản lượng chung khoảng 1,1 triệu tấn vào đầu những năm của thập kỷ 90 này Riêng đối với nghề

cá biển sản lượng khai thác được thống kê ở bảng sau (Bảng 1.5)

Bảng 1.5: Phương tiện và sản lượng hải sản khai thác năm 1992 (theo

Biodiversity Action plan, 1994)

Trang 18

Vùng khai thác Số lượng tầu

(chiếc)

Tổng số

mã lực

Mã lực trung bình

Sản lượng (tấn)

69.449 160.678 348.201 369.877

1.2.2 Những trở ngại và rủi ro do biển gây ra

Ngoài những giá trị lớn lao của mình, biển cũng đem đến cho con người bao trở ngại, đôi khi cả những tai họa khủng khiếp

Sóng, gió, dòng biển, nước dâng về mặt nào đó là những phương tiện của biển luôn luôn công phá đất liền, hủy hoại bờ biển, các vùng dân cư và các thành phố ven biển

Sóng xuất hiện trên biển do nhiều nguyên nhân, song sóng gây ra gió thổi trên mặt biển có tổng năng lượng tới 2,5 tỷ KW Hàng ngày, những con sóng bình thường ồ ạt đổ bộ vào các vùng bờ không được bảo vệ đã rửa trôi đất đá và gặm ngày một sâu vào lục địa Sóng vỗ vào bờ dựng đứng thường có sức hủy hoại lớn,

áp lực lên đến 20 tấn/m2 Khi sóng bật lên cao đã có trường hợp làm vỡ cửa ra vào của một đèn biển cao 60m Những sóng lớn có bước sóng dài 250 – 300m lan truyền với tốc độ lớn, khoảng 75km/giờ, rất nguy hiểm cho thuyền bè ra khơi, nhất là những ngày biển động và giông bão Sóng lừng xuất hiện trên mặt biển cả khi gió giảm với sự dao động có quy tắc của nước biển Sóng lừng có sức tàn phá rất mạnh đối với vùng bờ Từ trung tâm của một cơn bão biển nào đó, sóng lừng truyền đi khá xa đến hủy hoại một vùng bờ cách đó hàng ngàn cây số Ở Pêru người ta đặt tên cho vùng biển của họ hay gặp loại sóng này là Mar-brava, tức là

“Biển Điên”

Những sóng gây ra do động đất hay sự phun trào của núi lửa dưới đáy biển gọi là sóng thần (tsunamis), gây ấn tượng mạnh nhất Chúng có bước sóng rất dài,

Trang 19

có thể đạt độ cao 30m so với mực nước biển và lan truyền nhanh, đôi khi với tốc

độ 1700km/giờ Ở đại dương sóng này chỉ làm cho tầu lắc nhẹ, khó thấy nhưng càng vào gần bờ, sóng càng cao và càng hung dữ Trong thời gian phun trào của núi lửa Cracatau (1883), trên biển hình thành sóng thần Một ngọn sóng đã hất một pháo thuyền đậu ở bờ nam đảo Sumatra (Inđônêxia) vào sâu trong đất liền 23km lên độ cao 9m Một ngọn sóng khác đổ bộ vào vùng bờ thấp ở Meraca trên đảo Java (Inđônêxia) đạt độ cao thần thoại – 38m, tương đương với ngôi nhà 12 tầng

Cuộc tranh chấp giữa biển và lục địa diễn ra lúc thì gay gắt, lúc thì thầm lặng nhưng rất quyết liệt, trong đó còn có sự can thiệp của con người chống lại lục địa, nơi con người được sinh ra và được nuôi dưỡng Trong cuộc tranh chấp này, biển đem mây mưa trút xuống lục địa Những cơn mưa rả rích kéo dài hay những trận mưa như trút nước trong các cơn giông bão là những cái chổi thần kỳ, quét khỏi mặt đất mọi lớp mầu mỡ để ùn ùn đưa ra biển Những trận thủy chiến như thế diễn ra triền miên, tới hàng tỷ năm rồi Các đỉnh núi, cao nguyên, vùng đất trồng, đồi trọc… bị bóc mòn từng lớp, từng lớp trong khi đó đáy biển được lấp dần bằng những “chiếm lợi phẩm” do biển công phá lục địa, dày tới hàng ngàn mét Tất nhiên, để chống lại, đất phải dựng lên các chiến lũy Đó là những thảm rừng biếc xanh Rừng ngăn cản sự tàn phá của mưa lũ, chống sói mòn và bảo vệ

độ mầu mỡ của đất Từ đó cuộc tranh chấp giữa biển và lục địa trở nên cân bằng Song, khi nhân loại trở nên đông đúc, những đòi hỏi nguồn tài nguyên thiên nhiên cho cuộc sống của mình ngày một cao, con người đã đốn hạ rừng, san bằng các

“chiến lũy” mà đất dựng lên, tạo ra hàng triệu ha đất trồng đồi trọc… để cho biển lại hủy hoại đất ngày một mãnh liệt Trên lãnh thổ nước ta, rừng trên cạn bị thu hẹp tới con số báo động (dưới 30% độ che phủ), rừng ngập mặn ven biển chỉ còn lại rừng thứ sinh và mới trồng với diện tích khoảng 50% so với nửa thế kỷ trước

là những bằng chứng về tội lỗi của con người đối với đất

Cùng với sóng cả và mưa thường xuyên công phá đất liền, những cơn lốc chợt đến, chợt đi và những trận bão nhiệt đới gần như xuất hiện có chu kỳ hàng

Trang 20

năm thường gây nên những tai họa lớn cho các tỉnh duyên hải và những vùng lân cận

Theo thống kê nhiều năm (Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc, 1993), khoảng 40% số cơn bão được hình thành ở Biển Đông và Thái Bình Dương đổ bộ vào bờ biển nước ta trong khoảng thời gian từ tháng VI đến tháng XII Bão đi vào các tỉnh duyên hải miền Bắc thường sớm hơn Càng dịch xuống phía nam, bão muộn dần và đến đều giảm Tây Nam Bộ hầu như không có bão Nhiều cơn bão gây ra gió rất lớn, tới 40 – 50m/giây, nghĩa là khoảng 144 – 180km/giờ ứng với gió trên cấp 12, kèm theo mưa to (200 – 400mm) có khi rất to (500 – 600mm hoặc hơn nữa) Sự kết hợp gió mạnh với mưa lớn trên một vùng rộng thường gây

ra những thiệt hại đáng kể cho sản xuất và đời sống

Gió bão còn cuốn theo một khối nước khổng lồ, làm mực nước biển dâng cao 1,5 – 2,0m so với mực nước bình thường, nhất là ở tâm bão Khi vào đất liền, những “cây nước” được bão mang theo phá phách rất mãnh liệt Trong trận bão lịch sử ngày 21 – 9 – 1955 đổ bộ vào địa phận Hải Phòng – Kiến An đã dìm sâu một vùng rộng lớn nằm sâu trong đất liền 10 – 12km xuống dưới lớp nước mặn dầy 2 – 4m Bão gây ra gió giật và đổi chiều, kéo dài từ 6 đến 15 – 16 ngày với các cấp gió khác nhau Do vậy, nhiều công trình xây dựng, đê kè, cột điện, cây cối… bị đổ gãy, đồng ruộng, làng mạc bị ngập chìm Những thiệt hại tính được rất to lớn, phải nhiều năm mới bù đắp nổi

Bên cạnh những tác hại do các điều kiện cơ học của biển gây ra, nước biển

và sinh vật biển còn hủy hoại các công trình trên biển bằng các cách riêng của mình Quá trình ăn mòn của nước biển hay sự đục phá của các sinh vật biển diễn

ra một cách chậm chạp và âm thầm song không kém gay gắt Nước biển và sinh vật biển hợp tác với nhau làm mục ruỗng các công trình bằng gỗ như tầu, thuyền, cọc đê kè, cầu cảng Khi bám vào vỏ tầu, rong tảo, giun, hầu, hà… không chỉ làm hoen gỉ vỏ sắt, tạo điều kiện cho nước mặn “gặm, nhấm” kim loại mà còn làm tăng trọng tải của tầu, làm giảm tốc độ tầu tới 50%, đồng thời làm tốn thêm đến 30% nhiên liệu, nhất là ở các vùng biển nhiệt đới Sinh vật biển còn gây hiện

Trang 21

tượng nước phát sáng khi tầu thuyền di chuyển ban đêm Đây cũng là một trong những trở ngại đối với các hoạt động quân sự trên biển

Nói chung, những tác hại do biển gây ra cũng rất đa dạng và nghiêm trọng Song, trong cuộc sống của mình, con người cũng dần nhận thức được và dần biết chế ngự để từng bước chinh phục biển một cách có hiệu quả hơn, mặc dầu, đến nay trước chúng ta, biển và dại dương còn chứa đựng bao điều bí mật

CHƯƠNG II TÀI NGUYÊN BIỂN 2.1 Dòng năng lượng và chu trình khoáng chất

Biển Đông là một hệ sinh thái khổng lồ Trong quá trình phát sinh và phát triển, Biển Đông đã trải qua bao biến đổi cực kì lớn lao Sinh vật tồn tại trong biển cũng qua một quá trình tiến hóa lâu dài, dưới sự kiểm soát của quy luật chọn lọc tự nhiên, đã thích nghi với điều kiện sống muôn hình muôn vẻ tại đây Những quần xã sinh vật, tức là những sinh vật thuộc các loài khác nhau cùng sống trong một vùng nhất định (biotop),

có quan hệ với nhau trên cơ sở vật dữ và mồi, trong hoạt động sống của mình, khi tương tác với các điều kiện đặc trưng của biển đã tạo nên chu trình vật chất và sự chuyển hóa năng lượng với quy mô hành tinh, lôi cuốn mọi nguyên tố hóa học, mọi vật chất vào vòng luân chuyển để tạo ra khối lượng lớn các chất hữu cơ dưới dạng thực vật và động vật

Biển Đông nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa điển hình, có thềm lục địa rộng lớn, đồng thời đặc trưng bởi khu hệ sinh vật giàu có thuộc vùng An Độ – Tây Thái Bình Dương Đó là ưu thế để tạo nên tính đa dạng sinh học (Biodiversity) và sự hình thành năng suất sinh học ccao của Biển Đông so với các vùng biển khác trên thế giới

Theo các số liệu quan trắc, hàng năm, Biển Đông có số lượng ngày nắng gắt, chẳng hạn, ở ven biển Bắc Bộ thường là từ 1400 đến 1600 giờ, ven biển Phan Thiết

2414 giờ và thành phố Hồ Chí Minh – 1983 giờ, đồng thời trên một xentimet vuông bề mặt biển, trung bình hằng năm nhận khoảng gần 200Kcal năng lượng bức xạ Mặt trời Trong khi đó ở các biển thuộc các vĩ độ cao, năng lượng đó giảm đi nhiều: 80Kcal/cm2

Trang 22

đối với vùng cực và 120-160Kcal/cm2 đối với các vùng biển ôn đới Đối với Biển Đông cũng như mọi nơi khác của miền nhiệt đới và xích đạo, nguồn năng lượng này quả là giàu có mà chúng ta chưa có những thấu kính khổng lồ để thâu tóm, biến nó thành các dạng năng lượng khác phục vụ cho đời sống, cho nên chúng ta đành để lãng phí! Hoàn toàn không phải do ta chưa có ngành quang học hiện đại để chế tạo thấu kính mà chính chúng ta chưa có ý thức sử dụng nguồn năng lượng này một cách hữu hiệu Một mét vuông đồi trọc được phủ xanh, một mặt nước được nuôi cấy các thực vật thích hợp thì trên một diện tích lớn của lục địa, đầm hồ, thềm biển… chắc chắn sẽ thu được nguồn năng lượng khổng lồ dưới dạng các hợp chất hữu cơ chứa năng lượng

Ngoài năng lượng chủ yếu của mặt trời, Biển Đông còn nhận được những nguồn năng lượng khác dưới các dạng nhiệt của bản thân Trái Đất, của các quá trình hóa sinh

và sự phân hủy các chất phóng xạ

Tất nhiên, toàn bộ năng lượng mà biển tiếp thu được từ bức xạ Mặt Trời và từ những nguồn khác, đã làm cho khối nước ấm lên, làm cho các chất hữu cơ được thành tạo bởi các quần xã sinh vật Bức xạ Mặt Trời, khi xâm nhập vào biển, thường bị hấp phụ một cách mau chóng ngay trên lớp nước bề mặt Ở những vùng biển khơi, độ trong lớn, lớp màng (khoảng 1cm) đã nhận khoảng 27% tổng lượng bức xạ Ở lớp dày 1m năng lượng bị hấp thụ tới 62%, chỉ còn khoảng 0,45% có thể xâm nhập xuống lớp sâu 100m

Tại vùng gần bờ, do ảnh hưởng của nước lục địa, độ trong giảm, năng lượng bức

xạ bị hấp phụ hầu như hoàn toàn ngay trên các lớp nước tầng mặt Ở những độ sâu 30m chỉ còn nhận chừng 1% tổng lượng của nó Chính vì thế, tầng nước giàu có của biển và đại dương không nằm ở dưới những lớp nước sâu, mà thường tập trung trên tầng nước từ 0 đến 50-60m hoặc sâu hơn một chút đối với vùng nước trong Ở những độ sâu này, nhiệt độ không quá thấp, lại có đầy đủ ánh sáng nên thực vật thủy sinh có điều kiện phát triển, tạo ra cái gọi là tầng sinh dưỡng Tất nhiên, với độ sâu nước thuộc thềm lục địa và tầng mặt (epipelagic) của các biển và đại dương

15-Bức xạ Mặt Trời, khi xâm nhập vào biển, đã mau chóng hâm nóng lớp nước bề mặt Nước truyền nhiệt rất kém, bởi vậy, nếu như không có các quá trình khác hỗ trợ thì

sự chênh lệch nhiệt độ giữa những lớp nước bề mặt và sâu dưới đáy đại dương quả là rất lớn Tuy nhiên, trong biển cũng có quá trình điều hòa nhiệt độ mà chính nhờ quá trình

đó, dưới đáy sâu các biển và đại dương không có cảnh băng giá và hoang vắng như những sa mạc chết Đối với sự điều hòa nhiệt giữa các lớp nước, các dòng giữ vai trò rất

Trang 23

quan trọng Có thể coi chúng là nhân tố chủ yếu phân bố lại nhiệt trong các biển và đại dương theo chiều ngang cũng như chiều thẳng đứng

Theo các số liệu điều tra ở Biển Đông, vào thời kỳ mùa khô, tại khơi đảo Hải Nam sự chênh lệch về nhiệt độ nước giữa các lớp nước mặt và sát đáy là 4,80C; vào mùa mưa, trị số đó cao hơn gần gấp hai lần Tại các nơi khác như khởi Cửu Long, vịnh Thái Lan, khơi Boocnêo và Sumatra, tương ứng với các mùa, sự chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy thấp hơn nhiều, thường là: 3,3-3,7oC; 1,2-1,9oC; 6,2 và 1,6oC trong khi nhiệt độ nươc sở tầng đáy của các vùng kể trên không quá lạnh, trung bình dao động

từ 19,6 (khơi Hải Nam) đến 27,2oC (khơi Sumatra) (Kyoshi Maru, 1968 – 1974)

Sự trao đổi nhiệt giữa các lớp nước ở gần bờ xảy ra mạnh mẽ hơn còn do sóng và thủy triều Đối với vùng nước ngoài khơi, trừ những nơi xuất hiện dòng nước trồi hoặc nước lặn, thường trong tầng nước hình thành sự phân tầng của nhiệt độ Lớp nước trên mặt có nhiệt độ cao hơn một lớp nước đệm, mà ở đó có sự thay đổi đột ngột của nhiệt

độ Lớp nước đệm này đối với các vực nước miền ôn đới thường xuất hiện vào thời kỳ xuân – hè Đến đầu mùa thu, lớp nước bề mặt lạnh dần và chìm xuống, nước đáy lại trồi lên, xóa hẳn sự chênh lệch nhiệt độ giữa các lớp Còn trong các vùng biển ở vĩ độ thấp, lớp nước đệm tồn tại quanh năm Lớp này, nói chung thường nằm cách mặt nước 50-60m hoặc sâu hơn nữa, được coi là một ngăn cách sinh học đối với các nhóm sinh vật thích ứng với các chế độ nhiệt khác nhau đồng thời cản trở sự xáo trộn thẳng đứng của khối nước Do vậy, năng lượng sinh học của các lớp nước tầng mặt thấp vì thiếu nguồn muối bổ sung từ đáy lên

Bên cạnh kho năng lượng quý báu có nguồn gốc vũ trụ ấy, Biển Đông còn nhận nguồn vật chất dồi dào từ lục địa Đó là muối khoáng, những nguyên liệu cần thiết để xây dựng nên cơ thể của mọi sinh vật

Từ quá khứ xa xăm hàng tỷ năm về trước, những trận mưa lớn kéo dài thế kỷ, rồi sau này những trận mưa trung bình, rả rích cùng với những cơn giông, bão…, nước đã bào mòn mặt đất và lôi cuốn vào biển tất cả những màu mỡ, rất giàu muối khoáng Do vậy, biển có đủ mặt những gì mà mặt đất có, ngoài những sản phẩm riêng của mình Hơn nữa, theo nguyên tắc nước chảy chỗ trũng, lượng muối được tích tụ trong biển còn cao hơn nhiều so với một số vùng trên mặt đất Muối khoáng trong biển rất đa dạng, bao gồm hầu hết các nguyên tố hóa học có trong bảng tuần hoàn Menđêlêev Muối chính của nước biển là muối ăn (NaCl) Muối ăn cùng với các muối của nhóm halogen làm cho nước biển có vị mặn, chát nồng Song, quan trọng hàng đầu với đời sống của thủy sinh

Trang 24

vật là các muối nitơ, phospho, silic, kali, canxi, mangan, manhê, đồng, sắt, brôm, I ốt,… hòa tan trong nước

Thông qua sự trao đổi chất, sinh vật lấy nguyên tố hóa học dưới dạng muối từ môi trường để xây dựng cơ thể Ngoài cacbon, hydro, oxy chứa trong cacbonic và nước, những thành viên tham gia vào quá trình quang hợp, tạo nên đường thì nitơ, lưu huỳnh hình thành nên các protit Phospho có mặt trong axit quan trọng, axit nuclêic, đảm bảo nhiệm vụ truyền đạt các thông tin di truyền Phospho còn có trong ATP (andenozin triphosphat), chất tích tụ năng lượng cho chất sống Silic tham gia vào thành phần vỏ của tảo silic v.v…

Nhiều các nguyên tố khác, tuy không chứa khối lượng lớn trong cơ thể, nhưng sự

có mặt của chúng lại có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hoạt động sống của sinh vật: sắt trong phân tử của hemoglobin, manhê trong phân tử của clorophin, những chất khác trong thành phần của các men, các hocmôn v.v…

Muối có vị trí lớn như vậy đối với đời sống của sinh vật nên những nơi nào nghèo muối, nơi đó có sự sống nghèo nàn, nơi nào giàu muối, nơi đó sự sống trở nên sôi động và phong phú hơn

Biển nhận muối khoáng từ nhiều nguồn Một số muối được hình thành bởi những phản ứng hóa học, dưới tác dụng của một dòng điện mạnh trong những tia chớp xanh lè của những cơn giông Một số xuất hiện do những thiên thể bay vào tầng khí quyển dày đặc, bị bốc cháy rồi lả tả rơi xuống mặt biển và đại dương Những loại loại muối được hình thành như vậy đều gộp vào một nhóm muối có nguồn gốc vũ trụ Có một số muối lại xuất hiện sau những trận phun trào của núi lửa, số khác có nguồn gốc sinh học, nghĩa

là được tạo ra do hoạt động sống của sinh vật hoặc do sự hủy hoại của những cơ thể đã chết

Song, nguồn muối của biển và đại dương như trên đã nói tới, chủ yếu có nguồn gốc từ lục địa Lượng muối này có khối lượng rất lớn, tạo nên sự giàu có của biển và đại dương

Trên dọc bờ phía tây của Biển Đông, hai hệ thống sông lớn: sông Hồng và sông Cửu Long cùng với bao con sông khác, hằng năm cung cấp cho biển hàng trăm tỷ mét khối nước ngọt cùng hàng trăm triệu tấn cát, phù sa giàu có các loại muối dinh dưỡng

Người ta tính rằng, trong một mét khối nước của sông Hồng chứa tới 14,0g đạm

và 2,8-3,5g mùn, còn nước của sông Cửu Long trung bình chứa 2,4g đạm và 0,6g lân và các muối hòa tan khác như canxi, manhê v.v (Nguyễn Viết Phổ, 1983) Và như vậy, các

Trang 25

hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long với tổng lượng nước tương ứng hàng năm 140-500

tỉ mét khối đã chuyên chở vào Biển Đông và những vùng châu thổ của nó khoảng 1,96.106 – 1,2.106 tấn đạm nguyên chất

Rõ ràng, các dòng sông, không chỉ làm nên những cánh đồng màu mỡ ở hai đầu đất nước, như hình ảnh một gánh lúa đầu mùa mà còn như dòng sữa mát nuôi sống cả thế giới sinh vật Biển Đông, tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và tiềm tàng trong tầng nước cũng như trong lòng đất và trên bề mặt của thềm lục địa

Do nhận được lượng muối khổng lồ từ các nguồn khác nhau, tầng nước Biển Đông bao quanh lục địa nước ta rất phì nhiêu, không kém những vùng đất màu mỡ của các châu thổ Ở nhiều nơi, người ta thấy, hàm lượng các muối chứa nitơ vượt quá mức bình thường, trên 20 mgN/m3 (muối nitrit) Muối silic dao động trong khoảng từ 10 đến 100mg Si/m3 nước Muối phospho có số lượng thấp hơn nhưng cũng không dưới vài ba chục miligam (tính theo P2O5) trong một mét khối nước

Những sinh vật của Biển Đông do đó, đã tắm mình trong dung dịch thức ăn, chứa chan ánh sáng, chẳng như những cây xanh trên mặt đất phải cố vươn cành, xòa tán để đón ánh nắng mặt trời và buộc phải kéo dài bộ rễ, cắm sâu vào lòng đất để chắt chiu nguồn vật chất nghèo nàn vẫn đang mất dần do bị rửa trôi và kết vón

2.2 Thực vật và sản lượng sinh vật sơ cấp

Dọc bờ biển nước ta, từ vùng trên triều đến vùng dưới triều đều có những thuận lợi cho đời sống của nhiều tảo bám Đến nay, theo các tài liệu tổng kết (Nguyễn Văn Tiến, 1994) trong vùng nước ven bờ đã phát hiện được 653 loài rong biển, 24 biến loài,

20 dạng, trong đó ở miền Bắc có trên 300 loài, còn ở miền Nam – trên 500 Ngành rong

Đỏ thường đa dạng nhất, chiếm ưu thế về số lượng loài (310 loài), sau là rong Lục (151 loài), rong nâu (124 loài), rong Lam có số lượng loài ít nhất Trong chúng, 90 loài (gần 14% tổng số) là những đối tượng kinh tế quan trọng cho các ngành công nghiệp hóa chất, dược liệu, thực phẩm, thức ăn cho chăn nuôi và dùng làm phân bón Các loài thuộc rong Câu (Graccilaria) và rong Nữ (Sargassum) thường có giá trị bậc nhất như rong câu

chỉ vàng (G.asiatica), rong câu thắt (G.blodgettii), rong đông (Hypnea japonica, H.boergesenii), rong mơ sừng (S.siliquosum), rong mơ lá tiêm (S.meclurei), rong mơ phao cánh (S.kjellmanianum), rong mơi nhánh bó (S.polycystum) v.v…

Trang 26

Mặc dù phong phú về số lượng giống, loài, sự phát triển về sinh vật lượng của từng loài hay nhóm loài còn tùy thuộc vào điều kiện môi trường nơi chúng sống như nền đáy, các vật thể để bám, đặc điểm của khí tượng thủy văn

Ở những vùng nền cứng (đá, cuội, sỏi, san hô…) số lượng loài rong thường đa dạng nhất, gồm rong mứt, rong gai, rong du, rong guột, rong thun thút, rong đông, rong đại, rong mơ, rong thạch, rong câu v.v… Ngược lại, những vùng đáy mềm thuộc các bãi ven sông, nhất là nơi trống trải, sóng mạnh, số lượng các loài rong giảm đi nhanh chóng

vì chúng thiếu vật bám, nền đáy lại kém ổn định Những loại đặc trưng cho vùng này là rong guột, rong bún, rong câu v.v…

Ở những vùng đáy đá, rong tập trung cao nhất tại phần trên của đới dưới triều, ở những đới cao hoặc thấp hơn đới này sinh vật lượng của rong đều giảm Ở đây, các loài

ưu thế đều thuộc giống rong Moư Chúng hình thành những dải hay “rừng” rậm rạp Rong mơ sinh trưởng khá tốt, kích thước tới vài ba mét Trên diện tích một mét vuông mật độ rong mơ đạt đến 200-300 bụi và cho sản lượng bình quân gần 1,0 kg trọng lượng khô Trữ lượng chung cuarong mơ thuộc vùng biển nước ta được đánh giá khoảng 30

000 – 35.000 tấn, trong đó riêng loài Sargassum meclurei chiếm 30% trữ lượng Nơi có tiềm năng lớn nhất là Quảng Ninh (trên 12.000 tấn) và vùng biển từ Ninh Thuận đến Khánh Hòa (15.000 tấn)

Sau rong mơ là rong câu Rong câu ưa sống ở vùng triều, tập trung ở triều giữa

và triều thấp, nơi chất đáy là cát bùn, có nhiều vật bám Nhiều loại rong câu phát triển rất thuận lợi trong các đầm nước lợ, nồng độ muối thấp và ít sóng gió Những vùng như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Hà, Thanh Hóa, Thừa Thiên – Huế có nguồn lợi rong câu

tự nhiên khá phong phú Trong số những loài rong câu thì rong câu chỉ vàng có giá trị hơn cả, không chỉ vì hàm lượng agar cao mà nó còn phân bố khá phổ biến và cho sản lượng tự nhiên đáng kể

Rong câu chỉ vàng hay rong câu nói chung, có nguồn gốc ôn đới, sống nhiều năm với dạng sống bám và không bám, phân bố chủ yếu ở độ sâu từ 0,30 đến 1,0m Chúng phát triển nhanh vào mùa lạnh và tàn lụi vào mùa hè

Trong các đầm nước lợ thường xuyên ngập nước, ít vật bám, rong câu có những biến đổi về các đặc điểm sinh học và có thể phát triển quanh năm Ở vùng triều, rong có chu kỳ phát triển tròn một năm và mùa sinh sản từ tháng II đến tháng III còn mùa khai thác với sản lượng cao tập trung vào tháng III-IV và IX-X hàng năm

Trang 27

Nhìn chung, trên các bãi triều mật độ của rong câu thấp hơn rong mơ, có nơi đạt 20-25 cụm/m2 và cho sản lượng từ 10 đến 13kg tươi Trữ lượng chung của rong câu dọc

bờ biển nước ta được đánh giá khoảng 7 000 – 9 300 tấn tươi, trong đó rong câu chỉ vàng (Gracil-laria asiatica) chiếm tỉ trọng lớn nhất, 7000 – 8000 tấn (Nguyễn Văn Tiến, 1994)

Hiện tại, trong cả nước có khoảng 12.000 – 17.000 ha diện tích thuận lợi cho việc trồng rau câu Nếu diện tích trên được đưa vào sản xuất thì hàng năm có thể nâng sản lượng rong câu lên 2.500 – 3.000 tấn khô

Rong biển có tầm quan trọng riêng trong các đặc sản Ngoài giá trị thực phẩm, rong biển còn là nguồn nguyên liệu quý để khai thác các hóa chất như agar, alganat, mannitol v.v… Ở rong mơ, hàm lượng axit algenic lên tới 30-40%, hàm lượng mannitol – 4,0 – 16,7% Hàm lượng iod của các loài thuộc rong nâu dao động từ 0,05 đến 0,33% Trong các lài rong còn phát hiện được hàng loạt các nguyên tố hóa học khác như nhôm (Al), silic (Si), manhê (Mg), canxi (Ca), stronti (Sr), bari (Ba), sắt (Fe), mangan (Mn) titan (Ti), coban (Co), niken (Ni), crom (Cr), đồng (Cu), chì Pb), kẽm (Zn) v.v… với hàm lượng từ 1 phần 10 vanjd đến 1 phần nghìn tính theo trọng lượng tro Chính vì lẽ

đó, trong nhiều thế kỷ, các loại hóa chất như brom, iod, kali, … hầu như chỉ được khai thác từ rong biển Hiện tại, nhiều loại hóa chất khác như vật biển quan trọng này để cung cấp cho các ngành công nghiệp (dệt, in hoa, thuộc da, đồ hộp, bánh kẹo), hóa dược

và nông nghiệp)

Ngoài các công dụng trên, ở nhiều nước rong biển còn được dùng phổ biến làm thức ăn và phân bón Bột rong biển có hàm lượng chất dinh dưỡng cao: 6% đạm, 14% đường, 2% mỡ, 18% chất khoáng

Với tầm quan trọng như thế, rong biển không chỉ khai thác tự nhiên mà còn được trồng trong các đầm nước lợ Năng suất trồng hiện nay còn thấp, trừ những đầm thực nghiệm với năng suất dao động từ 2 đến 4 tấn rong khô trên một ha năm Trong khu vực

và trên thế giới, một số nước trồng rong câu thâm canh đạt năng suất thu hoạch khá cao như Đài Loan (7-12 tấn khô/ha/năm) Canada, Chi Lê, Mỹ (8-10 tấn khô/ha/năm)

Nghề trồng rong câu hay rong biển nói chung, ở nước ta còn gặp nhiều vấn đề nan giải Đó là những quy trình nuôi trồng tăng sản hoàn chỉnh, nhất là trồng rong câu bằng bào tử, diệt trừ rong tạp, để phòng dịch bệnh Nuôi trồng với quy mô lớn và thâm canh nhằm đạt năng suất cao là con đường mà nhiều nước đang vươn tới

Trang 28

Ngoài những thực vật bậc thấp sống đáy (Phytoben-thos) hay sống phụ sinh

(Epiphyta) trên các bãi biển, các sình lầy, cửa sông (Estuary) còn xuất hiện các dạng

thực vật bậc cao, ưa mặn, thích nghi với cảnh “nửa nước, nửa đất” của vùng triều như

sú, vẹt, trang, đước, mắm, bần… tạo nên cảnh sắc đặc trưng cho vùng bờ biển nhiệt đới Đối với đời sống của biển và đại dương cây ngập mặn không đóng vai trò gì đáng kể Song, sự quần tụ của chúng trên các bãi đất mới bồi cửa sông, trên các sình lầy và bãi triều ven biển lại có những giá trị to lớn khác Sú, vẹt, mắm, bần, trang, đước … hình thành nên “đê, kè” chắn sóng, chống lại sự bào mòn của biển đối với lục địa, đồng thời còn là công cụ của đất liền tiến chiếm đại dương Cây ngập mặn tập trung thành rừng, kéo theo chúng là chim trời, cá nước, trăn, rắn, thú rừng… tạo nên một hệ sinh thái đặc trưng, ổn định trong điều kiện bất ổn định của các nguyên tố yếu tố môi trường – Hệ sinh thái rừng ngập mặn (Mangrove Ecosystem)i

Rừng ngập mặn trên giải bờ biển nước ta trước đây khá sầm uất, chiếm một diện tích khoảng 400 000 ha, trong đó 250 000 ha tập trung ở Nam bộ, nhất là bán đảo Cà Mau (Maurand, 1943) Cũng tương tự như rừng trên lục địa, đến nay rừng ngập mặn bị thu hẹp đáng kể, chỉ còn khoảng 252 500 ha mà chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng trồng và rừng cây bụi (Viện Điều tra quy hoạch rừng, 1983) Nạn mất rừng gây ra bởi nhiều lẽ Trong cuộc chiến tranh vừa qua, Mỹ đã trải chất độc hóa học, bom đạn nhằm biến rừng

để lấy gỗ, đốt than, lấy đất cho nông nghiệp, định cư và mở rộng diện tích cho các vuông tôm quảng canh Rừng ngập mặn dù ở phía nam hay phía bắc đang đứng trước nguy cơ bị hủy diệt

Tùy thuộc vào điều kiện sinh thái từng vùng, rừng ngập mặn mỗi nơi mỗi khác Rừng thuộc các tỉnh ven biển phía bắc thường nghèo nàn, phát triển cằn cỗi, song ở Nam bộ, được thừa hưởng nền nhiệt độ cao và những điều kiện thuận lợi khác,trang, đước, mắm, bần… tạo nên những giải rừng lớn điển hình đối với vùng bờ biển đước làm cho thiên nhiên tây Nam Bộ có những vẻ đẹp hùng vĩ Trước đây, ai đã từng qua đây đều ghi nhận được những ấn tượng sâu sắc của một cuộc sống rất sôi động và đầy thi vị: con nước triều hối hả từ cửa sông tràn vào các kênh rạch, luồn lạch qua rừng cây Nước lên, các sình lầy đầy nước, lòng sông được mở rộng, các tán cây dường như lún dần và chụp lên mặt nước Không gian trở nên bao la, tạo ra vẻ đẹp hùng vĩ mỗi buổi sớm chiều

Vai trò quan trọng nhất của thực vật trong đời sống của biển và đại dương thuộc

về thực vật nổi (Phytoplankton) Chúng là những cơ thể đơn bào sống đơn độc hay tập

Trang 29

đoàn với kích thước rất nhỏ mà mắt thường khó bề nhìn thấy(Hình 2.1) Sự tồn tại và phát triển của chúng trong nước dưới ánh sáng Mặt Trời tạo cho biển một màu xanh dịu – màu xanh nước biển

Hình 2.1: Một số đại diện của các chi thực vật nổi trong biển

Biển Đông hay đúng hơn trong vùng nước thềm lục địa bao quanh nước ta đến nay đã phát hiện được gần 540 loài thực vật nổi thuộc 4 ngành: tảo Kim (Silicoflagellata), tảo Lam (Cyanophyta), tảo giáp (Pyrrophyta) và tảo Silic

(Bacillariophyta) Tuy nhiên, tùy theo tính chất của mỗi vùng mà số lượng loài của mỗi

ngành có đổi thay Tùy theo thời gian trong năm, chế độ thủy lý, thủy hóa của nước thay đổi mà nhóm loài này xuất hiện thay thế cho những nhóm loài khác

Theo số liệu điều tra tổng hợp vịnh Bắc bộ của đoàn nghiên cứu Việt Xô (1960 – 1961), ở vịnh Bắc Bộ bước đầu ghi chép được 103 loài, trong đó 61 loài thuộc tảo Silic

Trang 30

và 33 loài thuộc tảo giáp Đến nay, những nhà khoa học Việt Nam đã bổ sung một danh sách các loài tảo khá đầy đủ với gần 320 loài, riêng tảo Silic có 230 loài (Chiếm 72,3%)

và tảo giáp 84 loài (26,4%), tạo nên băng suất sơ cấp cho vùng nước thềm lục địa

Ở các vùng phía nam, bao gồm biển miền Trung, đông và tây Nam bộ, những nghiên cứu thuộc Viện Hải dương học Nha Trang và của các nhà khoa học khác (Hoàng Quốc Trương, 1962, Shirota, 1966, v.v…) đã phát hiện được 468 loài Tảo Silic cũng là ngành ưu thế nhất, chiếm gần 65% số lượng loài, sau đó là tảo giáp (34%) Tảo Kim rất hiếm, chỉ từ 1 (vịnh Bắc bộ) đến 2 loài (các biển phía Nam)

Tại các xoang nước gần bờ, đặc biệt là ở các vùng cửa sông do ảnh hưởng của khối nước lục địa đổ ra, thành phần tảo có những nét khác biệt, liên quan với sự xuất hiện phong phú hơn của các đại diện thuộc tảo lục, tảo Lam, và sự suy giảm số lượng các loài tảo Silic và tảo giáp Ngay trong tảo Silic là nhóm tảo chiếm ưu thế trong khu

hệ thực vật nổi, tảo Silic Lông chim (Pennatea) có số loài đông hơn so với tảo Silic Trung tâm (Cuntricea), nhất ở phần đầu của vùng cửa sông Trong mùa lũ, ở vùng nước ven bờ trước châu thổ Bắc bộ do nước bị ngọt hóa ta có thể gặp hàng loạt các đại diện

thuộc chi Ulothrix, Rhizoclonium, Spyrogyra, Closterium, Merismopedia v.v… đặc trưng cho nhóm tảo nước ngọt Đôi khi, những loài tảo này phát triển khá mạnh, bổ

sung thêm sự giàu có cho vùng nước cửa sông và ven biển kế cận (Vũ Trung Tạng, 1994)

Những trận mưa hè qua đi, lũ mất dần, khi dòng sông chỉ còn mang lượng nước ngọt ít ỏi của mình ra biển thì nước mặn lại chiếm lĩnh toàn bộ phần thấp của vùng cửa sông và vùng nước sông và tảo biển điển hình Chúng đua nhau sinh sôi, nảy nở, tạo nên đỉnh cao của sự phát triển trong năm Nhiều đại diện của tảo Silic như Rhizosolenia

acuminata, Rh.crassispina, Planktonell sol v.v… còn gây ra hiện tượng “hoa nước” (Vũ Trung Tạng, 1994)

Tại vùng biển trước các nhánh của hệ thống sông Cửu Long và đặc biệt phía tây

Cà Mau, nhất là vào thời kỳ mùa mưa, thành phần các loài tảo mang tính chất của khu

hệ thuộc vùng biển bị ngọt hóa Mặc dù số lượng các loài tảo Silic và tảo giáp vẫn chiếm ưu thế, phần lớn các loài là những dạng ưa ấm, rộng muối

Những loài có nguồn gốc đại dương, hẹp muối xuất hiện chủ yếu trong thời kỳ mùa khô từ tháng XI đến tháng IV hàng năm hoặc ở nơi nước sâu hơn có độ muối cao

và ổn định Ở ven biển nam Trung bộ không nhiều các hệ thống sông lớn, thềm lục địa lại hẹp, độ sâu lớn nên đặc tính của khối nước gần với khối nước biển khơi, nhất là

Trang 31

trong thời kỳ mùa khô Do vậy, thành phần của khu hệ thực vật nổi hoàn toàn khác biệt với những vùng bị ngọt hóa nêu trên Tảo silic và tảo giáp ở bất kỳ thời điểm nào cũng đều chiếm ưu thế tuyệt đối, hơn nữa, chúng gồm chủ yếu các dạng đại dương điển hình

như Chaetoceros atlanticus, Ch.densus, Ch.denticulatus, Ch.peruvianus, Bacteriastrum commosum, Rhizosolenia robuta, Rh.acuminata, Rh.crassispia, Planktonella sol, v.v Chẳng hạn, trong vịnh Nha Trang, ngoài sự bổ sung cho công trình trước đó của Ross

(1926) nhiều loài, C.Dawydoff còn thống kê toàn bộ được 36 giống và trên 60 loài tảo, trong đó có 40 loài tảo giáp và 22 loài tảo silic Những nghiên cứu sau này chỉ ra rằng,

số lượng các loài tảo trong vịnh cao hơn nhiều, riêng tảo Silic có trên 200 loài, tạo nên nguồn thức ăn có giá trị cho các loài động vật nổi

Thực vật nổi có vai trò quan trọng bậc nhất trong xích thức ăn của biển và đại dương Chúng phân bố chủ yếu ở lớp nước tầng mặt có đủ ánh sáng Nhờ bộ sắc tố, thực vật nổi tiếp nhận năng lượng bức xạ Mặt Trời để tổng hợp nên chất hữu cơ đầu tiên từ CO2, nước và muối khoáng thông qua hoạt động quang hợp

Quá trình quang hợp của thực vật nổi để tạo thành chất hữu cơ thực vật phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản: năng lượng bức xạ Mặt Trời trong phổ ánh sáng nhìn thấy, nguồn đioxit cacbon (CO2), và muối khoàng trong nước và đặc tính của quần xã thực vật

Ở biển, quang hợp được tiến hành tại 3 vùng mà ở đó nguồn năng lượng bức xạ thường không thấp hơn 0,18 Kcal/cm2/ giờ Với ngưỡng trên trong những xoang nước ven bờ, độ đục cao, quang hợp chỉ xảy ra tại lớp nước sát bề mặt từ 0 đến 2m hoặc mươi mét theo độ sâu Tại nhữn vùng xa bờ hơn, nước trong hơn, tầng quang hợp đạt đến độ sâu 30-40m, còn ở vùng nước khơi, độ đục đạt cực tiểu, tầng này kéo xuống tới độ sâu gần 100m

Hơn nữa, giới hạn bức xạ thấp nhất mà ở đó thực vật nổi có thể sinh trưởng được vào khoảng 1% của cường độ chiếu sáng bề mặt trong điều kiện được chiếu sáng đầy

đủ Tuy nhiên, ngay ở tầng nước sát quá cao lại giầu bức xạ của tia cực tím, nên cường

độ quang hợp của nhiều loài tảo giảm đi một cách nhanh chóng, bởi vì quá trình này đạt được cực đại chỉ trong điều kiện chế độ ánh sáng trong nước ở mức cực thuận (Optimum) đối với hoạt động của tảo Các nghiên cứu chỉ ra rằng, cường độ quang hợp tăng cường khi độ chiếu sáng tăng đến giới hạn 2000-4000 lux Khi độ chiếu sáng đạt cực đại 8000-10000 lux, thì cường độ quang hợp giảm xuống, chỉ còn 20-30% so với mức ban đầu

Trang 32

Liên quan giữa quá trình quang hơp của tảo và sự đồng hóa cacbon người ta cũng thấy rằng, ở những lớp nước có cường độ chiếu sáng không nhỏ hơn 400 lux, sinh vật lượng của thực vật nổi và sự đồng hóa cacbon cũng tăng lên Ở những lớp nước sâu, ánh sáng giảm dưới mức đó, quá trình quang hợp và sự sinh sản của tảo bị đình chỉ, còn hoạt động sống của chúng giảm dần, thực vật nổi cũng sẽ chết

Để tiếp nhận năng lượng từ bức xạ ánh sáng, các loài tảo có bộ sắc tố rất hoàn hảo, gồm tổ hợp các nhau của sắc tố xanh (clorophin a, b, c và d), phicobilin (phicoxianin, phicoerytrin v.v…) và carotinoit Tuy mỗi loài tảo, tùy nơi sống, các tổ hợp này thay đổi, chẳng hạn, nhóm sắc tố đầu tiên có hầu hết ở các loài vi khuẩn và thực vật Tảo Nâu không có clorophin a, b ít khi có clorophin c… Ngay các sắc tố cũng khác nhau về thành phần cấu trúc và phổ hấp thụ ánh sáng

Trong quang hợp các phần tử mang mầu đóng vai trò thu nạp năng lượng tử ánh sáng, truyền năng lượng hấp thụ được cho các trung tâm phản ứng Ở đó xảy ra các phản ứng quang hóa để khử CO2 Những dạng hấp thụ ánh sáng có bước sóng dài của clorophin a là những trung tâm như thế Sự truyền năng lượng từ bộ phận thu nạp lượng

tử vào các trung tâm phản ứng hầu như không gây nên sự phát tán năng lượng Phycobilin gặp ở thanh tảo là Phicoxianin có phổ hấp thụ cực đại trong giải sóng 500-

600 nanomet Chúng truyền năng lượng hấp thụ cho clorophin nhằm mở rộng cơ sở năng lượng cho quang hợp Hàng chục loại carotinoit huy động những phần khác nhau của phổ bức xạ cho quang hợp và đóng vai trò chủ đạo trong sự thích nghi của tảo với các điều kiện chiếu sáng khác nhau Do sự khác nhau về thành phần trong bộ sắc tố, những loài tảo phân bố rất khác nhau trong các vùng nước và cả theo chiều thẳng đứng Chúng chia nhau không gian để thu nhận tối đa nguồn năng lượng chiếu xuống tầng mà

ở đấy, thành phần của các tia đơn sắc thay đổi và cường độ chiếu sáng suy giảm một cách nhanh chóng theo sự tăng tiến của độ sâu

Trong quá trình tạo nên chất hữu cơ, ngoài năng lượng Mặt Trời, tảo rất cần các loại muối khoáng, nhất là các muối tạo sinh (Biogene) như N, P, K, Si… Một số muối như sắt, manhê, mangan… tuy chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu, các loài tảo không thể phát triển được Đó là các muối vi lượng Các muối khác cần cho thực vật tạo nên sản lượng cao như nitơ, silic… là những muối đa lượng Các loài tảo không chỉ đòi hỏi có đủ loại muối với hàm lượng cần thiết cho sự phát triển của mình mà còn đòi hỏi tỉ

lệ thích hợp giữa các loại muối Tuy nhiên, một điều ai cũng thừa nhận rằng, nơi nào giầu muối dinh dưỡng thì nơi đó các loài tảo phát triển phong phú, nơi nào nghèo muối

Trang 33

thì có bức tranh ngược lại Chính vì lẽ đó, ở vùng nước nông ven bờ, nơi tiếp nhận nguồn muối dinh dưỡng khổng lồ từ lục địa, năng suất sơ cấp giầu có hơn nhiều lần so với vùng nước khơi, xa bờ, tại vùng nước “trồi” muối được bổ sung từ đáy sâu, thực vật nổi cũng phát triển phong phú, kéo theo chúng, các loài động vật nổi và cá nổi cũng trở nên đông đúc, tạo ra ngư trường tốt cho các vùng biển

Trong các vùng biển nhiệt đới nói chung hay Biển Đông nói riêng, dòng năng lượng Mặt Trời trải xuống mặt biển quanh năm ít thay đổi, bởi vậy, thời kì sinh dưỡng của thực vật nổi kéo dài suốt năm và hoặc không hình thành cao phát triển hoặc liên tiếp

có những đỉnh cao phát triển trong các tháng với hiện tượng nước “nở hoa” thường xuyên

Trong vịnh Thái Lan hằng năm vào mùa hè, từ tháng IV đến tháng VIII, sau những cơn mưa nặng hạt, khi biển lặng và nhiệt độ nước cao, ở vùng bờ phía đông và

phía tây có tảo Lam (Trichodesmium) “nở hoa” Sau đấy một hai tháng Noctiluca cũng

“nở hoa” Tảo “nở hoa” chiếm một vùng đến 40 hải lý kể từ bờ, tạo thành những điểm

lớn và những dải rộng, nhanh chóng phủ kín một diện tích từ 5 đến 5000 hải lý vuông,

số lượng tế bào đạt đến trên một triệu trong một lít nước Sau những lần “nở hoa”, xác chết của tảo gây nên mùi hôi thối nồng nặc, có năm làm cho nhiều loài cá nổi và động vật đáy chết hàng loạt “Gurianova, 1972)

Ở vịnh Thái Lan trong chu kỳ năm có 2 lần nước “nở hoa’: một lần vào mùa hè (tối đa) và một lần vào mùa đông, liên quan đến hướng gió mùa thịnh hanh trong vùng

Đối với bờ biển miền Trung, đặc biệt ở trong vịnh Nha Trang, người ta cũng thấy hiện tượng phát triển đa chu kỳ của sinh vật nổi và không thấy có giai đoạn chuyển tiếp nào giữa các đỉnh cao phát triển Thực vật nổi ở đây sinh sản rất mau chóng, gây ra hiện tượng “nở hoa”, chúng đã biến nước của vịnh thành “cháo loãng” và một khối lớn các loài tảo chết đi đã bao phủ trên đáy cát, đá cuội, đá tảng một lớp bùn đày

Ở vịnh Bắc bộ, cuộc khảo sát (1960) của đoàn điều tra hợp tác Việt – Xô đã có nhận xét, hầu như suốt năm, người ta đều quan sát thấy hiện tượng “nở hoa” của thực vật nổi tại các vùng khác nhau của vịnh Mặc dù không dày đặc, song, hiện tượng “nở hoa” phân bố thành nhiều điểm lớn và thành những dải trên toàn vịnh Các đỉnh “nở hoa” tối đa rơi vào những tháng, những chỗ khác nhau

Mùa đông, vào tháng I-II, ta chỉ thấy tảo “nở hoa” ở nửa phía bắc vịnh Chúng

gồm chủ yếu những loài tảo Silic thuộc chi Chaetoceros, Coscinodiscus, Rhizosolenia v.v… Ở giữa vịnh, tảo phát triển khá mạnh, bao gồm một diện tích rộng lớn với lớp

Trang 34

nước bề mặt dày trên 25m Tại phần trung tâm vùng nước cạn phía bắc, vùng “nở hoa” trùng với vùng giàu muối khoáng ở lớp nước mặt do sự xáo trộn mạnh của lớp nước này với các lớp nước gần đáy ở bờ phía tây nhờ dòng chảy từ lục địa đổ ra

Vào tháng IV, khi vùng “nở hoa” mở rộng thì không những chỉ có tảo Silic mà còn có sự tham gia của các loài thuộc chi Oscillaria (tảo Lam) Tại phía Nam vịnh, người ta đã gặp các dải tảo Lam trôi lềnh bềnh trên mặt nước

Trong tháng VII-VIII, trên toàn vùng nước của vịnh đều có hiện tượng “nở hoa”

Ở nửa phần bắc vịnh, tảo Lam gây ra “nở hoa”, còn phía nam lại do các loài thuộc chi Bellerochia (tảo Silic), tảo Rhizosolenia dịch chuyển xuống xa hơn nữa

Vào tháng X tảo Lam và tảo Giáp nhường sự phát triển mạnh cho tảo Silic Những đại diện của chi Chaetoceros và Bellerochia gây hiện tượng “nở hoa” ở phần bắc và dọc bờ phía tây vịnh xuống phía nam, đến vĩ độ 18o40 Bắc

Chu kỳ năm của thực vật nổi trong vịnh Bắc bộ là đặc trưng đối với các vùng nước nông vùng nhiệt đới Cùng độ “nở hoa” của tảo trong vịnh cao chưa từng thấy, vượt quá chỉ tiêu “nở hoa” về mặt số lượng so với các vùng nước ở các vĩ độ (Gurianova, 1972)

Sau những đợt “nở hoa” Sóng đã dồn xác tảo thành những đám xốp, phủ lên mặt nước một lớp dày đến 0,5m và trôi ra cửa vịnh vào Biển Đông Điều đó cũng nói lên rằng, vịnh Bắc bộ như một trạm trung gian chuyển nguồn muối khoáng từ lục địa và Biển Đông Tảo trong vịnh sau khi nhận được lượng muối khổng lồ, đua nhau sinh sôi nảy nở rồi mau chóng chết đi Xác tảo chưa kịp phân hủy trong vịnh đã được dòng nước khoáng hóa hoàn toàn Qúa trình đó làm cho vịnh Bắc bộ không có khả năng tích tụ muối khoáng và dẫn đến sự giảm sút năng suất sinh học của vịnh

Trong vùng nước phần bắc vịnh, từ khoảng vĩ độ 19o30 Bắc trở lên, vào thời kỳ mùa đông do sự vận động thẳng đứng của nước và sự xáo trộn của các dòng, tầng nước được bổ sung nhiều muối dinh dưỡng từ đáy, tạo điều kiện cho thực vật nổi phát triển Sinh vật lượng của chúng đạt từ 3g/m3 ở lớp nước 10m đến 6,5g/m3 ở lớp nước 50-25m

Ở phần nam vịnh cũng như khu vực kế cận thuộc Biển Đông, sinh vật lượng thực vật nổi chỉ đạt trên dưới 0,5g/m3 nước Sinh vật lượng trung bình trong toàn khối nước dao động trong phạm vi từ 0,38 đến 0,96g/m3 nước, cao nhất vào mùa đông và thấp nhất vào mùa xuân Do đó, sinh khối của chúng trong toàn vịnh biến thiên trong khoảng 1600 đến 4.100 ngàn tấn, trung bình là 2.800 ngàn tấn

Trang 35

Tại các vùng nước phía nam, đặc biệt ở bờ phía tây Việt Nam, trong vịnh Thái Lan, do nguồn muối khoáng phong phú của nước hệ thống sông Cửu Long đem đến, thực vật nổi trở nên giàu có, tương tự như vùng nước ven bờ phía tây vịnh Bắc bộ và các vùng nước thuộc biển Ban Tích, bờ tây Ấn Độ, vịnh Ba Tư, Hồng Hải v.v… Năng suất

sơ cấp của vùng, nếu tính theo sự đồng hóa cacbon, có thể đạt trên 500mC/m2/ngày

Trên cơ sở bản đồ phân bố sản lượng thực vật nổi trong các biển và đại dương thế giới, ta thấy hầu như toàn bộ vùng nước thềm lục địa Biển Đông nằm trong vùng có sức sản xuất cao, trừ một diện tích phía nam thềm lục địa Sunda (biển Java và tây bắc đảo Boocnêo) có năng suất sơ cấp thiết (theo mức đồng hóa cacbon 100-150 mgC/m2/ngày; toàn bộ vịnh Thái Lan và một xoang hẹp ven bờ phía tây vịnh Bắc Bộ, năng suất sơ cấp cao nhất như trên đã nói (trên 500mgC/m2/ngày) Đại bộ phận diện tích còn lại của thềm lục địa trị số đồng hóa cacbon của tảo đạo trong khoảng từ 250 đến 500 mgC/m2/ngày

Theo nhiều công trình nghiên cứu, mỗi gam cacbon được thực vật đồng hóa ứng với sự hình thành một lượng chất hữu cơ là 20g tươi, đồng thời sức sản xuất ban đầu của biển và đại dương trung bình được tính là 50-70gC/năm thì trong vùng thềm lục địa bao quanh nước ta, sản lượng thực vật nổi đạt đến con số 1000 – 1400 triệu tấn hàng năm

Đối với vùng khơi Biển Đông (bao gồm một phần phía nam thềm lục địa Sunda, phần nước tây bắc Boocnêô), năng suất sơ cấp thấp hơn nhiều, cường độ đồng hóa cacbon chỉ đạt khoảng 100-150gC/m2/ngày Và rõ ràng rằng, trên diện tích vùng nước thềm lục địa, sản lượng thực vật nổi chỉ đạt đến 60-70% sản lượng thực vật nổi của cả biển

Như vậy trong Biển Đông, những dải “rừng” tảo bám quanh các đảo và trải rộng

ra của thềm nước nông dọc bờ, tạo nên nơi cư trú cho nhiều loại động vật biển, cung cấp thức ăn cho một số ít loài thú biển và là đối tượng khai thác của con người Trong tầng nước bao la, đặc biệt ở những đới nông của thềm lục địa, thực vật đơn bào đã gieo những cánh “đồng cỏ” trù mật để chăn thả những đàn “gia súc” có số lượng khổng lồ của biển cả

2.3 Động vật nổi và nguồn thức ăn động vật đầu tiên

Động vật nổi (Zooplankton) được coi là động vật “ăn cỏ” của biển và đại dương

và là vật trung gian chuyển chất hữu cơ từ thực vật đến mọi động vật dị dưỡng khác lớn hơn Động vật nổi rất đa dạng theo các nhóm bậc phân loại, gồm Nguyên sinh vật (Protozoa), giáp xác (Crustacea) Ruột khoang (Coelenterata), Giun tròn

Trang 36

(Trochelminthes), Giun đốt (Annelida), Thân mềm (Mollusca), Chân khớp (Arthopoda), Hàm tơ (Chaetognatha), động vật đầu sống (Prochordata) và vô số những ấu trùng của

động vật đáy, bao gồm cả cá (Hình 2.2) Chúng là những cơ thể có kích thước nhỏ thường từ 0,05 đến 100mm, (trừ một vài loài Zooplankton có kích thước trên 1m như một vài loài sứa), và sống trôi nổi chỉ ở giai đoạn ấu trùng, sau khi biến đổi để có hình dạng của cơ thể trưởng thành, chúng chuyển sang kiểu sống khác hoặc dưới đáy (ở động vật đáy) hoặc bơi lội giỏi trong tầng nước (các loài cá)

Hình 2.2: Một số đại diện của động vật nổi trong biển

Theo những tổng kết gần đây (Nguyễn Tiến Cảnh, 1994), trong vùng nước thềm lục địa Biển Đông đã phát hiện được gần 660 loài động vật nổi (trừ động vật Nguyên sinh) , trong đó Ruột khoang 102 loài, giun Tròn 06 loài, giun Đốt 20 loài, Chân khớp

398 loài, Thân mềm 51 loài, Hàm tơ 34 loài và ngành Đầu sống 46 loài Riêng ở vịnh Bắc bộ có 236 loài, còn ở các vùng biển phía Nam, số lượng loài động vật nổi lên tới

Trang 37

605 loài Dù ở đâu, ngành Chân khớp cũng giữ vị trí hàng đầu, chiếm 60-70% tổng số loài Nếu tính cả động vật Nguyên sinh thì động vật nổi còn đa dạng hơn nhiều Theo A.Shirota (1966), trong thành phần động vật nổi của các vùng biển từ Thừa Thiên trở xuống phía nam đã ghi chép được trên 760 loài thuộc 110 họ của 13 ngành động vật không xương sống, trong đó động vật Nguyên sinh có tới 15 bộ, khoảng 40 họ và 220 loài

Bộ trùng Lỗ (Foraminifera), gồm 2 họ với 6 loài còn bộ trùng Phóng xạ (Radiolaria) có 21 họ với trên 40 loài Những đại diện của 2 bộ này (thuộc lớp trùng Chân giả, Sarcodina) có nhiều ý nghĩa đối với đời sống của biển và đại dương Trùng Lỗ chủ yếu sống ở đáy, chỉ một số không nhiều loài sống nổi Cơ thể trùng Lỗ được bọc bởi một vỏ hữu cơ thấm chất vôi (CaCO3) hoặc gắn với những hạt cát Hình dạng vỏ rất thay đổi Ở những loài sống nổi, trên vỏ xuất hiện những mấu, gai, dài để tăng diện tích tiếp xúc với nước, chống chìm Trùng Lỗ, trùng phóng xạ, nhất là những loài thuộc giống Globigeria và hàng loạt các loài tảo Silic khi chết đi, lắng xuống đáy đã tạo nên những lớp trầm tích đáy đại dương đặc biệt, gọi là đáy sinh học Dạng đáy này chiếm diện tích rộng ở vùng biển sâu từ 5.000m trở lên Có lẽ lớp bùn mịn, mầu xám ở đáy Biển Đông cũng được hình thành do các loài sinh vật thuộc những nhóm trên và vì thế, Biển Đông tuy là một biển nội địa nhưng lại mang những nét của đại dương

Đứng sau trùng Phóng xạ là bộ Hotricha Bộ này có khoảng 13 họ nhưng giầu về

số lượng loài (trên 70 loài), gặp hầu hết trong các vùng nước ven bờ thuộc thềm lục địa nước ta

Những đại diện sống nổi của ngành Ruột khoang chủ yếu thuộc 2 lớp Thủy mẫu (Hydrozoa) và Sứa (Scyphomedusa) Các loài sứa khá đông đúc và phân bố khắp vùng Chúng dù to hay nhỏ đều có dạng như những chiếc dù trắng, bập bệnh nổi trôi trong tầng nước, nhiều khi làm đầy cả đụt lưới đánh cá Một số nơi ở vùng ven biển người ta khai thác sứa và chế biến thành sứa muối để làm món ăn dân dã

Những động vật nổi hay gặp nhất và có vai trò lớn trong xích thức ăn của biển và đại dương là giáp xác thấp (Crustacea) như các bộ Chân lá (Phyllopoda), giáp xác Có vỏ

(Ostratacea), Chân chèo (Copepoda), Chân tơ (Cirripedia), Bơi nghiêng (Amphiphoda), tôm Lân (Euphausiacea), Mi-xit (Mysidacea), Mười chân (Decapoda) và Tromatopoda

v.v… Những đại diện thuộc các bộ trên hầu như sống ở mọi vùng và mọi tầng nước của

Trang 38

Biển Đông, tạo nên nguồn thức ăn động vật quan trọng vào bậc nhất cho các đàn cá nổi Động vật thuộc nhóm này có kích thước rất thay đổi, từ vài ba phần milimet đến 2-3 hoặc 10mm Trong chúng, giáp xác Chân chèo thường chiếm ưu thế 60-70% số lượng loài của mẫu động vật nổi và cho sinh khối khá lớn Những loài điển hình của giáp xác Chân chèo có hình ô van và một cuống đuôi Nó có 4-5 đôi chân giống như những mái chèo và một đôi “râu” kềnh càng phân bố ở 2 bên mút đầu Nhiều loài có màu sắc sặc sỡ

như những đại diện của giống Pontella, Biancoi… Những dạng của họ Sappiridae có thể rất dẹt, con đực giống như một chiếc lá li ti, ánh lên màu xanh tím

Hầu như các loài giáp xác Chân chèo đều có mặt trong vùng nước nông gần bờ Một số loài sống cả ở những vùng khơi đại dương với độ muối cao như nhiều đại diện thuộc các họ Oithonidae, Oncaeidae, Corycaeidae… Một số loài thuộc họ Metridae gặp

ở thềm lục địa nước ta còn là những dạng cơ bản của động vật nổi biển sâu

Trong các vùng bị ngọt hóa, nhất là vùng cửa sông, còn có mặt một số loài giáp xác nước ngọt thuộc giống Eucyclops, Thermocyclops, Mesocyclops… song, nhóm cơ bản vẫn là những loài nước lợ thích nghi với biên độ dao động lớn của độ muối như

Schmarkeria gor gordioides, Sinocalanus laevidactilus, Acartiella sinensis v.v… (Vũ Trung Tạng, 1994)

Bên cạnh giáp xác Chân chèo không thể không kể đến vai trò ưa thích không chỉ đối với cá mà đối với cả nhiều loài thú biển (cá voi khoang, cá voi xanh…) Tôm Lan có dáng bề ngoài chẳng khác gì moi, tép và là động vật nổi có kích thước lớn, có loài đôi khi đạt đến 4-5cm chiều dài Tôm Lân có mầu trắng đục, một vài loài có mầu rực rỡ Những loài có mầu thường gặp nhiều ở các biển lạnh Bắc và Nam bán cầu Đôi nơi chúng tập trung đông đúc đến mức làm cho biển nhuộm màu đỏ máu và làm cho mặt biển sáng hồng lên trong những đêm tối trời Ở biển nước ta tôm Lân có trên 10 loài, song nhờ sự phát triển cao về số lượng, chúng đã tạo nên nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài cá nổi

Trong số những giáp xác sống nổi ở vùng biển nước ta còn gặp nhiều loài thuộc

bộ Mysidacea, bộ Mười chân (moi Acetes) cũng như các dạng ấu trùng của chúng

Hàm tơ là nhóm động vật có đời sống trôi nổi Chúng vừa là thức ăn cho cá, vừa

là vật dữ, ăn các loài động vật nổi khác Một số đại diện của giống Sagitta hay còn gọi là

“Mũi tên biển” là sinh vật chỉ thị của các khối nước và các hải lưu Chẳng hạn, loài

Trang 39

Sagitta serratodentata và S.draco đặc trưng cho khối nước ngoài khơi Biển Đông với nồng độ muối và nhiệt độ cao

Thân mềm sống nổi chủ yếu thuộc nhóm Chân bụng Hai bộ Mesogastropoda và Pteropoda có hơn một chục họ và 70-80 loài Chúng phát triển rất phong phú trong khối

nước thềm lục địa Nhiều loài thuộc các họ Cavolinidae, Alantidae, Limacilidae, … rất hay gặp trong các mẫu vớt bằng lưới động vật nổi

Ngoài những loài động vật nổi sống suốt đời trong tầng nước (Holoplankton) còn nhiều dạng ấu trung của giáp xác, giun nhiều tơ (Polychaeta), giun dẹt (Platthelminthes),

Thân mềm (Mollusca), động vật Hình rêu (Bryzoa), Da gai (Echinodermata) v.v… chỉ sống ở giai đoạn đầu của quá trình biến thái, sau đó chuyển vào dạng sống trưởng

thành Đó là những loài thuộc dạng sống nổi tạm thời (Meroplankton) Sự có mặt của chúng làm cho động vật nổi thêm đa dạng và tầng nước thêm giàu có nhưng sau các lần biến thái, hàng loạt các loài này mất đi, gây ra sự dao động đáng kể về số lượng và sinh vật lượng của động vật nổi

Động vật nổi dinh dưỡng chủ yếu bằng các loài tảo đơn bào Do đó, sự phân bố của chúng hoàn toàn không thể tách khỏi những nơi tập trung của tảo Động vật nổi đông đúc trong các lớp nước tầng mặt, giầu thức ăn Ở những vùng sâu, thiếu ánh sáng, thực vật nổi nghèo, động vật nổi cũng thưa thớt, thường chỉ gặp những loài ăn vẩn, ăn xác Ở vùng nước ngoài khơi, tính đa dạng về loài và sự phong phú về số lượng của động vật nổi cũng giảm đi nhiều so với vùng nước nông gần bờ, nơi thức ăn giầu có Tất nhiên, sự biến động về số lượng và sinh vật lượng của động vật nổi gây ra do nhiều nguyên nhân (nhiệt độ nước, độ muối, chế độ chiếu sáng v.v…) Những yếu tố thay đổi

có chu kỳ tạo cho chúng cuộc sống có nhịp điệu: nhịp điệu ngày đêm, nhịp điệu theo thủy triều và nhịp điệu mùa

Trong vịnh Bắc bộ, sự phát triển của động vật nổi mang những nét của một vùng nước nông nhiệt đới nhưng điều kiện khí hậu hải dương không thật điển hình Vào thời

kỳ mùa đông, khu vực tập trung của động vật nổi nằm ở vùng nước xoáy, nơi gặp gỡ của dòng nước nóng từ phía nam vịnh chảy lên và dòng nước lạnh từ phía bắc vịnh chảy

xuống Lúc này, những loài ưa nước nhạt (Centropages furcatus, Penilia avirostris, Evadne tergestina…) chiếm một diện tích khá rộng ở phần tây vịnh và những nơi có sự

xâm nhập sâu của khối nước từ khơi Biển Đông đổ vào Những loài thuộc nước ấm ôn

đới, chẳng hạn Calanus sinucus, chỉ có mặt ở vùng biển phía nam đảo Hải Nam, nơi

Trang 40

nhiệt độ nước tương đối thấp do dòng nước lạnh chảy qua xuống phía nam Mùa này

sinh vật lượng của động vật nổi ởi phía nam đảo Bạch Long Vĩ cao nhất, 9,5g/m3, còn ở phía bắc và phía tây vịnh dao động trong khoảng 1-5g/m3 Theo kết quả điều tra từ năm

1960 đến nay vào thời gian mùa đông, sinh vật lượng động vật nổi trung bình trong toàn vịnh dao động từ 0,070 đến 0,076g/m3

Mùa xuân (tháng IV), diện tích phân bố của các loài ưa nước nhạt thu hẹp về phần phía bắc, nhóm đại dương dịch xuống phía nam vịnh, còn nhóm nước ấm ôn đới

mở rộng vùng phân bố của mình tới giới hạn đường thẳng nhiệt khoảng 20oC Sinh khối động vật nổi giảm thấp hơn so với mùa đông, thường chỉ đạt trung bình gần 0,06g/m3, trừ khu vực phía tây đảo Hải Nam và phía đông quần đảo Long Châu, nơi mà sinh vật lượng cao hơn (khoảng 2-3g/m3) Trong mùa hạ, sự phân bố của các nhóm động vật nổi trở nên phức tạp, liên quan với sự đa dạng của các điều kiện khí tượng hải dương Nhóm

ưa nước nhạt cũng phân hóa Những loài quá ưa ngọt hơn xuất hiện ở vùng nước thuộc phần bắc vịnh, hình thành lưỡi phân bố lùi xuống phía nam nhưng hoàn toàn vắng mặt ở trung tâm vịnh Nhóm có nguồn gốc đại dương theo dòng nước có độ muối cao từ phía nam lên, rẽ vào vịnh và xâm nhập xa lên phía bắc, nhất là ở nửa trung tâm vịnh Lúc này, sinh vật lượng động vật nổi tại trung tâm vịnh nghèo hơn so với phần nam vịnh và phía nam đảo Hải Nam Tuy nhiên, vào thời gian này sinh vật lượng trung bình trong toàn khối nước đạt giá trị cao nhất, trên 0,093g/m3 (Nguyễn Tiến Cảnh, 1994)

Mùa thu (Tháng X), nhóm giáp xác Râu ngành (Cladocera) vẫn duy trì ở vùng

gần bờ phía tây bắc và men theo đó xuống phía nam, còn loài Centropages furcatus phân bố hầu như khắp vịnh Riêng các loài ưa ấm ôn đới không hình thành số lượng

đáng kể nào Sinh vật lượng của động vật nổi nói chung giảm với giá trị trung bình khoảng 0,064g/m3, chỉ một vùng nhỏ ở phần đông bắc có sinh vật lượng cao nhất (gần g/m3)

Sự chênh lệch về sinh vật lượng trong vịnh theo mùa không lớn, mặc dù mức độ tập trung cao nhất của động vật nổi rơi vào mùa hạ, thấp nhất vào mùa xuân với tỉ lệ tương ứng là 3:2 Sản lượng chung của động vật nổi trong toàn khối của vịnh Bắc bộ được đánh giá trên 1 triệu tấn, trong đó ở lớp nước tầng mặt (0-100m) chiếm khoảng 97% tổng số (Nguyễn Tiến Cảnh, 1994)

Ngày đăng: 21/01/2015, 21:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích và độ sâu trung bình của lòng/lưu vực 4 đại dương - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Bảng 1.1 Diện tích và độ sâu trung bình của lòng/lưu vực 4 đại dương (Trang 7)
Hình 1.2: Vị trí vùng cửa sông, đới bờ và vùng bờ - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 1.2 Vị trí vùng cửa sông, đới bờ và vùng bờ (Trang 11)
Hình 1.3: Các cửa sông Mekong và phân bố lưu lượng cho các nhánh sông - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 1.3 Các cửa sông Mekong và phân bố lưu lượng cho các nhánh sông (Trang 12)
Hình 2.1: Một số đại diện của các chi thực vật nổi trong biển - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.1 Một số đại diện của các chi thực vật nổi trong biển (Trang 29)
Hình 2.2: Một số đại diện của động vật nổi trong biển - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.2 Một số đại diện của động vật nổi trong biển (Trang 36)
Hình 2.3: Đại diện một số động vật đáy vùng triều - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.3 Đại diện một số động vật đáy vùng triều (Trang 43)
Hình 2.4: Một số đại diện của                  Giáp xác bậc cao  1. Tôm bạc       2. Tôm hùm   3 - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.4 Một số đại diện của Giáp xác bậc cao 1. Tôm bạc 2. Tôm hùm 3 (Trang 55)
Hình thành 2 khu vực khai thác tôm lớn:  khu vực biển nông và biển sâu. Khu vực biển  nông phân bố sát bờ, ở độ sâu dưới 50m nước với các bãi tôm lớn như Cát Bà- Bà Lạt  nằm trước cửa hệ thống sông Hồng; các bãi tôm phía đông và tây bờ biển Nam bộ với  sả - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình th ành 2 khu vực khai thác tôm lớn: khu vực biển nông và biển sâu. Khu vực biển nông phân bố sát bờ, ở độ sâu dưới 50m nước với các bãi tôm lớn như Cát Bà- Bà Lạt nằm trước cửa hệ thống sông Hồng; các bãi tôm phía đông và tây bờ biển Nam bộ với sả (Trang 55)
Hình 2.5: Vòng đời tôm biển và những nơi sinh sống - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.5 Vòng đời tôm biển và những nơi sinh sống (Trang 57)
Hình 2.6: Một số đại diện               của lớp Chân bụng - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.6 Một số đại diện của lớp Chân bụng (Trang 59)
Hình 2.7: Một vài đại diện                của lớp Hai vỏ  1. Trai ngọc (Pincradamartensii)  2 - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.7 Một vài đại diện của lớp Hai vỏ 1. Trai ngọc (Pincradamartensii) 2 (Trang 60)
Hình 2.8: Một vài đại diện                    của lớp Chân đầu  1.  Mực ống - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.8 Một vài đại diện của lớp Chân đầu 1. Mực ống (Trang 63)
Hình 2.9: Một số đại diện                  của động vật Da gai  1.  Sao biển (Asterias sp) - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.9 Một số đại diện của động vật Da gai 1. Sao biển (Asterias sp) (Trang 64)
Bảng 2. 1: Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở Biển Đông - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Bảng 2. 1: Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở Biển Đông (Trang 66)
Hình 2.10: Một số lòai các sống nổi vùng khơi - môn học sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Hình 2.10 Một số lòai các sống nổi vùng khơi (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w