1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC CHO GIÁO VIÊN LỊCH SỬ TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – Đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NINH THỊ HẠNH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG DẠY HỌC
TÍCH CỰC CHO GIÁO VIÊN LỊCH SỬ TỐT NGHIỆP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG THANH TÚ
HÀ NỘI – 2012
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNTT và TT : Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển kỹ năng sử dụng PTCN 21
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng PTCN của GV 26
Bảng 1.3 Kết quả đánh giá mức đạt kỹ năng sử dụng PTCN của GV 32
Bảng 2.1 Kịch bản công nghệ 64
Bảng 2.2 Thống kê kết quả kiểm tra lớp 10A4 và 10A6 (theo nhóm điểm và tỷ lệ %) 83
Bảng 2.3 Thống kê kết quả kiểm tra lớp 10A4 và 10A6 (theo nhóm điểm và tỷ lệ %) 84
Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả khảo sát GV thực nghiệm 87
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Hướng dẫn sử dụng công cụ Google Search tìm kiếm
thông tin 48
Hình 2.2 Trận Cầu Giấy lần thứ nhất (21/12/1873) 49
Hình 2.3 Hướng dẫn chuyển tư liệu lưu trữ từ máy vi tính lên Google Drive 53
Hình 2.4 Tấn công ngục Ba-xti 57
Hình 2.5 Hướng dẫn sử dụng phần mềm Easy Video Splitter 59
Hình 2.6 Hướng dẫn sử dụng phần mềm Proshow Gold viết phụ đề cho đoạn PTL 60
Hình 2.7 Hướng dẫn ghi lời thuyết mình cho bài trình chiếu với sự hỗ trợ của phần mềm Adobe Presenter 67
Hình 2.8 Bài giảng thiết kế với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint và Adobe Presenter 68
Hình 2.9 Bài tập dạng ghép nối được lưu dưới dạng web 75
Hình 2.10 Bài tập dạng sắp xếp sự kiện được lưu dưới dạng web 76
Hình 2.11 Hướng dẫn tạo trò chơi ô chữ 77
Hình 2.12 Ghép các dạng bài tập, câu hỏi khác nhau thành bài tập lớn 78
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 1.1 Kết quả khảo sát ý kiến HS về kỹ năng sử dụng PTCN
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Danh mục bảng iii
Danh mục biểu đồ iv
Mục lục v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC CHO GIÁO VIÊN LỊCH SỬ TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
22 1.1.3 Hệ thống các kỹ năng sử dụng PTCN cần phát triển cho GV Lịch sử nói chung và GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN nói riêng 23
1.1.4 Hệ thống tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng PTCN của GV 26
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Giới thiệu về mục tiêu và chương trình đào tạo ngành sư phạm Lịch sử của trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN 29
1.2.2 Thực trạng kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học của giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục - ĐHQGHN 31
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC CHO GIÁO VIÊN LỊCH SỬ TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI – THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 39
2.1 Một số yêu cầu khi xây dựng biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho giáo viên Lịch sử 39
Trang 72.1.1 Đảm bảo tính khoa học 39
2.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 39
2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 40
2.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 41
2.2 Mục tiêu, nội dung môn Chương trình, phương pháp dạy học Lịch sử 41
2.3 Một số biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho giáo viên Lịch sử 43
2.3.1 Sử dụng công cụ Google Search và Google Drive để khai thác và lưu trữ thông tin 43
2.3.2 Sử dụng các phần mềm đơn giản để hiệu chỉnh tư liệu dạy học 54
2.3.3 Sử dụng phần mềm MS PowerPointvà Adobe Presenter hỗ trợ thiết kế và triển khai bài dạy 61
2.3.4 Sử dụng phần mềm Hot Potatoes thiết kế công cụ hỗ trợ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
71 2.4 Thực nghiệm sư phạm 78
2.4.1 Mục đích thực nghiệm 78
2.4.2 Đối tượng và địa điểm thực nghiệm 79
2.4.3 Nội dung thực nghiệm và tiến hành thực nghiệm 79
2.4.4 Kết quả thực nghiệm 80
Tiểu kết chương 2 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 98
MỞ ĐẦU
Trang 81 Lý do chọn đề tài
Trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, GV không đơn thuần
là người có kiến thức chuyên môn sâu rộng mà còn phải là người có kỹ năng dạy học vững vàng, mới có thể truyền đạt kiến thức, giáo dục tư tưởng, phát triển tư duy
và thực hành cho học sinh HS Khó có thể liệt kê đầy đủ được tất cả các KNDH cần
có của một người GV Tuy vậy, mỗi môn học lại có đặc trưng riêng nên GV bộ môn
có thể xác định được những KNDH cần thiết cho bộ môn của mình Với GV bộ môn Lịch sử, việc phát triển kỹ năng sử dụng PTCN là thực sự cần thiết
Trước hết, do tri thức LS mang tính quá khứ, tính không lặp lại… nên HS không thể trực tiếp quan sát được LS mà chỉ có thể nhận thức chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu truyền lại GV có kỹ năng sử dụng PTCN thành thạo sẽ đem lại cho HS những thông tin LS phong phú, đa dạng, có tính trực quan cao… tăng khả năng tương tác và giúp hoạt động dạy học trở nên linh hoạt, sáng tạo đáp ứng được yêu cầu, năng lực học tập LS của các đối tượng HS khác nhau
Thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt
về khoa học – công nghệ giữa các quốc gia Trong bối cảnh này, quốc gia nào không phát triển được năng lực khoa học – công nghệ của mình thì khó tránh được sự tụt
hậu và chậm phát triển Do vậy, xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, “tiếp cận và
khai thác tiềm năng của CNTT và TT để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy”
được xem là một trong những nhiệm vụ chiến lược của giáo dục nước nhà Phát triển kỹ năng sử dụng PTCN của GV môn Lịch sử cũng là từng bước thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên
Nhận thức rõ vai trò của kỹ năng sử dụng PTCN đối với GV và nắm bắt xu thế thời đại, trong chương trình đào tạo GV Lịch sử của trường Đại học Giáo dục –
ĐHQGHN đã xác định mục tiêu đào tạo đội ngũ GV có“kỹ năng sử dụng một số
phương pháp, công nghệ cơ bản hiện đại để tiến hành các công việc chuyên môn về Lịch sử và dạy học Lịch sử” Trong gần 15 năm phát triển trường ĐH Giáo dục –
ĐHQGHN đã đào tạo được đội ngũ đông đảo GV có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng PTCN
Trang 9Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy ở trường THPT do nhiều lý do khác nhau nên phần lớn GV ít có điều kiện phát triển kỹ năng đã được trang bị từ trường đại học Trong khi, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện nay diễn
ra từng ngày Nó đòi hỏi người GV phải có các kỹ năng mới và không ngừng rèn luyện và phát triển các kỹ năng đã có
Với mong muốn xây dựng một số biện pháp giúp GV Lịch sử (tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN) phát triển kỹ năng sử dụng PTCN trong quá trình dạy học, nghiên cứu này sẽ là cơ sở bước đầu để xây dựng biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN cho GV Lịch sử ở trưởng THPT hiện nay, chúng tôi quyết định
lựa chọn đề tài nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục –
ĐH Quốc gia Hà Nội cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Phát triển kỹ năng sử dụng PTCN hỗ trợ dạy học nói chung và dạy học môn Lịch sử nói riêng là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu trong công tác rèn luyện và phát triển kỹ năng dạy học cho GV và sinh viên sư phạm trước yêu cầu, điều kiện dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay Do đó, vấn đề rèn luyện, phát triển kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Trong các tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài, đáng chú ý là những ý kiến của
tác giả Chris Kyriacou trong cuốn “Essential Teaching Skills” (Các kỹ năng dạy
học cần thiết) (2007) Tác giả đã đưa ra định nghĩa cơ bản về kỹ năng dạy học, ba yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển các kỹ năng và hệ thống các kỹ năng dạy học cần thiết của người GV Trong đó, kỹ năng sử dụng CNTT và TT (Using ICT) được đánh giá là một kỹ năng quan trọng trong quá trình lên kế hoạch và chuẩn bị bài dạy (planning and preparation) của GV với mục đích khuyến khích HS học tập
có kết quả cao hơn
Ngoài ra, trong kết quả của cuộc khảo sát của Sở giáo dục và Đào tạo Tây Úc
về kỹ năng sử dụng CNTT của GV Teacher ICT Skills (Evaluation of the
Information and Communication Technology (ICT) Knowledge and Skills Levels of Western Australian Government School Teachers) cũng đã khẳng định và nhấn
Trang 10mạnh vai trò của kỹ năng sử dụng phương tiện công nghệ trong quá trình dạy học của người giáo viên Đồng thời nghiên cứu cũng đưa ra tám kỹ năng sử dụng ICT thiết yếu: xử lý văn bản; khai thác Internet; chuyển đổi định dạng tập tin; sử dụng thư điện tử; sử dụng PowerPoint; sử dụng Excel; xử lý dữ liệu và quản lý chương trình giảng dạy (Word processing; Internet; File navigation; Email; Presentation packages; Spreadsheets; Databases and Curriculum Manager) và các số liệu nghiên cứu thực tế về việc sử dụng các kỹ năng này của giáo viên Tây ÚC
Ở Việt Nam, đề tài về phát triển kỹ năng sử dụng PTCN cho GV tuy không
phải là mới nhưng các công trình nghiên cứu một cách hệ thống từ cơ sở lý luận đến các biện pháp và quy trình phát triển kỹ năng này chưa thực sự phổ biến Vì nhiều lý
do khác nhau, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu các biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm, các công trình nghiên cứu về việc phát triển kỹ năng dạy học cho GV nói chung và kỹ năng sử dụng PTCN nói riêng còn hạn chế
Thứ nhất sách chuyên khảo về kỹ năng dạy học môn Lịch sử
Cuốn “Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” (2009) do tác giả
Nguyễn Thị Côi (chủ biên), ngoài mục đích nâng cao trình độ nhận thức, khoa học cho người học và đưa ra một số biện pháp, con đường để nâng cao trình độ nghiệp
vụ ở những kỹ năng cho là quan trọng như: nói, viết, vẽ, sử dụng bảng đen… Tác giả cũng đã đề cập đến việc bồi dưỡng một số kỹ năng sử dụng và khai thác phương tiện công nghệ như: khai thác thông tin Internet và sử dụng phần mềm MS PowerPoint trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Mới đây, trong bài viết “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông –
Một hướng tích cực trong đổi mới dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của tác
giả Trần Quốc Tuấn và Đoàn Văn Hưng (trong cuốn Đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học lịch sử ở trường Phổ thông, GS.TS Phan Ngọc Liên (chủ
biên), trang 463 - 478) đã nêu ra biện pháp xây dựng một đoạn phim tư liệu phù hợp với nội dung và mục đích giảng dạy bằng cách sử dụng phần Hero để cắt, nối các đoạn PTL LS có sẵn
Thứ hai là một số đề tài luận án và luận văn có cùng hướng nghiên cứu với
đề tài luận văn của chúng tôi Kết quả nghiên cứu của các công trình này được chúng tôi kế thừa, trên cơ sở có điều chỉnh một số chi tiết cho phù hợp với đối tượng
Trang 11giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN và thực tiễn dạy học Lịch sử hiện nay
Đề tài luận án: “Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên lớp về môn giáo dục học
và quy trình rèn luyện các kỹ năng đó cho sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục”
(1992) của tác giả Nguyễn Như An Đây là công trình nghiên cứu tương đối cơ bản, có hệ thống về vấn đề luyện tập các kỹ năng giảng dạy cho sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục
Đề tài luận án của tác giả Trần Anh Tuấn: “Xây dụng quy trình luyện tập các
kỹ năng giảng dạy cơ bản trong các hình thức thực hành thực tập sư phạm” (1996)
đã đưa ra quy trình luyện tập các kỹ năng giảng dạy cơ bản cho sinh viên trong quá trình thực hành, thực tập sư phạm
Đề tài luận án “Các biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên Cao
đẳng Sư phạm” của tác giả Phan Thanh Long (2003) chỉ rõ cơ sở lý luận về kỹ năng
dạy học và thống các kỹ năng dạy học cần thiết cho sinh viên Trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp thiết thực để rèn luyện hệ thống kỹ năng này
Luận văn sau đại học của tác giả Lê Thị Nhật: “Tìm hiểu năng lực dạy học
của giáo viên tâm lý – giáo dục” (1985) đã bước đầu khái quát năng lực dạy học của
người giáo viên nói chung và giáo viên tâm lý – giáo dục nói riêng Nhưng do yêu cầu và điều kiện nghiên cứu nên đề tài này còn những hạn chế nhất định cả về cơ sở
lý luận và thực tiễn
Gần đây, có nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hương Thủy trong đề tài “Xây
dựng quy trình luyện tập các kỹ năng dạy học cơ bản trong quá trình thực tập sư phạm cho học viên sư phạm nghề “ (2010) Trong đó, tác giả tìm hiểu thực trạng các
kỹ năng dạy học cơ bản, đưa ra một số nguyên tắc thiết kế quy trình luyện tập các
kỹ năng dạy học cơ bản Trên cơ sở đó, đề xuất quy trình luyện tập các kỹ năng dạy học cơ bản trong quá trình thực tập sư phạm cho học viên sư phạm nghề tại trường Cao đẳng nghề Điện cơ Hà Nội
Thứ ba tạp chí, báo cáo nghiên cứu về kỹ năng dạy học lịch sử và kỹ năng sử dụng một số phần mềm cụ thể có nhiều bài viết đề cập Trong bài viết của tác giả
Nguyễn Thị Thế Bình: “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên
khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội” (Tạp chí Giáo dục số 236/2010) đã
Trang 12khái quát chín biện pháp rèn luyện các kỹ năng dạy học cơ bản cho sinh viên khoa Lịch sử như kỹ năng soạn giáo án, kỹ năng diễn đạt viết, kỹ năng xây dựng và sử dụng đồ dùng dạy học
Cụ thể hơn về các định hướng sử dụng máy vi tính hỗ trợ dạy học Lịch sử ở trường THPT như: sử dụng máy vi tính trong việc khai thác nguồn tư liệu; sử dụng máy vi tính làm phương tiện củng cố, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập có bài
viết: “Khả năng hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học lịch sử ở trường trung học
phổ thông” của tác giả Lê Thị Thu Hà (Tạp chí Giáo dục số 108/ 2005) Tuy nhiên
dung lượng trang viết có hạn nên nội dung mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát
Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tác giả đều đã đặt vấn đề và chú trọng đến việc phát triển kỹ năng dạy nói chung và kỹ năng sử dụng PTCN nói riêng Song các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy việc phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho GV môn Lịch sử còn nhiều vấn đề cụ thể chưa được giải quyết
Các công trình kể trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá để chúng tôi nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN cho GV Lịch
sử tốt nghiệp trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình phát triển kỹ năng sử dụng PTCN của GV Lịch sử nói chung và
GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN nói riêng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề xuất biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng phương tiện công nghệ cho
GV Lịch sử tốt nghiệp Đại học Giáo dục – ĐHQGHN mà cụ thể là kỹ năng sử dụng các phần mềm tin học phổ biến hỗ trợ dạy học: MS PowerPoint, Adobe Presenter, Proshow Gold, Easy Video Splitter, Paint, Hot Potatoes… và Internet
- Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm: tiến hành với 35 giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN từ khóa QH – 2003 -
S (2003– 2007) đến khóa QH – 2008 - S (2008 – 2012)
Trang 134 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của kỹ năng sử dụng PTCN, chúng tôi
đề xuất hệ thống kỹ năng sử dụng PTCN cần rèn luyện cho GV môn Lịch sử nói chung, GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN nói riêng và một số biện pháp để phát triển các kỹ năng sử dụng PTCN trong quá trình DH Lịch sử ở trường THPT theo hướng dạy học tích cực
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng một số biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN
- Xây dựng nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển kỹ năng sử dụng PTCN
- Đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN
- Thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường
ĐH Giáo dục – ĐHQGHN
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Đọc, sưu tầm và phân tích những tài liệu từ sách báo,
tạp chí, Internet… về lý luận phương pháp dạy học, kỹ năng dạy học, đặc biệt là lý luận về kỹ năng sử dụng PTCN
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: Dự giờ để thu thập thông tin, đánh giá kỹ năng sử dụng PTCN của GV Lịch sử ở trường THPT
Trang 14+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Tìm hiểu thực trạng sử dụng PTCN, kỹ năng sử dụng PTCN của GV Lịch sử ở trường THPT
+ Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm các biện pháp phát triển kỹ năng
sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực cho GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN
+ Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, thống kê, phân tích số liệu thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp do đề tài đưa ra
6 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu GV quan tâm đến việc sử dụng PTCN theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh sẽ tạo nên hiệu quả bài học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch
sử ở trường THPT Các biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng dạy học tích cực được đề xuất trong đề tài có ý nghĩa với GV môn Lịch sử nói chung và
GV Lịch sử tốt nghiệp ĐH Giáo dục – ĐHQGHN nói riêng
7 Đóng góp của đề tài
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng DHTC cho GV Lịch sử tốt nghiệp trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN nói riêng và GV Lịch sử ở trường THPT nói chung
- Đánh giá được thực trạng kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học của giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội
- Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng DHTC cho GV Lịch sử tốt nghiệp trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Làm phong phú thêm lý luận PPDHLS nói chung và vấn
đề phát triển kỹ năng sử dụng PTCN theo hướng DHTC cho GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm ngành Lịch
sử, cho GV ở trường THPT nói chung, GV môn Lịch sử tốt nghiệp trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội nói riêng, cũng như bản thân tác giả luận văn vận dụng trong quá trình giảng dạy môn PPDHLS
Trang 159 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển kỹ năng sử dụng phương tiện công nghệ theo hướng dạy học tích cực cho giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 2: Một số biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng phương tiện công nghệ theo hướng dạy học tích cực cho giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - Thực nghiệm sư phạm
Trang 16
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
KỸ NĂNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC CHO GIÁO VIÊN LỊCH SỬ TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Phương tiện công nghệ
* Khái niệm
Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão, nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật mới, nhiều ngành nghề mới đang hình thành và phát triển rất nhanh Điều này đòi hỏi phải có đổi mới về mục tiêu và phương pháp đào tạo, cũng như cải cách về nội dung và hình thức đào tạo Từ đó, khái niệm
“công nghệ dạy học” đã xuất hiện và đều được hiểu cùng một ý nghĩa với từ tiếng Anh được dùng phổ biến nhất hiện nay: Technology of teaching
Trong gần bốn thập kỷ qua, vấn đề “công nghệ dạy học” đã thu hút được sự quan tâm rộng lớn của các nhà giáo dục, sư phạm trên khắp thế giới, song vẫn chưa
có những kiến giải thống nhất về ranh giới nội hàm giữa các thuật ngữ "công nghệ
giáo dục", "công nghệ đào tạo", "công nghệ dạy học", "công nghệ sư phạm"
Tuy còn nhiều ý kiến trái chiều nhau về khái niệm công nghệ dạy học nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất ba cách hiểu cơ bản về bản chất của công nghệ dạy học [9, tr 24 -31]
Thứ nhất đó là một quá trình "công nghệ hoá" dạy học
Bản chất “công nghệ” trong quá trình dạy học được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Công nghệ dạy học ở đây được hiểu như một quá trình cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho một đơn vị kiến thức, sự tương tác khoa học giữa người dạy
và người học và sự đảm bảo một môi trường học tập thuận lợi
Tóm lại, “công nghệ hoá” quá trình dạy học đã mô phỏng lại nguyên lý cơ bản của công nghệ sản xuất công nghiệp: phân giải quá trình sản xuất thành các
Trang 17chuỗi, công đoạn, tuân thủ nguyên tắc thứ tự, logic hoạt động, đảm bảo kiểm soát được sản phẩm đầu ra
Thứ hai đó là sản phẩm (kết quả) được "đóng gói" để chuyển giao
Trên thực tế, quá trình "công nghệ hoá” dạy học được thể hiện rất rõ trong những nỗ lực xác lập và triển khai hiệu quả các mô hình dạy học, phương pháp, kỹ thuật dạy học cụ thể nhằm đáp ứng các mục tiêu dạy học Các mô hình, cách thức,
kỹ thuật, qui trình dạy học này đã được nghiên cứu, thử nghiệm để cho ra những kết quả tương đương trong những điều kiện cụ thể, đã được "đóng gói" để sử dụng Việc áp dụng triệt để các mô hình, phương pháp dạy học cụ thể này sẽ giúp đảm bảo đạt được mục tiêu dạy học đề ra
Thứ ba, công nghệ dạy học được hiểu là việc tích hợp các yếu tố, sản phẩm công nghệ vào quá trình dạy học
Đó là việc sử dụng, tích hợp các phương tiện, sản phẩm công nghệ vào trong các quá trình dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, trong và ngoài lớp học Đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học được coi là
có ảnh hưởng mạnh mẽ và sáng giá nhất Các nhà giáo dục, sư phạm coi công nghệ dạy học (theo cách hiểu trên) là cuộc cách mạng thứ tư trong giáo dục sau sự ra đời của nhà trường, chữ viết, in ấn và sách
Công nghệ dạy học và PPDH có mối liên hệ qua lại mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau Nếu như PPDH được coi là cách chiếm lĩnh mục tiêu dạy học thì công nghệ dạy học lại đảm bảo cho cách đó được thực hiện hiệu quả Do vậy, đổi mới PPDH nói chung và PPDHLS nói riêng trong giai đoạn hiện nay nhất thiết phải có
sự tích hợp công nghệ
Theo đó, có thể khẳng định: PTCN là tập hợp các công cụ, thiết bị, vật liệu, sản phẩm công nghệ được sử dụng theo những quy trình chặt chẽ hướng đến những mục tiêu dạy học nhất định
Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại góp phần nâng cao tính tích cực trong DH Một công cụ điển hình hiện nay là máy tính với các chức năng vượt trội sẽ làm thay đổi môi trường học tập, vai trò và vị trí của người dạy và người học trong từng công đoạn của quá trình dạy học: công cụ mô phỏng các hiện tượng, thí nghiệm không cho phép quan sát được trên thực tế, công cụ lưu giữ thông tin, công
Trang 18cụ chuẩn bị bài giảng… Ngoài ra, còn rất nhiều phần mềm tin học đơn giản, phổ biến và các thiết bị kỹ thuật hiện đại đều là những PTCN hỗ trợ tích cực cho quá trình DH
Trong dạy học LS, việc sử dụng phương tiện công nghệ mà cụ thể là của máy tính, các phần mềm tin học: MS PowerPoint, Proshow Gold, Paint, Photozoom, Easy Video Splitter, Hot Potatoes… và bộ công cụ hỗ trợ tìm kiến thông tin trên Internet cũng chính là một trong những biện pháp nâng cao tính tích cực của người dạy và người học LS
* Phân loại
Ở trường THPT hiện nay, bên cạnh cơ sở vật chất, phương tiện truyền thống phục vụ cho việc giảng dạy môn học LS như: phòng bộ môn Lịch sử, toàn bộ đồ dùng giảng dạy và học tập trực quan như: bản đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, các thiết bị nghe – nhìn, các tài liệu để cung cấp những tri thức cơ bản cho GV và HS như sách giáo khoa, các sách tham khảo Lịch sử, có không ít PTCN được sử dụng như: máy chiếu (projector); máy vi tính; các thiết bị, phần mềm tin học… Để nâng cao hiệu quả và thuận lợi trong quá trình sử dụng PTCN trong DH, cần chú ý đến việc phân loại PTCN Có nhiều cách phân loại PTCN khác nhau, dựa vào mục đích
sử dụng trong DH Lịch sử có thể chia thành 4 loại:
PTCN hỗ trợ tìm kiếm và lưu trữ thông tin
Chính thức ra đời năm 1986, đến nay với khả năng kết nối mở, Internet đã trở thành một mạng kết nối lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng Trên Internet, thông tin được lưu trữ và biểu diễn dưới nhiều dạng khác nhau, được cập nhật liên tục từ tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Việc sử dụng Internet trong học tập và giảng dạy đã được nhiều nước trên thế giới tiến hành rất hiệu quả
GV có thể truy cập các trang web để đọc tài liệu hay tìm kiếm tư liệu phục vụ bài giảng của mình Nhưng điều quan trọng là GV phải có kỹ năng tìm kiếm và chọn lọc trong vô số những tư liệu ấy để chọn tư liệu tốt nhất phù hợp với mục đích dạy học của mình Sử dụng sự hỗ trợ của PTCN với bộ công cụ tìm kiếm thông tin trên Internet như: Wolfram alpha; Google Search; Yahoo Search; Bing; Amazon… Trong đó, Google Search hiện đang là công cụ hữu ích và được sử dụng rộng rãi nhất
Trang 19Google Search là công cụ tìm kiếm nổi tiếng Google Search liên kết với
hàng tỷ trang web, vì thế người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin mà họ muốn thông qua các từ khóa và thuật toán đơn giản Chỉ với từ khóa đơn giản, GV có thể tìm được trên Google rất nhiều thông tin liên quan đến từ khóa đó ở nhiều định dạng khác nhau như: văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim tư liệu… Bên cạnh đó, Google Search cũng tận dụng công nghệ tìm kiếm của mình vào nhiều dịch vụ tìm kiếm khác, bao gồm: Image Search (tìm kiếm ảnh), Google News (tìm kiếm tin tức), Google Translate (Dịch)…
Sau khi tìm kiếm, lựa chọn được thông tin thì việc tổ chức, sắp xếp và lưu trữ nguồn thông tin cũng rất quan trọng Nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khai thác, sử dụng thông tin sau này Hiện nay, ngoài việc lưu trữ bằng cách tải tài liệu xuống (download) máy tính, GV còn có thể sử dụng những phương thức lưu trữ thông tin linh hoạt, tiện dụng và sắp xếp chúng một cách khoa học, hợp lý dựa vào
sự hỗ trợ của bộ công cụ lưu trữ dữ liệu trên các trang web trực tuyến: Google Drive, Mediafire, 4shared, Gmail
Google Drive là công cụ giúp lưu trữ thông tin mới được đưa vào sử dụng
nhưng nó đã thể hiện sự tiện dụng và linh hoạt vượt trội của mình Google Drive có tính năng cho phép tạo các thư mục có khả năng đồng bộ tự động với tất cả các file liên quan đến tài khoản Google của người dùng Theo cách này, việc tìm kiếm tài liệu cũng sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều
Google Drive có khả năng đồng bộ dữ liệu ổn định, nhanh chóng Người dùng chỉ cần đưa các tập tin cần lưu trữ vào thư mục do ứng dụng Google Drive tạo
ra trên máy tính là xong Người dùng cũng có thể chọn cài đặt và chỉ định thư mục bất kỳ làm thư mục đồng bộ Google Drive giúp lưu trữ thông tin một cách an toàn
và truy cập bất cứ nơi nào (đặc biệt là trong khi bạn di chuyển Người dùng có thể truy cập vào dữ liệu từ bất cứ nơi nào trên web, tại nhà, tại lớp học Có thể cài đặt Google Drive trên máy tính và có thể tải về ứng dụng Google Drive cho điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng
PTCN hỗ trợ hiệu chỉnh tư liệu dạy học
Nguồn tài liệu tìm kiếm được không phải bao giờ cũng phù hợp hoàn toàn với mục tiêu bài học và mục đích sử dụng của GV Do vậy, GV gặp những khó
Trang 20khăn nhất định khi sử dụng những tư liệu này trong quá trình dạy học Với sự hỗ trợ của PTCN, GV có thể hiệu chỉnh những phần nhất định trong tư liệu để phù hợp với mục đích sử dụng của mình
Đối với tư liệu hình ảnh, GV có thể sử dụng phần mềm Paint để chỉnh sửa những hình ảnh chưa được ưng ý về kích cỡ, màu sắc, viết thêm phụ đề hoặc xóa phụ đề minh họa cho ảnh tư liệu Với những hình ảnh có độ phân giải thấp và kích thước nhỏ để có chất lượng tốt hơn GV cũng có thể sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm Photozoom
Đối với các đoạn phim hay tập tin (file) âm thanh quá dài so với thời gian
GV muốn sử dụng, GV có thể sử dụng phần mềm cắt bớt (ví dụ phần mềm Easy Video Splitter) để sử dụng những đoạn video để đảm bảo đúng nội dung và thời lượng của bài giảng Ngoài ra, GV có thể chuyển tranh ảnh đơn lẻ thành một đoạn trình diễn ảnh như một đoạn phim với hình ảnh minh hoạ sinh động, hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của HS, nhất là là các tiết học như: Sinh học, Địa lí, Giáo dục công dân, hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoại khoá và đặc biệt là Lịch sử
Phần mềm Paint
Paint là phần mềm ứng dụng dùng để vẽ và chỉnh sửa hình ảnh, luôn có trong
hệ điều hành Microsoft Windows Tuy chức năng không phong phú bằng những phần mềm đồ họa chuyên nghiệp nhưng nó vẫn được sử dụng nhiều vì cách sử dụng đơn giản và nhanh chóng, không đòi hỏi người dùng có khả năng tin học cao Phần mềm Paint có thể chạy trên máy vi tính cấu hình thấp
Trong quá trình hiệu chỉnh tư liệu, phần mềm Paint sẽ giúp GV có được những hình ảnh như ý muốn, phục vụ nội dung bài học với các chức năng cơ bản: chụp ảnh màn hình máy tính, cắt ảnh (Crop), thay đổi kích cỡ (Resize), xoay chiều ảnh (Rotate), chèn chữ (Add text), xóa các phần phụ đề không mong muốn trên ảnh (Eraser)
Phần mềm Easy Video Splitter
Phần mềm Easy Video Splitter có thể giúp chia nhỏ các tập tin lớn với nhiều định dạng khác nhau như: AVI/DIVX, MPEG (MPG) và WMV/ASF thành những
Trang 21tập tin nhỏ hơn theo ý muốn với tốc độ hoạt động nhanh và chất lượng hình ảnh sắc nét Phần mềm còn cung cấp tính năng xem trước (Preview) để người dùng dễ dàng chọn đoạn phim muốn cắt Giao diện đơn giản dễ sử dụng với những thao tác cơ bản trên thanh công cụ
Phần mềm Proshow Gold
Proshow Gold là giải pháp hoàn chỉnh về sử dụng các video clip hay các định dạng ảnh số để tạo ra một dạng slide show có khả năng trình diễn “liên khúc” các đoạn phim kết hợp với tập tin nhạc số làm âm thanh nền và âm thanh ghi âm có tác dụng hỗ trợ thuyết trình
Proshow Gold làm cho những bức ảnh “tĩnh” trở thành sống động bằng cách thêm vào những hiệu ứng chuyển động giống như phóng đại và xoay Chọn từ những hiệu ứng chuyển tiếp với hơn 280 hiệu ứng để thêm phụ đề vào một bức ảnh hay đoạn phim Với Proshow Gold, mọi việc đều dễ dàng để xây dựng PTL từ những hình ảnh “tĩnh” Ngoài ra có thể điều chỉnh thời gian cho mỗi sự chuyển tiếp giữa các hình ảnh và có thể thêm một số không giới hạn vào phụ đề để làm nổi bật những hình ảnh trình diễn mà chúng ta đã lựa chọn, thiết lập phụ đề với bất kì kích thước, kiểu dáng và màu sắc
Tất cả những tính năng cơ bản trên cho phép người sử dụng xây dựng các đoạn PTL sống động một cách dễ dàng mà không đòi hỏi cao về trình độ tin học
PTCN hỗ trợ thiết kế và triển khai bài dạy
Hiện nay, có nhiều PTCN hỗ trợ tích cực cho việc thiết kế và triển khai bài dạy như: Violet; Camtasia Studio, FrontPage, Publisher… nhưng việc ứng dụng phần mềm MS PowerPoint lại được đa số GV lựa chọn vì sự đơn giản, dễ sử dụng
và thu được nhiều kết quả khả quan
Thiết kế bài dạy sử dụng mềm MS PowerPoint cho phép GV có thể tích hợp
đa dạng các đối tượng, chèn các hiệu ứng giúp cho quá trình trình diễn nội dung sinh động, đáp ứng ý tưởng sư phạm trong DH Ngoài ra, phần mềm MS PowerPoint còn giúp GV có thể sắp xếp, trình bày, và mô tả được sự vận động logic tiềm ẩn của nội dung kiến thức nhờ các hiệu ứng (Effect) hoặc các sơ đồ thông minh (SmartArt) Khả năng tích hợp đa phương tiện (Multimedia) và khả năng tạo các siêu liên kết mở rộng tài nguyên (Hyperlink) làm cho bài giảng của GV trở nên
Trang 22sinh động, trực quan, thu hút được sự chú ý của HS, thể hiện được ý tưởng bài dạy của GV
Thay vì triển khai bài dạy với phấn trắng, bảng đen truyền thống, việc sử dụng phần mềm MS PowerPoint trong trình chiếu cùng với máy chiếu (projecter), màn chiếu sẽ giúp bài giảng được thực hiện sinh động, gây hứng thú và phát huy tính tích cực của cả GV và HS Với các PTCN này, những hình ảnh “tĩnh”, các câu hỏi, đáp án, tóm tắt kiến thức bài học sẽ trực quan hơn vì kích thước màn hình lớn
và phần mềm MS PowerPoint cung cấp thêm những hiệu ứng trình chiếu sinh động HS có thể tham gia các hoạt động học tập trực tiếp trên các phương tiện này
và GV cũng có thể đưa ra đáp án phản hồi trực tiếp HS sẽ tích cực tham gia bài học, GV sẽ bớt được các thao tác giản đơn như trình bày bằng lời, ghi bảng và sử dụng các thiết bị DH truyền thống mà vẫn đảm bảo việc cung cấp thông tin, đồng thời giúp GV và HS loại bỏ nhiều thời gian chết trong giờ lên lớp, dành nhiều thời gian cho việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS
Tác giả Phan Ngọc Liên (2003) đã khẳng định: “Việc sử dụng các phương
tiện kỹ thuật không hạ thấp vai trò của người thầy giáo mà vẫn tăng hiệu quả bài học ở các mặt thu nhận thông tin, tư duy, ghi nhớ và vận dụng kiến thức [21, tr 62 – 63]
Vì vậy, khi sử dụng các PTCN hỗ trợ trình chiếu, GV vẫn là người làm chủ bài giảng, có sự mở rộng liên hệ kiến thức một cách phong phú, đa dạng chứ không phải chuyển từ hình thức “đọc chép” sang “chiếu chép”
Phần mềm MS PowerPoint 2007
MS PowerPoint là một công cụ trình diễn đa năng cho phép tích hợp đa dạng các đối tượng, chèn các hiệu ứng giúp cho quá trình trình diễn nội dung sinh
động, đáp ứng ý đồ sư phạm trong DH Cụ thể, công cụ này cho phép: - Trình bày,
mô tả được sự vận động logic tiềm ẩn của nội dung kiến thức (nhờ các hiệu ứng - Effect); trình bày thông tin theo thứ bậc, hệ hình logic; tích hợp Multimedia; tạo các siêu liên kết mở rộng tài nguyên (Hyperlink); nhúng các liên kết tài nguyên mở rộng; đóng gói, lưu giữ và chia sẻ thông tin tiện dụng Là phần mềm có tính chuyên
nghiệp cao, MS PowerPoint giúp GV diễn đạt các ý tuởng cần trình bày không chỉ bằng lời văn mà còn thể hiện qua hình ảnh tĩnh và động cùng vài âm thanh, các đoạn phim một cách sinh động Vì thế nó là một công cụ hỗ trợ giảng dạy rất tốt trong trường học
Trang 23 PTCN hỗ trợ thiết kế công cụ hỗ trợ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đánh giá kết quả học tập là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập không chỉ nhằm mục đích đánh giá kết quả quá trình học tập của HS mà còn là nguồn thông tin phản hồi giúp GV nắm bắt được chất lượng, phương pháp của việc giảng dạy để từ đó có những điều chỉnh thích hợp cho công tác giảng dạy của mình Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học
có mối quan hệ chặt chẽ với việc giảng dạy của người thầy
Tuy nhiên, làm thế nào để việc kiểm tra đánh giá phản ánh trung thực, chính xác khả năng của HS và là động lực để HS tiếp tục học tập Sử dụng PTCN mà cụ thể là các phần mềm hỗ trợ KTĐG kết quả học tập trên lớp như: Hot Potatoes hay Qedoc Quiz Maker với các chức năng thông minh, sinh động tăng khả năng tương tác và tạo hứng thú và lôi cuốn được HS
Phần mềm Hot Potatoes (phiên bản 6.0)
Hot Potatoes (phiên bản 6.0) là một chương trình để tạo các ứng dụng learning Phần mềm hỗ trợ việc tạo các bài tập trắc nghiệm điện tử đa dạng, sinh động Sau đó có thể xuất thành định dạng web (.htm) và các Môđun để đưa lên web thực hiện việc kiểm tra trực tuyến trên Internet Phần mềm có khống chế thời gian trả lời và cho điểm tương ứng, vì vậy GV có thể sử dụng để kiểm tra ngay trong giờ dạy tăng khả năng tương tác và tạo hứng thú và lôi cuốn được HS tham gia hoạt động học tập Phần mềm Hot Potaoes có các chức năng cơ bản sau:
E-+ JQuiz: Dùng tạo các bài tập hỗ trợ bốn loại câu hỏi "nhiều lựa chọn", "câu hỏi trả lời ngắn", "câu hỏi điền khuyết" và "câu hỏi nhiều câu trả lời"
+ JCloze: Gồm các bài tập điền vào chỗ trống
+ JCross: Tạo bài tập dạng trò chơi ô chữ Crosswords
+ JMix: Tạo các câu hỏi sắp xếp các từ / cụm từ lộn xộn thành một câu / đoạn hoàn chỉnh theo yêu cầu
+ JMatch: Tạo bài tập gồm các câu hỏi kiểu so khớp hay sắp xếp các câu trả lời tương ứng với các câu hỏi
+ The Masher: Công cụ để quản lý khi có số lượng lớn các bài thi và câu hỏi
Trang 24Trên thực tế, để có một giờ dạy sử dụng PTCN thành công, tức là đạt được các mục tiêu của bài học, GV cần biết kết hợp, sử dụng linh hoạt các loại PTCN khác nhau bởi sự phân loại chỉ mang tính tương đối và với chức năng riêng, các PTCN đều là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho GV trong quá trình dạy học
1.1.1.2 Khái niệm kỹ năng sử dụng PTCN
“Kỹ năng” là khái niệm được nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước quan tâm, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm này
Thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật thao tác của hành động
Người có kỹ năng về hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động
và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả
của hành động Khuynh hướng này có các tác giả như: V A Kruchexki, A G Côvaliôp, Trần Trọng Thủy…
Thứ hai, coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn
là một biểu hiện của năng lực con người Khuynh hướng này chú ý đến kết quả của hành động, khẳng định kỹ năng được xem như một thành tố quan trọng để thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết và một thời gian tương ứng trong điều kiện cụ thể Kỹ năng trong quan niệm này vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, vừa có tính mục đích Đại diện cho khuynh hướng này có các tác giả:
N Đ Lêvitôp, X.I.Kixêgôp, Nguyễn Quan Uẩn, Phạm Viết Vượng… Tác giả Nguyễn Thị Côi trong một cuốn sách chuyên khảo về kỹ năng nghiệp vụ sư phạm
môn Lịch sử cũng đã khẳng định: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành
động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [6, tr 15]
Như vậy, thực chất hai quan niệm trên không mâu thuẫn với nhau Sự khác nhau giữa hai khuynh hướng chủ yếu ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng mà thôi Khuynh hướng thứ nhất chỉ thừa nhận sự tồn tại loại kỹ năng mang tính thao tác kỹ thuật của hành động, chúng là cơ sở của việc hình thành
kỹ xảo Khuynh hướng thứ hai thừa nhận sự tồn tại của loại kỹ năng được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo, loại kỹ năng mang tính năng lực là chủ yếu
“Kỹ xảo là loại hành động được tự động hóa nhờ luyện tập Nó có đặc điểm: không có sự kiểm soát thường xuyên của ý thức, động tác mang tính khái
Trang 25quát, không có động tác thừa, kết quả cao mà ít tốn năng lượng thần kinh và bắp thịt” [12, tr 225] Kỹ năng và kỹ xảo đều là cách thức của hành động, là thành phần
không thể thiếu của hành động, song giữa chúng có những khác biệt cơ bản Sự khác nhau giữa chúng được đặc trưng bởi mức độ thuần thục, tự động hóa So với
kỹ năng, kỹ xảo thuần thục hơn, tự động hóa hơn và được giải phóng khỏi sự kiểm soát của ý thức
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu
của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả Năng lực có tính
tổng hợp, khái quát Kỹ năng có tính cụ thể, riêng lẻ Năng lực bộc lộ trong hoạt động và gắn liền với một số kỹ năng tương ứng Kỹ năng và năng lực đều là sản phẩm của quá trình giáo dục, rèn luyện (bao gồm cả sự tự giáo dục, tự rèn luyện)
Kỹ năng đạt mức thành thạo thì thành kỹ xảo, năng lực đạt mức cao được xem là tinh thông nghề nghiệp Năng lực chứa đựng những yếu tố tiềm năng, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong lĩnh vực hoạt động rộng hơn
Tóm lại, khái niệm “kỹ năng” có thể được hiểu là khả năng vận dụng kiến
thức… và kỹ xảo đã có xác lập một hệ thống hành động, thao tác phù hợp với mục đích hoạt động, điều kiện, phương tiện cụ thể và thực hiện được hệ thống hành động, thao tác đó để giải quyết được nhiệm vụ đặt ra
Dạy học LS là một hoạt động mang tính đặc thù, một quá trình sư phạm phức tạp Khác với các bộ môn khác, tri thức LS có những đặc trưng đó là: tính quá khứ, tính không lặp lại, sự thống nhất giữa “sử” và “luận”… Vì vậy, vấn đề khó của bộ môn Lịch sử là tái hiện những sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử sao cho HS có những hình dung sinh động về quá khứ, cụ thể hóa các sự kiện, khắc phục tình trạng
“hiện đại hóa” LS, đồng thời phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy
và ngôn ngữ của HS làm cho các em có cảm giác như đang sống cùng với sự kiện
LS Với xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông hiện nay để làm được điều này, cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố của quá trình dạy học, trong đó không thể thiếu vai trò của PTCN
Trong dạy học LS, GV vận dụng những hiểu biết và kỹ xảo đã có của mình
về PTCN để hỗ trợ quá trình chuẩn bị, thiết kế và triển khai bài giảng sao cho việc
Trang 26tái hiện LS càng chính xác, chân thực bao nhiêu thì càng giúp cho việc nhận thức
LS dễ dàng bấy nhiêu Sử dụng PTCN hỗ trợ quá trình dạy học được coi là một trong những phương pháp giúp HS có thể nhận thức LS một cách dễ dàng nhất Qua đó năng lực chuyên môn của GV được nâng cao GV có thể khai thác, cung cấp khối lượng thông tin kiến thức phong phú cho HS góp phần làm sinh động giờ học Nó cũng giúp GV tiến gần tới PPDH tiên tiến trên thế giới Sử dụng linh hoạt PTCN kết hợp với PPDH phù hợp sẽ góp phần giảm bớt sự vất vả cơ học của GV trên bục giảng
Từ đó, có thể khẳng định: Kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học của GV được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có về PTCN để thực hiện được các hành động, thao tác với PTCN phù hợp với điều kiện nhất định nhằm đạt được mục tiêu dạy học đặt ra
Khi bàn về kỹ năng sử dụng PTCN cần lưu ý một số điểm sau:
- Kỹ năng sử dụng PTCN trong DH nói chung và DH Lịch sử nói riêng là
loại kỹ năng mang tính năng lực
- Thành phần của kỹ năng sử dụng PTCN bao gồm: tri thức về PTCN, kinh nghiệm sử dụng PTCN và kết quả của việc sử dụng PTCN
- Tiêu chuẩn để xác định mức độ phát triển của kỹ năng sử dụng PTCN là: tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịp nhàng các động tác trong quá trình sử dụng PTCN
1.1.1.3 Khái niệm phát triển
Khái niệm “phát triển” có nhiều cách định nghĩa, xuất phát từ những cấp độ xem xét khác nhau Ở cấp độ chung nhất, “phát triển” được hiểu là [18, tr 17]:
- Quá trình chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn thiện hơn, chuyển từ trạng thái chất lượng cũ đến tình trạng chất lượng mới, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao
- Phát triển là quá trình tăng trưởng hay lớn lên tự nhiên, phân hóa hoặc tiến hóa tự nhiên với những thay đổi liên tục, kế tiếp nhau
- Phát triển là sự tăng trưởng, mở rộng, tiến hóa một cách từ từ hoặc là kết quả của những nguyên nhân
Trang 27Ngoài ra, phát triển còn có nghĩa là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp [33, tr 769]
Như vậy, khái niệm “phát triển” có thể được hiểu theo hướng cải thiện tình trạng chất lượng từ cũ sang tình trạng chất lượng mới cho những đối tượng cần được phát triển, giúp họ nâng cao nhận thức và kỹ năng hoạt động trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã có để bổ sung, hoàn thiện, phát triển năng lực và kỹ năng hoạt động theo yêu cầu cần đạt
Sự phát triển của kỹ năng nói chung, kỹ năng sử dụng PTCN nói riêng được hiểu theo hai khía cạnh Thứ nhất, sự phát triển là quá trình tăng dần về số lượng các
kỹ năng, trên cơ sở các kỹ năng đã có sẽ hình thành và phát triển thêm các kỹ năng
sử dụng PTCN mới Thứ hai, sự phát triển là quá trình thay đổi về chất lượng các kỹ năng, tức là trên cơ sở các kỹ năng đã được hình thành (GV biết hoặc có các kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng) sẽ phát triển lên mức độ cao hơn (sử dụng thành thạo) Các biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN được đề xuất trong đề tài chủ yếu hướng đến việc nâng cao chất lượng các kỹ năng sử dụng PTCN đã có của GV Lịch sử tốt nghiệp ĐH Giáo dục – ĐHQGHN
Theo tác giả Nguyễn Thị Côi, để hình thành một kỹ năng cần trải qua ba giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất, nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện
hành động, đồng thời phải nắm vững cách thức tiến hành các thao tác thực hiện hành động Việc lĩnh hội này, GV có được qua quá trình học tập tại trường Đại học Tuy nhiên, việc hiểu biết kiến thức ở giai đoạn này chủ yếu là tiếp nhận lý thuyết chứ chưa có nhiều cơ hội thực hành, vì vậy có thể nói kỹ năng chưa được hình thành đầy đủ Nhưng nếu không có những tri thức này thì GV vừa khó hoàn thành công việc, vừa mất nhiều thời gian
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn quan sát mẫu và làm thử theo mẫu Công việc
này sẽ giúp GV thấy được khả năng vận dụng tri thức vào hoạt động, xem hành động có ưu, nhược điểm cần phát huy hoặc sửa chữa và có tác dụng củng cố vốn tri thức đã có Ở giai đoạn này, việc làm thử ngắn hay dài là tùy thuộc vào năng lực của mỗi người
Trang 28Giai đoạn thứ ba là giai đoạn luyện tập Sau khi đã làm thử để nắm chắc cách
làm, người học phải tiến hành luyện tập Ở giai đoạn này, các thao tác, các bước thực hiện hành động dần được chính xác hơn Đồng thời các tri thức và cách thức hành động được ôn luyện làm cho GV nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói
kỹ năng đã được hình thành, song chưa hoàn toàn ổn định Kỹ năng thực sự ổn định khi trong điều kiện khác GV vẫn thực hiện hành động hiệu quả
Các biện pháp được đề xuất trong đề tài mặc dù không tập trung vào việc hình thành kỹ năng nhưng để phát triển kỹ năng sử dụng PTCN cho GV môn Lịch
sử tốt nghiệp trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN cũng cần tuân theo các giai đoạn chung về hình thành kỹ năng như trên đồng thời, phát triển các kỹ năng đặc trưng như: kỹ năng tìm kiếm, lưu trữ thông tin; kỹ năng hiệu chỉnh tư liệu; kỹ năng thiết kế và triển khai bài giảng; kỹ năng xây dựng bộ công cụ hỗ trợ KTĐG kết quả học tập của HS… Có thể khái quát sự phát triển của kỹ năng sử dụng PTCN qua ba giai đoạn cụ thể, được mô tả trong bảng dưới đây:
Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển kỹ năng sử dụng PTCN
- Có hiểu biết về các phương thức sử dụng PTCN
- Hình thành được thao tác sử dụng PTCN chuẩn xác nhưng còn mang tính riêng lẻ, chưa hệ thống và không theo quy trình cụ thể
3 Giai đoạn thứ ba:
Trang 29đó quan trọng là sự trách nhiệm và thái độ nghiêm túc của GV trong quá trình rèn
luyện và phát triển kỹ năng
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Đổi mới PPDH là một trong những mục tiêu lớn được ngành giáo dục và đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và là một mục tiêu chính đã được khẳng định
trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020” của Chính phủ ban hành ngày 13/06/2012: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học… , rèn luyện theo hướng phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học, đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% giáo viên giáo dục nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học…” [40] Song đổi mới như thế nào? Và cụ thể phải làm
những gì?
Dưới đây là một số định hướng cụ thể nhằm thực hiện được mục tiêu lớn của ngành giáo dục – đào tạo là đổi mới PPDH Xây dựng các biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng PTCN cho GV trong DHLS cần phù hợp với các định hướng đó
Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức Đó là quá trình DH trong đó người GV
đóng vai trò hướng dẫn, định hướng còn HS là người chủ động trong quá trình học tập dưới sự hướng dẫn của GV Trong DHLS có sử dụng PTCN, HS dưới sự hướng dẫn của GV kết hợp với SGK sẽ nắm vững nội dung kiến thức của bài học Không những thế, GV có thể hướng dẫn cách thức sử dụng PTCN để HS có thể làm quen với việc tự học, tự tìm kiếm và lĩnh hội kiến thức phát huy tính chủ động của bản thân trong quá trình học tập, phát triển các kỹ năng làm việc theo nhóm
Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các PPDH khác nhau sao cho vừa đạt mục tiêu DH vừa phù hợp với đối tượng và điều
kiện thực tiễn của cơ sở Thực tiễn đã chứng minh không phải cứ phương pháp cũ là lạc hậu và phương pháp mới thì mới hoàn hảo Không có phương pháp nào tồn tại
mà không có ý nghĩa Vì thế, về bản chất đổi mới PPDH là đổi mới cách thức tiến hành phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và
Trang 30vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới Do đặc thù của môn LS nên việc sử dụng PTCN kết hợp với phương pháp dùng lời… trong DH có ý nghĩa giúp HS trực quan dễ dàng và tạo nên sự húng thú trong học tập, giúp người học phát triển đa trí tuệ của họ Ở hầu hết các trường THPT hiện nay đều được trang bị các phương tiện dạy học hiện đại Đây là điều kiện thuận lợi để GV áp dụng phương pháp này
Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành Trong DHLS
cũng cần rèn luyện các kỹ năng thực hành cho HS: kỹ năng vẽ, đọc bản đồ, kỹ năng
tự làm các đồ dùng trực quan cho môn học GV sử dụng PTCN trong quá trình dạy học sẽ đáp ứng được những yêu cầu của định hướng này
Đổi mới PPDH bằng cách đưa phương tiện kỹ thuật hiện đại và công nghệ vào DH Trước đây, một trong những phương tiện cơ bản nhất trong dạy
học là phấn trắng và bảng đen Hiện nay, PTDH hiện đại phát triển rất mạnh mẽ
và phong phú Việc sử các phương tiện DH này nhằm phát huy những ưu điểm
mà nó mang lại đồng thời khắc phục những nhược điểm của các phương tiện dạy học truyền thống
Như vậy, đổi mới PPDHLS cần được đổi mới theo những định hướng cơ bản như trên để HS chuyển từ cách học thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang cách học tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Để làm được điều này tất yếu phải đổi mới PPDH của GV GV cần chuyển từ phương pháp truyền thụ một chiều sang phương pháp chú trọng hình thành năng lực tự học, phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của HS Sử dụng PTCN trong DHLS sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới về PPDHLS hiện nay
1.1.3 Hệ thống các kỹ năng sử dụng PTCN cần phát triển cho GV Lịch sử nói chung và GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN nói riêng
Sử dụng hiệu quả PTCN trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng được coi là yếu tố quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở bậc THPT Việc này cho phép GV thiết kế những kiểu dạy học mới, khuyến khích sự làm việc độc lập, chủ động của HS, đảm bảo mối liên hệ hai chiều trong quá trình dạy học Vì việc sử dụng PTCN trong dạy học giữ vai trò quan trọng như vậy nên cần có các biện pháp để phát triển kỹ năng sử dụng PTCN cho GV Lịch sử ở trường
Trang 31THPT Trước hết, cần xác định cụ thể hệ thống kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học Lịch sử
Căn cứ vào quy trình triển khai hoạt động dạy học nói chung (Chuẩn Triển khai-Đánh giá), đặc trưng của môn học và các PTCN có thể sử dụng trong dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông để xác định những kỹ năng sử dụng PTCN
bị-cơ bản của GV gồm: Kỹ năng khai thác và lưu trữ thông tin, hiệu chỉnh tư liệu, thiết
kế và triển khai bài dạy với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học, thiết kế công cụ KTĐG kết quả học tập của HS
Kỹ năng khai thác và lưu trữ thông tin
Bên cạnh sách giáo khoa và tài liệu tham khảo thành văn là tư liệu phổ biến
hỗ trợ quá trình dạy học của GV ở trường THPT, hiện nay Internet với khối lượng thông tin lưu trữ khổng lồ cũng ngày càng trở nguồn cung cấp tư liệu quan trọng cho GV Vấn đề đặt ra là làm thế nào để GV có thể tìm kiếm, khai thác kho thông tin khổng lồ đó, làm thế nào để nó có giá trị nhất trong DH? Nếu GV không biết cách khai thác thông tin một cách hiệu quả thì đó chỉ là những “thông tin chết” Mặt khác, nếu GV không tìm hiểu, nắm bắt và xử lý để biến nguồn tri thức chung trở thành vốn hiểu biết của bản thân thì sự đa dạng, phong phú của nguồn thông tin trong thời đại khoa học công nghệ cũng không có nhiều giá trị Vì vậy, việc rèn luyện và phát triển kỹ năng khai thác, lưu trữ thông tin là vấn đề cần thiết đối với
GV ở trường THPT nói chung và GV Lịch sử nói riêng
Phát triển kỹ năng này là giúp GV có thể đưa ra những lựa chọn thông minh khi tiếp xúc với khối lượng kiến thức đồ sộ trên Internet, biết chọn lọc kiến thức, xác định tính chính xác và mức độ phù hợp của kiến thức với nội dung bài học đồng thời biết lưu trữ thông tin một cách khoa học, hợp lý
Kỹ năng hiệu chỉnh tư liệu
GV có thể khai thác nhiều nguồn tư liệu khác nhau trên Internet từ tư liệu chữ viết cho đến hình ảnh, bản đồ, lược đồ hay các đoạn phim tư liệu có giá trị Tuy nhiên, không phải bao giờ tư liệu GV tìm kiếm được cũng phù hợp với ý tưởng giảng dạy và mục tiêu bài học hoặc yêu cầu về tính sư phạm Các hình ảnh tìm được thường có độ phân giải thấp, GV có thể sử dụng sự hỗ trợ của PTCN tăng độ phân giải cho hình ảnh để được hình ảnh rõ nét, sinh động GV cũng có thể sử dụng phần
Trang 32mềm để xóa kí hiệu, chữ viết trên bản đồ để biến nó thành bản đồ “trống” Với các đoạn phim tư liệu quá dài, GV dễ dàng chọn và cắt lấy đoạn phim có nội dung phù hợp với mục tiêu bài học Như vậy, để giúp GV có thể sử dụng hiệu quả tư liệu tìm kiếm được, GV cần có kỹ năng hiệu chỉnh tư liệu
Tư liệu thành văn thường là nguồn tư liệu có tính quy chuẩn và hạn chế hiệu chỉnh nên trong phạm vi đề tài, kỹ năng hiệu chỉnh tư liệu chúng tôi đề cập đến cụ thể là kỹ năng hiệu chỉnh tư liệu hình ảnh và phim tư liệu Phát triển kỹ năng này sẽ giúp GV xác định được tư liệu cần hiệu chỉnh và mức độ hiệu chỉnh của tư liệu, lựa chọn được công cụ (phần mềm) hiệu chỉnh tư liệu phù hợp
Kỹ năng thiết kế và triển khai bài dạy
Bài dạy (bài giảng) là tập hợp các học liệu được tổ chức theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kỹ năng cho người học Thiết kế và triển khai bài dạy là yêu cầu bắt buộc đối với GV Trong những năm gần đây, GV ở trường THPT nói chung và GV Lịch sử nói riêng sử dụng phần mềm MS PowerPoint để
hỗ trợ thiết kế và triển khai bài dạy ngày càng trở nên phổ biến Tuy nhiên, GV thường gặp khó khăn và mất nhiều thời gian trong quá trình thực hiện Để giúp GV
có thể tự xây dựng và triển khai bài giảng thể hiện đầy đủ: tính tương tác, đa phương tiện, liên kết các đề mục lớn nhỏ trong toàn bài và không mất nhiều thời gian để thực hiện các thao tác phức tạp, GV cần chú ý phát triển kỹ năng thiết kế và triển khai bài dạy với sự hỗ trợ của phần mềm MS PowerPoint
Để phát triển kỹ năng này, đòi hỏi GV phải xác định được mục tiêu bài học; lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định những nội dung trọng tâm; dữ liệu hóa và phân loại được thông tin kiến thức dưới dạng văn bản, bản đồ, ảnh tĩnh, phim, âm thanh ; chọn lựa được các phần mềm phụ trợ cần dùng trong bài học để liên kết
Kỹ năng thiết kế công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Tuy nhiên, GV ít có cơ hội để kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức của HS trong mỗi giờ học vì GV ít có thời gian dành cho hoạt động này Trong khi
đó, HS thường không hứng thú với việc kiểm tra đánh giá, thậm chí có tâm trạng lo
sợ, căng thẳng Với sự hỗ trợ của PTCN, GV có thể sử dụng phần mềm hỗ trợ kiểm
Trang 33tra đánh giá, giúp công việc này trở nên thuận lợi, nâng cao khả năng tương tác, phản hồi
Với kỹ năng này, đòi hỏi GV xác định được nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá; xây dựng được bộ câu hỏi kiểm tra và giới hạn kiểm tra phù hợp Kỹ năng
sử dụng PTCN là một bộ phận trong kỹ năng dạy học của GV nói chung và GV môn Lịch sử nói riêng Sự phát triển kỹ năng sử dụng PTCN góp phần thúc đầy sự phát triển kỹ năng dạy học của GV
1.1.4 Hệ thống tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng PTCN của GV
Để đánh giá kỹ năng sử dụng PTCN của GV và giúp quá trình rèn luyện, phát triển kỹ năng này thuận lợi hơn, chúng tôi xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá kỹ năng Trong đó, mỗi kỹ năng sẽ được cụ thể hóa thành các yêu cầu cần đạt với ba mức độ khác nhau, phát triển dần từ thấp đến cao: mức kỹ năng cơ sở, mức
kỹ năng cơ bản và mức kỹ năng thành thạo (theo bảng 1.1)
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng PTCN của GV
Có kỹ năng cơ sở Có kỹ năng cơ bản Có kỹ năng thành thạo
thông tin với từ khóa
đơn giản về: nhân
- Tìm kiếm thông tin phong phú về thể loại:
tài liệu thành văn, hình ảnh, phim tư liệu và định dạng
- So sánh, đối chiếu các nguồn tài liệu, thông tin tìm kiếm được với tài liệu “chính thống”:
SGK, tài liệu bồi dưỡng GV
- Phân loại và lưu trữ tài
- Xác định được nội dung kiến thức cần khai thác,
bổ sung thông tin
- Tìm kiếm được thông tin phong phú về thể loại, định dạng và ngôn ngữ bằng việc sử dụng từ khóa khác nhau và các thuật toán
- Xác định được các tiêu chí đánh giá độ tin cậy của thông tin, tài liệu: tác giả, địa chỉ trang web, thời gian
- Phân loại và lưu trữ tài
Trang 34tiện, không đảm bảo
- Quản lý tài liệu, thông tin tìm kiếm được một cách an toàn, khoa học và tiện ích với công cụ Google Drive
để hiệu chỉnh tư liệu
- Hiệu chỉnh được các loại tư liệu khác nhau:
văn bản, hình ảnh, bản đồ
- Tư liệu hiệu chỉnh phù hợp với ý tưởng sư phạm, mục tiêu dạy học
và đảm tính chính xác
- Lựa chọn chính xác tư liệu cần liệu chỉnh, cách thức hiệu chỉnh và phần mềm hiệu chỉnh hiệu quả nhất
- Hiệu chỉnh được nhiều định dạng khác nhau của các loại tư liệu: văn bản, hình ảnh, bản đồ, phim tư liệu
- Tư liệu hiệu chỉnh phù hợp với ý tưởng sư phạm, mục tiêu dạy học và đảm bảo tính chính xác, tính thẩm mỹ
- Xây dựng kịch bản công nghệ gồm ba phần
cơ bản: nội dung kiến thức, đối tượng trình
- Lựa chọn PTCN phù hợp với nội dung bài học
- Xây dựng kịch bản công nghệ có sự hài hòa giữa nội dung kiến thức với đối tượng thể hiện trên
Trang 35- Quá trình triển khai
bài dạy với sự hỗ trợ
- Điều tra nhu cầu HS trước khi học HS bước đầu được thực hiện nhiệm vụ học tập phù hợp với sở thích, năng lực của bản thân
- Thực hiện được các thao tác phức tạp với
PowerPoint: thiết kế các đường liên kết, nút điều khiển tương đối phù hợp với hoạt động triển khai bài dạy
- Quá trình triển khai bài dạy với sự hỗ trợ của PTCN tuân thủ nguyên tắc 3Đ và chưa thường xuyên sử dụng PTCN tổ chức hoạt động học tập cho HS
trang trình chiếu và hoạt động học tập
- Điều tra nhu cầu HS trước khi học HS được thực hiện nhiệm vụ học tập phù hợp với sở thích, năng lực của bản thân
- Thực hiện linh hoạt các thao tác phức tạp với
PowerPoint (kết hợp với
Presenter): thiết kế các đường liên kết, nút điều khiển phù hợp với hoạt động triển khai bài giảng, nội dung bài học và đối tượng HS
- Quá trình triển khai bài dạy với sự hỗ trợ của PTCN tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc 3Đ và sử dụng PTCN tổ chức hoạt động học tập cho HS hiệu quả
- Sử dụng phần mềm Hot Potatoes hợp lý thiết kế các dạng bài trắc nghiệm khách quan để kiểm tra
Trang 36thường xuyên kết quả
học tập của HS
thường xuyên kết quả học tập của HS
- Sử dụng phiếu học tập làm công cụ kiểm tra đánh giá thường xuyên
đánh giá thường xuyên kết quả học tập của HS
- Sử dụng công cụ kiểm tra đánh giá thường xuyên (phiếu học tập) hiệu quả
Bảng hệ thống các tiêu chí đánh giá kỹ năng trên đây là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng phiếu khảo sát GV; HS; Cán bộ quản lý và đồng nghiệp phục vụ quá trình đánh giá thực trạng kỹ năng sử dụng PTCN của GV Đồng thời, đó cũng là căn
cứ để đánh giá sự phát triển kỹ năng của GV sau giờ dạy thực nghiệm
sử tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm thứ tư đào tạo khối kiến thức chuyên ngành, khoa học sư phạm – giáo dục tại trường Đại học Giáo dục Hiện nay, trường ĐH Giáo dục đang xây dựng chương trình đào tạo theo mô hình a + b,
mô hình mở, đan xen, kế tiếp
Trên cơ sở chức năng chính của Khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục là đào tạo nghiệp vụ sư phạm phổ thông và đại học, nghiên cứu áp dụng triển khai các công nghệ dạy học mới tiếp cận chuẩn khu vực và quốc tế, ngành Sư phạm Lịch sử
đã xác định mục tiêu đào tạo trọng tâm là:
Trang 37ngoại ngữ, tin học
- Các kiến thức cơ bản và chuyên sâu về Lịch sử;
- Các kiến thức cơ bản và cập nhật về khoa học giáo dục và sư phạm
* Về kỹ năng: Chương trình nhằm giúp người học có được:
- Kỹ năng sử dụng một số phương pháp, công nghệ cơ bản, hiện đại để tiến hành các công việc chuyên môn về Lịch sử và dạy học Lịch sử;
- Kỹ năng tự học và học tập suốt đời;
- Khả năng tư duy sáng tạo, cách tiếp cận khoa học dể giải quyết các vấn dề thực tiễn của ngành học;
- Kỹ năng làm việc theo nhóm và làm việc độc lập;
- Kỹ năng tìm kiếm và tự tạo việc làm
* Về năng lực: Sau khi học xong chương trình, người học có thể:
- Làm công tác giảng dạy tại các truờng trung học phổ thông, các truờng đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
- Làm công tác nghiên cứu tại các viện, các trung tâm nghiên cứu nghiên cứu;
- Làm việc tại các cơ quan quản lý, các cơ quan báo chí và xuất bản;
- Tiếp tục học lên ở bậc thạc sĩ, tiến sĩ
* Về thái độ: Chương trình nhằm hình thành ở nguời học:
- Phẩm chất chính trị, đạo dức nhà giáo;
- Yêu nghề, nhiệt tình trong công tác;
- Ý thức phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Những mục tiêu này được cụ thể trong chương trình đào tạo với tổng số tín chỉ 138 cần tích luỹ Trong đó các môn học của chương trình nghiệp vụ sư phạm: Lý luận dạy học; Phương pháp – công nghệ dạy học; Chương trình, phương pháp dạy học Lịch sử được đặc biệt chú trọng với mục đích đào tạo sinh viên sư phạm Lịch sử trở thành GV Lịch sử không chỉ có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng mà còn có khả năng cập nhật, tiếp cận và sử dụng một số phương pháp, công nghệ cơ bản, hiện đại để tiến hành các công việc chuyên môn về Lịch sử và dạy học Lịch sử
Như vậy, với mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo đã nêu trên, GV Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN sẽ có được kỹ năng cơ bản
Trang 38trong việc sử dụng PTCN vào dạy học Lịch sử ở trường THPT Trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng biện pháp để GV có thể phát triển những kỹ năng này cả về mặt chất lượng và số lượng
1.2.2 Thực trạng kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học của giáo viên Lịch sử tốt nghiệp trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã dành thời gian khảo sát, điều tra thực trạng kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học của GV Lịch sử (tốt
nghiệp trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội) từ khóa từ khóa QH – 2003 - S
(2003– 2007) đến khóa QH – 2008 - S (2008 – 2012) hiện đang giảng dạy ở các trường THPT trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình, Quảng Ninh Chúng tôi tiến hành khảo sát 35 GV; 402 HS; 43 đồng nghiệp và cán bộ quản lý
Quá trình điều tra, khảo sát thực trạng sử dụng phiếu khảo sát kết hợp với phỏng vấn Trong đó, phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá
kỹ năng sử dụng PTCN của GV (Bảng 1.2), nội dung chủ yếu tập trung vào mức đạt
kỹ năng và khảo sát trên ba phương diện: GV tự đánh giá; đồng nghiệp, nhà quản lý đánh giá; khảo sát HS
Phiếu khảo sát ý kiến tự đánh giá của GV và khảo sát ý kiến đồng nghiệp, nhà quản lý xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng PTCN của GV
và được cụ thể hóa thành các mức đạt của kỹ năng (Phụ lục 1)
Dưới đây là kết quả tổng hợp phiếu khảo sát tự đánh giá của GV và đồng nghiệp, nhà quản lý Kết quả này là cơ sở để đưa ra đánh giá bước đầu về thực trạng
và mức đạt kỹ năng sử dụng PTCN trong dạy học của GV Lịch sử
Trang 39Bảng 1.3 Kết quả đánh giá mức đạt kỹ năng sử dụng PTCN của GV
Nội dung kỹ năng
Mức đạt (n = 78) Mức 1
(%)
Mức 2 (%)
Mức 3 (%)
I Kỹ năng khai thác và lưu trữ thông tin
- Xác định nội dung kiến thức cần khai thác, bổ sung thppông
tin
1.6 93.8 4.7
- Kiểm định tính chính xác của thông tin 20.9 74.4 4.7
- Sử dụng công cụ Google Search để khai thác thông tin 1.6 85.9 12.5
- Sử dụng công cụ Google Drive để lưu trữ và chia sẻ thông tin 67.2 31.3 1.6
II Kỹ năng hiệu chỉnh tư liệu
- Xác định mục đích hiệu chỉnh tư liệu 0.0 85.9 14.1
- Sử dụng công cụ hiệu chỉnh hình ảnh, lược đồ, bản đồ 1.6 90.6 3.1
- Sử dụng công cụ hiệu chỉnh và xây dựng phim tư liệu 75.0 23.4 1.6
III Kỹ năng thiết kế và triển khai bài dạy với sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học
- Xác định nội dung kiến thức phù hợp với việc thiết kế và
triển khai bài dạy với sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học
7.8 84.4 7.8
- Thiết kế bài dạy với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint và
Adobe Presenter
18.8 70.3 10.9
- Thực hiện các nguyên tắc khoa học trong quá trình triển khai
IV Kỹ năng thiết kế công cụ kiểm tra đánh giá
- Xác định mục đích kiểm tra đánh giá 0.0 78.1 21.9
- Sử dụng phần mềm Hot Potatoes xây dựng câu hỏi trắc
nghiệm khách quan
89.1 9.4 1.6
- Xây dựng công cụ kiểm tra đánh giá (phiếu học tập) 1.6 89.1 9.4
Trang 40Qua phỏng vấn và phân tích kết quả khảo sát ý kiến tự đánh giá của GV; ý kiến đánh giá của đồng nghiệp, cán bộ quản lý về kỹ năng sử dụng PTCN cho thấy:
- Kỹ năng khai thác và lưu trữ thông tin: Nhìn chung số GV được đánh giá
có kỹ năng đạt mức 2 (mức cơ bản) chiếm tỉ lệ cao (84.4% - 93.8%), số GV ở mức
1 (mức cơ sở) và mức 3 (mức thành thạo) chiếm tỉ lệ thấp chỉ từ 1.6% - 12.5% Riêng việc sử dụng công cụ Google Drive để lưu trữ và chia sẻ thông tin tỉ lệ GV có
kỹ năng ở mức 1 chiếm tỉ lệ cao (67.2%) Điều này có thể lý giải bằng việc công cụ Google Drive là công cụ hỗ trợ lưu trữ và chia sẻ thông tin trực tuyến tiện lợi, khoa học nhưng vẫn còn khá mới mẻ với nhiều GV ở trường THPT nói chung và GV môn LS nói riêng Bên cạnh đó, số lượng không nhỏ GV chưa có kỹ năng kiểm định tính chính xác của thông tin khai thác (20.9%)
- Kỹ năng hiệu chỉnh tư liệu: Trước hết, việc xác định mục đích hiệu chỉnh tư
liệu và sử dụng công cụ hiệu chỉnh hình ảnh, lược đồ, bản đồ, hầu hết GV đều có kỹ năng đạt mức cơ bản (85.9% – 90.6%), trong đó có 14.1% GV có được sự thành thạo trong xác định mục đích hiệu chỉnh tư liệu Với việc sử dụng công cụ hiệu chỉnh và xây dựng phim tư liệu, số lượng GV chỉ đạt mức kỹ năng cơ sở chiếm tỉ lệ cao, lên tới 75% Đây là công việc đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và bao gồm nhiều thao tác phức tạp, đặc biệt là việc xây dựng các đoạn phim tư liệu Vì vậy, số lượng GV có kỹ năng đạt mức cơ sở và cơ bản chưa cao
- Kỹ năng thiết kế và triển khai bài dạy với sự hỗ trợ của các phần mềm dạy
học: Từ việc xác định nội dung kiến thức phù hợp với việc thiết kế và triển khai bài
dạy với sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học; Điều tra nhu cầu HS; Thiết kế bài dạy với sự hỗ trợ của phần mềm MS PowerPoint và Adobe Presenter; Thực hiện các nguyên tắc khoa học khi triển khai bài dạy số lượng GV có kỹ năng đạt mức cơ bản chiếm tỉ lệ cao (70.3% - 84.4%) Trong đó, có tỉ lệ khá cao GV chỉ đạt mức kỹ năng
cơ sở trong thiết kế bài dạy với sự hỗ trợ của phần mềm MS PowerPoint và Adobe Presenter (18.8.%) Phần mềm MS PowerPoint là phần mềm trình chiếu quen thuộc với hầu hết GV môn Lịch sử, nhưng sử dụng kết hợp với phần mềm Adobe Presenter thì cũng có một số lượng nhất định GV chưa được tiếp cận Trừ trường hợp một số trường THPT có chương trình tập huấn cho GV sử dụng phần mềm Adobe Presenter