1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình việt nam 1945 – 1975 tại trường cao ñẳng nghề an giang

27 550 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 278,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đọc văn theo tinh thần ñó thực chất là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản kể cả hiểu và cảm thụ… Do vậy, một trong hai nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học Ngữ văn là tập trung

Trang 1

mà còn là quan ñiểm nhân văn trong nhận thức khoa học: xây dựng những con người mới tích cực, chủ ñộng, sáng tạo, tự tin vào năng lực của mình Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết ñịnh số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ

trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ ñộng, sáng tạo của học sinh, phù hợp với ñặc trưng môn học, ñặc ñiểm ñối tượng học sinh, ñiều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác ñộng ñến tình cảm, ñem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS” [24; tr 8]

Nhiệm vụ của dạy học Ngữ văn không chỉ là cung cấp kiến thức về văn học, trang bị những ñánh giá, nhận ñịnh về tác gia, tác phẩm, mà còn ñào tạo một năng lực cảm thụ và khám phá giá trị của tác phẩm văn chương Học sinh học Ngữ văn không chỉ ñọc hiểu và viết các loại văn bản thông dụng, nói ñúng phong cách ngôn ngữ, mà còn biết ñọc hiểu, giao tiếp với loại văn bản phức tạp nhất, là văn bản văn chương nghệ thuật Với ý nghĩa trên, chỉ dạy văn học theo lối “giảng văn” truyền thống, thầy giảng, trò nghe một cách thụ ñộng thì không thể ñào tạo năng lực sử dụng công cụ văn học ñược

Xuất phát từ mục tiêu dạy học của bộ môn, với chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn THPT mới (chương trình môn Ngữ văn của trường Cao ñẳng nghề ñược biên soạn dựa trên chương trình Ngữ văn THPT), dạy Văn thực chất là dạy cho học sinh phương pháp ñọc văn Đọc văn theo tinh thần ñó thực chất là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản (kể cả hiểu và cảm thụ)… Do vậy, một trong hai nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học Ngữ văn là tập trung hình thành cho học sinh cách ñọc văn, phương pháp ñọc văn theo loại thể, ñể dần dần các em có thể tự ñọc ñược văn, hiểu văn bản tác phẩm văn học một cách khoa học

Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn tại trường Cao ñẳng nghề An Giang, chúng tôi nhận thấy thực tế dạy học ñọc hiểu văn bản tác phẩm văn chương còn gặp nhiều khó

Trang 2

với tinh thần ñổi mới về nội dung và phương pháp dạy học so với mục tiêu dạy học của bộ môn, với chương trình và sách ngữ văn Ngữ văn THPT mới, trong ñó có dạy học ñọc hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình Việt Nam giai ñoạn 1945 - 1975

Là người trực tiếp ñứng lớp giảng dạy môn Ngữ văn tại trường Cao ñẳng nghề An Giang, chúng tôi nhận thấy vấn ñề ñổi mới phương pháp dạy là chìa khóa dẫn tới việc ñổi mới phương pháp học của học sinh Với mong muốn thiết thực là góp phần ñịnh hướng cho bản thân và các ñồng nghiệp thêm một cách tiếp cận văn bản tác phẩm thơ trữ tình Việt Nam 1945–1975, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn nói chung, hiệu quả dạy học ñọc hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình giai ñoạn này, chúng tôi cố gắng thực hiện

ñề tài: Nâng cao chất lượng dạy học ñọc hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình Việt Nam

1945 – 1975 tại trường Cao ñẳng nghề An Giang

2 Mục ñích

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn ñề lí thuyết của việc dạy học ñọc hiểu VBTPVC, ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam Để thực hiện ñược mục ñích này, chúng tôi ñã cố gắng trong chừng mực có thể, tìm hiểu và hệ thống hóa những vấn ñề chung về lí thuyết ñọc hiểu VBTPVC và ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam

Thứ hai, bước ñầu ñề ra những giải pháp thích hợp, tiến hành thực nghiệm sư phạm ñể xác ñịnh hiệu quả và tính khả thi của những ñề xuất Trên cơ sở ñó, rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm về việc dạy học ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945-

1975

3 Phạm vi nghiên cứu

Do ñiều kiện khách quan, do quỹ thời gian có hạn, khi thực hiện ñề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu, thực nghiệm, ñối chiếu việc dạy học ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945-1975 tại một số lớp tại trường Cao ñẳng nghề An Giang Cụ thể là bốn lớp:

4 Đóng góp của ñề tài

Về lí luận: tập hợp, hệ thống những vấn ñề chung về lí thuyết ñọc hiểu VBTPVC

nói chung và ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam nói riêng

Về thực tiễn: bước ñầu thực nghiệm và ñề xuất quy trình dạy học ñọc hiểu VBTP

thơ trữ tình, ñưa ra những tiêu chí ñể ñánh giá hiệu quả của giờ dạy học ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Hi vọng sáng kiến kinh nghiệm sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích ñối với giáo viên khi dạy ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975

Trang 3

CHƯƠNG I VẤN ĐỀ ĐỌC HIỂU

VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH 1.1 Vấn ñề ñọc hiểu trong dạy học văn bản tác phẩm văn chương (DH VBTPVC) 1.1.1 Vai trò của ñọc hiểu trong dạy học (DH) Ngữ văn

Dưới góc ñộ phương pháp, ñọc hiểu là một hoạt ñộng phân tích, tổng hợp phức tạp ñược truyền ñạt thông qua nội dung ý thức trong từ ngữ và câu cú ñể diễn tả những mối quan hệ khác nhau như sự tiếp thu và nắm vững ý nghĩa sâu xa trong VB mà ñã thiếu mất phương tiện hỗ trợ của người nói, trong ñó người ñọc phải tái hiện lại những ñiều ñã ñọc Đọc là một quá trình nhận thức và tự nhận thức của con người

Về phương diện này, ñọc văn thực sự là một khoa học, là lao ñộng sáng tạo Theo

Nguyễn Thanh Hùng, “ñọc TPVC chính là giải quyết vấn ñề tương quan của cấu trúc tồn tại trong TP Trước hết là cấu trúc ngôn ngữ, thứ ñến là cấu trúc hình tượng thẩm mĩ, sau nữa cấu trúc ý nghĩa” [22;tr.44] Trong cấu trúc ngôn ngữ, người ñọc ñược tìm hiểu ñể

nắm bắt các loại thông tin, thông tin hiện thực ñời sống và thông tin thẩm mĩ Thông tin

hiện thực trong TP gợi ra sự ña dạng trong kinh nghiệm sống của từng ñộc giả Đây “là bức tranh ñời sống vừa quen vừa lạ Quen, ñể chia sẻ thừa nhận Lạ, ñể trao ñổi và suy nghĩ” [22; tr.44] Cần lưu ý rằng, sự lĩnh hội TPVC thông qua hoạt ñộng ñọc bao giờ cũng

xen lẫn vào nó thiên hướng chủ quan, không thể loại trừ cái tôi của người ñọc ra ngoài quá trình tiếp nhận Cấu trúc ý nghĩa của TPVC là cấu trúc mở, là “kết cấu vẫy gọi” sự tham gia sáng tạo của mọi người Vì vậy, muốn ñọc hiểu cấu trúc ý nghĩa của VBVH –

khâu quan trọng nhất trong hoạt ñộng ñọc - thì phải hiểu rằng “mọi yếu tố của VB ñều có nghĩa, các yếu tố ñó lại kết thành hệ thống, và cái nghĩa có sức thuyết phục nhất là phù hợp, không mâu thuẫn với bất cứ yếu tố biểu hiện nào” [22; tr18]

Theo Nguyễn Thanh Hùng, “ñọc hiểu là mục ñích cuối cùng của các giai ñoạn ñọc

và mức ñộ ñọc chẳng những ñối với văn bản (VB) nghệ thuật không hư cấu mà cũng ñòi hỏi một trăm phần trăm như thế ñối với VB nghệ thuật hư cấu [20; tr.39] Đó chính là

hoạt ñộng truy tìm và giải mã ý nghĩa của VB Ý nghĩa ấy hình thành và sáng tỏ dần nhờ

sự soi chiếu tổng hợp khái quát hóa từ ý nghĩa tồn tại trong hình thức hóa nghệ thuật của tác phẩm, từ ý ñồ sáng tạo, quan niệm nghệ thuật của nhà văn và ý nghĩa phát sinh thông qua khả năng tiếp nhận của người ñọc Đó cũng là một hoạt ñộng tuân theo logic khoa học

và chính vì thế nó sẽ góp phần làm giảm ñi tính chất mơ hồ, ña nghĩa của TPVC ñể sự giao tiếp nghệ thuật ñi tới chiều hướng thỏa thuận nào ñó

1.1.2 Quan ñiểm về ñọc và hiểu trong khái niệm ñọc hiểu TPVC

Đọc văn trong nhà trường là một hoạt ñộng vừa mang những nét phổ quát của hoạt ñộng trí tuệ nói chung, lại có những nét ñặc thù do tính ñịnh hướng của môn học Đọc toàn bộ TP ñể hiểu một ñời văn, một nghiệp văn như công việc của nhà nghiên cứu là ñiều

Trang 4

vô cùng khó; ñọc một TP, một trích ñoạn… với hy vọng hiểu văn, hiểu người (tác giả) cũng chẳng mấy dễ dàng Tinh thần thời ñại, sự ñộc ñáo của cá tính sáng tạo, ñặc sắc của ngôn phong và hình tượng, sự gặp gỡ giao thoa – kế thừa và phát triển, mối quan hệ giữa

cá nhân và cộng ñồng văn hóa… luôn luôn ñặt ra thử thách ñối với những ai có nhu cầu ñi tìm lời giải ñáp trong mỗi TP của mỗi nhà văn Bởi vì, trước mắt người ñọc là VB – một

tồn tại cụ thể - trong khi ñó, TPVH là một quá trình Theo Trần Đình Sử, “mỗi lần ñọc, mỗi cách ñọc chỉ là một chặng trên con ñường chạy tiếp sức của biết bao ñộc giả ñể ñến với TP” [21; tr.18] Đó là một cách nhìn biện chứng về bản chất sáng tạo của hoạt ñộng

tiếp nhận văn chương

Như vậy, “ñọc” trong khái niệm ñọc hiểu VBTPVC là một quá trình phát hiện và khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời ñại trong cấu trúc hình tượng thẩm mĩ của TP ñan xen giữa hoạt ñộng nhận thức, ñánh giá và thưởng thức giá trị ñích thực tồn tại trong hình thức nghệ thuật ñộc ñáo của TP

Đọc hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn Nắm vững khái niệm ñọc hiểu và vận dụng thành thạo nội dung ñọc hiểu VB sẽ góp phần thay ñổi hệ hình phương pháp DH văn “Hiểu” trong khái niệm ñọc hiểu TPVC, trước hết phải gắn liền với VB – một tổ hợp ngôn ngữ mang nghĩa là cấu trúc tầng bậc ý tưởng tương ứng với những ñơn vị của VB khác nhau có tính chủ ñề và tính liên kết toàn vẹn Hiểu là quá trình nhận thức VB toàn vẹn Trong TPVC, ñó là cấu trúc ngôn ngữ kết dệt nên bức tranh hiện thực xã hội; cấu trúc hình tượng dựng nên hiện thực giả ñịnh mang tính thẩm mỹ và cấu trúc ý nghĩa như là thế giới hiện thực tư tưởng Trong ñó, bức tranh hiện thực xã hội như là sự giãi bày, còn thế giới hiện thực tư tưởng như là sự mơ ước về một viễn cảnh tốt ñẹp Vì thế, trong khi ñọc TPVC, người ñọc cần phải hiểu ba bình diện cấu trúc ấy – cũng là bình biện nội dung tương ứng với tuần tự từ 1 ñến 3 là: nội dung sự kiện, nội dung hình tượng, và nội dung quan niệm của tác giả Nhưng chưa hết, những gì làm cho nội dung ấy tồn tại một cách có nghĩa lí, ñảm bảo riêng cho từng cấu trúc ấy chính lại là hình thức mà người ñọc cần hiểu

Như vậy, hiểu trong ñọc văn về một phương diện nào ñó chính là sự ñồng cảm và nắm ñược những gì mà nhà văn muốn nói, cảm thụ ñược giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ và

tư tưởng nghệ thuật của nhà văn; là sự vượt qua khoảng cách mơ hồ giữa chủ thể người ñọc – HS và VBTP ñể khám phá và tình người sâu xa trong cuộc sống và sự ñóng góp của ngôn ngữ không gì có thể thay thế ñược

1.2 Vấn ñề ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình

1.2.1 Tác phẩm trữ tình và thơ trữ tình

Nghệ thuật nói chung, văn học (VH) nói riêng là sự biểu hiện cảm nhận chủ quan của con người trước cuộc ñời Tuy nhiên, do phương thức tổ chức, do kiểu tái hiện ñời sống và do sự giao tiếp nghệ thuật khác nhau nên sự biểu hiện ñó ở những loại TPVH cũng khác nhau Đặc ñiểm cơ bản của TP trữ tình là sự thổ lộ cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ

Trang 5

của nhà văn trước cuộc sống, trong ñó tình cảm là mạch phát triển then chốt của TP Đặc ñiểm ñó biểu hiện tập trung trong thơ trữ tình

Đối với thơ trữ tình, dù vẫn tồn tại những ý kiến khác nhau, nhưng xu hướng chung có tính thống nhất ñược ña số chấp nhận là quan niệm: thơ trữ tình là thơ phản ánh thế giới theo phương thức nghệ thuật trữ tình Ở ñó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng ñời sống ñược thể hiện một cách trực tiếp

Có thể nói dấu hiệu ñể nhận ra thơ trữ tình là ở chỗ phản ánh thế giới khách quan với việc biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan thống nhất hài hòa Điều ñó có nghĩa là, tất cả các trạng thái muôn hình muôn vẻ mà TP thơ trữ tình diễn tả ñều bắt ngưồn từ hiện thực, do cuộc sống kích thích, thúc ñẩy, khơi gợi … Có ñiều là mọi hình ảnh cuộc sống ñều bộc lộ qua cảm quan và ngôn ngữ cá nhân của tác giả hoặc của nhân vật mà tác giả nhân danh ñể phát biểu, của cái ngôi thứ nhất mà trong lí luận VH gọi là “nhân vật trữ tình”, “cái tôi trữ tình” Do ñó, trong TP thơ trữ tình không phải chỉ có cảm xúc, tư tưởng thuần túy, trần trụi mà cũng có cảnh, có người, có việc, nhưng ñiều chủ yếu ở ñây là cái trạng thái tâm tư dạt dào cảm xúc hay chất chứa suy nghĩ trước những cảnh, những người, những việc ñó

Tóm lại, biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người bằng những hình thức nghệ thuật ñặc thù là cách phản ánh thế giới của thơ trữ tình

1.2.2 Yêu cầu khi DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình ở nhà trường THPT

a/ Dạy ñọc hiểu TP thơ trữ tình gắn với ñặc trưng thể loại

Khi giảng dạy TP thơ trữ tình cần chú ý những ñặc trưng thể loại nào tạo ñiều kiện thực hiện ñồng thời hai chức năng giảng dạy VH là: hoạt ñộng tiếp nhận TP nghệ thuật;

sự truyền thụ những tri thức khoa học thông qua hình thức tri thức lý luận VH, tri thức lịch sử VH cũng như những tri thức về PP và cách thức làm việc với TP nghệ thuật cùng với năng lực vận dụng chúng

b/ Dạy ñọc hiểu TP thơ trữ tình trong tính chỉnh thể về cấu trúc

Nói ñến TPVC là nói ñến một VB trong tính chỉnh thể TPVC ñược cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây dựng nên một thế giới nghệ thuật riêng ñược kết cấu một cách chặt chẽ trong những quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa bộ phận và tổng thể Trong một TPVC, các yếu tố ñều có quan hệ mật thiết với nhau Trong mỗi TP, bao giờ cũng nổi bật lên một số yếu tố, tình tiết, chi tiết quan trọng hơn, kết tinh cao nhất tư tưởng

và nghệ thuật của TP Ta hiểu vì sao người xưa khi bình thơ thường chú ý ñến “thi nhãn”,

“nhãn tự”, “thần cú”, “cảnh cú”… Đọc hiểu TPVC không thể và cũng không nên phân tích tất cả, ñầy ñủ các chi tiết mà phải biết lựa chọn, tập trung phân tích một số chi tiết tiêu biểu nhất Việc tìm hiểu những chi tiết, phân tích những yếu tố, những mặt riêng biệt của các chi tiết trong TP nhằm phát hiện và khám phá tương quan giữa chúng ñể từ những hiểu biết riêng lẻ cụ thể ñạt tới sự nhận thức chung sâu sắc hơn về TP

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM 1945 – 1975 2.1 Thực trạng DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 - 1975

Trong chương trình môn Văn ở trường PTTH, cũng như trường Cao ñẳng nghề

An Giang, mảng thơ trữ tình hiện ñại Việt Nam chiếm một vị trí ñặc biệt quan trọng Đây

là một bộ phận văn học có tác dụng to lớn trong vấn ñề giáo dục truyền thống cũng như bồi ñắp tâm hồn, tình cảm cho học sinh (HS) Tuy nhiên, vấn ñề dạy học các VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975 trong trường Cao ñẳng nghề trong những năm qua, chúng tôi gặp nhiều hạn chế và vướng mắc

2.1.1 Về phía học sinh

Thứ nhất, nhìn chung, HS có năng lực cảm nhận thơ sâu sắc, biết cách ñọc diễn

cảm VBTP thơ trữ tình Trong quá trình ñọc hiểu VBTP thơ, HS tỏ ra có hứng thú và tâm thế học tập tốt Tuy nhiên, những trường hợp này không nhiều Đa số, HS ít hứng thú, chưa có tâm thế trong học tập Điều này ñược thể hiện ở thái ñộ thờ ơ, thụ ñộng, ít phát biểu xây dựng bài, hầu như không thắc mắc của HS Giờ học vì thế khá ñơn ñiệu và tẻ nhạt, hầu như chỉ có giáo viên (GV) hoạt ñộng

Thứ hai, thực trạng HS chưa vượt qua “rào chắn” về thời ñại ñể hiểu và rung cảm

với bài học còn ñược thể hiện qua kết quả bài làm của HS Đọc những bài văn của HS, chúng tôi thấy có sự mâu thuẫn Phần lớn các em cảm nhận ñược nội dung chính bao trùm trong TP Tuy nhiên, khi ñi vào phân tích cụ thể các từ ngữ hay câu thơ, HS lại bộc

lộ nhiều thiếu sót, nhất là hiểu sai, suy diễn ý thơ

Thứ ba, việc ñọc VBTP thơ của HS, theo ghi nhận của chúng tôi, chỉ mới dừng lại

ở hình thức ñọc tri giác ngôn ngữ và nặng về cảm tính Không ít HS phát âm sai, ñọc ê a, chưa biết cách ñọc diễn cảm trong quá trình ñọc tiếp cận VB Hoạt ñộng tìm hiểu VB của

HS vẫn còn mang tính ñối phó HS chưa biết cách chủ ñộng tự ñọc SGK ñể tìm hiểu kiến thức, không biết tìm kiếm kiến thức trọng tâm ñể học Nhiều HS khi ñược gọi ñể trình bày vấn ñề ñã tỏ ra rất lúng túng và ñể trả lời câu hỏi của GV, HS thường ñọc SGK

GV hỏi – HS ñọc Giờ học diễn ra rời rạc, thiếu sự hợp tác giữa GV và HS, HS và HS cũng là một thực trạng phổ biến hiện nay trong giờ ñọc hiểu VBTPVC, VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 -1975 trong nhà trường THPT

2.1.2.Về phía giáo viên

Thứ nhất, những VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945-1975 trong chương trình Ngữ văn thường dài, vì thế nên khi lên lớp, chúng tôi ít khi chủ ñộng ñược thời gian nếu như

áp dụng những PPDH tích cực hiện ñại Do dó, chúng tôi hầu như giảng dạy theo hướng

Trang 7

thuyết giảng, ñể ñảm bảo ñược nội dung kiến thức trong khoảng thời gian quy ñịnh Trong cách dạy này, HS tiếp thu hoàn toàn thụ ñộng, một chiều Vì thế, hoạt ñộng DH trong giờ ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình hiện nay vẫn thiên về hoạt ñộng dạy của GV

Thứ hai, chúng tôi dạy bài nào biết bài nấy, ít chú ý ñến những vấn ñề khác có liên

quan ñến bài học (như HS ñã biết cái gì? Đã ñược học cái gì? Bối cảnh ra ñời của TP, không khí thời ñại, tiểu sử của nhà văn…) Trong quá trình ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, chúng tôi chưa tổ chức và hình thành cho HS kĩ năng ñọc hiểu VBTP trong tính hệ thống

Thứ ba, dạy tách rời nội dung và hình thức Khi tổ chức cho HS ñọc hiểu VBTP

thơ, chúng tôi thường có khuynh hướng ñi sâu vào phân tích nội dung bài học còn chi tiết nghệ thuật chỉ ñưa ra sơ sài Cuối bài học thay vì hướng dẫn cho HS tổng kết từ những gì

ñã phân tích, chúng tôi yêu cầu HS ñọc Ghi nhớ trong SGK Giờ ñọc hiểu VBTP thơ trữ

tình với cách dạy này chưa ñáp ứng ñược với các chuẩn kiến thức và kĩ năng DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945-1975 trong chương trình Ngữ văn

Thứ tư, trong giờ ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, chúng tôi chưa khai thác ñược một

cách hiệu quả nhạc ñiệu của những câu thơ trong các VBTP thơ, ít giảng từ ngữ khó cho

HS cũng như không thường xuyên kiểm tra việc ñọc các chú thích trong SGK của HS Có

lẽ vì vậy mà HS dưới sự áp ñặt của GV, chỉ nắm ñược bài học trên những nét lớn, nét chung mà chưa thực sự hiểu và “cảm” ñược cái hay, cái ñặc sắc của câu thơ, bài thơ

2.2 Nguyên nhân của thực trạng DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975

Dạy học ñọc hiểu VBTPVC nói chung, DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình là hoạt ñộng hướng về hoạt ñộng của người ñọc HS Trong hoạt ñộng DH này, GV là người

tổ chức, hướng dẫn; HS phải tự mình ñọc tiếp cận với VBTP, ñọc hiểu VBTP Muốn vậy, HS phải ñược trang bị các tri thức ñọc hiểu VBTB (thể loại, thi pháp,…) Trong

chương trình Ngữ văn 3 hiện hành tại trường Cao ñẳng nghề An Giang, phần lớn HS

vẫn chưa ñược trang bị và tiếp cận với các tri thức ñọc hiểu VBTP Vì thế, HS thường không biết cách tự ñọc, tìm hiểu VBTP

Về phía GV, có thể nói rằng, sự thay ñổi về nhận thức và quan niệm DH TPVH của GV hiện nay vẫn chưa thích ứng kịp với yêu cầu ñổi mới cải tiến PPDH: GV vẫn chưa xem dạy học TPVH là dạy ñọc văn Các GV dạy học Ngữ văn hiện nay vẫn chưa ñược trang bị các kiến thức lí luận về DH bộ môn theo hướng ñọc hiểu do chưa có khái niệm ñọc cho nên chưa có hệ thống biện pháp dạy ñọc văn hữu hiệu và hoàn chỉnh Ngoài việc ñọc thành tiếng và ñọc diễn cảm, chúng ta hầu như chỉ có khái niệm giảng bình, phân tích, bình chú, nêu câu hỏi…

Mặt khác, tiếp cận những bài học về thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975, GV và

HS còn phải ñối diện với một khó khăn khác là khoảng cách về không gian, thời gian,

Trang 8

về tâm lí học của HS và khoảng cách tạo nên bởi sự khác biệt trong phong cách nghệ

thuật Theo Nguyễn Thành Thi, “nếu như dạy học trung ñại Việt Nam, cả người dạy lẫn người học rất dễ vấp ngã trước một loại rào cản muôn thuở là ngôn ngữ, văn hoá

cổ, thì dạy học văn học Việt Nam hiện ñại (1930 – 1945, 1945 -1975, sau 1975), bên cạnh một số thuận lợi nhất ñịnh, người ta lại phải vấp phải những thứ rào cản khác cũng không dễ vượt qua: giới hạn của tâm lí, hứng thú tiếp nhận văn học của bạn ñọc

- học sinh Những khó khăn như thế chắc chắn còn ñáng kể hơn khi những giới hạn vừa nêu là những giới hạn mang tính tất yếu - lịch sử.”[8; tr.280]

Giai ñoạn VH Việt Nam 1945 – 1975 chưa lùi xa Nhiều cây bút làm nên giai ñoạn VH này hiện ñang tiếp tục sáng tác Thế nhưng, ñối với các thế hệ người ñọc –

HS ra ñời sau 1975, nó ñã trở nên xa lạ và khó hiểu Ra ñời trong một hoàn cảnh ñặc biệt, hoàn cảnh chiến tranh, nền VH ấy, với vẻ ñẹp cao cả hào hùng của cảm hứng anh hùng cách mạng ñã ñồng hành với bao thế hệ người ñọc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỉ nay Đặc biệt, trong những năm tháng chống Pháp, chống Mĩ cứu nước, giai ñoạn VH

ấy, tất nhiên ñã ñược bạn ñọc Việt Nam trong và ngoài nhà trường ñón nhận một cách nồng nhiệt, chân thành như những người “bạn ñường” tốt và thân yêu nhất của mình

Khi lịch sử - xã hội thay ñổi, quá trình sáng tác ñã sang trang, thì quá trình tiếp nhận VH (trong ñó có hoạt ñộng dạy và học văn) cũng sang trang Trong DHVH, người ta cũng không thể dạy và học như trước nữa, nghĩa là cũng phải ñiều chỉnh nội dung và cách dạy học ñể ñáp ứng với tình hình mới Bởi vì, “tầm ñón ñợi” của họ ñã

có nhiều thay ñổi do rất nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan và ñúng với các quy luật mĩ học tiếp nhận khách quan ñang chi phối cả một thế hệ HS, ñang tạo ra một thế

hệ người ñọc mới

Trong một tiết học, GV chưa biết chủ ñộng ñiều tiết thời gian, chưa lựa chọn ñược PPDH phù hợp nên các PP vận dụng kém hiệu quả Xuất phát từ mục tiêu DH của bộ môn, dạy và học môn Ngữ văn không chỉ là dạy kiến thức mà còn dạy sáng tạo trong cảm nhận VBTP Do ñó, việc vận dụng những PP mới trong quá trình DH sẽ góp phần phát triển tư duy của HS, nâng cao năng lực tìm tòi, học hỏi, ñáp ứng mục tiêu DH của bộ môn Tuy nhiên, một vấn ñề ñang bàn là khi chúng tôi dự giờ những tiết ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, GV cũng thực hiện thảo luận nhóm, giải quyết tình huống… và GV phải “gồng mình” thực hiện công việc này, chạy ñua với thời gian ñể chuyển tải khối lượng kiến thức và ñể khỏi cháy giáo án Chính vì buộc phải vận dụng những PP mới một cách máy móc mà giờ dạy VBTP thơ trữ tình vốn ñầy cảm xúc trở nên nặng nề, mệt mỏi cho cả GV và HS GV không còn thời gian ñể tạo cảm xúc, và tiết học không còn không còn chỗ trống ñể cảm xúc có thể thăng hoa

Trang 9

CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TP THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM 1945 – 1975

3.1 Những giải pháp về DH ñọc hiểu TP thơ trữ tình Việt Nam 1945 -1975

3.1.1 Tiếp cận ñúng quan ñiểm DH VBTP thơ trữ tình trong nhà trường THPT

Lâu nay, dạy thơ trong chương trình Ngữ văn ñược quan niệm như dạy cảm xúc, gợi cảm hứng, dạy nhận thức cuộc sống, con người mà trong cuộc sống, con người thì chính trị - ñạo ñức là cái trục lớn Người ta cũng kết hợp cả tâm lý, triết học, lịch sử và nói chung toàn bộ các kiến thức khoa học xã hội và nhân văn vào giờ giảng nếu có ñiều kiện và có chỗ liên hệ, dung nạp Điều này là không sai

Thế nhưng, một trong những luận ñiểm cơ bản của quá trình ñổi mới PPDH văn

trong nhà trường hiện nay là luận ñiểm “Học sinh là bạn ñọc sáng tạo trong quá trình dạy học văn.” Sự thay ñổi căn bản quan niệm về vai trò người dạy và người học so với

PPDH truyền thống là tư tưởng nổi bật của lí luận DH hiện ñại Việc DH VB TPVC, trong ñó có VBTP thơ trữ tình không còn gọi là giảng văn, mà gọi là ñọc hiểu VBVH Đọc, viết, nghe, nói là các hoạt ñộng cơ bản của HS trong môn học Ngữ văn Các hoạt ñộng này phải ñược GV tổ chức cho HS thực hiện trên lớp và trong các hoạt ñộng học tập Riêng việc quy ñịnh ñọc là một hoạt ñộng cơ bản của HS trong bài học ñọc hiểu

VB TPVC, trong ñó có DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình ñã ñem lại sự thay ñổi trong nhận thức và quan niệm trong việc DH TPVC Thế nhưng, trong thực tế DH, không phải GV nào cũng nhận thức rõ ñiều ñó

Vì thế, ñể cải tiến PPDH VB TPVC, DH VBTP thơ trữ tình, trước hết, theo chúng tôi, giáo viên cần có sự thay ñổi về nhận thức và quan niệm trong việc DH

TPVH Bởi, cái gốc của mọi vấn ñề chính là Nâng cao phẩm chất tư duy Trước hết,

cần phải xác ñịnh rõ bài học VBTP thơ trữ tình không phải là bài ñể giáo viên giảng và bình, mà ñể cho HS ñọc Giáo viên tất nhiên vẫn cần sử dụng công cụ lời giảng của mình, nhưng sử dụng vào việc hướng dẫn cho HS ñọc hiểu VB, không “ñộc chiếm” diễn ñàn, ñọc chép từ ñầu ñến cuối Dạy cho HS học ñọc hiểu có nghĩa là dạy HS kiến tạo nội dung ý nghĩa của bài thơ Giáo án của giáo viên thiết kế phải thể hiện yêu cầu này Và, ñể HS tự kiến tạo nội dung ý nghĩa VB ñược học thì phải tổ chức cho HS soạn bài, phát biểu, thảo luận, ñối thoại trên lớp, trao ñổi nhóm, sau ñó, giáo viên tổng kết nâng cao, ñưa ra kết luận cuối cùng trong tiết học

Dạy học ñọc có nghĩa là phải bắt ñầu từ kênh chữ, từ ñọc hiểu từ ngữ, câu văn, biểu ñạt mà suy ra nội hàm hình tượng và ý nghĩa, không nên bắt ñầu từ kênh hình tượng một cách tiên nghiệm như trước ñây GV cần tổ chức, ñịnh hướng cho HS khai

Trang 10

thác các hiện tượng “lạ hóa” của VB ñể HS chú ý giải mã, hình thành kĩ năng ñọc Hoặc, yêu cầu HS phát hiện câu thơ hay, câu ña nghĩa hoặc khó hiểu trong VB

Chúng tôi nghĩ rằng, một giờ học ñọc hiểu VBTP ñược gọi là thành công không phải là kết quả của việc thuyết trình (thầy giảng say sưa, trò nghe chăm chú) mà là tạo ra ñược không khí cảm thụ nghệ thuật (sôi nổi hoặc sâu lắng) cho HS Do ñó, trong giờ ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, vai trò ñịnh hướng của GV là rất quan trọng Nếu GV biết cách nêu vấn ñề, tổ chức dẫn dắt cho HS khai thác các hiện tượng bất thường của VB, biết cách trình bày sự lí giải, cảm nhận của mình thì ñó là một trong những cách GV giúp HS

tự hình thành kĩ năng ñọc hiểu – ñáp ứng mục tiêu DH Ngữ văn Để ñạt ñược ñiều này,

GV không những phải hiểu biết sâu sắc về TP mà còn phải hiểu biết sâu sắc về từng ñối tượng tiếp nhận Và, với mỗi ñối tượng tiếp nhận phải có một phương án tổ chức việc cảm thụ khác nhau Không nên biến giờ ñọc hiểu VBTP thơ thành giờ học gượng ép, bắt buộc với những lý do bên ngoài TP mà chỉ có thể khuyến khích, ñộng viên, tạo ra môi trường cảm thụ phù hợp ñể kích thích quá trình tìm tòi, phát hiện của HS

3.1.2 DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình trong tính chỉnh thể cấu trúc và ñặc ñiểm thể loại

Trong tiếp nhận thi ca, nhiều khi người ñọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi ñộ ngân vang của từ ngữ, của nhịp ñiệu câu thơ ngay cả khi chưa kịp hiểu nội dung, ý nghĩa mà chúng biểu ñạt Chi phối âm ñiệu thơ bao giờ cũng là tâm trạng, cảm xúc của thi sĩ… Bám sát ñặc trưng loại thể, tổ chức giờ DH ñúng ñặc trưng loại thể là một ñiều kiện tiên quyết làm nên sự thành công cho một giờ DH ñọc hiểu VB TPVC, trong ñó có VB TP thơ trữ tình

Mặt khác, ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình không ñơn giản chỉ là việc chia tách TP ra từng phương diện, ra từng khía cạnh, từng yếu tố ñể xem xét mà chủ yếu là phải chỉ ra ñược ý nghĩa, chức năng thể hiện nội dung, tư tưởng TP của từng yếu tố, từng phương diện ñó Vì thế, trong quá trình ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, người ñọc cần tranh luận, ñối thoại với TP như là một chỉnh thể nghệ thuật Khi ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, cần tôn trọng tính chỉnh thể của TP Tuy nhiên, trong quá trình ñọc hiểu VBTP, người ñọc không nhất thiết phải phân tích toàn bộ TP mà chọn lọc những ñiểm sáng thẩm mỹ, những yếu tố then chốt ñể khởi phát quá trình tiếp nhận TP

3.1.3 Vận dụng linh hoạt các PPDH trong quá trình DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình

Chúng tôi cho rằng, ñổi mới PPGD ở môn Ngữ văn là sự vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, các thao tác giảng dạy khác nhau nhằm phát huy tối ña tinh thần chủ ñộng tích cực, sáng tạo của HS, giúp các em tự tìm tòi, tự khám phá ra chân lí Đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện cho HS, giúp các em có thể thích ứng với những yêu cầu ña dạng phong phú của cuộc sống Bởi vì, theo chúng tôi không có PP thuần túy Một tiết

Trang 11

dạy tốt, trước hết và nhất thiết phải là tiết dạy giúp HS có ñược những kiến thức chính xác, giúp các em khôn lớn lên về mặt trí tuệ Vì thế trong quá trình tổ chức cho HS ñọc hiểu VBTP, GV cần phải xác ñịnh ñúng các kiến thức trọng tâm, nắm vững mục tiêu của bài học, ñối tượng DH ñể lựa chọn PPDH phù hợp Cần nhấn mạnh ñến yêu cầu nội dung trong quá trình giảng dạy, ñể chống khuynh hướng cường ñiệu hóa một chiều lĩnh vực PP, coi ñổi mới DH chỉ ñơn thuần là ñổi mới về PP mà chưa thấy ñược cần có sự ñổi mới ñồng bộ về PP và nội dung

Đổi mới PPDH, trước hết là hướng vào HS, giúp HS có năng lực tư duy sáng tạo Trong dạy học ñọc hiểu VBTPVC nói chung, ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình nói riêng ñược thể hiện ở chỗ trong quá trình ñọc hiểu VBTP, GV với vai trò là người tổ chức và hướng dẫn HS tự phát hiện ra cái hay, cái ñẹp của bài thơ qua những hiểu biết của

mình Sáng tác văn chương rất cần sự ñộc ñáo “TP nghệ thuật ñích thực – nhất là TP ngôn từ - bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.”

[5; tr.29] Do ñó, cảm thụ TP cũng cần phải thể hiện ñược sự sáng tạo và ñộc ñáo Nên phối hợp nhiều cách, trong ñó cần lưu tâm xây dựng một hệ thống câu hỏi, ñặt HS vào tình huống có vấn ñề ñể buộc các em phải tìm tòi, suy nghĩ Nên trân trọng cách hiểu riêng của các em, cho dù cách hiểu ñó còn những non nớt, nhưng ít nhiều ñã có cơ sở, nhất là ñối với những bài thơ, câu thơ ña nghĩa Ngay khi các em cảm nhận không bình thường, thì cũng cần ñược uốn nắn một cách khéo léo Có như vậy mới khích lệ ñược

HS tự giãi bày, tự phơi trải những ñiều sâu kín mà các em suy nghĩ

Mặt khác, ñổi mới PPDH còn ñược thể hiện ở việc vận dụng linh hoạt các PPDH khác nhau nhằm phát huy tối ña tinh thần chủ ñộng tích cực, sáng tạo của HS, giúp các em tự tìm tòi, tự khám phá ra chân lí Vì thế, trong quá trình tổ chức, hướng dẫn HS ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, GV có thể vận dụng các PPDH như: PP ñọc sáng tạo; PP gợi tìm; PP tái tạo; PP nghiên cứu… Các PP này thường xuyên ñược phối hợp ñan chéo nhau một cách khăng khít trong tiến trình tiết học

Trong thực tiễn DH VBTPVC, trong ñó có ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, sẽ không có một PPDH nào gọi là tối ưu Mỗi PP ñều có những ưu ñiểm và hạn chế nhất ñịnh Vì thế trong PPDH ñọc hiểu VBTPVC, VBTP thơ trữ tình, GV cần biết vận dung các PP một cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực của chủ thể người ñọc – HS trong quá trình ñọc hiểu VBTP

Trang 12

Thứ hai, xem xét tính khả thi các quy trình hướng dẫn HS ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình theo ñặc trưng thể loại

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm và ñối chứng

Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 lớp Cụ thể là lớp T-DNH/09.B (Khoa Nữ công)

và lớp T-ĐTD/09.B (Khoa Điện tử)

Bên cạnh lớp thực nghiệm (TN), chúng tôi chọn lớp T-MTT/09.B (Khoa Nữ công) và lớp T-KXD/09.B (Khoa Xây dựng) làm lớp ñể ñối chứng (ĐC) Đây là hai lớp có trình ñộ học tập môn Văn ngang tầm với hai lớp thực nghiệm Kết quả ñầu vào và kết quả bài thi kiểm tra Văn 2 ñã nói ñiều ñó

Chúng tôi có kết quả bài thi kiểm tra học kì II (Văn 2) của hai ñối tượng thực nghiệm và ñối chứng như sau:

3.2.3 Thời gian thực nghiệm

Theo chương trình môn Văn trường Cao ñẳng nghề An Giang, phần thơ trữ tình hiện ñại 1945 – 1975 nằm trong phần Văn 3 (Học kì I, năm học 2010 – 2011)

Từ tiết 14, tuần 3 ñến tiết 25 của tuần 6 (Từ ngày 04/10/2010 ñến 28/10/10)

3.2.4 Nội dung thực nghiệm

Trong phạm vi giới hạn của ñề tài, chúng tôi tiến hành thực nghiệm dạy ñọc hiểu

VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975 trong chương trình Ngữ văn 3 (tương ñương

lớp 12 bậc THPT) Các bài dạy ñược chọn dạy TNSP là những bài ñược học trong

Chương trình Ngữ văn 3 (gồm 75 tiết) Tổng số tiết dạy thực nghiệm là 10 tiết Cụ thể

như sau:

- Tây Tiến (Quang Dũng), tiết 14-15;

- Việt Bắc (Tố Hữu), tiết 18-19-20;

- Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), tiết 23-24-25;

- Sóng (Xuân Quỳnh), tiết 26-27

3.2.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm dạy bài ñọc hiểu

Trang 13

Thiết kế giáo án (TKGA) ñọc hiểu TPVC là một thuật ngữ chỉ phương án và cách thức ñể dạy học một TPVC Kiến thức ñược DH, theo quan ñiểm của chúng tôi, là kiến thức tối thiểu trên cơ sở lựa chọn từ lượng kiến thức tối ña Vì thế, không bao giờ tất cả kiến thức lại hiện ra ñầy ñủ trên TKGA bởi ñó là phương án DH chứ không phải

là nội dung tri thức thuần túy Những “vùng trống không” trong TKGA thường là những gợi ý, những tiêu ñề nội dung cơ bản, những câu hỏi và những vấn ñề VH và ñời sống ñược ñặt ra giàu ấn tượng ñể lên lớp chúng ñược lấp ñầy bởi sự phân tích, phát hiện, ñào sâu, mở rộng hơn của GV và HS với những khả năng thế này hoặc thế khác

PPDH theo hướng ñọc hiểu chủ yếu là phát huy tính tích cực chủ ñộng và sáng tạo của HS nên TKBH chủ yếu là ñặt câu hỏi gợi dẫn, ñịnh hướng cho HS ñọc hiểu, cảm nhận Bài dạy kết hợp nhiều PP và biện pháp DH: ñọc văn, phát vấn thảo luận, thảo luận nhóm, phát biểu ý kiến, gợi tìm và bình giảng; sử dụng tranh ảnh

Trong giáo án, chúng tôi hướng dẫn HS ñọc và cảm nhận ñúng cảm xúc và tâm trạng của nhân vật trữ tình Trên cơ sở ñó ñặt câu hỏi ñịnh hướng giúp HS từng bước ñọc hiểu VBTP HS có thể làm việc theo nhóm hoặc làm việc cá nhân tùy theo các vấn

ñề ñặt ra Các hình thức học tập này sẽ giúp HS phát huy tính tích cực, chủ ñộng và sáng tạo của mình Bên cạnh ñó, dưới sự hướng dẫn, gợi tìm của chúng tôi, HS sẽ có PP tiếp cận TP một cách ñúng ñắn, có thể cắt nghĩa, lí giải vấn ñề một cách thấu ñáo

Vai trò chủ yếu của chúng tôi là tổ chức cho HS ñọc hiểu VBTP trên cơ sở nắm bắt ñặc ñiểm thể loại của VBTP Chúng tôi là người ñịnh hướng, nêu vấn ñề cho HS thảo luận, tìm hiểu, lí giải vấn ñề, khám phá nội dung ý nghĩa của VBTP trong tính chỉnh thể cấu trúc của nó Sau mỗi nội dung, chúng tôi bình thêm ñể giúp HS cảm nhận sâu thêm bài học

Giáo án sử dụng phối hợp các PPDH như: PP ñọc sáng tạo, PP gợi tìm, PP tái tạo, PP nghiên cứu có mục ñích… Hệ thống câu hỏi trong bài dạy ñọc hiểu TP thơ trữ tình ñược chúng tôi ñặt ra trong GATN cũng gắn liền với ñặc ñiểm thể loại TP thơ trữ

tình hiện ñại Hê thống câu hỏi trong giáo án ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình phải “kích thích HS từng bước thuộc câu thơ hay, cảm nhận ñược cao trào vận ñộng xúc cảm, tiến tới hiểu ñược những tầng nghĩa sâu xa” [3; tr.65] Các nhóm câu hỏi ñược sử dụng trong giáo án gồm: câu hỏi cảm xúc; hình dung tưởng tượng; hiểu; nhớ; phân tích chi tiết, cấu trúc… Tất cả các câu hỏi ñược ñặt trong mối quan hệ tương hỗ và kết thành

một hệ thống

Với những quan ñiểm vừa trình bày, chúng tôi ñã tiến hành TKGA thực nghiệm

DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975 Và chúng tôi thiết kế giáo án với tên gọi GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM

Chúng tôi xin giới thiệu GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM tiêu biểu bài Tây tiến

của Quang Dũng, nhưng chỉ trích mục Hoạt ñộng dạy học của giáo án.

Ngày đăng: 21/01/2015, 21:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  tổng  kết  ủiểm  kết  quả  bài  thi  cho  thấy  sự  vượt  trội  ủỏng  kể  về  chất  lượng dạy thực nghiệm - nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình việt nam 1945 – 1975 tại trường cao ñẳng nghề an giang
ng tổng kết ủiểm kết quả bài thi cho thấy sự vượt trội ủỏng kể về chất lượng dạy thực nghiệm (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w