1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Báo cáo tổng quan về sự phát triển của nhà trường

32 678 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 102,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử phát triển nhà trường: Ngay từ khi loài người còn sống theo bầy đàn đã xuất hiện các biểu hiện của giáo dục. Đến khi cuộc sống loài người tiến triển tới mức có tính tổ chức xã hội thì các biểu hiện giáo dục trong xã hội loài người mới dần dần đúng nghĩa với giáo dục. Trước bất kì một hình thái tổ chức xã hội nào, nhà trường được hình thành và phát triển đều nhằm tới mục đích tạo ra lực lượng lao động có nhân cách đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển của loài người. Tuy nhiên, mỗi thời kì lịch sử thì nhà trường có những mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đặc trưng khác nhau.

Trang 1

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

KHOA GIÁO DỤC

BÁO CÁO TỔNG QUAN SỰ PHÁT TRIỂN NHÀ TRƯỜNG

Trang 2

Tổng quan sự phát triển nhà trường

Lịch sử phát triển nhà trường: Ngay từ khi loài người còn sống theo bầy đàn đã xuất hiện các biểu hiện của giáo dục Đến khi cuộc sống loài người tiến triển tới mức có tính tổ chức xã hội thì các biểu hiện giáo dục trong xã hội loài người mới dần dần đúng nghĩa với giáo dục Trước bất kì một hình thái tổ chức xã hội nào, nhà trường được hình thành và phát triển đều nhằm tới mục đích tạo ra lực lượng lao động có nhân cách đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển của loài người Tuy nhiên, mỗi thời kì lịch sử thì nhà trường có những mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đặc trưng khác nhau

A. Thế giới:

I. Thời kì xã hội cộng sản nguyên thủy

Là hình thái tổ chức xã hội đầu tiên của loài người Con người vừa thoát ra khỏi thế giới động vật, họ đùm bọc nhau trong một cộng đồng đầu tiên để tìm kiếm thức ăn sinh sống và chống chọi với tự nhiên Con người thời kì này chưa có lao động sản xuất, họ tồn tại dựa vào hoạt động bản năng tuy nhiên họ cũng đã tích lũy được những kinh nghiệm trong hái lượm, săn bắn truyền lại cho thế hệ sau để tồn tại và phát triển Vì vậy giáo dục thời kì này mang tính chất tự phát

Vào giữa thời kì cộng sản nguyên thủy, con người đã biết trồng trọt, chăn nuôi Vì thế quan hệ xã hội đa dạng hơn làm tri thức của con người nảy sinh rồi dần dần phong phú hơn Trong quá trình sống, con người có nhu cầu lĩnhhội và truyền thụ tri thức giữa các thành viên Từ đây chế độ giáo dục tiến

bộ, dân chủ đầu tiên đã xuất hiện trong xã hội loài người

Mục đích giáo dục của thời kì này là truyền thụ lại tri thức thiết yếu phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của mọi thành viên trong đời sống xã hội

Nội dung giáo dục trong thời kì này là những tri thức cần thiết cho đời sống, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm chống sự đe dọa của thiên nhiên, thú dữ, kinnh nghiệm tổ chức công xã Như vậy nội dung giáo dục trong thời kì này

Trang 3

Phương pháp giáo dục trong thời kì này còn đơn giản, mang tính chất truyền miệng những kinh nghiệm cần thiết, mỗi người lao động vừa là người học vừa là người dạy.

Cuối thời kì công xã nguyên thủy, do sự cải tiến kĩ thuật công cụ sản xuất thời nguyên thủy chuyển từ thời kì đồ đá sang đồ đồng rồi đồ sắt Nhờ đó năng suất lao động tăng, của cải trong công xã làm ra ngày càng dồi dào hơn, chỉ cần một số ít người sử dụng công cụ lao động cũng có thể lao động

đủ sống, thậm chí có của ăn của để, công xã thị tộc có xu thế chia nhỏ, bắt đầu xuất hiện gia đình Từ đây dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, giai cấp bắt đầu xuất hiện

Giáo dục trong giai đoạn này bắt đầu mất tính bình đẳng, giáo dục là của riêng những gia đình nhà giàu và tầng lớp có của trong xã hội Những dấu hiệu này đã manh nha cho sự xuất hiện của nhà trường và một nền giáo dục mới ra đời

II Giáo dục trong nhà trường dưới chế độ chiếm hữu nô lệ:

Từ những đặc điểm cuối thời kì công xã thị tộc đã làm cho xã hội công

xã nguyên thủy tan rã, thay vào đó là một chế độ xã hội mới_chế độ chiếm hữu nô lệ (xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử) Giai cấp có của lập ra bộ máy chính trị để điều hành xã hội và bảo vệ quyền lợi của mình (nhà nước xuất hiện) đồng thời giáo dục làm công cụ bảo vệ lợi ích của mình (chủ nô, quý tộc)

Trong thời kì này nhà trường đã bắt đầu được xây dựng Vào khoảng

5000 – 4000 năm TCNvua Pharaon đã cho xây dựng nhà trường đầu tiên

ở Ai-cập cổ đại hay nói cách khác thì Ai-cập cổ đại là quốc gia đầu tiên hình thành nhà trường.Tiếp theo đó các nhà trường cũng được thành lập ởcác quốc gia cổ đại như: Hi-lạp,La-mã cổ đại

Mục đích giáo dục trong thời kì này là đào tạo ra những con người có đầy

đủ tri thức để thống trị, điều hành xã hội và bảo vệ nhà nước chủ nô.Nội dung giáo dục phong phú và đa dạng, bao gồm các tri thức khoa học như: số học, hình học, y học, thiên văn học, văn tự, thuật chiêm tinh, ngoài ra người học còn được tiếp thu những tri thức về nhà nước, pháp luật, bổn phận, nghĩa vụ của người công dân, kĩ thuật chiến đấu, âm nhạc,hội họa

Trang 4

Nội dung giáo dục còn được dạy theo lứa tuổi như theo tư tưởng của Pơlalon như sau:

Từ 3 – 6 tuổi trẻ em vào trường mẫu giáo do nhà nước mở

Từ 7 – 12 tuổi, trẻ em được vào trường học văn, trường học đàn, ở đây trẻ em được học đọc, viết tính toán, tôn giáo, hội họa

Từ 12 – 18 tuổi, trẻ em vào trường thể thao Tại dây nhà trường rất coi trọng việc giáo dục thể chất, toán học địa lý, thiên văn học

Từ 18 - 20 tuổi,trẻ em vào trường cao đẳng Ở đây trẻ em được học các môn văn hóa theo chương trình nâng cao và được chuẩn bị kiến thức mônthể thao, quốc phòng

Tôn giáo được coi là nội dung gióa dục quan trọng trong nhà trường.Phương pháp giáo dục trong nhà trường:

Trong quá trình học tập, các em thường xuyên được kết hợp với thực hành Các em trai được thường xuyên thực hành với công việc của người lính chiến, trẻ em ăn đói, mặc rét, đi chân đất chịu đựng gian khổ sau này Nhờ đó mà trẻ em trai trở thành người lính chiến dũng mãnh, có thể lực, kĩ năng chiến đấu, nắm được luật pháp, có ý thức công dân để bảo vệnhà nước chủ nô

Ở thời kì này cũng đã có hệ thống phương pháp giáo dục do các nhà giáo dục tiêu biểu đề xuất được áp dụng vào quá trình giáo dục của nhà trườngnhư phương pháp hỏi - đáp tranh luận (của xôcơrát), quá trình tranh luận bằng câu hỏi từ thấp đến cao, từ xa đến gần, từ dễ đến khó làm cho người học nhận thức được chân lý, đây là phương pháp giáo dục vừa mang tính truyền thông vừa là cơ sở lý luận cho phương pháp dạy học hiện đại Phương pháp học kết hợp với hoạt động thực tiễn (của Platon)

Ở thời kỳ này, các nhà lãnh đạo đứng đầu giai cấp chủ nô đã nhận thức được rất rõ vai trò của Giáo dục nên đây cũng là điều kiện để giáo dục trong nhà trường có bước tiến rất đáng kể Tuy nhiên giáo dục mang bản chất giai cấp nên nó còn hạn chế là chỉ dành riêng cho con em giai cấp chủ nô và coi trọng nội dung giáo dục tôn giáo Nhà nước của giai cấp thống trị chưa can thiệp trực tiếp vào việc tổ chức và hoạt động của nhà trường, do đó nhà trường xuất hiện và hoạt động với đặc điểm nổi bật về mục đích hình thành, phục vụ lợi ích, sự tham gia đầu tư mang nặng tính đặc trưng của xã hội chiếm hữu đó

Trang 5

Trong nhà trường cũng đã được tổ chức trặt trẽ có người đứng đầu chỉ đạo sự hoạt động chung của nhà trường và có những người thầy giáo trựctiếp chăm sóc và giảng dạy cho con em chủ nô.

III Giáo dục trong xã hội phong kiến và giáo dục trong thời văn hóa phục hưng.

1 Giáo dục trong nhà trường xã hội phong kiến

Nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, tư liệu sản xuất là ruộng đất nhưng lạitập chung chủ yếu vào tay địa chủ lãnh chúa So với chế độ CHNL thì xã hội PK người nông dân được giải phóng khỏi chủ nô nhưng vẫn bị bóc lột thậm tệ, bóc lột chủ yếu bằng hình thức địa tô, hệ tư tưởng chủ yếu là tôn giáo

Đặc điển chung của giáo dục trong nhà trường

Nền giáo dục mang đặc trưng giai cấp của xã hội phong kiến , trường học được mở ra nhiều từ trung ương đến các địa phương

Mục đích giáo dục trong nhà trường là đào tạo quan lai từ các cấp địa phương đến trung ương để điều hành xã hội Cụ thể ở phong kiến Trung Hoa theo tư tưởng của Khổng Tử là dào tạo ra những người quân tử.Nội dung giáo dục sử dụng tư tưởng tôn giáo trong nội dung giáo dục, như ở phong kiến Trung Hoa là nội dung tư tưởng nho giáo của Khổng

Tử Nội dung giáo dục cho người quân tử là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; người học cần phải thông hiểu Tứ thư, ngũ kinh Theo Mặc tử nội dung giáo dục cần phải rèn luyện các kỹ năng lao động Đề cao đức nhân, nghĩa, lễ, trí là trong tư tưởng của Mạnh Tử

Như vây, nội dung giáo dục ở thời kỳ này chủ yếu về phát triển phẩm chất cho người quân tử

Phương pháp giáo dục rất đa dạng và có những nét tiến bộ đáng kể đến như: trong tư tưởng của Khổng Tử có đưa ra các phương pháp cơ bản sau: phát huy tính tích cực của người học, sát đối tượng, liên hệ thực tiễn

Trang 6

Phương pháp giáo dục theo tư tưởng của Mặc Tử, do ông cho rằng cơ sở của nhận thức là cảm giác nên Ông đánh giá rất cao vai trò của thực tiễn, hoạt động của các giác quan của trẻ trong quá trình nhận thức, cần gắn dạy học với thực hành, phải đàm thoại (trò chuyện) với học sinh để buộc

họ phải suy luận, đó chính là phương pháp con đường để trẻ nhận thức thế giới

Phương pháp theo tư tưởng của Mạnh Tử: kích thích, phát huy tính tíc cực của học sinh, gương mẫu khiên tốn học hỏi mọi người, cần cù chịu học

Như vậy phương pháp giáo dục trong nhà trường ở thời kỳ này mang những nét tiến bộ đáng ghi nhận có ý nghĩa xã hội và thời đại trong hệ thống phương pháp giáo dục cho học sinh trong nhà trường cho các giai đoạn về sau

2 Giáo dục trong nhà trường ở thời kỳ văn hóa phục hưng.

Đặc điểm xã hội đây là thời kỳ xã hội xuất hiện những tư tưởng tiến bộ tự

do đề cao con người, cổ vũ nền văn minh Hi Lạp – La mã cổ đại, phê phán trật tự xã hội Phong kiến Đây là thời kỳ xã hội phong kiến bắt đầu suy tàn

Đặc điểm giáo dục trong nhà trường: do những biến động về xã hội nên giáo dục ở thời kỳ này vẫn nằm trong sự chuyển giao của hai chế độ xã hội và mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục được thể hiện rõ trong

tư tưởng của nhà giáo dục Tômatmorơ

Về mục đích là giáo dục con người biết lao động sản xuất nắm được tư liệu sản xuất, giáo dục bình đẳng cho mọi người nhằm phát triển đạo đức, trí tuệ, thể chất, kỹ năng lao động

Nội dung giáo dục :giáo dục lao động, văn hóa, sinh hoạt xã hội coi trọngkhoa học tự nhiên, tôn trọng nhân cách trẻ em

Phương pháp giáo dục : gắn giáo dục với lao động sản xuất hàng ngày, học bằng tiếng mẹ đẻ, đề cao phương pháp quan sát , thí nghiệm, thực hành trong dạy học và giáo dục

Trang 7

Như vậy giáo dục trong thời kỳ này vẫn chỉ mang tính giai cấp đào tạo những con người phục vụ cho giai cấp có quyền trong xã hội Tuy nhiên các tư tưởng ở thời kỳ này mang những nét hết sức tiến bộ đã cung cấp

bổ xung lý luận giáo dục thêm phong phú trong công tác giáo dục ở nhà trường

IV Giáo dục trong nhà trường thời kỳ tư bản chủ nghĩa

Đặc điểm xã hội thời kỳ tư bản chủ nghĩa

Từ sau cuộc cách mạng Pháp, hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản đã được hoàn thành ở hầu hết các nước phương tây, xã hội xuất hiện hai giai cấp tư sản và vô sản Đến những năm 30 của thế kỷ XIX các nước

tư bản chủ nghĩa phát triển ở phương tây (Anh, Pháp, Đức ) đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Như vậy thời kỳ này

đã khẳng định tính ưu việt của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

so với phong kiến Nhưng xã hội tư bản chủ nghĩa vẫn là xã hội có giai cấp, giai cấp tư sản bóc lột giai cấp vô sản nặng nề hơn

Từ những đặc điểm của xã hội đã ảnh hưởng chi phối nặng nề hệ thống nhà trường và nội dung giáo dục trong nhà trường

Hệ thống nhà trường đã được mở rộng và hoàn thiện hơn từ cấp mầm non đến đào tạo sau đại học

Mục đích giáo dục là đào tạo những con người có tri thức nhất định đểđáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của nền khoa học kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất công nghiệp

Nội dung giáo dục nổi bật trong thời kỳ này được thể hiện trong quan điểm giáo dục của một số nhà tư tưởng về giáo dục lớn như:

J.A.CômenxkiDựa vào các lứa tuổi ông phân ra nội dung giáo dụckhác nhau

0 – 6 tuổi: trẻ được học trong một lọai trường gọi là “ trường học lòng mẹ” coi trọng việc rèn luyện thể chất và cho trẻ tiếp xúc với thế giới để trẻ phát triển các giác quan

6 -12 tuổi : đưa trẻ vào trường quốc ngữ, học chữ, số, hình, địa lý

12 -18 tuổi: trẻ học trong trường Latinh học các môn đề cao về tự nhiên và xã hội

Trang 8

18 -24 tuổi: trẻ được vào học trong trường học Trẻ phải rèn luyên quahọc tập để hoàn thiện con người cho xã hội Đây là giai đoan cuối cùng của đời học trò, sau đó bắt tay vào cuộc sống lao dộng cả đời người.

Tư tưởng của PétxtalôdiNội dung giáo dục của ông là: đức dục, trí dục, thể dục, giáo dục lao động

Phương pháp giáo dụcNhững phương pháp giáo dục trong nhà trường là: học tập kết hợp vớithực hành, vừa học tập vừa lao động , học tập kết hợp với trò chơi, dạy học lấy người học làm trung tâm, phương pháp dạy học trực quan,rèn luyện kỹ năng tư duy và kỹ năng thực hành cho trẻ, phương pháp nêu gương

Cùng với sự phát triển của xã hội thì những xu hướng và tư tưởng giáo dục tiến bộ trong nhà trường từng bước được thực hiện đã trở thành mục tiêu đấu tranh của lực lượng tiến bộ xã hội cho một nền giáo dục tiến bộ

ở các nước tư bản chủ nghĩa, cùng với việc đấu tranh để giải phóng cho người lao động trong xã hội công nghiệp phát triển thế kỷ XIX Hệ thống nội dung phương pháp cũng như các tư tương giáo dục vẫn còn mang tính thời đại.Nhà trường ở thời kỳ vừa mang đặc trưng xã hội, vừa mang đặc trưng nhà nước và vừa mang đặc trưng cộng đồng

V Thời kỳ xã hội tiên tiến với đặc trưng của nền văn minh trí tuệ.

Đặc điểm xã hội Từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu thếkỷXXI này kinh tế - xã hội toàn cầu biến đổi không ngừng với tốc độ chóng mặt nhờ sự phát triển nhanh, mạnh và đa dạng của khoa học và công nghệ _ đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông

Một tất yếu khách quan là sự phát triển đó đã tạo ra xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đưa nhân loại bước sang nền văn minh trí tuệ với đặc trưng nổi bật là kinh tế tri thức Nhu cầu lao động và yêu cầu mức lao động mới (mẫu hình nhân cách mới) của xã hội hiện đại nay tập trung vào lao động có tri thức và thực sự đáp ứng được sự biến đổi không ngừng, đa dạng và phát triển

Trang 9

liên tục của các hoạt động kinh tế - xã hội Không những trong mỗi cộng đồng ở từng quốc gia mà còn cả trên bình diện toàn thế giới.

Thực tiễn hiện nay nhà trường được hình thành và phát triển với nhiều loại hình thức khác nhau về mục đích học tập , hoạt động quản lý, phương thức đầu tư và hưởng lợi có tính đa dạng với những hình thức như: công lập, ngoài công lập, giáo dục từ xa,giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy, giáo dục cộng đồng Mục đích giáo dục trong nhà trường: đào tạo một lực lương lao động có trình độ cao có đủ phẩm chất, năng lực giải quyết các yêu cấu của sự phát triển khoa học, ứng dụng, sáng tạo công nghệ nhằm đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, xây dựng một xã hội tiến bộ

Nội dung giáo dục: kết hợp các ngành lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, thêm vào đó là các môn học về hội họa, âm nhạc, nội dung giáo dục của các môn khoa học mới cũng được chú trọng như: công nghệ thông tin, giao thông vận tải, năng lượng mới, khoa học môi trường

Phương pháp giáo dục được áp dụng rất phong phú đa dạng và mang tính sinh động hấp dẫn như: phương pháp thuyết trình, vấn đáp, phản biện, học đi đôi với hành, thực nghiệm, thí nghiệm, dạy học theo dự án, đóng kịch, trực quan

Tóm lại: Lịch sử đã chứng minh nhà trường dưới hình thức phôi thai và đơn giản

nhất với đầy đủ chức năng của nó đã tồn tại trên 26 thế kỉ Những tài liệu khoa học khẳng định đã xuất hiện hình thức nhà trường trong các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương tây như: Ai Cập cổ đại, Hi Lạp cổ đại Các nhà nước phong kiến tại

phương Đông như các nhà trường của Trung Hoa cổ đại

Các tư liệu về niên đại (hay thời điểm) hình thành nhà trường khẳng định loài người đã trải qua các thời kì văn minh, nhân loại mỗi một thời kỳ có một dạng nhà trường với những đặc điểm riêng phù hợp với các hình thái phát triển kinh tế - xã hội của nền văn minh đó.Từ nhà trường có tổ chức sơ đẳng nhất, đến các mô hình nhà trường truyền thống, nhà trường hiện đại thời nay và mô hình nhà trường trongtương lai Về cơ bản,sự phát triển nhà trường là sự thay đổi mô hình và tổ chức củanhà trường ở mặt mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, lựclượng giáo dục và lực lượng tham gia giáo dục

B Việt Nam:

Trang 10

I Nhà trường việt Nam trước thế kỷ thứ X.

Thái thú Giao chỉ là Tích Quang và thái thú Cửu Chân là Nhân Diêm đã mở trường dạy dỗ dân ta theo con đường lễ nghĩa ( lễ nghĩa ở đây chính là tư tưởng nho giáo ) như vậy nho giáo và nhà trường đã xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên

Thời Tam quốc (220 – 264), chiến tranh sảy ra liên miên giữa ba chiều đại Ngụy - Thục - Ngô Nhân cơ hội đó nhà Ngô đã thay đông Hán đô hộ nước ta (220 – 280).Thái thú Giao chỉ là Sĩ Thiếp đã thu nạp nhiều danh sĩ giảng dạy cho nho sĩ Nhân dân ta đã tự lập nên nhiều nhà trường mời họ dạy cho con em mình

Như vậy trường học ở thời kỳ này cũng đã được quan tâm đến, nội dung giảng dạy chủ yếu là nho giáo, phương pháp giảng dạy là giảng giải về lễ nghĩa Về nội dung

và phương pháp dạy không tránh khỏi sự ảnh hưởng của Hán học Song về tổ chức lại chủ yếu do dân ta nên có sự biến đổi tạo cơ sở cho nhà trường nói riêng và cho nền giáo dục Việt Nam chính thống từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Đã có một

số nho sĩ người Việt học giỏi đỗ cao như Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng, Tinh Thiều

II Nhà trường Việt Nam từ thế kỷ thứ V đến hết thế kỷ thứ XIV.

1 Nhà trường dưới thời Ngô – Đinh – Tiền Lê.

Hoàn cảnh lịch sử sau thế kỷ thứ X nước ta giành được độc lập Trong

khoảng 100 năm nước ta đã xảy ra 5 lần hư vong các triều đại

Trường lớp ở thời kỳ này dược mở tại các chùa, các sãi

Những nhà sư thuộc tầng lớp chí thức ở thời kỳ này tinh thông cả Nho học, Phậthọc, Đạo học chính vì vậy mà nội dung dạy học ở thời kỳ này bao gồm cả 3 lĩnh vực trên bên cạnh đó họ còn hướng dẫn học trò có thể lựa chọn kiến thức để giúp vua, cứu nước, bảo vệ bản sắc riêng của dân tộc mình, làm phong phú thêm tiếng Việt, góp phần tạo ra chữ Nôm Áp dụng một số phương pháp giảng dạy của Nho học như: sự gương mẫu của thầy kết hợp với phương pháp thực hành; phương phápcủa Đạo giáo: cảm giác là cơ sở nhận thức và thế giới khách quan là nguồn gốc củanhận thức, trong giáo dục phải gắn với thực tiễn, quá trình nhận thức có 3 nguồn

Trang 11

đó là: Thân tri (tự mình nhận biết), Văn tri (điều mình nghe được), Trí tri (do suy luận mà ra).

1 Nhà trường dưới thời Lý – Trần – Hồ (1009 – 1407)

1.1 Tổ chức nhà trường thời lý ( 1009 – 1225 )

Năm 1070, Lý Thánh Tông dựng Văn Miếu thờ Chu Công Khổng Tử, tứ phối, tạc tượng 72 vị tiên hiền là học trò giỏi của Khổng Tử

Năm 1076, Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử giám, đây là trường đạihọc đầu tiên của Việt Nam

Nội dung giáo dục gắn với sự truyền bá Nho giáo, nội dung cơ bản trong giáo dục cho người quân tử là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

1.2 Tổ chức nhà trường thời Trần ( 1226 – 1400 )

Năm 1236, Văn Miếu Quốc tử giám được đổi tên thành Quốc tử viện, cho con em quan văn

Năm 1281, nhà Trần mở thêm nhà học ở phủ Thiên Trường, sau đó nhà trường không phát triển thêm Hệ thống trường học ở thời Trần phát triển hết sức chậm chạp và ít ỏi, chỉ có ở kinh đô và một số phủ châu thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng Nhà trường ở các địa phương hầu như hoàn toàn do nhân dân tự lo liệu, chủ yếu là do nhà chùa và các nho sĩ mở

Nội dung giáo dục thời Trần:

Năm 1253, Trần Thái Tông xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước thông kinh sử đến Quốc tử viện học tập, nghe giảng tứ thư ngũ kinh

Biện pháp giáo dục:

Thầy giảng giải nội dung trong tứ thư ngũ kinh, tổ chức kiểm tra kiến thức nho sinh bằng chế độ khoa cử

1.3 Tổ chức nhà trường thời nhà Hồ ( 1400 – 1407 )

Năm 1397, nhà Hồ cho mở trường học đến tận châu huyện thuộc các lộ KinhBắc, Sơn Nam, Hải Đông ở đây mỗi phủ đều đặt một học quan để trông coi, đôn đốc việc học, chủ trương cấp ruộng cho các châu phủ để đầu tư vào việc học theo 3mức: phủ châu lớn, 15 mẫu; vừa, 12 mẫu; nhỏ, 10 mẫu

Trang 12

Nội dung giáo dục thời nhà Hồ:

Phổ biến rộng rãi chữ Nôm, đưa chữ Nôm vào soạn thảo các văn bản nhà nước, đưa môn tính toán vào thi cử, khuyến khích người học mở rộng kiến văn Các mặt giáo dục khác như: dạy võ, dạy nghề, làm thuốc cũng được Hồ Quý Ly khuyến khích phát triển

Phương pháp giáo dục:

Giáo dục thời nhà Hồ có sự phân chia theo các lĩnh vực riêng có người trực tiếp phụ trách

Chế độ thi cử chặt chẽ hơn, nội dung thi cử đa dạng và sát với thực tế

biệt là ở thời nhà Hồ, các chính sách xây dựng nhà trường được cụ thể hóa từ đó cũng góp phần to lớn cho sự mở rộng hệ thống nhà trường Nội dung và phương pháp giáo dục không có sự biến đổi lớn, chỉ khi đến thời nhà Hồ đã chuyển từ sử dụng chữ Nho sang chữ Nôm, nội dung giáo dục được mở rộng thêm nhiều lĩnh vực

3 Nhà trường thời Lê Sơ

- Nhà nước Lê Sơ vẫn duy trì hệ thống trường ở các thời kỳ trước Ngoài ra còn khuyến khích mở các trường tư thục của các thầy đồ trong làng xóm, thị trấn

Nội dung giáo dục: qua “dụ khuyến học” của Lê Thánh Tông và các bài văn bia ta biết được nội dung học tập ở các trường Lê sơ bao gồm:

+ Sách kinh điển, tống nho chủ yếu bao gồm các sách tứ thư, ngũ kinh do Chu Hi chú giải

Phương pháp giáo dục nho giáo:

+ Phương pháp giáo dục giảng dạy: áp dụng các biện pháp từ thời xuân thu chiến quốc, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử đã áp dụng và đè cập đến bbao gồm: phương pháp trí dục (học tư kết hợp, dụ đạo khải phát, nhân tài thi giáo, học nhi thời tập, hiếu học, lạc học)

Phương pháp đức dục: tự tu dưỡng theo con đường khắc kỷ (tự tụng, tự kiểm, tự trách, tự giới, thận ngôn, vô tranh) Quan nhân kết giao bằng hữu, thân giáo trọng ưmôn giáo

Trang 13

III nhà trường Việt Nam dưới thời lê – mạc, trịnh nguyễn (từ thế kỉ

XV – XVIII )

Thời Lê – Mạc tình hình chính trị rối ren nên hệ thống trường học không phát triển.Năm 1692 khi giao tranh Trịnh Nguyễn kết thúc, chúa Trịnh cho thu gọn trường Quốc tử giám lại, loại bỏ các chức quan trực giảng,giáo phụ và bác sĩ năm kinh, chỉ giữ lại chức quan tế tửu và tư nghiệp trực tiếp giảng dạy

Trường Hương học: giống như thời Lê sơ chỉ tổ chức đến các phủ, còn các huyện châu chưa có việc học tập phụ thuộc vào các trường hoặc sĩ tử có thể theo học trường tư do các nho sĩ mở Thời Mạc – Lê Trung Hưng cấc trường tư thục phát triển mạnh lớp hoc lớn hay nhỏ tùy thuộc vào số lượng học trò và tài đức của thầy.Nội dung giáo dục:chế độ khoa cử vẫn tuân theo các triều đại phong kiến trước.Cuối thế kỉ 18 chế độ phong kiến suy vong,nội dung giáo dục, chế độ thi cử ngày càng suy đồi, chỉ còn bề nổi không còn bề sâu Cùng với sự phát triển việc học, việc thi, tệ nạn gian lận mua bán ngày thêm lũng đoạn nơi trường ốc, tình trạng nàynằm trong ý thức suy đồi chung hệ nho giáo

Nhà trường đưới thời Tây Sơn:

Trường học được mở từ trung ương đến tân xã Theo “ chiếu lập học” thì ở xã đều xây dựng nhà xã học, bên cạnh đó các trường tư vẫn tiếp tục tồn tại Từ phủ trở lên

có các trường do nhà nước mở Các đền chùa ở các phủ huyện vẫn do dân trông coi, song có thể dùng làm trường học làng phủ

Về giáo viên: nhân dân các xã lựa chọn các nhà nho có đức hạnh làm xã giang dụ

để giảng dạy học trò Thầy do xã chọn nhưng sẽ do nhà nước khảo hạch và công nhận Còn các trường ở lộ phủ nhà nước cử những viên phủ huấn đạo về giảng dạy.Nội dung giảng dạy: vẫn là nho giáo, sách giáo khoa, sách tiểu học, tứ thư, ngũ kinh Bên cạnh nho học, Quang Trung còn chú trọng đến việc phát triển chữ nôm.Tóm lại, triều đại Tây Sơn chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng việc tổ chức trường học đã có những nét tiến bộ đáng kể

IV nhà trường Việt Nam từ đầu thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX.

Trang 14

1 Triều Nguyễn: (1802 – 1945)

Hệ thống trường học: 1803 Gia Long đã cho dời QTG vào Huế Ở đây nhà vua giao cho QTG nhiệm vụ khảo hóa học trò và chọn con các quan lại, học trò giỏi khắp nơi để đào tạo thành những người có học vấn và lam quan.Năm 1821 Minh Mạng cho mở rộng thêm Quốc Tử Giám, dựng nhà Di Luân Đường, giảng đường và các phòng cho tôn sinh và giám sinh ăn ở Cácloại trường ở tỉnh phủ, huyện thuộc hệ thống Hương học”, số trường học đã

tổ chức đến huyện tuy chưa đều khắp nơi , có tổ chức trường học ở các tổng

xã, ấp là trường dân lập hay do tư thục _ đó là các trường do thầy đồ hay các

tu sĩ mở ra giống như các triều đại trước

Nửa sau thế kỉ 19, khi thực dân Pháp mới đặt ách thống trị ở nước ta, hệ thống trường học không được phát triển, giáo dục thời này chỉ tồn tại dưới dạng các trào lưu nên hệ thống nhà trường không đươc thể hiện rõ

Nội dung dạy học: vẫn sử dụng nho học, giảng dạy tứ thư ngũ kinh

Phương pháp dạy và học tập: các trường nho học dưới triều Nguyễn bộc lộ khuynh hướng chính học truyền thống nhằm làm cho người học thấm nhuần sâu sắc những lời dạy của thánh hiền trong giảng học 11 điều, điều 3 ghi rõ:

“phàm sách kinh, sách thư giảng đến thiên nào cần phải gấp sách đọc lại bảnvăn cho thuộc làu, khiến cho thấm nhuần lời nói của thánh hiền…” bên cạnh đó còn học những nội dung về võ công, võ nghệ nhưng đều có xu hướng giảm sút

2 Pháp thuộc (1858 – 1945)

Pháp xâm lược Việt Nam chúng gặp rất nhiều khó khăn trong việc học chữ Hán và chữ Nôm Để thực hiện mục đích cai trị của mình thì cần phải thành lập các trường thông ngôn Từ đó tạo điều kiện cho việc đào tạo tay sai và cai trị nhân dân

Ngày 21/9/1861 chúng ra nghị định thành lập trường thông ngôn Bá Đa Lộc

do cơ đốc tên là Coroc làm hiệu trưởng Với nội dung dạy tiếng Pháp cho người Việt, tiếng Việt cho người Pháp mục đích đào tạo những thông dịch viên cho quân đội xâm lược và những thời kì làm việc trong các cơ quan hành chính chúng bắt đầu phổ biến chữ quốc ngữ và chữ Pháp cho nhân dân ta

Ngày 16/7/1864: ra nghị định thành lập một số trường tiểu học ở một số tỉnhdạy chữ quốc ngữ và dạy toán

Trang 15

Năm 1866 mở được 47 trường với tổng số học sinh lên 1238 học sinh.

Ngày 10/7/1871: Pháp ra nghị định cho thành lập trường sư phạm thuộc địa

để đào tạo giáo viên và nhân viên công sở Họ chủ yếu được đào tạo bằng chữ pháp,chữ nho, chữ quốc ngữ là phụ Trường nói trên đã đổi thành trườnghọc đầu tiên ở Nam Kỳ, tức trường Satxolu.luba sau này

Năm 1873: thực dân pháp mở trường Hậu Bổ nhằm đào tạo thanh tra dân sự.Năm 1874: cấm các trường tư không được mở cửa nếu không được phép củachính quyền Trong năm đó, thực dân Pháp chưa nêu giáo dục đến 2 bậc tiểuhọc và trung học Trường dạy học quốc ngữ ở làng tập trung về 6 trường: Sàigòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre,Sóc Trăng Thời gian học là 3 năm, với nội dung là đọc, viết chữ quốc ngữ, chữ nho, chữ Pháp, số học…Ngày 17/3/1879: hệ thống giáo dục cũ được thay thế bằng hệ thống giáo dụcmới, chia thành 3 cấp: 1, 2, 3 Các trường cấp 1 được gọi là trường Hàng Tổng, cấp 2 Hàng Quận, cấp 3 Trung Học là 2 trường Bát đa lộc và

Satsolu.luba, trong thời gian chưa có trường cấp 3 thì trường Satsolu.luba tạm dạng cấp 2

Tóm lại hệ thống trường mà Pháp thành lập ở Việt Nam chiếm số lượng khá lớn và đào tạo nhiều tay sai đắc lực thực hiện âm mưu cai trị

V Nhà trường Việt Nam 1945 đến nay.

Trong suốt tiến trình từ năm 1945 đến nay, nước ta dành được độc lập cùng

vớinhững ngày đầu trong công cuộc xây dựng đất nước và đối mặt với sự nhòm ngó xâm lược,sự phá họai chính quyền non trẻ mới được thành lập của thế lực thù địch rồi tiếp sau đó tiếp tục chiến đấu chống quân Pháp quay lại xâm lược lần 2 (1946 – 1954) và sau đó là Mỹ xâm lược (1954 – 1975) rồi nhân dân ta đã đấu tranh chống giặc ngoại xâm và giành được độc lập năm1975 từ đó bắt tay vào xây dựng đất nước Chính vì vậy mà nước ta phải tiến hành đổi mới và từng bước xây dựng mọi mặt để phù hợp với tình hình thực tế từng giai đoạn, trong đó có cả những cải cách nội dung giáo dục trong và ngoài nhà trường Hệ thống nhà trường

và nội dung giáo dục trong thời kỳ này thể hiện rõ ở các cuộc cải cách về giáo dục

1 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950.

1.1 Bối cảnh lịch sử.

Sau khi giành độc lập nước ta gặp nhiều khó khăn và ở trong tình thế

“ngàn cân treo sợi tóc” phải đối mặt với giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc

Trang 16

dốt nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã đưa nước ta từng bước vượt qua nhiều khó khăn.

Đầu năm 1950, Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phá được thế bao vây của kẻ địch, thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước XHCN.Chiến thắng biên giới 1950 mở ra cục diện mới về chính trị quân sự Những tiến bộ về kinh tế - tài chính tăng thêm sức mạnh của chính quyền DCND Cả nước bước vào một thời kì mới của cuộc kháng chiến chống xâm lược Trên đà chung đó, nền giáo dục phải được phát triển cho phù hợp với bước tiến xã hội

1.2 Quan điểm và những chủ trương lớn của cuộc cải cách

GD 1950

1.2.1 Xác định bản chất và mục đích của nền giáo dục mới.

Đề án của cuộc cải cách 1950 chỉ rõ: giáo dục là công cụ của một giai cấp nhất định, không có giáo dục trung lập, giáo dục đứng ngoài chính trị Nhân dân Việt Nam sau khi đã giành được quyền làm chủ về chính trị nhất thiết phải xây dựng được nền giáo dục DCND phù hợp với lợi ích cơ bản của mình Từ đó, làm nổi bật lênmục đích của cuộc cải cách giáo dục lần này là phải hủy bỏ triệt đểnền giáo dục nô lệ cùng với những tàn dư của nó về nội dung, phương pháp, phải xây dựng cơ sở tư tưởng mới về giáo dục

DCND và những thiết chế giáo dục và hệ thống tổ chức giáo dục tương ứng

1.2.2 Xác lập tính nguyên tắc, mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo,

phương châm đào tạo của nền giáo dục mới.

- Tính chất của nền giáo dục của dân, do dân ,vì dân

- Nguyên tắc nền giáo dục: dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ lợi ích của nhân dân Việt Nam, đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày

- Mục tiêu đào tạo của nhà trường: giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻthành những người “công dân lao động tương lai” trunng thành với chế độ DCND và có đủ phẩm chât, năng lực phục vụ kháng chiến, nhân dân

Ngày đăng: 20/01/2015, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w