TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014 SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH * TĨM TẮT Từ sự biết, sự hiểu, sự lưu tru
Trang 2TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014
Trang 3
TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014
Trang 4TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014
MỤC LỤC
Contents
TRẦN THANH ÁI
Xác định vấn đề nghiên cứu cho cơng trình khoa học như thế nào?
How to determine research problems for a scientific research? 6
NGUYỄN XUÂN KÍNH
Phở dưới cái nhìn lịch sử – văn hĩa
Pho – In the light of culture – History 15
Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng quản trị nhân sự –
khoa học cơng nghệ trong lĩnh vực ngân hàng TMCP tại TP.HCM
Improving the effect of managerial quality of human resource – science and
technology to commercial joint – stock 40
BÙI VĂN THẮNG
Nghiên cứu điều chế và khảo sát tính chất của vật liệu Bentonit biến tính nhơm
A study on a preparation and material properties of al modified Bentonite 46
PHẠM ĐÌNH NGHIỆM
LÝ NGỌC YẾN NHI
Một số quan điểm về thế giới quan của Chủ nghĩa hậu hiện đại
Some opinions about Postmodernism worldview 57
Trang 5TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014
NGUYỄN VĂN THẮNG
Phương pháp bồi dưỡng kĩ năng ứng dụng cơng nghệ thơng tin cho giáo viên
Trung học cơ sở để tổ chức bài dạy sinh học
Method fostering information technology skills for teachers in secondary
schools to teach biology 65
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
Đổi mới nhận thức về sứ mạng của giáo dục đại học
Concept innovation in the mission higher education 75
NGUYỄN VĂN DŨNG
NGUYỄN CHÍ TÂM
Mở rộng định lí điểm bất động cho dạng j - co yếu suy rộng trong khơng gian
mêtric
Generalizing the fixed point theorem for generalized j - weak contraction
mappings in metric spaces 80
HỒNG THÚY HÀ
Xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm phát triển năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh Tiểu học ở giờ tập đọc lớp 3 “Mẹ vắng nhà ngày bão” của tác giả
Đặng Hiển
Design a system of questions to develop the ability of being sensitive to the
interesting vof literature for the elementary students – specified by a one –
period text in 3 rd text “Mother away from home on a storm day” by Dang Hien 87
LÊ VIỆT ĐỒN
Những điểm khác biệt cơ bản về cái nhìn đời sống trong những truyện viết về
nơng thơn của Nguyễn Ngọc Tư và Nguyễn Huy Thiệp
Differences between Nguyen Ngoc Tu and Nguyen Huy Thiep’s viewpoints in
their short stories (fictions) about countryside 92
Trang 6TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014
TRƯƠNG VĂN ÁNH
HỨA BÍCH THỦY
Ý nghĩa bị động Anh – Việt qua khung tham chiếu tương đương dịch thuật
English – Vietnamese passive sense viewed from equivalent tertium comparationis 100
TRẦN THẾ PHI
Biểu thị niềm vui trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh
The expression of happiness in Vietnamese and English idioms 110
NGUYỄN HỒ THẾ VINH
THÁI KẾ QUÂN
Xây dựng cơng cụ trực tuyến tra cứu họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Identify plant family by developing a web – based tool 118
NGUYỄN DUY CƯỜNG
Vận dụng các phương pháp giảng dạy chủ động vào việc tổ chức dạy học
chương “Cảm ứng điện từ” mơn Vật lý II ở các trường đại học kỹ thuật
Applying dynamic teaching methods in organisng lesson activities for the
chapter “Electromagnetic induction” belonging to physic II at some
universities of technical engineering 124
LÊ THỊ XOAN
Sử dụng phương pháp chuyên gia đánh giá năng lực cạnh tranh cho Cơng ty
cổ phần Nước khống Khánh Hịa
Use the method of experts to ascess the competitiveness for Khanh Hoa of
mineral water joint stock company 133
TƠN THẤT NGHĨA
Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển nơng nghiệp tỉnh Cà Mau
Potential assessment and agricultural development status of Ca Mau province 141
Trang 7TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014
XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHO CƠNG TRÌNH KHOA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
TRẦN THANH ÁI (*)
“Mọi kiến thức khoa học đều bắt đầu từ một câu hỏi”
(G Bachelard)
TĨM TẮT
Một trong những nhược điểm của nghiên cứu khoa học ở nước ta là cách xác định vấn
đề trước khi nghiên cứu Đĩ là một cơng đoạn đã được cộng đồng khoa học thế giới đúc kết thành quy chuẩn Để xác định vấn đề cho nghiên cứu, cần phải phân biệt vấn đề thường ngày trong cuộc sống và cơng tác, với vấn đề khoa học Vấn đề khoa học là một lát cắt thực tế mà người nghiên cứu thực hiện bằng cách quan sát thực tế rồi phân tích, đối chiếu với kho tàng tri thức của nhân loại, đề phát hiện ra khoảng trống tri thức và tìm ra cái mới trong khoa học Bài viết này sẽ cố gắng trình bày nguyên tắc giúp học viên sau đại học chủ động sáng tạo trong cơng đoạn đầu tiên của nghiên cứu khoa học, đĩ là xác định vấn đề
Từ khĩa: nghiên cứu khoa học, quan sát thực tế, đối chiếu, phân tích
ABSTRACT
One of weakness of Vietnamese research is how to determine research problems This stape is standardized by international scientific community To determine research problems, it must distinguish daily problems from scientific problems Scientific problem is
a “tranch” of reality that researcher makes by observing reality then analyses it, compares
it and the corpus of knowledge of humanity, in order to discover gaps of knowledge and to finds out scientific novelty This paper will introduce principles which help master students
to determine autonomously and creatively research problem
Keywords: scientific research, observe reality, comparison, analyse
*Nghiên cứu khoa học là nghiên cứu
những gì? Câu hỏi này cĩ vẻ ngây ngơ, tầm
thường, nhưng khơng ít người ngắc ngứ,
hoặc ngộ nhận Thậm chí, cĩ thể nĩi rằng
trở ngại lớn nhất của mọi sinh viên, học
viên cao học, kể cả nghiên cứu sinh tiến sĩ,
khi phải trả lời cho câu hỏi “nghiên cứu cái
gì?” mà họ phải tự đặt ra để tìm đề tài cho
luận văn của họ Thật vậy, đã cĩ khơng ít
học viên sau đại học phải bỏ học nửa chừng chỉ vì khơng thể tìm được câu trả lời thỏa đáng, hoặc nĩi cách khác, khơng xác định được vấn đề mà họ muốn phát triển thành đề tài nghiên cứu, mặc dù đã hồn tất các học phần lý thuyết Cịn những luận văn/luận án đã hồn thành thì một số khơng ít phải hứng chịu nhiều sự phê bình của giới khoa học về nhiều phương diện,
mà đầu tiên là cách xây dựng vấn đề nghiên cứu (research problem) khơng thích
Trang 8TRẦN THANH ÁI
hợp, khiến chất lượng công trình không
bảo đảm Nhận xét sau đây của GS Trần
Văn Thọ dù cách nay hơn 10 năm nhưng
không hề mất tính thời sự, nếu không
muốn nói rằng ngày càng chính xác:
“Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở
Việt Nam chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu
tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc
sáng Nội dung, trình độ của luận án do đó
còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu
của thế giới và người được cấp bằng trong
trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa
học với chuyên gia nước ngoài trong cùng
ngành” (Trần Văn Thọ, 2003)
Điều đó cho thấy rằng việc xác định
vấn đề nghiên cứu có một vai trò quyết
định trong mọi nghiên cứu khoa học, trong
đó có luận văn, luận án Vì thế, hoàn toàn
có thể hiểu được khi có nhiều nhà khoa học
cho rằng khi học viên, nghiên cứu sinh xây
dựng được đề tài nghiên cứu là đã đi được
nửa chặng đường! Do đó, muốn nâng cao
hiệu quả và chất lượng đào tạo nghiên cứu
khoa học cho các học viên sau đại học,
trước hết cần phải huấn luyện họ cách xây
dựng đề tài Tình trạng chung hiện nay ở
các cơ sở đào tạo sau đại học là học viên
chỉ nhận được sự huấn luyện theo kiểu
“cầm tay chỉ việc” của người hướng dẫn,
thậm chí có không ít học viên phải tự xoay
xở, khiến họ như người mù, ai dắt đi đâu
thì đi đó, nên không rèn luyện được sự chủ
động và sáng tạo Thế mà mục tiêu đào tạo
sau đại học là giúp học viên có năng lực
nghiên cứu khoa học độc lập GS Ngô Bảo
Châu đã nhận xét, các nhà khoa học trẻ sẽ
gặp nhiều khó khăn, vì bối cảnh khoa học
hiện đại cạnh tranh rất quyết liệt, trong khi
họ phải có năng lực làm khoa học độc lập
(Ngô Bảo Châu 2013a)
Để tích cực hóa việc thực hành nghiên
cứu khoa học cho học viên, cần phải hướng
dẫn cho họ những nguyên tắc xây dựng vấn
đề nghiên cứu, khiến họ trở thành người học thông minh, chủ động và sáng tạo Như thế mới tránh được sao chép, rập khuôn trong nghiên cứu, mà trước hết là rập khuôn trong cách chọn đề tài, và mới
có thể tìm được cái mới đóng góp cho khoa học, là điều kiện tiên quyết để được cộng đồng khoa học thế giới công nhận Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày những nguyên tắc xây dựng đề tài nghiên cứu phù hợp với chuẩn mực thế giới; nhưng trước hết, ta thử điểm lại một số đề tài luận án mà dư luận cho là “có vấn đề”,
đã được bảo vệ ở nước ta
1 MỘT SỐ ĐỀ TÀI LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN BỊ PHÊ BÌNH
Vấn đề chất lượng đào tạo sau đại học
đã được báo động nhiều lần trong các cuộc hội nghị và trên các phương tiện thông tin đại chúng Đặc biệt, báo chí còn ghi lại những “trận cười ra nước mắt” về tên các
đề tài nghiên cứu của các luận án tiến sĩ trong hội nghị hiệu trưởng các trường đại học miền Trung - Tây Nguyên diễn ra tại
Đà Nẵng ngày 26/8/2006, khi những người
có trách nhiệm của ngành giáo dục đã nhắc đến một số đề tài “có vấn đề” (Xem Hải Châu 2006, Vũ Thơ 2006, Uyên Na 2012):
- Tắm giặt tập trung cho các quân đoàn đóng quân phía Bắc,
- Nghiên cứu nhận thức của sinh viên ĐHSP về sức khỏe sinh sản,
- Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học phổ thông,
- Biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên đại học sư phạm,
- Giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của sự biến động giá đồng USD
Trang 9XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHO CÔNG TRÌNH KHÓA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
đến kinh tế Việt Nam,
- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây
trồng cho vùng…,
- Nghiên cứu cách đánh số nhà trong
thành phố
- v.v
Khi đọc tên các đề tài trên đây, người
đọc không thấy được tính xác đáng khoa
học (scientific pertinence) của vấn đề
nghiên cứu mà các tác giả đã chọn cho
công trình khoa học của mình, ngoại trừ
trường hợp “ngọc ẩn trong đá” Nói cách
khác, nếu các tên đề tài phản ảnh đúng nội
dung công trình, những đề tài trên đây chỉ
nhằm tìm kiếm kết quả giải quyết một vụ
việc cụ thể, mà không hướng đến việc tìm
kiếm quy luật hay nguyên nhân chi phối
các hiện tượng Điều này vi phạm nghiêm
trọng tính học thuật trong khoa học mà mọi
đại học trên thế giới đều hướng đến
GS Hoàng Tụy cũng đã nhiều lần phê
phán nghiêm khắc về cách chọn đề tài
nghiên cứu của giới khoa học nước ta,
chẳng hạn như đề tài Nghiên cứu những
biện pháp chống ách tắc giao thông trong
thành phố, và nói rằng đó không phải là đề
tài nghiên cứu khoa học, mà là công việc
nằm trong chức phận của Sở Giao thông -
Công chính (Hoàng Tụy 2013) Hoặc đề tài
“chống lấn đường”, với kết luận ngây ngô
và vô bổ là “muốn chống lấn đường là phải
đề ra những biện pháp tăng cường lãnh đạo
giáo dục nhân dân” PGS-TS Đặng Xuân
Thi cũng đã chỉ ra loại yếu kém khác trong
việc chọn đề tài nghiên cứu của nhiều công
trình khoa học ở nước ta:
“Tuyệt đại nội dung các đề tài mà
chúng ta tiến hành nghiên cứu là ứng dụng
những thành tựu của thế giới vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam Những vấn đề mà
chúng ta chọn làm mục tiêu nghiên cứu đối
với thế giới thường là quá cũ, có khi cũ đến
hai, ba hoặc cũng có thể tới bốn chục năm” (Vũ Thơ, 2012)
Cách chọn đề tài nghiên cứu như thế
đã góp phần làm cho chất lượng đào tạo sau đại học không cao: trong Hội nghị tổng kết công tác đào tạo sau đại học do Bộ GD-
ĐT tổ chức ngày 4 và 5/1/2006 tại Hà Nội,
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT lúc bấy giờ là Nguyễn Minh Hiển đã cho biết 30% số tiến
sĩ đào tạo trong nước có trình độ yếu (Vietnamnet 2006)
Tóm lại, theo GS Hoàng Tụy, “thiếu tính chuẩn mực, không giữ đúng chuẩn mực, bất chấp chuẩn mực quốc tế là nguyên nhân tình trạng lộn xộn, thật giả lẫn lộn, đang tràn lan hiện nay” (Hoàng Tụy 2003) Vậy chuẩn mực thế giới trong việc xây dựng đề tài nghiên cứu là như thế nào? Chúng tôi nghĩ đó là mấu chốt của vấn đề cần giải quyết để có thể cải thiện chất lượng đào tạo sau đại học, và kể cả chất lượng nghiên cứu khoa học của nước ta
2 KHỞI ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: HIỆN TƯỢNG CÓ VẤN ĐỀ Mọi nghiên cứu đều phải bắt đầu từ việc phát hiện ra một hiện tượng có vấn đề, tuy nhiên, không phải hiện tượng có vấn đề nào cũng có thể làm nghiên cứu khoa học Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, con người thường xuyên phải đối diện với nhiều vấn đề khác nhau và từ xưa đến nay mọi người có thể giải quyết mà không cần đến nhà khoa học: vấn đề trong cuộc sống
cá nhân, gia đình và xã hội, vấn đề trong công việc Vậy vấn đề nào cần phải làm nghiên cứu khoa học, vấn đề nào không? Đây là câu hỏi then chốt mà mọi học viên cần phải nắm vững, để việc xây dựng đề tài nghiên cứu không phạm sai lầm
2.1 Hai loại “vấn đề”
Cần phân biệt hai loại vấn đề: vấn đề trong sinh hoạt, công tác hàng ngày và vấn
Trang 10TRẦN THANH ÁI
đề trong khoa học
2.1.1 “Vấn đề” hàng ngày
Trước hết, đừng nhầm lẫn cách dùng
thông dụng của từ “vấn đề” và nghĩa thực
sự của nó Trong hoạt động ngôn ngữ hàng
ngày, ta thường dùng từ “vấn đề” để chỉ
mọi thứ, chẳng hạn như khi ta nói: về vấn
đề sức khỏe của nhân dân địa phương…
thay cho về tình hình sức khỏe…, vấn đề
học hành của con cái thay cho việc học
hành của con cái, vấn đề cơm áo gạo tiền
thay cho chuyện cơm áo gạo tiền… nghĩa
là ta có thể thay chữ “vấn đề” bằng một
chữ khác, chẳng hạn như “chuyện”,
“việc”… hoặc bỏ hẳn mà vẫn không làm
nghĩa của cụm từ thay đổi Tóm lại, cách
dùng đó chỉ là thói quen ngôn ngữ mà thôi
Khái niệm “vấn đề” trong đời thường
có nghĩa là “điều cần được quan tâm”, “điều
có ít nhiều khó khăn” Sau đây là một số
cách diễn đạt quen thuộc trên sách báo,
trong đó chữ “vấn đề” có nghĩa như trên:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
Vấn đề đánh giá kết quả học tập
Vấn đề thay sách giáo khoa
Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học
Vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh
Vấn đề việc làm của sinh viên, v.v
Những vấn đề trên đây có thể đang là
mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo
dục, và cần phải có nhiều cải tiến, đổi mới
cho tốt hơn Nhưng để trở thành vấn đề
nghiên cứu khoa học thì chưa được, vì các
“vấn đề” này còn quá mơ hồ Chúng mơ hồ
ở chỗ mỗi câu nêu trên chứa đựng nhiều
vấn đề nhỏ bên trong, trong đó có những
“vấn đề đúng” và “vấn đề sai”: “vấn đề
đúng”, tức vấn đề trong khoa học, là vấn đề
mà khoa học chưa thể giải thích bản chất
và nguyên nhân đầy đủ của nó, còn “vấn đề
sai” là vấn đề mà nhà nghiên cứu lặp lại những điều mà khoa học đã biết: người ta gọi trường hợp này là “đấm vào cánh cửa
đã mở”, vừa phí sức lại vừa phí thời gian, tiền bạc…
2.1.2 “Vấn đề” trong khoa học
Trong khoa học, người ta gọi “vấn đề”
là những hiện tượng mà kiến thức của cộng đồng khoa học chưa thể giải thích được, và nghiên cứu vấn đề ấy là nhằm xây dựng kiến thức mới về bản chất và quy luật, nguyên nhân của vấn đề ấy để mở rộng tri thức của nhân loại “Vấn đề” cũng có thể là những hiện tượng đã được giải thích rồi nhưng người nghiên cứu phát hiện ra cách giải thích ấy chưa thỏa mãn một điều kiện nào đó Trong trường hợp này, nghiên cứu
là nhằm bổ sung kiến thức đã có để nó ngày càng đầy đủ hơn Cũng cần phải nhắc lại rằng “giải quyết” vấn đề trong khoa học không phải là giải quyết từng vụ việc như mọi người thường làm trong cuộc sống hàng ngày, mà là giải quyết vấn đề về mặt
lý thuyết, nghĩa là tìm cách giải thích bản chất, quy luật, nguyên nhân, nguồn gốc của vấn đề
Để nhận dạng vấn đề trong khoa học, người nghiên cứu cần dựa vào các đặc tính sau đây:
- Hiện tượng không phù hợp nguyên tắc chung đã biết
Chẳng hạn như trường hợp sau đây: nguyên tắc chung là nếu dành thời gian càng nhiều cho một môn học nào đó thì thành tích học tập sẽ cao (như người ta thường nói “văn ôn võ luyện”) Thế nhưng mặc dù đã học tiếng Anh gần 10 năm nhưng nhiều sinh viên Việt Nam không sử dụng được ngoại ngữ này, cả trong giao tiếp trực tiếp lẫn trong giao tiếp gián tiếp (đọc, viết) Hoặc lĩnh vực nào được quan tâm đầu tư nhiều thì càng có điều kiện
Trang 11XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHO CÔNG TRÌNH KHÓA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
thuận lợi để phát triển Hiện nay, ở nước ta,
giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu
Trong điều kiện như vậy, lẽ ra giáo dục
phải phát triển tốt đẹp Thế nhưng, như mọi
người thấy, giáo dục càng ngày càng rối
rắm Hai trường hợp này đi ngược lại quy
luật mà mọi người đều xem là đương
nhiên Lúc ấy người nghiên cứu sẽ đặt câu
hỏi: Vì sao trình độ ngoại ngữ của sinh
viên không cao, mặc dù nhà trường đã dạy
từ lớp 6 cho đến đại học? Vì sao giáo dục
ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề nan giải
mặc dù nhà nước đã xem đó là quốc sách
hàng đâu?
- Hiện tượng đó “đề kháng” với các giải
pháp mà xã hội đã áp dụng để cải tạo nó
Trong giáo dục, từ nhiều năm nay nổi
lên vấn đề học sinh, sinh viên thụ động với
việc học trên lớp, thờ ơ với việc tự học ở
nhà, sống không hoài bão, xem nhẹ đạo đức
học đường, đạo đức xã hội, vô cảm với nạn
nhân của bạo lực… Mặc dù toàn xã hội đã ý
thức được hậu quả của các hiện tượng này
đối với chất lượng đào tạo, tương lai của đất
nước, và ngành giáo dục cũng đã có nhiều
cố gắng khắc phục, nhưng tình hình vẫn
không khả quan, thậm chí còn có vẻ ngày
càng trầm trọng hơn Tình hình đó có thể
được hiểu là việc “bắt mạch” nguyên nhân
chưa đúng, do đó, cần phải đi tìm nguyên
nhân khác, thích hợp hơn, để làm cơ sở
khoa học cho việc xây dựng giải pháp
- Hiện tượng mà cộng đồng khoa học
chưa có nhiều kiến thức
Trong thế giới tự nhiên cũng như xã
hội, có những hiện tượng mà kiến thức
khoa học của loài người còn rất ít, do đó,
không giải thích được chính xác các hiện
tượng Những hiện tượng này có thể ghi
nhận được qua báo chí, thông tin khoa học,
tài liệu khoa học
2.2 Xác định hiện tượng có vấn đề cần làm nghiên cứu khoa học
Nguyên tắc chủ đạo của lý thuyết thực nghiệm là muốn khắc phục được hiện tượng, trước tiên, nhà nghiên cứu phải phát hiện ra nguyên nhân (hoặc nguồn gốc) đã gây nên hiện tượng đó, để từ đó làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng biện pháp khắc phục sau này Những giải pháp được xây dựng không dựa trên việc nghiên cứu tìm kiếm nguyên nhân chưa biết không được xem là giải pháp có cơ sở khoa học
Vì thế, khi xác định vấn đề nghiên cứu, nhà khoa học cần phải khảo sát các khía cạnh nêu trên, để bảo đảm rằng vấn đề mình chọn vừa khả thi, vừa là vấn đề xác đáng
về mặt khoa học GS Ngô Bảo Châu cũng
đã nói:
“Điểm xuất phát của nghiên cứu bắt đầu bằng câu hỏi Thành công của nghiên cứu liên quan nhiều đến câu hỏi ban đầu
Để tìm ra câu hỏi đúng thì cần có kinh nghiệm nghiên cứu Trong môi trường hiện đại, tính chuyên nghiệp cao, sinh viên tự xác định được câu hỏi là việc khó vì chưa
có kinh nghiệm thì khó xác định đó có phải vấn đề thời sự không, có trong khả năng giải quyết không” (Ngô Bảo Châu, 2013b) Nghiên cứu khoa học không phải là gặp bất cứ vấn đề nào chưa ổn trong thực
tế là lấy ra làm đề tài nghiên cứu Làm như vậy không phải là nghiên cứu khoa học, mà chỉ là nghiên cứu sự việc, hay nghiên cứu công vụ, là hình thức thấp của nghiên cứu Nghiên cứu khoa học giáo dục chủ yếu là
đi tìm nguyên nhân chưa biết đến, chứ không phải là nhắc lại những nguyên nhân
đã biết (việc tổng hợp các nguyên nhân đã được các tài liệu đề cập đến chỉ là một công đoạn của nghiên cứu, được gọi là
“Lược khảo tài liệu”) Khi chọn một hiện tượng có vấn đề nào đó để nghiên cứu, tức
Trang 12TRẦN THANH ÁI
là ta ngầm hiểu rằng có một quy luật, một
nguyên nhân sâu xa nào đó mà con người
chưa biết đến, và quy luật đó, nguyên nhân
đó chi phối hiện tượng Vì thế, các nhà
khoa học chỉ nghiên cứu những hiện tượng
mà họ cảm thấy có quy luật (hay nguyên
nhân) nào đó mà cộng đồng chưa biết,
đang chi phối hiện tượng! Nếu chưa cảm
thấy có quy luật thấp thoáng đằng sau hiện
tượng thì ta chưa thể nghiên cứu, vì nghiên
cứu sẽ dễ rơi vào bế tắc
Nhà khoa học luận người Pháp G
Bachelard đã nói : “Mọi kiến thức khoa
học đều bắt đầu từ một câu hỏi” Thế mà
mọi câu hỏi phải dựa trên việc phát hiện ra
hiện tượng (hay sự việc) có vấn đề Nói
cách khác, mọi nghiên cứu khoa học đều
phải bắt đầu bằng việc phát hiện ra hiện
tượng có vấn đề Như đã nói ở trên, đề tài
nghiên cứu ra đời từ quá trình quan sát
thực tế và đối chiếu giữa kiến thức của bản
thân với thực tế khách quan Khi quan sát
thực tế, ta thường đối chiếu những gì quan
sát được với những gì ta biết được về thực
tế đó Nếu sự đối chiếu đó cho kết quả
hoàn toàn trùng khớp thì kiến thức của ta
được củng cố Nhưng nếu có sự sai lệch
giữa kiến thức mà ta có được với thực tế
thì ta sẽ có những thắc mắc, nghi vấn và
đặt ra hàng loạt câu hỏi Tại sao có chuyện
này xảy ra ? Nguyên nhân của nó là gì ? Có
ai giải thích chưa ? Tại sao ta học như thế
này mà thực tế lại khác ? Có phải kiến thức
của ta đã sai ? Có hai trường hợp xảy ra :
kiến thức của cá nhân còn ít nên không giải
thích được hiện tượng, và kiến thức của
nhân loại bất lực trước hiện tượng
2.2.1 Vấn đề sai (false problem)
Kiến thức của cá nhân còn hạn chế nên
không giải thích được hiện tượng, đó là
chuyện rất bình thường đối với mọi người,
kể cả đối với nhà khoa học giàu thành tích
nhất Trong trường hợp này, cá nhân phải
tự tìm tòi và sưu tầm tài liệu đề cập đến các giải thích có thể về hiện tượng để bổ sung kiến thức của mình ngày càng nhiều hơn Đây chính là giai đoạn tự học mà bất cứ nhà khoa học nào cũng phải trải qua: trước khi làm nhà nghiên cứu, mỗi cá nhân phải làm người tự học! Việc tự học này không giới hạn trong phạm vi kiến thức được viết bằng tiếng mẹ đẻ, mà phải mở rộng ra cả những tài liệu bằng tiếng nước ngoài, nhất
là tiếng Anh Việc tự học này nhằm nâng cao mặt bằng kiến thức của người nghiên cứu lên ngang với mặt bằng kiến thức của nhân loại Đây chính là điều kiện tiên quyết của việc khám phá ra kiến thức mới Nếu không nâng tầm kiến thức của cá nhân mà
đã vội vã xác định vấn đề để nghiên cứu thì
sẽ chỉ có được vấn đề sai mà thôi
2.2.2 Vấn đề có tính xác đáng khoa học
Trong tự nhiên hay trong xã hội, luôn luôn xuất hiện những sự vật và hiện tượng hoàn toàn mới lạ Vì mới lạ nên con người chưa có chút kiến thức nào về nó, khiến khoa học bất lực, không giải thích được Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều sự việc và hiện tượng mà loài người chỉ biết chút ít; thậm chí có nhiều việc người ta biết chưa chính xác Đó chính là nguồn cung cấp vấn
đề cần nghiên cứu, để nhà khoa học tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới Khi phát hiện ra sự hụt hẫng hoặc sự thiếu chính xác
đó, nhà khoa học sẽ tiến hành thiết kế nghiên cứu để làm cho kiến thức ngày càng hoàn thiện hơn Nói cách khác, khi phát hiện ra kiến thức của cộng đồng khoa học bất lực trước một hiện tượng hay sự vật nào đó thì nhà khoa học mới nghiên cứu Bằng cách xác định như thế, vấn đề nghiên cứu mới được xem là có tính xác đáng khoa học
Vì thế, một vấn đề được mọi người
Trang 13XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHO CÔNG TRÌNH KHÓA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
quan tâm chưa chắc đã là vấn đề cần làm
nghiên cứu khoa học Đối với dư luận xã
hội, người ta quan tâm đến mọi chuyện có
hại, gây hậu quả xấu Đó là sự quan tâm ở
góc độ thực dụng, nhằm cải thiện tình hình
để mọi việc tốt đẹp hơn Trong khi đó, nhà
khoa học chỉ quan tâm những vấn đề mà
mọi người chưa hiểu rõ nguyên nhân,
nguồn gốc, bản chất của nó: chính vì thế
mà người ta nói rằng nghiên cứu khoa học
là nhằm làm giàu kiến thức cho cộng đồng,
bằng cách đi tìm kiếm những lời giải thích
luôn luôn mới mẻ về vấn đề đó Sự quan
tâm của nhà khoa học không giống với sự
quan tâm của người thường: nhà khoa học quan tâm đến việc truy tìm căn nguyên của vấn đề và chứng minh cái mà mình đã tìm ra! Vì vậy, trong số rất nhiều mối quan tâm của xã hội, nhà khoa học sẽ chọn ra một số
ít vấn đề khả thi nhất để làm đề tài nghiên cứu mà thôi Vì thế, xác định vấn đề nghiên cứu chẳng những là một kỹ năng khoa học mà còn là một nghệ thuật Chính
vì thế mà GS Ngô Bảo Châu có nhận xét rằng điều khó nhất đối với nhiều học viên sau đại học vẫn là tìm đề tài cho mình (Ngô Bảo Châu 2013a)
Tôi dùng từ “xây dựng” đề tài nghiên
cứu thay vì “chọn lựa” đề tài như nhiều tài
liệu về phương pháp nghiên cứu khoa học
khác Việc dùng từ “xây dựng” không phải
là tùy tiện, ngẫu hứng, mà xuất phát từ
những đặc điểm của thao tác đầu tiên trong
nghiên cứu khoa học Thật vậy, đề tài
nghiên cứu không phải là những cái có sẵn
như hàng hóa trong siêu thị, nên ta không
thể chọn và đem về sử dụng Đề tài
nghiên cứu là kết quả của cả một quá trình
quan sát, phân tích, đối chiếu, nhận xét, nghi vấn, tiên đoán của người nghiên cứu Nói cách khác, đề tài nghiên cứu chính là một cách nhìn, một lát cắt của thực tế mà người nghiên cứu tạo ra, tương ứng với trình độ kiến thức chuyên ngành, thiên hướng khoa học của họ Vì thế, đề tài nghiên cứu mang dấu ấn của người nghiên cứu Đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội, trong đó có khoa học giáo dục, càng tinh tế hơn vì lát cắt thực tế xã hội thì rất trừu tượng và phức tạp, không ổn định, do đối tượng nghiên cứu luôn biến động, thay đổi Do đó, khi người ta nói “chọn đề tài nghiên cứu” chẳng qua đó chỉ là cách nói
Trang 14TRẦN THANH ÁI
theo thói quen mà thôi
3.2 Các yếu tố cần thiết của một đề tài
nghiên cứu tốt
Sau đây là một số yếu tố cần thiết cho
một đề tài nghiên cứu tốt:
- Đề tài phải bảo đảm tính xác đáng
khoa học: Khi quyết định nghiên cứu một
vấn đề gì, nhà khoa học phải xuất phát từ
sự phát hiện ra khiếm khuyết của kiến thức
đương thời về vấn đề mà mình quan tâm
Nếu không phát hiện ra khiếm khuyết nào
cả thì nhà khoa học cũng không có lý do gì
để tiến hành nghiên cứu
- Đề tài phải hướng đến một giả
thuyết khoa học: giả thuyết khoa học như
cái phôi mang mầm sự sống Đề tài chưa
hình dung ra được giả thuyết thì chưa thể
phát triển được Trong những đề tài mô tả,
giả thuyết có thể được thay bằng những
mục tiêu nghiên cứu cụ thể, làm cọc tiêu
định vị cho nghiên cứu
- Người nghiên cứu phải có nhiều kiến
thức về vấn đề nghiên cứu : Trước khi bắt
tay vào nghiên cứu, cần phải có kiến thức
tối thiểu về đề tài của mình, để việc xác
định vấn đề nghiên cứu được thuận lợi Dĩ
nhiên là trong quá trình nghiên cứu, bạn sẽ
còn phải bổ sung thêm nhiều kiến thức
chuyên sâu hơn nữa thì nghiên cứu mới có
thể thành công, nhưng kiến thức ban đầu
giúp ta có nhiều thuận lợi trong việc nhận
thức vấn đề và tiếp nhận thông tin khoa học
- Phải có hứng thú với vấn đề nghiên
cứu : Sở thích đóng vai trò quan trọng
trong việc nghiên cứu Chính vì thế, ngày
nay, các giáo sư hướng dẫn thường để cho
sinh viên tự quyết định đề tài nghiên cứu;
họ chỉ hướng dẫn cách phát hiện vấn đề mà
thôi Hơn nữa, khi ta tự quyết định đề tài
nghiên cứu, ta cũng có thuận lợi là tận
dụng được những kiến thức đã tích lũy
được về vấn đề nói trên, và đương nhiên là cũng sẽ có nhiều hứng thú và động cơ làm việc hơn Cách “phân phối đề tài” mà người hướng dẫn khoa học Việt Nam thường làm có nhược điểm lớn là người học thường không cảm nhận được lát cắt
mà người hướng dẫn đã thực hiện, dẫn đến không hiểu được vấn đề và không có hứng thú với đề tài được phân phối
- Phải có đủ nguồn tư liệu tham khảo:
Nguồn tư liệu cũng là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của nghiên cứu Thật vậy, nghiên cứu luôn luôn phải kế thừa kiến thức của các nhà khoa học thế hệ trước, nên tư liệu tham khảo là không thể thiếu được Đối với các ngành xã hội nhân văn và giáo dục, tư liệu phong phú và tương thích với đề tài nghiên cứu bảo đảm cơ bản cho việc xác định vấn
đề nghiên cứu và cả phần lý thuyết của đề tài, là một chương vô cùng quan trọng trong nghiên cứu của các ngành này
4 KẾT LUẬN Nghiên cứu khoa học là một hoạt động trí tuệ nhằm sản sinh ra kiến thức mới theo các quy chuẩn đã được cộng đồng khoa học đúc kết và bổ sung thường xuyên Vì thế, muốn công trình khoa học được thế giới công nhận thì cần phải theo các quy chuẩn
đó, mà trước tiên là trong công đoạn xác định vấn đề nghiên cứu cho công trình Để xác định vấn đề cho nghiên cứu, cần phải phân biệt vấn đề thường ngày trong cuộc sống và công tác, với vấn đề khoa học Vấn
đề khoa học là một lát cắt thực tế mà người nghiên cứu thực hiện bằng cách quan sát thực tế rồi phân tích, đối chiếu với kho tàng tri thức của nhân loại, đề phát hiện ra khoảng trống tri thức Làm được như thế, khoa học Việt Nam mới có hy vọng hội nhập được với cộng đồng khoa học thế giới
Trang 15XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHO CÔNG TRÌNH KHÓA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hải Châu (2006), “Trang sức” bằng luận án tiến sĩ Báo Vietnamnet,
http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/08/606389/ truy cập ngày 8/7/2014
2 Hoàng Tụy (2003), 1/3 giáo sư, phó giáo sư “xứng đáng” bị miễn nhiệm chức danh Trả lời phỏng vấn Báo Vietnamnet
http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2003/5/12255/, truy cập ngày 11/7/2014
3 Hoàng Tụy (2013), Phải quyết liệt Trả lời phỏng vấn của Hồng Thanh Quang, Báo
An ninh Thế giới cuối tuần,
http://antgct.cand.com.vn/vivn/nhandam/2013/11/57072.cand truy cập ngày 8/7/2014
4 Ngô Bảo Châu (2013a), GS Ngô Bảo Châu chia sẻ nhiều bí quyết trở thành nhà khoa học Giao lưu lần thứ năm của Câu Lạc bộ “Café số 5”với chủ đề Nâng cao tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu khoa học ngày 17/12/2013 tại Đại học Quốc gia Hà
Nội (Xuân Trung ghi), se-nhieu-bi-quyet-de-tro-thanh-nha-khoa-hoc-post135782.gd 1/1/2014
http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/GS-Ngo-Bao-Chau-chia-5 Ngô Bảo Châu (2013b), Tôn trọng quy trình, nghiêm khắc, mới làm nên nhà khoa học Trả lời phòng vấn của báo Giáo dục Việt Nam, http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-
24h/Ton-trong-quy-trinh-nghiem-khac-moi-lam-nen-nha-khoa-hoc-post135834.gd truy cập ngày 1/1/2014
6 Trần Văn Thọ (2003), Đặt lại vấn đề học vị Tiến sĩ, bài đăng trên báo Tia Sáng số
tháng 9 năm 2003, tại
http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/tranvantho/vandehocvitiensi.htm truy cập ngày 14/12/2011
7 Uyên Na (2012), Luận án tiến sỹ về… tắm giặt và nghịch lý của tri thức, Báo Pháp
luật online,
http://baophapluat.vn/thoi-su/luan-an-tien-sy-ve-tam-giat-va-nghich-ly-cua-tri-thuc-159136.html truy cập ngày 14/12/2013
8 Vietnamnet (2006), Đào tạo tiến sĩ trong nước: Chất lượng thấp, Báo Vietnamnet,
http://vnn.vietnamnet.vn/tinvan/2006/01/530841/, truy cập ngày 7/7/2014
9 Vũ Thơ (2006), Ôi, luận án tiến sĩ, Báo Vietnamnet,
http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/2006/01/531362/ truy cập ngày 8/7/2014
10 Vũ Thơ (2012), Vật vờ nghiên cứu khoa học - Kỳ 2: Nhiều tiến sĩ, ít phát minh, báo Thanh Niên, ngày 05/12/2012, tại
nhieu-tien-si-it-phat-minh.aspx truy cập ngày 5/12/2012
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121205/vat-vo-nghien-cuu-khoa-hoc-ky-2-* Nhận bài ngày: 13/5/2014 Biên tập xong: 5/6/2014 Duyệt bài: 12/6/2014
Trang 16TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21- Tháng 6/2014
PHỞ DƯỚI CÁI NHÌN LỊCH SỬ - VĂN HĨA
NGUYỄN XUÂN KÍNH (*)
TĨM TẮT
Các nhà nghiên cứu cho rằng phở ra đời ở Hà Nội, vào ba thập niên đầu của thế kỉ XX Ban đầu nĩ là phở bị chín và được gánh đi bán Cho đến năm 1943, phở đã phổ biến ở Hà Nội và lúc này, khách ăn khơng thích phở gà Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ở vùng tự do, phở là mĩn ăn đặc biệt; cịn ở Hà Nội, từ năm 1952, bên cạnh phở bị, người ăn cũng đã ăn phở gà Trong thời gian 1955 - 1975, ở miền Bắc cĩ phở tư nhân và phở mậu dịch, ở Sài Gịn, số hàng phở khơng nhiều Trong vài chục năm gần đây, ở Thành phố Hồ Chí Minh, phở đã phổ biến Bài viết cũng đề cập đến vấn đề giữ gìn bản sắc của phở
Từ khĩa: Phở, phở gánh, phở hiệu, phở bị, phở gà, phở mậu dịch, phở tư nhân
ABSTRACT
Researchers’ assumption is that Pho came into being in the first 3 decades of the 20th century, in Hanoi From the beginning, (phở - a Vietnamese noodle soup consisting of broth, linguine- shaped rice noodles called bánh pho, a few herbs, and meat) Pho chín (served with beef well done) appeared first in the streets, in form of pho ganh (- a roaming street vendor, shouldered mobile kitchens on carrying poles) Until 1943, pho had become popularized in Hanoi, pho ga (chicken pho) was not so preferred During French colonial period, in the Viet Minh controlled areas, chicken pho was considered as specialty In Hanoi, in 1954, chicken pho was popularized along with beef Pho During 1955 - 1975, in the North, besides state- run pho stands there were private owned pho stands In Saigon, the pho stands, at that time, were scarce Recently, pho has been popularized in Ho Chi Minh City
Keywords: Pho, roaming street vendors, beef pho, chicken pho, pho stands, state run
pho stands, private owned pho stands
1 PHỞ TRƯỚC CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945*
So với bún, phở ra đời muộn hơn
nhiều Nhà nghiên cứu Đào Hùng (1932 -
2013) viết: “Nhìn lại các bữa ăn truyền
thống vào dịp lễ tết của người Việt, ta
khơng hề thấy bĩng dáng của phở, trên bàn
thờ khơng bao giờ bày phở cúng, chứng tỏ
nĩ khơng gắn với những tập tục ăn uống
lâu đời của dân tộc Trong khi đĩ bún lại là
mĩn ăn phổ biến trong mọi nhà, nhất là khi
lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
dọn cỗ bàn”(1) Căn cứ vào sự cĩ mặt của từ
“bún” trong Từ điển Việt - Bồ - La (xuất
bản năm 1651), chúng ta thấy muộn nhất thì bún cũng đã cĩ trong văn hĩa ẩm thực nước ta từ nửa đầu thế kỉ XVII
Bằng phương pháp tra cứu các từ điển, tác giả Bùi Minh Đức cho rằng “phở Bắc ra đời vào khoảng từ những năm 1898 - 1931 (tức khoảng cách từ Từ điển Génibrel 1898 đến Từ điển Khai Trí Tiến Đức năm 1931) Cũng trong khoảng thời gian 30 năm này, ngồi phở thịt bị tái ra, cịn cĩ thêm phở xào (…)”(2)
Tác giả Đào Hùng nhận xét rằng, phở
Trang 17PHỞ DƯỚI CÁI NHÌN LỊCH SỬ - VĂN HÓA
chỉ xuất hiện khi có cuộc sống đô thị vào
những thập niên đầu của thế kỉ XX, ở thành
phố lớn miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Tùng, từ
đầu thế kỉ XX, món phở đã ngày càng trở
nên quen thuộc và được Việt hoá cao độ(3)
Các nhà nghiên cứu (Đinh Gia Khánh
(1924 - 2003), Đào Hùng) và nhà văn
Nguyễn Tuân (1910 - 1987) tuy khác nhau
về chi tiết, nhưng đều cho rằng tiếng “phở”
là từ tiếng “phấn” trong món ăn “ngưu
nhục phấn” của Hoa kiều ở Hà Nội mà ra
Giáo sư Đinh Gia Khánh giải thích: “Xưa
kia, người Hoa kiều bán một thứ cháo bột
mì gọi là “ngưu nhục phấn” (cháo bột mì
nấu với thịt bò) Không hiểu tại sao mà sau
đó cái tên ấy lại được mở rộng ý nghĩa để
gọi thức mì nước có thịt bò (thực ra mì
nước với thịt bò phải gọi là “ngưu nhục
miên”) Người Hoa kiều bán hàng rong,
ngân dài âm và mở to miệng để rao Do đó
“phấn” được đọc chệch là “phớ ớ ớ”
Người Việt Nam lại đọc “phớ” là “phở”
Cái tên phở về sau lại được dùng để gọi
một món ăn tương tự như mì nước”(4)
Cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện
Ngôn ngữ học định nghĩa phở như sau:
“Món ăn gồm bánh phở thái nhỏ và thịt
chan nước dùng (phở nước) hoặc xào với
hành mỡ (phở xào)”(5) Viết như vậy không
sai, nhưng còn chung chung, chưa phân
biệt được phở của ta với “nhục phấn” của
người Hoa Tổng hợp ý kiến của các tác giả
đã bàn, ta nhận thấy, sự khác nhau giữa
phở và “nhục phấn” thể hiện ở ba điểm
dưới đây:
- Trong nồi nước dùng của phở, “ngoài
những gia vị quen thuộc của Trung Quốc
như thảo quả, hồi, quế , thì nhất thiết phải
có nước mắm Thiếu nước mắm thì không
thể có hương vị đặc trưng của phở”(6)
- “Nhục phấn” của Hoa kiều dùng mì
sợi, còn “phở của ta không dùng mì sợi Chúng ta dùng bánh tráng bằng bột gạo đem thái thành sợi dẹp và to bản, chứ không tròn như sợi mì”(7)
- Về sau “nhục phấn” còn được nấu bằng thịt lợn, phở của ta lúc đầu chỉ dùng thịt bò, về sau có thêm phở gà chứ không bao giờ dùng thịt lợn(8)
Nếu những điều tác giả Cự Vũ cho biết
và Bùi Minh Đức dẫn lại là chính xác, thì
sự hình thành và ra đời của món phở diễn
ra từ nửa cuối những năm 20 của thế kỉ trước cho đến năm 1931
Vào khoảng năm 1926, có hai vợ chồng già người Quảng Đông làm nghề bán “trư nhục phớn” ở phố Hàng Buồm cho người Hoa ăn sáng Một người đầu bếp nấu món súp của trại sĩ quan Pháp ở Cửa Bắc, Ngọc Hà, đã vớt xương bò còn dính thịt, gân, đem ra bán lại cho người Hoa kiều già Người này đem về cho thêm mắm, muối, quế, hồi, thảo quả (ngũ vị hương) nấu lại cho nhừ lần nữa Ông ta thái bánh tráng ướt thành sợi dài như chiếc đũa mà tiếng Quảng Đông gọi là “phớn” (tức “phấn”), rồi đem nhúng những sợi
“phớn” vào nước sôi bằng cái rọ tre có cán, xong đổ vào bát lớn rồi gỡ các miếng gân, sụn, thịt đã nhừ, sau đó múc nước hầm xương bò đổ vào chiếc bát lớn đó(9) Ông ta bán cho công nhân nhà máy diêm, nhà máy điện Yên Phụ và những người kéo xe tay ở
Hà Nội đi làm ca ăn đêm Giá rẻ (chỉ 3 xu một bát to) lại thơm ngon, nóng sốt Từ năm 1926 đến năm 1930, vợ chồng người Hoa này mỗi ngày một già yếu mà hàng quán lại càng ngày càng đông khách, nên
họ phải thuê vợ chồng người Việt quê ở Nam Định phụ giúp Từ chỗ lúc đầu chỉ có thợ thuyền, phu lao động ăn, về sau các quan viên trung lưu đi hát cô đầu ban đêm trở về nhà cũng ăn
Trang 18NGUYỄN XUÂN KÍNH
Khoảng năm 1930 - 1931, không thấy
vợ chồng người Hoa bán nữa, thay vào đó
là những người Việt quê ở Nam Định
khoảng 30 - 40 tuổi gánh phở đi bán ở một
vài nơi trên hè phố Hà Nội Có thể những
người này đã “bắt chước” nghề làm phở
của người Hoa Có điều món phở bò của
người Hoa trong những năm 1926 - 1930
chưa có rau gia vị như về sau này, lúc đó
chỉ có hạt tiêu, chứ chưa dùng ớt, lúc đó
chỉ có phở chín, chưa có phở tái (bởi người
Hoa ăn thịt nấu chín, không ăn sống và
không ăn tái) Nhờ cách ăn phở đa dạng của
người Hà Nội, trong văn chương của chúng
ta trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
mới có một câu đối hay Vế đầu diễn tả tâm
trạng của vợ anh hàng phở góa chồng không
muốn đi bước nữa: “Nạc mỡ nữa làm gì!
Em nghĩ chín rồi! Đừng nói với em câu tái
giá!” Nhưng ông đồ nho già lại vẫn cứ ỡm
ờ theo sát đối vế sau: “Muối tiêu đâu có
ngại! Lão còn gân chán! Thử vui cùng lão
miếng gầu dai!”(10)
Đến năm 1943, năm mà “Hà Nội băm
sáu phố phường” của Thạch Lam (1910 -
1942) được Nhà xuất bản Đời nay công bố,
phở đã nổi tiếng và quen thuộc với người
Hà Nội Phở là thứ quà thật đặc biệt của Hà
Nội, không phải chỉ Hà Nội mới có, nhưng
chỉ ở Hà Nội mới ngon Đó là thứ quà có
thể ăn vào mọi lúc của tất cả mọi người,
nhất là công chức và thợ thuyền Người ta
ăn phở sáng, ăn phở trưa và ăn phở tối
Vào nửa đầu những năm 40, ở Hà Nội
có cả phở gánh và phở bán ở hiệu (phở
hiệu) Khách ăn có mấy cách đặt tên phở
Tên người bán phở thường chỉ được gọi một
tiếng, người ta lấy ngay tên cúng cơm người
chủ hoặc tên con mà đặt tên gánh, tên hiệu,
thí dụ, phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ, phở
Tư Có khi dị tật của người bán phở “được
cảm tình quần chúng thân mật nhắc lại
thành cái tên hiệu: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt Cái khuyết điểm trên hình thù ấy đã chuyển thành một cái uy tín trong nghề bán miếng chín mà lưu danh một thời trên cửa miệng những người sành”(11) Có khi một nét trang phục của người bán phở trở thành tên gọi phở: Bêre, phở Mũ dạ, Có khi người ăn lại lấy địa điểm mà anh hàng phở bán hàng để đặt tên: phở phố Ga, phở Hàng Cót, phở Bến tàu điện, phở Gầm cầu, Phở gánh có vị riêng, không giống như phở bán ở hiệu Nhà văn Thạch Lam khắc họa hình ảnh và cái ngon của phở gánh:
“Sao bằng ra đầu phố ăn một bát phở của
anh hàng phở áo cánh trắng, gilet đen, và
tóc rẽ mượt? Nồi nước sôi sùng sục, toả mùi thơm ra khắp phố Nếu là gánh phở ngon - cả Hà Nội không có đâu làm nhiều - thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa Ăn xong bát thứ nhất, lại muốn ăn luôn bát thứ hai Và anh hàng phở chả phải gánh nặng đi đâu
cả, chỉ việc đỗ một chỗ nhất định, cũng đủ bán một ngày hai gánh như chơi”(12) Nhà văn còn dẫn dắt người đọc đến
“một nơi phở rất ngon mà không có ai nghĩ đến và biết đến: ấy là gánh phở trong nhà thương Trong nhà thương vốn có một bà bán các thứ quà bánh ở một gian hàng dựng dưới bóng cây Cái quyền bán hàng đó là quyền riêng của nhà bà, có từ khi nhà thương mới lập Bà là người ngoan đạo nên tuy ở địa vị đặc biệt đó, bà cũng không bắt
bí mọi người và ăn lãi quá đáng Thức gì bán cũng ngon lành, giá cả phải chăng Nhưng gánh phở của bà thì tuyệt: bát phở đầy đặn và tươm tất, do hai con gái bà làm, trông thực muốn ăn Nước thì trong và lúc nào cũng nóng bỏng, khói lên nghi ngút Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm
Trang 19PHỞ DƯỚI CÁI NHÌN LỊCH SỬ - VĂN HÓA
gắt, lại điểm thêm chút cà cuống, thoảng
nhẹ như một nghi ngờ Mà nhân tâm tuỳ
thích, nhà hàng đã khéo chiều: ai muốn ăn
mỡ gầu, có; ai muốn ăn nạc, có; muốn ăn
nửa mỡ nửa nạc, cũng có sẵn sàng Cứ mỗi
buổi sáng, từ sáu giờ đến bảy giờ - chỉ
trong quãng ấy thôi vì ngoài giờ là gánh
phở hết - chung quanh nồi nước phở, ta
thấy tụm năm tụm ba, các bệnh nhân đàn
ông và đàn bà, các bác gác san, các thầy y
tá, và cả đến các học sinh trường Thuốc
nữa Chừng ấy người đến hợp lòng trong sự
thưởng thức món quà ngon, nâng cách ăn
phở lên đến một nghệ thuật đáng kính”(13)
Như vậy, cho đến năm 1943, ở Hà
Nội đã có cả phở gánh và phở hiệu, song
phở gánh nổi tiếng hơn và được ưa
chuộng hơn Hầu hết các gánh phở, hiệu
phở đều dùng thịt bò, phở chế biến bằng
thịt gà rất hiếm, bởi theo cách nói của
Thạch Lam, hình như nó không được
hoan nghênh
2 PHỞ TRONG THỜI GIAN
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc
kháng chiến toàn quốc bùng nổ Trong thời
gian kháng chiến (1946 - 1954), vùng
chính quyền ta kiểm soát được gọi là vùng
tự do, vùng kháng chiến, chủ yếu ở nông
thôn, rừng núi Vùng quân Pháp và chính
quyền tay sai chiếm đóng gọi là vùng Pháp
kí của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng ghi
rằng, sau mấy ngày chạy giặc, trong hai
ngày 2 và 3/12/1947, nhóm văn nghệ sĩ các
ông ở Hồ Sơn thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (hiện
nay), gặp được Ủy ban Kháng chiến địa
phương là họa sĩ Phạm Văn Đôn xin tiền Sau đó cả nhóm ra chợ Sống, “ăn phở ngon”(14) Nhật kí của nhà thơ Thôi Hữu, ngày 18/10/1949: “Thảo luận với Đoàn Việt xong, xuống chợ Đồng Mỏ chơi Ăn phở? Ngoài trời, chiều rét”(15) Nhật kí của nhà văn Nam Cao, ngày 25/7/1950: “Nước Hai Vịt 120 đồng, trong khi ở Nguyên Bình 200 đồng và Bắc Cạn 380 đồng Phở Bắc Cạn 50 đồng, phở Bình Nguyên 30 đồng”(16) Nhật kí của Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến, ngày 30/1/1949:
“Mùng hai Tết Cùng với Hồ Chủ tịch được ăn phở tái Ăn sáng xong, từ giã Cụ, chúng mình trở về cơ quan”(17) Ông Vũ Quốc Tuấn, nguyên cán bộ Văn phòng Sở kinh tế Việt Bắc kể rằng: Ấm Thượng (thuộc Phú Thọ) có hàng phở ngon nổi tiếng Không hiểu vì lí do gì, ông chủ lại nghĩ ra một cái tên rất đáng sợ, nhưng vì đáng sợ nên lại hấp dẫn: “Phở Tàu bay” Tại sao ông lại đặt tên như vậy? Thứ nhất,
vì phở làm rất nhanh, thời đó người Việt Nam có câu: “Nhanh như tàu bay, quay như chong chóng, nóng như nước sôi” Thứ hai, vì ở đây có cả hầm tránh máy bay, khách đến ăn phở có thể yên tâm Về sau, ông chủ hàng phở này trở về Hà Nội, mở một tiệm ở phố Bà Triệu, cũng lấy tên là
“Phở Tàu bay” “Cái tên này đã có sức quyến rũ không chỉ với những người ở vùng kháng chiến về tề, mà quyến rũ cả những người vốn vẫn ở trong tề nhưng tò mò và thèm khát cuộc sống kháng chiến nên cũng đến ăn phở Phở Tàu bay nổi tiếng, truyền tụng hết thế hệ này đến thế hệ khác, rồi sau này vào tận cả Nam Bộ Ở Sài Gòn, nhiều tiệm Phở Tàu bay cũng bắt nguồn từ
Ấm Thượng”(18) Nhà văn Nguyễn Tuân kể rằng, ở vùng
tự do có những hàng phở nổi tiếng như phở Giời, phở Đất, phở Công; “nhưng vẫn có
Trang 20NGUYỄN XUÂN KÍNH
những bát phở chưa được đúng cách thức
lắm mà ăn vào vẫn thấy cảm động Ví dụ
phở ăn ở căn cứ địa, làm ngay trong cơ
quan Một vài cơ quan ở quanh trung ương
chung nhau giết bò để bồi dưỡng theo kế
hoạch hằng tháng Có những đồng chí cấp
dưỡng rất yêu thương anh em, nhất định tổ
chức phở Thịt sẵn, xương sẵn, nhưng thiếu
nước mắm, thơm, hành mùi, bánh lại là bánh
đa khô Nhưng cứ làm Những chầu phở
ngày chủ nhật bên bờ suối cơ quan, thật là
đầu đề phong phú cho báo liếp Ăn phở trên
rừng càng thấy cồn cào nhớ miền xuôi”(19)
Vào đầu những năm 50, giáo sư Hoàng
Như Mai (1919 - 2013) chứng kiến món
phở nhớ đời tại Khu Học xá trung ương,
đóng tại Trung Quốc Chính phủ ta nhờ địa
điểm nước này, để thầy và trò có điều kiện
dạy và học tốt hơn, chuẩn bị nguồn nhân lực
có chất lượng cao nhằm phục vụ đất nước
sau này Hồi mới sang Khu Học xá, giáo sư
mang theo bệnh sốt rét rừng Ông không ăn
được, chỉ mới ngửi hơi cơm là đã nôn mửa,
bỏ ăn Quản lý bếp ăn là người Trung Quốc,
rất băn khoăn, hỏi ông ăn được thứ gì? Ông
nói rằng có lẽ ăn được phở (ông nhớ phở Hà
Nội trước ngày toàn quốc kháng chiến) Khi
họ mới đem phở đến cửa phòng thì ông đã
nôn thốc nôn tháo, mật xanh mật vàng Ông
là Hiệu trưởng Trường Sư phạm trung cấp
trung ương, tiêu chuẩn ăn cao Những người
phục vụ Trung Quốc dùng toàn bộ số tiền
tiêu chuẩn ấy để làm phở Thay vì một bát
phở (mà chưa chắc ông đã ăn được), họ
mang đến “cả một chậu sứ bự như chậu tắm
đầy bánh phở, thịt chất lên như ngọn núi,
mùi nồng nặc khắp phòng ”(20)
Đời sống của người Việt Nam trong
vùng Pháp chiếm đóng không đồng đều, có
sự chênh lệch rất lớn tùy theo tầng lớp xã
hội, khu vực và thời gian khác nhau
Những năm đầu kháng chiến, đời sống của
đa số cư dân khá vất vả Từ những năm
1949 - 1950 trở đi, nhất là từ khi có viện trợ của Mĩ, ở một số vùng đô thị, đời sống vật chất của một bộ phận dân cư khá lên rõ rệt, hơn hẳn giai đoạn thuộc địa Ngược lại,
ở vùng nông thôn có chiến sự và ở vùng giáp ranh, đời sống của nhân dân ở mức cực khổ
Pháp bắt đầu tuyển dụng công nhân, viên chức từ năm 1947 và số người này tăng lên từng năm Mức lương của viên chức làm việc cho bộ máy của Pháp và cho
bộ máy của chính quyền Bảo Đại khá cao Binh lính và sĩ quan ngày một tăng về số lượng và cũng có lương cao Nói chung, người dân ở khu công nghiệp và thành phố không phải ăn độn Theo Đặng Phong
(1939 - 2010), tờ báo Ngày mới cho biết
giá cả ăn uống ở Hà Nội, vào tháng 12 năm
1947 là như thế này: Ăn cơm tháng (mỗi sáng có phở) là 300 đồng/ tháng; cơm bữa
6 đồng/ bữa; phở 3 đồng/ bát; cơm đĩa 7 đồng/ đĩa; cà phê 3 đồng/ tách; (21)
Chiếm số đông tại Hà Nội tạm chiếm là phở gánh, phở hiệu; phở xe khá hiếm Người ăn nghiệm ra rằng, phần nhiều hàng phở lúc còn gánh thì ngon, sau dọn thành cửa hàng (phở hiệu) thì kém Đối với người sành ăn, phở ngon tức là “bánh phải mỏng
và dẻo, thịt mềm, và nhất là nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, tẩy vừa vặn không nồng, mà lại tra vừa mắm muối, không mặn quá mà không nhạt quá”(22) Nhà văn Vũ Bằng (1913 - 1984) cho biết, vào khoảng 1948 -
1949, các hàng phở ngon ở Hà Nội là phở Phú Xuân, phở Đông Mỹ, phở Tứ, phở Tư, Cũng theo nhà văn, một người bạn đã từng nếm đủ hương vị của tất cả các hàng phở danh tiếng ở Hà thành khoảng ba mươi
năm, một hôm, anh ta cho tác giả Miếng ngon Hà Nội biết rằng, đến năm 1952, “phở
Trang 21PHỞ DƯỚI CÁI NHÌN LỊCH SỬ - VĂN HÓA
hình như đã tiến tới chỗ tuyệt đỉnh của nó
rồi, cũng như bản nhạc tuyệt kĩ không chê
vào đâu được, nghĩa là không thể thêm một
món gì hay giảm một món gì”(23) Người
được mệnh danh “Vua phở 1952” là anh
phở gánh có tên Tráng Anh bán cả phở bò
chín và phở bò vừa chín vừa tái ở phố Hàng
Than Phở của anh “ngon lạ ngon lùng”(24)
Anh còn biết “chiều ý khách hàng một cách
đáng yêu”(25) Chỉ độ chín giờ, chín rưỡi
sáng là phở Hàng Than hết hàng, một số
khách đến chậm phải về không, vì thế
những người nghiện phở thường vẫn rủ
nhau đi ăn thật sớm
Nếu năm 1943, như Thạch Lam cho
biết, người Hà Nội không hoan nghênh phở
gà thì theo lời Vũ Bằng, năm 1952, họ đã
ăn phở gà và “rồi cũng quen đi” Vũ Bằng
viết: “Thật ra công việc so sánh phở bò và
phở gà không thể thành được vấn đề,
nhưng một buổi sáng mùa thu rỗi rãi, trời
hơi lành lạnh, mà ngồi ăn một bát phở gà,
có đủ rau mùi, hành sống, vừa ăn vừa nghĩ
thì phở gà cũng có một phong vị riêng của
nó, khác hẳn phở bò Điều người ta nhận
thấy trước mắt là phở gà thanh hơn phở bò:
thịt dùng vừa đủ chứ không nhiều quá: ở
giữa đám bánh phở nổi lên mấy miếng thịt
gà thái nhỏ xen mấy sợi da gà màu vàng
nhạt, điểm mấy cuộng hành sống xanh lưu
li, mấy cái rau thơm xanh nhàn nhạt, vài
miếng ớt đỏ: tất cả những thức đó tắm
trong một thứ nước dùng thật trong đã làm
cho bát phở gà có phong vị của một nàng
con gái thanh tân - nếu ta so sánh bát phở
bò với một chàng trai mà hào khí bốc lên
ngùn ngụt”(26)
Những hàng phở gà ngon thường dùng
thịt gà mái, ăn thơm và mềm Có một hàng
phở gánh chuyên bán phở gà ngon nổi
tiếng, đỗ ở dưới gốc si phố Huyền Trân
Công chúa(27)
Kĩ tính và cả đời chỉ ăn phở như ăn một thứ quà, và chỉ dùng phở bò chín như Nguyễn Tuân cũng phải thừa nhận: “Muốn đổi cái hương vị chính cống của phở bò, ăn một vài lần phở gà trong đời mình cũng không sao”(28)
3 PHỞ TỪ NĂM 1955 ĐẾN NĂM 1975 Hiệp định Giơnevơ (1954) thừa nhận nguyên tắc độc lập, thống nhất, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, quy định lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam; việc hiệp thương giữa hai miền bắt đầu từ ngày 20 tháng 7 năm 1955
và việc tổng tuyển cử tiến hành vào tháng 7 năm 1956 Nhưng đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn đã phá hoại Hiệp định, chia cắt đất nước ta lâu dài Phải đến 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam mới thống nhất
Từ chiến khu về Hà Nội, những người
đi kháng chiến như Tô Hoài nhận thấy:
“Trở lại thành phố, khó đâu chưa biết, nhưng thức ăn hàng hóa ê hề Chiều chiều, uống bia Đức chai lùn bên gốc liễu nhà hàng Thủy Tạ Nhà hàng Phú Gia, vang đỏ vang hồng vang trắng vỏ còn dính rơm như vừa lấy ở dưới hầm lên Áo khoác lông cừu Mông Cổ ấm rực, người ta mua về phá ra làm đệm ghế Hàng Trung Quốc thôi thì thượng vàng hạ cám Kim sào, kim khâu, chỉ màu, củ cải ca la thầu, sắng xấu, mì chính, xe đạp “cái xe trâu” Cả xirô ngọt pha vào bia cho những người mới tập tọng uống bia Bắt đầu được lĩnh lương tháng ( ) tối nào cũng la cà hàng quán được Có cảm tưởng “cả loài người tiến bộ” đổ tiền của đến mừng Việt Nam Điện Biên Phủ”(29) Lúc này, ăn một bát phở ngon ở
Hà Nội là một việc dễ dàng
Nhưng tình hình trên chỉ diễn ra vào những năm đầu hòa bình lập lại Tình hình chính trị - xã hội phức tạp dần và đời sống vật chất càng ngày càng khó khăn hơn
Trang 22NGUYỄN XUÂN KÍNH
trước Đến những năm 60 và nửa đầu
những năm 70, theo nhà sử học Đặng
Phong, qua các cửa hàng phở, nhà nghiên
cứu kinh tế có thể thấy được sức mua của
xã hội
Vào những kì lĩnh lương, tức là những
ngày đầu tháng và sau ngày 15 hằng tháng,
các quán phở rất đông khách Những ngày
còn lại trong tháng, lượng khách rất vắng,
chỉ còn khoảng 50 - 60% so với số khách
vào những ngày đầu hoặc giữa tháng
“Điều đó chứng tỏ hai mặt của cuộc sống
thời đó, người ta vẫn có sự thoải mái trong
tiêu dùng Mặt khác, sự thoải mái đó chỉ
được thực hiện trong giới hạn của mức thu
nhập Người ta thường đi ăn phở, ăn quà
sáng một cách “sang trọng” vào những
ngày lĩnh lương, còn sau đó thì “ba cọc ba
đồng” Cái chu kì hai lần đông khách trong
một tháng ở những cửa hàng ăn uống có
thể nói lên được phần nào sức tiêu dùng
khá hạn hẹp Tuy nhiên vẫn có sức tiêu
dùng”(30)
Có phở mậu dịch và phở tư nhân Phở
tư nhân thường ngon hơn bởi có ngon mới
thu hút được khách, và họ làm giống như
phở truyền thống Phở mậu dịch thì nồi
nước dùng đuểnh đoảng, việc thái miếng
thịt cũng không đúng cách, nhiều khi dùng
thịt lợn thay cho thịt bò, thịt gà, thậm chí
có khi thịt lợn cũng không có và nhân dân
gọi hài hước đó là “phở không người lái”
(thời gian đó bên cạnh máy bay chiến đấu,
đế quốc Mĩ còn dùng máy bay không
người lái để do thám miền Bắc) Nhà sử
học Đặng Phong đã viết chi tiết về một
hiệu phở tư nhân như sau Ở Hà Nội có phố
Nam Ngư (tên cũ là phố Hàng Lọng) Phố
này có hiệu phở nổi tiếng ở nhà số 7, gọi là
phở gà bà Lâm Lai lịch của hiệu phở khá
thú vị Trong thời kháng chiến chống Pháp,
Nam Ngư trở thành phố ở của các viên
chức và của những gia đình nghèo, sống bằng những nghề có liên quan đến ga Hàng
Cỏ và chợ Cửa Nam Ở nhà số 7 có một hàng bán củi và than cho các gia đình quanh đó Ông chủ đặt tên một cách quá ư phóng đại cho cửa hàng là hàng củi Triệu Lâm (nghĩa là triệu rừng) Từ đó, người quanh phố và khách hàng gọi ông bà chủ là ông Lâm, bà Lâm (không mấy người biết tên thật của ông là Khôi, của bà là Thách) Triệu Lâm không hề kinh doanh tới bạc triệu, đây chỉ là một cửa hàng củi nhỏ Chính ông chủ phải tự tay bổ củi, rồi tự tay
bó thành những bó nhỏ để bán Các con thì nắm than, còn bà thì lo kiếm thêm cho sinh hoạt gia đình bằng nghề buôn thúng bán mẹt ở quanh ga và chợ Cửa Nam Ít lâu sau, bà chuyển sang làm hàng xáo, tức là đi đong thóc ở các tỉnh về xay giã rồi đem gạo, cám rao bán trên chợ Cửa Nam Trấu thì bán tại nhà làm chất đốt cùng với than
và củi Khi Chính phủ tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư nhân (1958 - 1960), củi và gỗ là mặt hàng chiến lược của nhà nước, tư nhân không được phép khai thác
và buôn bán Từ khoảng năm 1960 trở đi, chất đốt do nhà nước cung cấp cho dân thành phố theo chế độ tem phiếu Ban đầu cũng là củi, trấu của nhà máy xay và than của Quảng Ninh Sau vì có hàng Liên Xô viện trợ nên nhà nước bán dầu hỏa thay cho than và củi Gạo cũng trở thành mặt hàng chỉ có nhà nước mới được kinh doanh Ông Lâm trở thành nhân viên trong
tổ hợp tác dịch vụ Bà Lâm thôi nghề hàng xáo và chuyển sang bán miến gà trong chợ
Từ khi có chiến tranh phá hoại thì chợ cũng phải sơ tán Bà Lâm chuyển cửa hàng miến
gà sang phố Ngõ Trạm rồi đi bán rong trên các vỉa hè quanh vùng Sang đầu những năm 1970, máy bay Mĩ đánh phá ác liệt khu ga Hàng Cỏ Cuối năm 1972, chính
Trang 23PHỞ DƯỚI CÁI NHÌN LỊCH SỬ - VĂN HÓA
nhà ga trúng bom Mĩ Từ đây tàu hỏa và
các xe tải đều chạy vào ban đêm Thế là
các xe tải đi tuyến B (tức là đi vào Nam)
mà lấy hàng ở ga Hàng Cỏ thì phải đỗ xe
theo thứ tự ở các phố Phan Bội Châu và
Nam Bộ để chờ lấy hàng ở ga Có một cửa
hàng ăn uống quốc doanh được đặt tại phố
Phan Bội Châu để phục vụ cho hành khách
đi tàu và những lái xe chở hàng Cửa hàng
này mang cái tên rất ý nghĩa và cũng rất
nổi tiếng một thời, đó là cửa hàng Bắc -
Nam Nhưng chỉ có một cửa hàng quốc
doanh thì không thể phục vụ xuể Vì vậy
vào đầu năm 1973, hàng miến gà bà Lâm
chuyển về đây Bà chỉ bán miến nấu với
thịt gà là vì từ tháng 4 năm 1972, Chính
phủ nghiêm cấm tư nhân và hợp tác xã
dùng thóc, gạo, ngô, bột mì để nấu rượu
hoặc chế biến ra quà bánh, còn trâu bò là
sức kéo không được giết thịt để ăn Ai bán
phở bò là phạm pháp hai lần: dùng gạo và
giết bò (hoặc tiêu thụ thịt bò lậu) Chỉ có
cửa hàng ăn quốc doanh mới được phép
bán phở bò Bà Lâm chọn miến gà là vì lí
do đó Biết mình ở thế yếu hơn quốc
doanh, bà phải làm miến cho ngon và giá
cả phù hợp Thêm nữa, miến của bà lại có
điểm mạnh hơn phở Bắc - Nam là người ăn
không phải xếp hàng, không phải chờ đợi,
người bán hàng lại có phần niềm nở hơn
với khách Cửa hàng ăn của bà ngày càng
đông Bà đã có sáng kiến rất hợp ý dân lái
xe là thịt gà không xé ra theo lối thanh
cảnh như phở gà Bùi Thị Xuân cũng nổi
tiếng lúc đó Gà của bà Lâm chặt nguyên
miếng Cổ, cánh, đùi, phao câu nhiều ít
tùy ý (và tùy túi tiền) của khách, không có
cảnh bán thế nào phải ăn thế ấy như cửa
hàng quốc doanh Nhiều anh lái xe còn gọi
cả một đĩa thịt gà ăn kèm để chắc dạ đường
trường Ít lâu sau, khi việc cấm gạo và cấm
dùng thịt bò đã nguôi bớt thì phở Bắc -
Nam tàn lụi vì không còn ưu thế độc quyền Bà Lâm chuyển từ miến sang phở Phở của bà lại càng ngon hơn và càng đông khách hơn Bà dời hẳn cửa hàng từ góc phố
về ngôi nhà số 7 của gia đình bà Theo thời gian, cửa hàng phở Lâm đã tạo nên phản ứng dây chuyền Một loạt cửa hàng phở gà khác đã ra đời trên con phố này(31)
Nếu khoảng năm 1945 phở đã vào đến Huế (tuy không được người Huế mặn mà đón nhận) thì phải sau năm 1954, theo dòng người di cư, phở mới đến được Sài Gòn Ở đây, khi ăn phở, thực khách dùng thêm rau thơm có húng chó, mùi tàu để nguyên cả lá và đĩa giá sống Lúc đầu, phở được bán ở ngã tư đường Pasteur và Hiền Vương rồi lan đến ngã tư Chi Lăng - Võ Tánh, đường vào sân bay Tân Sơn Nhất(32)
4 PHỞ TỪ SAU KHI ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT ĐẾN NAY
Trong thời bao cấp (1975 - 1986), đời sống vật chất khó khăn, ở Hà Nội ít có phở ngon Câu tục ngữ mới “Phở mậu dịch, kịch ti vi” ghi nhận rằng, phở do cửa hàng mậu dịch làm và bán thì nhạt nhẽo, còn các
vở kịch trên màn hình vô tuyến thì không hấp dẫn
Từ sau năm 1986, năm bắt đầu của quá trình đổi mới, kinh tế được vực dậy, sau đó khởi sắc, dần dần các cửa hàng phở mậu dịch vắng bóng và lùi vào dĩ vãng Phở tư nhân lại có đất phát triển Bà Lâm, chủ hiệu phở gà số 7 Nam Ngư mà chúng ta đã biết, mất năm 1995, thọ 79 tuổi Cửa hàng ngày nay do người con gái bà kế tục Phở vẫn ngon, song đã trở lại là thứ phở gà truyền thống, không còn là thứ phở gà chặt miếng
to béo ngậy một thời Không phải người con gái không làm được như mẹ, mà vì hiện nay, khách ăn đã no nê thịt cá, chỉ thích ăn phở thanh cảnh ngày trước(33) Theo đà đi lên của cuộc sống, sự giao lưu
Trang 24NGUYỄN XUÂN KÍNH
diễn ra mau lẹ và rộng khắp dẫn đến thực tế
hiện nay là hầu hết các hàng quà bánh, đồ
ăn ở Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói
chung đều đã có mặt ở Thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng và nhiều tỉnh thành khác ở
phía Nam nói chung Ở Thành phố Hồ Chí
Minh, phở dần dần lấn sân hủ tiếu(34) Riêng
ở Huế thì khác, theo lời nhà sử học Đào
Hùng và các đồng nghiệp của chúng tôi ở
Huế, cho đến nay, “phở vẫn chưa chinh
phục được người dân Huế Không biết có
phải vì thiếu những hàng phở ngon, hay vì
người Huế vẫn quen với món bún bò truyền
thống nên phở không có chỗ chen chân”(35)
Nếu trước kia, phở từ miền Bắc đi vào
miền Nam thì gần đây xuất hiện hiện tượng
ngược chiều: Phở 24 từ Thành phố Hồ Chí
Minh trở ra Hà Nội Phở 24 “đem lại một
cách ăn mới, với bát đĩa sạch sẽ trình bày
đẹp, và không nhất thiết phải ngon hơn
những hàng phở truyền thống, nhưng đã
chinh phục được người Hà Nội có nhiều
tiền”(36)
Hiện nay, mọi nhà, mọi người đều có
thể ăn phở vào bất cứ lúc nào: sáng, trưa,
chiều, tối; thậm chí có cả phở đêm Dân ta
có những câu nói vui xung quanh món phở:
“Bồ là phở, vợ là cơm”; “Sáng dẫn cơm đi
ăn phở, trưa dẫn phở đi ăn cơm, tối đến
cơm về nhà cơm, phở về nhà phở” Người
nước ngoài đến Việt Nam cũng khen ngợi
phở Ở nước ngoài cũng đã có không ít
hiệu phở mà chủ nhân là người Việt
Năm 1957, Nguyễn Tuân đã nhắc đến
điều thắc mắc, lo lắng của một số trí thức
Hà Nội rằng, sau này khi “ta tiến lên kinh
tế hoàn toàn xã hội chủ nghĩa, kinh tế phân
tán không còn nữa thì mất hết phở dân tộc,
và rồi sẽ ăn phở đóng hộp, mỗi lúc ăn bỏ
cái hộp phở ấy vào nồi nước sôi trước khi
đục ra mà ăn, và như thế thì nó trương hết
bánh lên”(37) Điều lo xa này đến nay đã
được kiểm chứng đúng sai Hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế đa thành phần, kinh tế tư nhân còn tồn tại lâu dài, chỉ có hàng phở mậu dịch mất đi, phở tư nhân tự do phát triển Còn phở khô đóng hộp, đóng gói gọi là phở ăn liền thì đã trở thành hiện thực Có điều nó chỉ tiện, không thể ngon bằng phở truyền thống
Đã có những việc làm đáng trách như một số nhà hàng cho hocmon vào bánh phở, dùng hóa chất để ninh xương chóng nhừ, thay vì tạo ra cái ngọt của nước dùng bằng xương ninh, tôm khô, sá sùng, người ta cho quá nhiều mì chính vào bát phở đến nỗi khách ăn xong buồn ngủ, không thể làm việc hoặc học tập, Có thể những việc làm này chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, nhưng cũng là những dấu hiệu cho thấy sự suy thoái đạo đức của những người làm nghề Còn đâu những người bán phở như bà phở gánh trong nhà thương mà Thạch Lam đã ca ngợi trong “Hà Nội băm sáu phố phường”, như ông phở gà nhất nghệ tinh nhất thân vinh ở Hà Nội mà Nguyễn Tuân đã viết, trong tùy bút “Phở”, như anh phở Tráng được mệnh danh là
“Vua phở 1952” mà Vũ Bằng đã kể trong
Miếng ngon Hà Nội Đó là những người
tận tâm với nghề, biết giữ chữ tín, không chạy theo sự cám dỗ của đồng tiền
5 THAY LỜI KẾT: GIỮ GÌN PHỞ BẰNG CÁCH KHÔNG LÀM MẤT BẢN SẮC CỦA PHỞ
Vào cuối những năm 20 của thế kỉ trước, người ta đã cho húng lìu, dầu vừng và đậu phụ vào phở Thử nghiệm này thất bại Thời gian sau, có người làm phở cho
cà rốt thái nhỏ hay làm phở ăn đệm với đu
đủ ngâm giấm hoặc cần tây, nhưng như Vũ Bằng nhận xét “thảy thảy đều hỏng bét vì cái bản nhạc soạn bừa bãi như thế, nó không êm giọng chút nào”(38)
Trang 25PHỞ DƯỚI CÁI NHÌN LỊCH SỬ - VĂN HÓA
Lại có người làm thứ “phở nhừ”: bánh
thì thái to, thịt thì thái con cờ hầm chín,
nước cho húng lìu Làm như vậy đã làm
mất vị phở, thịt ăn lại bã, khách hàng chỉ
ăn một vài lần rồi thôi
Vào nửa đầu những năm 50, ở Hà Nội
có “phở gà xào nhân”: Nhà hàng thái hạt
lựu gan, mề, lòng, tiết, gia thêm mộc nhĩ và
hành tây, đem xào lên vừa chín rồi điểm
vào mỗi bát phở một thìa nhỏ Ăn như thế
thì thơm nhưng có người không ưa vì ngấy
Ngoài ra, khi chan nước dùng vào thì bát
phở mất hết vẻ thanh nhã(39)
Năm 1957, Nguyễn Tuân bảo rằng, thứ
phở ngầu pín chắc “chỉ những người năm
bảy vợ hoặc thích léng phéng mới ăn”(40)
Vào nửa cuối những năm 50, đầu những
năm 60, Nguyễn Tuân phản đối các thứ
phở không đúng cách phở bò chín Nhà văn
nói với Tô Hoài: “Ông nào thích phở xào,
tái sách, tái dúng hay tái lăn, sốt vang lại
đập quả trứng, thêm một cục mọc thịt lợn,
một miếng giò lụa, hay phở thịt gà, thịt
ngỗng, thịt chó rựa mận, thì tùy Tôi không
bởi như thế thì “không còn là phở nữa”(42)
Về những sự thay đổi đối với phở, lời
bình luận của nhà văn Thạch Lam công bố
từ năm 1943 đến nay vẫn còn nguyên giá
trị: “Nhưng cái thứ phở thực cũng như bản
tuồng, chèo Để nguyên tuồng chèo cổ thì
hay, chứ đã pha cải lương vào thì hỏng
toét Có chăng muốn cải cách thì để
nguyên vị, mà cải cách làm tinh vi hơn lên
Các nội dung và thể tài thì vẫn cũ, mà tinh
thần thì ngày một sắc sảo thêm vào”(43)
Vậy cái tinh thần của phở là gì? Đào Hùng đã rất đúng khi viết: “Dù có cải tiến theo kiểu gì thì đi đến đâu phở cũng vẫn là phở, không thể có thứ phở có mùi vị khác
Tạp chí Xưa và nay, Hà Nội, số 55 In lại trong: Nguyễn Thị Bảy (2000), Quà
Hà Nội (tiếp cận từ góc nhìn văn hóa
ẩm thực), Viện Văn hóa và Nxb Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, tr 290 - 291 (4) Đinh Gia Khánh (1989), “Văn hóa
trong ăn uống”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội, số 3, tr 26
(5) Hoàng Phê chủ biên (2002), Từ điển tiếng Việt, in lần thứ tám, Nxb Đà Nẵng,
tr 786
(6) Đào Hùng (2012), sđd, tr 167
(7) Đinh Gia Khánh (1989), bđd, tr 26 (8) Đào Hùng (2012), sđd, tr 122
Không kể những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỉ trước, phở mậu dịch
ở miền Bắc được chế biến bằng cả thịt lợn!
(9) Cự Vũ cho rằng lúc này người Hoa đã cho hành lá và rau mùi lên trên bát phở Nhưng ở đoạn sau, ông lại cho rằng chỉ đến phở của người Việt mới có rau gia
vị Theo Đào Hùng, người Hoa không
ăn mì, ăn “phấn” với hành
(10) Bùi Minh Đức (2009), bđd, tr 50 - 51 (11) Nguyễn Tuân (2004), “Phở”, in trong:
Trần Đình Sử chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam Tập 8: Văn học giai
Trang 26(12) Thạch Lam (2001), “Hà Nội băm sáu
phố phường”, in trong: Phan Trọng
Thưởng, Nguyễn Cừ giới thiệu và
tuyển chọn (2001), Văn chương Tự lực
văn đoàn, tập 3, tái bản lần thứ nhất,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 528
“Hà Nội băm sáu phố phường” in lần
đầu vào năm 1943
(13) Thạch Lam (2001), bđd, tr 528 - 529
(14) Viện Văn học (1995), Cách mạng,
kháng chiến và đời sống văn học 1945
- 1954, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
Nguyễn Tuân và Tô Hoài cũng nói đến
phở Tàu bay ở Hà Nội, song lại giải
thích khác “Cái mũ tàu bay trên đầu
một anh phở thời Tây xưa đã thành cái
tên của một người làm phở trứ danh của
thủ đô sau này” (Nguyễn Tuân (2004),
bđd, tr 288) “Phở Tàu bay ( ), gánh
phở ấy đỗ cạnh dốc bên gốc cây thị đầu
sân vào Sở Văn tự - không biết tại sao
người qua đường lại đặt tên công sở ấy
là Sở Văn tự Có lẽ cũng như chỉ tình
cờ một câu so sánh bông đùa cái mũ da
lưỡi trai hơi dài khác thường của ông
hàng với chiếc mũ phi công mà thành
tên ông phở Tàu bay, một hàng phở
gánh buổi sáng” (Tô Hoài (1995), Cát
bụi chân ai, in lần thứ ba, Nxb Hội
Nhà văn, Hà Nội, tr 9)
(19) Nguyễn Tuân (2004), bđd, tr 290 (20) Hoàng Như Mai (2008), Hoàng Như Mai văn tập, Nxb Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, tr 61
(21) Đặng Phong (2002), sđd, tr 516 (22) Vũ Bằng (2002), Miếng ngon Hà Nội Món lạ miền Nam, Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội, tr 28
Miếng ngon Hà Nội được bắt đầu viết
tại Hà Nội mùa thu năm 1952, sửa chữa
và viết thêm tại Sài Gòn 1956, 1958 -
1959, được xuất bản lần đầu tại Sài Gòn năm 1960
(30) Đặng Phong chủ biên (2005), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 - 2000 Tập 2:
(33) Đặng Phong (2010), sđd, tr 155 (34) Đào Hùng (2012), sđd, tr 127
(35) Đào Hùng (2012), sđd, tr 126 - 127 (36) Đào Hùng (2012), sđd, tr 125 - 126 (37) Nguyễn Tuân (2004), bđd, tr 292 (38) Vũ Bằng (2002), sđd, tr 37
(39) Vũ Bằng (2002), sđd, tr 42
(40) Nguyễn Tuân (2004), bđd, tr 289 Năm 1959, ở miền Bắc, Quốc hội
Trang 27PHỞ DƯỚI CÁI NHÌN LỊCH SỬ - VĂN HÓA
thông qua Luật Hôn nhân và gia đình
đầu tiên Từ thời điểm đó trở về sau, ai
lấy nhiều vợ mới phạm luật
(41) Tô Hoài (1995), sđd, tr 28
Tái sách: “Sách” là nói tắt của “dạ lá
sách”; đây là phần của dạ dày động vật
nhai lại (như bò), ở sau dạ tổ ong, có
nhiều vách ngăn giống như những tờ giấy trong quyển sách
(42) Nguyễn Hà (2000), “Quà Hà Nội”, in trong: Nguyễn Thị Bảy (2000), sđd, tr
302
(43) Thạch Lam (2001), bđd, tr 532 (44) Đào Hùng (2012), sđd, tr 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Minh Đức (2009), “Tô phở Bắc và đọi bún bò Huế trên bình diện văn hóa đối
chiếu”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Huế, số 1
2 Đào Hùng (2012), Câu chuyện ẩm thực dưới góc nhìn lịch sử, Nxb Phụ nữ, Hà Nội
3 Đặng Phong (2002), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 - 2000, Tập 1: 1945 - 1954, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội
4 Đặng Phong (2010), Chuyện Thăng Long - Hà Nội qua một đường phố, Nxb Tri thức,
Hà Nội
5 Đặng Phong chủ biên (2005), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 - 2000, Tập 2: 1955 -
1975, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
6 Đinh Gia Khánh (1989), “Văn hóa trong ăn uống”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội,
số 3
7 Hoàng Như Mai (2008), Hoàng Như Mai văn tập, Nxb Đại học quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh
8 Hoàng Phê chủ biên (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng
9 Lê Văn Hiến (1995), Nhật kí của một Bộ trưởng, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng
10 Nguyễn Thị Bảy (2000), Quà Hà Nội (tiếp cận từ góc nhìn văn hóa ẩm thực), Viện
Văn hóa và Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội
11 Thạch Lam (2001), “Hà Nội băm sáu phố phường”, in trong: Phan Trọng Thưởng,
Nguyễn Cừ giới thiệu và tuyển chọn (2001), Văn chương Tự lực văn đoàn, tập 3, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
12 Tô Hoài (1995), Cát bụi chân ai, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội
13 Trần Đình Sử chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam Tập 8: Văn học giai đoạn 1945 - 2000, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
14 Viện Văn học (1995), Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học 1945 - 1954, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
15 Vũ Bằng (2002), Miếng ngon Hà Nội Món lạ miền Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
* Nhận bài ngày: 28/5/2014 Biên tập xong 5/6/2014 Duyệt bài: 12/6/2014
Trang 28TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 21 - Tháng 6/2014
SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM
QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT
NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH (*)
TĨM TẮT
Từ sự biết, sự hiểu, sự lưu truyền những giá trị truyền thống dân tộc, thơng qua những giai thoại và truyền thuyết gắn với địa danh, với những sắc màu linh thiêng hĩa, thần thánh hĩa, nhiều giá trị mang tính truyền thống tín ngưỡng bản địa và những giá trị tơn giáo và cả những giá trị giao lưu, tiếp biến văn hĩa với các dân tộc, các quốc gia khác trong diễn trình lịch sử của dân tộc đã được bộc lộ, được cộng hưởng và lan tỏa Sự hiện hữu của những yếu
tố linh thiêng hĩa, tâm linh hĩa trong giai thoại và truyền thuyết ở mỗi một địa danh, thực sự
đã gắn bĩ, hịa quyện vào đời sống tinh thần người Việt, đáp ứng nhu cầu con người từ hai phương diện niềm tin tín ngưỡng, tơn giáo và sự chuyển hĩa tâm thức, thực hành các nghi lễ truyền thống Đây chính là cơ sở tạo nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn, thu hút, sức lan tỏa đặc biệt của chiều văn hĩa tâm linh trong địa danh
Từ khĩa: thần thánh, tín ngưỡng bản địa, tâm linh, giai thoại, truyền thuyết
ABSTRACT
From the knowlegeable understanding of traditionally national values handed down by one generation to another, depicted through anecdotes, legends tied with place - names colorfully legendized and deified, exist the values that hold native belief and religion, as well the exchangeable values of culture with other peoples or states in the course of national history that have been displayed and resonated The existence of the diefication and legend elemments in anecdotes and stories in different place- names have been closely harmonized and connected with the spiritual life of the people of Viet Nam, meeting the human requirement on both belief, and religion as well the spiritual evolution and the practice of traditional rituals It is the basics that form the beauty and attraction, and spread out the spiritual dimention of the place names
Keywords: deities and saints, native belief, anecdotes, legends
1 DẪN NHẬP*
Lẽ thường, khi nhắc đến tâm linh,
người ta nghĩ ngay đến một cái gì đĩ thiêng
liêng, vơ hình, phi thực và mang tính vĩnh
cửu “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả
trong cuộc sống đời thường, là niềm tin
thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng
tơn giáo” [2, 11] Với trường hợp các địa
danh, điều đĩ là rõ nét nhất, rõ đến mức cĩ
thể nhìn thấy được cả chiều kích, một chiều
kích tâm linh được thẩm thấu qua những truyện tích, giai thoại và truyền thuyết gắn với những tên gọi của những đối tượng địa lí-nhân văn cụ thể Trong đĩ, những yếu tố giai thoại và truyền thuyết đã gĩp phần làm nên phần hồn của mỗi đối tượng địa lí-nhân văn ấy, tạo nên một khơng gian tâm linh trong địa danh để cho mọi giá trị tinh thần của bản sắc văn hĩa dân tộc Việt được bộc
lộ và lan tỏa Nhờ đĩ, những sắc màu đẹp
đẽ của bức họa về địa danh trở thành biểu
Trang 29SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT
trưng cho những giá trị cao đẹp của hồn
thiêng sông núi, của lòng kính ngưỡng, tri
ân tổ tiên và các vị tiền nhân, các bậc thần,
bậc thánh, các bậc tổ mẫu, của sự ngưỡng
vọng đối với những sự hi sinh cao cả và đối
với cuộc đấu tranh chống lại các thế lực tự
nhiên và xã hội vì sự bình yên của cuộc
sống, của sự cao cả đối với tình yêu đôi lứa,
tình anh em, cha con, chồng vợ Tất cả đều
đã được thiêng hóa, linh hóa, thần thánh
hóa Bởi vậy, bên cạnh vẻ đẹp của không
gian tự nhiên, nhiều địa danh trong hệ thống
địa danh Việt Nam còn lan tỏa bằng vẻ đẹp
của chiều kích không gian tâm linh, không
gian tín ngưỡng tôn giáo
2 KHÔNG GIAN TÂM LINH TRONG
ĐỊA DANH VÀ BIỂU HIỆN CỦA
SẮC MÀU TÂM LINH QUA GIAI
THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT GẮN
VỚI ĐỊA DANH VIỆT NAM
Địa danh là tên riêng của các đối tượng
địa lý tự nhiên và nhân văn, có tính xác
định, bao gồm tên riêng các địa hình thiên
nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị
hành chính, các vùng lãnh thổ, mang trong
mình “số phận” một đối tượng, một vùng
đất, một dân tộc, một đất nước, một con
người Chúng được xem là những “vật hóa
thạch”,“đài tưởng niệm”, tấm bia lịch
sử-văn hóa của đất nước Qua địa danh, chúng
ta có thể thấy bóng dáng của một đời sống
tự nhiên, một đời sống vật chất và tinh thần
của con người với những nhu cầu tâm lý,
tâm linh, những giá trị truyền thống bản địa
cùng với những giá trị giao lưu, tiếp biến
văn hóa với nhiều dân tộc, nhiều quốc gia
khác trong diễn trình lịch sử -văn hóa của
dân tộc Do thế, mỗi một đối tượng địa
lí-nhân văn, khi đóng vai trò là điểm hội tụ
của không gian tâm linh trong địa danh, đấy
là sự hợp thành của ba yếu tố: 1) Có dấu ấn
của tín ngưỡng bản địa hoặc dấu ấn tôn
giáo; 2) Có giai thoại, truyền thuyết lâu đời gắn với đối tượng địa danh đó và được nhân dân kính ngưỡng, lưu truyền; 3) Có không gian thiêng được bao quyện bởi khung cảnh thâm nghiêm, huyền tịch Khi hội đủ những điều kiện của ít nhất một trong ba yếu tố này, mỗi đối tượng địa danh lúc ấy sẽ không còn đơn thuần chỉ có chiều kích vật lí mà đã vượt thoát trở thành một đối tượng nhân văn
có chiều kích tâm linh, mở ra những chiều sâu của sự suy tưởng, suy nghiệm, những sắc màu mang tính chất thiêng hóa và luôn ánh lên vẻ đẹp của sự ngợi ca những giá trị của con người và văn hóa Việt Nam Chỉ riêng nói về thành tố thứ hai, tức yếu tố giai thoại, truyền thuyết, nếu nhìn qua giác độ văn hóa dân gian, chúng ta sẽ thấy sự thẩm thấu và lan tỏa của những giá trị thiêng liêng trong truyền thống văn hóa dân tộc, nghĩa là nhìn các giá trị truyền thống dân tộc trong dòng chảy văn hóa và được lắng tụ
ở mỗi địa danh, trong sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền giữa các thế hệ người Việt, còn nếu nhìn qua giác độ ngôn ngữ học, tên gọi địa danh là sự ánh xạ của chiều kích tâm linh, một chiều thứ ba ngoài hai chiều vật lí
mà một số nhà ngôn ngữ học theo quan điểm thuần túy chưa thực sự công nhận, chẳng hạn, Lê Trung Hoa định nghĩa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” [3, 12] Vì vậy, trong bài viết này, đứng từ góc độ liên ngành văn hóa-ngôn ngữ học, chúng tôi muốn chứng minh rằng,
có một chiều thứ ba thực sự - chiều tâm linh trong địa danh mà nhờ đó, những giá trị bản sắc văn hóa được lộ diện, nói khác đi đó là những biểu hiện về sắc màu của không gian tâm linh trong địa danh Và với sự lan tỏa lung linh, huyễn hoặc của những sắc màu
Trang 30NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
ấy, không gian tâm linh bỗng trở nên thực
hơn và cũng ảo hơn bởi những giá trị vĩnh
hằng được phản chiếu trong cõi nhân sinh
và cõi linh thiêng thần thánh
2.1 Sắc màu của không gian tâm linh
biểu hiện sự kính ngưỡng với hồn thiêng
sông núi và các đấng thần thánh qua giai
thoại và truyền thuyết gắn với địa danh
Việt Nam
Khác với cách nghĩ thiên về trừu tượng,
ở trường hợp cụ thể của địa danh, không
gian tâm linh lại được biểu hiện khá sống
động, với sự vận động cả trong chiều không
gian lẫn chiều thời gian Nhìn trong chiều
thời gian, không gian tâm linh được biểu
hiện và hàm chứa qua bức màn sương khói
về diễn trình lịch sử của đời sống con người
với những quy luật phát triển riêng của nó
Nhìn trong chiều không gian, không gian
tâm linh lại được biểu hiện qua sự vận động
của những tên gọi chỉ địa hình hay chỉ công
trình xây dựng ở mỗi địa phương vùng,
miền khác nhau và luôn chứa đầy huyền
tích Với sự thẩm thấu và lan tỏa từ những
giai thoại và truyền thuyết, chiều kích của
không gian tâm linh đã bộc lộ một cách rõ
nét, trước hết là vẻ đẹp của hồn thiêng sông
núi Việt Nam Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
trong trường ca "Mặt đường khát vọng" đã
diễn tả rất đúng ý này:
" Những người vợ nhớ chồng còn góp cho
Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn
Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước
mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho
Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta ”
Những địa danh được nhắc đến trong lời thơ trên hẳn không xa lạ gì với bất cứ người Việt Nam nào bởi lẽ đơn giản, chúng gần gũi và quen thuộc đến mức những sự tích, giai thoại hay truyền thuyết gắn với tên gọi địa danh ấy ai cũng có thể thuộc, ai cũng có thể kể Nhờ thế, trong sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền giữa các thế hệ người Việt, chúng được xem như những địa chỉ tâm linh tiêu biểu mà mọi người thường hướng đến mỗi khi muốn tìm về những giá trị nguồn cội hoặc những giá trị thiêng liêng của truyền thống dân tộc hay văn hóa bản địa Một địa danh Hạ Long chẳng hạn, với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, người Việt
đã tạo nên một truyền thuyết hết sức cao quí và thiêng liêng nhằm bất tử hóa ý niệm
đó trong tên gọi địa danh này Cho nên, thực chất câu chuyện Ngọc Hoàng sai rồng
mẹ mang theo một đàn rồng con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc ngay từ thuở mới bắt đầu lập nước, sau đó vì thấy con người và vùng đất thanh bình, tươi đẹp, mẹ con đàn rồng không trở về trời mà
ở lại cùng muôn đời con cháu nước Việt gìn giữ đất nước, đấy là vì cha ông ta muốn tạo ra hàm ý sâu xa nhằm nhắn gửi cho hậu thế về vùng đất rồng tiên, cội nguồn cao quí của dân tộc Do đó, không phải ngẫu nhiên mà mỗi đối tượng địa danh của vùng đất thiêng này đều được chỉ rõ trong tên
Trang 31SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT
gọi: nơi rồng mẹ đáp xuống là Hạ Long;
nơi rồng con đáp xuống là Bái Tử Long và
nơi đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là
Bạch Long Vĩ Có thể nói, với sự kì vĩ của
không gian tự nhiên đã làm cho những
truyền thuyết gắn với những địa danh ở
đây mang tính chất thiêng hóa và được hòa
nhịp, lan tỏa: một người con gái vạn chài
xinh đẹp vì quyết liệt bảo vệ tình yêu
chung thủy mà bị đày ra đảo hoang rồi hóa
thành hang Trinh Nữ; một chàng trai hoá
đá luôn quay mặt về phía hang Trinh Nữ
như là sự huyễn hoặc của tự nhiên với thế
giới người đời; hay một động Kim Quy,
nơi gắn với truyền thuyết về Rùa Vàng sau
khi giúp vua Lê Lợi đánh tan quân giặc, đã
tiếp tục diệt trừ yêu quái, rồi hoá đá trong
động; hay truyền thuyết về vua Rồng ở
động Thiên Cung, một chứng cứ về sự hòa
hợp giữa thần linh và người trần giới, giữa
cõi thiêng và cõi thực Phải chăng đây là
bức thông điệp mà người xưa muốn gửi
cho hậu thế? Phải chăng đây là không gian
tâm linh của hồn thiêng sông núi Việt Nam
được hình hài hóa, hiện hữu hóa nơi địa
danh được coi là biểu tượng của vẻ đẹp đất
trời Việt Nam?
Trong sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền
giữa các thế hệ người Việt, việc ý niệm
hóa, hiện hữu hóa những giá trị thiêng
liêng qua giai thoại và truyền thuyết tạo
nên không gian tâm linh trong địa danh
không chỉ được biểu hiện ở một trường hợp
mà dường như, có tính chất hàng loạt và
gần như lan tỏa suốt một dải đất hình chữ S
của đất nước Việt Nam Như trường hợp
danh thắng Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng
chẳng hạn, chỉ với 5 ngọn núi đá vôi hình
thành mà có biết bao câu chuyện huyền
thoại, truyền thuyết được thêu dệt Đáng kể
nhất là truyền thuyết về con Rồng đẻ ra quả
trứng Long Quân rồi nở ra một cô Tiên
xinh đẹp, từ đấy nâng lên tầm cao của triết
lí Ngũ hành, hóa tạo nên đá núi Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn, khắc lên ý nghĩa của năm ngọn núi quần tụ, mang tầm cao của một học thuyết đã từng chi phối đời sống tư tưởng của dân tộc Việt, về sau còn được bổ sung thêm yếu tố Phật tích để hai hệ thống triết thuyết về tín ngưỡng bản địa và tôn giáo ngoại lai gặp
gỡ nhau để rồi tiếp biến, đan xen trong dáng hình vật chất của những ngọn núi, của thạch nhũ hay động phủ, biến Ngũ Hành Sơn thành một trong những điểm tâm linh nổi tiếng bậc nhất không chỉ của vùng đất sông Hàn
Trường hợp những địa danh ở vùng đất sông Hương núi Ngự, vùng đất vua chúa, nơi linh thiêng tụ khí, thông qua sự hiểu, sự biết và sự lưu truyền giữa các thế hệ người Việt, những giai thoại, truyền thuyết gắn với những địa danh nơi đây cũng luôn được linh hiển hóa, đậm chất cao sang và không kém phần hào sảng Chỉ riêng một địa danh chỉ ngôi chùa Thiên Mụ, trí nhớ dân gian lưu truyền ít nhất bốn truyền thuyết và đều liên quan đến sắc màu Phật giáo, sắc màu vua chúa: truyền thuyết thứ nhất cho rằng, Cao Biền- một viên tướng đời nhà Đường, từng tìm cách trấn yểm đồi
Hà Khê, nhưng nhờ có bà tiên chỉ dẫn lập chùa thờ Phật, thỉnh cầu linh khí, bồi đắp mạch núi linh thiêng cho bậc quốc chủ xuất hiện về sau nên được gọi là núi Thiên Mụ; truyền thuyết thứ hai lại kể về chúa Nguyễn Hoàng nghe theo lời chỉ dẫn của
bà lão nhà trời, khi tìm đất định đô, cầm nén hương xuôi theo dòng sông Hương, đến đúng địa phận kinh thành Huế thì nén hương cháy hết, tại đó, chúa cho mở đất, xây thành lập nên vương triều nhà Nguyễn tồn tại hơn 200 năm, với 13 triều đại kế tiếp nhau; truyền thuyết thứ ba lại kể, vị
Trang 32NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi đích thân đi
xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho
mưu đồ mở mang cơ nghiệp, thấy ngọn đồi
Hà Khê nhô lên như hình chiếc đầu rồng
đang uốn khúc bên dòng nước trong xanh,
lại được người dân địa phương mách bảo,
rằng một bà tiên cho biết sẽ có một vị chân
chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền
long mạch, vì thế, chúa cho dựng một ngôi
chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương,
đặt tên là “Thiên Mụ Tự”; Truyền thuyết
thứ tư kể về vua Tự Đức, vì cầu mong có
con nối dõi, sợ chữ "Thiên" phạm đến trời
nên vị vua này cho đổi từ "Thiên Mụ"
thành "Linh Mụ" ("Bà mụ linh thiêng")
Như vậy, với trí nhớ dân gian, sự lưu
truyền trong cả bốn truyền thuyết về cùng
một địa danh đều cho thấy được lí do và
nguồn gốc xuất hiện của một tên gọi, thấy
được khí thiêng sông núi hiện hữu trong
một đối tượng địa danh, thấy được sắc màu
trong không gian tâm linh với sự lan tỏa
của yếu tố tôn giáo, yếu tố tín ngưỡng văn
hóa bản địa của cư dân nơi vùng đất này
Chính sự lưu truyền những giá trị nhân
văn linh thiêng đó trong trí nhớ dân gian mà
ở vùng đất miền Trung vốn từng là địa bàn
sinh sống của cư dân Chăm, có khá nhiều
địa danh, đặc biệt là trong hệ thống tháp
Chăm trở thành điểm hội tụ văn hóa với
nhiều truyền thuyết thể hiện những giá trị
giao lưu và tiếp biến văn hóa và vì thế, sắc
màu của không gian tâm linh ở đây khá đặc
biệt Trường hợp của thánh địa Mỹ Sơn,
hay tháp Pônagar là những dẫn chứng tiêu
biểu Những truyền thuyết gắn với hai địa
danh ấy đã cho người ta thấy tín ngưỡng cổ
truyền của cư dân Chăm, cũng như tín
ngưỡng cổ ở Đông Nam Á là theo thuyết vũ
trụ lưỡng nghi với tư duy cặp đôi, tư duy
âm dương là phổ biến và đã dung hợp với
những tôn giáo được du nhập từ Ấn Độ như
Ấn giáo, Phật giáo để trở thành tín ngưỡng chính của vương triều Champa Hoặc địa danh chỉ công trình xây dựng tháp Pôklông Garai, ngôi tháp từng được xem là trung tâm rực rỡ nhất của nền văn minh Chăm, do vua Chế Mân chỉ đạo xây dựng từ cuối thế
kỷ 13 đầu thế kỷ 14 đạt đỉnh cao trong kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc của dân tộc Chăm, mà truyền thuyết cho rằng nó là sản phẩm của vua Pôklông Garai, vị vua có sự khởi nguyên kì lạ ở người mẹ vốn được hạ sinh từ bọt biển, vì quyền lợi của dân tộc,
để tránh đổ máu vô ích trong cuộc chiến với người Miên nên đã chủ động thách tướng Miên thi tài xây tháp, ai xong trước sẽ thắng Kết quả cuộc chiến trí tuệ này, dĩ nhiên là sự chiến thắng của vua Pôklông Garai bằng sức mạnh, sự khéo léo, tài trí thông minh nên nhờ đó, bờ cõi được giữ yên, người dân được hưởng cuộc sống hòa bình, hạnh phúc
Trong dòng chảy của sự lưu truyền những giá trị nhân văn thiêng liêng đó, ở cuối trời phương Nam, nơi vùng “Hà Tiên thập cảnh”, có hệ thống cảnh quan tựa Vịnh
Hạ Long, với những giai thoại, truyền thuyết gắn với địa danh nơi đây mới thấy hồn thiêng khí núi của đất trời Việt Nam tỏa rộng, sống động biết dường nào Tuy mang đặc điểm của vùng đất mới vừa khắc nghiệt, vừa hoang dã nhưng những tên gọi địa danh ở đây lại mang đầy tính mĩ cảm và hình tượng: một hòn đảo Kim Dự Lan Đào (Đảo Vàng Chắn Sóng), một ngọn núi Bình San Điệp Thúy (Núi Bình San Xanh Biếc), một ngôi chùa Tiêu Tự Thành Chung (Tiếng Chuông Tiêu Tự), một Giang Thành
Dạ Cổ (Tiếng Trống Đêm Ở Giang Thành), một động đá Thạch Động Thôn Vân (Mây Luồn Thạch Động), một núi Châu Nham Lạc Lộ (Châu Nham Cò Đậu), một hồ nước Đông Hồ Ấn Nguyệt (Đông Hồ Trăng Soi),
Trang 33SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT
một vịnh nhỏ Nam Phố Trừng Ba (Sóng
Trong Nam Phố), một xóm Lộc Trĩ Thôn
Cư (Xóm Dân Ở Lộc Trĩ), một xóm chài
Lư Khê Ngư Bạc (Cảnh Chài Cá Ở Lư
Khê) Tô điểm cho mỗi tên gọi ấy là cả một
tổ hợp những giai thoại, truyền thuyết hết
sức đặc sắc Chỉ riêng Thạch Động Thôn
Vân- một cảnh đẹp được Mạc Thiên Tích,
chủ soái của nhóm Tao Đàn Chiêu Anh
Các đề cao trong bài thơ tổng vịnh mười
cảnh đẹp “Bình Sơn, Thạch Động là rường
cột/ Sừng sững muôn năm cũng để dành”-
đã có nhiều truyền thuyết, trong đó nổi bật
là truyền thuyết về chàng Thạch Sanh, mà
với trí nhớ người dân của vùng này, họ luôn
tin tưởng và tự hào rằng Thạch Động là nơi
phát sinh câu chuyện cổ tích nổi tiếng khắp
cả nước “Thạch Sanh Lý Thông”, là nơi
Thạch Sanh chém chằn tinh để giúp dân
làng, đồng thời cũng là nơi Thạch Sanh giết
đại bàng và cứu công chúa, với bằng chứng
xác thực trên đá, dưới chân đường thông
thiên nhìn vào vách thạch nhũ còn hiện hữu
những dấu vết chân chim, có hình đầu con
đại bàng khổng lồ đang quặp một cô gái, có
hình Thạch Sanh tay cầm búa đánh nhau
với chằn tinh, trên vai vác công chúa để
đưa công chúa lên khỏi hang động… Hơn
nữa, động còn là nơi thờ Phật, không khí
linh thiêng của cõi Phật như được hòa
quyện và làm xoa dịu những oan hồn của
130 người dân Việt Nam vô tội bị bọn Pôn
Pốt thảm sát năm 1978 tại chính động này,
khiến sắc màu tâm linh ở đây được cộng
hưởng một sắc thái hết sức đặc biệt Đó có
lẽ là cái khoảng cách giữa cái huyền hoặc
và cái trần giới, giữa cái thiên đường và cái
địa ngục, giữa xưa và nay được kéo gần đến
mức không đường ranh giới Có lẽ vì vậy,
một khi đã đến nơi đây, mỗi người vì nhu
cầu thưởng lãm hay vì nhu cầu tâm linh,
đều không khỏi thực hành chiêm bái, với
một mặc tưởng tâm linh xác thực để tìm một sự thư thái, an bình trong cõi tâm hồn
2.2 Sắc màu của không gian tâm linh biểu hiện sự ngưỡng vọng và linh thiêng hóa những giá trị cao cả của con người Việt Nam trong đấu tranh với thiên nhiên, xã hội và trong đời sống tình cảm
Trong cuộc hành trình vượt thời gian, không gian để khẳng định những giá trị vĩnh hằng của truyền thống dân tộc, qua sự thẩm thấu và lan tỏa của từng giai thoại và
truyền thuyết ở mỗi địa danh, sự hiểu, sự
biết, sự lưu truyền những giá trị nhân văn thiêng liêng về chủ thể con người Việt Nam được bộc lộ khá đậm nét trên mọi phương
diện của đời sống đấu tranh với thiên nhiên,
xã hội cũng như đời sống tinh thần, tình cảm giữa các thành viên của mỗi cộng đồng trên cùng lãnh thổ Theo đó, săc màu của không gian tâm linh trong địa danh ở đây chủ yếu biểu hiện ở hai phương diện:
2.2.1 Sắc màu biểu hiện sự ngưỡng vọng và linh thiêng hóa những giá trị cao
cả của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh với các thế lực thiên nhiên và xã hội
Với mỗi địa danh, đằng sau mỗi giai thoại hay truyền thuyết tạo nên sắc màu tâm linh của nó, là thấp thoáng hình bóng những giá trị cao cả của một đất nước, của mỗi một cộng đồng dân tộc, của mỗi một con người Việt Nam, bằng sức mạnh, sự tài trí, lòng quyết tâm, vượt qua mọi gian nan, thử thách, chiến thắng mọi lực lượng đối nghịch, cả trong tự nhiên lẫn trong xã hội
để bảo vệ và xây dựng cuộc sống Bởi thế,
sự hiểu, sự biết, sự lưu truyền những giá trị cao cả đó là bất diệt trong không gian và thời gian
Ngay tại Thăng Long-Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn vật, có biết bao nhiêu địa danh mang đậm màu sắc tâm linh, với biết bao giai thoại, truyền thuyết trong trí nhớ
Trang 34NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
dân gian được lưu truyền, không chỉ cho
biết sự hình thành tên gọi những địa danh
cụ thể mà còn phản ánh quá trình khởi lập,
ghi lại dấu ấn những cuộc đấu tranh khắc
nghiệt với thiên nhiên và xã hội của con
người ở vùng này Chỉ riêng nói về một
điểm cụ thể, đó là địa danh Hồ Tây Trước
khi địa danh này có tên gọi như ngày nay,
ngoài những tên gọi như hồ Kim Ngưu,
Lãng Bạc, Dâm Đàm, Đoài Hồ mà mỗi tên
gọi gắn với một hay nhiều truyền thuyết
thú vị, chẳng hạn, tên gọi hồ Kim Ngưu là
gắn với truyền thuyết về con trâu vàng do
nghe tiếng chuông của ông Khổng Lồ ngỡ
là tiếng gọi của trâu mẹ mà chạy từ Trung
Quốc sang đây làm đất sụt lở tạo thành hồ;
hay truyền thuyết về con trâu vàng ngày
xưa ở núi Tiên Du bị một Pháp sư yểm
bùa, chạy tới hồ đây để tắm Nhưng thú vị
nhất có lẽ là truyền thuyết gắn với tên gọi
xưa nhất của Hồ Tây là Đầm Xác Cáo, bởi
gợi nhắc đến sự tích Lạc Long Quân dâng
nước biển dìm chết một con hồ ly tinh chín
đuôi chuyên tác oai tác quái quấy nhiễu
dân lành thuở nơi ấy còn là rừng rậm
hoang vu và nhiều gò núi Sau này, khi phủ
Tây Hồ cùng đền thờ Thánh Mẫu Liễu
Hạnh được tạo dựng thì nhiều truyền
thuyết gắn với địa danh nơi đây mới phát
huy hết vẻ huyễn hoặc, kì bí nhờ được
quyện hòa trong tín ngưỡng bản địa khiến
sắc màu tâm linh trở thành một yếu tố quan
trọng bậc nhất của địa danh vốn được coi là
một trong những chốn linh thiêng nhất Hà
Nội từ xưa đến nay
Trên hành trình khởi lập, mở đất về
phương Nam của cha ông ta ngày trước, sự
lưu truyền những giá trị truyền thống nhân
văn của dân tộc lại được phản chiếu trong
nhiều truyền thuyết gắn với địa danh về
một sự ứng phó với thiên nhiên dữ dằn và
khắc nghiệt thở ban đầu Chính sự khắc
nghiệt hoang dã ấy đã tô đậm những giá trị cao cả của đời sống tinh thần từng tộc người trong quá trình khai phá lãnh thổ Và trong trí nhớ dân gian, truyền thuyết về địa danh núi Nhạn sông Đà -nay là cụm thắng cảnh nổi tiếng, biểu tượng của Phú Yên- kể
về một người khổng lồ được trời sai xuống lấp vùng trũng và lấn ra phía biển Đông, do muốn làm nhanh nên đã gánh núi nặng gấp đôi, gấp ba lần, đến nỗi khi gần tới biển, chiếc đòn gánh gãy đôi làm rơi xuống hai cụm núi Nhạn và núi Chóp Chài Thực chất, đấy là câu chuyện nhằm siêu linh hóa quá trình khởi lập gian nan của con người đối với mảnh đất này Bởi vậy, trên đỉnh núi Nhạn, người Chăm cho xây dựng Tháp Chàm, còn gọi là Tháp Nhạn và nó trở thành nơi thờ cúng linh thiêng và dường như họ muốn tạo nên một minh chứng vĩnh cửu cho sự hòa hợp linh thiêng giữa con người và trời đất trong quá trình tạo dựng nước non này
Bởi thế, trong sự hòa nhịp với sự hiểu,
sự biết, sự lưu truyền những giá trị thiêng liêng bất diệt, mà tại vùng đất Tây Nguyên huyền thoại, sự thẩm thấu và lan tỏa của không gian tâm linh từ những giai thoại và
truyền thuyết trong mỗi địa danh lại mang
một sắc màu khá riêng Đó là, tính chất trực cảm, tính chất nguyên sơ, dân dã bởi gắn với tín ngưỡng nguyên thủy là thờ nhiên thần nên sức lắng đọng, sự linh thiêng dồn tụ hết cả vào sông núi đại ngàn, thời gian về sau thì một số địa danh mới có thêm yếu tố thánh tích, Phật tích Có lẽ, chính cuộc sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số quần tụ nơi đây còn đậm chất
tự nhiên, hồn nhiên hoang dã như rừng cao núi sâu, nên tâm linh họ cũng hướng về sông, về núi, họ ngưỡng vọng Giàng, ngưỡng vọng Đất, ngưỡng vọng Mẹ thiên nhiên mà không quan tâm lắm đến cơ sở
Trang 35SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT
thờ tự, hay nói khác đi, cơ sở thờ tự đã
được thiên nhiên tạo dựng và linh thiêng
hóa từ chính hình sông thế núi Đó là điều
đặc biệt Trường hợp địa danh chỉ thác
Đatanla là một dẫn chứng
Trong trí nhớ lưu truyền của dân gian,
ít nhất có ba truyền thuyết gắn với địa danh
thác Đatanla - một trong những thác nước
nổi tiếng nhất của vùng Tây Nguyên Mỗi
truyền thuyết cho chúng ta nhìn thấy những
khía cạnh khác nhau trong sắc màu tâm
linh ấy: có truyền thuyết cho chúng ta thấy
vẻ đẹp của một bài ca về cuộc chiến chống
lại các thế lực thiên nhiên hung dữ nhằm
bảo vệ đất đai và cuộc sống đồng thời cũng
là một bài ca về sự hợp nhất các dân tộc
bản địa của vùng đất này; có truyền thuyết
chỉ ra nguồn gốc hình thành và sự chuyển
hóa tên gọi: Thác Đatanla (hay tên khác là
Đatania) do các từ của tiếng K'Ho ghép lại:
Đà-Tam-N'ha" có nghĩa là "nước dưới lá";
lại có truyền thuyết khoác lên tấm màn lịch
sử, hé lộ một chút bóng dáng liên quan đến
cuộc chiến tranh Chăm- Lạch - Chil vào
thế kỷ XV – XVII, người Chăm từ
Panduranga (Phan Rang) thường kéo lên
tấn công người Lạt, người Chil ở cao
nguyên Lang Biang để giành đất và bắt nô
lệ Khi nguy cơ thất bại cận kề vì thiếu
nước uống thì người Lạt tình cờ phát hiện
ra dòng thác này và nhờ đó đã chiến thắng
người Chăm, bảo vệ được buôn làng Từ
đó bộ tộc Lạt đặt tên Đatanla để ghi nhớ sự
kiện này với con cháu Dù dưới góc độ nào
thì sắc màu tâm linh bộc lộ qua những
truyền thuyết gắn với những địa danh ở
đây cũng nhắc nhớ về cuộc chiến chống lại
các thế lực thiên nhiên hung dữ và các thế
lực xã hội nhằm bảo vệ đất đai và cuộc
sống của các dân tộc ít người trên lãnh thổ
Cùng theo dòng chảy của sự lưu truyền
những giá trị linh thiêng cao cả đó, hàng
loạt địa danh được sản sinh trong cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc vào giữa những thập niên của thế kỉ XX đã phản chiếu sắc màu được thiêng hóa, thần thánh hóa Tự thân mỗi tên gọi địa danh được linh thiêng hóa ấy đã là mỗi bài ca hào hùng, mỗi truyền thuyết hào hùng về con người và đất nước Việt Nam trong máu lửa chiến tranh Đó là một Ngã Ba Đồng Lộc với huyền thoại bất tử về 10 cô gái thanh niên xung phong hi sinh ở độ tuổi trăng rằm, đó
là một Thành cổ Quảng Trị, vùng "Đất tâm linh", nơi trộn lẫn máu xương của hàng ngàn chiến sĩ trong trong trận đánh 81 ngày đêm vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, đó là Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của hàng vạn đồng chí, đồng đội đã hy sinh trong những năm kháng chiến chống Mĩ để đến hôm nay, truyền thuyết về cây bồ đề thiêng tỏa bóng ấm áp
ôm trọn Đài tưởng niệm được coi như là một “phúc âm” của các anh hùng liệt sỹ gửi lại trần thế đã trở thành biểu tượng linh thiêng của vùng đất tâm linh vào hàng bậc nhất này của đất nước
2.2.2 Sắc màu biểu hiện sự linh thiêng hóa đời sống tinh thần, tình cảm cao cả của con người Việt Nam
Đời sống tinh thần, tình cảm của con người Việt Nam, xưa nay, vốn như một dòng chảy xuyên suốt kí ức của lịch sử dân tộc, chảy qua tâm hồn mỗi người, lắng sâu vào tâm thức của từng cộng đồng sinh sống trên cùng lãnh thổ Bởi thế, sắc màu của không gian tâm linh từ những giai thoại và truyền thuyết gắn với mỗi địa danh về đời sống tinh thần, tình cảm mang tính chất thiêng liêng hóa của người Việt được thắp ánh sáng vĩnh cửu nhờ sự nối mạch và nuôi dưỡng từ cội nguồn của văn hóa tín ngưỡng truyền thống Mà cội nguồn, từ tâm thức, trước hết, đó là thờ tiên tổ, là thờ Mẫu
Trang 36NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
2.2.2.1 Sắc màu biểu hiện sự linh
thiêng hóa đời sống cao cả của tín ngưỡng
thờ Tổ, thờ Mẫu
Trong tâm thức dân tộc, với những địa
danh có không gian tâm linh biểu hiện về
tín ngưỡng thờ Tổ, trước hết, là câu chuyện
về Lạc Long Quân và Âu Cơ trong truyền
thuyết Con Rồng cháu Tiên Có thể nói,
đây là huyền thoại lập quốc đẹp bậc nhất
và là bài ca tâm linh đẹp nhất hướng về
nguồn cội, hướng về miền đất Tổ Thông
qua truyền thuyết, sợi dây tâm linh được
nối kết giữa huyền sử, dã sử và chính sử
khiến con cháu ngàn đời sau còn biết được
một anh hùng làng Gióng, sau tôn là Phù
Đổng Thiên Vương, đánh thắng giặc Ân
xâm lược ở đời thứ 5 là đời Hùng Huy
Vương, một nàng Tiên Dung ở cõi trời lấy
Chử Đồng Tử ở cõi đất vào đời thứ 18 là
Hùng Duệ Vương để cùng lập nên đạo
Tiên là đạo xưa nhất ở nước ta Rồi một
cuộc hôn nhân giữa thần Tản Viên và công
chúa Ngọc Hoa trong chiến tranh giữa vua
Hùng và vua Thục, để sau đó là một loạt
chuyện Tản Viên dạy dân biết đủ các nghề,
khiến cho đất nước ngày thêm thái bình,
thịnh trị Sự bất tử của các vị thánh tổ cũng
là sự bất tử của những giá trị tâm linh in
đậm trong dòng chảy lưu truyền của tâm
thức người Việt, là sự tri ân các vua Hùng-
Quốc tổ có công dựng nên nhà nước đầu
tiên, tổ tiên chung của dân tộc Việt Nam
Chính sự thăng hoa của những sắc màu
trong không gian tâm linh qua hàng trăm,
hàng ngàn địa danh chỉ đền thờ các vua
Hùng ở khắp mọi vùng đất nước mà chính
nhờ thế, UNESCO đã lấy đó làm một trong
những cơ sở để công nhận là Di sản văn
hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Bên cạnh đó, trong sự lưu truyền của
trí nhớ dân gian, sự thăng hoa bởi sắc màu
của không gian tâm linh cũng được biểu
hiện qua biết bao giai thoại và truyền thuyết gắn với địa danh của tín ngưỡng thờ Mẫu Hầu như khắp mọi vùng trong cả nước đều có các địa danh chỉ công trình xây dựng thờ Thánh Mẫu- còn gọi là Bà Chúa Liễu Hạnh, một trong bốn vị “tứ bất tử”, người được dân gian xem là một mẫu quyền năng vô lượng và phân thân thành các thần linh cai quản muôn mặt của vũ trụ: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ cai quản trên trời, Mẫu Thượng Ngàn cai quản núi rừng, Mẫu Thủy (hay Mẫu Thoải) cai quản trên sông biển- thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành coi trọng người mẹ trong văn hóa truyền thống của dân tộc Những câu chuyện truyền thuyết kể về Thánh Mẫu, vốn là công chúa của Ngọc Hoàng thượng
đế, do đánh rơi chén ngọc đựng rượu chúc thọ đã phải xuống trần gian đầu thai làm con gái thường dân Sau khi lấy chồng, sinh con rồi trở về trời, rồi giáng trần mấy lần để gặp người thân, hay hiển linh để cứu nhân độ thế, hoặc trừng phạt kẻ bất lương
và hay du ngoạn khắp chốn danh lam, giáng bút, đề thơ Đấy là những câu chuyện mang đầy tính chất linh thiêng, thần thánh hóa vốn phản ánh bản chất của tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt truyền thống Điều khá đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ được biểu hiện trong hình thức thiêng hóa các cơ sở thờ tự mà còn biểu hiện trong sự thần thánh hóa tính chất kết hợp đan xen với các hình thức cụ thể của những yếu tố tôn giáo khác Vì vậy, trong sự lưu truyền của trí nhớ dân gian, các truyền thuyết gắn với những địa danh này thường có sự tổng hợp, đan cài với nhiều yếu tố, tức vừa mang yếu tố bản địa vừa mang yếu tố tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo Chẳng hạn, ai cũng biết chùa Dâu ở Bắc Ninh là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam và là trung tâm hệ thờ Tứ Pháp cầu
Trang 37SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT
mưa, nổi tiếng linh thiêng nhất nước
Những nhiều truyền thuyết gắn với địa
danh này như truyền thuyết bà Trắng bà Đỏ
chùa Dâu, truyền thuyết Ghênh đẻ Khe
nuôi, truyền thuyết Đường vào phủ chúa
đều cho thấy các sắc màu khác nhau trong
không gian tâm linh vừa thấm đẫm tính
chất bản địa vừa thấm đẫm tính chất tôn
giáo ngoại lai
Ở đây, trong sự lưu truyền những giá
trị truyền thống văn hóa của trí nhớ dân
gian, đáng chú ý nhất là tính chất kì bí,
thần thánh hóa trong truyền thuyết về Phật
Mẫu Man Nương- một nhân vật liên quan
đến sự tích Phật giáo Việt Nam khi đạo
Phật mới truyền sang đất Việt Theo đó, sự
kì bí, thần thánh hóa được biểu hiện qua
nhiều chi tiết: kì bí trong sự thọ thai và
sinh hạ khác thường của Phật Mẫu Man
Nương trong thời gian học đạo tại chùa
Linh Quang của vị cao tăng người Ấn Độ,
kì bí trong việc vị cao tăng dùng gậy phép
thuật bỏ đưa trẻ vào cây đa cạnh chùa, sau
hóa thành khối đá mà thợ tạc tượng của Sĩ
Nhiếp vứt bỏ xuống sông rồi lòng sông rực
sáng, Sĩ Nhiếp muốn vớt lên mà không tài
nào vớt được Kì bí trong việc Man Nương
đi thuyền ra giữa sông thì khối đá tự nhiên
nhảy vào lòng, nên được gọi là Thạch
Quang Phật (Phật đá tỏa sáng) Điều đáng
nói ở đây là, đằng sau tính chất kì bí, huyễn
tưởng, thần thánh ấy ẩn chứa một hiện
tượng tâm linh thú vị, một hiện tượng
mang dấu ấn của sự giao thoa, tiếp biến
văn hóa Dấu ấn giao thoa đó không phải là
hiện tượng riêng lẻ mà có tính chất phổ
biến ở nhiều vùng được lưu giữ trong nhiều
địa danh mang những yếu tố tôn giáo Do
vậy, sắc màu của không gian tâm linh ở
đây là sắc màu Phật tích, sắc màu tôn
giáo-tín ngưỡng
Trường hợp địa danh tháp Po Nagar,
tên đầy đủ là Po Ina Nagar, hay còn gọi
là Tháp Bà, ở Nha Trang cũng vậy, thông qua nhiều truyền thuyết của người Chăm
và của cả người Việt gắn với ngôi đền tháp này được lưu truyền trong trí nhớ dân gian, đều phản ánh sự giao lưu và tiếp biến giữa văn hóa Chăm Pa và văn hóa Ấn Độ, giữa tín ngưỡng bản địa Chăm và Hinđu giáo Với người Chăm, truyền thuyết cho rằng,
sự xuất hiện của Po Nagar- nữ thần sinh ra
do bọt nước biển và áng mây trời – là một
sự kì lạ Sự kì lạ của vị thần có nhiều quyền năng phép thuật và có đến 97 ông chồng nhưng chỉ sinh được 38 người con gái, sau đều thành thần, trong đó hai người con được người dân vùng Phan Rang và Phan Thiết tôn thờ Điều đó càng làm tăng thêm tính chất kì bí, linh thiêng của các đấng quyền năng và cũng tức là của những địa danh tâm linh nơi đây
Điều đáng lưu ý là, trong sự lưu truyền những giá trị truyền thống văn hóa của trí nhớ dân gian thì tính chất kì bí, linh thiêng của các đấng quyền năng trong giai thoại
và truyền thuyết về những địa danh bao giờ cũng được kết nối với ý thức bản địa, ý thức nguồn cội trong sự liên hệ với lịch sử dân tộc Bởi vậy mà, đối với người Việt, vùng đất Kauthara (Khánh Hòa) vốn thuộc
về người Việt, nên nữ thần Po Nagar cũng trở thành thần Mẹ xứ sở với tên gọi là Thiên Y A Na Theo đó, hình ảnh về Thiên
Y A Na Thánh Mẫu xuất hiện trong kí ức của người Việt nơi đây vừa linh thiêng vừa gần gũi, vừa ở cõi thực vừa ở cõi hư, qua câu chuyện về bà vốn là một tiên nữ giáng trần, thuở nhỏ được vợ chồng người tiều phu già chăm sóc, sau hóa thân và kết duyên với Thái tử Trung Hoa, rồi trở về cố quốc, báo hiếu cha mẹ nuôi, dạy dân làng phép tắc, lễ nghi, công việc cày cấy, kéo sợi dệt vải, rồi cùng chim hạc bay về cõi
Trang 38NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
tiên, được nhân dân xây tháp, tạc tượng
phụng thờ Như vậy, trong sự lưu truyền
những giá trị truyền thống văn hóa của trí
nhớ dân gian, nếu vén lên bức màn của sự
siêu linh thần thánh từ những giai thoại
truyền thuyết ấy, ta sẽ thấy rõ bóng dáng
của lịch sử một dân tộc, thấy rõ dấu vết văn
hóa tộc người và cả các mối quan hệ xã hội
khác liên quan Điều đó chứng tỏ, trong
những biểu hiện cụ thể qua truyền thuyết ở
mỗi địa danh, sự nối mạch với tín ngưỡng
tôn giáo bản địa, tính chất siêu linh thần
thánh đã có dịp lắng tụ, quyện hòa với
những đặc điểm về tâm hồn, tình cảm của
người dân Việt nên nó luôn được duy trì và
tỏa sáng trong chiều dài của thời gian và
trong chiều rộng của không gian khiến
những yếu tố nội sinh và ngoại sinh của
văn hóa dân tộc luôn để lại dấu ấn trong
mỗi giai thoại và truyền thuyết gắn với hệ
thống địa danh Việt Nam
2.2.2.2 Sắc màu biểu hiện sự linh
thiêng hóa đời sống tình cảm cao cả của
con người Việt Nam
Trong sự lưu truyền những giá trị
truyền thống văn hóa của trí nhớ dân gian,
có rất nhiều truyền thuyết thể hiện một
cách sâu sắc đời sống tình cảm của mỗi
con người thuộc từng dân tộc gắn với hàng
ngàn, hàng vạn địa danh ở khắp mọi miền
tổ quốc Chúng được thiêng liêng hóa, thần
thánh hóa khiến chúng trở thành những bài
ca bất tử về tình cảm vợ chồng, tình cha
con, tình yêu đôi lứa: “Những người vợ
nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những
núi Vọng Phu/ Cặp vợ chồng yêu nhau góp
nên hòn Trống Mái” Câu chuyện của địa
danh núi Vọng Phu hay hòn Trống Mái
được nhắc ở đây gắn với câu chuyện về
mối tình giữa nàng tiên nữ và chàng Ngư
Phủ đã làm nên bài ca rất đẹp về tình cảm
vợ chồng chung thủy Bởi thế nên, sự xuất
hiện của nhiều hòn Vọng Phu trong suốt chiều dọc đất nước như ở Nghệ An; ở Đắk Lắk, ở Bình Định đều hắt lên ánh sáng của ý nghĩa nhân văn cao cả, thể hiện ước
mơ, khát vọng bao đời của nhân dân địa phương về một cuộc sống yên bình, no ấm, hạnh phúc Điều đáng nói là, qua hình tượng hòn Vọng Phu, người Việt muốn lưu truyền những ý nghĩa tâm linh, những sự suy tưởng cao đẹp về gia đình, những triết
lí về con người trong hoàn cảnh gian nan Bởi vậy, trong dòng chảy của sự lưu truyền
ý nghĩa tâm linh và suy tưởng ấy, người Việt muốn có một cái kết đẹp về sự chờ đợi, sự thủy chung trọn vẹn đối với tình nghĩa vợ chồng, nên trong truyền thuyết vùng núi Sập, tỉnh An Giang, người dân nơi đây tin rằng người chồng trong câu chuyện hòn Vọng Phu sau khi biết được nguồn căn về vợ mình, đã bỏ đi khắp nơi, rồi lại đi tiếp xuống sống với một bộ lạc ở ngoài thành Óc Eo, chiều chiều nhớ vợ con, người chồng lên đỉnh núi trông về chốn cũ sau dần dần hóa đá, cảm kích trước tấm lòng ấy, người dân địa phương
đã đặt tên núi đó là núi Vọng Thê Có thể nói, chính cảm thức tâm linh về tình nghĩa
vợ chồng trong đời sống thực đã thăng hoa
và được đẩy lên mức thiêng liêng hóa, tạo nên một sắc màu trong không gian tâm linh huy hoàng và đẹp đẽ
Cũng trong dòng chảy lưu truyền tâm linh ấy, có một truyền thuyết rất đẹp gắn khác gắn với một danh thắng nổi tiếng của tỉnh Hà Giang – đó là núi Đôi hay còn gọi
là núi Cô Tiên gắn với huyền thoại tiên nữ Hoa Đào xuống hạ giới lấy người phàm trần, khi bị bắt quay lại về trời, thương chồng một mình nuôi con thơ vất vả, nàng
đã bỏ lại đôi nhũ của mình dưới hạ giới cho con bú, sau biến thành hai quả núi dáng hình bầu vú mẹ căng tròn Từ sự kết
Trang 39SẮC MÀU TÂM LINH TRONG ĐỊA DANH VIỆT NAM QUA YẾU TỐ GIAI THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT
hợp cảm hứng được thổi hồn từ môtip núi
đôi ở những nơi khác nhau, nhà thơ Vũ
Cao đã tạo nên bài thơ "Núi Đôi" với bao
nỗi ám ảnh day dứt, xót xa bất tận: “Lối ta
đi giữa hai sườn núi/ Đôi ngọn nên làng
gọi núi Đôi/ Em vẫn đùa anh: sao khéo
thế/ Núi chồng núi vợ đứng song đôi!
…Núi vẫn đôi mà anh mất em!”
Hay ở vùng đất Tây Nguyên huyền
thoại, trong dòng chảy của sự lưu truyền
những giá trị truyền thống về tình nghĩa vợ
chồng được biểu hiện cụ thể và đậm đặc
nhất trong những truyền thuyết linh thiêng
gắn với tên núi, tên sông Núi, chẳng hạn,
có núi Ông, núi Bà (tức núi Liang và núi
Biang) Sông, chẳng hạn, có sông Chồng,
sông Vợ (tức sông Krông Nô và sông
Krông Ana) Thác, chẳng hạn, có thác Vợ,
thác Chồng (tức (tức thác Đray Nur và thác
Đray Sáp) Nhưng có lẽ hay nhất và nổi
tiếng nhất là truyền thuyết về địa danh chỉ
hai ngọn núi Ông và núi Bà, tức
LangBiang gắn liền với một truyền thuyết
nói về mối tình giữa chàng K’Lang người
Lát và nàng H'Biang, người Chil chỉ vì luật
tục khắt khe của buôn làng ngăn cản mà
nàng H'Biang đã chết thay K’Lang Và sau
cái chết của hai người, cha Biang- tù
trưởng bộ tộc, đã đứng ra thống nhất các
bộ tộc thành một dân tộc có tên là K’Ho;
còn truyền thuyết thứ hai thì chính thức
được khắc trên bia đá tại đỉnh núi: “Ngày
xưa tại vùng núi này, có người con trai tên
Lang, tù trưởng bộ tộc Lát, thương người
con gái tên Biang, con gái tù trưởng bộ tộc
Chil Do khác bộ tộc nên nàng Biang
không cưới được chàng Lang, vì vậy hai
người đành lấy cái chết để giữ trọn tình và
phản đối luật tục khắt khe Khi Lang và
Biang mất, cha của Biang hối hận đã thống
nhất các bộ tộc người Lát, Chil, Sré thành
chung một dân tộc K'Ho Từ đó thanh niên
nam nữ các bộ tộc dễ dàng yêu nhau, cưới nhau Mộ hai người dần trở thành hai ngọn núi cao nằm cạnh nhau và dân làng đặt tên cho ngọn núi này là núi LangBiang” Như vậy, hai câu chuyện, một địa danh, đều tỏa lên sắc màu linh thiêng của tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng son sắt và được cộng hưởng trong ý nghĩa tâm linh về sự hợp nhất các dân tộc bản địa Chính vì vậy, hơn ở đâu hết, sắc màu tâm linh thấm vào hồn sông núi, quyện tụ vào không gian thiêng của cỏ cây, đất trời nơi được mệnh danh là “nóc nhà” Đà Lạt, khiến mỗi người khi đến địa danh này, đều được hít thở và lắng vào hồn sâu không khí linh thiêng đó Bên cạnh đó, trong dòng chảy của sự lưu truyền những giá trị truyền thống về tình nghĩa phụ tử, tình nghĩa cha con cũng
là một giá trị được linh thiêng hóa trong nhiều giai thoại truyền thuyết gắn với nhiều địa danh tạo nên sắc màu của không gian tâm linh rất đẹp đẽ và rất đặc biệt Ở cuối trời phương Nam, nơi mảnh đất đây nắng đầy gió, có nhiều địa danh đẹp gắn với nhiều truyền thuyết đẹp, mang ý nghĩa linh thiêng này Trường hợp địa danh hòn Phụ Tử là một minh chứng rõ ràng nhất Câu chuyện kể rằng, xưa kia ở vùng biển
Hà Tiên có con thuồng luồng rất hung dữ, hay đánh đắm thuyền bè để ăn thịt ngư dân Bên chân ngọn An Hải Sơn, cạnh chùa Hang, có hai cha con làm nghề chài lưới, người cha quyết lòng tiêu diệt con ác thú, nên tự tẩm thuốc độc vào mình rồi dụ con
ác thú ăn khiến nó trúng độc chết Nhưng người con vì ôm xác cha khóc thương mà chất độc từ người cha thấm qua khiến người con chết theo Cảm thương trước cái chết bi tráng của hai cha con, trời nổi giông bão, xác hai cha con bỗng hóa thành thành hai ngọn đá lớn và ngọn đá nhỏ, người đời xót thương, tưởng vọng và gọi tên đó là
Trang 40NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
hòn Phụ Tử Đây có lẽ là truyền thuyết đẹp
bậc nhất về tình cha con và cũng là sắc
màu tâm linh đẹp bậc nhất trong không
gian tâm linh của địa danh
3 THAY LỜI KẾT LUẬN
Từ sự biết, sự hiểu, sự lưu truyền
những giá trị truyền thống dân tộc, thông
qua những giai thoại và truyền thuyết gắn
với địa danh, với những sắc màu linh
thiêng hóa, thần thánh hóa, nhiều giá trị
mang tính truyền thống tín ngưỡng bản địa
và những giá trị tôn giáo và cả những giá
trị giao lưu, tiếp biến văn hóa với các dân
tộc, các quốc gia khác trong diễn trình lịch
sử của dân tộc đã được bộc lộ, được cộng
hưởng và lan tỏa Điều đó cũng chứng
minh có không gian tâm linh hiện hữu
trong địa danh, tức khẳng định rằng, bên
cạnh hai chiều vật lí, địa danh còn có chiều
thứ ba, là chiều tâm linh Do đó, mỗi địa
danh, đồng thời, vừa đóng vai trò là điểm
hội tụ văn hóa tâm linh, vừa đóng vai trò là
điểm kết nối với các thành viên trong xã hội, kết nối giữa các thế hệ, với sức lan tỏa không chỉ ở trong khu vực địa phương mà còn lan tỏa ra khu vực quốc gia và quốc tế Chính nhờ đó, nhiều địa danh đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của địa phương, của vùng, của dân tộc, trở thành niềm tự hào của người Việt, văn hóa Việt Qua ánh
xạ của những sắc màu của không gian tâm linh trong địa danh, bản sắc văn hóa tinh thần của dân tộc phần nào được lộ diện Sự hiện hữu của những yếu tố linh thiêng hóa, tâm linh hóa trong giai thoại và truyền thuyết ở mỗi một địa danh, thực sự đã gắn
bó, hòa quyện vào đời sống tinh thần người Việt, đáp ứng nhu cầu con người từ hai phương diện niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo
và sự chuyển hóa tâm thức, thực hành các nghi lễ truyền thống Đây chính là cơ sở tạo nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn, thu hút, sức lan tỏa đặc biệt của chiều văn hóa tâm linh trong địa danh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đoàn Văn Chúc (1978), Văn hóa học, Nxb Văn hóa Thông tin
2 Lê Trung Hoa (2006), Địa danh học Việt Nam, Nxb TP Hồ Chi Minh
3 Ngô Đức Thịnh (2003), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Trẻ
4 Nguyễn Đăng Duy (2009), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa Thông tin
5 Nguyễn Minh San (1998), Tiếp cận tín ngưỡng dân giã Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân
tộc, Hà Nội
6 Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần, người và đất Việt, Nxb Văn hóa thông tin
7 Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb TP.Hồ Chi Minh
8 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 4 – Truyền thuyết dân gian người Việt, Nxb Khoa học xã hội
9 Vũ Ngọc Khánh (2005), Hành trình vào thế giới Folklore, Nxb Thanh Niên
10 Vũ Ngọc Khánh (2007), Lịch sử địa danh Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội
* Nhận bài ngày: 14/5/2014 Biên tập xong: 5/6/2014 Duyệt bài: 12/6/2014