Ngay từ thời cổ đại, vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển toàn diện con người cũng như sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại đã được khẳng định; trong xã hội hiện đại, hơn bao giờ hết, vai trò đó càng được thể hiện rõ nét. Bản chất con người không bẩm sinh mà là kết quả tương tác của nhiều yếu tố, trong đó vai trò của giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Con người xã hội là sản phẩm của nền giáo dục xã hội. Trình độ giáo dục của mỗi nước là biểu hiện trình độ phát triển của đất nước đó.Nhận thức một cách sâu sắc vai trò của giáo dục đối với sự tồn vong của đất nước, ngay từ khi mới giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì thế, xuyên suốt tư tưởng đó của Hồ Chủ tịch, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trong của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lí giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lí luận chính trị được Đại hội toàn quốc lần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con người phát triển toàn diện, nhất là thế hệ trẻ. Đại hội X đã xác định mục tiêu giáo dục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, lí tưởng chủ nghĩa xã hội, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, ý chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ năng lực nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhảy cảm với chính trị, có ý chí vươn lên về khoa học công nghệ. Để cụ thể chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển giáo dục một cách tổng thể và toàn diện, bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục mầm non, thực hiện xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước, tạo môi trường thuận lợi để cho mọi người học tập và học tập suốt đời. Điều hành hợp lí cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế, thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta lại càng quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họ tham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm chủ khoa học tiên tiến.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định: Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính. Đường lối, chủ trương của Đảng được thể hiện trong Luật giáo dục hiện hành.Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, điều 2 Mục tiêu giáo dục: đã xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Con người Việt Nam mới chính là con người phát triển toàn diện các phẩm chất tâm lực, trí lực, thể lực; đức trí thể mĩ.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Người viết đề tài xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Học viện Quản lý giáodục, lãnh đạo các phòng, ban của Học viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôitrong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học giáo dục, công tác quản lí giáodục và quá trình viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận tình chỉ bảo trong quátrình học tập và nghiên cứu viết luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyênngành Quản lí giáo dục Đó là thời gian vô cùng quý báu, bổ ích về chuyênmôn, nghiệp vụ, về phương pháp nghiên cứu khoa học và cũng là quá trìnhrèn luyện phẩm chất nhà giáo, phẩm chất người làm công tác nghiên cứu khoahọc
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Phan Thị Hồng Vinh đã trực tiếphướng dẫn tận tình, chỉ bảo để luận văn được hoàn thành đúng thời hạn và đạtđược các yêu cầu của một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục ở trình độThạc sĩ
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Văn hóa, Thểthao và Du lịch Nguyễn Du, Phòng GD-ĐT TP Hà Tĩnh Các đồng chí, đồngnghiệp đã quan tâm, giúp đỡ toàn diện trong quá trình nghiên cứu và hoànthiện luận văn
Người viết đề tài sẽ tiếp tục phấn đấu để đáp lại sự quan tâm, giúp đỡcủa các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, các đồng chí, các bạn đồng nghiệp đểgóp phần thiết thực vào sự nghiệp giáo dục
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Tác giả: Dương Kim Thạch
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
MỞ ĐẦU 9
1 Lí do chọn đề tài 9
2 Mục đích 14
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 14
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 14
5 Giả thuyết khoa học 14
6 Phương pháp nghiên cứu 15
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 15
6.2 Nhóm các phương pháp thực tiễn 15
6.2.1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 15
6.2.2 Phương pháp điều tra 15
6.2.3 Phương pháp chuyên gia 15
6.2.4 Phương pháp xử lí số liệu 16
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 16
8 Điểm mới của luận văn 16
9 Kết cấu của luận văn 16
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ÂM NHẠC TRUNG HỌC CƠ SỞ 17
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 17
1.1.1 Trên thế giới 17
1.1.2 Ở Việt Nam 19
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 22
1.2.1 Giáo viên, giáo viên trung học cơ sở 22
1.2.2 Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 24
1.2.3 Quản lí giáo dục 24
1.2.4 Biện pháp 26
1.2.5 Một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực 27
1.3 Phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc trung học cơ sở 28
1.3.1 Vị trí, vai trò của của giáo viên âm nhạc trung học cơ sở 28
1.3.2 Cơ sở pháp lí của xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 30
Trang 31.3.3 Phát triển nguồn nhân lực trong phát triển đội ngũ giáo viên âm
nhạc THCS 33
1.4 Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 35
1.4.1 Đáp ứng yêu cầu về số lượng 35
1.4.2 Đồng bộ về cơ cấu 37
1.4.3 Nâng cao về chất lượng 38
1.5 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 40
1.5.1 Quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 40
1.5.2 Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS .41
1.5.3 Sử dụng có hiệu quả đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 45
1.5.4 Tạo môi trường, động lực làm việc và khuyến khích sự phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 46
1.5.5 Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ giáo viên âm nhạc THCS .47 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS .47
1.6.1 Công tác đào tạo giáo viên âm nhạc THCS 47
1.6.2 Công tác tuyển dụng và sử dụng giáo viên âm nhạc THCS 48
1.6.3 Cơ chế chính sách đối với giáo viên âm nhạc THCS 48
Tiểu kết chương 1 48
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ÂM NHẠC THCS Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY 50
2.1 Tổng quan về sự phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục của thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 50
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội 50
2.1.1.1 Vị trí địa lí 50
2.1.1.2: Điều kiện kinh tế xã hội 51
2.1.2 Giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh 51
2.1.2.1: Về quy mô 51
2.1.2.2: Về chất lượng giáo dục 52
2.2 Khái quát về tình hình giảng dạy các môn âm nhạc, mĩ thuật trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay 55 2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai thực hiện giảng dạy
âm nhạc ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh hiện nay 55
Trang 42.2.1.1 Thuận lợi 55
2.2.1.2 Khó khăn 55
2.1.2.3 Một số nét về tình hình giảng dạy các môn âm nhạc ở địa bàn thành phố Hà Tĩnh 56
2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên âm nhạc trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh hiện nay 58
2.3.1 Vài nét về thực trạng đội ngũ giáo viên THCS hiện nay 58
2.3.2 Về số lượng 59
2.3.3 Về chất lượng 59
2.3.4 Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ giáo viên âm nhạc ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh hiện nay 60
2.3.4.1 Những ưu điểm: 60
1.3.4.2 Những tồn tại 61
2.4 Thực trạng nhận thức về sự cần thiết và phát triển của bộ môn âm nhạc .62
2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên về sự cần thiết của bộ môn âm nhạc và phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 62
2.4.2 Đánh giá về nhận thức của CBQL và GV âm nhạc THCS 63
2.5 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc trung học cơ sỏ ở thành phố Hà Tĩnh hiện nay 64
2.5.1 Thực trạng công tác quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc trung học cơ sở ở thành phố Hà Tĩnh hiện nay 64
2.5.2 Thực trạng công tác tuyển dụng, sử dụng giáo viên âm nhạc THCS .65
2.5.3 Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên âm nhạc THCS 66
2.5.4 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá, phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc 68
2.5.5 Đánh giá tổng hợp thực trạng các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS 70
2.6 Nguyên nhân của thực trạng 72
2.6.1 Nguyên nhân của những mặt mạnh 72
2.6.2 Nguyên nhân của những hạn chế 72
Tiểu kết chương 2 73
Trang 5Chương 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ÂM NHẠC THCS TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
75
3.1 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp 75
3.1.1 Nguyên tắc mục tiêu 75
3.1.2 Nguyên tắc toàn diện 75
3.1.3 Nguyên tắc hiệu quả 75
3.2 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS ở địa bàn thành phố Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2015 76
3.2.1 Phòng GD & ĐT lập quy hoạch, phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS trên địa bàn TP Hà Tĩnh 76
3.2.1.1 Ý nghĩa 76
3.2.1.2 Nội dung 76
3.2.1.3 Cách tiến hành 77
3.2.1.4 Điều kiện thực hiện 77
3.2.2 Đổi mới phương thức tuyển dụng giáo viên âm nhạc THCS trên địa bàn TP Hà Tĩnh 79
3.2.2.1 Ý nghĩa 79
3.2.2.2 Nội dung 79
3.2.2.3 Cách tiến hành 79
3.2.2.4 Điều kiện thực hiện 80
3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS hiện có trên địa bàn TP Hà Tĩnh 81
3.2.3.1 Ý nghĩa 81
3.2.3.2 Nội dung 83
3.2.3.3 Cách tiến hành 86
3.2.3.4 Điều kiện thực hiện 90
3.2.4 Hình thành bộ phận chức năng phụ trách công tác chuyên môn ở cơ quan quản lí giáo dục 92
3.2.4.1 Ý nghĩa 92
3.2.4.2 Nội dung 92
3.2.4.3 Cách tiến hành 93
3.2.4.4 Điều kiện thực hiện 93
3.2.5 Phòng GD - ĐT phối hợp với các trường CĐ và các trường ĐH trên địa bàn có đào tạo ngành sư phạm âm nhạc 94
3.2.5.1 Ý nghĩa 94
Trang 63.2.5.2 Nội dung 94
3.2.5.3 Cách thức tiến hành 97
3.2.5.4 Điều kiện thực hiện 99
3.3 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 100
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
1 Kết luận 104
2 Kiến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109
Trang 7BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 2.1 Số liệu giáo dục của Hà Tĩnh năm học 2011-2012
2 2.2 Thông tin chung về các trường THCS Năm học 2011-2012
3 2.3 Cơ cấu và trình đội chuyên môn đội ngũ GV THCS Năm 2011
4 2.4 GV THCS trên địa bàn Hà Tĩnh phân chia theo độ tuổi năm học
2011-2012
5 2.5 Số liệu về HS THCS tính từ năm học 2008-2011
6 2.6 Kết quả học tập môn âm nhạc của HS THCS
7 2.7 Thực trạng về số lượng, chất lượng GV dạy môn âm nhạc THCS
8 2.8 Tổng hợp kết quả đánh giá xếp loại giáo viên âm nhạc THCS từ
năm 2008-2011
9 2.9 Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL,GV về sự cần thiết và
phát triển đội ngũ GV âm nhạc ở trường THCS
10 2.10 Khảo sát đánh giá về quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ
15 2.15 Ý kiến đánh giá tổng hợp các vấn đề về thực trạng phát triển đội
ngũ GV âm nhạc THCS trên địa bàn TP Hà Tĩnh
16 3.1
Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS Trên địa bàn TP Hà Tĩnh.
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngay từ thời cổ đại, vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triểntoàn diện con người cũng như sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia và toànthể nhân loại đã được khẳng định; trong xã hội hiện đại, hơn bao giờ hết, vaitrò đó càng được thể hiện rõ nét Bản chất con người không bẩm sinh mà làkết quả tương tác của nhiều yếu tố, trong đó vai trò của giáo dục đóng vai tròđặc biệt quan trọng Con người xã hội là sản phẩm của nền giáo dục xã hội.Trình độ giáo dục của mỗi nước là biểu hiện trình độ phát triển của đất nướcđó
Nhận thức một cách sâu sắc vai trò của giáo dục đối với sự tồn vong củađất nước, ngay từ khi mới giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ
“một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Vì thế, xuyên suốt tư tưởng đó của HồChủ tịch, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta
đã luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nghị quyết của Đại hộilần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáodục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trong của cuộc cách mạng tưtưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúctrưởng thành; thực hiện tốt nguyên lí giáo dục học đi đôi với hành, giáo dụckết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Tư tưởng chỉđạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tếqua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng Cộng sản Việt Nam Đặcbiệt, sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lí luận chính trị được Đại hội toàn quốclần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con ngườiphát triển toàn diện, nhất là thế hệ trẻ Đại hội X đã xác định mục tiêu giáodục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, lítưởng chủ nghĩa xã hội, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thầnhiếu học, ý chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạo lớpngười lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ năng lực nghề nghiệp, quan tâm
Trang 10hiệu quả thiết thực, nhảy cảm với chính trị, có ý chí vươn lên về khoa học công nghệ Để cụ thể chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương pháttriển giáo dục một cách tổng thể và toàn diện, bắt đầu từ chủ trương phát triểngiáo dục mầm non, thực hiện xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vàtrung học cơ sở trên phạm vi cả nước, tạo môi trường thuận lợi để cho mọingười học tập và học tập suốt đời Điều hành hợp lí cơ cấu bậc học, cơ cấungành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, quan tâm đàotạo đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, hướng vào mục tiêu phát triển kinh
-tế, thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội Hiệnnay, Đảng và Nhà nước ta lại càng quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp Giáo dục
và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động
để họ tham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, đồngthời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm chủ khoa học tiên tiến
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội Đại biểu Đảngtoàn quốc lần thứ XI đã xác định: Con người là trung tâm của chiến lược pháttriển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người,gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làmchủ của nhân dân Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình,nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trongviệc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thứclàm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống cóvăn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính Đường lối, chủ trươngcủa Đảng được thể hiện trong Luật giáo dục hiện hành
Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, điều 2 Mụctiêu giáo dục: đã xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp,trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và
Trang 11bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Con người Việt Nam mới chính
là con người phát triển toàn diện các phẩm chất tâm lực, trí lực, thể lực; đức trí - thể - mĩ
-Để đào tạo được những con người phát triển toàn diện, con người mới xãhội chủ nghĩa đáp ứng được yêu cầu cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước đòi hỏi ngành giáo dục phải thực hiện đồng bộ nhiều biệnpháp Một trong những biện pháp hàng đầu đó chính là hoàn thiện chươngtrình đào tạo, sao cho chương trình đó phải đảm bảo tính kế thừa, tính phùhợp, tính hiện đại, khả thi và tính toàn diện Chương trình giáo dục toàn diệnthể hiện trước hết ở nội dung giáo dục, các môn học được giảng dạy trongtrường học Chương trình đó không chỉ quan tâm giảng dạy các bộ môn khoahọc tự nhiên, kỹ thuật; giáo dục chính trị tư tưởng; khoa học xã hội nhân văn
mà còn phải chú trọng đến giáo dục thẩm mĩ cho người học
Nền giáo dục cách mạng của chúng ta được hình thành ngay từ sau Cáchmạng tháng Tám năm 1945, tuy nhiên do điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lúc đó,mục đích giáo dục trước mắt chính là “diệt giặc dốt”, chính là “xóa mù chữ”,nâng cao nhận thức của nhân dân Sau ngày hòa bình lập lại, thống nhất đấtnước, chúng ta đã hướng đến nền giáo dục toàn diện, tuy nhiên, do những khókhăn nhiều mặt của thời hậu chiến, thời bao cấp nên chương trình giáo dụcphổ thông của chúng ta chưa thật sự toàn diện Vấn đề giáo dục thẩm mĩ như
âm nhạc, mĩ thuật cho HSPT nói chung hoàn toàn chưa được quan tâm, nhất
là giáo dục phổ thông Vì thế có thể nói nhiều thế hệ học sinh Việt Namkhông có kiến thức sơ đẳng về âm nhạc, mĩ thuật Hệ lụy của tình trạng đóchính là những người này không có được nhận thức thẩm mĩ tối thiểu, từ đónăng lực cảm thụ thẩm mĩ trong cuộc sống hạn chế, thị hiếu thẩm mĩ thấp.Tuy nhiên, gần đây, chương trình âm nhạc, mĩ thuật đã được đưa vàogiảng dạy bắt buộc ở bậc học tiểu học, trung học cơ sở trên phạm vi toànquốc Điều đó chứng tỏ, ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta đã quan tâm đến
Trang 12giáo dục toàn diện Thực tế cũng chứng minh rằng, công dân nhất thiết phảiđược trang bị các kiến thức cần thiết về âm nhạc, hội họa Điều đó giúp conngười biết cảm thụ cái đẹp, thưởng thức cái đẹp trong âm nhạc, hội họa, qua
đó nâng cao trình độ nhận thức thẩm mĩ, định hướng thị hiếu thẩm mĩ đối vớingười dân Một nền giáo dục toàn diện, rõ ràng không thể không quan tâmđến giáo dục mĩ thuật, âm nhạc
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: "Tiếp tục nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệthống trường lớp và hệ thống quản lí giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đạihoá, xã hội hoá" Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Tạo chuyển biến cơbản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo,thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng - chính trị,nhân cách, đạo đức, lối sống cho người học
Hiện nay, nước ta đã hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, Đảng vàNhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp Giáo dục và đàotạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họtham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thờitiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm chủ khoa học tiên tiến Đại hội Đảnglần thứ X tiếp tục khẳng định: "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học vàcông nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy côngnghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước"
Đối với chương trình học, giáo dục toàn diện thể hiện trước hết ở nộidung đào tạo, ở tính toàn diện trong chương trình học sinh được học Điềunày đã được ngành Giáo dục quan tâm ngày từ cấp học tiểu học, trung học cơsở
Trong những năm gần đây, giáo dục nghệ thuật trong nhà trường phổthông đã trở thành một môn học không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục conngười mới Việt Nam phát triển toàn diện Cùng với các môn học khác, mônhọc âm nhạc, mĩ thuật trong chương trình Trung học cơ sở (THCS) nhằm mục
Trang 13đích giáo dục thẩm mĩ, nâng cao đời sống tinh thần cho lớp trẻ nên đã thu hútđược sự chú ý của nhà trường, của học sinh Sau một thời gian sách giáokhoa, chương trình âm nhạc, mĩ thuật ở THCS được triển khai đồng bộ từ lớp
6 đến hết học kỳ I lớp 9 đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của nhà trườngphổ thông và của xã hội Mặc dù cũng còn có một vài ý kiến trái ngược nhau,nhưng nhìn chung, nội dung của chương trình SGK âm nhạc, mĩ thuật THCS
đã thể hiện được những tiêu chí giáo dục thẩm mĩ hết sức cụ thể, có tính khoahọc và liên ngành cao Có lẽ, chưa có thời điểm nào mà các trường phổ thônglại hăng hái đăng ký tham gia giờ dạy tốt, giáo viên dạy giỏi môn âm nhạc, mĩthuật như giai đoạn hiện nay Điều đó chứng tỏ sự định hướng đúng đắn củaĐảng và Nhà nước, sự quan tâm của Bộ giáo dục và Đào tạo cũng như các sở,ngành địa phương đối với môn học này Do vậy đã khơi dậy được niềm tự tin,lòng yêu nghề, sự nhiệt tình phấn đấu của những giáo viên giảng dạy âmnhạc, mĩ thuật
Rõ ràng, việc đưa âm nhạc vào giảng dạy trong chương trình THCS đãbước đầu nâng cao nhận thức thẩm mĩ cho đối tượng học sinh, đã thu đượcnhững kết quả bước đầu Học sinh rất hứng thú đối với môn học âm nhạc.Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy ở các địa phương không đều; nhất là cònnhiều bất cập trong đội ngũ giáo viên
Thực tế cho thấy, trong một khoảng thời gian dài môn học âm nhạckhông giảng dạy ở THCS, nên khi trở thành bắt buộc trong chương trình,nhiều địa phương chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết, nhất là về độingũ giáo viên Vì thế, trên thực tế, đặc biệt ở những địa phương điều kiệnkinh tế - xã hội chưa thật sự phát triển như Hà Tĩnh, việc giảng dạy âm nhạckhó khăn nhiều hơn Việc nâng cao chất lượng giảng dạy âm nhạc ở trườngTHCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh nói riêng, trên địa bàn toàn quốc nóichung phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều biện pháp Tuy nhiên, tôi cho rằng,biên pháp đóng vai trò quyết định chính là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên
Trang 14âm nhạc Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2015” để làm luận văn thạc sĩ khoa học quản lí giáo dục.
2 Mục đích
Mục đích của luận văn là nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên âmnhạc THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh và đưa ra các biện pháp khả thi đểxây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc trên địa bàn thành phố HàTĩnh đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Công tác phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS ở cáctrường THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh
- Đối tượng: Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCStrên địa bàn thành phố Hà Tĩnh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên giảng dạy âm nhạc THCS trênđịa bàn thành phố Hà Tĩnh
- Nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáoviên âm nhạc THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh
- Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc trên địa bànthành phố Hà Tĩnh, giai đoạn 2011 - 2015
5 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh tuyđáp ứng nhiệm vụ giảng dạy trước mắt nhưng vẫn còn nhiều bất cập: Một sốgiáo viên chưa đạt chuẩn, số lượng chưa đảm bảo và chất lượng giảng dạychưa cao, chưa đáp ứng tốt yêu cầu mục tiêu đào tạo
Nếu xây dựng được một hệ thống các biện pháp khả thi, phù hợp vớiđiều kiện của địa phương thì sẽ xây dựng, phát triển được đội ngũ giáo viên
âm nhạc THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh đủ về số lượng, đảm bảo vềchất lượng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn âm nhạc trên địa bàn
Trang 15thành phố.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sưu tầm, phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo liên quan đến đề tàinghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhóm các phương pháp thực tiễn
6.2.1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tiến hành nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của cán bộ quản lí như BanGiám hiệu, các bộ phận chức năng của các trường THCS trên địa bàn thànhphố Hà Tĩnh Chú trọng cả kinh nghiệm thành công và những hạn chế, tìmhiểu nguyên nhân tồn tại và ưu thế trong việc phát triển đội ngũ giáo viên âmnhạc
6.2.2 Phương pháp điều tra
i) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Thu thập thông tin về thực trạng đội ngũ giáo viên THCS và
công tác quản lí đội ngũ này trên địa bàn TP Hà Tĩnh
- Đối tượng hỏi: Cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên THCS.
ii) Phương pháp điều tra
-Tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên để tìm hiểu thực trạngnhững thuận lợi, khó khăn, biện pháp thực hiện, kinh nghiệm quản lý của cán
bộ quản lý và giáo viên về phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
- Kĩ thuật: Phỏng vấn trực tiếp theo các nội dung hỏi chuẩn bị trước.
- Cách xử lí: Tập hợp ý kiến, đánh giá, khái quát chung.
6.2.3 Phương pháp chuyên gia
- Mục đích: Khẳng định những biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên
trên địa bàn TP Hà Tĩnh đến năm 2015
- Nội dung: Vai trò của các cơ sở giáo dục trong việc sử dụng, quản lí
đội ngũ giáo viên hiện có
- Kĩ thuật: Trao đổi trực tiếp hoặc xin ý kiến bằng văn bản.
Trang 16- Cách xử lí: Tập hợp ý kiến, đánh giá, khái quát chung.
6.2.4 Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu phục vụcông tác nghiên cứu Luận văn chủ yếu sử dụng hệ thống các phương phápnghiên cứu thực tiễn, trong đó chú trọng đến phương pháp điều tra bằng bảnghỏi
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Giới hạn nội dung: nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp pháttriển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS của phòng giáo dục thành phố trên địabàn thành phố Hà Tĩnh, giai đoạn 2011 - 2015
- Giới hạn không gian: phạm vi khảo sát là địa bàn thành phố Hà Tĩnh
- Giới hạn thời gian: các biện pháp đưa ra trong phạm vi thời gian thựchiện từ 2011 - 2015
8 Điểm mới của luận văn
8.1 Luận văn đánh giá một cách tổng quát tình hình chất lượng đội ngũgiáo viên âm nhạc THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
8.2 Luận văn đề ra được một số các biện pháp cơ bản, khả thi để nângcao chất lượng đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS trên địa bàn Hà Tĩnh, làm cơ
sở cho các nhà quản lí giáo dục ở địa phương đưa ra được các chính sáchđúng đắn trong việc xây dựng đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên âm nhạcnói riêng
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN ÂM NHẠC TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Không có một quốc gia phát triển nào lại có nền giáo dục lạc hậu Bởi lẽmột nền giáo dục tốt, hiện đại sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt, nâng cao vịthế quốc gia, nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia đó trên thị trườngquốc tế, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế tri thức Báo cáo phát triển conngười của UNDP hàng năm những năm gần đây đều cho thấy phần lớn cácnước có chỉ số phát triển con người - HDI cao là các nước có hệ thống giáodục vào loại tốt nhất của thế giới như Nauy, Thụy Điển, Canada, Hà Lan ;hoặc các nước có trình độ phát triển nhanh ở châu Á như Hàn Quốc, Singapo,Malayxia
Để có một nền giáo dục tốt, dĩ nhiên các nước đó đã có đầu tư thỏa đáng,xem đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, chứ không phải là một dạng
Trang 18phúc lợi xã hội Trong đầu tư cho giáo dục, cũng trên quan điểm nhân tố conngười đóng vai trò quyết định, các quốc gia đó đã có chiến lược phát triển độingũ nhà giáo Chính đội ngũ nhà giáo có trình độ cao đã góp phần quyết địnhcho ra những sản phẩm giáo dục chất lượng cao Dĩ nhiên, những điều kiệnkhác cho học tập và nghiên cứu khoa học như điều kiện trường, lớp, phòng thínghiệm, thư viện, chương trình, giáo trình và môi trương học tập cũng rấtquan trọng Nhưng chúng tôi cho rằng trên tất cả vẫn là yếu tố con người.Người Mỹ với nên giáo dục vào loại tốt nhất hiện nay đã quan niệm, để
có những trường tốt nhất phải có những giáo viên tốt nhất Họ được đào tạotốt nhất và cũng được tạo điều kiện tốt nhất để làm việc, cống hiến Thực tếhiện nay nền giáo dục nước Mỹ chính là bệ phóng cho sự hùng cường củanước Mỹ về kinh tế, chính trị, quân sự, nghiên cứu khoa học Cũng giống nhưvậy, Nhật Bản như chúng ta đều biết là đất nước không có tài nguyên thiênnhiên, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai luôn đe dọa, nhất là tình trạng động đấtxẩy ra thường xuyên Nhưng đất nước đó đã trở thành cường quốc cũng chínhnhờ nhân tố con người Ngay từ thời Minh Trị Thiên Hoàng đã nhất quán thựchiện chính sách đầu tư cho giáo dục, giáo viên Nhà giáo dục có vị trí rất quantrọng trong xã hội Nhật Bản Vấn đề là không chỉ dừng lại ở chổ có quanđiểm, cần phải chó chiến lược phát triển lâu dài, hệ thống; cần phải có đầu tưthỏa đáng, đồng bộ cho việc xây dựng một nền giáo dục phát triển toàn diện.Đầu tư cho giáo dục là một dạng đầu tư đặc biệt, sản phẩm của nền giáo dục
là con người, vì thế không phải một thời gian ngắn là có thể nhận thấy hiệuquả Cần phải có thời gian, đầu tư liên tục Trong xã hội hiện đại như ngàynay, chúng ta đầu thấy rằng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đang trở nên khá phổbiến Người của nước này có thể học tập ở nước khác, nếu anh có tiền Nhưngkhông vì thế mà xem nhẹ việc phát triển nền giáo dục quốc dân, nền giáo dụcđại chúng, bởi đó mới chính là nơi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đápứng yê cầu của nền kinh tế, xã hội
Trang 19và nhà nước ta đã xác định, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đàotạo là quốc sách hàng đầu Tuy nhiên, việc xây dựng một nền giáo dục hiệnđại có chất lượng cao đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó đầu tư cơ sở vật chất,nhất là đầu tư cho giáo viên - nguồn nhân lực cho ngành giáo dục đóng vai tròquyết định Nhưng cùng với những khó khăn trong nền kinh tế, việc chậm đổimới của ngành giáo dục và nhất là chưa đầu tư thỏa đáng cho đội ngũ nhàgiáo đã triệt tiêu các động lực phát triển của giáo dục Giáo viên không sốngđược bằng nghề đã không động viên họ nhiệt tình hăng say trong giảng dạy,trong tự học tự nhiên cứu; không thu hút được người giỏi vào công tác trongngành giáo dục Trong các bậc thang giá trị hiện nay, nhà giáo không cònchiếm vị trí được trân trọng đánh giá cao, thay vào đó là các ngành nghề cóthể kiếm được thu nhập cao Đó là một hiện tượng đáng lo ngại, góp phầnquyết định chất lượng giáo dục còn thấp và chưa toàn diện của nước ta hiệnnay Điều đó cũng có nghĩa là nền kinh tế quốc dân, xã hội không được ngànhgiáo dục cung ứng đầy đủ nguồn nhân lực chất lượng cao Đến lượt nhữngngười lao động này lại không thể đưa nền kinh tế phát triển Cái vòng luẩnquẩn: nghèo không có đầu tư thỏa đáng cho giáo dục dẫn tới chất lượngnguồn nhân lực thấp, nguồn nhân lực chất lượng thấp sẽ không thể đáp ứngđược yêu cầu của nền sản xuất tiên tiến, không thể cạnh tranh trên thị trườnglao động quốc tế, dẫn tới nền kinh tế không phát triển được; nền kinh tếkhông phát triển sẽ không có tiềm lực tài chính để đầu tư trở lại cho giáodục sẽ không có hồi kết nếu không có tư duy đột phá, biện pháp mạnh mẽ,
Trang 20trong đó khâu đào tạo giáo viên, đầu tư cho giáo viên phải được quan tâmhàng đầu.
Giáo dục - Đào tạo là một lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội Đặcbiệt thời đại ngày nay - thời đại của nền kinh tế tri thức vai trò của giáo dụcđối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đòi hỏi phải có sự quản lí
cả về vĩ mô lẫn vi mô phải tương xứng, phù hợp với sự phát triển của giáodục - đào tạo mà xã hội yêu cầu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lígiáo dục trong và ngoài nước Các quan điểm về quản lí như quan điểm hiệuquả, quan điểm kết quả, quan điểm đáp ứng, quan điểm phù hợp lần lượt rađời phù hợp với sự phát triển của khoa học quản lí và sự phát triển của nềngiáo dục
Song song với những công trình nghiên cứu có tính chất tổng quan vềquản lí giáo dục thì các công trình nghiên cứu về nhà trường, quản lí nhàtrường có ý nghĩa thiết thực Vì nhà trường được thừa nhận rộng rãi như mộtthiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ trở thànhnhững công dân có ích cho xã hội
Trong việc quản lí nhà trường thì quản lí đội ngũ giáo viên là một bộphận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lí quá trình giáo dục - đàotạo, vì đội ngũ cán bộ quản lí cùng với đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết địnhchất lượng giáo dục Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường, chất lượnggiáo dục của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn vàhợp lí công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về quản lí nhà trường nóichung và quản lí đội ngũ giáo viên nói riêng Như các tác giả: Trần Bá Hoành,Thái Duy Tuyên, Nguyễn Ngọc Hợi, Thái Văn Thành, Bùi Minh Hiền, VũNgọc Hải, Đặng Quốc Bảo, các giảng viên Học viện Quản lí giáo dục:Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Sỹ Hồ, LêTuấn… Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng: đội ngũ giáo viên và đội ngũquản lí giáo dục: quản lí các nhà trường và quản lí các cơ quan trong hệ thống
Trang 21giáo dục quốc dân có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệpgiáo dục Sứ mệnh của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục có ýnghĩa cao cả đặc biệt Họ là bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Laođộng của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của đất nước, cộngđồng đi vào trạng thái phát triển bền vững.
Các công trình khoa học trên với tầm vóc quy mô về giá trị lí luận vàthực tiễn đã được áp dụng rộng rãi và mang lại những hiệu quả nhất địnhtrong quản lí giáo dục, quản lí nhà trường Phần lớn các công trình đó chủ yếu
đi sâu nghiên cứu lí luận có tính chất tổng quan về quản lí giáo dục, quản línhà trường, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Tuy nhiêntheo chúng tôi, ít có công trình nghiên cứu đi sâu vào các biện pháp quản línhằm nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng giáo viên THCS nói chung,giáo viên âm nhạc nói riêng Điều đó là vì một phần các cấp quản lí giáo dục,các nhà nghiên cứu chưa thật sự quan tâm đến công tác giáo dục nghệ thuật,
âm nhạc cho học sinh phổ thông
Tóm lại, vấn đề phát triển giáo dục toàn diện tuy đã được quan tâmnghiên cứu nhưng mới ở giai đoạn bước đầu Các quan điểm nền tảng về giáodục toàn diện đã được đưa ra nhưng trên thực tế, do nhiều nguyên nhân, điềukiện khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ nhận thức của công tác quản lí,giáo dục toàn diện chưa được quan tâm trên thực tế Học sinh chỉ mới đượchọc các môn khoa học cơ bản, các môn lí luận chính trị, các môn giáo dục đạođức còn thực tế chưa được làm quen với các môn âm nhạc, thẩm mĩ nóichung
Có thể nói, trong suốt mấy mươi năm phát triển của nền giáo dục cáchmạng, vấn đề đưa âm nhạc vào giảng dạy trong nhà trường phổ thống chưa hềđược quan tâm Vì thế, học sinh chúng ta không có kiến thức tối thiểu về âmnhạc nói riêng, về nghệ thuật nói chung; cũng có nghĩa là kiến thức, sự hiểubiết, năng lực nhận thức thẩm mĩ, trình độ cảm thụ thẩm mĩ là rất thấp
Trong điều kiện chiến tranh hay thời hậu chiến, chúng ta buộc phải chấp
Trang 22nhận tình trạng đào tạo không toàn diện đó nhưng hiện nay đất nước đã có thế
và lực mới, đất nước đã hội nhập mạnh mẽ với thế giới, việc đào tạo conngười phát triển toàn diện, chú ý nâng cao năng lực nhận thức thẩm mĩ trởnên là một đòi hỏi tất yếu Vì thế chúng ta đã có bước chuyển biến mạnh mẽtrong việc thay đổi nội dung chương trình phổ thông, theo đó các môn nghệthuật như âm nhạc, mĩ thuật có chỗ đứng của mình Tuy nhiên, để đưa một bộmôn mới vào trường học đại trà, yêu cầu về chất lượng đòi hỏi phải có mộtquá trình chuẩn bị lâu dài Những thành công và những hạn chế sau một thờigian đưa âm nhạc vào giảng dạy ở bậc THCS đang đặt ra cho các cấp quản línhiều vấn đề cần phải tháo gỡ để có thể nâng tầm bộ môn đáp ứng được mụctiêu tốt đẹp của việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh THCS
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Giáo viên, giáo viên trung học cơ sở
* Khái niệm giáo viên
1 Trong Luật Giáo dục 2005, điều 70 đã đưa ra định nghĩa như sau:Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trườnghoặc cơ sở giáo dục
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau:
a Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt
b Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
c Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp
* Giáo viên trung học cơ sở
1
Trang 23Luật Giáo dục đã quy định tên gọi cụ thể về tên gọi đối với từng đốitượng nhà giáo căn cứ theo cấp học, bậc giảng dạy và công tác Theo đó, nhàgiáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghềnghiệp gọi là giáo viên Như vậy, giáo viên THCS chính là nhà giáo giảngdạy ở bậc học THCS.
Bộ GD & ĐT vừa Ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viêntrung học cơ sở (THCS), giáo viên (THPT) Mục đích ban hành Quy địnhnhằm giúp giáo viên trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lốisống, năng lực nghề nghiệp, qua đó, làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viênhằng năm phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
và sử dụng đội ngũ giáo viên trung học
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học gồm 6 tiêu chuẩn đó là: tiêuchuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực tỡm hiểu đối tượng vàmôi trường giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực hoạtđộng chính trị, xã hội và năng lực phát triển nghề nghiệp Đi kèm với mỗi tiêuchuẩn là các tiêu chí rất cụ thể nhằm đánh giá đúng mức độ hoàn thành nhiệm
vụ Tổng cộng có 25 tiêu chí
Trong quy định này, vấn đề đạo đức, lối sống, tác phong, ứng xử với họcsinh, với đồng nghiệp được quy định rất cụ thể và được xem là tiêu chuẩn đầutiên trong việc đánh giá, công nhận chuẩn nghề nghiệp Giáo viên trung họcphải yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinh khắcphục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt Có lối sống lành mạnh, văn minh,phù hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực,làm việc khoa học
Về việc đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn, yêu cầu đầu tiên là phảiđảm bảo tính trung thực, khách quan, toàn diện, dân chủ và công bằng, phảnánh đúng phẩm chất, năng lực dạy học và giáo dục của giáo viên trong điềukiện cụ thể của nhà trường, địa phương
Việc đánh giá giáo viên phải căn cứ vào các kết quả đạt được thông qua
Trang 24xem xét các minh chứng, cho điểm từng tiêu chí, tính theo thang điểm 4, là sốnguyên; nếu có tiêu chí chưa đạt 1 điểm thì không cho điểm Với 25 tiêu chí,tổng số điểm tối đa đạt được là 100.
1.2.2 Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
Đội ngũ giáo viên là một tập thể những người đảm nhiệm công tác giáodục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định.Đây là lực lượng quyết định hoạt động giáo dục của nhà trường, cho nên cầnđược đặc biệt quan tâm xây dựng mọi mặt, phải có đủ số lượng phù hợp với
cơ cấu giảng dạy các bộ môn, đảm bảo tỉ lệ cân đối nam, nữ giữa độ tuổi trẻ,trung niên và cao tuổi Muốn có đội ngũ giáo viên mạnh cần có cơ chế, chế
độ chính sách thỏa đáng, nhất là những đơn vị giáo dục ở vùng xa, khó khăn
để từ đó phát huy tiềm năng của từng người, đoàn kết gắn bó mọi người thànhmột khối thống nhất của những nhà sư phạm
Đội ngũ giáo viên THCS chính là một tập thể những người đảm nhiệmcông tác giáo dục và dạy học ở cấp học THCS; phối hợp với nhau và phối hợpvới lực lượng giáo dục khác để thực hiện mục tiêu giáo dục THCS, giáo dụchọc sinh, phát triển nhận thức, năng lực mà các em đó đạt được ở tiểu học lênmột tầm cao mới, giúp cho các em có đủ trình độ, năng lực để tiếp tục học lênTHPT hoặc vào học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, hay tham gia lao độngtrục tiếp ngoài xã hội
1.2.3 Quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục là một khoa học chuyên ngành trên nền tảng của khoahọc quản lí nói chung Khái niệm quản lí giáo dục có nhiều cách tiếp cận.Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lí giáo dục thực chất là tác động đếnnhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thểchất theo đường lối nguyên lí giáo dục của Đảng, quán triệt được tính chấtnhà trường XHCN Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lêntrạng thái chất lượng mới
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là
Trang 25hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy côngtác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội Quản lí là sự tác động liên tục có tổchức, có định hướng của chủ thể (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể(đối tượng quản lí) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một
hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và cácbiện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển củađối tượng
Về nội dung, thuật ngữ quản lí có nhiều cách hiểu khác nhau Có ý kiếncho rằng: quản lí là một hoạt động thiết yếu nẩy sinh khi con người lao động
và sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể, tổ chức.Hoạt động quản lí là nhân tố cần thiết, tất yếu để duy trì sự tồn tại và pháttriển của mọi quy mô và loại hình tổ chức người; từ một gia đình cho đến cấpquốc gia, quốc tế; từ các tổ chức kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học…đếnbất kì lĩnh vực hoạt độg nào của con người, nếu không được quản lí sẽ dẫnđến tình trạng tự phát, hỗn loạn, kém hiệu quả Trong nhiều trường hợp, hoạtđộng quản lí được đồng nhất với hoạt động tổ chức
Ý kiến khác lại cho rằng: quản lí là các hoạt động được thực hiện nhằmbảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác Quản lí
là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự kháccùng chung một tổ chức Quản lí là một hoạt động thiết yếu đảm bảo những
nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều chứađựng những nội dung cơ bản của quản lí Quản lí phải bao gồm các yếu tốsau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lí là tác nhân tạo ra các tác động và ítnhất là một đối tượng bị quản lí tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thểquản lí tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thểquản lí Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
Sự tác động của quản lí bằng cách nào đó để người bị quản lí luôn luôn hồ
Trang 26hởi, phấn khởi đem hết tài lực và trí tuệ của mình để sáng tạo ra giá trị vậtchất và tinh thần cho tập thể tạo ra các tác động.
- Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể,mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động
Quản lí là hoạt động thiết yếu nẩy sinh khi con người hoạt động tập thể,
là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là kháchthể con người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức Quản lí là mộtkhoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhânvăn khác như: toán học, thống kê, tâm lí và xã hội học Nó còn là một
"nghệ thuật" đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục đích
Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể(người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng quản lí) về các mặtchính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chínhsách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ramôi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
Trang 27là: để đạt được mục đích hoặc cho ra kết quả nào đó chúng ta cần phải có một
hệ thống các cách thức tiến hành cụ thể trong hoạt động thực tiễn hay nóicách khác là phải có biện pháp Theo đó, biện pháp là các biện pháp nhằm xâydựng và phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS trên địa bàn thành phố
Hà Tĩnh để đáp ứng được yêu cầu giảng dạy âm nhạc theo đúng yêu cầu của
bộ Giáo dục và Đào tạo
Là luận văn khoa học giáo dục, các biện pháp chúng tôi đưa ra chú trọngcách tiếp cận từ phía khoa học quản lí, từ góc độ quản lí Điều đó có nghĩa làvấn đề được xem xét ở tất cả các khía cạnh từ nhận thức của công tác quản lí,các đường lối, chú trương chính sách, kế hoạch cho đến đào tạo, bồi dưỡng,tuyển dụng, sử dụng cũng như công tác đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên
1.2.5 Một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực
* Phát triển:
Phát triển là thuộc tính của vật chất Theo Từ điển tiếng Việt: “Phát
triển” là mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh” [29; 615].
Đặc trưng của sự phát triển là hình thức phát triển xoáy trôn ốc và theocác chu kì Phát triển là một quá trình nội tại, biến chuyển từ thấp lên cao,trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng nền tảng những khuynh hướng dẫn đếncái cao hơn, còn cái cao là cái thấp đã phát triển Phát triển làm cho sự vật,hiện tượng biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp Trong quá trình phát triển, cái mới, cái tiến bộ sẽ hìnhthành thay thế cái cũ, cái lạc hậu
Mọi sự vật, hiện tượng chỉ có tính ổn định tương đối; chúng luôn luônvận động, biến đổi và phát triển Phát triển là tất yếu Đào tạo con người làquá trình nâng cao năng lực về mặt thể lực, trí lực, tâm lực đồng thời phân bổ,
sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lục của nguồn nhân lực để pháttriển đất nước
* Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đào tạo: Là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện
Trang 28được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
Giáo dục: Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, cóthể cho con người đó chuyển tới công việc mới trong một thời gian thích hợp.Phát triển: Là quá trình học tập nhằm mở ra cho các cá nhân những côngviệc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức
Ba bộ phận hợp thành của giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhânlực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng củacon người Vì vậy, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực bao gồm không chỉđào tạo, giáo dục và phát triển đã được thực hiện bên trong một tổ chức, màcòn bao gồm một loạt hoạt động khác của phát triển và đào tạo nguồn nhânlực được thực hiện từ bên ngoài
Tác dụng của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực còn là: giảm bớt được
sự giám sát, vì đối với người lao động được đào tạo, họ là người có thể tựgiám sát, Giảm bớt những tai nạn, do những hạn chế của con người hơn là donhững hạn chế của trang bị Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên,chúng được bảo đảm có hiệu quả ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do
có nguồn đào tạo dữ trử thay để thế
1.3 Phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc trung học cơ sở
1.3.1 Vị trí, vai trò của của giáo viên âm nhạc trung học cơ sở
Vị trí, vai trò của người giáo viên nói chung đã được khẳng định cùngvới sự khẳng định của nhân loại đối với vai trò của giáo dục và đào tạo Rõràng, đề cao vai trò của giáo dục, cũng chính là đề cao vai trò của giáo viên,bởi dù đứng trên quan điểm nào, cách tiếp cận nào, giáo viên vẫn đóng vai trò
vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của giáo dục, đối với chất lượng giáodục
Đánh giá vai trò của giáo dục trong thế kỉ XXI, tác giả Trần Bá Hoànhkhẳng định: Khi môn âm nhạc được đánh giá đúng tầm quan trọng của nó,giáo viên giảng dạy âm nhạc cũng được nhìn nhận, đánh giá đúng vai trò Đốivới giáo viên âm nhạc, vai trò, vị trí của họ chính là cùng với đội ngũ giáo
Trang 29viên, đội ngũ giáo viên THCS hoàn thành mục tiêu giáo dục, đào tạo nênnhững con người XHCN đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời đại.Vai trò, sứ mệnh của họ chính là nâng cao nhận thức về âm nhạc qua đó giáodục tình yêu đối với cái đẹp, cái thẩm mĩ, nâng cao thị hiếu thẩm mĩ, năng lựcthẩm mĩ của con người mới XHCN Mục tiêu đào tạo con người mới khôngthể không coi trọng giáo dục thẩm mĩ, nhất là những bộ môn cơ bản như âmnhạc.
Việc đặt con người vào trung tâm của sự phát triển khiến cho GD phải ràsoát lại nhận thức về mục tiêu: từ chỗ “học để biết” sang nhấn mạnh “học đểlàm”, rồi “học để tồn tại, để cùng chung sống” GD phải nhằm xây dựngnguồn lực con người thành động lực cho sự phát triển bền vững
Như vậy, trong những năm của thế kỉ XXI, GD phải thay đổi mục tiêucủa nó cho phù hợp với những yêu cầu của thời đại Đội ngũ giáo viên là lựclượng cốt cán biến các mục tiêu GD thành hiện thực, giữ vai trò quyết địnhchất lượng và hiệu quả GD Xu thế đổi mới GD đang đặt ra những yêu cầumới về phẩm chất, năng lực, làm thay đổi vai trò và chức năng của người giáoviên
Đảng ta cũng xác định: để bảo đảm chất lượng GD phải giải quyết tốtvấn đề thầy giáo, và để có sự chuyển biến căn bản trong đội ngũ thầy giáophải thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với GV,khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học, , phải đổi mới công tác đào tạo
và bồi dưỡng đội ngũ GV và cán bộ quản lí GD, sử dụng GV đúng năng lực,đãi ngộ đúng công sức và tài năng, với tinh thần ưu đãi và tôn vinh nghề dạyhọc
Đảng ta khẳng định: Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lí giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lốisống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lí, phát triểnđúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng
Trang 30đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệpCNH, HĐH đất nước.
Như vậy, vị trí, vai trò, giá trị của người giáo viên luôn được xã hội tônvinh Đứng trước nhiệm vụ lớn lao của ngành giáo dục đào tạo của nước tahiện nay thì sứ mệnh lịch sử của người giáo viên trong việc thực hiện yêu cầunâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài đáp ứng cho sựnghiệp CNH, HĐH, tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,công bằng văn minh là rất nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang
1.3.2 Cơ sở pháp lí của xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
Tầm quan trọng của giáo viên âm nhạc THCS được khẳng định mạnh mẽqua việc Ngành Giáo dục đánh giá cáo tầm quan trọng công việc của họ, của
bộ môn âm nhạc THCS Ngay từ năm 1996 đã có Thông tư liên bộ 15/TTLBnăm 1996 về việc Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên âm nhạc và mĩ thuật phục
vụ sự nghiệp giáo dục thẩm mĩ cho học sinh mẫu giáo, phổ thông do Bộ GiáoDục và Đào Tạo - Bộ Văn Hóa Thông Tin ban hành Thông tư nói rõ mụcđích là:
1 Tăng cường sự phối hợp có hiệu quả và phát huy thế mạnh của haingành Giáo dục - Đào tạo và Văn hoá - Thông tin từ Trung ương đến địaphương để đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo giáo viên âm nhạc, Mĩ thuật(gọi tắt là giáo viên nhạc, họa) góp phần khắc phục tình trạng thiếu trầm trọngđội ngũ giáo viên âm nhạc, mĩ thuật tại các trường sư phạm và các trườngmẫu giáo, phổ thông nhằm phục vụ sự nghiệp giáo dục thẩm mĩ cho học sinhmẫu giáo, phổ thông theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Từngbước tiến tới đào tạo đủ giáo viên âm nhạc, mĩ thuật cho các trường phổ thông
và trước mắt bảo đảm đủ số giáo viên âm nhạc, mĩ thuật cho trường phổthông dân tộc nội trú
2 Trong quá trình phối hợp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, hai ngành cầnquan tâm đặc biệt việc giáo dục cho giáo sinh biết bảo vệ và phát huy các tinh
Trang 31hoa bản sắc văn hoá dân tộc, các tinh hoa văn hoá thế giới, có lòng yêu nghềmến trẻ, có đạo đức tác phong phù hợp nghề thầy giáo, có trình độ nghiệp vụ
sư phạm bảo đảm thực hiện chương trình âm nhạc và mĩ thuật ở mỗi cấp họccủa Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nội dung và nhiệm vụ như sau:
Bắt đầu từ năm học 1996-1997, hai Bộ tập trung chỉ đạo thực hiện cácmục tiêu, nội dung sau:
1 Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ Văn hoá - Thông tin chỉ đạo Trường Caođẳng sư phạm Nhạc-Hoạ Trung ương và các Trường Đại học Mĩ thuật, Nhạcviện phối hợp xây dựng chương trình đào tạo giáo viên Đại học Sư phạm âmnhạc và mĩ thuật và chương trình bồi dưỡng giáo viên âm nhạc, mĩ thuật từtrình độ Cao đẳng lên trình độ Đại học Sư phạm âm nhạc, mĩ thuật và chỉ đạochỉnh lí chương trình Cao đẳng, Trung học sư phạm âm nhạc, mĩ thuật trìnhhai Bộ duyệt và Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành để thực hiện trong cả nước
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng kinh phí trong chương trình để biênsoạn giáo trình đào tạo giáo viên các hệ và giáo trình bồi dưỡng giáo viên để
sử dụng cho các trường tham gia đào tạo giáo viên âm nhạc, mĩ thuật Mỗi Bộtrình Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các trường đào tạo giáoviên âm nhạc và mĩ thuật thuộc Bộ quản lí
3 Bộ Văn hoá - Thông tin và Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp lập dự
án mở các khoa sư phạm âm nhạc, mĩ thuật để đào tạo cử nhân sư phạm âmnhạc và mĩ thuật bậc Đại học tại các trường Đại học Mĩ thuật, Nhạc viện và
mở các lớp Đại học sự phạm âm nhạc, Mĩ thuật tại trường Cao đẳng sư phạmnhạc-hoạ trung ương bằng chỉ tiêu kế hoạch và ngân sách nhà nước giaonhằm kịp thời cung cấp đội ngũ giáo viên sư phạm âm nhạc và mĩ thuật chocác trường sư phạm địa phương và trực thuộc và một phần cho các trường phổthông cơ sở trong những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI
4 Để thực hiện mục tiêu mỗi trường trung học cơ sở có 2 giáo viên (1dạy âm nhạc, 1 dạy họa), sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép UBND,
Trang 32các tỉnh, thành phố giao nhiệm vụ cho trường CĐSP và trường VHNT cáctỉnh, thành phố liên kết đào tạo giáo viên nhạc, hoạ bậc Trung học và Caođẳng theo chương trình Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (với điều kiện các
cơ sở đào tạo đáp ứng đủ yêu cầu đào tạo)
5 Bộ Văn hoá - Thông tin và Bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp xây dựngquy hoạch, kế hoạch bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên dạy nhạc,hoạ Các trường CĐSP Nhạc - Họa TW, Đại học Mĩ thuật và âm nhạc, cáctrường CĐSP và VHNT địa phương mở các lớp bồi dưỡng chuyên ngành âmnhạc và mĩ thuật theo kế hoạch bồi dưỡng giáo viên của Bộ Giáo dục và Đàotạo nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên
âm nhạc, mĩ thuật đương nhiệm và kiêm nhiệm
6 Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì và phối hợp với Bộ Văn hoá - Thôngtin và Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các băng hình dạy âm nhạc, mĩthuật theo chương trình phổ thông để phát triển VTTH và phát hành tới cáctrường phổ thông trên cả nước, đặc biệt các trường vùng dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa
7 Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Bộ Văn hoá thông tin xây dựng chế
độ chính sách đào tạo giáo viên âm nhạc và mĩ thuật trình Chính phủ và xâydựng cơ chế sử dụng đội ngũ giáo viên âm nhạc, mĩ thuật đào tạo theo chỉ tiêu
kế hoạch Nhà nước
Như vậy, vai trò của bộ môn âm nhạc THCS đã được coi trọng Bộ Giáodục và Đào tạo đã có chương trình cụ thể từ việc biên soạn giáo trình đến kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng và chế độ giáo viên Việc đưa âm nhạc vào giảngdạy từ bậc THCS nằm trong chủ trường lớn của Đảng, Ngành nhằm đào tạo,phát triển con người toàn diện
Trong xã hội hiện đại, khi mà không ít nơi, chủ nghĩa kỉ trị có vẻ nhưđang thống trị xã hội, tình trạng tôn sùng khoa học công nghệ đang phổ biếnhơn bao giờ hết Và đi kèm với tôn sùng công nghệ, đời sống con người nhiềunơi, nhiều giới tràn ngập sản phẩm công nghệ, người ta sống vô cùng tiện
Trang 33nghi nhưng không vì thế mà đời sống tâm hồn con người trở nên phong phú,trái lại sự phát triển thiên lệch đã tạo ra nhiều thế hệ cằn cỗi về tinh thần, vềtâm hồn Người ta không biết yêu một câu ca giao, tục ngữ hay; không biếtthưởng thức một bức tranh đẹp, một phong cảnh nên thơ; đặc biệt không biếtyêu một giai điệu đẹp, một bài hát dân ca chứa chất tâm hôn dân tộc, chứađậm văn hóa vùng, miền Chúng tôi cho rằng, nếu không chú ý đúng mứcgiáo dục thẩm mĩ cho học sinh có nghĩa là chúng ta đã bỏ qua một công cụ vôcùng mạnh mẽ để tác động lên đời sống tâm hồn học sinh.
Âm nhạc có những thế mạnh riêng mà không một bộ môn nào có thể cóđược, bằng phương thức tác động đặc thù của mình qua hình tượng âm nhạc,
âm nhạc có thể tác động đến những vùng sâu kín nhất trong tâm hồn conngười, làm lay chuyển họ, thức tỉnh họ, làm họ trở nên có tâm hồn hơn, vì thếcũng trở nên yêu đời hơn, hoàn thiện mình hơn
Lứa tuổi học sinh THCS, như chúng ta biết là lứa tuổi nhân cách chưahoàn thiện, ở vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng cả về nhận thức
và thể chất Đây là lứa tuổi hết sức nhạy cảm, vì thế sự tác động đối với các
em có một sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hoàn thiện nhân cách của các em
Âm nhạc có thế mạnh đặc biệt bồi bổ tâm hồn cho các em
Giáo viên âm nhạc chính là người bắc cầu đưa các em đến với âm nhạc.Các em hiểu về âm nhạc, cảm về âm nhạc và yêu âm nhạc qua thầy cô giáo
Vì thế, chất lượng giáo viên âm nhạc đóng vai trò rất quan trọng đối với thái
độ của các em đối với môn học, Vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng trong việcbồi dưỡng tâm hồn qua đó cũng được quyết định bởi người giáo viên
1.3.3 Phát triển nguồn nhân lực trong phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
Chúng ta biết rằng, ngày nay, nguồn nhân lực chính là nguồn lực quantrọng nhất, quyết định nhất đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc giacũng như của toàn nhân loại Điều đó ngày càng được khẳng định trong môitrường cạnh tranh toàn cầu, trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên ngày càng
Trang 34cạn kiệt Có tác giả cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là tạo ra sự tăngtrưởng bền vững về hiệu quả của mỗi thành viên người lao động và hiệu quảchung của tổ chức gắn liền với việc không ngừng tăng lên về số lượng và chấtlượng đội ngũ Chính vì thế, phát triển nguồn nhân lực là quá trình đào tạo vàđào tạo lại, trang bị hoặc bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết
để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ hoặc tìm một việc làm mới.Ngày nay, chính phủ các nước đều đã nhận thức được một cách sâu sắcvai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển, sự thắng thế trong cạnh tranhquốc tế, vì thế đều đã có cách chiến lược phát triển, đào tạo nguồn nhân lựcphù hợp với điều kiện cụ thể của họ Việt Nam chúng ta cũng đã có chiếnlược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Rõ ràng nguồn nhânlực đó chính là sản phẩm của một nền giáo dục có chất lượng Công tác xâydựng, phát triển đội ngũ giáo viên theo hướng tiếp cận lí luận phát triển nguồnnhân lực chính là phải xem việc xây dựng, và triển đội ngũ giáo viên chính làđiều kiện cần để phát triển nguồn nhân lực Từ đó, có sự đầu tư thích đáng,toàn diện cho công tác xây dựng đội ngũ giáo viên nói chung
Đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên giản dạy âm nhạc THCS
là một tổ chức, luôn vận động, biến đổi và phát triển Đội ngũ giáo viên lànguồn nhân lực của ngành giáo dục và đào tạo; phát triển đội ngũ giáo viênchính là phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục và đào tạo Đó là một nhiệm
vụ trọng tâm của ngành, có ý nghĩa động lực đối với chiến lược phát triểnnguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng các giá trị vật chất, các giá trịthinh thần, các giá trị thể chất, giá trị đạo đức để mọi người lao động có thái
độ lao động tốt, có năng lực làm việc tốt, hoàn thành nhiệm vụ của mình vàhợp tác với các thành viên khác phục vụ sự phát triển của tổ chức, đơn vị.Phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vựcGD&ĐT, tạo ra đội ngũ giáo viên có đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm
Trang 35bảo về chất lượng để có thể thực hiện tốt các yêu cầu phát triển GD&ĐTtrong từng thời kỳ phát triển của đất nước và từng địa phương.
1.4 Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên âmnhạc THCS nói riêng phải quán triệt các yêu cầu về phát triển nguồn nhânlực Mục đích, yêu cầu của việc phát triển đội ngũ giáo viên THCS là nhằmphát triển đội ngũ giáo viên THCS đảm bảo đủ về số lượng, mạnh về chấtlượng, đồng bộ về cơ cấu và nâng cao được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạođức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của các nhàgiáo góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục cơ sở đáp ứng với yêucầu của sự phát triển giáo dục THCS và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của từng địa phương
Đối với giáo dục PT THCS, âm nhạc là môn học có tính đặc thù cao.Ngoài những tiêu chuẩn chung của giáo viên THCS, rõ ràng giáo viên âmnhạc phải thực sự có năng khiếu, được đào tạo chuyên nghiệp Đây là những
bộ môn mà các cơ sở giáo dục không được bố trí giáo viên dạy chéo ban Thực tế là không phải ai hát hay, có thể là giỏi về âm nhạc là có thể giảng dạy
âm nhạc được Trước hết họ phải là những người có khả năng định hướng thịhiếu cho học sinh Chúng tôi cho rằng công tác xây dựng và phát triển đội ngũgiáo viên âm nhạc THCS phải thực hiện ở tất cả các khía cạnh sau
1.4.1 Đáp ứng yêu cầu về số lượng
Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên THCS, trước hết là đáp ứngyêu cầu về số lượng Đủ về số lượng tức là số lượng giáo viên nhìn trên sựđiều hành vĩ mô, cân bằng đối với lực lượng lao động xã hội trong nền kinh
tế Hiện nay nước ta có khoảng hơn 50 triệu lao động trong độ tuổi, có khoảnghơn 1 triệu giáo viên, chiếm khoảng 2% trong tổng số lao động Tỉ lệ nàyđược đánh giá là vừa phải Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của chúng ta hiện nay
là số lượng giáo viên nhìn trên sự điều hành vĩ mô ở nước ta hiện nay chưacân đối, nơi thừa (thanh phố, nơi kinh tế phát triển), nơi thiếu (vùng sâu, vừng
Trang 36xa, miền núi, hải đảo) tính theo chuẩn quy định về số giáo viên/lớp học/họcsinh/số dân.
Về số lượng giáo viên thông tin được đưa ra tại hội thảo “Nâng cao chấtlượng đội ngũ giáo viên Mĩ thuật và Âm nhạc trong trường phổ thông” mà BộGiáo dục và Đào tạo vừa tổ chức ngày 10/6/2011, theo báo cáo của Cục Nhàgiáo và Cán bộ quản lí giáo dục cho biết, hiện cả nước có 31.523 giáo viên
Âm nhạc và Mỹ thuật ở bậc tiểu học và THCS Trong đó, môn Mỹ thuật là15.120 giáo viên, môn Âm nhạc có 16.403 giáo viên
Hiện cả nước thiếu khoảng gần 10.000 giáo viên Trong 5.103 giáo viên
Mỹ thuật bị thiếu thì cấp Tiểu học thiếu 3.446 GV, THCS thiếu 1.576GV.Còn môn Âm nhạc, cấp Tiểu học thiếu 3.101GV, THCS thiếu 1.389GV Vìthiếu giáo viên chuyên ngành nên đã dẫn đến tình trạng có rất nhiều giáo viênkiêm nhiệm
Giáo viên bộ môn Âm nhạc và Mỹ thuật nhìn chung còn nhiều hạn chế
về phương pháp dạy học, nhiều giáo viên dạy còn mang tính chất dạy họcnghệ thuật chuyên nghiệp Thậm chí nhiều giáo viên còn lúng túng, vướngmắc trong việc soạn thảo giáo án hay lập kế hoạch dạy học
Việc giáo viên nơi thừa, nơi thiếu xuất phát từ chỗ điều kiện kinh tế - xãhội các vùng khác nhau, kèm theo đó là thu nhập giáo viên khác nhau Từ chỗ
cơ hội cống hiến và hưởng thụ cuộc sống không đều dẫn tới chỗ giáo viên tìmcách xin chuyên công tác, tránh những vùng khó khăn dẫn tới không ít tìnhtrạng tham nhũng trong giáo dục liên quan tới việc luân chuyển cán bộ; mặtkhác nơi thừa, nơi thiếu giáo viên sẽ dẫn tới nơi không có người dạy, nơi giáoviên phải dạy rất nhiều làm ảnh hưởng tới chất lượng, và nhất là lãng phínguồn nhân lực đã được đào tạo Để khắc phục hiện tượng này rõ ràng cần cónhiều ưu đãi thỏa đáng cho các vùng có điều kiện còn khó khăn để giáo viênyên tâm công tác, có thể thu hút giáo viên giỏi, qua đó dần nâng cao chấtlượng giảng dạy giữa các vùng, miền Đó cũng chính là việc thực hiện côngbằng trong giáo dục, công bằng trong cống hiến và hưởng thụ, công bằng
Trang 37trong cơ hội phát triển của người dân.
Có một thực tế nữa trong cơ cấu số lượng hiên nay là tuy tổng số giáoviên có nơi đủ, nhưng lại có bộ môn thiếu, bộ môn thừa dẫn tới tình trạng dạychéo ban, chéo môn, kiêm nhiệm dẫn tới chất lượng giảng dạy không đảmbảo
Đối với bộ môn âm nhạc, như yêu cầu của thông tư 15/TTLB, tối thiểumỗi trường THCS có 01 giáo viên âm nhạc Đó là yếu cầu tối thiểu, trên thực
tế, để hình thành được một bộ môn mạnh, có khả năng đáp ứng nhiệm vụgiảng dạy và giáo dục âm nhạc cũng như thực hiện các nhiệm vụ khác, cầnphải có nhiều hơn một giáo viên âm nhạc/trường THCS Đối với các trường
có quy mô lớn, số lớp đông, số lượng phải lớn hơn Việc cơ cấu số lượng giáoviên âm nhạc/trường THCS phụ thuộc vào số giờ giáo viên phải thiực hiệntheo định mức lao động cho giáo viên THCS Tuy nhiên, âm nhạc là một mônđặc thù, giáo viên không thể đảm nhận quá nhiều giờ
Trong bối cảnh lao động hiện nay, việc đáp ứng đủ giáo viên giảng dạy
âm nhạc không phải là việc khó, khi năng lực đào tạo giáo viên âm nhạc cótrình độ cao đẳng âm nhạc trở lên của các cơ sở giáo dục hoàn toàn có thể đápứng được yêu cầu Mặt khác, xã hội cũng khá quan tâm đến lĩnh vực này,nhiều người chọn con đường trở thành giáo viên âm nhạc để lập nghiệp.Nhưng vấn đề là do thiếu biên chế nhiều khi đã khiến các trường, các địaphương không ưu tiên cho tuyển dụng giáo viên âm nhạc Vì thế trên thực tế,một giáo viên còn giảng dạy ở hai trường là khá phổ biến
1.4.2 Đồng bộ về cơ cấu
Cơ cấu của đội ngũ giáo viên được xét trên các sự tương thích: nam - nữ,giảng dạy theo bộ môn, tuổi đời, về trình độ nghiệp vụ sư phạm Theo cáckhía cạnh này thì đội ngũ giáo viên THCS ở nước ta còn nhiều bất cập Chúng
ta đang gặp một số khó khăn về cơ cấu đội ngũ như sau:
- Hiện tượng nữ hóa đội ngũ giáo viên: mầm non 99,9%; tiểu học gần80%; THCS gần 70% Trong cơ cấu giới tính, có một số ngành nghề tính đặc
Trang 38thù cao, phù hợp với từng giói tính hơn, nhưng với ghề dạy học, trừ bậc mầmnon, yêu cầu về giới tính trong giáo dục là không phân biệt Nhưng tỉ lệ trêncho thấy một tình trạng nữ học giáo viên rất rõ rệt Tình trạng trên chưa có sựthay đổi khi trong các trường sư phạm hiện nay, số sinh viên nam cũng chíchiếm không quá 20% tổng số sinh viên Đó là điều không bình thường vàảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục học sinh.Trên thực tế, đối vớ giáo viên nữ, việc dành toàn bộ thời gian cho công việc làrất khó bởi nhiệm vụ gia đình rất nặng nề; họ cũng rất vất vả trong việc tiếptục học tập nâng cao trình độ Nhiều môn còn thiếu giáo viên, trong đó có âmnhạc.
Mặt khác, sự phân bố giáo viên giỏi ở các trường không đều Các giáoviên có trình độ, nghiệp vụ tốt đều muốn chuyển đến những nơi có điều kiệnkinh tế phát triển hơn, các trường có uy tín, truyền thống dẫn đến chất lượnggiáo dục vốn đã không đồng đều ngày càng có sự phân hóa rõ rệt Vì vậy, nhànước cần không ngừng hoàn thiện các chính sách đối với giáo viên, đặt chínhsách đối với giáo viên trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo
Đối với giáo viên âm nhạc THCS, do số tiết không nhiều nên số lượnggiáo viên âm nhạc chiếm tỉ lệ không lớn trong tổng sô giáo viên THCS Tuynhiên, đây là môn học đòi hỏi tính đặc thù rất cao (môn năng khiếu) nên nhấtthiết giáo viên phải được đào tạo đúng chuyên ngành, không thể lấy giáo viêncác môn khác để bố trí dạy chéo ban như một số môn khác được Vì vậy, đủ
số lượng giáo viên là đòi hỏi trước hết
1.4.3 Nâng cao về chất lượng
Với quan điểm triết học, chất lượng được định nghĩa là phạm trù triếthọc biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổnđịnh tương đối của sự vật phân biệt nó đối với sự vật khác Chất lượng là đặctính khách quan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộctính Nó là các liên kết cái thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật
và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không
Trang 39thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sựvật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định
về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vậtbao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng
Chất lượng là mức độ hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưngtuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, thông số cơ bản Chất lượng của sảnphẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm, thể hiện được
sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp vớicông dụng của sản phẩm
Đây là một yêu cầu cấp thiết Việc nâng cao chất lượng đội ngũ đòi hỏiphải có nhiều biện pháp đồng bộ, toàn diện Nâng cao chất lượng toàn diệngiáo viên phải quan tâm đến các mặt:
- Về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của người giáo viên: thể hiệnphẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử với học sinh, ứng xử vóiđồng nghiệp, lối sống, tác phong
- Trình độ đào tạo: do yêu cầu ngày càng cao của chất lượng giáo dụctheo yêu cầu của xã hội nên chuẩn của giáo viên về trình độ cũng ngày càngđược nâng cao Vì thế, ngoài việc đảm bảo bằng cấp khi tuyển dụng, công tácđào tạo lại, công tác bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên là rất quan trọng.Đối với giáo viên âm nhạc THCS, để đảm bảo yêu cầu về trình độ âmnhạc và phương pháp giảng dạy âm nhạc, nhất thiết giáo viên âm nhạc THCSphải được đào tạo từ các trường CĐSP âm nhạc, hoặc chuyên ngành âm nhạccác trường đại học, cao đẳng sư phạm Ngoài ra, những người được đào tạotại các trường âm nhạc, chuyên ngành âm nhạc cũng có thể trở thành giáoviên âm nhạc nếu họ được học bổ sung kiến thức nghiệp vụ sư phạm âm nhạc.Điều đó đảm bảo bước đầu trình độ, nghiệp vụ của giáo viên âm nhạc THCS.Trên thực tế, không ít giáo viên âm nhạc THCS chưa đạt chuẩn, do công tácđào tạo còn bất cập, thậm chí chưa được đào tạo, đào tạo không chính quy
Trang 401.5 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
1.5.1 Quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc THCS
Làm tốt công tác quy hoạch luôn có một ý nghĩa quan trọng đối với côngtác phát triển giáo viên nói chung, giáo viên âm nhạc nói riêng Điều này thểhiện tầm quan trọng của vấn đề, thể hiện nhận thức của đội ngũ quản lí đốivới môn học nói riêng, đối với vấn đề giáo dục toàn diện và chiến lược pháttriển giáo dục nói chung Công tác quy hoạch bao gồm công tác dự báo quy
mô phát triển, chiến lược phát triển của ngành, cấp, bậc học với yêu cầu củathời đại đối với giáo dục âm nhạc
Quy hoạch: có nhiều quan niệm khác nhau về quy hoạch Chúng tôi chorằng, quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp theo một trình tự hợp lí trong từng thờigian làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn Quy hoạch phát triển giáo dục
là quy hoạch ngành và là một bộ phận của quy hoạch kinh tế - xã hội nóichung Trên cơ sở lí luận chung thì quy hoạch phát triển giáo dục - đào tạo làmột bản luận chứng khoa học dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dụchiện tại, dự đoán, nắm bắt những cơ hội, tiên đoán xu thê phát triển giáo dụccủa đất nước để xác định quan điểm, phương pháp, mục tiêu giáo dục của đơn
vị, chỉ rõ yêu cầu về chất lượng GD&ĐT, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộQLGD
Kế hoạch là sự sắp đặt, hoạch định đường lối có hệ thống của nhữngcông việc dự định làm, là sự cụ thể hóa một việc hoặc nhiều mục tiêu trongphạm vi không gian, thời gian và nguồn lực nhất định Kế hoạch là sự tiênđoán những những sự kiện cụ thể, chi tiết của tương lai bằng việc xác địnhcác mục tiêu cụ thể, xác định trong phạm vi không gian, thời gian và nguồnlực nhất định
Quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên âm nhạc là sựchuẩn bị đội ngũ giáo viên dựa trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát về yêu cầu sốlượng, chất lượng, quy mô phát triển giáo dục của địa phương trong thời giantới; tình hình đội ngũ hiện tại; tình hình và khả năng đào tạo của các trường