1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIV AIDS tại VIỆT NAM ước TÍNH và dự báo giai đoạn 2011 đến 2015

146 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 5,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra các số liệu báo cáo ca nhiễm HIV phát hiện qua các năm từ địa phương và số liệu hoạt động chương trình đã được sử dụng đối chiếu để đảm bảo kết quả ước tính dịch HIV/AIDS chính

Trang 1

Vietnam hiV/aids estimates and Projections

Trang 2

CHỦ BIÊN

PGS TS Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế

BAN BIÊN SOẠN

PGS TS Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế

Ths BS Phan Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS

Ths BS Võ Hải Sơn, Cục Phòng, chống HIV/AIDS

TS BS Nguyễn Cường Quốc, Tổ chức FHI 360 tại Việt Nam

Ths Lê Thị Cẩm Thúy, Tổ chức FHI 360 tại Việt Nam

CN Hà Lâm Bách, Tổ chức FHI 360 tại Việt Nam

Ths Nguyễn Thu Vân, Tổ chức FHI 360 tại Việt Nam

Ths Masaya Kato, Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam

Ths Nguyễn Thị Minh Thu, Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam

Ths BS Nguyễn Thị Cẩm Anh, Tổ chức UNAIDS tại Việt Nam

CÙNG SỰ THAM GIA HỖ TRỢ KỸ THUẬT CỦA CÁC CHUYÊN GIA

TS Tim Brown, Trung Tâm Đông - Tây

TS BS Wiwat Peerapatanapokin, Trung tâm Đông - Tây

GS TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương

TS Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng khoa HIV/AIDS, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Ths Trần Đại Quang, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Ths BS Hoàng Đình Cảnh, Cục Phòng, chống HIV/AIDS

Ths BS Vladanka Andreeva, Tổ chức UNAIDS tại Việt Nam

Ths Patrick Nadol, Trung Tâm Phòng Chống và Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ

TS BS Vũ Bích Diệp, Trung Tâm Phòng Chống và Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ

TS Stephen J Mills, Giám đốc kỹ thuật, Tổ chức FHI 360 khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

TS Keith Sabin, Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam

Ths BS Trần Vũ Hoàng, Công ty TNHH hợp tác phát triển nghiên cứu y học

Ths Nguyễn Đức Dương, Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID)

CN Nguyễn Khắc Hải, Cục Phòng, chống HIV/AIDS

CN Lê Mai Phương, Cục Phòng, chống HIV/AIDS

Trang 3

CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS

MINISTRY OF HEALTHVIETNAM AUTHORITY OF HIV/AIDS CONTROL

HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM

ƯỚC TÍnH VÀ DỰ BÁo giai đoạn

2011 - 2015

Vietnam hiV/aids estimates and Projections

hà Nội, Tháng 12 năm 2012

Trang 5

Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1990, Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm

đối phó với dịch HIV/AIDS, đến nay dịch HIV ở Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn tập trung Dịch

đã có xu hướng chững lại trong những năm qua, biểu hiện qua việc giảm số ca nhiễm HIV phát

hiện mới, giảm tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong quần thể chính có nguy cơ cao như nhóm người tiêm

chích ma túy và phụ nữ bán dâm, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục

đồng giới đang có xu hướng gia tăng Một số tỉnh, thành phố dịch HIV vẫn còn diễn biến phức

tạp, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm dễ bị lây nhiễm HIV vẫn ở mức cao Hình thái dịch HIV ở Việt

Nam bắt đầu có sự thay đổi, nguyên nhân lây truyền HIV qua đường tình dục ngày càng chiếm

tỷ trọng lớn hơn Nhằm đánh giá, dự báo và ước tính tình hình dịch HIV/AIDS giai đoạn

2011-2015, Bộ Y tế đã vận dụng mô hình ước tính và dự báo dịch HIV của Chương trình phòng, chống

HIV/AIDS của Liên Hợp quốc trên cơ sở theo dõi số liệu giám sát trọng điểm HIV qua các năm ở

39 tỉnh, thành phố và số liệu từ các nghiên cứu khác Ngoài ra các số liệu báo cáo ca nhiễm HIV

phát hiện qua các năm từ địa phương và số liệu hoạt động chương trình đã được sử dụng đối

chiếu để đảm bảo kết quả ước tính dịch HIV/AIDS chính xác, phản ánh đúng hơn bức tranh tổng

thể về xu hướng tình hình dịch HIV/AIDS, cũng như các nhu cầu cần cho can thiệp, dự phòng,

chăm sóc và điều trị cho cho người nhiễm HIV

Cũng giống như xây dựng ước tính và dự báo tình hình dịch HIV/AIDS vòng 1 và vòng 2, số

liệu ước tính và dự báo về HIV/AIDS vòng 3 này đã được thực hiện nhằm dự báo chiều hướng

và tác động của dịch HIV/AIDS, cung cấp các số liệu quan trọng hỗ trợ cho việc ra quyết định

và xây dựng kế hoạch cho các chương trình dự phòng, chăm sóc điều trị HIV/AIDS tại Việt

Nam trong những năm tới, cũng như có các số liệu ước tính quan trọng cho xây dựng Chiến

lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 cũng như xây dựng

các đề án thuộc Chiến lược

Bộ Y tế đánh giá cao sự đóng góp và phối hợp của nhóm kỹ thuật quốc gia về theo dõi và đánh

giá chương trình HIV/AIDS, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur khu vực, Trung Tâm

Phòng Chống HIV/AIDS các tỉnh, thành phố và đặc biệt các chuyên gia trong nước và quốc tế đến

từ Tổ chức y tế thế giới, Tổ chức UNAIDS, UNICEF, Trung Tâm Phòng Chống và Kiểm Soát Bệnh Tật

Hoa Kỳ, Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ, Trung tâm Đông Tây, Tổ chức FHI 360 thực hiện xây

dựng và hoàn thiện báo cáo ước tính dự báo tình hình dịch HIV/AIDS giai đoạn 2011-2015

Tài liệu này được biên soạn cũng nhằm cung cấp cho các bạn đồng nghiệp, các bạn độc giả

các thông tin về quy trình, phương pháp thực hiện cũng như cập nhật kết quả ước tính và dự

báo HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2015 và hy vọng các thông tin sẽ được sử dụng như một

tài liệu tham khảo trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam

PGS.TS NGUYỄN THANH LONG

Thứ trưởng Bộ Y tế

LỜI GIỚI THIỆU

Trang 6

MỤC LỤC

2.1 Các khu vực địa lý và quần thể bao gồm trong Ước tính và Dự báo 3

2.2 Nguồn số liệu và các giả định chính trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011 5 2.2.1 Số liệu về tỷ lệ hiện nhiễm HiV 5

2.2.3 Số liệu về chương trình điều trị kháng virut (aRV)

và Phòng lây truyền mẹ con (PLTMC) 10

CHƯơNg VI: KẾ HOẠCH TƯơNg LAI NHẰM TĂNg CƯỜNg CHẤT LƯỢNg

CHƯơNg VII: BẢN ĐỒ DỊCH HIV TẠI VIỆT NAM 34

Bản đồ phân bố dịch HiV tại Việt nam, 2011 34 Bản đồ dịch HiV trong nhóm nCMT tại Việt nam, 2011 35 Bản đồ dịch HiV trong nhóm PnMD tại Việt nam, 2011 36 Bản đồ dịch HiV trong nhóm khách hàng nam giới của PnMD tại Việt nam, 2011 37 Bản đồ dịch HiV trong nhóm MSM nguy cơ cao tại Việt nam, 2011 38

Phụ lục iii: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV ước tính trong nhóm khách hàng nam giới của PnMD

tại Việt nam theo khu vực, giai đoạn 1990 – 2015 41

Trang 7

Phụ lục iV: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV ước tính trong nhóm MSM nguy cơ cao tại Việt nam theo

Phụ lục V: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV ước tính trong nhóm MSM nguy cơ thấp tại Việt nam

Phụ lục Vi: Dự báo cáo nguồn lây nhiễm HiV tại Việt nam theo khu vực,

giai đoạn 1990 – 2010 – Ước tính trung bình 44

Phụ lục Vii: Tóm tắt kết quả Ước tính và Dự báo tại Việt nam, giai đoạn 2000 - 2015 51

Phụ lục Viii: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV tính trên toàn bộ dân số tại Việt nam theo khu vực,

giai đoạn 1990 - 2015 – Ước tính trung bình 56

Phụ lục iX: Số người nhiễm HiV tại Việt nam theo khu vực,

giai đoạn 2000 – 2015 – Ước tính trung bình 57

Phụ lục X: Ước tính số người nhiễm HiV (Tuổi 15+) cần điều trị aRV tại Việt nam

theo khu vực, giai đoạn 2000 – 2015 – Ước tính trung bình 58

Phụ lục Xi: Ước tính số phụ nữ mang thai nhiễm HiV cần điều trị aRV trong PLTMC

tại Việt nam theo khu vực, giai đoạn 2000 – 2015 – Ước tính trung bình 59

Trang 8

Bảng 1: Danh sách các khu vực trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011 3

Bảng 2: Các giả định chính sử dụng trong ước tính kích cỡ quần thể 1 10

Bảng 3: Các nguồn nhiễm mới HiV phổ biến tại Việt nam theo khu vực, năm 2010 16

Bảng 4: Ước tính trung bình tỷ lệ hiện nhiễm HiV tại một số tỉnh và khu vực theo phần trăm

Bảng 5: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV trong các nhóm quần thể nguy cơ cao theo khu vực giai đoạn

Biểu đồ 1: Số người nhiễm HiV tại Việt nam giai đoạn 1990 - 2015:

Biểu đồ 2: Số người nhiễm HiV phân theo giới tính và tỷ số nam/nữ nhiễm HiV tại Việt nam

Biểu đồ 3: Số trường hợp nhiễm mới HiV ở người trưởng thành (từ 15 trở lên) giai đoạn

Biểu đồ 4: Các đường lây truyền HiV tại Việt nam giai đoạn 1990 – 2010: Ước tính trung bình 15 Biểu đồ 5: Số trường hợp tử vong hàng năm do aiDS trong quần thể người từ 15 tuổi trở lên

tại Việt nam giai đoạn 1990 - 2010: Tác động của chương trình điều trị aRV 17

Biểu đồ 6: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV (bao gồm cả người lớn và trẻ em) tại Việt nam giai đoạn

Biểu đồ 7: Số lượng người trưởng thành tuổi từ 15 nhiễm HiV cần điều trị aRV tại Việt nam

giai đoạn 1990 – 2015: Ước tính thấp, trung bình và cao 19

Biểu đồ 8: Số phụ nữ có thai nhiễm HiV cần điều trị PLTMC tại Việt nam giai đoạn 1990 - 2015:

Biểu đồ 9: Số trẻ em trong độ tuổi 0 - 14 nhiễm HiV tại Việt nam giai đoạn 1990 - 2015:

Biểu đồ 10: Ước tính số trường hợp nhiễm mới HiV ở trẻ sơ sinh đã được ngăn chặn bởi

chương trình PLTMC giai đoạn 1990 – 2010: Ước tính trung bình 21

Biểu đồ 11: Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm nCMT tại Việt nam giai đoạn 1990 - 2015:

Tỷ lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tỷ lệ hiện nhiễm tại một số khu vực trọng điểm 21

Biểu đồ 12: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV trong nhóm PnMD tại Việt nam giai đoạn 1990 - 2015:

Tỷ lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tỷ lệ hiện nhiễm tại một số khu vực trọng điểm 22

MỤC LỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Trang 9

Biểu đồ 13: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV trong nhóm khách hàng nam giới của PnMD tại Việt nam

giai đoạn 1990 - 2015: Tỷ lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tỷ lệ hiện nhiễm tại một số

Biểu đồ 14: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV trong nhóm MSM nguy cơ cao tại Việt nam giai đoạn

1990 - 2015: Tỷ lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tại một số khu vực trọng điểm 24

Biểu đồ 15: Tỷ lệ hiện nhiễm HiV trong nhóm MSM nguy cơ thấp tại Việt nam giai đoạn

1990 - 2015: Tỷ lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tại một số khu vực trọng điểm 24

Biểu đồ 16: So sánh kết quả Ước tính và dự báo HiV/aiDS vòng 2007 và vòng 2010 – 2011:

Ước tính trung bình tổng số người nhiễm HiV tại Việt nam giai đoạn 1990 - 2011 26

Trang 10

DaNH MỤC Từ VIếT TắT

AEM Mô hình dịch Châu Á

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

ANC Cơ sở khám thai ARV Thuốc điều trị kháng Retro-Vi rút ART Phương pháp điều trị kháng Retro-Vi rút BLĐTBXH Bộ Lao động - Thương Binh - Xã Hội

CDC Trung Tâm Phòng Chống và Kiểm Soát Dịch Bệnh Hoa Kỳ CUP Chương trình sử dụng bao cao su

DFID Tổ chức Phát Triển Quốc Tế Vương Quốc anh

EPP Phần mềm Ước tính và Dự báo của UnaiDS

EWC Trung Tâm đông - Tây

FHI 360 Tổ chức Sức Khỏe gia đình Quốc Tế

HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HSS+ giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi

HTC Tư vấn xét nghiệm HiV

IBBS giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HiV/STi tại Việt nam

MARP Quần thể nguy cơ cao

MSM nam quan hệ tình dục đồng giới

NCMT nghiện chích ma túy

NIHE Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương

PEPFAR Kế hoạch viện trợ khẩn cấp của Tổng Thống Hoa Kỳ cho chương trình phòng chống aiDS PNMD Phụ nữ mại dâm

PLTMC Phòng lây truyền mẹ con

STI nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh

UNAIDS Chương trình HiV/aiDS của Liên Hợp Quốc

USAID Tổ Chức Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ

VAAC Cục Phòng Chống HiV/aiDS Việt nam

WHO Tổ Chức Y Tế Thế giới

Trang 11

BỐI CẢNH

Tiếp nối hai vòng Ước tính và Dự báo dịch HIV/AIDS ở Việt Nam đã được thực hiện năm

2003 và 2007, vòng dự báo thứ ba được thực hiện vào năm 2010 - 2011 nhằm dự báo

chiều hướng và tác động của dịch HIV/AIDS, từ đó có thể hỗ trợ cho việc ra quyết định và

xây dựng kế hoạch cho các chương trình dự phòng, chăm sóc điều trị HIV/AIDS tại Việt

Nam trong vài năm tới Tương tự như quá trình thực hiện năm 2003 và 2007, với vòng ba

số liệu về tỷ lệ hiện nhiễm HIV, ước lượng kích cỡ quần thể các nhóm nguy cơ cao và số

liệu từ các nghiên cứu chuyên biệt được nhập vào phần mềm Ước tính và Dự báo EPP,

phiên bản 3.0 R9 để tính toán ra ước lượng thấp, ước lượng trung bình và ước lượng cao

của dịch HIV/AIDS tại Việt Nam Sự khác biệt của vòng ba so với hai vòng trước là việc kết

hợp sử dụng kết quả ước tính và dự báo của thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (thực

hiện theo mô hình dịch Châu Á- Asian Epidemic Model) với các kết quả ước tính dự báo

của các tỉnh thành khác trong cả nước để mô tả xu hướng dịch quốc gia

Số liệu từ đường cong mô hình dịch HIV/AIDS có được từ phần mềm EPP và AEM được sử

dụng với số liệu chương trình điều trị thuốc kháng virus (ART) và chương trình dự phòng

lây truyền từ mẹ sang con (LTMC) đưa vào phần mềm SPECTRUM (bản 3.14) để xây dựng

một mô hình ước tính tỷ lệ hiện nhiễm, nhu cầu cần điều trị, tỷ lệ tử vong do AIDS và các

chỉ số quan trọng khác Ước tính và dự báo chung cho toàn quốc cũng như theo từng

khu giai đoạn 1990 – 2015 và ước tính cho cả quần thể dân cư nói chung cũng như các

nhóm quần thể nguy cơ cao

CÁC KẾT QUẢ CHÍNH

Ước tính và dự báo nhiễm HIV tại Việt Nam

Ước tính có khoảng 248.500 người nhiễm HIV tại Việt Nam, tương đương với tỷ lệ hiện

nhiễm 0.28% trong năm 2011 (ước tính trung bình) Với diễn tiến của các trường hợp nhiễm

HIV mới và sự mở rộng của chương trình điều trị ARV, góp phần kéo dài thời gian sống

của người nhiễm HIV, dự báo số lượng người nhiễm HIV tại Việt Nam sẽ tăng lên 263.500

người (tương đương với tỷ lệ hiện nhiễm 0,29%) vào năm 2015 Tuy nhiên, số trường hợp

nhiễm mới HIV có chiều hướng giảm dần theo thời gian, từ đỉnh điểm 28.300 trường hợp

vào năm 2002 xuống còn 19.900 trường hợp vào năm 2010 Lây nhiễm HIV sẽ tiếp tục phổ

biến hơn ở nam giới so với phụ nữ Tỷ số giới tính nam giới nhiễm HIV so với nữ giới giảm

dần theo thời gian và ước tính duy trì mức 3 nam/1 nữ trong giai đoạn 2011 – 2015 (186.818

nam/61.667 nữ năm 2011 và 196.580 nam/ 66.737 nữ vào năm 2015 theo ước tính trung bình),

TÓM TắT

Trang 12

cho thấy chiều hướng gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV từ nam giới nhiễm HIV sang vợ và bạn tình của họ Số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV chiếm một phần nhỏ trong tổng số người nhiễm HIV, với 5.200 trường hợp nhiễm HIV vào năm 2011 và có khả năng tăng lên 6.350 vào năm 2015, điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết cho các dịch vụ chẩn đoán sớm trẻ bị nhiễm HIV nhằm cung cấp cho trẻ em các dịch vụ chăm sóc và điều trị kịp thời Can thiệp dự phòng lây truyền mẹ con cần thiết phải được mở rộng để ngăn ngừa việc có thêm nhiều trẻ em bị nhiễm HIV do số lượng phụ nữ có thai nhiễm HIV cần điều trị ARV sẽ tiếp tục duy trì ở mức tương đối cao, khoảng 3.900 trường hợp/năm trong giai đoạn 2011 - 2015.

Ước tính và dự báo nhiễm HIV trên các nhóm quần thể nguy cơ cao tại Việt Nam

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy (NCMT ) trên toàn quốc được dự báo

sẽ giảm nhẹ từ 26% vào năm 2006 xuống 23% vào năm 2015 Tuy nhiên, chiều hướng dịch trong nhóm NCMT biến thiên giữa các khu vực khác nhau Một số tỉnh thành có dấu hiệu giảm tỷ lệ hiện nhiễm nhưng vẫn duy trì ở mức cao vào năm 2015 như Hải Phòng (43%), Quảng Ninh (40%) Tại một số khu vực khác, tỷ lệ hiện nhiễm lại có chiều hướng duy trì ổn định như các tỉnh khu vực Đông Bắc (39%), Nghệ An (27%) Sự thay đổi về tình hình dịch HIV trong nhóm NCMT giữa các khu vực khác nhau trên cả nước cho thấy không nên cắt giảm các chương trình dự phòng ngay cả khi tỷ lệ hiện nhiễm HIV đi vào ổn định Ngược lại, tình hình dịch HIV vẫn tiếp tục gia tăng cần phải được kiểm soát bằng các chương trình dự phòng hiệu quả Thêm vào đó, sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT các tỉnh Tây Bắc trong những năm gần đây cho thấy các tỉnh này cần phải duy trì và tăng cường các chương trình can thiệp dự phòng quyết liệt và hiệu quả để ngăn chặn tình trạng tỷ lệ hiện nhiễm tăng cao như tại các khu đô thị lớn

Phụ nữ mại dâm (PNMD) cũng là nhóm quần thể có nguy cơ lây nhiễm cao Theo kết quả ước tính và dự báo, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm này trên toàn quốc sẽ tăng nhẹ từ 6.8% năm

2011 lên 7.0% vào năm 2015 Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở cấp quốc gia có chiều hướng khá ổn định, chiều hướng này lại biến thiên giữa các tỉnh thành khác nhau trên cả nước Theo ước tính vào năm 2015, một số tỉnh, thành phố như Cần Thơ, , An Giang, Hà Nội và các tỉnh Tây Bắc có tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm PNMD cao hơn nhiều so với tỷ lệ hiện nhiễm của nhóm này trên toàn quốc Theo kết quả nghiên cứu ở các tỉnh thành nêu trên cho thấy có một tỷ lệ lớn PNMD tiêm chích ma túy và lây nhiễm HIV trong nhóm này có liên quan chặt chẽ đến hành vi tiêm chích ma túy Chính vì vậy, các chương trình can thiệp dự phòng trong nhóm PNMD cần phải hiệu quả, toàn diện và phải bao gồm cả các can thiệp cho nhóm PNMD tiêm chích ma túy, cũng như là các chăm sóc và điều trị dành cho những PNMD đã bị nhiễm HIV

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm khách hàng nam giới của PNMD được dự báo giảm nhẹ

từ 1.7% xuống 1.5% trong giai đoạn 2011 - 2015 Mặc dù tỷ lệ này được giữ ở mức dưới 1.5% tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, nhưng một số tỉnh thành như Tp Hồ Chí

Trang 13

Minh, An Giang, Cần Thơ và các tỉnh Tây Bắc được dự báo là có tỷ lệ hiện nhiễm cao hơn

mức trung bình toàn quốc vào năm 2015 Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm trung bình ở nhóm

này trên toàn quốc dưới 2.0%, nhưng kích cỡ quần thể lại rất lớn, dẫn đến thực trạng một

số lượng lớn khách hàng nam giới có nguy cơ nhiễm HIV Đồng thời nhóm này có khả

năng là tác nhân lây truyền HIV sang vợ và bạn tình của họ, các nỗ lực can thiệp dự phòng

hiệu quả trên nhóm đối tượng này là rất cần thiết

Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm HIV chung cho toàn quốc trong nhóm nam quan hệ tình dục

đồng giới (MSM) tại Việt Nam được dự báo vẫn nằm ở mức thấp và tăng chậm theo thời

gian, từ 1.4% vào năm 2011 lên 2.1% vào năm 2015, nhưng kết quả nghiêm cứu cho thấy

chiều hướng ngược lại trong nhóm MSM nguy cơ cao, với tỷ lệ hiện nhiễm ước tính tăng

từ 11.2% lên 16.7% trong cùng giai đoạn Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm MSM nguy cơ cao

tại Tp HCM và Hải Phòng đặc biệt cao, dự báo có thể lên đến 38% (Tp HCM) và 30% (Hải

Phòng) vào năm 2015 Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định về tính sẵn có của số liệu

trong nhóm MSM, vẫn tồn tại khả năng các ước tính dự báo chưa thực sự phản ánh đúng

tình hình nhiễm HIV trong nhóm quần thể này, mà trên thực tế có thể nghiêm trọng hoặc

ít nghiêm trọng hơn so với dự báo Tuy nhiên, nhìn vào sự tương đồng trong việc gia tăng

tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM tại các quốc gia trong khu vực Châu Á, có thể thấy

các hoạt động giám sát và kiểm soát các hành vi nguy cơ trên nhóm quần thể này cần

phải được tiến hành song song với việc tăng cường các nỗ lực can thiệp dự phòng

Nhu cầu điều trị ARV và tác động đến tình hình dịch

Theo ước tính, việc mở rộng chương trình điều trị ARV có tác động tích cực trong việc

giảm số trường hợp tử vong do AIDS, với con số lũy tích lên đến 11.078 trường hợp trong

giai đoạn 10 năm từ 2001 đến 2010 Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng điều trị ARV sẽ kéo dài

thời gian sống của bệnh nhân HIV, do đó tỷ lệ hiện nhiễm HIV sẽ vẫn duy trì ở mức cao và

sẽ có nhiều người cần chăm sóc và điều trị ARV hơn Số người trưởng thành (15 tuổi trở

lên) cần điều trị ARV dự báo sẽ tăng dần từ khoảng 109.000 vào năm 2011 lên 137.000

vào năm 2015 Với sự gia tăng số người nhiễm HIV cần điều trị ARV và giả định rằng độ

bao phủ của chương trình điều trị ARV sẽ đạt mức 70% vào năm 2015, nhu cầu mở rộng

các chương trình chăm sóc điều trị là điều tất yếu, điều này đặt ra ra yêu cầu cho việc

chuẩn bị tốt cơ sở hạ tầng cũng như các nguồn lực khác để sẵn sàng đáp ứng với việc gia

tăng nhu cầu cung cấp thuốc và các trang bị cần thiết cho việc điều trị HIV và các nhiễm

trùng liên quan đến nhiễm HIV tại Việt Nam trong thời gian dài hạn

HẠN CHẾ VỀ MẶT SỐ LIỆU VÀ KẾ HOẠCH TƯƠNG LAI

Ước tính dự báo là một quy trình phức tạp và phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn số liệu

sẵn có Mặc dù nhóm kỹ thuật Ước tính và Dự báo Việt Nam đã nỗ lực xem xét và đối chiếu

kỹ lưỡng các nguồn số liệu sử dụng trước khi đưa vào mô hình, những hạn chế nhất định

Trang 14

cũng như sự không hoàn thiện của những nguồn số liệu này vẫn có khả năng ảnh hưởng đến tính tin cậy của các kết quả ước tính dự báo ở một mức độ nhất định.

Thêm vào đó, cần lưu ý đến sự khác biệt giữa số liệu về tỷ lệ hiện nhiễm trong Ước tính

và Dự báo năm 2010 - 2011 và tỷ lệ hiện nhiễm được báo cáo chính thức của tỉnh, đặc biệt là những tỉnh thành được đưa vào mô hình EPP/AEM như những khu vực riêng biệt như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Tp HCM, Cần Thơ, An Giang v.v… Có thể lý giải sự khác biệt này là do tỷ lệ hiện nhiễm HIV từ kết quả giám sát trọng điểm đều được

sử dụng như nguồn số liệu chủ chốt trong cả báo cáo của tỉnh cũng như trong mô hình ước tính và dự báo Trong khi số liệu giám sát trọng điểm được hiệu chỉnh bởi nhóm kỹ thuật Ước tính và Dự báo Việt Nam trước khi đưa vào mô hình EPP/AEM dựa trên việc xem xét kỹ lưỡng phương pháp triển khai giám sát trọng điểm nhằm giảm thiểu tối đa sai

số trong chọn mẫu Cụ thể, chiều hướng nhiễm HIV từ giám sát trọng điểm có thể được hiệu chỉnh thấp hoặc cao hơn dựa vào độ tin cậy của số liệu theo dõi trong cộng đồng và trong trung tâm, hoặc dựa vào tỷ lệ hiện nhiễm có được từ các nghiên cứu chuyên biệt, điển hình nhất là nghiên cứu giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (gọi tắt là nghiên cứu IBBS), những nghiên cứu này được coi là đã tận dụng một cách khoa học các phương pháp nghiên cứu chuẩn mực nhằm đảm bảo rằng mẫu nghiên cứu đại diện cho quần thể nghiên cứu

Mặc dù vẫn tồn tại một số hạn chế, kết quả Ước tính và Dự báo 2010 – 2011 đã nhận được

sự đồng thuận cao giữa các chuyên gia nghiên cứu, nhóm kỹ thuật các chương trình/dự

án, các nhà quản lý chương trình HIV/AIDS – Bộ Y Tế Việt Nam cũng như các đối tác song phương và đa phương Chúng ta hi vọng rằng với số liệu phong phú hơn trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 – 2011 so với các vòng trước, một số hiệu chỉnh số liệu giám sát trọng điểm hợp lý, Ước tính và dự báo vòng này đã tạo ra những chiều hướng dịch đáng tin cậy, sát với thực tế hơn

Về việc sử dụng mô hình để mô hình hóa các nguồn số liệu sẵn có, trong vòng Ước tính

và Dự báo 2010 – 2011, ngoài việc sử dụng phần mềm EPP truyền thống, việc sử dụng kết hợp mô hình dịch Châu Á (AEM) để có những phân tích sâu hơn về tình hình dịch HIV tại các khu vực khác nhau của Việt Nam chứ không riêng Tp.HCM và Hải Phòng sẽ mang lại nhiều lợi ích trong tương lai Với yêu cầu lượng số liệu đầu vào lớn hơn rất nhiều so với EPP (số liệu HIV, ước tính kích cỡ quần thể, số liệu hành vi và số liệu chương trình, mô hình AEM được xem là có khả năng tạo ra những đường cong dịch gần sát với thực tế và đáng tin cậy hơn mô hình EPP truyền thống Tuy nhiên, dù sử dụng bất cứ mô hình nào, AEM hay EPP, điều cần đặc biệt chú ý là các nỗ lực để nâng cao chất lượng số liệu đầu vào (như số liệu giám sát HIV/STI, ước tính kích cỡ quần thể của các nhóm nguy cơ cao, số liệu hành vi, và số liệu chương trình) vì đây là nền tảng cho việc xây dựng những ước tính và

dự báo tin cậy tại Việt Nam

Trang 15

Ước tính và Dự báo HIV đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp nguồn số liệu dịch tễ

học quan trọng về dịch HIV và khả năng phát triển của dịch trong tương lai, hỗ trợ cho

việc lập kế hoạch cũng như trong đánh giá hiệu quả chương trình Theo kết quả Ước

tính và Dự báo gần đây nhất được thực hiện vào năm 2007, số người nhiễm HIV có chiều

hướng gia tăng đáng kể, từ 91.053 trường hợp vào năm 2000 lên 267.664 vào năm 2011

Trong mười năm qua, Việt Nam đã triển khai và mở rộng mạnh mẽ các chương trình can

thiệp, chăm sóc và điều trị HIV Các cơ quan hỗ trợ quốc tế cũng đã có những đóng góp

đáng kể về tài chính và hỗ trợ kỹ thuật với mục đích làm giảm tỷ lệ nhiễm mới, kiểm soát

dịch HIV hiện đang tập trung chủ yếu trong các nhóm quần thể nguy cơ cao như người

nghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ mại dâm (PNMD) và khách hàng nam giới của họ, và

nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) Với các nguồn lực tiếp tục được đầu tư vào công

tác phòng chống AIDS, việc cập nhật số liệu Ước tính và Dự báo sẽ giúp hỗ trợ việc hoạch

định chính sách, lập kế hoạch và ước lượng tác động của các chương trình can thiệp tới

tỷ lệ nhiễm HIV tại Việt Nam

Chính vì vậy, vòng Ước tính và Dự báo thứ ba được thực hiện trong giai đoạn 2010 –

2011, tiếp nối hai vòng Ước tính và Dự báo năm 2003 và 2007, với cùng mục tiêu chung

là cung cấp những ước tính khoa học và tin cậy về số lượng các trường hợp nhiễm HIV

hiện tại, đồng thời dự báo chiều hướng nhiễm trong tương lai Quá trình Ước tính và Dự

báo không chỉ bao gồm việc phân tích những nguồn số liệu hiện có, sử dụng phần mềm

mô hình hoá dịch HIV mà còn là việc xây dựng sự đồng thuận trong việc nhận định tình

hình dịch từ những cơ quan và tổ chức có liên quan

Do những ước tính mang tính tin cậy về kích cỡ quần thể, đặc biệt là với các nhóm quần thể

nguy cơ cao còn hạn chế, ba mức ước tính (thấp, trung bình và cao) về tình hình dịch HIV

được xây dựng trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 – 2011 Số liệu thống kê nhóm NCMT

từ Bộ Công An và số liệu thống kê PNMD từ Bộ Lao Động - Thương Binh - Xã Hội được sử

dụng để tính toán mức ước tính thấp Các ước tính thấp này được nhân với các hệ số hiệu

chỉnh (được xác định thông qua các số liệu có được từ quá trình lập bản đồ các nhóm quần

thể nguy cơ cao của các dự án can thiệp HIV/AIDS trên địa bàn các tỉnh) để tạo ra các ước

tính cao Ước tính trung bình chính là trung bình cộng của hai mức ước tính cao và thấp Với

những nhóm quần thể ít được nghiên cứu hơn như nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM)

và khách hàng nam giới của PNMD, số liệu được công bố chính thức từ các nước lân cận có

chung hình thái dịch như Thái Lan được xem xét và hiệu chỉnh kỹ lưỡng để đưa vào sử dụng

Chương I

GIỚI THIỆU

Trang 16

Do chất lượng và số lượng các nguồn số liệu khác nhau theo chương trình cũng như khu vực, các giả định về tỷ lệ hiện nhiễm cũng được xây dựng riêng cho từng khu vực và từng quần thể nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc ước tính và dự báo mức độ và chiều hướng nhiễm HIV Vòng Ước tính và Dự báo 2010 – 2011 sử dụng các giả định thống nhất với các vòng Ước tính và Dự báo trước nhằm đảm bảo độ tin cậy trong kết quả ước tính về tỷ lệ hiện nhiễm và chiều hướng nhiễm HIV Hệ số hiệu chỉnh tỷ lệ hiện nhiễm từ kết quả giám sát giám trọng điểm được quyết định thông qua việc xem xét kỹ lưỡng các nguồn số liệu gốc cũng như việc phân tích và đối chiếu tất cả các nguồn số liệu sẵn có

Số liệu giám sát trọng điểm được xem xét về sự tương đồng trong phương pháp thực hiện qua các năm cũng như tính đại diện Nguồn số liệu này cũng được kiểm định thông qua kết quả từ các nghiên cứu chuyên biệt và số liệu chương trình Tuy nhiên, do các giả định được sử dụng trong những lần dự báo trước đây chưa chắc còn phù hợp ở vòng dự báo này và việc quyết định sử dụng hệ số hiệu chỉnh nào chính xác nhất để phản ánh sát thực tình hình dịch luôn là mối quan tâm mà bản thân các nhà nghiên cứu không thể giải quyết độc lập Tất cả các kết quả đầu vào cũng như đầu ra trong quá trình Ước tính và Dự báo đều có sự đồng thuận cao từ các nhà nghiên cứu, các cơ quan chính phủ, cũng như

từ các cơ quan, tổ chức quốc tế Nhóm kỹ thuật Ước tính và Dự báo HIV/AIDS tại Việt Nam được xây dựng với sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng như Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, các đối tác song phương và đa phương, nhằm xem xét và phân tích các bộ số liệu Các cơ quan chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế khác tại Việt Nam cũng đều được tham khảo ý kiến nhằm đảm bảo kết quả Ước tính và Dự báo HIV/AIDS phản ánh đúng tình hình thực tế

Báo cáo này trình bày các kết quả Ước tính và Dự báo chính tại Việt Nam trong giai đoạn

1990 – 2015, cùng với các nguồn số liệu và các giả định được sử dụng nhằm tạo ra các kết quả ước tính dự báo này Kết quả trong báo cáo này được trình bày trên cả các quần thể nguy cơ cao cũng như trên nhóm dân số chung tại Việt Nam, ở cả cấp độ quốc gia và cấp

độ khu vực Kết quả Ước tính và Dự báo chi tiết cho quốc gia nói chung cũng như cho các tỉnh, thành phố và khu vực riêng biệt được trình bày tại các bảng Phụ lục

Trang 17

2.1 CÁC KHU VỰC địA Lý VÀ QUầN THể BAO GồM TRONG ƯớC TÍNH

VÀ DỰ BÁO

Tương tự như các vòng Ước tính và Dự báo năm 2003 và 2007, ba mức ước tính (ước tính

thấp, trung bình và cao) được xây dựng trong vòng Ước tính và Dự báo 2010-2011 Việc

quyết định sử dụng ba mức ước tính là do tính thiếu chắc chắn về kích cỡ các nhóm quần

thể nguy cơ cao tại Việt Nam

Trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 – 2011, cả nước được chia thành 20 khu vực địa lý

khác nhau (so với 17 khu vực năm 2007 và 11 khu vực năm 2003) Mỗi khu vực bao gồm

các tỉnh, thành phố có hình thái dịch tễ học tương tự nhau và có tiếp giáp về địa lý Do số

liệu HIV/AIDS đầy đủ hơn so với năm 2007, vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011 đã nỗ

lực để đảm bảo tất cả các tỉnh, thành phố trong một khu vực có thời gian khởi phát dịch

và hình thái dịch tương tự nhau trong các quần thể giám sát Chính vì vậy vòng Ước tính

và Dự báo 2010 – 2011 có số lượng khu vực nhiều hơn so với các vòng Ước tính và Dự

1 Hà Nội 1 Hà nội (bao gồm tất cả các quận/huyện thuộc Hà nội trước khi Hà nội và Hà Tây sát nhập)

2 Hà Nội 2 Hà nội (bao gồm tất cả các huyện/thành phố thuộc Hà Tây cũ trước khi Hà nội và Hà Tây sát nhập)

4 Quảng Ninh Quảng ninh

7 Tây Bắc điện Biên, Lai Châu, Sơn La

8 Đông Bắc Bắc ninh, Hà giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc giang

9 Miền núi phía Bắc Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ

10 Thái Nguyên Thái nguyên

11 Đồng bằng Sông Hồng Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà nam, nam định, ninh Bình, Hòa Bình

12 Bắc Trung Bộ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị

13 Duyên hải miền Trung Thừa Thiên Huế, đà nẵng, Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, Phú Yên

Trang 18

STT KHU VỰC TỉNH/THÀNH

15 Tây Nguyên Kon Tum, gia Lai, đắk Lắk, đắk nông, Lâm đồng

16 Đông Nam ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Tây ninh, Bình Dương, đồng nai, Bà Rịa - Vũng Tàu

17 Khu vực đồng bằng Sông Mê Kông Long an, Tiền giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, đồng Tháp, Kiên giang, Hậu giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau

Người nghiện chích ma túy (NCMT): Mặc dù có một số bằng chứng cho thấy hành vi

tiêm chích đang giảm xuống, số liệu giám sát trọng điểm cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại nhiều tỉnh vẫn còn ở mức cao Tại hầu hết các khu vực, chỉ một đường cong dịch được sử dụng trong nhóm NCMT Tuy nhiên, tại Tp HCM,

sự xuất hiện của những người NCMT mới là bằng chứng cho thấy khả năng tồn tại của hai vụ dịch riêng biệt: vụ dịch đầu tiên xảy ra vào giữa những năm 1990 trong những người NCMT lớn tuổi, đã tiêm chích ma tuý trong một thời gian dài, và một

vụ dịch khác gần đây hơn diễn ra trong nhóm người trẻ tuổi, mới bắt đầu tiêm chích

ma túy trong một thời gian ngắn Vì vậy, đối với Tp HCM, hai đường cong dịch được xây dựng riêng biệt để phản ánh tình hình này

Phụ nữ mại dâm (PNMD): Quan hệ tình dục với nhiều bạn tình, tiêm chích ma túy

và mắc các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục khác là những yếu tố khiến nhóm phụ nữ này có nguy cơ nhiễm HIV cao Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD

ở mức trên 10% và không có dấu hiệu giảm nhiều tỉnh, thành phố tại Việt Nam

Khách hàng nam giới của PNMD: Ngoài việc đặt mình vào nguy cơ nhiễm HIV cao,

nhóm khách hàng nam giới của PNMD còn thúc đẩy sự lây lan HIV sang các quần thể nguy cơ thấp hơn trong cộng đồng như vợ và bạn tình của họ, những người không liên quan đến hành vi mại dâm hoặc tiêm chích ma túy

Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM): Các hành vi tình dục nguy cơ cao như quan

hệ tình dục qua đường hậu môn không được bảo vệ và sử dụng ma túy là những yếu tố khiến MSM có nguy cơ nhiễm HIV cao Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM nguy cơ cao ở mức trên 10% và có thể còn tiếp tục tăng ở các thành phố lớn như Hà Nội và Tp HCM

Quần thể nam giới (những người hiện tại không tiêm chích ma túy và không phải

là khách hàng của PNMD): Thông thường, một người nam giới không vĩnh viễn là

người NCMT hoặc khách hàng của PNMD Tuy nhiên, nếu họ bị nhiễm HIV trước khi

Trang 19

dừng tiêm chích hoặc dừng việc quan hệ tình dục với PNMD, họ vẫn đóng góp một

phần nhất định vào số lượng nhiễm HIV trong quần thể nam giới nói chung Như

vậy, trong vòng Ước tính và Dự báo này, nhóm quần thể nam giới bao gồm cả những

người đã từng là NCMT hoặc đã từng là khách hàng của PNMD, một số đã nhiễm HIV

dương tính và đóng góp vào tỷ lệ hiện nhiễm HIV

Quần thể phụ nữ: Quần thể này bao gồm các phụ nữ hiện tại không có hành vi tiêm

chích ma túy cũng như các hành vi tình dục nguy cơ cao Nhóm quần thể này bao

gồm cả những phụ nữ đã từng là PNMD và/hoặc bạn tình của nhóm nam giới nguy

cơ cao, một số phụ nữ trong nhóm này đã nhiễm HIV và đóng góp vào tỷ lệ nhiễm

HIV ở phụ nữ mang thai

2.2 NGUồN SỐ LIỆU VÀ CÁC GIẢ địNH CHÍNH TRONG VÒNG ƯớC

TÍNH VÀ DỰ BÁO 2010 - 2011

2.2.1 Số liệu về tỷ lệ hiện nhiễm HIV

Số liệu theo thời gian từ Giám sát trọng điểm HIV đến năm 2009 và kết quả từ hai vòng

Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học (IBBS) 2006, 2009 là những nguồn dữ

liệu chính để thiết lập chiều hướng dịch HIV trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011

Nghiên cứu IBBS có thể đưa ra số liệu sát với thực tế hơn so với giám sát trọng điểm do

IBBS sử dụng kỹ thuật lấy mẫu xác suất ngẫu nhiên - so sánh với việc lấy mẫu không ngẫu

nhiên và có nhiều khả năng sai số của giám sát trọng điểm Do vậy, tại các tỉnh thành

triển khai nghiên cứu IBBS trong năm 2006 và 2009, số liệu IBBS được sử dụng để đối

chiếu với số liệu giám sát trọng điểm (có thể bằng cách hiệu chỉnh hoặc thay thế trực

tiếp số liệu giám sát trọng điểm bằng số liệu IBBS trong hai năm đó) nhằm có được các số

liệu sát thực nhất về tỷ lệ hiện nhiễm Đối với các tỉnh thành không triển khai nghiên cứu

IBBS, dữ liệu giám sát trọng điểm được sử dụng chủ yếu Các dữ liệu giám sát trọng điểm

tại 40 tỉnh được đối chiếu và kiểm tra kỹ lưỡng thông qua việc thảo luận với các nhân viên

giám sát Các khoảng trống số liệu, các giá trị ngoại lai cũng như các chiều hướng dịch tễ

học bất thường quan sát được từ kết quả giám sát trọng điểm được xác định và được sử

dụng làm tiêu chuẩn loại trừ trong quá trình xem xét và làm sạch dữ liệu Dựa trên thông

tin được cung cấp bởi nhân viên giám sát địa phương, các tiêu chuẩn sau đây đã được áp

dụng trong việc làm sạch dữ liệu:

Số liệu với cỡ mẫu nhỏ hơn 30 được loại bỏ khỏi bộ số liệu

Các mẫu loại trừ những người đã biết tình trạng nhiễm HIV dương tính cũng bị loại bỏ

Số liệu giám sát trọng điểm chiết xuất từ nguồn hồ sơ tư vấn và xét nghiệm HIV

(HTC) cũng không được sử dụng Ở một số tỉnh, thành phố, việc sử dụng số liệu HTC

có thể dẫn đến ước tính thấp tỷ lệ hiện nhiễm trong các quần thể nguy cơ cao do

những người đã biết tình trạng nhiễm HIV dương tính của mình thường không tiếp

Trang 20

tục đến trung tâm HTC nữa Mặt khác, việc sử dụng số liệu HTC cũng có thể đưa đến ước tính cao ở các tỉnh, thành phố khác nơi mà chương trình điều trị ARV đã được

mở rộng và các trung tâm HTC được sử dụng như là các điểm sàng lọc cho những người có hành vi nguy cơ tích cực tìm kiếm dịch vụ can thiệp dự phòng

Những mẫu giám sát thu thập trong trại giam hoặc trại tạm giam cũng được loại bỏ

do những mẫu này có thể bao gồm những người từ tỉnh, thành phố khác và khó xác định được họ từ đâu tới

Sự thiếu đồng nhất trong phương pháp chọn mẫu qua các năm cũng cũng được coi

là yếu tố ảnh hưởng đến tính sát thực của số liệu về chiều hướng nhiễm HIV Nếu những thay đổi trong phương pháp chọn mẫu có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả giám sát ở bất kỳ năm nào, số liệu giám sát trọng điểm của năm đó cũng sẽ

bị loại bỏ Việc quyết định loại bỏ kết quả nào được thảo luận và thống nhất với các cán bộ giám sát tuyến tỉnh và nhóm kỹ thuật

Nhằm bổ sung cho số liệu giám sát trọng điểm, một số nguồn số liệu khác như báo cáo trường hợp nhiễm HIV, số liệu HTC, các nghiên cứu cắt ngang và nghiên cứu chuyên biệt cũng được tham khảo nhằm kiểm định số liệu giám sát trọng điểm/IBBS

Các nguồn số liệu khác như báo cáo trường hợp nhiễm HIV, số liệu HTC và các nghiên cứu cắt ngang khác cũng được sử dụng để so sánh và đối chiếu nhằm kiểm định các số liệu giám sát trọng điểm / IBBS

Các giả định sau đây được áp dụng để ước tính tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm quần thể ở vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011

Người nghiện chích ma túy (NCMT): Khác với các vòng Ước tính và Dự báo trước đây

chỉ sử dụng số liệu Giám sát trọng điểm và một số ít các nghiên cứu khác để thiết lập chiều hướng hiện nhiễm HIV, vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011 được tiến hành khi số liệu sẵn có hơn rất nhiều, đặc biệt là số liệu từ hai vòng nghiên cứu IBBS Với việc sử dụng kết hợp hai nguồn số liệu chủ đạo này, trong rất nhiều trường hợp có

sự tương đồng với nhau, chiều hướng dịch thu được có thể coi là đáng tin cậy và sát thực hơn Do đó, nhóm kỹ thuật quyết định sử dụng số liệu giám sát trọng điểm HIV

và IBBS để trực tiếp thiết lập chiều hướng dịch trong nhóm NCMT mà không cần hiệu chỉnh

Phụ nữ mại dâm (PNMD): Tương tự như với nhóm NCMT, nhóm kỹ thuật quyết định

sử dụng số liệu giám sát trọng điểm HIV và IBBS để trực tiếp thiết lập chiều hướng dịch trong nhóm PNMD mà không cần hiệu chỉnh

Khách hàng của PNMD: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các bệnh nhân nam mắc các

nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STI) từ giám sát trọng điểm được điều chỉnh giảm để ước tính tỷ lệ hiện hiện nhiễm HIV trong quần thể khách hàng nam giới của PNMD nói chung Giá trị mặc định cho hệ số hiệu chỉnh là 0,8 dựa trên việc

Trang 21

xem xét các mô hình của Tp HCM và Thái Lan khi so sánh tỷ lệ hiện nhiễm ở những

bệnh nhân nam mắc STI với tỷ lệ ước tính trong nhóm khách hàng nam giới Tuy

nhiên, trong thực tế, để phản ánh tình hình dịch khác nhau giữa các khu vực, các hệ

số hiệu chỉnh khác nhau (dao động trong khoảng 0,3 - 0,8) được sử dụng

Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM): Do hệ thống giám sát trọng điểm hiện

nay không bao gồm nhóm MSM và số liệu về nhóm quần thể này vẫn còn hạn chế,

bốn nghiên cứu chuyên biệt, bao gồm hai vòng nghiên cứu IBBS tại Tp HCM, được

sử dụng để thiết lập chiều hướng dịch trong quần thể này Cần lưu ý rằng nguy cơ

nhiễm HIV giữa các MSM là khác nhau, phụ thuộc chủ yếu vào hành vi nguy cơ của

họ Để phản ánh sự khác biệt về hành vi nguy cơ trong nhóm này, quần thể MSM

được chia thành hai phân nhóm: MSM ‘nguy cơ thấp’ và nhóm MSM ‘nguy cơ cao’ Tỷ

lệ đóng góp của mỗi phân nhóm trong quần thể nhóm MSM chung được xác định

bởi nhóm kỹ thuật dựa trên sự hiểu biết hiện tại về cộng đồng MSM tại mỗi khu vực

Từ đó, hai chiều hướng dịch riêng biệt cho hai phân nhóm MSM này được thiết lập

Do có sự tương đồng nhất định giữa Hà Nội và Tp HCM về mật độ phân bố của quần thể

cũng như hành vi nguy cơ của nhóm MSM, chiều hướng dịch HIV trong nhóm MSM nguy

cơ cao tại hai thành phố này được thiết lập bằng cách sử dụng bốn điểm số liệu của Tp

HCM như đã đề cập ở trên mà không có sự hiệu chỉnh Đối với các khu vực và các tỉnh

thành khác, điều chỉnh giảm được thực hiện sử dụng các hệ số điều chỉnh khác nhau (dao

động trong khoảng từ 0,1 - 0,4) để phản ánh nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm MSM nguy

cơ cao tại các tỉnh thành khác chỉ bằng 10% đến 40% so với các thành phố lớn như Hà Nội

hoặc Tp HCM Chiều hướng hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM nguy cơ cao được tiếp tục

hiệu chỉnh xuống để thể hiện chiều hướng dịch trong nhóm MSM nguy cơ thấp Các hệ

số hiệu chỉnh được sử dụng là 0,20 (nghĩa là là nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm MSM nguy

cơ thấp chỉ bằng 1/5 so với nhóm MSM nguy cơ cao) tại Hà Nội và dao động từ 0,03 đến

0,14 (nghĩa là nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm MSM nguy cơ thấp bằng 1/3 so với nhóm

MSM nguy cơ cao) tại các tỉnh khác

Quần thể phụ nữ: Số liệu giám sát trọng điểm trong nhóm phụ nữ mang thai được

sử dụng để ước tính tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm quần thể phụ nữ nói chung

Dựa trên khác biệt trong tỷ lệ hiện nhiễm HIV giữa phụ nữ mang thai thành thị và

nông thôn và dựa trên cấu trúc tuổi của nhóm phụ nữ khám thai (ANC) và của dân số

chung, tỷ lệ hiện nhiễm HIV của phụ nữ mang thai được hiệu chỉnh giảm để ước tính

tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong quần thể phụ nữ nói chung Tuy nhiên, hệ số hiệu chỉnh

thay đổi theo từng khu vực và tỉnh thành, dao động từ 0,25 đến 0,51 tùy thuộc vào

tình hình dịch HIV tại các khu vực và tỉnh thành này

Quần thể nam giới: Đối với quần thể nam giới nói chung, có thể áp dụng tỷ lệ hiện

nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự cho quần thể nam

giới 15 tuổi trở lên Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến sai số trùng lặp do một số

thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự có thể đồng thời là khách hàng của PNMD

Trang 22

hoặc người NCMT Do đó, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự không được áp dụng trực tiếp Thay vào đó, tỷ lệ dịch chuyển (turn-over rate) hoặc khoảng thời gian trung bình mỗi cá thể thực hành hành vi nguy cơ cao được xác định cho nhóm NCMT hoặc khách hàng nam giới của PNMD, những người sau khi rời khỏi các nhóm quần thể nguy cơ cao sẽ đóng góp vào tỷ lệ hiện nhiễm trong quần thể nam giới nói chung Tỷ lệ dịch chuyển này sẽ được sử dụng để tính toán số nhiễm HIV ở những người đã từng là người NCMT hoặc khách hàng của PNMD trong nhóm quần thể nam giới nói chung.

2.2.2 Ước tính kích cỡ quần thể

Do tính thiếu chắc chắn xung quanh số liệu về kích cỡ quần thể nguy cơ cao tại Việt Nam,

ba mức ước tính kích cỡ quần thể (thấp, trung bình và cao) được sử dụng Các giả định chính được sử dụng trong ước tính kích cỡ quần thể trong vòng Ước tính và Dự báo 2010-

2011 được tóm tắt trong Bảng 2

Trong ước tính thấp, các giả định dưới đây được sử dụng để tính toán kích cỡ các nhóm quần thể chính:

Nghiện chích ma túy (NCMT): Số liệu chính thức về kích cỡ nhóm quần thể NCMT

theo báo cáo của Bộ Công An được sử dụng trong ước tính thấp Ước tính khoảng 85% người sử dụng ma túy theo báo cáo của Bộ Công An có hành vi tiêm chích ma túy Số lượng người nghiện chích ma túy là nữ chiếm khoảng 5% tổng số người nghiện chích ma túy

Phụ nữ mại dâm (PNMD): Số liệu chính thức về kích cỡ nhóm quần thể PNMD theo

báo cáo của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội (BLĐTBXH) được sử dụng trong ước tính thấp

Khách hàng của PNMD: Hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam có độ tin cậy cao

về tỷ lệ nam giới có QHTD với PNMD Tương tự như ở vòng Ước tính và Dự báo 2007, giả định 5% nam giới trong độ tuổi 15 - 49 hiện đang là khách hàng của PNMD được

sử dụng trong ước tính thấp

Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM): Hiện chưa có thông tin và số liệu ước tính

trực tiếp về kích thước quần thể MSM tại Việt Nam Các nghiên cứu ở châu Á cho thấy

có khoảng 1% đến 3% nam giới độ tuổi 15 năm trở lên có quan hệ tình dục đồng giới trong năm qua Với cùng đặc điểm là những trung tâm kinh tế, xã hội và văn hóa chủ yếu ở Việt Nam, Hà Nội và Tp HCM được cho là tập trung số lượng người MSM cao hơn nhiều so với các tỉnh thành khác Trong ước tính thấp, giả định 1% nam giới tuổi

15 năm trở lên tại Hà Nội và Tp HCM là người MSM Ở các tỉnh thành khác, con số này

là 0,5% Do sự khác biệt về mức độ thực hành hành vi nguy cơ, quần thể MSM nói chung được tách thành hai phân nhóm MSM riêng biệt: MSM nguy cơ cao và MSM nguy cơ thấp Tại Hà Nội và Tp HCM, ước tính có 30% MSM thuộc nhóm nguy cơ cao

Trang 23

và 70% thuộc nhóm nguy cơ thấp Con số này là 20% & 80% ở Hải Phòng, An Giang,

Cần Thơ và 10% & 90% ở các tỉnh thành còn lại

Phụ nữ nói chung: Số lượng phụ nữ nguy cơ thấp được tính toán bằng cách sử dụng

tổng số phụ nữ tuổi từ 15, trừ đi số ước tính thấp kích cỡ của nhóm PNMD hiện tại

Nam giới nói chung (bao gồm những người đã từng tiêm chích ma túy hoặc có

QHTD với PNMD): Kích cỡ nhóm quần thể nam giới nói chung được tính toán bằng

cách sử dụng tổng số nam giới tuổi từ 15 trừ đi số ước tính thấp người NCMT, khách

hàng của PNMD và toàn bộ quần thể MSM chung (cả nguy cơ cao và nguy cơ thấp)

Trong ước tính cao, các giả định dưới đây được sử dụng để tính toán kích cỡ các nhóm

quần thể chính:

Nghiện chích ma túy (NCMT): Kích cỡ quần thể cho ước tính cao được tính bằng cách

nhân số liệu thống kê từ Bộ Công An với một hệ số Hệ số nhân này được xác định bằng

cách xem xét số liệu từ hoạt động lập bản đồ trong các dự án do Ngân hàng thế giới –

WB và Tổ chức phát triển Quốc tế Vương quốc Anh – DFID hỗ trợ Số liệu người NCMT

từ các nguồn này được so sánh, đối chiếu với số liệu từ Bộ Công An để xác định giá trị

của hệ số nhân Giá trị này cũng được xem xét cẩn thận và nhận được sự đồng thuận

trong nhóm kỹ thuật cũng như từ trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương

Phụ nữ mại dâm (PNMD): Số liệu từ BLĐTBXH được nhân ba để xác định kích cỡ

quần thể PNMD trong ước tính cao, phản ánh thực tế là số liệu quản lý bởi BLĐTBXH

thường thấp hơn nhiều lần so với số thực tế

Khách hàng của PNMD: Ước tính cao sử dụng giả định 10% nam giới trong độ tuổi

15-49 hiện có QHTD với PNMD

Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM): Ước tính cao giả định 3% nam giới tuổi từ

15 ở Hà Nội và Tp HCM và 1,5% ở các tỉnh khác là người MSM Do sự khác biệt về

mức độ thực hành hành vi nguy cơ, quần thể MSM nói chung được tách thành hai

phân nhóm MSM riêng biệt: MSM nguy cơ cao và MSM nguy cơ thấp Tại Hà Nội và

Tp HCM, ước tính có 30% MSM thuộc nhóm nguy cơ cao và 70% thuộc nhóm nguy

cơ thấp Con số này là 20% & 80% ở Hải Phòng, An Giang, Cần Thơ và 10% & 90% ở

các tỉnh thành còn lại

Phụ nữ nói chung: Tương tự với ước tính thấp, số lượng phụ nữ nguy cơ thấp được

tính toán bằng cách sử dụng tổng số phụ nữ tuổi từ 15, trừ đi số ước tính cao kích cỡ

của nhóm PNMD hiện tại

Nam giới nói chung (bao gồm những người đã từng tiêm chích ma túy hoặc có

QHTD với PNMD): Tương tự với ước tính thấp, kích cỡ quần thể nam giới nói chung

được tính toán bằng cách sử dụng tổng số nam giới từ tuổi từ 15, trừ đi số ước tính

cao người NCMT, khách hàng của PNMD và toàn bộ quần thể MSM chung (cả nguy

cơ cao và nguy cơ thấp)

Ước tính trung bình tình tính toán bằng trung bình cộng của ước tính thấp và ước tính cao.

Trang 24

Bảng 2: Các giả định chính sử dụng trong ước tính kích cỡ quần thể 1

QUầN THể ƯỚC TÍNH THẤP ƯỚC TÍNH CAO

Khách hàng của PNMD 5% nam giới trong độ tuổi 15 - 49 10% nam giới trong độ tuổi 15 - 49

MSM

Hà nội 1 và Tp HCM: 1% nam giới tuổi từ 15

Các tỉnh/thành khác: 0,5% nam giới tuổi từ 15

30% MSM nguy cơ cao và 70% MSM nguy cơ thấp ở

cao) – MSM (ước tính cao) – Khách hàng PnMD (ước tính cao)

Phụ nữ nói chung Phụ nữ tuổi từ 15– 5% nCMT– PnMD (ước tính thấp) 2 (ước tính thấp) Phụ nữ tuổi từ 15– 5% nCMT– PnMD (ước tính cao) 2 (ước tính cao)

1 Các giả định này được nhóm kỹ thuật sử dụng dựa trên việc xem xét kỹ lưỡng và đối chiếu tất cả các nguốn số liệu hiện có về các quần thể khác nhau cũng như thông qua thảo luận với trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương

2 Giả định rằng phụ nữ nghiện chich ma túy chiếm 5% tổng số người NCMT

2.2.3 Số liệu về chương trình điều trị kháng virut (ARV)

và Phòng lây truyền mẹ con (PLTMC)

Đầu vào cho Ước tính và Dự báo vòng 2010-2011 yêu cầu số liệu về số lượng người điều trị ARV phân bố vào bốn nhóm (nam giới và phụ nữ được điều trị bậc 1 và bậc 2) theo từng năm đến năm 2015 Các dữ liệu và giả định sau đây đã được sử dụng

Số liệu từ các chương trình chăm sóc và điều trị của Cục Phòng, chống HIV/AIDS được sử dụng để xác định tổng số người được điều trị ARV từ 2005-2010

Để phát triển giả định về số lượng người nhận ART năm 2010-2015 trong bốn nhóm, chúng tôi sử dụng các ước tính về nhu cầu ART của người lớn đến năm 2012 trong mỗi khu vực từ vòng Ước tính và Dự báo trước sau đó sử dụng phép tính toán ngoại suy tuyến tính đến năm 2015 Sau đó chúng tôi tính toán tỷ lệ phần trăm nhu cầu ART trong mỗi cụm so với tổng nhu cầu ART trong cả nước vào năm 2015 (A) Mặt khác, dựa trên số liệu thực tế của chương trình ART đến cuối năm 2009, chúng tôi tính toán tỷ lệ phần trăm bệnh nhân ART trong mỗi khu vực so với tổng số bệnh nhân ART trong cả nước trong năm 2009 (B) Chúng tôi giả định rằng sự phân bố tỷ lệ phần trăm của bệnh nhân ART trong mỗi khu vực trong năm 2015 sẽ tương đương với mức

Trang 25

trung bình (A) và (B) Chúng tôi cũng giả định rằng tổng số người lớn nhận được ART

trong cả nước sẽ tương đương với 70% tổng số người lớn cần ART vào năm 2015

Để ước tính tỷ lệ phần trăm các bệnh nhân ART là phụ nữ trong mỗi khu vực, chúng

tôi sử dụng các ước tính về tỷ lệ phụ nữ trong tổng số nhu cầu ART của người lớn từ

vòng Ước tính và Dự báo trước, ngoại suy tuyến tính đến năm 2015, có điều chỉnh

để phản ánh tỷ lệ thực tế nam/nữ điều trị ART được báo cáo theo Quyết định số 28

Nhu cầu điều trị ART bậc 2 được tính toán dựa trên ước tính số người-năm điều

trị ART nhân với tỷ lệ thất bại điều trị kháng virus từ phân tích meta (2,55 cho mỗi

người-năm điều trị ART) Độ bao phủ của điều trị bậc 2 trong năm 2009 là 46%

Chúng tôi giả định rằng độ bao phủ này sẽ tăng tuyến tính đến năm 2015 là 65% Tỷ

lệ nam/nữ điều trị ARV bậc 1 và 2 được giả định là tương tự nhau cho mỗi khu vực

Căn cứ theo Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn

2030, chúng tôi giả định rằng độ bao phủ của chương trình điều trị ARV sẽ đạt 70% ở

người lớn và 90% ở trẻ em vào năm 2015

Số liệu chương trình PLTMC quốc gia được so sánh và đối chiếu giữa số liệu báo cáo thường

kỳ (Quyết định D28) của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, báo cáo năm chương trình PEPFAR

và từ số liệu các dự án (Life-Gap, Quỹ toàn cầu) Đặc biệt để phân chia PLTMC theo các

phác đồ, số liệu từ Hệ thống quản lý của SCMS (Supply Chain Management System) được

sử dụng để ước tính phác đồ ART sử dụng cho PLTMC tại các địa điểm do PEPFAR hỗ trợ

2.3 QUÁ TRìNH Mô HìNH HóA

Quá trình mô hình hóa việc Ước tính và Dự báo vòng 2010 - 2011 được chia thành hai giai

đoạn Giai đoạn đầu tiên là xây dựng đường cong dịch phù hợp cho tất cả các khu vực

trên cả nước dựa trên số liệu quan sát đầu vào Hai mô hình Ước tính và Dự báo được sử

dụng cho quá trình này là:

Mô hình Ước tính và Dự báo của UNAIDS phiên bản 2007 (EPP, phiên bản 3.0 R9): EPP

là mô hình xây dựng đường cong dịch thường được sử dụng khi số liệu sẵn có ở mức

độ vừa phải EPP được áp dụng cho quốc gia sẵn có số liệu theo thời gian Sau khi

chiều hướng hiện nhiễm HIV và ước tính kích cỡ các quần thể chính hoàn thành, các

số liệu này được nhập vào phần mềm EPP với ba kịch bản Ước tính và Dự báo (thấp,

trung bình và cao) Đối với vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011, EPP được sử dụng

cho tất cả các khu vực trừ Tp HCM và Hải Phòng Tại hai địa phương này, kết quả ước

tính và dự báo sử dụng Mô hình dịch châu Á (AEM) được áp dụng thay thế

Mô hình dịch châu Á (AEM) phiên bản 3.0 (được phát triển bởi Trung tâm Đông-Tây):

AEM là một mô hình mô phỏng hình thái dịch HIV tại châu Á, được sử dụng để dự

báo chiều hướng dịch tễ học trong tương lai Dựa vào các số liệu dịch tễ học và hành

vi đầu vào, AEM xây dựng chiều hướng dịch cũng như những dự báo phù hợp với

Trang 26

đặc điểm dịch tễ học và hành vi đã quan sát Do yêu cầu một số lượng đáng kể các

số liệu đầu vào (bao gồm ước tính kích cỡ quần thể, số liệu HIV, số liệu về chương trình và số liệu hành vi), mô hình AEM chỉ áp dụng ở các địa phương có số liệu tương đối đầy đủ Tp HCM và Hải Phòng là hai tỉnh thành đầu tiên ở Việt Nam áp dụng mô hình này tại thời điểm vòng Ước tính và Dự báo 2010-2011 được tiến hành Do đó,

mô hình EPP không được sử dụng Tp HCM và Hải Phòng mà thay vào đó là việc sử dụng kết quả thu được từ mô hình AEM Cần lưu ý rằng mô hình AEM chỉ tạo ra một ước tính duy nhất về kích cỡ quần thể và dịch HIV

Kết quả dự báo riêng biệt từ EPP cho 18 khu vực được kết hợp với kết quả AEM cho Tp HCM và Hải Phòng để tính toán chiều hướng tỷ lệ hiện nhiễm HIV quốc gia trong nhóm dân số trưởng thành tại Việt Nam

Trong giai đoạn thứ hai, đường cong dịch HIV quốc gia cũng như các đường cong dịch của 20 khu vực trên cả nước trong nhóm dân số trưởng thành, kết hợp với các dữ liệu khác (ví dụ số người lớn và trẻ em điều trị ARV, PLTMC), được nhập phần mềm SPECTRUM phiên bản 3.5 SPECTRUM là một mô hình đánh giá tác động được xây dựng bởi UNAIDS

để dự báo các tác động dịch tễ học và tác động xã hội của dịch HIV (ví dụ tỷ lệ hiện nhiễm HIV, số người nhiễm HIV, nhu cầu điều trị ARV và PLTMC, tử vong liên quan đến AIDS) từ

số liệu đầu vào là tỷ lệ hiện nhiễm HIV và độ bao phủ của chương trình điều trị

Các giả định về một số đặc điểm khác của dịch HIV cũng được nhập cho các biến như thời gian sống từ thời điểm nhiễm HIV đến khi tử vong do AIDS, phân bố tuổi và giới trong nhóm người nhiễm và tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con Cần lưu ý rằng khi số liệu về tỷ lệ hiện nhiễm được chuyển từ EPP/AEM sang SPECTRUM, các số liệu đó đã được điều chỉnh

từ năm 2011 trở đi để các kết quả đầu ra về số tỷ lệ hiện nhiễm từ Spectrum phù hợp với kết quả đầu ra từ EPP Đối với tỷ số nam/nữ nhiễm HIV, được sử dụng như một chỉ số đầu vào cho SPECTRUM, giá trị thu được từ ước tính trung bình của mô hình EPP, sau khi được xem xét và đối chiếu kỹ lưỡng với tỷ suất nam/nữ nhiễm HIV thu được kết quả giám sát phát hiện, được áp dụng cho tất cả các mức ước tính Thống kê dân số từ Tổng cục Thống

kê Việt Nam được sử dụng để hiệu chỉnh quy mô dân số trong SPECTRUM Trong trường hợp số liệu không có sẵn, các giá trị mặc định được sử dụng

Kết quả Ước tính và Dự báo cho quốc gia và khu vực được áp dụng cho cả các nhóm quần thể nguy cơ cao cũng như toàn bộ quần thể dân số chung trong giai đoạn 1990 - 2015 Đối với Việt Nam, tỷ lệ hiện nhiễm ước tính trong nhóm dân số trưởng thành thu được từ

mô hình EPP/AEM được coi là số liệu đầu vào chủ chốt để ước tính tỷ lệ nhiễm mới cũng như để dự báo tác động của dịch HIV trong tương lai Do tỷ lệ nhiễm mới HIV có thể thay đổi nhanh chóng theo thời gian phụ thuộc vào thay đổi về độ bao phủ của các chương trình can thiệp, các kết quả liên quan đến tỷ lệ nhiễm mới chỉ được tính toán đến hết năm 2010

Trang 27

Chương III

KếT QUẢ

Vào năm 2011, số người sống nhiễm HIV tại Việt Nam sẽ là 248.500 và con số này sẽ

đạt đến 263.500 vào năm 2015 Biểu đồ 1 chỉ ra chiều hướng tăng lên của các trường

hợp nhiễm HIV ở Việt Nam, trong cả 3 ước tính: thấp, trung bình và cao Số người nhiễm

HIV ở Việt Nam trong năm 2011 được ước tính là 248.485 người (ước tính cao là 291.823,

ước tính thấp là 200.585) Đến năm 2015, số người nhiễm HIV sẽ tăng khoảng 15.000

trường hợp đưa tổng số người nhiễm HIV vào năm 2015 sẽ vào khoảng 263.317 người

(ước tính cao là 303.833 người, ước tính thấp là 221.296 người) Việc số người hiện nhiễm

HIV tăng lên phản ánh tác động của chương trình điều trị trong việc kéo dài thời gian

sống của người nhiễm HIV Việc giảm số lượng tử vong liên quan đến AIDS cùng với các

trường hợp nhiễm HIV mới tiếp tục xuất hiện sẽ làm tăng số người nhiễm HIV và đòi hỏi

việc duy trì, củng cố và tiếp tục mở rộng các chương trình chăm sóc, điều trị và dự phòng

HIV/AIDS trong các nhóm quần thể nguy cơ và bạn tình của họ

Ước tính cao Ước tính thấp Ước tính trung bình

Biểu đồ 1: Số người nhiễm HIV tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015: Ước tính thấp, trung bình và cao

Tỷ số nam/nữ nhiễm HIV được ước tính là ổn định trong năm 2011-2015 Mặc dù số

lượng nam và nữ nhiễm HIV đều tăng lên, số lượng nam giới nhiễm HIV cao hơn khoảng

ba lần so với số phụ nữ nhiễm HIV (186.818 nam giới so với 61.667 phụ nữ nhiễm HIV

trong năm 2011 và 196.580 nam giới so với 66.737 phụ nữ nhiễm HIV trong năm 2015

theo ước tính trung bình) Biểu đồ 2.

Trang 28

250,000 200,000 150,000 100,000 50,000 0

Nam

0 2 4 6 8 10

Ước tính số trường hợp nhiễm mới HIV trong nhóm dân số trưởng thành tại Việt Nam

đã giảm so với mức đỉnh điểm là 28.000 trường hợp vào năm 2002 Biểu đồ 3 cho

thấy số trường hợp nhiễm mới được ước tính vào khoảng 19.260 vào năm 2010 (ước tính trung bình) Chiều hướng giảm số trường hợp nhiễm mới ở Việt Nam có thể được

lý giải một phần là do các nỗ lực của Chính phủ, các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước trong việc mở rộng nhanh các chương trình can thiệp giảm tác hại Tỷ lệ nhiễm mới HIV trong tương lai sẽ ảnh hưởng trực tiếp bởi việc duy trì và củng cố các chương trình can thiệp dự phòng lây truyền HIV, đặc biệt khi dịch HIV tại Việt Nam vẫn trong giai đoạn tập trung Các chương trình can thiệp cần tập trung vào các hành vi nguy cơ thúc đẩy sự lan truyền của dịch Chương trình can thiệp giảm tác hại nhằm mục tiêu ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm HIV do hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm trong nhóm người NCMT, hiện đang là quần thể có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất Tuy nhiên, kết quả này cũng cần phải được phiên giải một cách thận trọng Tỷ lệ nhiễm mới giảm xuống

có khả năng là do thời gian qua chương trình HIV Việt Nam đã thực hiện mạnh mẽ các biên pháp can thiệp dự phòng, chăm sóc và điều trị cho nhiều nhóm đối tượng ở tất

cả các tuyến trên toàn quốc, đồng thời một giả định nữa là dịch trong nhóm PNMD và người NCMT đã đạt đỉnh ở hầu hết địa phương tại Việt Nam, do vậy theo thời gian tỷ lệ nhiễm mới cũng sẽ giảm xuống Vì vậy cần có thêm các bằng chứng khách quan thông qua việc phân tích số liệu hành vi và số liệu chương trình và bằng chứng từ các nghiên cứu để củng cố những nhận định này

Trang 29

Ước tính cao Ước tính thấp Ước tính trung bình

Biểu đồ 3: Số trường hợp nhiễm mới HIV ở người trưởng thành (từ 15 trở lên) giai đoạn 1990 - 2010:

Ước tính thấp, trung bình và cao

Sử dụng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma túy là nguyên nhân chính của các trường

hợp nhiễm mới HIV tại Việt Nam Vào năm 1999, ước tính 71% các trường hợp nhiễm mới

HIV là do tiêm chích ma túy Tỷ lệ này đã giảm dần xuống còn 32% vào năm 2010 Mặt

khác, có sự gia tăng tương đối của các đường lây truyền HIV khác theo thời gian Trong

năm 2010, ước tính 31% tổng số trường hợp nhiễm mới xảy ra trong nhóm khách hàng

nam giới của PNMD và con số này là 24% đối với nhóm phụ nữ nguy cơ thấp (bao gồm cả

vợ và bạn tình của các nhóm nam giới nguy cơ cao) (Biểu đồ 4)

Biểu đồ 4: Các đường lây truyền HIV tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2010: Ước tính trung bình

Trang 30

Ba nguồn nhiễm mới HIV phổ biến nhất (được sắp xếp theo thứ tự từ cao đến thấp) tại

mỗi khu vực của Việt Nam trong năm 2010 được minh họa trong Bảng 3 Tại đa số các

khu vực, người NCMT, PNMD, khách hàng nam giới của PNMD và phụ nữ nguy cơ thấp là những quần thể đóng góp nhiều nhất vào tổng số các trường hợp nhiễm mới Tuy nhiên,

sự đóng góp của mỗi quần thể này vào tổng số trường hợp nhiễm mới là không đồng đều trong mỗi khu vực và biến thiên giữa các khu vực khác nhau Ví dụ, trong khi nhóm NCMT đóng góp 20% vào tổng số các trường hợp nhiễm mới tại Tp HCM, tỷ lệ này lại cao hơn nhiều tại Hải Phòng (34%) và khu vực Tây Bắc (73%) Nguồn lây nhiễm HIV chính được xác định là người NCMT tại sáu khu vực (Hà Nội 1, Hà Nội 2, Quảng Ninh, Nghệ An, Tây Bắc và Thái Nguyên), là khách hàng nam giới của PNMD tại sáu khu vực (Miền núi phía Bắc, Châu thổ sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam, Châu thổ sông Mê Kông và An Giang) và là phụ nữ nguy cơ thấp tại tám khu vực còn lại Việc phụ nữ nguy

cơ thấp, bao gồm vợ và bạn tình của nhóm nam giới nguy cơ cao như người NCMT, khách hàng nam giới của PNMD trở thành một trong những nguồn lây nhiễm HIV chính là dấu hiệu cảnh báo dịch HIV có khả năng đã lây lan từ các nhóm quần thể nguy cơ cao sang các nhóm quần thể nguy cơ thấp hơn trong cộng đồng

Bảng 3: Các nguồn nhiễm mới HIV phổ biến tại Việt Nam theo khu vực, năm 2010

STT KHU VỰC BA NgUỒN NHIễM MỚI HIV PHổ BIẾN NHẤT

2 Hà Nội 2 NCMT, khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp

3 Hải Phòng Phụ nữ nguy cơ thấp, NCMT, khách hàng nam của PNMD

4 Quảng Ninh NCMT, phụ nữ nguy cơ thấp, NCMT

5 Nghệ An NCMT, khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp

6 Thanh Hóa Phụ nữ nguy cơ thấp, NCMT, khách hàng nam của PNMD

7 Tây Bắc NCMT, phụ nữ nguy cơ thấp, khách hàng nam của PNMD

8 Đông Bắc Phụ nữ nguy cơ thấp, khách hàng nam của PNMD, NCMT

9 Miền núi phía Bắc Khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp, NCMT

10 Thái Nguyên NCMT, khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp

11 Châu thổ sông Hồng Khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp , NCMT

12 Bắc Trung Bộ Khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp , PNMD

13 Duyên hải miền Trung Phụ nữ nguy cơ thấp, khách hàng nam của PNMD, PNMD

14 Khánh Hòa Phụ nữ nguy cơ thấp, khách hàng nam của PNMD, PNMD

15 Tây Nguyên Khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp, NCMT

16 Đông Nam Khách hàng nam của PNMD, NCMT, phụ nữ nguy cơ thấp

17 Châu thổ sông Mê Kông Khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp , PNMD

18 An Giang Khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp , PNMD

19 Cần Thơ Phụ nữ nguy cơ thấp, khách hàng nam của PNMD, NCMT

20 Thành phố Hồ Chí Minh Khách hàng nam của PNMD, phụ nữ nguy cơ thấp, NCMT

Trang 31

Số trường hợp tử vong do AIDS giảm đáng kể do tác dộng của việc mở rộng chương

trình điều trị ARV Như được minh họa trong Biểu đồ 5, các tính toán cho thấy trong

vòng 10 năm kể từ 2001 đến 2010, đã có lũy tích 11.078 trường hợp tử vong do AIDS đã

được ngăn chặn bởi điều trị ARV

20,000

Số trường hợp tử vong được ngăn chặn 16,000

Biểu đồ 5: Số trường hợp tử vong hàng năm do AIDS trong quần thể người từ 15 tuổi trở lên tại

Việt Nam giai đoạn 1990 - 2010: Tác động của chương trình điều trị ARV

Theo kết quả Ước tính và Dự báo, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở Việt Nam trong năm 2011 ở

vào khoảng 0,28 % và có khả năng tăng lên 0,29 % vào năm 2015 Tương tự với con số

nhiễm HIV, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong cộng đồng tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp

theo Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại Việt Nam (đối với tất cả các lứa tuổi) vào năm 2015 theo như

ước tính sẽ đạt được mục tiêu quốc gia về kiểm soát tỷ lệ hiện nhiễm HIV (dưới 0,30%)

theo Chiến lược Quốc gia về Phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 Tuy nhiên, cũng cần

lưu ý rằng để duy trì được tỷ lệ hiện nhiễm 0,29% vào năm 2015 thì việc giữ vững, củng

cố các chương trình can thiệp HIV/AIDS đóng một vai trò quyết định (Biểu đồ 6)

Biểu đồ 6: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV (bao gồm cả người lớn và trẻ em) tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015:

Ước tính thấp, trung bình và cao

Trang 32

Ở cấp khu vực, chiều hướng hiện nhiễm HIV trong tổng quần thể dân số (bao gồm cả

người lớn và trẻ em) tương đối khác nhau giữa các tỉnh/thành phố Bảng 4 minh họa

chiều hướng hiện nhiễm HIV theo từng khu vực trong giai đoạn 2011 - 2015 Trong tổng

số 20 khu vực, bảy khu vực (Hà Nội 1, Hà Nội 2, Hải Phòng, Quảng Ninh, Châu thổ sông Hồng, Khánh Hòa và Châu thổ sông Mê Kông) có chiều hướng hiện nhiễm giảm, 9 khu vực (Nghệ An, Thanh Hóa, Đông Bắc, Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam and An Giang) có chiều hướng hiện nhiễm duy trì ổn định

Bảng 4: Ước tính trung bình tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại một số tỉnh và khu vực theo phần trăm dân số

nhiễm HIV giai đoạn 2011- 2015

* Hải Phòng và Tp.HCM chỉ có tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người trưởng thành từ 15 tuổi trở lên do mô hình AEM không thể ước tính trực tiếp

tỷ lệ hiện nhiễm cho dân số nói chung (người lớn và trẻ em) Tỷ lệ hiện nhiễm trong bảng này được tính gián tiếp từ hai nguồn số liệu: 1) Số người nhiễm HIV (cả người lớn và trẻ em) ước tính từ AEM và 2) Số liệu từ Ước tính kích cỡ dân số tại Việt Nam, Tổng cục thống kê

Trang 33

và bốn khu vực còn lại (Tây Bắc, Thái Nguyên, Cần Thơ và Tp HCM) có chiều hướng gia

tăng tỷ lệ hiện nhiễm Khu vực Tây Bắc và Tp.HCM là hai khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm HIV

ước tính cao nhất cả nước Tỷ lệ này lần lượt là 1,29% tại khu vực Tây Bắc và 1,09% tại Tp

HCM và cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ trung bình của cả nước là 0,29% vào năm 2015

Sẽ có khoảng 137.200 người trưởng thành tuổi từ 15 nhiễm HIV cần điều trị ARV vào

năm 2015 Biểu đồ 7 minh họa số lượng người trưởng thành nhiễm HIV cần chăm sóc và

điều trị ở Việt Nam theo 3 ước tính: Ước tính thấp, ước tính trung bình và ước tính cao Số

lượng người cần điều trị ARV theo ngưỡng khuyến cáo điều trị mới của WHO (CD4 350 tế

bào/µl máu toàn phần) vào năm 2011 là 109,000 (ước tính trung bình) và sẽ tiếp tục tăng

cho đến năm 2015

Với việc tăng lên nhanh chóng của số người nhiễm HIV cần chăm sóc, điều trị, và với giả

thiết độ bao phủ của chương trình điều trị là 70% thì rõ ràng việc mở rộng các dịch vụ

chăm sóc và điều trị HIV là yêu cầu cấp bách Điều này đòi hỏi việc tăng cường đội ngũ y,

bác sỹ và nguồn lực để đáp ứng nhu cầu rất lớn về thuốc và trang thiết bị cho việc điều

trị AIDS và các bệnh nhiễm trùng cơ hội trong một thời gian dài

Biểu đồ 7: Số lượng người trưởng thành tuổi từ 15 nhiễm HIV cần điều trị ARV tại Việt Nam

giai đoạn 1990 – 2015: Ước tính thấp, trung bình và cao

Số phụ nữ nhiễm HIV cần điều trị PLTMC ước tính sẽ duy trì ở mức tương đối cao trong

những năm sắp tới, khoảng 4.000 phụ nữ mỗi năm Tình hình này đặt ra yêu cầu cần

thiết duy trì và củng cố các can thiệp dự phòng để ngăn ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang

con Trong đó, dịch vụ HTC và tư vấn bạn tình đóng một vai trò quan trọng trong việc xác

định những phụ nữ cần dịch vụ PLTMC (Biểu đồ 8).

Trang 34

1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Biểu đồ 8: Số phụ nữ có thai nhiễm HIV cần điều trị PLTMC tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015: Ước tính

thấp, trung bình và cao

Vào năm 2015, sẽ có khoảng 6.400 trẻ em nhiễm HIV Biểu đồ 9 cho thấy chiều hướng

gia tăng số lượng các trường hợp nhiễm HIV ở trẻ em tại Việt Nam trong ba mức ước tính: thấp, trung bình và cao Ước tính số trẻ em nhiễm HIV tại Việt Nam trong năm 2011 là 5.208 (ước tính cao: 6.302, ước tính thấp: 3.916) Đến năm 2015, con số này sẽ tăng lên thành 6.342 (ước tính cao: 7.527, ước tính thấp: 4.965), thêm khoảng 1.200 trường hợp so với năm 2011 Điều này cho thấy sự gia tăng đáng kể về nhu cầu chăm sóc và điều trị cho trẻ em nhiễm HIV trong những năm sắp tới

Biểu đồ 9: Số trẻ em trong độ tuổi 0 - 14 nhiễm HIV tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015: Ước tính thấp,

trung bình và cao

Như được minh họa trong Biểu đồ 10, một số lượng đáng kể các trường hợp nhiễm mới

HIV ở trẻ sơ sinh đã được ngăn chặn do tác động tích cực của chương trình PLTMC Trong giai đoạn 10 năm từ 2001 đến 2010, đã có 934 trường hợp nhiễm mới ở trẻ sơ sinh được ngăn chặn bởi chương trình PLTMC

Trang 35

Từ năm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm người NCMT có chiều hướng ổn định,

tuy nhiên vẫn duy trì ở mức cao với 23% người NCMT trên toàn quốc Biểu đồ 11 minh

họa chiều hướng hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại Việt Nam ở cấp quốc gia cũng

như tại một số khu vực trọng điểm Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT trên toàn

quốc ở mức khoảng 26% vào năm 2011 và có chiều hướng giảm xuống còn 23% vào năm

2015 Tuy nhiên, chiều hướng dịch lại tương đối biến động giữa các khu vực khác nhau

Tại một số tỉnh thành, tỷ lệ hiện nhiễm HIV có dấu hiệu giảm, tuy nhiên vẫn duy trì ở mức

cao (Hải Phòng 43%, Quảng Ninh 40%) Tại một số khu vực khác, chiều hướng này duy trì

ở mức tương đối ổn định (Khu vực Tây Bắc 39%, Nghệ An 27%) Trong khi đó, tỷ lệ hiện

nhiễm được dự báo sẽ ở mức rất cao tại Tp HCM, khoảng 48% vào năm 2015 Với các kết

quả Ước tính và Dự báo tình hình dịch trong nhóm NCMT, các biện pháp can thiệp toàn

diện cần được tăng cường để làm giảm chiều hướng dịch trong những năm tới

# nhiễm mới được ngăn chặn

Biểu đồ 10: Ước tính số trường hợp nhiễm mới HIV ở trẻ sơ sinh đã được ngăn chặn bởi chương trình

PLTMC giai đoạn 1990 – 2010: Ước tính trung bình

Biểu đồ 11: Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015: Tỷ lệ hiện nhiễm

chung toàn quốc và tỷ lệ hiện nhiễm tại một số khu vực trọng điểm

Trang 36

Khoảng 6,8% PNMD trên toàn quốc nhiễm HIV trong năm 2011 và tỷ lệ này ước tính

có thể tăng nhẹ lên 7,0% vào năm 2015 Biểu đồ 12 biểu thị tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong

nhóm PNDM nói chung tại Việt Nam và PNMD tại một số khu vực trọng điểm trên toàn quốc Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm HIV chung trong nhóm PNMD ở cấp quốc gia duy trì ở mức tương đối ổn định khoảng 7%, chiều hướng hiện nhiễm trong nhóm này tương đối khác nhau giữa các khu vực, đặc biệt những tỉnh có tỷ lệ rất cao (12 – 19%) vào năm 2015 như Cần Thơ, Tây Bắc, An Giang và Hà Nội 1 Nghiên cứu IBBS và nhiều nghiên cứu khác cho thấy, nhiễm HIV trong nhóm PNMD có liên quan chặt chẽ với hành vi tiêm chích trong nhóm này, tuy nhiên hiện nay nguồn số liệu chưa đủ để có thể mô hình hoá các vụ dịch trong nhóm PNDM có tiêm chích ma túy, ngoại trừ tại Tp HCM và Hải Phòng Hi vọng rằng giám sát HSS+, mới được triển khai trong những năm gần đây, sẽ trở thành một công cụ hữu ích trong việc đánh giá tình trạng sử dụng ma túy trong nhóm quần thể này

Cần Thơ

An Giang

Tp Hồ Chí Minh - PNMD tiêm chích Tp Hồ Chí Minh - PNMD không tiêm chích

60 50 40 30 20 10 0

1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Biểu đồ 12: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015: Tỷ lệ hiện

nhiễm chung toàn quốc và tỷ lệ hiện nhiễm tại một số khu vực trọng điểm

Ước tính 1,7% khách hàng nam giới của PNMD nhiễm HIV trong năm 2011 và tỷ lệ này

có chiều hướng giảm nhẹ xuống còn 1,5% vào năm 2015 Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm được

duy trì ở mức dưới 1,5% ở đa số các khu vực, tỷ lệ này vẫn nằm ở mức cao tại một số tỉnh thành như Tp HCM (5,2%), An Giang (3,5%), khu vực Tây Bắc (2,8%) và Cần Thơ (2,7%)

vào năm 2015 (Biểu đồ 13) Tuy nhiên, kết quả ước tính về chiều hướng nhiễm HIV trong

nhóm khách hàng cần được phiên giải thận trọng do đường cong dịch trong nhóm quần thể này được xây dựng dựa trên tỷ lệ hiện nhiễm của nhóm bệnh nhân nam nhiễm STI từ giám sát trọng điểm, do đó có khả năng không phản ánh được một cách chính xác tỷ lệ

Trang 37

Theo kết quả Ước tính và Dự báo, tỷ lệ hiện nhiễm HIV sẽ tăng mạnh lên 16,7% trong

nhóm MSM nguy cơ cao và tăng dần lên 2,1% trong nhóm MSM nguy cơ thấp tại Việt

Nam vào năm 2015 Biểu đồ 14 và 15 minh họa tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM

nguy cơ cao và nguy cơ thấp, với giả định rằng MSM nguy cơ cao có nhiều hành vi nguy

cơ nhiễm HIV hơn Ở cấp quốc gia, trong khi tỷ lệ hiện nhiễm HIV vẫn được duy trì ở mức

tương đối thấp trong nhóm MSM nguy cơ thấp (dao động trong khoảng 1,4% - 2,1%

trong giai đoạn 2011 - 2015), chiều hướng ngược lại được dự báo trong nhóm MSM nguy

cơ cao Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm này tăng từ 11,2% vào năm 2011 lên 16,7% vào năm

2015 Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm MSM nguy cơ cao tại Tp HCM và Hải Phòng là đặc biệt

cao, có khả năng lên đến 38% (Tp HCM) và 30% (Hải Phòng) vào năm 2015 Tuy nhiên,

cần lưu ý rằng do những hạn chế nhất định về số liệu liên quan đến quần thể MSM, số

liệu Ước tính và Dự báo ở thời điểm hiện tại có thể không phản ánh một cách hoàn toàn

chính xác diễn biến dịch, trên thực tế có thể nghiêm trọng hơn hoặc ít nghiêm trọng

hơn Mặc dù vậy, với chiều hướng tăng tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM tương đối

thống nhất tại các nước Châu Á, việc theo dõi và giám sát các hành vi nguy cơ của nhóm

quần thể này cần phải được đẩy mạnh hơn nữa song song với việc duy trì, củng cố các

chương trình can thiệp

Hà Nội 1

Hải Phòng Quốc gia

Tây Bắc Quảng Ninh Nghệ An

Cần Thơ Tp Hồ Chí Minh An Giang

Biểu đồ 13: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm khách hàng nam giới của PNMD tại Việt Nam giai đoạn

1990 - 2015: Tỷ lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tỷ lệ hiện nhiễm tại một số khu vực trọng điểm

hiện nhiễm HIV trong nhóm khách hàng nam nói chung Thêm vào đó, tỷ lệ hiện nhiễm

HIV của nhóm khách hàng ở cấp quốc gia không vượt quá mức 2% nhưng với kích cỡ ước

tính chiếm khoảng 7,5% nam giới trong độ tuổi trưởng thành sẽ dẫn đến một số lượng

lớn những người trong nhóm quần thể này bị nhiễm HIV Đây là nhóm quần thể tiềm ẩn

nguy cơ lan truyền HIV sang vợ và bạn tình của họ, cần tiếp tục có những biện pháp can

thiệp tích cực hướng vào nhóm quần thể này

Trang 38

Hà Nội 1 An Giang Cần Thơ Hải Phòng Tp Hồ Chí Minh Quốc gia

40 35 30 25 20 15 10 5 0

1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Biểu đồ 14: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM nguy cơ cao tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015:

Tỷ lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tại một số khu vực trọng điểm

Hà Nội 1 An Giang Cần Thơ Hải Phòng Tp Hồ Chí Minh Quốc gia

10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0

1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Biểu đồ 15: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM nguy cơ thấp tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015: Tỷ

lệ hiện nhiễm chung toàn quốc và tại một số khu vực trọng điểm

Bảng 5 tóm tắt chiều hướng hiện nhiễm HIV trong các nhóm MARP theo từng khu vực

trong giai đoạn 2011-2015 Nhìn chung, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT có chiều hướng giảm hoặc duy trì ổn định ở hầu hết các khu vực trong cả nước, ngoại trừ chiều hướng tăng nhẹ ở Tp.HCM Chiều hướng tương tự cũng được dự báo trong quần thể PNMD ở nhiều khu vực Dịch HIV trong nhóm khách hàng nam giới của PNMD cũng có chiều hướng tương tự nhóm PNMD nhưng với tỷ lệ hiện nhiễm HIV thấp hơn nhiều tại đa

số các khu vực MSM (nhóm nguy cơ cao và nguy cơ thấp) là quần thể duy nhất được dự báo là có chiều hướng dịch HIV ngày càng gia tăng Tuy nhiên, với chỉ số liệu đầu vào của

4 tỉnh cho nhóm MSM tại thời điểm Ước tính và Dự báo, cần thận trọng trong việc phiên giải chiều hướng dịch thực tế và cần thêm nhiều số liệu hơn nữa để thẩm định chiều hướng dịch toàn quốc được xây dựng trong vòng Ước tính và Dự báo này

Trang 39

Bảng 5: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm quần thể nguy cơ cao theo khu vực giai đoạn 2011 - 2015

STT KHU VỰC NCMT PNMD

Khách hàng nam giới của PNMD

MSM nguy cơ cao nguy cơ thấp MSM

Biểu đồ 16 so sánh kết quả hai vòng Ước tính và Dự báo 2007 và 2010 - 2011 Nhìn chung,

chiều hướng dịch HIV được thiết lập từ hai vòng Ước tính và Dự báo là tương tự nhau So

với kết quả năm 2007, vòng 2010 – 2011 ước tính số người nhiễm HIV tại Việt Nam vào

năm 2011 thấp hơn khoảng 20.000 người Có thể giải thích cho sự khác biệt này bằng

một số lý do dưới đây:

Hiệu quả từ các chương trình can thiệp dự phòng triển khai rộng rãi tại Việt Nam từ

năm 2004 đã góp phần duy trì tỷ lệ hiện nhiễm trong một số nhóm quần thể nguy

cơ cao ở mức ổn định hoặc giảm xuống tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước

Trang 40

Số liệu sử dụng trong vòng Ước tính và Dự báo năm 2010 - 2011 phong phú và đầy

đủ hơn so với vòng 2007 Ví dụ, có thêm số liệu ước tính của 3 năm 2007, 2008 và

2009, trong khi ước tính và dự báo năm 2007 chỉ sử dụng số liệu giám sát trọng điểm đến năm 2006 Nguồn số liệu phong phú hơn trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 – 2011 giúp nhóm kỹ thuật có những hiệu chỉnh phù hợp và sát thực hơn Ví dụ, kết quả từ hai vòng nghiên cứu IBBS – một trong những nghiên cứu cộng đồng sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong các nhóm quần thể nguy cơ cao (NCMT, PNMD) cho phép hiệu chỉnh số liệu giám sát trọng điểm để thiết lập chiều hướng dịch HIV sát thực hơn trong các nhóm quần thể này

Ước tính kích cỡ quần thể được sử dụng trong hai vòng Ước tính và Dự báo cũng thay đổi Số liệu chương trình can thiệp năm 2010 – 2011 được sử dụng để hiệu chỉnh số liệu kích cỡ quần thể từ Bộ LĐ – TB - XH và Bộ Công An Đường cong dịch trong Ước tính và Dự báo năm 2010 - 2011 thấp hơn so với đường cong dịch trong Ước tính và Dự báo năm 2007 cho thấy việc điều chỉnh tỷ lệ hiện nhiễm và kích cỡ quần thể có thể đã có một ảnh hưởng nhất định đối với đường cong dịch quốc gia được dự báo

Phần mềm Ước tính và Dự báo, bao gồm EPP và SPECTRUM, cũng đã được nâng cấp, cải tiến so với vòng Ước tính và Dự báo trước Ngoài ra việc sử dụng kết hợp kết quả

từ hai mô hình EPP và AEM trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 – 2011 cũng có thể ảnh hưởng đến đường cong dịch quốc gia

Ước tính và dự báo 2007 Ước tính và dự báo 2010-2011

1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011

300,000 250,000 200,000 150,000 100,000 50,000 0

Biểu đồ 16: So sánh kết quả Ước tính và dự báo HIV/AIDS vòng 2007 và vòng 2010 – 2011: Ước tính

trung bình tổng số người nhiễm HIV tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2011

Ngày đăng: 21/01/2015, 07:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Danh sách các khu vực trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011 - HIV AIDS tại VIỆT NAM ước TÍNH và dự báo giai đoạn 2011 đến 2015
Bảng 1 Danh sách các khu vực trong vòng Ước tính và Dự báo 2010 - 2011 (Trang 17)
Bảng 3: Các nguồn nhiễm mới HIV phổ biến tại Việt Nam theo khu vực, năm 2010 - HIV AIDS tại VIỆT NAM ước TÍNH và dự báo giai đoạn 2011 đến 2015
Bảng 3 Các nguồn nhiễm mới HIV phổ biến tại Việt Nam theo khu vực, năm 2010 (Trang 30)
Bảng 4: Ước tính trung bình tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại một số tỉnh và khu vực theo phần trăm dân số - HIV AIDS tại VIỆT NAM ước TÍNH và dự báo giai đoạn 2011 đến 2015
Bảng 4 Ước tính trung bình tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại một số tỉnh và khu vực theo phần trăm dân số (Trang 32)
Bảng 5 tóm tắt chiều hướng hiện nhiễm HIV trong các nhóm MARP theo từng khu vực - HIV AIDS tại VIỆT NAM ước TÍNH và dự báo giai đoạn 2011 đến 2015
Bảng 5 tóm tắt chiều hướng hiện nhiễm HIV trong các nhóm MARP theo từng khu vực (Trang 38)
Bảng 5:  Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm quần thể nguy cơ cao theo khu vực giai đoạn 2011 - 2015 - HIV AIDS tại VIỆT NAM ước TÍNH và dự báo giai đoạn 2011 đến 2015
Bảng 5 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm quần thể nguy cơ cao theo khu vực giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w