1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam

112 545 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 639,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC1.2 Tổng quan về xã hội hóa trong lĩnh vực y tế và giáo dục 231.3 Nhận định chung về xã hội hóa giáo dục và y tế và khả năng CHƯƠNG II – TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA VÀ CÁC CH

Trang 1

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

“Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế

và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt

động y tế và giáo dục tại Việt Nam”

Đơn vị thực hiện: ACTIONAID VIETNAM

Trang 3

MỤC LỤC

1.2 Tổng quan về xã hội hóa trong lĩnh vực y tế và giáo dục 231.3 Nhận định chung về xã hội hóa giáo dục và y tế và khả năng

CHƯƠNG II – TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA VÀ CÁC

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ

2.1 Quá trình tiến triển của chính sách xã hội hóa trong giáo dục

2.2 Mục tiêu, định hướng của chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế 342.3 Các nguồn lực cho XHH giáo dục và y tế 362.4 Các khuyến khích với chính sách XHH 392.5 Các chính sách bổ trợ để tăng cường hiệu quả và hạn chế mặt trái của chính sách XHH với người nghèo 412.6 Các vấn đề tồn tại trong chính sách XHH liên quan tới tiếp cận của người nghèo tới dịch vụ giáo dục và y tế 45

CHƯƠNG III - TIẾP CẬN CỦA NGƯỜI NGHÈO ĐẾN DỊCH VỤ

GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH XÃ HỘI HÓA 48

3.1 Kết quả nghiên cứu từ phỏng vấn lãnh đạo địa phương về

3.2 Hoạt động của các cơ sở giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa 533.3 Đánh giá của người dân về xã hội hóa trong giáo dục 62

CHƯƠNG IV – TIẾP CẬN CỦA NGƯỜI NGHÈO ĐẾN DỊCH VỤ

Y TẾ TRONG BỐI CẢNH XÃ HỘI HÓA 76

4.1 Kết quả phỏng vấn lãnh đạo địa phương về XHH y tế 764.2 Hoạt động của các cơ sở y tế trong bối cảnh xã hội hóa 824.3 Đánh giá của người dân về xã hội hóa trong y tế 90

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

BẢNG

Bảng 2: Những thông tin chung về mẫu điều tra 15Bảng 3: Quy mô ngành y tế Việt Nam, năm 2008 25Bảng 4: Số liệu về các loại hình cơ sở giáo dục tại Hà Tĩnh

Bảng 5: So sánh giữa các cơ sở về các đặc điểm hoạt động chính 52Bảng 6: Tỷ lệ các loại hình dịch vụ giáo dục được lựa chọn (tự do)

Bảng 7: Rào cản trong giáo dục cho các địa phương và toàn bộ

Bảng 8: Rào cản trong giáo dục cho hộ không thuộc diện nghèo

ở các địa phương và toàn bộ mẫu điều tra 65Bảng 9: Rào cản trong giáo dục cho hộ nghèo ở các địa phương

Bảng 10: Các loại hình cơ sở y tế tại các địa bàn khảo sát 81Bảng 11: So sánh giữa các cơ sở về các đặc điểm hoạt động chính 82Bảng 12: Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những

Bảng 15: Rào cản trong y tế cho hộ không thuộc diện nghèo ở

các địa phương thuộc mẫu nghiên cứu 94Bảng 16: Rào cản trong y tế cho hộ nghèo ở các địa phương

Bảng 17: Các loại hình cơ sở Giáo dục của Tỉnh (chỉ thu thập ở

Bảng 18: Các loại hình cơ sở Y tế tại Tỉnh (chỉ thu thập ở cấp Tỉnh) 111

Trang 5

BIỂU Đồ

Biểu đồ 1: Cơ cấu cấp học và học sinh giữa cơ sở giáo dục công

và ngoài công lập năm học 2008 – 2009 23Biểu đồ 2: Tỷ lệ chi cho giáo dục so với thu nhập của hộ 60Biểu đồ 3: Khó khăn tiếp cận hỗ trợ trong giáo dục từ phía hộ

Biểu đồ 4: So sánh mức độ rào cản hiện tại và 5 năm trước đối

với tiếp cận dịch vụ giáo dục (toàn mẫu) 68Biểu đồ 5: So sánh sự thay đổi về rào cản cho nhóm thuộc

Biểu đồ 6: So sánh sự thay đổi về rào cản cho nhóm không

Biểu đồ 7: So sánh về mức độ thay đổi của các rào cản giữa nhóm

hộ nghèo và nhóm không thuộc diện hộ nghèo 69Biểu đồ 8: Rào cản tới tiếp cận dịch vụ giáo dục của mẫu chung

Biểu đồ 9: Sự lựa chọn của hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ y tế 90Biểu đồ 10: Rào cản đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AAV: ActionAid Việt Nam BHYT: Bảo hiểm Y tếBTC: Bộ Tài chínhCĐ: Cao đẳngCHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩaCSSK: Chăm sóc sức khỏe

ĐH: Đại họcGDĐT: Giáo dục đào tạoGDTX: Giáo dục từ xaKCB: Khám chữa bệnh

LĐ –TBXH: Lao động Thương binh và Xã hộiNHNN: Ngân hàng Nhà nước

NSNN: Ngân sách Nhà nướcTHCN: Trung học chuyên nghiệpTHCS: Trung học cơ sở

THPT: Trung học phổ thôngUBND: Ủy ban Nhân dânWTO: Tổ chức Thương mại Thế giới XHH: Xã hội hóa

Trang 7

Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đang nỗ lực cải thiện chất lượng các

dịch vụ công nói chung và giáo dục và y tế nói riêng Chủ trương “xã hội hóa” được thực hiện như một hình thức tăng trách nhiệm và huy động nguồn lực của toàn

xã hội nhằm nâng cao chất lượng và nguồn cung ứng các dịch vụ này Xã hội hóa chính

là việc giảm tỷ trọng bao cấp và hỗ trợ của nhà nước thông qua việc giao trách nhiệm

tự chủ về tài chính cho các đơn vị công như bệnh viện, trường học, giảm hoặc cắt bao cấp dịch vụ cho người dân, cũng như khuyến khích các thành phần kinh tế cung cấp các dịch vụ cơ bản khác cho người dân Bên cạnh những tác động tích cực, việc thực hiện chủ trương “xã hội hóa ” cũng tiềm ẩn những nguy cơ làm giảm tiếp cận của người nghèo tới dịch vụ y tế và giáo dục Phát hiện và điều chỉnh kịp thời những nguy cơ tiềm

ẩn trên là yêu cầu cấp thiết đang đặt ra cho các nhà quản lý

Trong khuôn khổ dự án “Tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình cải cách hành chính công ở Việt Nam”, do Đại sứ quán Đan Mạch tài trợ, ActionAid Việt Nam (AAV) và các đối tác đã tiến hành một nghiên cứu về tác động của xã hội hóa dịch vụ công nhằm phân tích chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ này AAV đã lựa chọn công ty Tư vấn Quản lý và Chuyển đổi tổ chức (T&C Consulting) để hỗ trợ kỹ thuật và thực hiện nghiên cứu tại các tỉnh Lai Châu, Hà Tĩnh và Đăk Lăk

Mục tiêu chung của nghiên cứu này là nhằm đánh giá tác động của quá trình xã hội hóa dịch vụ công đối với tiếp cận của người nghèo trong lĩnh vực y tế và giáo dục Cụ thể, nghiên cứu này đánh giá các lợi ích và quan ngại của quá trình xã hội hóa dịch vụ công

để xem xét khả năng thực hiện các giá trị và sứ mệnh xã hội khi chuyển đổi sang việc tự chủ về tài chính và tổ chức

Nghiên cứu gồm 2 phần chính (1) tổng quan về các chính sách, khung pháp lý và định hướng của Đảng và nhà nước về công tác xã hội hóa ngành giáo dục và y tế ở Việt Nam nói chung và những chính sách đảm bảo sự tiếp cận của người nghèo tới dịch vụ y tế và giáo dục; và (2) đánh giá những tác động của công tác xã hội hóa tới mức độ tiếp cận của người nghèo tới dịch vụ y tế và giáo dục ở một số địa phương trong vùng dự án

Xã hội hóa hiện là một chủ trương quan trọng trong phát triển giáo dục và y tế Xuất phát điểm của chủ trương này có thể coi là từ chủ trương “nhà nước và nhân dân cùng làm” vào thập niên 80 của thế kỷ trước Chủ trương “Xã hội hóa ” giáo dục và y tế được chính thức đề cập trong “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng” năm 1996, và được chính phủ cụ thể ở Nghị quyết NQ90/CP năm 1997

Điểm nổi bật trong các văn kiện và chính sách trên là về mục tiêu của chủ trương XHH: XHH nhằm huy động tiềm năng nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội, trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hóa hoạt động và các nguồn đầu tư nhằm tạo điều kiện để toàn bộ xã hội được hưởng thụ tốt hơn các dịch vụ y tế, giáo dục…Về lý thuyết, chính sách XHH cũng hướng tới mục tiêu về công bằng xã hội trong thụ hưởng các dịch vụ trên XHH các dịch vụ công bao gồm các đặc điểm chính (i) Người sử dụng dịch vụ bỏ (một phần hay toàn bộ) tiền ra mua dịch vụ; (ii) Các cơ sở cung cấp dịch vụ công đưa một

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Trang 8

phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động của mình vào giá dịch vụ do người sử dụng chi trả (thay vì được nhà nước bao cấp toàn bộ); và (iii) Khuyến khích người dân, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cung ứng dịch vụ.

Nhà nước cũng đã có những chính sách những khuyến khích nhất định dành cho các cơ

sở thực hiện XHH, đặc biệt là chính sách không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm

và dịch vụ của các cơ sở này Ngoài ra, nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường quản lý các cơ sở hoạt động theo hình thức XHH, cũng như trợ giúp người nghèo để có thể tiếp cận tới các dịch vụ này Tuy nhiên, hệ thống chính sách XHH mới chỉ nhấn mạnh việc huy động nguồn lực cho cung ứng dịch vụ công mà chưa đề cập rõ ràng và cụ thể tới việc thay đổi tương ứng vai trò quản lý của chính nhà nước trong quá trình XHH Hệ thống chính sách XHH (các chính sách ở cấp độ hướng dẫn thực hiện) hiện tại chưa gắn liền với việc thay đổi vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan chính phủ

ở địa phương Hệ quả của việc này là hệ thống chính sách XHH hiện tại có sự thiếu hụt trong các quy định và cơ chế kiểm soát cụ thể về quản lý nhà nước (nhất là quản lý chất lượng dịch vụ) đối với các cơ sở XHH, và sự thiếu cụ thể trong chính sách kiểm soát tài chính nhằm tránh lạm dụng XHH

Kết quả phỏng vấn và khảo sát ở các tỉnh cho thấy chủ trương và các chính sách xã hội hóa trong giáo dục và y tế được các cấp quản lý địa phương đánh giá cao và ủng hộ mạnh mẽ Tuy nhiên các, các địa phương có điều kiện kinh tế chậm phát triển gặp nhiều khó khăn hơn trong việc XHH giáo dục và y tế do hạn chế cả về nguồn cung (nhà đầu tư) và nhu cầu (mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân) Với dịch vụ giáo dục, trên phương diện quản lý nhà nước ở địa phương, việc triển khai chính sách XHH chưa gắn liền với vai trò quản lý nhà nước tương ứng như vai trò định hướng, điều tiết, và giám sát Điều này là một trong những nguyên nhân làm cho XHH chưa được phát triển toàn diện giữa các vùng, chưa đảm bảo chất lượng dịch vụ cung ứng, và thậm chí bị lạm dụng đối với một số khoản thu Khi những hạn chế này xảy ra thì người nghèo chính là đối tượng

bị thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất Thực tiễn khảo sát hoạt động của một số cơ sở giáo dục cũng cho thấy người nghèo đang bị thiệt trên một số lĩnh vực Thứ nhất, chính sách giảm học phí cho người nghèo trên thực tế hiện chỉ áp dụng ở các trường công lập Trong khi đó, rất nhiều học sinh nghèo lại không thể thi vào được trường công lập (kể từ cấp phổ thông trung học trở lên), mà chỉ có thể vào học ở trường dân lập Vì vậy, họ đã không được hưởng chính sách trên Trong khi đó, kết quả dạy và học ở các trường dân lập lại thấp hơn ở trường công lập Kết quả khảo sát các hộ gia đình cũng chỉ rõ người nghèo đang chịu rào cản lớn hơn về học phí và phụ phí nếu so với 5 năm trước Như vậy, cùng với việc triển khai XHH thì người nghèo đang gặp khó khăn lớn hơn về chi phí cho giáo dục Tuy nhiên, người nghèo cũng đang được hưởng những cải thiện về chất lượng tổng thể của giáo dục từ XHH Với dịch vụ y tế, XHH đã mang lại những tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe cho người dân Tác động lớn nhất là đã huy động vốn đầu

tư mở rộng nguồn cung ứng các dịch vụ y tế, đa dạng hóa loại hình dịch vụ y tế, và tạo sức ép cạnh tranh nhất định, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng các dịch vụ này Người nghèo được hưởng lợi gián tiếp từ việc các cơ sở XHH làm giảm tải cho bệnh viện công

và tạo sức ép nhất định tới việc tăng chất lượng khám chữa bệnh ở bệnh viện công Tuy nhiên, các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân chủ yếu mới đang cung cấp các dịch vụ ít rủi

ro và có lợi nhuận cao, sử dụng các thiết bị hiện đại Dịch vụ điều trị hoặc chữa bệnh phức tạp vẫn do các bệnh viện công cung cấp Khác với các cơ sở XHH trong giáo dục (cụ thể là trường dân lập), các cơ sở XHH y tế (khám dịch vụ trong bệnh viện công và phòng khám/bệnh viện tư) trực tiếp phục vụ người có khả năng chi trả Như vậy, người nghèo không phải là đối tượng phục vụ của các cơ sở này Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân có tiến hành đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất Tuy nhiên, về nguồn nhân lực chất lượng cao thì các cơ sở này chủ yếu đang tìm cách thu hút từ các cơ sở công Các bệnh viện công có nhận thấy vấn đề chảy máu chất xám, song chưa có biện pháp đối phó hữu hiệu

Trang 9

Từ những phát hiện đó, các khuyến nghị chính cho việc hạn chế các tác động tiêu cực của XHH được nhóm nghiên cứu đề xuất bao gồm: Với dịch vụ giáo dục (i) nên coi XHH giáo dục là gắn liền với việc chuyển đổi vai trò quản lý của nhà nước từ việc trực tiếp cung cấp dịch vụ sang việc quản lý vĩ mô, nâng cao vai trò dự báo, lên kế hoạch, quy hoạch, điều tiết sự phát triển giữa các vùng, và kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ

sở thuộc sở hữu khác nhau; (ii) các địa phương cần có quy hoạch phát triển hệ thống cơ

sở giáo dục ở các vùng khác nhau, từ đó tính toán và có chính sách khuyến khích để các vùng sâu vùng xa vẫn có cơ sở giáo dục, giảm rào cản về khoảng cách cho họ Trong một

số trường hợp, nhà nước có thể dành tiền đầu tư các trường công nhiều hơn cho vùng sâu vùng xa vì ở các vùng đông dân các cơ sở dân lập và tư thục sẽ ngày càng phát triển

và bổ sung khá lớn về nguồn cung dịch vụ; (iii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát, kiểm định chất lượng, đặc biệt là việc thực hiện các chính sách học phí và phụ phí, tránh tình trạng lạm dụng chính sách XHH Với dịch vụ y tế (i) tăng cường chức năng quản lý vĩ

mô như quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát của nhà nước; (ii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát nhằm hạn chế hiện tượng lạm dụng XHH để tăng chi phí khám chữa bệnh tại các bệnh viện công; và (iii) đảm bảo nguyên tắc trong việc xác định hộ nghèo tránh tình trạng các chính sách hỗ trợ người nghèo không hướng đúng vào nhóm đối tượng cần thụ hưởng

Trang 10

CHƯƠNG I – TỔNG QUAN

1.1 Giới thiệu chung về nghiên cứu

1.1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11/2006 Sự kiện này là cột mốc quan trọng trong tự do thương mại với sự cạnh tranh khắc nghiệt, quá trình tư nhân hóa, và sự tham dự nhiều hơn của các đối tác nước ngoài vào thị trường Việt Nam Tư cách thành viên WTO đòi hỏi Việt Nam phải cam kết điều chỉnh các chính sách về dịch vụ công cho phù hợp với các yêu cầu của WTO Thương mại hóa và tư nhân hóa các dịch vụ công cơ bản như giáo dục, y tế có khả năng

sẽ được mở rộng và đẩy mạnh hơn Ít sự tham gia của nhà nước đồng nghĩa với việc mục tiêu xã hội của các dịch vụ công sẽ hướng nhiều hơn sang mục tiêu lợi nhuận

Hai lĩnh vực giáo dục và y tế ở Việt Nam đang nhận được nhiều quan tâm của xã hội liên quan đến chất lượng dịch vụ, khả năng đáp ứng và trách nhiệm giải trình Cả hai lĩnh vực này đều đang được tập trung để cải cách nhằm tự chủ về tài chính và tổ chức Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đang nỗ lực cải thiện chất lượng các dịch vụ công thông qua định hướng “xã hội hóa” – một hình thức tăng trách nhiệm và huy động nguồn lực của toàn xã hội Xã hội hóa chính là việc giảm tỷ trọng bao cấp và hỗ trợ của nhà nước thông qua việc giao trách nhiệm tự chủ về tài chính cho các đơn vị công như bệnh viện, trường học, giảm hoặc cắt bao cấp dịch vụ cho người dân, cũng như khuyến khích các thành phần kinh tế cung cấp các dịch vụ cơ bản khác cho người dân

Trong bối cảnh đó, sẽ có các cơ hội tích cực và ảnh hưởng bất lợi đến khả năng tiếp cận dịch vụ công của người nghèo Đã có những thành công và thất bại của các chính sách công đối với lĩnh vực bảo trợ xã hội cũng như nhiều phân tích được tài liệu hóa từ các góc nhìn phân tích về quản trị công Khá nhiều nghiên cứu trước đây ở các quốc gia khác

đã chỉ ra rằng tư nhân hóa dịch vụ công không đảm bảo tăng chất lượng của dịch vụ mà

có thể giảm tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ này Nếu những xu hướng này không được xem xét, cân nhắc một cách thấu đáo thì những người nghèo ở Việt Nam có thể sẽ không được hưởng lợi và thậm chí có thể phải chịu nhiều tác động tiêu cực

Trong khuôn khổ dự án “Tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình cải

cách hành chính công ở Việt Nam”, do Đại sứ quán Đan Mạch tài trợ, ActionAid Việt

Nam (AAV) và các đối tác đã tiến hành một nghiên cứu về tác động của xã hội hóa dịch

vụ công nhằm phân tích chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ này Đây là một nghiên cứu phân tích tương quan về tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ công – tư nhân để đưa ra các khuyến nghị phù hợp Kết quả của nghiên cứu sẽ được chia sẻ tại địa phương và cấp quốc gia Căn cứ vào những phát hiện từ nghiên cứu này, các thông điệp về mặt chính sách cũng sẽ được xây dựng nhằm thúc đẩy các cơ hội đối thoại về các vấn đề liên quan đến quá trình xã hội hóa các dịch vụ công

AAV đã lựa chọn công ty Tư vấn Quản lý và Chuyển đổi tổ chức (T&C Consulting) để hỗ trợ kỹ thuật và thực hiện nghiên cứu Các nghiên cứu viên sẽ hỗ trợ các thảo luận tại hội thảo báo cáo được tổ chức trong suốt quá trình nghiên cứu

Trang 11

Do là một phần của 1 dự án tài trợ nên nghiên cứu sẽ phải tuân thủ các thỏa thuận của nhà tài trợ và góp phần đạt mục tiêu chung của dự án Nhóm Dự án Cải cách Hành chính Công của AAV và các đối tác của dự án đã hỗ trợ xây dựng các hướng dẫn, thống nhất mục tiêu, quy trình cũng như hỗ trợ quá trình nghiên cứu

Đây cũng là hoạt động tiếp nối của đánh giá dịch vụ công sử dụng thẻ báo cáo công dân đã được tiến hành tại các tỉnh nêu trên Trong quá trình nghiên cứu tại thực địa và trước khi hoàn thiện báo cáo, nhóm nghiên cứu đã cùng đối tác địa phương tổ chức hội thảo báo cáo nhanh nhằm chia sẻ các phát hiện từ nghiên cứu với các bên liên quan Quá trình này có thể được xem như các can thiệp nhằm nâng cao nhận thức về những tác động của xã hội hóa và vận động tại cấp địa phương Tại Hà Nội, Trung tâm Hợp tác

và Phát triển nguồn Nhân lực (C&D) sẽ tiến hành một đánh giá thực địa tương tự để đưa

ra các phân tích so sánh giữa khu vực nông thôn và thành thị

1.1.2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

1.1.2.1 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Mục tiêu chung của nghiên cứu này là nhằm đánh giá tác động của quá trình xã hội hóa dịch vụ công đối với khả năng tiếp cận của người nghèo với hai lĩnh vực được lựa chọn

là giáo dục và y tế ở Việt Nam

Cụ thể, nghiên cứu này đánh giá các lợi ích và quan ngại của quá trình xã hội hóa dịch vụ công để xem xét khả năng thực hiện các giá trị và sứ mệnh xã hội khi chuyển đổi sang việc tự chủ về tài chính và tổ chức

Nghiên cứu bao gồm 2 phần chính:

(1) Tổng quan về các chính sách, khung pháp lý và định hướng của Đảng và nhà nước

về công tác xã hội hóa ngành giáo dục và y tế ở Việt Nam nói chung và những chính sách đảm bảo sự tiếp cận của người nghèo tới dịch vụ y tế và giáo dục;

(2) Đánh giá những tác động của công tác xã hội hóa tới mức độ tiếp cận của người nghèo tới dịch vụ y tế và giáo dục ở một số địa phương trong vùng bao phủ của dự án

Phần đầu tập trung vào nghiên cứu khung pháp lý và các chính sách và chiến lược liên quan đến xã hội hóa dịch vụ y tế và giáo dục Các chính sách được khảo sát trước hết là những chính sách, quy định trực tiếp chi phối xã hội hóa trong lĩnh vực y tế và giáo dục Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn tìm kiếm các chính sách, quy định bổ sung và việc thi hành của các chính sách quy định này, ví dụ: chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo

và cận nghèo, chính sách cho vay, trợ cấp cho học sinh nghèo Để hiểu rõ hơn về mục tiêu, hoàn cảnh ra đời chính sách, và quan điểm người hoạch định chính sách, nhóm nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn sâu một số nhà quản lý tại cấp trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Y tế ) về các chính sách xã hội hóa và chính sách liên quan đến tiếp cận của người nghèo đến giáo dục và y tế

Phần 2 đánh giá tác động của việc thực thi các chính sách xã hội hóa tại các địa phương đối với mức độ tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục của người dân, đặc biệt là người nghèo Đây là mục tiêu có tính thách thức cao vì rất khó tách bạch giữa tác động của XHH với tác động của những nhân tố khác (như tăng trưởng kinh tế, tăng dân số, biến đổi môi trường, chính sách xóa đói giảm nghèo, v.v.) tới tiếp cận của người dân tới các dịch vụ này Tuy nhiên, ở ba tỉnh dự án, thay đổi về tiếp cận của người dân tới giáo dục

và y tế có thể gắn phần lớn hoặc chủ yếu tới chính sách XHH và các chính sách hỗ trợ người nghèo

Ngoài ra, để có dữ liệu khách quan hơn về tác động của chính sách XHH, nhóm tư vấn

đã sử dụng và kết hợp nhiều nguồn dữ liệu như văn bản tài liệu, phỏng vấn sâu các nhà quản lý cấp địa phương (từ Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở

Trang 12

Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính, Sở Nội vụ, UBND Huyện), tìm hiểu thực trạng hoạt động của các cơ sở y tế công và tư nhân, các trường học công và ngoài công lập, và khảo sát mức độ tiếp cận của người dân đến hai dịch vụ y tế và giáo dục tại các vùng dự án của AAV Việc kết hợp các nguồn và loại hình dữ liệu khác nhau cho phép nhóm tư vấn đưa ra được những đánh giá khách quan về tác động của XHH tới việc tiếp cận dịch vụ giáo dục và y tế.

Các kết quả nghiên cứu ở cả hai phần cho phép nhóm nghiên cứu đưa ra các đề xuất về khung chính sách và quy định để nâng cao cơ hội và giảm những tổn thương cho người nghèo như kết quả mong muốn của quá trình xã hội hóa

1.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ tập trung vào tìm ra câu trả lời cho các vấn đề sau:

(1) Ở cấp chính sách:

a Các mục tiêu riêng của các chính sách có liên quan đến xã hội hóa và các quy định trong cả hai lĩnh vực khi được thiết kế, ban hành và ý kiến của các nhà hoạch định chính sách về tác động tiềm năng của các chủ trương chính sách trên;

b Về phạm vi thi hành của các chính sách và các quy định có liên quan cùng những tác động thực tế/tác động dự báo của các chính sách này tới việc tiếp cận các dịch vụ Y tế và Giáo dục của người nghèo

(2) Ở cấp độ địa phương

a Việc triển khai quá trình xã hội hóa giáo dục, y tế tại các địa phương (quan điểm của địa phương, quy mô, mức độ xã hội hóa tại các địa phương và các biện pháp giám sát );

b Các chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận hai dịch vụ y tế và giáo dục tại các địa phương trong bối cảnh xã hội hóa

Lưu ý là: Quá trình “Xã hội hóa” trong hoàn cảnh của Việt Nam có liên quan đến

những nhà cung cấp dịch vụ không chỉ từ khu vực tư nhân mà còn bao gồm các cơ

sở của nhà nước được trao quyền tự quyết về mặt tài chính và tổ chức/nhân sự (theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ) Những nhà cung cấp dịch vụ được khảo sát gồm ba đối tượng “khu vực do tư nhân làm chủ”, “các cơ sở do nhà nước làm chủ nhưng nhận quyền tự quyết về tài chính”, và “các cơ sở của nhà nước phụ thuộc phần lớn vào ngân sách nhà nước” Việc khảo sát các nhà cung cấp dịch vụ theo ba loại hình này giúp cung cấp các dữ liệu để so sánh, và nhờ đó, nhóm nghiên cứu có được một phân tích đầy đủ hơn

Trang 13

1.1.2.3 Thu thập dữ liệu

Các phương pháp thu thập dữ liệu khác nhau sẽ được áp dụng cho các nhu cầu thông tin khác nhau nhằm có được các đầu vào đầy đủ cho việc phân tích và đưa ra các đề xuất liên quan, như trình bày trong bảng dưới đây:

Bảng 1 Các phương pháp thu thập dữ liệu

- Các chính sách và quy định bổ sung;

- Các báo cáo có liên quan

do các tổ chức/các bên liên quan (như các cơ quan nhà nước, các nhà tài trợ như Ngân hàng Thế giới, Cộng đồng Châu Âu và các tổ chức phi chính phủ, v.v.);

- Báo cáo về chuyến khảo sát mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ công (do AAV tiến hành)

- Các mục đích/mục tiêu có trong các chính sách;

- Các nhóm mục đích được xác định trong các chính sách;

- Việc thi hành các chính sách trên;

- Đánh giá mà các báo cáo của các bên liên quan khác nhau đưa ra (để có được các quan điểm khác nhau về các vấn đề);

- Những đề xuất cho bất kì sự sàng lọc nào cần cho các cuộc phỏng vấn sâu với các nhà hoạch định chính sách;

- Bất kì một gợi ý nào về các kiến nghị chính sách đáng được xem xét trong suốt nghiên cứu

+ Đánh giá của họ về những tác động thực tế và tác động tiềm năng (theo hướng dự báo) tới việc tiếp cận các dịch vụ của người nghèo;

- Các đề xuất của họ về các chính sách (đặc biệt là những quy định, chính sách xóa đói giảm nghèo bổ sung) hoặc việc thi hành các chính sách xóa đói giảm nghèo

Chú ý: Những vấn đề này sẽ được xây dựng theo một cách trung lập và chỉ những ai tham gia trả lời miệng và cởi

mở mới được đưa vào nghiên cứu.

Trang 14

Sở Kế hoạch và Đầu tư

Sở Lao động Thương Binh và

Xã hội

- Thu được số liệu định tính về: + Những ý kiến về các chính sách trong bối cảnh địa phương; + Đánh giá về tác động thực tế/tiềm năng (xu hướng dự báo) đến việc tiếp cận các dịch vụ y

tế, giáo dục của người nghèo; + Đánh giá của họ về những nhà cung cấp dịch vụ tại địa phương họ sinh sống (nhiệm

vụ, nhóm mục tiêu, việc cung cấp các dịch vụ trên thực tế); + Các đề xuất/kiến nghị của họ nếu có

- Có được sự định tính (thông qua các trường hợp nghiên cứu) và định lượng về chiến lược và hoạt động thực tế trong các mặt: + Sứ mệnh của họ

+ Các khách hàng mục tiêu + Giá cả

+ Dịch vụ nào đem lại thu nhập cao nhất và giá của các dịch vụ này

là bao nhiêu (để so sánh với khả năng chi trả của người nghèo) + Khác

+ Để kiểm tra xem liệu có những thay đổi không trong việc chi tiêu của họ vào các dịch vụ; việc

sử dụng các dịch vụ khác nhau (qua nhiều năm Ví dụ, trước và sau khi thi hành chính sách Xã hội hóa);

+ Những đánh giá của họ về việc tiếp cận các dịch vụ (về mặt số lượng và chất lượng);

+ Những kiến nghị của họ, nếu có

Trang 15

1.1.2.4 Địa bàn và mẫu số liệu nghiên cứu

Địa bàn thực hiện

Nghiên cứu này được tiến hành trên địa bàn 3 tỉnh Đắc Lắc, Hà Tĩnh và Lai Châu Cụ thể, đối với phần điều tra hộ gia đình, mẫu phỏng vấn được chọn tại 3 xã của huyện Eakar tỉnh Đắc Lắc; 4 xã tại hai huyện Lộc Hà và Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh; và 3 xã của huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

Huyện Eakar, tỉnh Đắc Lắc được thành năm 1986 tách từ hai huyện Krong Pắk và MĐ Rắk với diện tích 103.743 ha và dân số 143,5 ngàn người năm 2008 Eakar không phải

là huyện có tiềm năng về đất canh tác hay cây công nghiệp, nhưng lại có thế mạnh về công nghiệp chế biến, khai khóa ng và vật liệu xây dựng Cơ cấu kinh tế của huyện là nông, lâm nghiệp, công nghiệp và thương mại dịch vụ, với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, 21,4% năm

2008 Phần lớn dân cư sống ở các vùng sâu, vùng xa có nhiều tập tục còn lạc hậu, trình

độ dân trí nói chung còn thấp, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việc triển khai

và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế và thiếu hiệu quả Người dân còn gặp nhiều khó khăn tiếp cận dịch vụ công

Huyện Can Lộc, Hà Tĩnh là huyện đồng bằng, địa hình khá bằng phẳng, gần các trung tâm tỉnh lỵ, giao thông đi lại dễ dàng Kinh tế tương đối phát triển, số hộ nghèo chiếm khoảng 11,2% (năm 2008) Huyện Lộc Hà là huyện mới thành lập năm 2007, có diện tích 11.830 ha và dân số 91,3 ngàn người (năm 2008) Đây là một huyện ven biển có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi và có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển, đặc biệt là kinh tế biển Tuy nhiên, nền kinh tế của huyện chủ yếu là sản xuất nhỏ Kinh tế phát triển còn chưa xứng với tiềm năng, cơ cấu kinh tế còn chưa hợp lý, chủ yếu là làm nông nghiệp và nghề muối Đời sống của nhân dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo là 32,1%, việc học tập, khám chữa bệnh còn chưa thực sự thuận lợi

Huyện Tam Đường, Lai Châu là một huyện miền núi, có địa hình bị chia cắt bởi núi cao, nhiều đèo dốc, sạt lở đất và lũ quét thường xảy ra Giao thông kém phát triển khiến việc

đi lại cực kỳ khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ Trình độ phát triển xã hội còn ở mức thấp,

tỷ lệ hộ nghèo còn cao (khoảng 27% năm 2008), trình độ dân trí trung bình còn hạn chế, trong khi đội ngũ cán bộ các cấp còn rất yếu và thiếu Kinh tế của Tam Đường chủ yếu là nông nghiệp có kèm theo thủy sản (khoảng 300 tấn năm 2008) Sản xuất công nghiệp còn rất khiêm tốn, chủ yếu là khai thác khóa ng sản, quặng … và chế biến với giá trị tổng sản lượng đạt 100 tỷ đồng vào năm 2008 Các ngành dịch vụ của huyện cũng còn hạn chế khi chỉ đóng góp khoảng 20 tỷ đồng giá trị sản lượng trong năm 2008

Mẫu số liệu nghiên cứu

Mẫu số liệu sử dụng trong nghiên cứu này gồm 215 hộ với 1090 nhân khẩu của 4 huyện thuộc ba tỉnh Lai Châu, Hà Tĩnh và Đắc Lắc Trong đó 50 hộ với 256 nhân khẩu thuộc mẫu điều tra tại Lai Châu, 55 hộ với 291 nhân khẩu tại Đắc Lắc, và 110 hộ với 543 nhân khẩu thuộc mẫu điều tra tại Hà Tĩnh Đặc điểm của mẫu nghiên cứu này được trình bày tóm tắt trong bảng sau:

Trang 16

Bảng 2: Những thông tin chung về mẫu điều tra

Tỷ lệ hộ gia đình có người đi khám

chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong

Trong mẫu điều tra, chỉ có 35% số chủ hộ/người trả lời là nam giới được điều tra, trong khi tỷ lệ này ở Lai Châu, Đắc Lắc và Hà Tĩnh lần lượt là 62%, 2% và 39% Đây là một đặc điểm rất đáng quan tâm trong quá trình đánh giá kết quả nghiên cứu giữa các tỉnh trong mẫu nghiên cứu bởi lẽ Lai Châu có phần lớn chủ hộ là nam giới, nhưng ở Đắc Lắc hoàn toàn ngược lại

Tuổi trung bình của các chủ hộ là 44,1, trong đó có chủ hộ mới 20 tuổi và chủ hộ già nhất trong mẫu điều tra là 79 Độ tuổi trung bình của chủ hộ tại Đắc Lắc là trẻ nhất ở mức 39,2 tuổi, còn ở Hà Tĩnh là cao nhất ở mức 46,5 tuổi

Phần lớn số người được hỏi là nông dân và một tỷ lệ nhỏ cho các ngành nghề khác, đặc biệt là ở Lai Châu nơi có tới 98% số người được hỏi là nông dân Theo mẫu nghiên cứu chung, có tới 88,4% là nông dân, còn làm việc trong khu vực nhà nước, kinh doanh và ngành nghề khác lần lượt là 5,1%, 3,3% và 3,3%

Trang 17

Trình độ của chủ hộ cũng rất đa dạng: không biết chữ vẫn chiếm tới 10,2%, chủ hộ có trình độ Tiểu học là 19,5%, Trung học là 66,5% và từ Trung cấp trở lên có 3,7% nhưng không có ai có trình độ Đại học và Sau Đai học Các chủ hộ không biết chữ chủ yếu thuộc Lai Châu với 28%, còn ở Hà Tĩnh thì chỉ có chưa đầy 1% Đây là một sự khác biệt rất lớn giữa các vùng nghiên cứu Người có trình độ cao, từ Đại học trở lên, không có trong mẫu nghiên cứu Trường hợp của Hà Tĩnh, thu nhập trung bình của hộ là thấp nhất trong mẫu điều tra nhưng tỷ lệ mù chữ rất ít và tỷ lệ các cấp học cao thì nhiều hơn các địa phương khác trong mẫu nghiên cứu.

Thông tin về hộ được điều tra cũng có sự khác biệt giữa các tỉnh trong mẫu điều tra Trung bình mỗi hộ có 5,1 nhân khẩu và ở các tỉnh Lai Châu là 5,1, Hà Tĩnh là 4,9 còn Đắc Lắc là 5,3 Như vậy, các huyện thuộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa, giao thông khó khăn thường có qui mô gia đình lớn hơn khu vực ở đồng bằng, giao thông thuận lợi Về thu nhập của hộ, những con số này có thể có những tranh luận

Theo kết quả chung cho tổng thể mẫu nghiên cứu, thu nhập trung bình của mỗi hộ trong mẫu điều tra là 1,39 triệu đồng/tháng, trong đó có hộ không có bất cứ nguồn thu nhập nào trong tháng, và có hộ có thu nhập cao nhất là 8 triệu đồng/tháng ở Đắc Lắc Mức thu nhập là khác biệt giữa các địa phương nghiên cứu Mẫu nghiên cứu tại Tam Đường, Lai Châu lại là địa phương có thu nhập trung bình của hộ cao nhất và đạt 1,56 triệu đồng/tháng và chính hai huyện Can Lộc và Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh lại có thu nhập trung bình của hộ thấp nhất chỉ đạt mức 1,25 triệu đồng/tháng Mẫu nghiên cứu có tỷ

lệ hộ nghèo là 38%, còn ở Đắc Lắc con số này là 49%, Hà Tĩnh 35%, nhưng Lai Châu chỉ

Số con trong độ tuổi đi học trung bình mỗi hộ là 2,1 Con số này tương đối đồng đều

ở cả ba mẫu điều tra ở ba tỉnh Như vậy, đối tượng nằm trong phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu này trong lĩnh vực giáo dục là tương đối tốt bởi lẽ mỗi hộ có trung bình hơn hai người đang ở trong độ tuổi đến trường và đó chính là cơ sở để nhóm nghiên cứu có thể nghe được ý kiến từ cả người thụ hưởng dịch vụ giáo dục và những người thực sự trả tiền cho dịch vụ này Về tiếp cận tới dịch vụ y tế, có tới 95% số hộ được hỏi trả lời rằng trong hộ của họ đã có các thành viên phải đi viện trong thời gian 5 năm qua, trong đó ở Lai Châu có 90%, Đắc Lắc là 100% và Hà Tĩnh 95% Số lượt đi viện trung bình cho cả mẫu nghiên cứu là 6,4 lượt trong năm 2008 và lần lượt cho các tỉnh Lai Châu, Hà Tĩnh và Đắc Lắc là 3,4; 6,3; và 9,1 lượt

1.1.2.5 Phân tích dữ liệu

Với các số liệu định tính, nhóm nghiên cứu áp dụng cả hai cách tiếp cận phân tích nội dung và khai thác thông tin để hiểu được văn bản Việc phân tích dựa trên các câu hỏi nghiên cứu quan trọng với quá trình phân loại và mã hóa Nhóm nghiên cứu trích những đoạn cụ thể và tiêu biểu để minh họa cho những phát hiện chính nổi lên trong quá trình phân tích Toàn bộ phân tích được tiến hành với những ghi chép bằng tiếng Việt Để đảm bảo tính khách quan của việc phân tích, cần ít nhất hai chuyên gia tư vấn tiến hành phân tích và so sánh, sau đó sẽ so kết quả của họ với nhau Các kết quả hay ý tưởng trái ngược được thảo luận cho tới khi đi đến thống nhất

Các dữ liệu (về nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ) là các dữ liệu định lượng và được phân tích bằng phần mềm SPSS Nhóm nghiên cứu xây dựng bộ mã hóa, sau đó tiến hành kiểm tra để phát hiện ra các các dữ liệu không chính xác Dữ liệu chủ yếu được phân tích theo tần số trong lĩnh vực nhân khẩu học và điểm trung bình, và so sánh giữa hai nhóm dân cư (hộ nghèo và không nghèo) và giữa các tỉnh

Trang 18

1.1.2.6 Những hạn chế của nghiên cứu

Khó khăn lớn nhất của đợt nghiên cứu là việc không tiếp cận được một số đối tượng chính để thu thập thông tin, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách cấp trung ương Điều này gây chậm trễ cho việc hoàn tất báo cáo nghiên cứu theo đúng kế hoạch ban đầu Ngoài ra, do đơn vị tổ chức nghiên cứu này là một tổ chức phi chính phủ quốc tế, AAV, nên một số cán bộ quản lý cấp sở, huyện tại các địa phương khảo sát còn e ngại khi cung cấp dữ liệu cho nhóm nghiên cứu Ví dụ, Sở GD ĐT, Sở Y tế tỉnh Đăk Lắk từ chối cung cấp các dữ liệu tổng hợp về hai ngành này mà chỉ đồng ý trả lời phỏng vấn của nhóm nghiên cứu

Một hạn chế nữa của nghiên cứu là tác động của xã hội hóa tới sự tiếp cận của người nghèo về dịch vụ y tế và giáo dục chỉ có thể được phân tích một cách gián tiếp thông qua việc đánh giá mức độ cải thiện trong sự tiếp cận của các nhóm dân cư trong 5 năm qua tới hai dịch vụ trên Không có vùng/tỉnh nào không thực hiện xã hội hóa để làm nhóm kiểm chứng Ngoài ra các số liệu quá khứ (trước khi có chủ trương chính sách XHH) về rào cản tiếp cận về giáo dục và y tế trong vùng nghiên cứu đều không sẵn có Tuy nhiên, việc kết hợp các loại hình thông tin khác nhau và có dữ liệu so sánh giữa nhóm nghèo và không nghèo cho phép kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao

1.2 Tổng quan về xã hội hóa trong lĩnh vực y tế và giáo dục

Xu thế hội nhập và đẩy mạnh tự do là không thể đảo ngược, và xu thế đó đặc biệt rõ ràng sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Các quy chế, thông

lệ quốc tế và cam kết về mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại, về tư nhân hóa kể cả

là các lĩnh vực truyền thống và là nhiệm vụ của Nhà nước như y tế và giáo dục,… phải dần được thực hiện phù hợp với lộ trình mà Chính phủ đã cam kết Điều đó có nghĩa là

tư nhân sẽ tham gia tích cực hơn và việc cung cấp các dịch vụ công trong đó hai lĩnh vực chính là giáo dục và y tế, còn Nhà nước sẽ giảm trách nhiệm trong việc cung cấp các dịch

vụ này và tăng tính trách nhiệm của cộng đồng Như vậy, mục tiêu xã hội của các dịch vụ giáo dục và y tế sẽ hướng dần sang mục tiêu lợi nhuận

Việt Nam có một thời gian dài thực hiện bao cấp, việc sử dụng các dịch vụ công như giáo dục và y tế là hoàn toàn miễn phí, nên các lĩnh vực này có một sức ì, chậm đổi mới và còn lúng túng trong việc xây dựng cơ chế vận hành vừa phù hợp với thị trường lại vừa phù hợp với mục tiêu xã hội Kinh tế phát triển, mức sống dân cư và chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao kéo theo nhu cầu ngày càng gia tăng về giáo dục, chăm sóc y tế Cho dù, chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn để cải thiện chất lượng

và xây dựng cơ chế vận hành cho các lĩnh vực này, nhưng với nguồn ngân sách hạn chế, Nhà nước đã không thể bao cấp hết mọi đối tượng và mọi hoạt động của hai lĩnh vực này Xã hội hóa trong giáo dục và y tế là một trong những giải pháp được lựa chọn, theo

đó việc bao cấp và hỗ trợ từ Nhà nước sẽ giảm dần thông qua việc giao trách nhiệm tự chủ tài chính trong các cơ sở giáo dục và y tế công, và khai thác các nguồn lực khác của toàn xã hội đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và hoạt động y tế

Luật giáo dục năm 2005 khẳng định “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục… khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nhấn mạnh: “Bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta” Nghị quyết 90/CP cũng đã khẳng định

“xã hội hóa không có nghĩa là làm giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước” Suy ra rằng, xã hội hóa trong giáo dục và y tế có nghĩa là huy động thêm sức mạnh của nhân dân cộng với trách nhiệm ngày càng tăng của Nhà nước để

Trang 19

phát triển giáo dục và y tế Như vậy, với tổng nguồn lực lớn hơn, xã hội hóa giáo dục, y

tế nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu dịch vụ ngày càng tăng, tăng chất lượng dịch vụ, và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho tất cả mọi người trong xã hội

1.2.1 Xã hội hóa giáo dục và y tế là gì

Ở các nước phương Tây, cụm từ “xã hội hóa” (tiếng Pháp là socialisation hay tiếng Anh là socialization) từ trước tới nay, vẫn thường được dùng theo nghĩa “tập thể hóa”, “đặt dưới chế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển của nhà nước nhân danh xã hội”, “quốc hữu hóa” v.v Trong tiếng Việt trước đây “xã hội hóa” được Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - 1985) cũng giải thích xã hội hóa là làm cho trở thành của chung của xã hội, với thí

dụ xã hội hóa (XHH) tư liệu sản xuất, tức là, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất

Tuy nhiên, khái niệm XHH được dùng hiện tại ở Việt Nam có nghĩa hoàn toàn ngược lại Các cơ quan báo chí và trong ngôn ngữ thường ngày người ta nói về XHH hoạt động y

tế, giáo dục, thể thao, văn hóa1 theo nghĩa là huy động các nguồn lực ngoài nhà nước (nguồn lực của xã hội) vào cung cấp các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao

Trong các văn bản pháp luật chính thức của nhà nước Việt Nam thì thuật ngữ XHH xuất hiện lần đầu trong Phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

1996 - 2000 (Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996) Trong báo cáo này thì XHH giáo dục được coi là chủ trương quan trọng để phát triển giáo dục và đào tạo Tuy nhiên các nội dung của XHH chỉ được nêu ra qua Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa Sau đó các nội dung của XHH tiếp tục được cụ thể hóa ngày 19/8/1999 khi Chính phủ có Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Theo các văn bản này, XHH được hiểu như sau:

“Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân”

“XHH là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập

và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”

“XHH và đa đạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa thể thao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành”

“XHH là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn…”

Với người dân thì XHH được hiểu đơn giản là nhân dân đóng góp thêm nguồn lực cho các hoạt động đó: đóng góp tiền dưới dạng các loại phí, nói nôm na là mua dịch vụ; bỏ tiền, công sức ra cung ứng các dịch vụ đó, như lập trường tư, bệnh viện tư, phòng khám

tư, v.v.)

Như vậy, XHH các dịch vụ công có thể được hiểu là:

i) Người sử dụng dịch vụ bỏ (một phần hay toàn bộ) tiền ra mua dịch vụ;

1 Và XHH cả sở hữu tài sản (trong trường hợp cổ phần hóa) nhưng vấn đề này sẽ không được bàn đến vì vượt ngoài phạm vi báo cáo này

Trang 20

ii) Các cơ sở cung cấp dịch vụ công đưa một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động của mình vào giá dịch vụ do người sử dụng chi trả (thay vì được nhà nước bao cấp toàn bộ)

iii) Khuyến khích người dân, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cung ứng dịch vụ

Khi dịch ra tiếng nước ngoài, thông thường XHH được cho là tương đương với tư nhân hóa trong tiếng Anh (privatization) Tuy nhiên xã hội hóa có phạm vi rộng hơn, bao hàm

cả việc các cơ sở công cung cấp dịch vụ một phần hoặc toàn bộ theo cơ chế thị trường Trong báo cáo này khi đề cập đến XHH giáo dục và y tế chúng tôi sử dụng các nội dung của XHH được miêu tả bởi NQ 90/CP năm 1997 như là cách hiểu chính thức về XHH hiện nay

1.2.2 Giáo dục Việt Nam và xã hội hóa giáo dục

Ngành Giáo dục Việt Nam hiện đang cung cấp dịch vụ cho 20.304 ngàn học sinh, sinh viên các cấp từ mầm non đến đại học Trong đó 2.774 ngàn là các cháu thuộc cấp học mầm non, 6.732 ngàn học sinh tiểu học, 5.468 ngàn học sinh trung học cơ sở, 2.927 ngàn học sinh trung học phổ thông, 682 ngàn sinh viên trung học chuyên nghiệp và học viên của các Trung tâm giáo dục thường xuyên, và 1.720 ngàn sinh viên cao đẳng và đại học Quy mô giáo dục đã tăng lên rất nhiều qua các năm trên góc độ số trường học, và

số giáo viên, nhưng giảm dần theo quy mô học sinh ở một số cấp học Tổng số trường học các cấp từ tiểu học đến phổ thông trung học năm học 2008 – 2009 tăng 38,6% so với tổng số trường học năm học 2000– 2001, về giáo viên tăng 21,9%, nhưng quy mô học sinh lại giảm 14,9% trong cùng thời kỳ Ở cấp Cao đẳng và Đại học, quy mô không ngừng gia tăng cả về số trường, số sinh viên và giảng viên Nếu so sánh quy mô ở năm

2008 với năm 2000 số trường đại học và cao đẳng tăng gấp 2,2 lần, số sinh viên tăng 1,9 lần, và số giáo viên tăng 1,9 lần Trong khi đó chi từ Ngân sách nhà nước cho giáo dục chỉ tăng từ 11,6% trong tổng chi ngân sách nhà nước năm 2000 lên tới 13,5% tổng chi ngân sách nhà nước năm 2007 Rõ ràng là sức ép tài chính từ ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục rất lớn, và sự gia tăng chi tiêu từ ngân sách nhà nước cho giáo dục như vậy

là chưa đáp ứng được sự đòi hỏi của thực tế Việc xã hội hóa để giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước là một điều có cơ sở, nếu xét trên góc độ nguồn lực dành cho giáo dục.Sau khoảng hơn 10 năm thực hiện chủ trương xã hội hóa trong giáo dục, y tế, văn hóa,

và thể thao theo Nghị quyết 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ, cơ cấu ngành giáo dục có sự chuyển biến mạnh mẽ và đã có những cấp học có các cơ sở xã hội hóa thực hiện nhiệm vụ giáo dục lớn hơn cơ sở công Chẳng hạn ở cấp học Mầm non,

số trường học mầm non ngoài công lập chiếm 49,3% nhưng các trường mầm non ngoài công lập đã thu hút tới 51,1% tổng số các cháu đến trường ở cấp học này Một số cấp học có tỷ lệ cơ sở xã hội hóa còn ít như Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung tâm giáo dục thường xuyên Đây là các cấp học thực hiện các mục tiêu xã hội của Nhà nước nhằm phổ cập giáo dục, hoặc xóa mù chữ, hoặc đào tạo nghề cho người nghèo và con em nông dân mất đất nông nghiệp Ở cấp Đại học và Cao đẳng, một số trường công lập mở hệ ngoài ngân sách nhằm thu hút các sinh viên không đủ điều kiện vào hệ ngân sách (và tất nhiên là đóng học phí cao hơn so với sinh viên hệ ngân sách)

Trang 21

Biểu đồ 1: Cơ cấu cấp học và học sinh giữa cơ sở giáo dục công và ngoài công lập năm học 2008 – 2009

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009

Các trường ngoài công lập chỉ mới hình thành và phát triển nhưng đã có những kết quả đáng ghi nhận Các cơ sở giáo dục xã hội hóa giúp giảm tải cho các cơ sở công lập,

và tăng sự lựa chọn cho người dân Đã có 20,8% số trường trung học phổ thông ngoài công lập, cung cấp dịch vụ cho 21,2% học sinh thuộc cấp học này; 30,4% số trường ngoài công lập ở cấp Trung học chuyên nghiệp được thành lập và hoạt động, cung cấp dịch vụ giáo dục cho 22,2% tổng số học sinh của cấp học Đối với cấp Cao đẳng và Đại học, trong ba năm gần đây, số trường Cao đẳng và Đại học ngoài công lập thành lập mới nhiều hơn tổng số các trường loại này từ trước đó cộng lại (37 trường ngoài công lập thành lập mới so với 31 trường đã thành lập và hoạt động trước đó) Các trường Cao đẳng và Đại học ngoài công lập hiện chiếm khoảng 18% tổng số trường và đang cung cấp dịch vụ giáo dục cho 11,8% tổng số sinh viên

Có thể thấy rằng chủ trương xã hội hóa trong giáo dục đã tạo ra được sự thay đổi cơ bản trong nhận thức của xã hội về xã hội hóa trong giáo dục Các cơ sở giáo dục ngoài công lập đã được mở rộng về quy mô, đa dạng hóa về loại hình và các sản phẩm dịch vụ thuộc các loại hình, và cuối cùng làm tăng sự lựa chọn cho người học Các nguồn lực xã hội đã được huy động, tăng tính trách nhiệm của cộng đồng, người dân cho việc phát triển lĩnh vực giáo dục

1.2.3 Y tế Việt Nam và xã hội hóa y tế

Hệ thống cơ sở y tế của Việt Nam bao gồm các bệnh viện, phòng khám đa khoa, bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, trạm y tế xã/phường, trạm y tế của cơ quan xí nghiệp và các cơ sở khác Các cơ sở y tế này hoặc thuộc quyền quản lý của ngành y tế (bộ y tế và sở y tế) hoặc thuộc các ngành khác quản lý Năm 2008, ngành y tế có 13.460

cơ sở y tế công lập với khoảng 219.800 giường bệnh với 223,5 ngàn cán bộ y tế các cấp; khoảng 30.000 cơ sở y tế ngoài công lập (chủ yếu là các phòng khám) với 13.180 giường bệnh và có tổng số 93.100 cán bộ y tế Quy mô ngành y tế tăng đều đặn qua

Trang 22

hàng năm Cơ sở y tế công lập tăng, nhưng tăng không đáng kể; nếu so sánh giữa năm

2008 và 2000 trong vòng tám năm số cơ sở y tế chỉ tăng 2,6%, số cán bộ y tế tăng 37,4%

và số giường bệnh tăng thêm 14,5% trong cùng thời kỳ Các cơ sở y tế công lập khám cho khoảng 110 triệu lượt người và điều trị nội trú cho hơn 9 triệu lượt người trong năm

2008 Trong khi các cơ sở ngoài công lập khám và điều trị cho hơn 4 triệu người

Bảng 3: Quy mô ngành y tế Việt Nam, năm 2008

Công lập Ngoài công lập

30.000*

9330029.607

có những bước phát triển đáng kể Năm 1989 cả nước có 19.809 cơ sở hành nghề y tế

tư nhân, đến thời điểm này con số đó đã là 30.000 cơ sở, trong đó có 93 bệnh viện, 300 phòng khám đa khoa, 87 nhà hộ sinh, và số còn lại là phòng khám chuyên khoa và dịch

vụ y tế Các cơ sở y tế ngoài công lập có số giường bệnh tương đương với 6% số giường bệnh của các cơ sở công, khoảng 8,7% số cán bộ y tế, và 3,4% số bệnh nhân so với các

cơ sở công lập Hiện tại, cứ 100 ngàn dân có 11 người hành nghề y tế tư nhân, trong số

đó có đến 70% là cán bộ y tế của các cơ sở công, chủ yếu làm việc trong các phòng khám chuyên khoa ngoài giờ

Theo báo cáo của Bộ Y tế, cho tới nay đã có 28 tỉnh, thành phố có bệnh viện tư nhân, trong đó 88 bệnh viện tư nhân có vốn đầu tư trong nước còn 5 bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài Các bệnh viện tư chiếm khoảng 8,6% so với bệnh viên công Các bệnh viện

tư chủ yếu được thành lập ở các thành phố như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ

An, Đà Nẵng… Theo quy hoạch ngành y tế của Chính phủ thực hiện năm 2006, thì đến năm 2010 cả nước có trung bình 2 giường bệnh của bệnh viện tư nhân trên một vạn dân, và đạt 5 giường bệnh/1 vạn dân vào năm 2020 Ngoài ra các bệnh viên công cũng

mở các loại hình khám chữa bệnh “dịch vụ” dành cho những bệnh nhân sẵn sàng trả mức phí cao hơn để có điều kiện khám chữa bệnh nhanh và tốt hơn

Trong những năm vừa qua, cùng với hệ thống cơ sở y tế công lập, các cơ sở y tế ngoài công lập đã góp phần không nhỏ trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân Các cơ sở y tế ngoài công lập đã góp phần giảm tải cho các cơ sở y tế công; đa dạng hóa loại hình, tăng sự lựa chọn cho người bệnh

* Số liệu này do Bộ Y tế ước tính năm 2008

** Con số này bao gồm 70% số cán bộ y tế của cơ sở y tế ngoài công lập là cán bộ y tế của các cơ sở y tế công làm việc cho các phòng khám ngoài giờ.

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Thống kê và Bộ Y tế

Trang 23

1.3 Nhận định chung về xã hội hóa giáo dục và y tế và khả năng tiếp cận dịch vụ của người nghèo

Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong giáo dục và y tế đã thu được một số kết quả nhất định như tăng nguồn cung ứng dịch vụ, đa dạng hóa được các loại hình và các sản phẩm trong từng loại hình, tăng sự lựa chọn cho người sử dụng dịch vụ Đồng thời xã hội hóa giáo dục và y tế đã huy động được các nguồn lực xã hội hoặc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, cùng với Nhà nước đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và hoạt động khám chữa bệnh của người dân

Tuy nhiên, xã hội hóa giáo dục và y tế cũng có thể gây ra cá tác động tiêu cực đến khả năng tiếp cận các dịch vụ này của người nghèo:

i) Xã hội hóa dịch vụ công không nhất thiết sẽ đi kèm với nâng cao chất lượng dịch vụ Đối với dịch vụ mà người sử dụng khó có khả năng và điều kiện đánh giá chất lượng như y tế và giáo dục, cạnh tranh (do xã hội hóa tạo nên) không nhất thiết là áp lực nâng cao chất lượng Tồi tệ hơn, nếu không có sự giám sát

và kiểm soát chất lượng tốt nhằm bảo vệ quyền lợi của người sử dụng dịch

vụ, cạnh tranh còn tạo sức ép để các đơn vị cung cấp dịch vụ giảm chất lượng, chạy theo lợi nhuận đơn thuần

ii) Tương tự, xã hội hóa về cơ bản không tự thân hướng tới người nghèo Mặc

dù người nghèo có thể hưởng lợi một cách gián tiếp thông qua sự tăng lên của nguồn cung cấp dịch vụ, song mức phí dịch vụ cao và sự phân biệt về đối tượng khách hàng của các hoạt động “xã hội hóa” sẽ dần tạo nên sự bất bình đẳng trong sử dụng dịch vụ Vì vậy, xã hội hóa tự thân nó không giúp giải quyết các mục tiêu xã hội, nhất là tạo sự bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công đối với người nghèo

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và thực thi chính sách xã hội hóa các lĩnh vực công trong giáo dục và y tế ở Việt Nam cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo Nếu không, các chính sách này có thể sẽ không mang lại lợi ích cho những người nghèo mà thậm chí có thể gây ra các tác động tiêu cực tới nhóm người rất dễ bị tổn thương này

Trang 24

CHƯƠNG II – TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ VÀ GIÁO DỤC

2.1 Quá trình tiến triển của chính sách xã hội hóa trong giáo dục và y tế của Việt Nam

Hiện nay dù chính sách “xã hội hóa” đã trở thành một chính sách quan trọng trong phát triển giáo dục và y tế nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào cho biết chủ trương này này

ra đời khi nào Có thể chính sách này bắt nguồn từ chủ trương “nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm đối phó với những khó khăn của việc cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục đầu thập niên 1980 Tuy nhiên, chủ trương này được thực hiện không thống nhất trên cả nước mà tùy vào từng địa phương Trong “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng” ngày 15/12/1986 phần về “Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986-1990” có chỉ rõ:

“Việc đóng góp của các tổ chức kinh tế tập thể và của nhân dân vào việc xây dựng cơ sở vật chất cho ngành giáo dục theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cần được quy định rõ ràng thành chế độ, vừa để huy động hợp lý sự đóng góp của nhân dân, vừa tránh mọi sự lạm dụng”

Nhờ vào chủ trương này cuối những năm 1980 có sự xuất hiện trở lại những trường dân lập ở Việt Nam (trường PTDL Lương thế Vinh và Đại học dân lập Thăng long)

Đại hội Đảng lần thứ 7 năm 1991 tiếp tục khẳng định chủ trương cần huy động các nguồn lực trong xã hội cho phát triển giáo dục và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân Chủ trương này sau đó được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 04 - NQ/HNTW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 Một trong những quan điểm chủ đạo của nghị quyết này là cần thực hiện phương châm

“Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong giáo dục và y tế

Đối với giáo dục thực hiện đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục: người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo

và các đối tượng chính sách đều được đi học

Đối với y tế nhà nước chủ trương đa dạng hóa các hình thức tổ chức chăm sóc sức khoẻ (nhà nước, tập thể, nhân dân) trong đó y tế Nhà nước là chủ đạo, tận dụng mọi tiềm năng sẵn có trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế Đây là nghị quyết mở đường cho việc tư nhân tham gia vào lĩnh vực y tế ở Việt Nam kể từ sau năm 1975

Như đã đề cập ở trên, chính sách XHH giáo dục và y tế chính thức được đề cập trong “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng” năm 1996 phần Phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 – 2000: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần XHH Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mọi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội”

Một năm sau, nghị quyết NQ 90/CP đã cụ thể hóa chính sách này bằng một nghị quyết riêng về vấn đề XHH giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Đây là văn bản đầu tiên quy định

Trang 25

cụ thể và chi tiết nhất về các nội dung trong chính sách XHH giáo dục và y tế Để thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục,

y tế, văn hóa, thể thao trên thực tế, chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ với nhiều ưu đãi dành cho các tổ chức và cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ giáo dục và y tế

Chính sách XHH tiếp tục được khẳng định như là chủ trương quan trọng để đẩy mạnh phát triển giáo dục và chăm sóc sức khỏe người dân qua các nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 8, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại các đại hội Đảng IX và X Về phía cơ quan hành pháp, Chính phủ đã ban hành NQ 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa thể thao, ban hành nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường Ngoài ra còn hàng loạt các văn bản pháp luật khác nhằm cụ thể hóa hay hỗ trợ thực hiện chính sách XHH giáo dục và y tế (tham khảo phụ lục 4 và 5) Các bộ ngành có liên quan cũng lần lượt ban hành các quyết định phê duyệt các đề án về XHH trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền như: Quyết định số 20/2005/QĐ-BGDĐT ngày 24/6/2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 – 2010 ; Quyết định 2194/QĐ-BYT ngày 21/6/2005 của Bộ Y tế về phê duyệt Đề án Phát triển xã hội hóa bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Quyết định số 1000/2005/QĐ-BLĐTBXH ngày 07/6/2005 của Bộ LĐ-TBXH về việc phê duyệt Đề án Phát triển xã hội hóa dạy nghề đến năm 2010; …

Tóm lại XHH là một chủ trương chuyển đổi cơ chế quản lý có nội dung đa dạng và phức tạp Trong báo cáo này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những tác động của chủ trương XHH giáo dục và y tế tới những người nghèo - những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội Các phân tích khác có liên quan cũng nhằm vào mục tiêu này

2.2 Mục tiêu, định hướng của chính sách xã hội hóa giáo dục

và y tế

Mặc dù là nghị quyết đầu tiên của chính phủ về XHH, Nghị quyết số 90/CP lại không chỉ

rõ các mục tiêu của xã hội hóa mà chỉ nêu nên một số nội dung có tính nguyên tắc về XHH giáo dục và y tế Theo nghị quyết này, chính sách XHH được coi là:

“Xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực

và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này ”

Chính sách XHH cũng được coi là giải pháp để giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong hưởng thụ các dịch vụ công

“Thực hiện xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa cũng là giải pháp quan trọng

để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ, tức là người dân được xã hội và Nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt người dân đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương”

Công bằng xã hội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân vào các hoạt động văn hóa, xã hội không phải là huy động bình quân, mà là vận dụng cách huy động và mức huy động tùy theo các lớp người có điều kiện thực tế khác nhau, có mức thu nhập khác nhau Những nguời thuộc diện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước được miễn, giảm phần đóng góp

Trang 26

Như vậy có thể thấy rõ chủ trương của XHH là để đảm bảo công bằng trong thụ hưởng các dịch vụ giáo dục và y tế theo quan điểm người có tiền phải chi trả nhiều hơn Do mục tiêu của XHH chưa được cụ thể hóa nên sau một thời gian thực hiện ở nhiều địa phương

có cách hiểu sai lệch khi thực hiện chủ trương này Theo đó, XHH chỉ đơn thuần là huy động thêm đóng góp của người dân, doanh nghiệp vào cung cấp các dịch vụ giáo dục

và y tế Vì vậy trong nghị quyết số 05/2005/NQ/CP, mục tiêu của chính sách XHH được ghi rõ ràng hơn:

Thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao Mục tiêu này tiếp tục nhắc lại các chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam kể từ đại hội Đảng

VI – 1986

Thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục, y tế, văn hóa , thể dục thể thao ở mức độ ngày càng cao Đây là mục tiêu nhằm xác định chủ trương XHH nhằm đảm bảo thực hiện công bằng xã hội nhưng không đặt người nghèo ra bên lề

Nhằm thực hiện 2 mục tiêu trên nghị quyết cũng chỉ rõ Nhà nước tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh việc hoàn thiện chính sách; tăng nguồn lực đầu tư, đồng thời đổi mới mục tiêu, phương thức, cơ cấu và nguồn vốn đầu tư; tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, y tế, văn hóa , thể dục thể thao; hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người; ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo trên cơ sở đổi mới chế độ miễn, giảm phí theo hướng công khai, hợp lý và cấp trực tiếp tới đối tượng thụ hưởng

Tóm lại, có thể thấy chính sách XHH là nhằm mục đích huy động tiềm năng nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội, trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hóa hoạt động và các nguồn đầu tư nhằm tạo điều kiện để toàn bộ xã hội được hưởng thụ tốt hơn các dịch

vụ y tế, giáo dục…Về lý thuyết, chính sách XHH cũng nhắm tới mục tiêu về công bằng

xã hội trong thụ hưởng các dịch vụ trên

Thực hiện chủ trương này, Nghị quyết 05/2005/NQ-CP cũng chỉ ra các định hướng lớn trong XHH giáo dục và y tế

- Về giáo dục Chuyển phần lớn các cơ sở đào tạo và dạy nghề công lập và một phần các cơ sở giáo dục không đảm nhận nhiệm vụ giáo dục phổ cập sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ Chuyển tất cả các cơ sở bán công sang loại hình dân lập hoặc tư thục

Tỷ lệ học sinh nhà trẻ ngoài công lập chiếm 80%, mẫu giáo 70%, trung học phổ thông 40%, trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề 60%, đại học, cao đẳng khoảng 40%

- Về y tế, phấn đấu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân Chuyển hầu hết các bệnh viện công lập sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ; hoàn thành việc chuyển các cơ sở y tế bán công sang dân lập hoặc tư¬ nhân Khuyến khích việc liên doanh liên kết trong cung cấp các dịch vụ KCB Các tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế phát triển đều có bệnh viện ngoài công lập

2.3 Các nguồn lực cho XHH giáo dục và y tế

Để thực hiện chủ trương XHH, nghị quyết 05/2005/NQ-CP đã chỉ rõ các nguồn lực phục

vụ cho cung cấp các dịch vụ giáo dục và y tế bao gồm:

• Nhà nước: Trong đó chủ trương Nhà nước tiếp tục tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục – đào tạo, y tế nhưng tập trung vào một số nhiệm vụ chính

Trang 27

Với giáo dục:

Nhà nước bảo đảm kinh phí cho giáo dục phổ cập, tập trung đầu tư cho các nhiệm vụ trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia; đào tạo nhân lực cho các ngành, nghề mũi nhọn, trọng điểm, khó huy động nguồn lực từ xã hội; ưu tiên đầu tư cho những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người

• Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế – xã hội và cá nhân để phát triển giáo dục – đào tạo, y tế

Để thực hiện chủ trương này hàng loạt các giải pháp được nêu ra

Với giáo dục:

Nhà nước ban hành cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm các ngành, địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội và người sử dụng lao động tham gia xây dựng trường, hỗ trợ kinh phí cho người học, thu hút nhân lực đã được đào tạo và giám sát các hoạt động giáo dục

Để tăng trách nhiệm của người học Nhà nước chế độ học phí đã được thực hiện từ lâu

ở Việt Nam Nhưng do trước đây quy định về học phí thì Nhà nước vẫn bao cấp phần lớn chi phí giáo dục (QĐ 241/1993/QĐ-TTg và QĐ 70/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ) Vì vậy để thực hiện chủ trương XHH, nhà nước sẽ đổi mới cơ bản chế độ học phí: ngoài phần hỗ trợ của Nhà nước theo khả năng ngân sách, học phí cần bảo đảm trang trải chi phí cần thiết cho giảng dạy, học tập và có tích luỹ để đầu tư phát triển nhà trường; bước đầu đủ bù đắp chi phí thường xuyên Đồng thời Nhà nước cũng chủ trương xoá bỏ mọi khoản thu khác ngoài học phí

Nhà nước khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngoài công lập; chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập Chủ trương hạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển; không duy trì các cơ sở bán công, các lớp bán công trong trường công

Nhà nước khuyến khích việc hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có chất lượng cao của nước ngoài; khuyến khích mở các các cơ sở giáo dục đào tạo có chất lượng cao,

có uy tín bằng 100% vốn đầu tư nước ngoài

Với y tế:

Nhà nước khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài hoạt động từ thiện, cung cấp, hỗ trợ các thiết bị y tế và hỗ trợ khám chữa bệnh

Để giảm gánh nặng bao cấp của Nhà nước thì chính sách XHH y tế chủ trương củng cố

và mở rộng bảo hiểm y tế bắt buộc theo hướng đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm y

tế đáp ứng nhu cầu của nhân dân; phát triển mạnh bảo hiểm y tế cộng đồng dựa chủ yếu vào sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm, có sự trợ giúp của Nhà nước và các nguồn tài trợ khác; khuyến khích các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện

Để huy động đóng góp của người dân trong cải thiện dịch vụ y tế Nhà nước chủ trương thu viện phí (bắt đầu từ 1992) Tuy nhiên, do quy định viện phí này vẫn mang tính bao cấp nên nhà nước chủ trương đổi mới chế độ viện phí trên cơ sở từng bước tính đúng,

Trang 28

tính đủ các chi phí trực tiếp phục vụ bệnh nhân Nhà nước cũng chủ trương giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước cho một số lĩnh vực y tế thông qua việc tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp (Nghị định 43/2006/ND-CP).

Chế độ tài chính cho các cơ sở khám chữa bệnh cũng thay đổi từng bước nhằm chuyển đổi việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các cơ sở khám chữa bệnh sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế do Nhà nước cung cấp thông qua hình thức bảo hiểm y tế

Nhà nước khuyến khích mở bệnh viện, phòng khám t¬ư nhân, bác sĩ gia đình, ngăn chặn, xóa bỏ độc quyền trong xuất nhập khẩu, sản xuất và cung ứng thuốc chữa bệnh Hiện nay ngoài các bệnh viện tư nhân thì việc huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các cơ sở khám chữa bệnh công lập được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu: (i) liên doanh liên kết để đầu tư các trang thiết bị y tế; (ii) phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu Các hình thức này cũng được Đề án XHH y tế (Bộ y tế, 2005) nêu trong các giải pháp nhằm huy động nguồn lực cho phát triển các cơ sở y tế công lập.Tóm lại, thực hiện chính sách XHH nhưng nhà nước không cắt giảm chi tiêu cho giáo dục và y tế nhưng các khoản chi này sẽ được hướng vào những nhiệm vụ cụ thể Nhìn chung, người sử dụng dịch vụ giáo dục và y tế sẽ phải đóng góp nhiều hơn về học phí và viện phí Nhà nước khuyến khích đóng góp của người dân, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp trong cung cấp các dịch vụ giáo dục và y tế

2.4 Các khuyến khích với chính sách XHH

Nhằm khuyến khích toàn xã hội tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ giáo dục và y

tế Nhà nước đã ban hành các văn bản quy định các ưu đãi dành cho các đối tượng có liên quan Các quy định này được thể hiện lần đầu trong nghị định 73/1999/NĐ-CP (Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao); sau đó là 53/2006/NĐ-CP (Về chính sách khuyến khích phát triển các

cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập) Chính sách hiện nay được quy định trong Nghị định 69/2008- NĐ-CP (Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, thể thao, môi trường) Các khuyến khích đối với các cơ sở thực hiện XHH bao gồm:

• Cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất

Theo đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sử dụng quỹ nhà, cơ sở hạ tầng hiện có, hoặc xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng để cho cơ sở thực hiện xã hội hóa thuê dài hạn với giá ưu đãi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở thực hiện xã hội hóa đầu tư xây dựng trường học, bệnh viện, khu vui chơi, khu thể thao, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa , rạp hát, rạp chiếu phim theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt

• Giao đất, cho thuê đất

Cơ sở thực hiện xã hội hóa được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình xã hội hóa theo các hình thức: a) Giao đất không thu tiền sử dụng đất; b) Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; c) Giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất Riêng đối với đất đô thị, đất ở giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ thực tế địa phương quy định chế độ giao đất có thu tiền

sử dụng đất, cho thuê đất có thu tiền thuê đất, đồng thời quy định chế độ miễn, giảm thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật

Nếu đất của cơ sở thực hiện XHH được thực hiện theo phương thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện

dự án đầu tư (không thực hiện theo quy định miễn giảm tiền sử dụng đất) thì cơ sở

Trang 29

thực hiện XHH được tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị tài sản của dự án đầu tư

và có các quyền và nghĩa vụ như tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền

sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai2 Cơ sở thực hiện xã hội hóa sử dụng đất hợp pháp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp, quyền sở hữu nhà và tài sản theo quy định của pháp luật

• Ưu đãi về thuế và phí

Cơ sở thực hiện xã hội hóa được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn với đất; được miễn các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn với đất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định miễn, giảm phí sử dụng hạ tầng theo quy định của pháp luật đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa Cơ sở thực hiện xã hội hóa được ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu và các quy định hiện hành

Cơ sở thực hiện xã hội hóa có thu nhập từ hoạt động xã hội hóa được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động Cơ sở thực hiện

xã hội hóa mới thành lập kể từ ngày Nghị định 69/2008 có hiệu lực thi hành được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm tiếp theo Ngoài ra cơ sở XHH mới thành lập còn hưởng các ưu đãi như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo và được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động khi đầu tư các địa bàn ưu đãi đầu tư3

Hơn nữa, những khoản đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp cho hoạt động giáo dục đào tạo không tính vào doanh thu, lợi nhuận chịu thuế

• Ưu đãi về tín dụng:

Cơ sở thực hiện xã hội hóa có thể được vay vốn tín dụng đầu tư hoặc hỗ trợ sau đầu tư theo quy định về tín dụng đầu tư của nhà nước Trong nhiều trường hợp, các cơ sở XHH

đã được chính quyền bảo lãnh vay tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng phát triển Việt Nam

Cơ sở thực hiện xã hội hóa được phép huy động vốn dưới dạng góp cổ phần, vốn góp

từ người lao động trong đơn vị, huy động các nguồn vốn hợp pháp khác thông qua hợp tác, liên kết với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất

Ngoài ra về mặt chủ trương Nhà nước cũng có những quy định khác để khuyến khích

cơ sở thực hiện XHH như chế độ khen thưởng, tham gia cung cấp các dịch vụ công do nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng nhiệm vụ hoạt động theo quy định của pháp luật

Để tránh phân biệt đối xử với các cơ sở thực hiện XHH, Nghị định 69/2008 cũng quy định Nhà nước, xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ

sở thực hiện xã hội hóa

Tóm lại, về mặt chính sách Nhà nước đã có những khuyến khích nhất định dành cho các

cơ sở thực hiện XHH Đặc biệt là chính sách không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm

và dịch vụ của họ

2 Khi được nhà nước giao đất và miễn thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất và miễn thu tiền thuê đất, cơ

sở thực hiện xã hội hóa không được tính giá trị đất đang sử dụng vào giá trị tài sản của dự án đầu tư và không được dùng đất làm tài sản thế chấp để vay vốn.

3 Xem nghị định 108/2006/NĐ-CP

Trang 30

2.5 Các chính sách bổ trợ để tăng cường hiệu quả và hạn chế mặt trái của chính sách XHH với người nghèo

Theo chủ trương của Nghị quyết 90/CP năm 1997 của Chính phủ, XHH giáo dục và y tế phải đi liền với đảm bảo công bằng xã hội trong sử dụng các dịch vụ giáo dục và y tế, đồng thời hạn chế việc lạm dụng chủ trương xã hội hóa Các nội dung này đã được ghi

rõ trong nghị quyết này:

“Việc huy động dân tham gia đóng góp cho giáo dục phải được xem xét một cách kĩ lưỡng, căn cứ vào mức sống và khả năng của dân ở từng vùng, từng địa phương trên cơ

sở bảo đảm công bằng xã hội, có chính sách học phí phù hợp, đồng thời có chính sách trợ cấp xã hội và cho vay vốn để đi học

…Tiếp tục cải tiến chế độ học bổng, trợ cấp xã hội và tín dụng đào tạo để bảo đảm cho người nghèo có điều kiện học Nâng cao mức học bổng dành cho học sinh và sinh viên giỏi và học bổng cho các ngành học cần khuyến khích…

Tổ chức tốt việc khám và chữa bệnh cho người nghèo Chính phủ tài trợ một phần, đồng thời khuyến khích Hội Chữ thập đỏ, các Hội Từ thiện, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh

tế của Nhà nước và tư nhân đóng góp để xây dựng các quỹ trợ giúp cho người nghèo được khám, chữa bệnh, mua bảo hiểm y tế cho các gia đình có công với nước và cho người nghèo”

Chủ trương này được nhắc lại trong nghị quyết 05/2005/NQ-CP (Về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao) Chính phủ Việt Nam chủ trương đổi mới chế độ thu phí đi đôi với việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo

Để đảm bảo chất lượng của các cơ sở thực hiện XHH nghị quyết 05/2005 cũng chỉ rõ việc Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện luật pháp; đồng thời cần phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, đặc biệt là các hội nghề nghiệp trong việc giám sát các hoạt động dịch vụ

Thông qua các văn bản pháp luật được ban hành, Chính phủ đã từng bước cụ thể hóa chủ trương nêu trên

Với giáo dục:

Chính phủ ban hành hàng loạt quy định về hoạt động của các cơ sở ngoài công lập như: Quyết định 240/TTg năm 1993 (Về việc ban hành quy chế Đại học tư thục), Quyết định 86/2000/QĐ-TTg ngày 18/7/2000 về việc ban hành quy chế trường đại học dân lập, Quyết định 14/2005/QĐ-TTg, ngày 17/1/2005 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục, Quyết định 39/2001/QĐ-BGD&ĐT, ngày 28/8/2001, về việc ban hành quy chế tổ chức và họat động của các trường ngoài công lập Trong các văn bản này có những quy định về tiêu chuẩn về điều kiện tổ chức hoạt động cho các trường ngoài công lập nhằm đảm bảo cung cấp dịch vụ giáo dục có chất lượng phù hợp với yêu cầu Cùng với các quy định về quy chế tổ chức và hoạt động, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 49/2005/NĐ-CP về xử phạt hành chính vi phạm trong lĩnh vực giáo dục Trong đó chỉ rõ các mức phạt đối với các vi phạm về giáo dục Những văn bản này

đã góp phần kiểm soát chất lượng giáo dục của các cơ sở thực hiện XHH

Để hạn chế tình trạng lạm thu trong giáo dục, Chính phủ đã có một số văn bản quy định

về vấn đề này: Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ

về việc thu và sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Quyết định 242/TTg năm 1992 (Về việc dạy thêm ngoài giờ của giáo viên các trường phổ thông công lập); Quyết định 03/2007/QĐ-BGDĐT ngày 31/01/ 2007 ban hành quy định về dạy thêm, học thêm Các văn bản này nêu rõ các trường không được tùy tiện tổ chức dạy thêm và học thêm ngoài quy định để thu tiền của học sinh

Trang 31

Chính phủ cũng quy định rõ về thu chi học phí đối với hoạt động đào tạo theo phương thức không chính quy trong các trường và cơ sở đào tạo công lập (Thông tư liên tịch 46/2001/TTLT/BTC-BGD&ĐT ngày 20/6/2001).

Nhằm hỗ trợ người nghèo có cơ hội tiếp cận giáo dục, Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản cho phép miễn giảm học phí cho những gia đình thuộc diện chính sách xã hội (Thông tư liên tịch số 26/1999/TTLT/BLĐTBXH – BTC – BGDĐT hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi trong giáo dục và đào tạo; Thông tư 23/2001/TTLT/ BTC – BLĐTB XH Hướng dẫn thực hiện chính sách miễn giảm học phí đối với học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách đang theo học tại các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập) Như vậy học sinh, sinh viên đang theo học ở các cơ sở ngoài công lập cũng được hưởng các

ưu đãi về học phí như trong các cơ sở giáo dục công lập

Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản quy định về học bổng, tín dụng ưu đãi cho học sinh, sinh viên nghèo, đối tượng chính sách xã hội (Thông tư liên tịch 23/2008/TTLT/BGDĐT-BLĐTBXH-BTC ngày 28/4/2008 về học bổng, Quyết định 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 về Tín dụng đối với học sinh, sinh viên ; Quyết định 1134/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay áp dụng đối với học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề …) Trong các văn bản này đều không

có sự phân biệt đối xử giữa các trường công lập và ngoài công lập Người học đều có thể tiếp cận các khoản tín dụng ưu đãi nếu họ thực sự là người nghèo hoặc các đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật

Với Y tế:

Nhằm cải thiện hoạt động chăm sóc sức khỏe (CSSK), song song với việc đẩy mạnh công tác XHH hoạt động này, Nhà nước tiếp tục tăng tỷ lệ đầu tư từ ngân sách nhà nước cho ngành y tế năm sau đã cao hơn năm trước cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng chi NSNN (năm 2002 là 7.187 tỷ đồng, đạt 5%; năm 2007 tăng lên 23.280 tỷ đồng, đạt 6,3%

và dự toán năm 2008 là 27.463 tỷ đồng, đạt 6,9% tổng chi ngân sách nhà nước)

Do việc áp dụng chính sách thu một phần viện phí (từ năm 1989-1994 theo quyết định

số 45-HĐBT ngày 25-4-1989 của Hội đồng Bộ trưởng và hiện là Nghị định số 95/CP ngày 27-8-1994) và sự xuất hiện các cơ sở KCB ngoài công lập tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng một bộ phận dân cư không có đủ tiền để chi trả cho dịch vụ y tế Để đảm bảo sự công bằng trong hưởng các dịch vụ CSSK, chế độ Bảo hiểm y tế đã được mở rộng BHYT ở Việt Nam được ban hành lần đầu theo nghị định 299/HĐBT ngày 15/8/1992 và được áp dụng trong giai đoạn 1992-1998 với các đối tượng là người lao động hưởng lương trong các

cơ quan hành chính, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, người về hưu Sau một số sửa đổi (Nghị định 58/1998/NĐ-CP), Nghị định 63/2005 mở rộng phạm vi đối tượng tuy đã tham gia BHYT bắt buộc theo một số quy phạm pháp luật nhưng chưa được quy định trong Nghị định 58/1998/NĐ-CP Đặc biệt lần đầu tiên một số đối tượng chính sách xã hội được tham gia BHYT bắt buộc: người thuộc hộ nghèo và người dân tộc thiểu số Nhằm hỗ trợ hoạt động KCB cho người nghèo, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 139/2002/QĐ-TTG về việc khám chữa bệnh cho người nghèo Quyết định này yêu cầu các tỉnh lập quỹ KCB cho người nghèo, cung cấp BHYT miễn phí cho người nghèo Tuy nhiên quyết định này cũng chỉ rõ người nghèo khám chữa bệnh vượt tuyến, khám chữa bệnh theo yêu cầu thì sẽ phải tự chi trả viện phí

Ngoài BHYT tự nguyện cho hộ gia đình, cho học sinh, sinh viên, Chính phủ đã có hướng dẫn về BHYT cho các hộ cận nghèo với mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước tối thiểu là

50 % mức phí BHYT Người tham gia BHYT cũng được tự do lựa chọn nơi đăng ký khám chữa bệnh, Chính phủ cũng cho phép các bệnh viện ngoài công lập được tham gia khám chữa bệnh và thanh toán viện phí bằng BHYT cho người có BHYT Gần đây nhất, luật BHYT ban hành năm 2008 đã sửa chữa được nhiều quy định không hợp lý trong các văn bản pháp luật trước đó như việc thống nhất quyền lợi của các đối tượng tham gia BHYT, quy định mức đóng BHYT cho từng đối tượng

Trang 32

Về lý thuyết, những quy định trên cho phép người nghèo có cơ hội được CSSK tốt hơn

và giảm đi sự phân biệt đối xử giữa các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập trong công tác CSSK

Do chính sách XHH y tế, hàng loạt cơ sở y tế tư nhân ra đời Tính đến cuối năm 2008 có hơn 70 bệnh viên tư nhân, gần 30000 phòng khám y tế tư nhân, 21600 quầy thuốc tư nhân4 Do vậy, cần phải có biện pháp để đảm bảo chất lượng CSSK trong các cơ sở y tế ngoài công lập Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân được ban hành lần đầu năm 1994

và sau đó được sửa đổi bổ sung trong Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân ban hành năm 2003 chính là nhằm mục đích này Bắt đầu từ 2011, luật Khám chữa bệnh sẽ có hiệu lực và đó là luật được áp dụng thống nhất không phân biệt cơ sở KCB công lập hay ngoài công lập Luật này sẽ là cơ sở pháp lý cho mọi vấn đề liên quan đến hoạt động KCB Công tác quản lý nhà nước về KCB cũng sẽ được tăng cường nhằm đảm bảo cung cấp dịch vụ

y tế có chất lượng tốt cho mọi người dân

Để xử lý các vi phạm trong hoạt động KCB, lần đầu tiên một nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế đã được ban hành (Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 6/4/2005) Đây là cơ sở pháp lý cho việc xử phạt các vi phạm trong hoạt động khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế cả công lập và ngoài công lập

Tóm lại, mặc dù chưa hoàn toàn đầy đủ Nhà nước cũng đã có nhiều quy định để hỗ trợ cho người nghèo cơ hội tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế Các quy định này cũng cho thấy song song với chủ trương XHH giáo dục và y tế, Nhà nước cũng đã có những quy định nhằm hạn chế việc lạm dụng chủ trương này và đảm bảo chất lượng của các dịch

rõ ràng và cụ thể tới việc thay đổi tương ứng vai trò quản lý của chính nhà nước trong quá trình XHH XHH tức là có sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội vào cung cấp dịch

vụ công Khi đó, vai trò cung cấp dịch vụ công của nhà nước sẽ giảm mạnh Thay vào

đó, vai trò định hướng (dự báo, xây dưng chiến lược và kế hoạch, quy hoạch), điều tiết (thông qua các chính sách và quy định), và giám sát hoạt động của các cơ sở tăng lên Hệ thống chính sách XHH (các chính sách ở cấp độ hướng dẫn thực hiện) hiện tại chưa gắn liền với việc thay đổi vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan chính phủ ở địa phương

Hệ quả của việc này là hệ thống chính sách XHH hiện tại có sự thiếu hụt trong các quy định và cơ chế kiểm soát cụ thể về quản lý nhà nước (nhất là quản lý chất lượng dịch vụ) đối với các cơ sở XHH, và sự thiếu cụ thể trong chính sách kiểm soát tài chính nhằm tránh lạm dụng XHH

2.6.1 Tồn tại trong chính sách quản lý chất lượng hoạt động của các cơ sở “xã hội hóa”

- Chưa có tiêu chí cụ thể và bộ máy giám sát hữu hiệu việc thực thi các quy định về chất lượng dịch vụ cung cấp Chưa có quy định cụ thể về thu thập các thông tin về khu vực giáo dục và y tế tư nhân phục vụ cho quản lý và giám sát chất lượng

4 Theo Báo cáo chung tổng quan ngành y tế 2008 – Bộ y tế

Trang 33

o Trong y tế, việc cấp chứng chỉ hành nghề mới chỉ thực hiện được đối với người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Tong khu vực tư nhân theo quy định của Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân năm 2003 mà chưa có quy định cấp chứng chỉ hành nghề cho cả người hành nghề thuộc khu vực Nhà nước và tư nhân Luật KCB có hiệu lực vào năm 2011 mới có quy định chung về vấn đề này nhưng chưa có quy định cụ thể.

o Trong giáo dục, việc thành lập nhiều cơ sở giáo dục tư chưa đi liền với cơ chế kiểm định chất lượng Vì vậy, chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học đang nổi lên là vấn đề lớn, chưa được kiểm soát và quản lý phù hợp

- Văn bản hướng dẫn liên doanh liên kết trong giáo dục và đào tạo, trong các cơ sở KCB không đầy đủ Trong giáo dục điều này dẫn đến tình trạng loạn bằng cấp Trong y tế dẫn đến tình trạng lúng túng trong triển khai liên doanh liên kết ở các bệnh viện công trong

sử dụng các trang thiết bị y tế (như cách xác định vốn góp trong liên doanh, cơ sở để tính toán phân chia lợi nhuận giữa các bên tham gia góp vốn mua máy móc thiết bị y tế5)

- Chưa có quy định cụ thể về kiểm tra, giám sát việc tuân thủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề của nhân viên chuyên môn ở các cơ sở y tế tư nhân Vì vậy, có hiện tượng chủ

cơ sở thì đạt mọi tiêu chuẩn theo quy định, song người hành nghề trực tiếp thì không đảm bảo các yêu cầu

- Chưa có cơ chế, tiêu chí để phân biệt rõ ràng được các cơ sở XHH vì mục tiêu lợi nhuận

và phi lợi nhuận dẫn đến tình trạng thương mại hóa giáo dục và y tế

2.6.2 Tồn tại trong chính sách quản lý tài chính của các cơ sở “xã hội hóa”

Các quy định về mức phí và khoản đóng góp của người sử dụng dịch vụ:

- Chưa có quy định cụ thể và cơ chế kiểm soát chặt chẽ để tránh lạm dụng XHH trong một số trường hợp như thu tiền đóng góp “xây dựng trường” (bổ sung sửa chữa cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy – học); chỉ định xét nghiệm và sử dụng các trang thiết bị kĩ thuật cao bằng các máy móc do XHH (liên doanh liên kết) dẫn đến việc làm tăng gánh nặng chi phí cho người dân tự chi trả cao Điều này làm giảm cơ hội tiếp cận dịch vụ của người nghèo nhất là khi nhiều khoản chi cho sử dụng các máy móc kĩ thuật cao không được BHYT thanh toán

- Quy định về học phí chưa phù hợp dẫn đến tình trạng phát sinh nhiều khoản thu ngoài quy định

- Quy định về miễn giảm học phí cho đối tượng chính sách xã hội chưa đảm bảo cho người nghèo có thể theo học trong các trường ngoài công lập Theo chính sách hiện hành, mức miễn giảm tối đa chỉ bằng học phí của trường công lập cao nhất tại địa phương Trong khi đó, mức học phí ở các cơ sở giáo dục tư nhân lại do họ tự quyết định

và thường cao hơn rất nhiều so với mức phí ở trường công Vì vậy, nếu người nghèo muốn vào học ở trường tư và được miễn giảm toàn bộ học phí theo mức của trường công, phần đóng góp bù thêm vẫn quá cao so với khả năng chi trả của họ

Theo kết luận của của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về Đề án Xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công cộng, tổ chức và cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công (Thông báo số 246/TB-VPCP ngày 08/09/2008) thì Nhà nước sẽ hoàn thiện cơ chế ưu đãi với các đối tượng chính sách xã hội theo hướng cấp trực tiếp cho người được thụ hưởng

để họ tự lựa chọn cơ sở và loại hình dịch vụ phù hợp Tuy nhiên, việc xác định mức ưu đãi

để người được trợ cấp có thể tự do lựa chọn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

5 Báo cáo của Viện chiến lược và chính sách y tế về “Đánh giá tác động của việc thực hiện tự chủ tài chính bệnh viện đối với cung ứng và chi trả dịch vụ y tế” 2008

Trang 34

Các quy định về huy động vốn cho đơn vị cung cấp dịch vụ:

- Quy định về viện phí quá lạc hậu dẫn đến việc kêu gọi XHH ở các cơ sở KCB tuyến địa phương – nơi có ít bệnh nhân là rất khó khăn

- Chưa có quy định cụ thể về việc vay vốn từ các nguồn vốn vay phi lợi nhuận của ngân hàng phát triển hoặc từ các tổ chức từ thiện Do vậy nguồn vốn huy động cho các cơ sở thực hiện XHH ở các địa bàn khó khăn là rất hạn chế

Những hạn chế này về mặt chính sách đòi hỏi phải có những nghiên cứu khoa học và đầy đủ về tác động của chủ trương XHH với các hoạt động giáo dục và y tế Ngoài ra, việc thực thi các chính sách đã có còn là câu hỏi lớn Vì vậy, một nghiên cứu thực tế nhằm đánh giá hoạt động của các cơ sở XHH và tác động của chính sách XHH tới việc tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục là hết sức cần thiết

Trang 35

CHƯƠNG III - TIẾP CẬN CỦA NGƯỜI

NGHÈO ĐẾN DỊCH VỤ GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH XÃ HỘI HÓA

Chương này trình bày các phát hiện qua:

- Phỏng vấn lãnh đạo địa phương (thuộc địa bàn khảo sát) về xã hội hóa giáo dục;

- Khảo sát hoạt động của các cơ sở giáo dục (công lập và ngoài công lập);

- Đánh giá của người dân về xã hội hóa trong giáo dục và các rào cản tiếp cận dịch vụ giáo dục đối với các nhóm dân cư, đặc biệt là người nghèo trong bối cảnh xã hội hóa;

Và các khuyến nghị

3.1 Kết quả nghiên cứu từ phỏng vấn lãnh đạo địa phương về

xã hội hóa giáo dục

Việc triển khai thực hiện các chính sách xã hội hóa phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm

và cách tiếp cận vấn đề của lãnh đạo địa phương Trao đổi với các sở ban ngành tại cấp Tỉnh và Huyện tại các địa bàn khảo sát, nhóm nghiên cứu rút ra bốn kết luận chính về vấn đề này

Thứ nhất, các địa phương đều rất ủng hộ chủ trương chung về xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục của trung ương và đang triển khai nhiều biện pháp để thúc đẩy xã hội hóa tại các địa phương

Các ý kiến của cán bộ quản lý cấp Sở, Ngành đều cho rằng chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với nhu cầu xã hội và điều kiện của ngân sách nhà nước Hầu hết các cán bộ quản lý địa phương đều cho rằng nhu cầu giáo dục đang tăng cao ở mọi cấp, trong khi đó ngân sách nhà nước lại hạn hẹp Vì vậy, chính sách XHH giúp địa phương khai thác nguồn lực trong xã hội nhằm cung cấp dịch

vụ giáo dục cho nhiều tầng lớp dân cư Tuy nhiên, ngoài học phí do người học đóng là phần dễ nhận biết, các nhà quản lý địa phương chưa có thống kê đầy đủ về nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng giáo dục và đào tạo giáo viên

Cả ba tỉnh đã và đang có nhiều chính sách hỗ trợ cho quá trình xã hội hóa tại địa phương Các chính sách được các địa phương triển khai phổ biến ở các hình thức: giao đất sạch cho các trường dân lập, tư thục (Tỉnh chịu các chi phí giải tỏa mặt bằng); miễn thuế thu nhập doanh nghiệp

Mức độ xã hội hóa giáo dục diễn ra mạnh mẽ nhất ở cấp mầm non và trung học chuyên nghiệp (dạy nghề) Ví dụ, tại Đăk Lăk có khoảng 20-35% trường ngoài công lập các cấp (từ mầm non cho đến Cao đẳng, Đại học), thì chỉ có 1 trường tiểu học dân lập, 1 trường trung học phổ thông tư thục Lý do là Ngân sách Nhà nước tập trung hỗ trợ cho hệ tiểu học và trung học cơ sở (hai hệ thuộc diện phổ cập giáo dục) còn các hệ khác khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư, giúp giảm gánh nặng cho ngân sách của Nhà nước (dữ liệu và ý kiến từ phỏng vấn Phó Giám đốc Sở GDĐT)

Tại Hà Tĩnh, mức độ XXH cũng diễn ra mạnh mẽ ở cấp học mầm non với hình thức phổ biến nhất là trường bán công (273 trường trong 275 trường mầm non trên địa bàn Tỉnh,

2 trường còn lại là tư thục) Mức độ XXH giáo dục diễn ra mạnh thứ hai là ở cấp trung học dạy nghề, với 50% (5/10 trường) số trường trung học dạy nghề tại Hà Tĩnh là trường tư thục (loại hình cơ sở hoạt động vì lợi nhuận), 50% số trường còn lại là trường công lập

Trang 36

Không có hình thức bán công hay dân lập (loại hình cơ sở vô vị lợi) ở cấp trung học dạy nghề Các cấp học còn lại như giáo dục thường xuyên, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học tại Hà Tĩnh không có loại hình trường bán công, dân lập hoặc tư thục

Ở cấp PTTH (chưa phải là cấp học phổ cập), số trường bán công và dân lập tại Hà Tĩnh cũng tương đối nhiều so với cấp tiểu học và THCS (2 trong số 43 trường PTTH là trường bán công và đã có 5 trường dân lập Ở cấp tiểu học, 100% các trường đều là hình thức công lập (309/309 trường tiểu học trên địa bàn) và ở cấp THCS chỉ có 2 trên 196 trường là trường bán công, còn lại 194 trường là công lập Bảng 3 dưới đây cung cấp con số thống

kê về số cơ sở giáo dục theo các loại hình tại Hà Tĩnh

Bảng 4: Số liệu về các loại hình cơ sở giáo dục tại Hà Tĩnh năm 2009

Thứ hai, trong khi nói nhiều về lợi ích của XHH và các chính sách hỗ trợ cho công tác XHH, các nhà quản lý Sở ban ngành ít đề cập tới việc tăng cường quản lý đảm bảo chất lượng và tuân thủ chính sách của nhà nước đối với các cơ sở giáo dục XHH.

Đối với hầu hết các nhà quản lý ở địa phương, chủ trương XHH được hiểu đơn thuần là việc huy động nguồn lực của xã hội trong việc cung cấp dịch vụ công (cụ thể ở đây là giáo dục) Vai trò quản lý nhà nước cần đi theo đồng bộ với XHH như vai trò định hướng (dự báo, chiến lược, quy hoạch) hay kiểm tra, giám sát, chưa được chú ý Trong lĩnh vực giáo dục, XHH phải gắn liền với việc tính toán nhu cầu, quy hoạch hệ thống trường sở, và kiểm tra giám sát hoạt động của các trường trong việc tuân thủ chính sách và đảm bảo yêu cầu chất lượng Tuy nhiên, các nhà quản lý trong mẫu nghiên cứu hầu như chưa thực

sự chú ý tới vấn đề này Điều này ẩn chứa những bất cập tiềm tàng trong việc phát huy hiệu quả XHH, đặc biệt trong việc giúp người nghèo tiếp cận tới dịch vụ giáo dục:

- Ở Lai Châu và Đăk Lăk hiện chưa có quy hoạch cụ thể về hệ thống trường lớp ở các cấp học Thiếu quy hoạch cụ thể có thể dẫn tới việc trường lớp được mở không phù hợp với nhu cầu của vùng, không đảm bảo sự phát triển đều và bình đẳng giữa các vùng Theo động cơ thương mại, các trường tư sẽ được mở nhiều hơn ở những nơi có mức sống cao, và như vậy, người nghèo ở vùng sâu vùng xa vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận với dịch vụ này

- Thiếu kiểm tra giám sát có thể dẫn tới việc hoạt động XHH bị lạm dụng trong thu phí, hay chất lượng giáo dục không đảm bảo theo yêu cầu Trong cả hai trường hợp, người nghèo là người bị ảnh hưởng trực tiếp nhất vì họ chịu tác động nặng nề hơn

từ một đồng phí tăng thêm, hoặc họ là người phải gửi con em đến các trường ngoài

Loại

hình Mầm non Tiểu học THCS THPT GDTX TT

TT dạy nghề

Trang 37

công lập nhiều hơn Như phần trên có viết, các tỉnh trong mẫu khảo sát đều chưa có

số liệu thống kê đầy đủ về vốn đầu tư, nguồn lực, năng lực, v.v của các cơ sở XHH Đây

có thể coi là một biểu hiện của việc thiếu hệ thống giám sát và đánh giá đối với các cơ

sở giáo dục XHH

Thứ ba, quan điểm về xã hội hóa cũng có sự khác biệt giữa các địa phương

Ở Đăk Lăk, địa phương có thu nhập trung bình khá cao, đặc biệt tại thành phố Buôn Mê Thuột, lãnh đạo cấp Sở Ngành ủng hộ mạnh mẽ cho việc xã hội hóa giáo dục Với địa phương như Lai Châu, chưa thể áp dụng XHH giáo dục tại thời điểm hiện tại

“Chủ trương xã hội hóa cung cấp dịch vụ giáo dục là chủ trương đúng của Đảng

và Nhà nước nhằm thu hút cả xã hội vào cung cấp dịch vụ giáo dục cho các cháu Tuy nhiên, việc vận dụng chủ trương có sự khác biệt giữa các tỉnh đồng bằng và các tỉnh miền núi Vì điều kiện miền núi thiếu thốn, hiểu biết của bà con vùng núi

có hạn Hiện tại, các cháu đi học ở trường công đã là thành công của công tác tổ chức, vận động của Nhà trường và xã hội Nhiều thầy cô giáo vật lộn với cuộc sống thiếu thốn đủ thứ (cả vật chất, lẫn tinh thần) để đưa kiến thức tới đồng bào và con

em đồng bào, đến từng nhà vận động cha mẹ cho con em đến trường Nếu Nhà nước không làm việc này, tôi nghĩ không có cá nhân nào, tổ chức nào có thể cung cấp các dịch vụ giáo dục cho bà con (câu chuyện này có thể rất khác ở các tỉnh đồng bằng hoặc thành phố)”.

(Lãnh đạo Sở Giáo dục Lai Châu)

Và sự khác biệt trong quan điểm đó thể hiện ở mức độ xã hội hóa giáo dục tại các địa phương là khác nhau Ở Lai Châu, mức độ xã hội hóa diễn ra thấp nhất Trong ba địa phương khảo sát, Lai Châu là địa phương khó khăn nhất

Điều này cho thấy xu hướng xã hội hóa diễn ra mạnh mẽ hơn ở những nơi dân cư có thu nhập cao hơn Điều này cũng thể hiện đối tượng thụ hưởng và có khả năng chi trả cho các dịch vụ giáo dục xã hội hóa là nhóm dân cư giàu có hơn trong xã hội

Thứ tư, có sự khác biệt trong nhận định của các cấp quản lý, chủ các cơ sở tư nhân

và người dân về việc xã hội hóa

Một lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo đánh giá “Xã hội hóa là người dân tự nguyện đóng góp, nên người nghèo không bị ảnh hưởng gì Xã hội hóa không tạo áp lực cho người nghèo vì tại các trường dân lập, tư thục, học sinh nghèo, khó khăn vẫn được giảm 50% học phí”

Tuy nhiên, cũng tại địa phương này, khi nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tại một trường tiểu học dân lập và trường dạy nghề tư thục thì Hiệu trưởng của hai nhà trường này cho biết Nhà trường không có chính sách miễn giảm học phí cho học sinh, sinh viên nghèo

“Theo quy định thì học phí của trường dạy nghề tư thục có thể cao hơn 2 đến 3 lần của các trường công lập Tuy nhiên ở đây chúng tôi không có chính sách miễn giảm học phí cho sinh viên nghèo Trong hai năm qua vẫn có khoảng vài chục em nghỉ học do không có tiền đóng học phí Các em này chủ yếu là đồng bào dân tộc, khi bị thiên tai, thất bát là cho con em nghỉ học ngay”

(Ý kiến của Hiệu trưởng một trường dạy nghề tư thục)

“Không, nhà trường chúng tôi không có chính sách miễn giảm học phí cho các đối tượng nghèo Ai muốn vào trường học, thì bố mẹ cần cho nhà trường vay 1 triệu trong 5 năm không lãi suất Vì Nhà trường cần trang trải các khoản nợ ngân hàng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các cháu học tập”.

(Trả lời của Hiệu trưởng một trường tiểu học dân lập chất lượng cao khi được hỏi “Nhà trường có chính sách miễn giảm học phí cho con em các hộ nghèo không?”)

Trang 38

Sự khác biệt này được một số đối tượng phỏng vấn cho là “ đương nhiên, vì nhà quản lý

có góc nhìn riêng, cơ sở/đơn vị hoạt động có cách nhìn riêng và người dân có cách nhìn riêng (thường hẹp và chỉ quan tâm đến mình được gì và đóng góp gì)” (Ý kiến của một cán bộ quản lý cấp trung ương) Nhưng vấn đề là ở chỗ, người dân có thể không biết quan điểm của nhà quản lý, các cơ sở có thể không biết quan điểm của nhà quản lý (dù việc này không phải là tích cực nếu muốn chính sách thực sự đi vào cuộc sống), nhưng nhà quản lý không thể không biết ý kiến và quan điểm của người dân và cơ sở

Tình trạng khác biệt về thông tin về xã hội hóa giáo dục giữa cấp người quản lý địa phương, các cơ sở và người dân lặp lại ở nhiều câu hỏi khảo sát khác mà đoàn nghiên cứu nêu ra cho các đối tượng khác nhau này Đây là một vấn đề về thông tin, truyền thông cần phải được cải thiện Ngoài ra, sự khác biệt này cũng cho thấy thực tiễn triển khai chính sách XHH có thể sẽ rất khác biệt với bản thân chính sách

3.2 Hoạt động của các cơ sở giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa

Với chính sách xã hội hóa, trong thời gian qua, các loại hình giáo dục, đào tạo có thể được chia thành 4 loại hình chính:

Loại 1: Trường công lập: cơ sở giáo dục hoàn toàn do Nhà nước làm chủ Tại các trường

công lập có hình thức xã hội hóa, đó là chủ trương huy động sự đóng góp của nhân dân vào việc xây dựng điều kiện, cơ sở học tập cho con em của các gia đình Ví dụ các chương trình kiên cố hóa trường học theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm Nguyên tắc dân chủ cơ sở được áp dụng trong việc huy động đóng góp của người dân, cụ thể, cha mẹ học sinh phải đồng ý (thông qua Hội phụ huynh) thì các Nhà trường mới huy động các khoản đóng góp ngoài học phí từ các gia đình

Loại 2: Trường bán công là loại hình kết hợp trong các trường công lập Trong đó người

dân tham gia đóng góp các khoản đầu tư và chi phí vận hành và Nhà nước đầu tư và cấp kinh phí vận hành một phần Tại các địa bàn khảo sát, hình thức bán công đã được chuyển sang hoặc công lập hoặc dân lập Về cơ bản năm 2009, không còn trường bán công tại các địa bàn khảo sát Nhưng các năm trước đó vẫn có hình thức này Và loại hình trường bán công có ảnh hưởng đến chi phí của các hộ gia đình (nhất là hộ nghèo) trong các năm qua, do vậy vẫn được xem xét như một loại hình xã hội hóa giáo dục trong nghiên cứu này

Loại 3: Trường dân lập: là các cơ sở giáo dục do dân (tổ chức, nhóm, cá nhân) thành lập

và hoạt động trên nguyên tắc vô vị lợi Mục đích chính là tổ chức cơ sở giáo dục để tăng tiếp cận đến dịch vụ này cho các đối tượng học sinh, sinh viên các cấp

Loại 4: Trường tư thục: là cơ sở giáo dục do khu vực tư nhân thành lập hoạt động trên

nguyên tắc vì lợi nhuận Mục đích chính là kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Trang 39

dân Hầu hết các trường tiểu học v

một trường tư thục là hình thức cao nhấ

thông qua học phí của học sinh, sinh viên đóng góp

Trang 40

ưu tiên các đối tượng chính sách v

Ngày đăng: 21/01/2015, 21:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các phương pháp thu thập dữ liệu - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 1. Các phương pháp thu thập dữ liệu (Trang 13)
Bảng 2: Những thông tin chung về mẫu điều tra - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 2 Những thông tin chung về mẫu điều tra (Trang 16)
Bảng 3: Quy mô ngành y tế Việt Nam, năm 2008 - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 3 Quy mô ngành y tế Việt Nam, năm 2008 (Trang 22)
Bảng 4: Số liệu về các loại hình cơ sở giáo dục tại Hà Tĩnh năm 2009 - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 4 Số liệu về các loại hình cơ sở giáo dục tại Hà Tĩnh năm 2009 (Trang 36)
Bảng 5. So sánh giữa các cơ sở về các đặc điểm hoạt động chính 1.Trường công lập2. Trường bán công3 - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 5. So sánh giữa các cơ sở về các đặc điểm hoạt động chính 1.Trường công lập2. Trường bán công3 (Trang 39)
Bảng 6: Tỷ lệ các loại hình dịch vụ giáo dục được lựa chọn (tự do) theo thu nhập của hộ - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 6 Tỷ lệ các loại hình dịch vụ giáo dục được lựa chọn (tự do) theo thu nhập của hộ (Trang 44)
Bảng 9: Rào cản trong giáo dục cho hộ nghèo ở các địa phương và toàn bộ mẫu điều tra Các rào cảnHiện tại5 năm trước Hà TĩnhĐắc LắcLai ChâuChungHà TĩnhĐắc LắcLai ChâuChung Học phí4,54,02,94,04,83,52,53,7 Phụ phí4,44,03,24,14,33,72,83,8 Chất lượng 2,33,21,9 - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 9 Rào cản trong giáo dục cho hộ nghèo ở các địa phương và toàn bộ mẫu điều tra Các rào cảnHiện tại5 năm trước Hà TĩnhĐắc LắcLai ChâuChungHà TĩnhĐắc LắcLai ChâuChung Học phí4,54,02,94,04,83,52,53,7 Phụ phí4,44,03,24,14,33,72,83,8 Chất lượng 2,33,21,9 (Trang 47)
Bảng 8 và 9 cung cấp số liệu về mức độ rào cản đối với các hộ có sổ hộ nghèo và hộ  không thuộc diện nghèo trong mẫu điều tra - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 8 và 9 cung cấp số liệu về mức độ rào cản đối với các hộ có sổ hộ nghèo và hộ không thuộc diện nghèo trong mẫu điều tra (Trang 49)
Bảng 10. Các loại hình cơ sở y tế tại các địa bàn khảo sát - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 10. Các loại hình cơ sở y tế tại các địa bàn khảo sát (Trang 58)
Bảng 12: Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nhẹ - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 12 Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nhẹ (Trang 65)
Bảng 13: Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nặng - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 13 Thu nhập của hộ và sự lựa chọn cơ sở y tế với những loại bệnh nặng (Trang 65)
Bảng 14: Rào cản tiếp cận dịch vụ y tế ở các địa phương và bệnh nhân Bảng 15: Rào cản trong y tế cho hộ không thuộc diện nghèo ở các địa phương thuộc mẫu nghiên cứu - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 14 Rào cản tiếp cận dịch vụ y tế ở các địa phương và bệnh nhân Bảng 15: Rào cản trong y tế cho hộ không thuộc diện nghèo ở các địa phương thuộc mẫu nghiên cứu (Trang 67)
Bảng 16: Rào cản trong y tế cho hộ nghèo ở các địa phương trong mẫu nghiên cứu Hiện tại5 năm trước Các rào cảnHà TĩnhĐắc LắcLai ChâuChung - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 16 Rào cản trong y tế cho hộ nghèo ở các địa phương trong mẫu nghiên cứu Hiện tại5 năm trước Các rào cảnHà TĩnhĐắc LắcLai ChâuChung (Trang 68)
Bảng 17: Các loại hình cơ sở Giáo dục của Tỉnh (chỉ thu thập ở cấp Tỉnh) TTLoại hình cơ sở Giáo dục tại TỉnhSố lượng cơ sởSố học sinhSố giáo viên 200620072008200920062007200820092006200720082009 1Tổng số trường học trên địa bàn111111111111 Mầm non Tiểu họ - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 17 Các loại hình cơ sở Giáo dục của Tỉnh (chỉ thu thập ở cấp Tỉnh) TTLoại hình cơ sở Giáo dục tại TỉnhSố lượng cơ sởSố học sinhSố giáo viên 200620072008200920062007200820092006200720082009 1Tổng số trường học trên địa bàn111111111111 Mầm non Tiểu họ (Trang 79)
Bảng 18: Các loại hình cơ sở Y tế tại Tỉnh (chỉ thu thập ở cấp Tỉnh) - báo cáo nghiên cứu “tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại việt nam
Bảng 18 Các loại hình cơ sở Y tế tại Tỉnh (chỉ thu thập ở cấp Tỉnh) (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w