1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường

92 457 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng với tư cách là vấn đề thực tiễn, văn hoá học đường đang là một vấn đề thời sự nổi cộm, có thể nói, nơi nơi người người đều quan tâm, phản ánh cuộc sống trong trường học của chúng t

Trang 3

Contents

• PHẠM MINH HẠC

Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường

Value education for building school culture 5

• NGUYỄN MINH ĐƯỜNG

Bàn về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo ở nước ta

Discussion on fundamental and comprehensive renovation of education and training in Vietnam 13

• PHẠM TẤT DONG

Đổi mới tư duy giáo dục

Renovation of education thinking 20

• PHAN VĂN KHA

Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế

Fundamental and comprehensive renovation of education toward standardization, modernization, socialization, democratization and international integration 29

• ĐÀO THÁI LAI

Các mâu thuẫn trong phát triển giáo dục và việc giải quyết các mâu thuẫn đó nhằm đổi

mới cách làm giáo dục ở Việt Nam

Conflicts in education development and their solutions for renovation of Vietnam education 37

• NGUYỄN THIỆN TỐNG

Mô hình Viện đại học đa lĩnh vực trong thời đại kinh tế tri thức

Model of multi-disciplinary university in the age of knowledge economy 46

• LÊ NGỌC TRÀ

Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường

Education of communication culture in schools 55

Trang 4

John Dewey và giáo dục

John Dewey and education 61

• VŨ DƯƠNG THÚY NGÀ

Một số quan điểm của Krishnamurti về giáo dục và việc hình thành nên con người có văn hóa

Some opinions of Krishnamurti about education and formation of cultured person 65

• NGUYỄN THỊ KIM NGÂN

Sứ mạng về nghề nghiệp của nhà giáo

Missions and occupation of teachers 69

Hợp tác giáo dục và đào tạo Việt Nam – Campuchia

Education and training cooperation between Vietnam and Cambodia 84

Trang 5

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ XÂY DỰNG VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG PHẠM MINH HẠC *

TÓM TẮT

Mỗi trường cần có văn hóa học đường của mình; thực tiễn đã chứng minh tác dụng tích cực của văn hoá học đường, chống lại văn hoá độc hại, tiêu cực; mục tiêu chung nhất của văn hoá học đường là xây dựng trường học lành mạnh – cơ sở quan trọng để đảm bảo chất lượng thật Tuy còn có ý kiến khác nhau, ví dụ, về định nghĩa “văn hoá học đường”, nhưng khái quát lại, văn hoá học đường là hệ thống các chuẩn mực, giá trị giúp các cán

bộ quản lý nhà trường, các thầy cô, các vị phụ huynh và các em học sinh, sinh viên có các cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp

Từ khóa: văn hóa học đường, hệ thống chuẩn mực, giá trị

ABSTRACT

Each school needs to have its own culture; in practice the school culture has proved the positive effects, combating negative toxic school culture; the most general objective of school culture is to build a healthy education environment – an important basis to ensure true quality Although there are different opinions, for example, on the definitions of “school culture”, but in general, school culture contains a system of standards, values that help administrators, teaching staffs, parents and students to have good thinking, feelings and behaviors

Keywords: school culture, system of standards, values

I NHẬP ĐỀ

Văn hoá học đường - một thuật ngữ

còn khá mới mẻ với chúng ta Hơn thế, là

một phạm trù khoa học, ví dụ, trong sách

về quản lý giáo dục, văn hoá học đường ở

ta hình như chưa đề cập tới Nhưng với tư

cách là vấn đề thực tiễn, văn hoá học

đường đang là một vấn đề thời sự nổi

cộm, có thể nói, nơi nơi người người đều

quan tâm, phản ánh cuộc sống trong

trường học của chúng ta hiện nay phức tạp

hơn trước nhiều: ở một số nơi với một số

người, giáo dục và văn hoá không còn gắn

kết, phát triển theo tỷ lệ thuận với nhau

(học vấn càng cao, văn hoá càng đẹp), có

khi, thậm chí còn ngược lại, cả xã hội

đang rất quan tâm đến đạo đức của học

sinh, sinh viên, và nhiều khi cả của các

nhà giáo nữa, coi đây là trọng điểm của chất lượng giáo dục – đào tạo Khái niệm “văn hoá học đường” cũng là một nội dung quan trọng của phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và phong trào “Xây dựng nhà trường thân thiện” Chủ

đề “văn hoá” được bàn bạc rất sôi nổi trong vài thập kỷ gần đây (các nền văn hoá “đụng độ”, “va chạm” hay “gặp gỡ”, “giao lưu” ?1), nhất là khi nền văn minh nhân loại bước vào đợt sóng thứ ba của quá trình toàn cầu hoá từ những năm 90 thế kỷ trước, các quốc gia đều đặc biệt chú ý đến giáo dục, vấn đề văn hoá học đường nổi lên như một vấn đề thời sự Cuối cùng, đương nhiên, không thể không nói đến, dù chỉ vài nét, tình hình văn hoá trong nhà trường của chúng ta, cũng như đôi

điều suy nghĩ theo hướng tăng cường giáo

* GS.VS Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo, Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Tâm lý-Giáo dục Việt Nam

Trang 6

dục giá trị - một con đường xây dựng văn

hoá học đường bảo đảm và nâng cao chất

lượng giáo dục – đào tạo Văn hoá học

đường góp phần quan trọng chấn hưng -

cải cách nền giáo dục nước nhà

II VÀI ĐIỀU LÝ LUẬN: KHÁI NIỆM

CÔNG CỤ

1 Học đường

Văn hoá luôn đi liền với giáo dục, giáo

dục đi liền với văn hoá Cả hai đều là sản

phẩm đặc thù của loài người, chỉ có loài

người mới có V.I.Lênin (1870-1924-Nga)

đã khẳng định: giáo dục là “ phạm trù vĩnh

hằng” - tồn tại mãi mãi cùng loài người:

thế hệ trước phải truyền cho thế hệ sau các

kinh nghiệm lịch sử - xã hội, tạo nên tiến

hoá không ngừng của loài người Suốt

chiều dài lịch sử, chân lý đó ngày càng

sáng tỏ, nhất là từ thế kỷ Ánh sáng (thế kỷ

XVIII, Pháp) Giáo dục (bao gồm cả đào

tạo) được coi là nhân tố cực kỳ quan trọng

quyết định sự trường tồn của quốc gia-dân

tộc Ở nước ta, trong Cương lĩnh Đảng

Cộng sản Việt Nam (1991) ghi rõ giáo dục

là quốc sách hàng đầu Không bàn tới mầm

mống (các hình thức) truyền đạt này ở thế

giới động vật, cũng như sự truyền đạt theo

cơ chế di truyền, mà chỉ nhắc lại một điều

các bạn đều quen biết là bản chất (tính

người, tình người, năng lực, nhân cách )

của con người được hình thành, phát triển

từ ngoài xã hội vào - được xã hội hoá, nhập

tâm vào não bộ, lĩnh hội, biểu hiện ra hành

vi, hành động, hoạt động, theo cơ chế di

sản Nói cách khác, đứa trẻ từ bào thai

chào đời như một sinh thể muốn thành

người phải đắm mình vào quá trình giáo

dục (theo nghĩa rộng của từ này) Quá trình

này, ai cũng cảm nhận được, thật dầy công,

nhiều khi cả cuộc đời, nhất là từ tuổi thơ

đến hết vị thành niên; trong tiến hoá loài

người còn dầy công hơn nhiều: tổ tiên

chúng ta đã mất đến khoảng 4 triệu năm

chăm sóc công việc này mới có Con Người

hiện đại – Homosapien có tuổi 100.000

năm, và mãi cho đến cách đây khoảng

5.000 năm phạm trù nhà trường như là

một thiết chế xã hội có tổ chức, có mục tiêu, mới ra đời ở Trung đông, rồi 1.500 năm sau - ở Ai cập, tiếp theo, từ giữa thiên niên kỷ trước Công nguyên - ở Trung hoa

và Hy lạp lớp học, trường học khá phát triển, cho đến ngày nay vẫn nổi tiếng và có

nhiều môn đồ Khái niệm “học đường” có

từ đây, đề ra chương trình, hình thành phương pháp, xây dựng địa điểm giảng dạy

- không gian tiến hành hoạt động học là một hoạt động cùng nhau với thầy

dạy-và trò là chủ thể cùng nhau tiến hành các

thao tác trong giờ học (đơn vị của hoạt động dạy - học), lớp học, phòng thí nghiệm , các hành động truyền đạt-tiếp thu nhằm cùng một mục đích là hình thành

và phát triển tri thức, kỹ năng, thái độ ở

người học (3 thành tố của các môn học trong nhà trường – theo Quyết định của Bộ Giáo dục, năm 1985, 1990), cả hai chủ thể của hoạt động dạy - học với cùng một động

cơ là hình thành, phát triển con người (nhân cách, tay nghề, lương tâm nghề nghiệp ) trong dòng văn hoá, văn minh của nhân loại và dân tộc Văn hoá, văn minh là nội dung của giáo dục – đào tạo, và cũng là mục tiêu của giáo dục – đào tạo

Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao chuyển vốn học vấn thành vốn văn hoá: từ tri thức, kỹ

năng sang thái độ giá trị nhân cách - điều thông thường nay nói là dạy chữ, dạy nghề, dạy người Tiến hành giáo dục trước hết và cuối cùng là nhằm phát triển con người, hình thành ở mỗi người nhân cách văn hoá, đòi hỏi một môi trường giáo dục tương ứng

mà bây giờ gọi là “văn hoá học đường”

2 Văn hoá là khái niệm công cụ của

tâm lý học và giáo dục học

Thiết chế giáo dục hình thành và phát triển đã chấm dứt thời kỳ mông muội, lịch

sử loài người bắt đầu thời kỳ văn minh, văn hoá từ các hình thái sơ khai sang các dạng thức phong phú, rực rỡ Trải qua mấy nghìn năm, mãi đến thời Khổng Tử (551-

479 TCN) trong “Luận ngữ” mới có thuật

Trang 7

ngữ “văn hiến”, trong tiếng Anh thuật ngữ

“văn hoá” xuất hiện năm 1420, rồi đến

giữa thế kỷ XX khoa học nghiên cứu văn

hoá gọi là “Văn hoá học” (tiếng Anh:

“Culturology”) mới ra đời Xác định văn

hoá là gì, có lẽ ai cũng biết, có khi mỗi

người một ý, cũng có thể nói đây là một

vấn đề thật không đơn giản, nội hàm của

khái niệm này khá phong phú Năm 1950

Cởrôcbơ (Krocber, Mỹ)) và Cơlốccôn

(Kluckhon, Mỹ) đã tính được 164 định

nghĩa về văn hoá2, rồi năm 1970 đến Môlơ

(Mole, Pháp) con số này đã lên đến 2503

Không đi vào chi tiết, tôi giới thiệu vài

định nghĩa về văn hoá mà tôi cho là cần

thiết, bắt đầu từ Taylo (E.B.Tylor,

1832-1917, Anh) đã đưa ra một định nghĩa đến

nay vẫn được coi là định nghĩa kinh điển

về văn hoá; trong tác phẩm nổi tiếng “Văn

hoá nguyên thuỷ” (1871) ông viết:”Văn

hoá là tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ

thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và các

năng lực, thói quen khác mà con người với

tư cách là thành viên của xã hội tiếp thu

được” Đây là cách hiểu văn hoá theo nghĩa

rộng, trước hết kể đến khoa học và giáo

dục, như vậy, đúng là nói đến nhà trường là

nói đến khoa học, giáo dục, văn hoá; rồi

đến nghệ thuật, phong tục, mà nhiều người

nhiều khi chỉ khuôn văn hoá vào đó; tôi

muốn đặc biệt nhấn mạnh một ý trực tiếp

liên quan đến chủ đề đang bàn: định nghĩa

này đã chỉ ra cả các năng lực và thói quen

từng người học được, đây chính là kết quả

giáo dục mong đợi là hình thành và phát

huy nhân cách văn hoá – bản sắc văn hoá,

văn hoá ứng xử - hệ giá trị của từng con

người, từng tổ chức, của nhà trường chúng

ta Ý nghĩa lớn của văn hoá mỗi người

một phần thể hiện ở quan hệ “tâm –

thân” phản ảnh nội tâm phát tiết ra

ngoài từ vẻ mặt, dáng đi, điệu bộ, phong

thái biểu hiện ra cách cư xử, ăn nói,

thường gọi là người “hào hoa, phong

nhã”, và như người xưa rất coi trọng văn

hoá vẫn thường dạy “học ăn, học nói, học

gói, học mở” Nói gọn lại, như Nguyễn Ái Quốc năm 1943 định nghĩa văn hoá là “ tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”4 Nhà trường phải dạy “phương thức sinh hoạt” – cách sống, lối sống ở ngay trong trường, ở gia đình, ngoài cộng đồng Rất tiếc, lâu nay nhiều nhà tâm lý, giáo dục chúng ta chưa thấm nhuần triết lý sâu sắc này, ít để

ý, nói thật hơn, không quán triệt vào hoạt động dạy - học

Năm 2002 trong văn kiện “Tuyên bố chung về đa dạng văn hoá” UNESCO định nghĩa văn hoá là “ một tổ hợp các đặc điểm tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm nổi bật của xã hội hay nhóm xã hội, bao hàm cả nghệ thuật, văn học, lối sống, cùng với đường đời, hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” Bây giờ nói chung lại:“văn hoá vật chất” và “văn hoá tinh thần”, “văn hoá vật thể” và “văn hoá phi vật thể” Khoa học

về giá trị (giá trị học) coi niềm tin, truyền thống, và cả đường đời nữa, đều là các giá

trị: văn hoá là các giá trị tinh thần của từng người, gia đình, cộng đồng Lâu

nay chúng ta đã và đang hết sức chú trọng,

có nơi làm tốt, có nơi làm chưa thật tốt giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng Kết hợp vào đó, bây giờ nhiều nơi đã mở rộng ra truyền thống văn hoá Qua định nghĩa vừa nêu có thể nhấn mạnh một ý là phạm trù “văn hoá” rất gắn bó với phạm trù “tâm lý”

Tâm lý học, giáo dục học quan hệ máu thịt với văn hoá học và giá trị học,

mở đầu từ L.X.Vưgôtxki (1896-1934, Nga) với lý thuyết lịch sử - văn hoá trong tâm lý học được trình bầy (đồng tác giả với A.R.Luria) trong tác phẩm “Các công trình nghiên cứu lịch sử hành vi”(1930) Ngày nay gọi lý thuyết này là tâm lý học lịch sử - văn hoá được truyền bá rộng rãi

ở Âu - Mỹ và nhiều nước khác Không nói tới nguồn gốc và nội dung văn hoá

Trang 8

của tâm lý người, chỉ nhấn mạnh khía

cạnh trong công trình sáng tạo của hai tác

giả về cơ chế tâm lý của hành vi văn

hoá: hành vi văn hoá là hành vi bao giờ

cũng có sự tham gia của một thuộc tính

hay quá trình tâm lý trong bán cầu đại

não Thuộc tính hay quá trình tâm lý tham

gia vào hành vi văn hoá giữ vai trò như

một “công cụ” tương tự như công cụ lao

động trong hoạt động lao động tác động

vào đối tượng lao động thông qua “biểu

tượng trong ý niệm”, như C.Mác đã mô tả

qua so sánh việc làm của con ong và lao

động của nhà kiến trúc sư trong tác phẩm

vĩ đại “Tư bản” (1869) Vưgôtxki và

Luria viết: Kỹ xảo sáng chế và sử dụng

công cụ lao động là tiền đề của toàn bộ

phát triển văn hoá của loài người; kỹ xảo

ấy, quá trình sử dụng đó tạo nên các dấu

hiệu – công cụ tâm lý ở trong đầu làm cho

hành vi, hành động của con người mang

tính gián tiếp: hành vi văn hoá, ứng xử

văn hoá là hành vi, ứng xử bao giờ cũng

có sự tham gia của các chức năng tâm lý

cấp cao, như chú ý có chủ định, trí nhớ

gián tiếp, tư duy, ngôn ngữ Nói cách

khác, cơ chế của các biểu hiện văn hoá

của con người là các chức năng tâm lý

cấp cao Đấy cũng là nội dung của lý

thuyết “dấu hiệu” (có người gọi là “ký

hiệu”) 19 năm sau, vào năm 1949 ở Mỹ

Oaitơ (L.White, 1900-1975) trong tác

phẩm lớn “Khoa học về văn hoá: nghiên

cứu con người và văn minh” đã đánh đấu

một mốc mới trong lý thuyết về cơ chế

tâm lý của hành vi văn hoá Ông khẳng

định: các vật thể văn hoá là các “biểu

trưng” (“symbolate”), văn hoá là sản

phẩm của quá trình biểu trưng hoá

(symbolisation) Như vậy là, những tri

thức nhà trường truyền đạt cho người học

phải giúp họ tạo nên các “dấu hiệu” trong

não – các “công cụ” tâm lý trong đầu, nói

một cách văn hoá, trong tâm hồn làm cho

con người trở thành con người văn hoá

Đấy chính là mục tiêu của văn hoá học đường

3 Văn hoá học đường

Sau ba bốn thập kỷ phát triển, văn hoá học được vận dụng vào nhiều lĩnh vực: trong tiếng Anh thuật ngữ “văn hoá chính trị” xuất hiện vào năm 1980, tiếp theo -

“văn hoá công ty”, “văn hoá tổ chức” ; gần đây ở ta cũng dùng khá phổ biến, như

“văn hoá lễ hội” (bây giờ nhiều nơi quá chú ý về “văn hoá” này), “văn hoá ẩm thực”, thậm chí có cả “văn hoá giao thông”, v.v., đều là các thứ cần dạy cho người học Không có điều kiện nói về các chuyện này, vì học đường – nhà trường là một tổ chức, nên cần nói qua về “văn hoá

tổ chức” Các tài liệu về văn hoá tổ chức thường đề cập đến các nội dung: văn hoá quyền lực của tổ chức, văn hoá vai trò, nhiệm vụ của tổ chức, văn hoá của các thành viên trong tổ chức , rồi tới các đặc điểm của tổ chức từ những đặc điểm bề ngoài có thể dễ quan sát, như cơ sở vật chất (nhà cửa, thiết bị, trang phục của các thành viên, ), rồi đến trình độ nghề nghiệp chuyên môn của đội ngũ kể từ kỹ năng tay nghề, hành vi ứng xử, đến ý thức, lương tâm nghề nghiệp Có thể đưa các tiêu chí này vào xây dựng văn hoá học đường5

Thuật ngữ “văn hoá học đường”

xuất hiện trong các nước nói tiếng Anh vào khoảng đầu những năm 1990 (Deal,T & Peterson, 1993)6 Ở một số nước, như Mỹ,

Úc, bước đầu tìm hiểu cho hay, đã có Trung tâm nghiên cứu vấn đề này, đã tổ chức khảo sát thực tiễn, đã xây dựng tiêu chí đánh giá và tiến hành đánh giá Tuy chưa có nhiều tài liệu về chủ đề này, nhưng tất cả các tác giả đều nhất trí rằng mỗi trường cần có văn hoá học đường của mình; thực tiễn đã chứng minh tác dụng tích cực của văn hoá học đường, chống lại

văn hoá độc hại, tiêu cực; mục tiêu chung nhất của văn hoá học đường là xây dựng trường học lành mạnh – cơ sở quan trọng

để đảm bảo chất lượng thật Tuy còn có ý

Trang 9

kiến khác nhau, ví dụ, về định nghĩa “văn

hoá học đường”, nhưng khái quát lại, văn

hoá học đường là hệ thống các chuẩn

mực, giá trị giúp các cán bộ quản lý nhà

trường, các thầy cô, các vị phụ huynh và

các em học sinh, sinh viên có các cách

thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt

đẹp; có tài liệu đưa ra nội dung cụ thể văn

hoá học đường bao gồm:

 Làm cho mọi thành viên hiểu mục

tiêu và giá trị của nhà trường;

kiểm tra lẫn nhau và chia sẻ kinh nghiệm

thực tiễn với nhau;

 Rèn giũa động cơ nâng cao tay

nghề, cải tiến giảng dạy, tạo sự thống nhất

trong cán bộ và nhà giáo7

Các tác giả này họ nói, tất nhiên, về

nhà trường của họ, tập trung trực tiếp vào

dạy và học, và mối quan hệ hợp tác thầy –

trò Trong thời đại ngày nay, mối quan hệ

này là nhân tố cực kỳ quan trọng đối với

hiệu quả giáo dục của nhà trrường Chả vậy

mà Uỷ ban Giáo dục đi vào thế kỷ XXI của

UNESCO đã đặc biệt lưu ý đến mối quan

hệ này trong thời đại mới (nhân đây tôi xin

nhắc lại không có cái gọi là lý thuyết “học

sinh là trung tâm”)

Tôi xin nêu 3 nội dung của văn hoá

học đường của chúng ta:

a- Nhà trường chúng ta có hoàn cảnh

riêng, nhất là về cơ sở vật chất: ngay các

trường đạt chuẩn cũng còn thiếu thốn

nhiều; có trường tiên tiến xuất sắc ở một

thành phố nổi tiếng chỉ có 50 máy tính/

2000 học sinh; một tỉnh vào loại khá giả

gần đây có tới 3000/7000 phòng lớp học

còn ọp ẹp rách nát; nhiều tỉnh 50% số

trường, lớp cũng như vậy; sách vở cũng

nhiều chuyện chẳng ra sao; còn đội ngũ, cả

nhà giáo lẫn cán bộ quản lý, tiếng kêu ca không phải là ít Có lẽ, văn hoá học đường của chúng ta phải bắt đầu từ những chuyện này Mọi người ở đây đều thấy như vậy

Làm sao các nhà quản lý các cấp cũng nhất trí với chúng ta, để đến năm 2015-2020, khi nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trường lớp trên cả nước đều đã kiên cố hoá, như Chính phủ đã đưa ra Đề án từ năm 2004 Đó là điều thứ nhất trong văn hoá học đường

b- Điều thứ hai của văn hoá học đường Đồng thời với việc chăm lo cơ sở vật chất, sách giáo khoa, đội ngũ giảng dạy

và quản lý, một việc có thể bắt tay vào làm

ngay là xây dựng môi trường giáo dục

trong nhà trường, trong ký túc xá hay nhà trọ, ở gia đình, nơi công cộng Những năm

80 thế kỷ trước, khi trong xã hội đầy khó khăn phức tạp, đất nước rơi vào khủng hoảng, nhà trường được đánh giá là nơi giữ được môi trường trong sạch nhất Nhiều trường đã đưa ra các khẩu hiệu, nội quy, nhất là từ năm 1987 hết sức coi trọng nề nếp, kỷ cương, duy trì phong trào “Dạy tốt, học tốt” theo Bác Hồ phát động Bây giờ các trường phải quan tâm đến việc này, có thể và phải làm và làm tốt Nội dung của văn hoá học đường nói

chung, môi trường giáo dục nói riêng bao

hàm nội dung của “trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

(UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX với các nội dung: thân thiện với địa bàn hoạt động, thân thiện trong tập thể

sư phạm với nhau, thân thiện giữa thầy và trò, có đủ cơ sở vật chất8; ở ta sau khi thí điểm ở 50 trường tiểu học và THCS, năm

2008 Bộ GD-ĐT đã phát động phong trào

“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, nhằm “xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu của xã hội” (Chỉ thị số 40/2008/CT – BGD ĐT, ngày 22-7-2008)

Phong trào này nhằm “thiết lập lại môi

Trang 10

trường sư phạm với 6 đặc trưng là trật tự

kỷ cương, trung thực, khách quan, công

bằng, tình thương và khuyến khích sáng

tạo, hiệu quả”9 Đó là nội dung rất cơ bản

của văn hoá học đường

c- Điều thứ ba của văn hoá trong nhà

trường của chúng ta có thể gọi là “văn hoá

ứng xử”, “văn hoá giao tiếp”, phần nào ở

trên đã đề cập, ở đây tập trung thành một nội

dung đặc trưng nhất của văn hoá ở gia đình,

trong nhà trường, ngoài xã hội – đó là quan

hệ người - người, giá trị quan trọng nhất

trong nhân cách (Phạm Minh Hạc, 2008)10

Xã hội giao cho nhà trường chúng ta dạy dỗ

con em lễ phép, tử tế, lời hay ý đẹp, kính trên

nhường dưới, lịch thiệp, thực thà, nề nếp,

hợp tác, chia sẻ, khoan dung (năm 1927

trong “Đường kách mệnh” mục nói về thái

độ đối với người khác, thái độ đầu tiên

Nguyễn Ái Quốc khuyên là “khoan thứ”),

tiếp nối truyền thống dân tộc “thương người

như thể thương thân” Suy rộng ra là giáo

dục tinh thần trách nhiệm – chia sẻ với người

xung quanh, với gia đình, với cộng đồng, với

xã hội, và quan trọng trước hết là trách

nhiệm với bản thân: trong tác phẩm vừa nêu

trên Bác Hồ cũng nói đến thái độ với bản

thân trước khi nói về thái độ đối với người

khác, và cuối cùng mới nói tới thái độ đối

với công việc Đối với chính mình, thái độ

đầu tiên Bác dạy là “cần”: trước hết phải

chăm chỉ, đây là phẩm chất đầu tiên, quan

trọng nhất giúp ta trở thành người chân

chính, tạo nên tâm lực, trí lực, thể lực – các

giá trị của mỗi người, điều mà gần đây khi

đời sống xã hội trở nên phức tạp hơn trước

nhiều, người ta nói nhiều đến chữ “tâm”, thời

xưa từ trước Công nguyên gọi là “nhân”,

“lễ” Lễ chính là văn hoá, là đạo đức10, một

nội dung cốt lõi của văn hoá học đường mà

cả xã hội đang coi là một tình hình bức xúc

nổi cộm “Tiên học lễ, hậu học văn” có ý

nghĩa như vậy

III VÀI NÉT TÌNH HÌNH

Nói chung, phạm trù “văn hoá học

đường” chưa được đưa vào phạm vi quản

lý nhà trường chúng ta, chưa có tiêu chí, chưa ai khảo sát, đánh giá; nhưng nói về khía cạnh này, khía cạnh kia thì không ít Bên cạnh những trường tốt, những cái được, còn nhiều điều không hay, đáng quở trách, thậm chí hầu hết các nhà giáo không muốn nghe, vì nghe thấy buồn, thấy ngượng, thấy xấu hổ cho người đồng nghiệp, cho trường và địa phương có những chuyện như thế Dư luận xã hôi, các phương tiện thông tin đại chúng lên án Xấu xa nhất là xâm phạm tình dục trẻ em;

đê tiện không kém là bạo lực đánh đập trẻ

em ở trường và cả trong gia đình; không đẹp chút nào, có thể nói là hèn mạt, nhưng lại là chuyện xảy ra hàng ngày ở nhiều trường là thầy cô xúc phạm học sinh dưới nhiều hình thức; dạy thêm với những thủ đoạn hết sức tiêu cực; nạn đòi đút lót tham nhũng đê tiện quá chừng; cảnh sinh viên sống bê tha trong các nhà trọ; chăm học, say sưa học tập ít quá; nói tục, chửi thề khá phổ biến; đáng buồn nhất là học trò hỗn láo với thầy cô; bạn bè đánh lộn; báo Thanh niên ngày 17-1-2009 dưới đầu đề “Sinh viên còn chưa sống đẹp” viết:”Xả rác ra đường, không nhường chỗ cho người già

và phụ nữ mang thai trên xe buýt, thờ ở trước những số phận kém may mắn ; Truyền hình VTV và một số báo nêu tình trạng sinh viên “sống thử” trước hôn nhân; báo Pháp luật Tp Hồ Chí Minh có bài về chuyện ngược đời “Cấp học cao, vi phạm đạo đức nhiều hơn” Đó là những biểu hiện “không văn hoá”, “phản văn hoá” cần khắc phục

Nói tóm lại, về văn hoá tinh thần hay văn hoá phi vật thể, nhất là về văn hoá ứng

xử, văn hoá giao tiếp trong nhà trường khắp nơi đều có vấn đề phải quan tâm Còn

về cơ sở vật chất hay văn hoá vật chất, văn hoá vật thể ở nhiều trường ở thành thị có

đỡ hơn, nhưng còn xa mới được như ở các nước công nghiệp, chưa nói tới các nước hậu công nghiệp Đối với các vùng khác, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, phải

Trang 11

thực sự coi đầu tư vào giáo dục là biện

pháp số 1 để thực hiện công bằng xã hội,

xoá đói giảm nghèo, làm sao mau mau kiên

cố hoá được tất cả các trường lớp, lo đủ

sách vở, quần áo đồng phục, kể cả quần áo

rét cho học sinh miền núi phía bắc cho học

sinh phổ thông Thật đau lòng thấy các em

run cầm cập ngồi học trong các lớp trống

trải gió rét run rẩy! Những người có lương

tri đều mong mau chấm dứt tình trạng

thương tâm này Tất cả phải tạo nên một

môi trường tự nhiên “sạch, đẹp”, còn

“xanh” nữa – tất cả các cái này thầy trò

phải tự lo Nhưng Nhà nước phải quyết

định cấp đủ đất cho nhà trường theo chuẩn

Bộ GD-ĐT đã đề ra Có trường trên đồi

rộng mênh mông mà trơ trụi Nói chuyện

sạch, có lần tôi có dự họp phụ huynh ở một

trường, cô giáo chủ nhiệm cho biết, lớp cô

một ngày phải dọn vệ sinh 3 lần Học sinh

lớp 7 mà như thế đấy! Tình hình này không

phải hiếm lắm đâu! Đấy chẳng phải chỉ là

hành vi thiếu văn hoá, mà chính là ý thức,

tinh thần trách nhiệm với lớp, với trường

Từ đây, môi trường đường phố, xóm làng

ô uế độc hại, nguy hiểm - chuyện đương

nhiên Xem vậy, xây dựng văn hoá học

đường là việc cần thiết biết nhường nào:

phải giáo dục nhân cách văn hoá, làm cho

người được học trở thành người có văn

hoá

IV GIÁO DỤC GIÁ TRỊ XÂY DỰNG

VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG

Để xây dựng văn hoá học đường phải

làm nhiều việc, bằng nhiều cách, như trên

phần nào đã nêu Vạn sự khởi đầu nan –

phải bắt đầu từ các cấp quản lý ngành, lãnh

đạo các trường có chủ trương, có kế hoạch

triển khai, có kiểm tra, nhắc nhở, đánh giá

– đó là điều kiện tiên quyết Rồi đến đội

ngũ nhà giáo chú ý giáo dục văn hoá là

nhân tố rất quan trọng Và tất nhiên, phải

toàn trường, đến từng người học, ai cũng

phải chú trọng đến hình thành và phát triển

nhân cách văn hoá là giá trị của mỗi người

mà nhà trường phải dạy cho được - giữ vai trò quyết định của phong trào

Mỗi cấp học, bậc học có yêu cầu riêng, nội dung riêng, biện pháp đặc thù Ở đây tôi nói chung, trong các biện pháp, giới

thiệu một biện pháp là mỗi trường có Hệ giá trị làm chuẩn mực để mọi thành viên

đồng thuận lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, thước đo thành quả của bản thân, của lớp, của trường, đặc biệt về mặt đạo đức xã hội, giá trị nhân cách - điều mà chúng ta gọi là

“dạy người” bên cạnh “dạy chữ, dạy nghề” UNICEF, UNESCO đã đưa ra Chương trình Giáo dục giá trị, chú trọng vào giá trị

kỹ năng sống; ở ta có người tham gia, nhưng sau hình như bị lãng quên; ở nhiều nước Chương trình này mang lại kết quả khá mỹ mãn, có nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo

Ví dụ, ở Singapore hầu hết các trường đều có Hệ giá trị (Core Values) riêng của trường mình Đầu năm học 2004-2005 Bộ

giáo dục nước này đã công bố Hệ giá trị của ngành giáo dục Singapore:

Sứ mệnh

Sứ mệnh nền giáo dục Singapore là phục vụ con em, cung cấp cho con em một nền giáo dục toàn diện, cân đối, phát triển hết tiềm năng, giáo dục con em thành những công dân tốt, có ý thức trách nhiệm

với gia đình, xã hội và đất nước

Tầm nhìn

Để vượt qua thách thức trong tương lai, phải xây dựng Nhà trường tư duy, Quốc gia học tập – làm cho Singapore trở thành một quốc gia tư duy và cam kết làm cho các công dân có khả năng đóng góp cho đất nước tiếp tục lớn mạnh và thịnh vượng Hệ thống giáo dục của chúng ta mưu cầu giúp học sinh thành những người

tư duy sáng tạo, học suốt đời và các nhà

lãnh đạo của những đổi thay

Hệ giá trị

1 Chính trực: lấy chính trực làm cơ

sở - có tinh thần dũng cảm, đạo đức và thẳng thắn, nói và làm đúng đắn

Trang 12

2 Con người: lấy con người làm tiêu

điểm, phát huy cái tốt của mọi người

3 Học tập: đam mê học tập, lấy học

tập làm đường đời, luôn sẵn sàng đón

tương lai

4 Chất lượng: theo đuổi chất lượng –

chúng ta sẽ tốt hơn là chúng ta có thể, cố

gắng cải tiến mọi việc chúng ta làm

Vận dụng kinh nghiệm của các tổ chức

quốc tế và một số nước, tôi đã cùng với các

cộng sự nghiên cứu giá trị học từ năm 1991

(Phạm Minh Hạc, 1994)11, chính tôi cho rằng: chẳng phải chỉ cho học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương, mà phải tạo lập Hệ giá trị của chính mình, của đơn vị cơ sở giáo dục, để từng người và tập thể phát huy tiềm năng của mình, từ đó kế thừa và phát huy Hệ giá trị của cả quốc gia - dân tộc, bảo vệ và phát triển bền vững đất nước độc lập, thịnh vượng (Phạm Minh Hạc, 2008)12

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 S Hungtington (2003), Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao động, Hà Nội

Hội thảo quốc tế tại Istanbul (tiếng Anh), Thổ nhĩ kỳ, tháng 7-2004:

- G.F.Mclean Các nền văn hoá gặp nhau

- Phạm Minh Hạc Biện chứng của bản sắc văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại

2 A.L.Kroiber, C.Cluckhon (1952), Văn hoá: tổng quan phê phán các quan điểm và

định nghĩa (tiếng Anh), Nxb Vintage Books, Nữu Ước

3 A.Mole (1973), Tính xã hội động học của văn hoá (tiếng Nga), Nxb Tiến Bộ,

Matcơva

4 Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, t.3, tr.431 Nxb Chính trị quốc gia, HN

5 Văn hoá tổ chức, Bách khoa thư Wikipedia (tiếng Anh)

6 Văn hoá học đường là gì? (tiếng Anh) Deal, T & Peterson, K.(2009) Các chiến lược

xây dựng văn hoá học đường Mạng Google, 10-1-2009

7 Kent D.Peterson JSD (Mùa hè 2002), Văn hoá học đường: tích cực hay tiêu cực? Tạp

chí Phát triển đội ngũ, tập 23, số 3

8 C.Dân, Thế nào là “trường học thân thiện”? Mạng UNICEF Việt Nam

9 Giáo dục Việt Nam: Tầm nhìn 2020, Báo Giáo dục & Thời đại, số 15, 3-2-2009

10 Phạm Minh Hạc (2008), Quan hệ người - người: giá trị quan trọng nhất trong nhân

cách, Tc Nghiên cứu Con người, số 5 (38) 2008

11 Phạm Minh Hạc (1994), Vấn đề con người trong thời đổi mới, KX – 07, Hà Nội

12 Phạm Minh Hạc (2008), Giáo dục giá trị, Tc Khoa học giáo dục, số 37, 10-2008 và số

Trang 13

BÀN VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA NGUYỄN MINH ĐƯỜNG *

TÓM TẮT

Bên cạnh đổi mới căn bản và toàn diện, phải đổi mới đồng bộ và triệt để theo tinh thần một cuộc cải cách giáo dục vì nếu chỉ đổi mới chắp vá và nửa vời thì sẽ khó lòng tạo được chuyển biến đáng kể cho sự phát triển giáo dục của nước ta trong bối cảnh mới

Từ khóa: triết lí giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới đồng bộ

ABSTRACT

For the fundamental and comprehensive renovation, it is necessary to change systematically and thoroughly with the education reform spirit, because if only with half way and patchy changes it cannot bring significant improvement for the development of Vietnam Education in the coming environment

Keywords: Philosophy of education, national education sysems, systematic

renovation

Sau nhiều năm thực hiện đổi mới giáo

dục và đào tạo (GD&ĐT), chúng ta đã đạt

được một số kết quả quan trọng Tuy

nhiên, cho đến nay GD&ĐT của nước ta

vẫn còn nhiều yếu kém và nhiều bất cập

trước yêu cầu mới, cần được tiếp tục đổi

mới một cách mạnh mẽ, toàn diện và triệt

để hơn Để triển khai chủ trương này, một

vấn đề quan trọng là cần xác định được

những vấn đề nào là căn bản của GD&ĐT

nước ta cần được đổi mới và như thế nào

là đổi mới toàn diện GD&ĐT? Về vấn đề

này dưới góc độ quản lý, tác giả có một

vài suy nghĩ sau đây:

1 Đổi mới triết lý giáo dục

Để "làm" giáo dục một cách đúng

đắn, trước hết cần có tư duy đúng đắn về

"cách làm" giáo dục vì tư duy sẽ chỉ đạo

hành động Trong bối cảnh mới ngày nay,

tư duy giáo dục phải khác trước, do vậy,

trước hết và căn bản nhất để đổi mới giáo

dục là đổi mới tư duy về giáo dục Đổi

mới tư duy về giáo dục có nhiều vấn đề

cần bàn, tuy nhiên, cái căn bản nhất, định

hướng cho mọi hoạt động giáo dục là

Triết lý giáo dục (TLGD) Ngày nay, với

sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ cũng như quan niệm mới về phát triển con người, vốn quý của mọi quốc gia, TLGD cho số ít đã được chuyển sang TLGD cho số đông, cho mọi người Ở nước ta, Bác

Hồ đã từng có một mong ước thiết tha là

"đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay về cơ bản chúng ta vẫn đang tư duy

và hành động theo TLGD cho số ít người mặc dù nhà nước ta đã có chủ trương xây dựng một xã hội học tập, hướng tới giáo dục cho mọi người

Có nhiều quan niệm về TLGD Tuy

nhiên, với khái niệm “Triết lý là quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội”, ngày

nay, một TLGD gần gũi với hoạt động hàng ngày của mọi người làm giáo dục và đang được áp dụng ở nhiều nước, đó là TLGD 5W1H [4] Triết lý này có thể vận dụng trong quá trình dạy học cũng như trong quản

lý giáo dục Trong phạm vi chủ đề bài viết này, tác giả chỉ phân tích TLGD 5W1H dưới góc độ quản lý giáo dục ở tầm vĩ mô nhằm

trả lời 6 câu hỏi sau đây về 6 vấn đề cốt lõi

*

Trang 14

làm định hướng cho mọi hoạt động của

giáo dục:

1.1 Ai dạy? Ai học? (Who?) Nói đến giáo

dục, trước hết phải có người dạy và người

học

Với TLGD cho số ít người, người dạy

phải là những người được đào tạo đạt chuẩn

quy định Còn người học, chỉ một số ít có điều

kiện thuận lợi, thắng cuộc trong cuộc thi 1

chọi mười, 1 chọi 15 mới có được chỗ học

Với TLGD cho mọi người, bên cạnh

những giáo viên được đào tạo đạt chuẩn

quy định, ai biết hơn đều có thể làm thầy,

làm người hướng dẫn tay nghề Ông cha ta

ngày xưa cũng đã xây dựng một triết lý

giáo dục cho mọi người: "Nhất tự vi sư,

bán tự vi sư” (một chữ là thầy, nửa chữ

cũng là thầy), hoặc "Học thầy không tầy

học bạn", Còn người học thì bất kỳ ai có

nhu cầu học, không phân biệt tuổi tác, giàu

nghèo và trình độ văn hoá đều có cơ hội

chọn được những chương trình thích hợp

để học

Như vậy, để thực hiện TLGD cho mọi

người, dưới góc độ quản lý, cần đổi mới

tuyển sinh hệ chính quy một cách cơ bản,

từ quy định về đối tượng tuyển sinh, điều

kiện tuyển sinh, nội dung và phương pháp

tuyển sinh cho đến thời gian tuyển sinh và

phương pháp đánh giá trong tuyển sinh

Một mặt khác, bên cạnh việc đào tạo và bồi

dưỡng một đội ngũ GV đạt chuẩn quy

định, cần đào tạo và bồi dưỡng một đội

ngũ đông đảo GV có năng lực biên soạn

nội dung chương trình giáo dục theo nhu

cầu xã hội và am hiểu các phương pháp

dạy học cho người lớn và dạy học từ xa

(không giáp mặt)

1.2 Dạy và học cái gì? (What?) Để tiến

hành dạy và học, trước hết phải xác định

nội dung giáo dục

Với TLGD cho số ít người, nội dung

dạy và học được các cơ quan quản lý giáo

dục quy định trong chương trình giáo dục

và đào tạo một cách cứng nhắc với một

thời lượng nhất định cho mỗi lớp học, cấp

học, bậc học, mỗi ngành nghề và trình độ đào tạo khác nhau, tất cả các cơ sở giáo dục trong cả nước, tất cả những người dạy

và người học đều phải thực hiện nghiêm chỉnh, không ai được phép thay đổi Nói một cách khác, người dạy và người học phải dạy và học những nội dung đã được quy định, mặc dầu trong đó có những nội dung mà xã hội cũng như bản thân người học không cần; ngược lại, có những cái cần thì không được học

Với TLGD cho mọi người, nội dung

giáo dục phải rất mềm dẻo, linh hoạt, được thiết kế theo trình độ đầu vào, mục tiêu của đầu ra và theo yêu cầu của người học, theo nhu cầu của thị trường lao động

Để làm được điều này, dưới góc độ

quản lý, phải đổi mới chương trình GD&ĐT Nội dung chương trình phải tinh giản, hiện đại và thiết thực với chuẩn đầu

ra cụ thể theo năng lực gắn với nhu cầu xã

hội Về cấu trúc, chương trình phải được

thiết kế một cách mềm dẻo, lịnh hoạt theo học phần, mô đun liên thông, có phần cứng

và phần mềm để người học có thể lựa chọn

những điều mình cần để học, có thể cần gì học nấy, học suốt đời

1.3 Học để làm gì? (Why?) Người học có

thể có nhiều mục đích khác nhau Mục đích này sẽ chi phối mục tiêu dạy học

Với TLGD cho số ít người, người học

thường đi học với mục đích học xong một chương trình giáo dục nào đó để có được văn bằng tốt nghiệp và với văn bằng có được, họ có thể tìm việc để lao động kiếm sống suốt đời và để có địa vị trong xã hội

Với TLGD cho mọi người, người học

có nhiều mục đích khác nhau: có thể học

để có văn bằng tốt nghiệp ở một trình độ nào đó, để có cơ hội tìm được việc làm; cũng có thể học để cập nhật kiến thức và

kỹ năng, nâng cao trình độ, để lao động tốt hơn; cũng có thể học để có thêm kiến thức, thêm hiểu biết, để có thể sống thích nghi với một xã hội luôn biến đổi mà không cần văn bằng

Trang 15

Để làm được điều này, dưới góc độ

quản lý giáo dục, phải đổi mới việc xây

dựng mục tiêu giáo dục GD&ĐT phải rất

đa dạng, linh hoạt với nhiều mục tiêu,

nhiều chuẩn đầu ra khác nhau để đáp ứng

cho mục đích học tập khác nhau của người

học cũng như nhu cầu đa dạng của thị

trường lao động Các cơ sở giáo dục phải

thiết kế hoặc lựa chọn những nội dung

giáo dục, những học phần, mô đun phù

hợp với mục đích của người học để giảng

dạy

1.4 Dạy thế nào? học thế nào? (How? )

Với TLGD cho số ít, tổ chức quá trình

dạy học được tiến hành theo kế hoạch dạy

học quy định cho từng lớp học Phương

pháp dạy học thường phải tuân thủ những

nguyên tắc sư phạm chặt chẽ, dạy học trực

tiếp "mặt đối mặt" với những điều kiện cơ

sở vật chất và phương tiện dạy học theo

quy định

Với TLGD cho mọi người, kế hoạch

dạy học cũng như phương pháp dạy và học

phải rất linh hoạt, phụ thuộc vào điều kiện

về thời gian, cơ sở vật chất, phương tiện

dạy học cũng như điều kiện và trình độ của

người dạy và người học

Như vậy, để thực hiện TLGD cho mọi

người, dưới góc độ quản lý, phải đổi mới

việc tổ chức quá trình dạy học, các hình

loại GD không chính quy, đào tạo kèm cặp

tại cơ sở sản xuất, tại vị trí làm việc cần

được mở rộng Với sự ứng dụng rộng rãi

công nghệ thông tin và viễn thông vào giáo

dục, cần phát triển mạnh dạy học từ xa qua

các phương tiện thông tin đại chúng như

phát thanh, truyền hình, Internet Một mặt

khác, hệ thống giáo dục chính quy phải

triệt để thực hiện đào tạo theo học chế tín

chỉ liên thông để người học có thể cần gì

học nấy, học suốt đời

1.5 Dạy và học lúc nào? (When?)

Với TLGD cho số ít, dạy và học phải

được tiến hành theo kế hoạch dạy học với

thời gian biểu được quy định chặt chẽ,

Như vậy, dưới góc độ quản lý giáo

dục, phải thay đổi các quy định về quản lý giáo vụ một cách cơ bản Xóa bỏ kế hoạch dạy học và thời gian biểu dạy học cứng nhắc hiện hành và thay vào đó một kế hoạch dạy học linh hoạt theo học chế tín chỉ và phải quản lý tiến trình cũng như kết quả dạy học luôn biến động bằng việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý giáo

vụ

1.6 Dạy và học ở đâu? (Where?)

Với TLGD cho số ít người, quá trình tổ

chức dạy và học phải được tiến hành ở các lớp học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành theo thời gian biểu được quy định cho từng lớp học

Với TLGD cho mọi người, có thể tiến

hành dạy và học bất kỳ ở đâu: ở lớp, phòng thí nghiệm, xưởng trường, xí nghiệp, tại cơ

sở sản xuất của người dạy hoặc người học, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua Internet, v.v miễn là ở đó có điều kiện

Tóm lại, với TLGD cho mọi người, hệ

thống giáo dục cần phát triển với nhiều hình thức, nhiều loại hình, nhiều mục tiêu, nhiều chương trình, nhiều chuẩn, mềm dẻo, linh hoạt, đa dạng và liên thông để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi cương vị công tác, mọi hoàn cảnh khác nhau đều có thể học, học cái mà họ cần, học bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu nơi mà họ có thể và điều quan trọng là có thể tự học để có thể sống và lao động trong một xã hội đang biến đổi nhanh

Trang 16

chóng trong quá trình CNH, HĐH dưới tác

động của khoa học công nghệ, toàn cầu

hoá, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức

[3]

Tuy nhiên, cũng xin lưu ý rằng với

TLGD cho mọi người, trong hệ thống

GD&ĐT phải hết sức quan tâm phát triển

một bộ phận chất lượng cao làm nòng cốt

cho hệ thống giáo dục, để có thể giáo dục

và đào tạo một bộ phận nhân lực chất

lượng cao, một bộ phận tinh hoa cho các

lĩnh vực kinh tế mũi nhọn cũng như để

phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất

nước

Đổi mới tư duy về TLGD là vấn đề rất

căn bản, là cái gốc rễ làm định hướng cho

mọi hành động về giáo dục Sáu vấn đề nêu

trên cũng chính là 6 "yếu tố căn bản" cấu

thành của giáo dục, thiếu một trong 6 yếu

tố này thì không có giáo dục Do vậy, đổi

mới được 6 yếu tố này cũng mang ý nghĩa

đổi mới toàn diện GD&ĐT của nước nhà

2 Đổi mới bản thân hệ thống giáo dục

quốc dân (HTGDQD)

Đổi mới TLGD rất quan trọng, nhưng

mới chỉ là đổi mới tư duy và cách làm giáo

dục, điều quan trọng là phải đổi mới "cái

gốc rễ" của giáo dục Khi nói đến giáo dục

của một nước với những khác biệt so với

giáo dục của các quốc gia khác, cái đầu

tiên phải nói đến là HTGDQD của nước

đó HTGDQD bao gồm 2 thành tố là Cơ

cấu HTGDQD và Quản lý HTGDQD Cơ

cấu HTGDQD được coi là một trong

những vấn đề căn bản nhất của giáo dục

của mỗi nước, bởi lẽ cơ cấu HTGDQD quy

định các trình độ giáo dục, các loại hình

GD&ĐT, mối tương quan giữa chúng được

bố trí một cách khoa học, đảm bảo tính hệ

thống và tính chỉnh thể để mỗi trình độ

giáo dục, mọi loại hình GD&ĐT phối hợp

với nhau tạo thành một sức mạnh tổng thể

mà bản thân mỗi thành tố của HTGDQD

đứng độc lập riêng biệt sẽ không thể có

được Cơ cấu HTGDQD cũng quy định hệ

thống văn bằng/chứng chỉ quốc gia, cũng

như mối quan hệ giữa giáo dục với xã hội,

với thị trường lao động Do vậy, cơ cấu HTGDQD là cái gốc rễ, là xương sống của giáo dục còn Quản lý HTGDQD là đầu não của giáo dục, đề xuất các chủ trương, chính sách và chỉ đạo việc thực hiện mọi hoạt động giáo dục của mỗi quốc gia, sẽ

quyết định sự thành công hay thất bại của giáo dục cũng là yếu tố rất căn bản về giáo dục của mỗi nước

- Cơ cấu HTGDQD của chúng ta đang

có 2 loại trường cao đẳng và 2 loại trường trung cấp nhưng mục tiêu đào tạo gần như

nhau nên đang làm mất tính chỉnh thể của

hệ thống

- Cơ cấu HTGDQD của chúng ta chưa

được phân luồng một cách hợp lý để chuẩn

bị cho việc phát triển đội ngũ nhân lực đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và trình độ

để CNH, HDH đất nước

- Cơ cấu HTGDQD của chúng ta chưa

thể hiện được cấp học phổ cập bắt buộc là

trình độ dân trí tối thiểu của mỗi quốc gia

- Cơ cấu HTGDQD chưa thể hiện

được hệ thống trình độ quốc gia và sự tương thích với hệ thống trình độ giáo dục

quốc tế ISCED để hội nhập

2.1.2 Về bộ máy quản lý HTGDQD

Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại hai

cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương

về GD&ĐT là Bộ GD-ĐT và Bộ

LĐTB-XH Ở mỗi địa phương cũng có hai cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương tương ứng là Sở GD&ĐT và Sở LĐTBXH hoặc một Sở khác được UBND tỉnh ủy quyền có trách nhiệm quản lý nhà nước ở địa phương về GD&ĐT Ngoài ra, với chủ trương vừa quản lý theo ngành vừa quản lý theo lãnh thổ, mỗi Bộ ngành trung ương

Trang 17

đều có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phát

triển nhân lực và quản lý trực tiếp một số

cơ sở đào tạo của ngành mình

Như vậy, HTGDQD của chúng ta đang

có nhiều đầu mối quản lý chồng chéo nên

quản lý kém hiệu lực Mặt khác, với chủ

trương đào tạo đa cấp, đa ngành, một cơ sở

đào tạo trực thuộc Bộ ngành, đóng trên địa

bàn một địa phương nào đó sẽ phải chịu sự

quản lý của 4 cơ quan là Bộ GD&ĐT, Bộ

LĐTB&XH, Bộ chuyên ngành và UBND

địa phương Điều này đã gây nên không ít

khó khăn cho các cơ sở đào tạo trong việc

phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm xã

hội của mình để có thể năng động và sáng

tạo trong cơ chế thị trường

2.1.3 Quản lý nhà nước hệ thống GDQD

Quản lý nhà nước về giáo dục bao

gồm 12 nội dung đã được quy định trong

Luật Giáo dục 2005, tuy nhiên, trong phạm

vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một

số nội dung chủ yếu sau đây:

a) Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục

Một trong những nhiệm vụ chủ yếu

của quản lý nhà nước về giáo dục là xây

dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch phát

triển giáo dục

Do quản lý có sự chồng chéo nên hiện

nay chúng ta đang có hai Quy hoạch mạng

lưới các cơ sở đào tạo Một quy hoạch

mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và

TCCN do Bộ GD&ĐT tổ chức xây dựng

và chỉ đạo thực hiện, một quy hoạch mạng

lưới các trường trung cấp nghề, cao đẳng

nghề do Bộ LĐTBXH tổ chức xây dựng và

chỉ đạo thực hiện Như vậy, trên một địa

bàn địa phương có 2 quy hoạch mạng lưới

CSĐT trình độ trung cấp và cao đẳng khác

nhau, chồng chéo và trùng lặp Cũng chính

vì vậy mà cả 2 quy hoạch này đều không

thể thực hiện được một cách trọn vẹn trong

thời gian qua

b) Quy định mục tiêu, nội dung chương

trình, tiêu chuẩn nhà giáo

- Hiện nay ở nước ta đang có hai bộ

chương trình khung được tổ chức biên

soạn với 2 phương pháp tiếp cận và cấu trúc khác nhau: một bộ chương trình

khung TC nghề và CĐ nghề do Bộ LĐTBXH ban hành được biên soạn theo tiếp cận đào tạo theo Năng lực thực hiện và cấu trúc hỗn hợp theo môn học và mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, một

bộ do Bộ GD&ĐT ban hành với tiếp cận

đào tạo theo niên chế với cấu trúc môn học

Điều này đang gây trở ngại lớn cho

việc đào tạo liên thông giữa các trình độ

- Về chuẩn nhà giáo, ở nước ta cũng

đang có 2 hệ thống chuẩn nhà giáo và 2 bộ chương trình đào tạo và bồi dưỡng GV

khác nhau, một do Bộ GD&ĐT ban hành, một do Bộ LĐTB&XH ban hành, trong khi các trường đang đào tạo đa cấp, vừa dạy cao đẳng, vừa dạy TCCN, vừa dạy TCN Bởi vậy, trên thực tế, các GV không thể được đào tạo hoặc bồi dưỡng cùng một lúc theo 2 chương trình khác nhau được, và các cơ sở đào tạo đang gặp rất nhiều khó

khăn trong việc chuẩn hóa GV

c) Tổ chức quản lý việc đảm bảo chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục

Trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội năm 2004 đã nêu rõ "Việc quản

lý giáo dục truyền thống cần được thay bằng quản lý giáo dục theo chất lượng" Để

thực hiện chủ trương này, chúng ta đang có

2 Bộ tiêu chí kiểm định chất lượng: Bộ

GD&ĐT đã tổ chức xây dựng, thí điểm và ban hành Bộ tiêu chuẩn KĐCL trường đại học với 10 tiêu chuẩn và 53 tiêu chí, mỗi tiêu chí được đánh giá với 2 mức độ đạt thấp (1) và cao (2) Bộ LĐTB&XH cũng

đã căn cứ vào bộ tiêu chí KĐCL các trường dạy nghề của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, đã tổ chức xây dựng và ban hành bộ tiêu chí KĐCL với 9 tiêu chí và đánh giá từng tiêu chí bằng điểm số với tổng số điểm là 500 điểm

Như vậy, trong một HTGDQD nhưng

có đến 2 Bộ tiêu chí để kiểm định chất lượng nhà trường Trong khi đó, nhiều

Trang 18

trường đang đào tạo đa hệ, gồm cả dạy

nghề, TCCN và Cao đẳng Điều này đã gây

trở ngại lớn cho việc thực hiện kiểm định

các cơ sở đào tạo ở nước ta trong thời gian

qua, và vì vậy cho đến nay, số trường đã

được kiểm định chất lượng là không đáng

kể

2.2 Những bất cập

Thực trạng nêu trên đã dẫn đến những

bất bất cập sau đây:

- Cơ cấu HTGDQD đang bị chia cắt,

không đảm bảo được tính chỉnh thể, còn

cứng nhắc, chưa mềm dẻo, linh hoạt và liên

thông để tạo cơ hội thuận lợi cho thanh

thiếu niên và người lao động có thể cần gì

học nấy, học suốt đời

- Bộ máy quản lý của HTGDQD chưa

hợp lý, đang bị chia cắt, nhiều đầu mối,

chồng chéo, cồng kềnh nên quản lý kém

hiệu lực

- Hai cơ quan quản lý nhà nước, vừa

quản lý theo ngành vừa theo lãnh thổ đang

gây ra nhiều trở ngại cho việc thực hiện

những chính sách quốc gia thống nhất

trong giáo dục cũng như gây khó khăn cho

các cơ sở đào tạo trong quản lý

2.3 Những kết quả đang diễn ra

Thực trạng nêu trên đã dẫn đến những

kết quả là trong thời gian qua chúng ta đã

chưa thực hiện tốt được các chủ trương

quan trọng về cải tổ giáo dục đã được đề ra

như:

* Không thực hiện được phân luồng

học sinh sau THCS và THPT;

* Không thực hiện được liên thông

giữa các trình độ đào tạo cũng như giữa các

ngành nghề khác nhau

* Không ban hành được danh mục đào tạo các trình độ một cách có tính hệ thống;

* Không chuẩn hoá được hệ thống

giáo dục và đào tạo;

* Không có được mạng lưới cơ sở đào tạo hợp lý để đáp ứng cho nhu cầu phát

triển nhân lực của cả nước cũng như trong từng địa phương trong từng giai đoạn phát triển

* Không thực hiện được kiểm định chất lượng các cơ sở GD để thực hiện quản

lý hệ thống GD&ĐT theo chất lượng Trên đây là những thách thức to lớn đối với nền giáo dục của chúng ta trong tiến trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Bởi vậy, hoàn thiện cơ cấu HTGDQD và đổi mới bộ máy quản lý HTGDQD nước ta cần được coi là vấn đề bức thiết và căn bản nhất để thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện GD&DT của nước nhà mà Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng

sản Việt Nam đã đề ra

Một vài lời kết

- Trên đây chưa phải là tất cả những gì

cần đổi mới về quản lý giáo dục, tuy nhiên đây là những vấn đề căn bản, gốc rễ nhất, nếu không được đổi mới thì mọi sự đổi mới khác sẽ khó lòng tạo được sự đổi mới căn bản và toàn diện để chấn hưng giáo dục nước nhà

- Bên cạnh đổi mới căn bản và toàn

diện, phải đổi mới đồng bộ và triệt để theo

tinh thần một cuộc cải cách giáo dục vì nếu chỉ đổi mới chắp vá và nửa vời thì sẽ khó lòng tạo được chuyển biến đáng kể cho sự phát triển giáo dục của nước ta trong bối cảnh mới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam., Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội

2 Nguyễn Minh Đường (2002), Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp, một giải pháp quan trọng để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục, Tạp chí Phát triển giáo dục, Số 6, 2002, Hà Nội

Trang 19

3 Nguyễn Minh Đường (2004) Bàn về triết lý giáo dục của một xã hội học tập, Tạp chí

Thông tin Khoa học Giáo dục, Số 112, năm 2004, Hà Nội

4 Clement, Neal D (1969), A Statement of Training Philosophy and Goals, NewYork

* Ngày nhận bài: 06/11/2013 Biên tập xong: 09/11/2013 Duyệt đăng: 12/11/2013

Trang 20

ĐỔI MỚI TƯ DUY GIÁO DỤC

PHẠM TẤT DONG *

TÓM TẮT

Đổi mới tư duy không phải là để “đổi mới tư duy”, tức là, đổi mới tư duy không có mục đích tự thân Đổi mới tư duy có mục đích của nó Với chúng ta, đổi mới tư duy giáo dục lần này là để thay đổi cả một mô hình giáo dục, thay đổi cả một nền giáo dục để nhằm vào mục đích cuối cùng là làm cho nền giáo dục” của dân hơn nữa, do dân hơn nữa và vì dân hơn nữa” Nếu không đạt mục đích này, ngay lập tức, vấn đề đổi mới tư duy giáo dục lại phải đặt lại ngay, bức thiết hơn, gay gắt hơn

Từ khóa: đổi mới tư duy, xã hội học tập, giáo dục ban đầu, giáo dục tiếp tục

ABSTRACT

Renovation of education thinking is not for “thinking renovation”, that is renovation of education thinking without its own purpose It must have its own purpose For us, renovate thinking of education this time is to change the model of education, to change the whole system of education with the ultimate objective to make the education become “more of the people, by the people and for the people” If this objective is not achieved, immediately, the issue of renovation of education thinking should be re- considered, more urgently and more intensively

Keywords: renovation of thinking, learning society, initial education and

continuing education

Tôi không có phương tiện xử lý thông

tin hiện đại để biết trong nước, và ngay

trong ngành giáo dục Việt Nam, có bao

nhiêu sách báo, tài liệu nói đến đổi mới tư

duy giáo dục Nhưng tôi đoán chắc rằng,

cụm từ này được viết trên giấy hoặc được

nói ra miệng phải cả triệu lượt Ấy thế mà,

giáo dục vẫn trượt trên đường mòn cũ,

những thay đổi quá ít, có khi thay đổi lại

làm cho cái cần thay đổi tăng tính cấp

thiết hơn: học phí vẫn tiếp tục tăng; kế

hoạch kiên cố hóa trường học sau nhiều

năm triển khai vẫn ì ạch Trên ti vi gần

đây có một bài nói về số lượng trường

rách nát vẫn quá lớn; ba, bốn năm liền

thiên hạ kêu học sinh bị điểm quá kém về

môn Lịch sử, nhưng rồi đâu lại hoàn đó;

dư luận xã hội phản đối rầm rầm về việc

bắt trẻ con học thêm quá nhiều, bị nhồi

nhét quá nhiều, nhưng học sinh vẫn ùn ùn

đến các lớp học thêm, từ những đứa cao

lộc ngộc đang học lớp cuối của trường

Trung học phổ thông cho đến mấy đứa con nít ở tuổi “thò lò mũi”, vừa từ lớp mẫu giáo 5 tuổi chuyển sang lớp Một Tư tưởng

về đổi mới tư duy giáo dục để có được những thay đổi cần thiết trong giáo dục xem

ra vẫn đang bốc lên hừng hực, nhưng thực tế giáo dục thì lạnh lùng, có vẻ thách thức dư luận Vì vậy, ở đây có gì không ổn chăng? Một lần, khi tôi thấy trên giá sách của một Nhà sách cuốn “Lối tư duy của tương lai” do Naisbitt viết, tôi phải mua ngay lập tức Đọc Mind sets, tôi ngộ ra một điều rằng, thế giới không bao giờ biến đổi như một tổng thể, cũng không phải mọi thứ đang thay

đổi “vì vậy, khi tốc độ, khả năng và sự thích ứng với thay đổi dường như trở thành những yếu tố chi phối đời sống, thì

sự tập trung, hiệu quả, tư duy logic và tầm nhìn càng trở nên cần thiết giúp chúng ta không bị cuốn vào cuộc chạy đua theo những xu thế nhất thời vốn không có điểm dừng Muốn nhận ra đâu

Trang 21

là những đại lộ dẫn thẳng về phía trước

và đâu là những ánh đèn hao hao giống

tín hiệu về tương lai lập lòe ngẫu nhiên

bên đường, chúng ta có thể tự thám

hiểm dòng tư duy của chính mình, vượt

qua rừng thông tin, qua những dấu hiệu

thay đổi bề mặt, vốn chỉ là biểu hiện của

những hằng số trong cuộc đời: cuộc sống

gia đình, công việc, môi trường sống (xã

hội, chính trị, kinh tế, sinh thái…), bằng

những lối tư duy khách quan độc lập Đó

là con đường tất yếu để nắm bắt hiện tại

chủ đề rõ ràng: một con trăn khổng lồ đã nuốt một con voi Vẽ xong, chú khoe với

mọi người, nhưng chú ngạc nhiên quá

chừng khi ai cũng khen chú vẽ cái mũ

khéo quá, đẹp quá

Chú bé rất mừng khi gặp Hoàng tử Bé,

bởi Hoàng tử Bé hiểu ngay ý tưởng bức

tranh, không phải giải thích gì mà Hoàng

từ nhận ra ngay con voi đang bị con trăn

tiêu hóa

Saint – Exupéry cho ta một điều đáng

phải suy nghĩ: cái mà ta nhìn thấy nhiều

khi lại hạn chế trí não của chính ta Nếu

loại bỏ cái giới hạn (thân con trăn đang

phồng lên như hình cái mũ dạ (mũ phớt), ta

sẽ thấy con voi đã bị con trăn nuốt chửng

Câu chuyện của Saint – Exupery có

thể là một ẩn dụ thú vị Cái giới hạn giáo

dục hiển thị trước chúng ta là mô hình giáo

dục đang được vận hành Đổi mới giáo dục

mà tầm tư duy chỉ trong khuôn khổ mô

hình giáo dục cũ kỹ này thì mọi thay đổi bên trong cái giới hạn đó giỏi lắm cũng chỉ

là sự chắp vá đối phó mà thôi Nhiều người vẫn bảo vệ cái mô hình giáo dục cũ kỹ hiện hữu để bàn về đổi mới tư duy giáo dục Tôi khẳng định rằng, họ chẳng thể mở ra một lối đi nào thông thoáng vào tương lai cho nền giáo dục của chúng ta, cho dù họ đưa

ra hàng trăm thông tin về sự đổi mới tư duy giáo dục ở nơi này hay ở nơi khác

Sức ỳ của tư duy là một một nguyên nhân làm cho người ta không dám vượt qua những điều mà họ đã ngộ nhận đó là nguyên lí bất di bất dịch Trước đây, trong hàng chục năm, nền y học thế giới có một

lý thuyết về nguyên nhân gây ra các vết

Trang 22

loét trong dạ dày: hút thuốc lá và uống

rượu làm cho cơ thể sản xuất dư thừa axít

dạ dày, và số lượng axít dư thừa sẽ ăn mòn

lớp niêm mạc Người ta hiểu đinh ninh như

vậy, và từ đó, điều trị vết loét dạ dày chủ

yếu là dùng phẫu thuật hoặc thuốc kháng

axít

Có 2 bác sĩ người Úc là Robin Warren

và Barry Marshall khẳng định có một loại

vi khuẩn (lúc đó chưa xác định vi khuẩn

nào) gây ra bệnh lở loét Giới y học cho

rằng, 2 bác sĩ này đã có những ý kiến “xấc

xược” về vi khuẩn làm loét dạ dày Cả 2 vị

bác sĩ khả kính ấy đã bị ngành y tống ra

khỏi ngành nghiên cứu và chữa trị bệnh

viêm loét dạ dày, khiến họ phải tìm về một

vùng hẻo lánh để hành nghề

Tháng 10/ 2005, Warren và Marshall

được trao giải Nobel y học vì đã phát hiện

ra loại “vi trùng gây lở loét” Thế mà cũng

phải mất cả thập kỷ sau đó giới y học mới

không kê thuốc kháng axít và thay vào đó

là cho đơn thuốc kháng sinh khi bệnh nhân

loét dạ dày đến khám bệnh

Bây giờ trở về với giáo dục

Câu hỏi: Cần phải làm gì đối với nền

giáo dục đang có nhiều khuyết tật hiện

nay?

Trả lời: Phải đổi mới căn bản và toàn

diện nền giáo dục

Trả lời như thế là chính xác

Câu hỏi tiếp: Đổi mới căn bản và toàn

diện nền giáo dục bằng cách nào?

Trả lời: Phải đổi mới tư duy giáo dục

Cách trả lời này không đạt, bởi vẫn chỉ

là câu trả lời làm gì chứ chưa phải làm

như thế nào Do đó, không thể đi đến một

quyết định cần thiết của cơ quan lãnh đạo

tối cao về cách làm Chết một nỗi, không ít

nhà nghiên cứu khoa học lại coi “đổi mới

tư duy giáo dục” là biện pháp, mà không

hiểu đây chỉ là điều kiện để đổi mới căn

bản và toàn diện giáo dục và đào tạo mà

thôi

Vấn đề cốt lõi của đổi mới tư duy là

phải dùng trí tuệ để đề ra được cách làm,

tức là trả lời được câu hỏi: Làm như thế nào Chúng ta biết rằng, trong sản xuất,

biết là điều kiện cần thiết, nhưng biết làm cách nào mới là yếu tố tạo ra lợi thế cạnh

tranh; dừng lại ở biết thì chưa thể tạo ra sự

thay đổi

Có những tầng bậc biết sau đây:

- Biết cái gì (Know - What);

- Biết tại sao lại làm cái ấy (Know – Why);

- Biết ai làm cái ấy (Know – Who);

- Biết làm cái ấy ở đâu (Know – Where);

- Biết làm cái ấy khi nào (Know – When)

Có người đưa thêm vào một cái biết nữa: Biết làm ra bao nhiêu cái ấy (Know – Quantity) Song, dù sao thì những loại biết

này cũng chỉ có khả năng trả lời “đây là cái gì” chứ chưa đủ để trả lời “làm cái ấy như thế nào”

Vấn đề là biết làm như thế nào (Know – How) Trong tiếng Anh, Know – How có

nghĩa là biết cách làm, và quan trọng hơn

khi ta hiều nghĩa thứ hai của từ này: Bí quyết Bí quyết là phần mềm quan trọng

nhất của một công nghệ Hai doanh nghiệp cùng áp dụng một loại công nghệ, nghĩa là

họ có nhà xưởng, trang bị kỹ thuật tổ chức, nhân sự … như nhau, nhưng bí quyết khác nhau thì sản phẩm hàng hóa sẽ khác nhau

Vì thế, ở Chợ Công nghệ (thị trường buôn bán công nghệ), bí quyết là cái người ta quan tâm hơn cả

Bí quyết là kết quả chuyển từ biết đến biết làm, hay nói cách khác, là chuyển

kiến thức (Know) thành tri thức (Knowledge) Khi dừng lại ở sự biết (nắm kiến thức) thì con người mới ở mức tích

lũy thông tin (Information), Thông tin là tri thức của người khác chuyển đến ta

Về thực chất, thông tin chỉ là tổng thể những dữ liệu được kết nối thành những

sự kiện chưa được xử lý Ta phải học cách xử lý thông tin, và chỉ xử lý thông tin đúng thì thông tin mới thành tri thức

Trang 23

của ta Xử lý thông tin đúng có nghĩa là

quá trình tư duy của chúng ta đúng Nghiên

cứu quá trình nhận thức, V.I Lénine cho

rằng, tư duy nếu đúng thì nó sẽ phản ánh

đúng thực tiễn khách quan, nghĩa là nó

giúp nhận thức của ta gần chân lý hơn

Theo Lénine, tư duy có thể sai, cho nên

phải có phương pháp thực hiện đúng các

thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp,

khái quát, trừu tượng hóa…về các hiện

tượng, sự vật…thì mới đạt được kết quả tư

duy đúng đắn

John Naisbitt có một lối tư duy độc

đáo, được diễn đạt bằng mệnh đề “Tương

lai được gói gọn trong hiện tại” Muốn đi

tới tương lai, phải hiểu thấu hiện tại để

thấy được cái gì trong hiện tại sẽ nằm trong

tương lai Bỏ qua hiện tại, chỉ tưởng tượng

về tương lai, suy nghĩ ấy sẽ mang lại một

kết quả ảo, chẳng bao giờ trở thành hiện

thực (Lưu ý rằng, quá trình suy nghĩ bao

gồm cả tư duy lẫn tưởng tượng Nói rằng,

tôi đang suy nghĩ thì có thể tôi đang xử lý,

vận dụng những khái niệm, tức là tôi đang

tư duy, song cũng có thể tôi suy nghĩ khi

tôi đang sắp xếp, cấu trúc lại những biểu

tượng trong trí óc, và trường hợp này tôi

đang tưởng tượng)

John Naisbitt nói rằng , ông nhìn ra thế

giới đang đi về đâu khi ông thu thập thông

tin, đọc các tờ báo, trao đổi với nhiều

người ở một số quốc gia khác nhau Nghe

ông nói, Toni Ofner, một bạn thân của

Naisbitt, hỏi:

“Vậy thì, nếu như anh nói, tương lai

được gói trong hiện tại, và nếu tôi quan sát

kỹ lưỡng những gì đang diễn ra trên thế

giới, tôi cũng sẽ có được kết quả giống

anh Nhưng tôi không làm như vậy, vậy

điều gì tạo ra sự khác biệt?”

Trả lời câu này, Naisbitt cho rằng,

những khác biệt không nằm trong những

điều học được, mà nằm trong việc tư duy

về điều đã học được như thế nào Toni

liền nói: “Những gì anh nói giống như

nước mưa rơi xuống một nền đất khác”

Toni đã nói đúng về quan niệm của Naisbitt, tư duy đúng là mảnh đất, còn nước mưa (thông tin) sẽ rơi xuống để rồi cây cối mọc lên, đâm chồi nảy lộc Cây cối

sẽ lớn lên khác nhau bởi mảnh đất chứ không phải từ nước mưa Tóm lại, tiếp thu thông tin như thế nào là điều quan trọng

Đó chính là chìa khóa mở ra sự đổi mới Nhưng, theo tôi, chúng ta đổi mới tư duy để làm gì là vấn đề cần đặt ra Đổi mới

tư duy không phải là để “đổi mới tư duy”, tức là, đổi mới tư duy không có mục

đích tự thân Đổi mới tư duy có mục đích của nó Với chúng ta, đổi mới tư duy giáo

dục lần này là để thay đổi cả một mô hình giáo dục, thay đổi cả một nền giáo dục

để nhằm vào mục đích cuối cùng là làm cho nền giáo dục” của dân hơn nữa, do dân hơn nữa và vì dân hơn nữa” Nếu

không đạt mục đích này, ngay lập tức, vấn

đề đổi mới tư duy giáo dục lại phải đặt lại ngay, bức thiết hơn, gay gắt hơn

Sự luẩn quẩn của tư duy giáo dục theo kiểu ta đã gặp nhiều lần trên diễn đàn của Hội nghị tư vấn này hay Hội thảo khoa học

nọ rút cục vẫn bị vướng vào đường viền của “cái mũ phớt” mà chú bé ngộ nghĩnh trong “Le petit prince” đã vẽ, không nhận

ra được “một con voi đang bị tiêu hóa bởi con trăn”, tức là, chưa nhìn ra một hệ thống giáo dục đã hết tính thích ứng với thời đại (con trăn) đang làm con voi (mục tiêu giáo dục) biến dạng dần

Vậy kết luận đầu tiên ở đây là: Cần

nhận thức đầy đủ rằng, đã đến lúc phải đổi mới mục tiêu giáo dục và đổi mới mục tiêu giáo dục là đổi mới căn bản nền

giáo dục này Một cuộc cách mạng hay một cuộc cải cách giáo dục (hay một cuộc đổi mới giáo dục) nào cũng phải bắt đầu từ xác định mục tiêu kỳ vọng Đấy là nguyên tắc – một nguyên tắc cứng rắn như một nguyên

lí vậy

Năm 1950, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành cải cách giáo dục để hoàn toàn đoạn tuyệt với những gì của nền

Trang 24

giáo dục trước Cách mạng tháng Tám còn

vướng lại trong hệ thống giáo dục kháng

chiến của ta Mục tiêu giáo dục ngày ấy là

đào tạo những lớp người yêu nước nồng

nàn, căm thù bọn cướp nước sâu sắc, có đủ

năng lực đưa cuộc kháng chiến trường kỳ

chống thực dân Pháp đến thành công và sẽ

kiến thiết hòa bình, xây dựng Nhà nước

cách mạng mang đầy đủ tính chất “của dân,

do dân, vì dân” Tất nhiên, nền giáo dục

của Nhà nước ấy cũng của dân, do dân,

vì dân

Chúng ta đã đạt mục tiêu này mỹ mãn

Sau khi triển khai cuộc Cải cách giáo dục

1950 được 15 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã đánh giá kết quả mà cuộc Cải cách giáo

dục này gặt hái được như sau:

“Cách mạng tháng Tám thành công đã

giải phóng 25 triệu đồng bào ta Nước Việt

Nam dân chủ cộng hòa thành lập là Nhà

nước đầu tiên của nhân dân ta Từ đó, nhân

dân ta làm chủ đất nước của mình, cùng

nhau ra sức xây dựng cuộc đời độc lập, tự

do, hạnh phúc

Nhưng thực dân Pháp lại xâm lược

nước ta một lần nữa Đồng bào cả nước ta,

từ Nam đến Bắc, đã kháng chiến cực kì anh

dũng trong suốt 9 năm Cuối cùng chúng ta

đã đánh thắng thực dân Pháp và bè lũ bù

nhìn Hòa bình được lặp lại Miền Bắc

nước ta hoàn toàn được giải phóng đã

chuyển sang một giai đoạn mới: giai đoạn

cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong sự nghiệp vĩ đại ấy, thanh niên

ta ở miền Bắc được sự giáo dục của Đảng

và sự dìu dắt của Đoàn đã tỏ ra rất xứng

Năm 1956, nước ta tiến hành Cải cách

giáo dục lần thứ 2: Mục tiêu giáo dục lần

này là xây dựng mô hình nhân cách con

người Việt nam xã hội chủ nghĩa, hoàn

thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa đất nước từng bước lên Chủ nghĩa

xã hội, đấu tranh thống nhất đất nước, giải phóng miền Nam Đợt Cải cách giáo dục này xóa hệ thống giáo dục trong vùng bị giặc Pháp chiếm đóng, xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm, phát triển mạnh hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và đại học

Cuộc Cải cách 1956 đã thành công lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Những lớp người do nhà trường xã hội chủ nghĩa đào tạo đã góp phần xứng đáng vào

sự nghiệp xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Cuộc Cải cách giáo dục lần thứ 3 được tiến hành vào năm 1979, sau khi nước nhà đã thống nhất được 3 năm rưỡi, theo Nghị quyết

số 14 – NQ/TW ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị Cuộc Cải cách lần này đã tạo nên một hệ thống giáo dục với nhiều thành quả đào tạo rất đáng tự hào Đến nay, chỉ xem số lượng phát triển giáo dục trong năm học

2010 – 2011 (Chưa có số liệu giáo dục 2012

vì chúng tôi chưa có số liệu năm học 2011 – 2012), chúng ta cũng đã có một ấn tượng tốt đẹp về hệ thống trường lớp đã có

Tình hình phát triển về số lượng các ngành học ở Việt Nam năm học 2010 –

- Số trường mẫu giáo : 2.877

- Sơ lớp mẫu giáo : 107.000

- Số học sinh mẫu giáo : 3.070.794

- Số cô giáo mẫu giáo : 158.981

3 Tiểu học

- Số học sinh : 7.048.493

- Số giáo viên : 359.039

Trang 25

Ghi chú: Số người lớn đi học chưa thật

chính xác, bởi các báo cáo từ các địa phương chưa thật đầy đủ, chưa đủ độ tin cậy

Vì sao, với một hệ thống giáo dục phát triển như thế, Đảng và Nhà nước lại yêu cầu phải “đổi mới căn bản và toàn diện”? Tôi xin được trình bày mấy ý kiến sau đây: 1.Từ khi có Nghị quyết 14.NQ/TW (ngày 11/1/1979) đến nay, tình hình xã hội

ta và trên thế giới đã có những thay đổi lớn Cải cách giáo dục 1979 chỉ hướng vào mục tiêu đào tạo con người cho một đất nước dựa vào nền kinh tế nông nghiệp, trước năm 1986 chỉ phát triển nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung theo cơ chế bao cấp, không chấp nhận kinh tế thị trường

Về ngoại giao lúc đó, chúng ta đóng cửa đối với nhiều nước tư bản chủ nghĩa vv… Đến nay, ít nhất cũng phải tính đến các yếu tố sau đây khi đào tạo thế hệ trẻ:

- Những thế hệ sinh ra từ năm 2000, về

cơ bản, sẽ sống và lao động trong một xã hội Việt Nam công nghiệp, toàn bộ lối sống, tác phong lao động, ý thức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp phải do nền kinh tế công nghiệp qui định

- Phải phát triển mạnh nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng thị trường Việt Nam ra ngoài biên giới, từng bước phát triển kinh tế tri thức

- Hội nhập quốc tế trong điều kiện xu

thế toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, không phân biệt các thể chế chính trị của các quốc gia

Việc đầu tiên khi bàn về Đổi mới giáo dục, và kéo theo là Đổi mới tư duy giáo dục là phải khẳng định dứt khoát rằng,

mẫu người (mô hình nhân cách) do nền giáo dục đang đào tạo không thể chấp nhận được nữa Phải nghiên cứu và xác

Trang 26

định những yêu cầu cơ bản với con

người cần đào tạo, từ đó, xây dựng mục

tiêu đào tạo cho giai đoạn mới, trước mắt

là giai đoạn 2015 – 2020

Khi xác định được mục tiêu đào tạo

mới thì toàn bộ hệ thống giáo dục phải đổi

mới theo

Vì thế, đổi mới căn bản nền giáo dục

là đổi mới mục tiêu giáo dục Mọi cuộc

cách mạng giáo dục, cải cách giáo dục hay

đổi mới giáo dục đều bắt đầu từ câu hỏi:

Chúng ta cần con người với những phẩm

chất nhân cách nào? Lý tưởng xã hội của

họ là gì? Họ kế thừa và phát triển sự

nghiệp nào của các thế hệ đi trước trao

cho? vv…

Trong sản xuất, khi thay đổi mặt hàng,

thay đổi mẫu mã sản phẩm, người ta buộc

phải thay đổi công nghệ sản xuất (cả phần

cứng và phần mềm của công nghệ) Trong

giáo dục cũng vậy thôi, đổi mới mục tiêu

giáo dục thì nhất thiết phải thay đổi hệ

thống trường lớp, cấu trúc lại hệ thống,

thay đổi chương trình, nội dung, phương

pháp giáo dục và giảng dạy, thay đổi công

tác quản lý, thay đổi cả hệ thống sư phạm

Nếu không thay đổi mục tiêu giáo dục,

vị tất đã phải đổi mới hệ thống giáo dục, đổi mới chính sách giáo dục, đổi mới lý luận

giáo dục… Đổi mới tư duy giáo dục trước hết là phải nhìn lại mục tiêu giáo dục, tiến hành nghiên cứu để xây dựng những khái niệm mới, những quan điểm mới, những

lý luận mới về mục tiêu giáo dục Trong hệ

thống nghiên cứu khoa học giáo dục, mà hướng đi của các công trình nghiên cứu lệch lạc, bất cập với thực tiễn giáo dục, mơ màng trước đường lối, chủ trương giáo dục của Đảng thì không có cách nào thực hiện được

sự đổi mới tư duy giáo dục

2 Sau khi xác định được mục tiêu giáo dục thì phải đổi mới toàn bộ hệ thống giáo dục Đó là đổi mới toàn diện công việc giáo dục và đào tạo

Vấn đề đặt ra là, đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng nào?

a.Trước hết phải cấu trúc lại hệ thống giáo dục, bảo đảm sự hài hòa, cân đối hợp lý giữa giáo dục ban đầu với giáo dục tiếp tục, giữa giáo dục thế hệ trẻ với giáo dục người lớn, giữa giáo dục chính quy với giáo dục không chính quy và phi chính quy

XÃ HỘI HỌC TẬP

GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN, ĐÀO TẠO LIÊN TỤC, HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

B Dành cho mọi người

C Giáo dục tiếp tục (Dành cho người lao động, người cao

Trang 27

b Sau khi đã xác định được hệ thống

giáo dục (a), cần xác định rõ mục tiêu giáo

dục cho từng hệ thống giáo dục thành phần

A,B,C như trong mô hình cấu trúc xã hội

trên đây

c Khi đã xác định rõ mục tiêu giáo

dục, lúc đó mới tổ chức xây dựng chương

trình; biên soạn sách giáo khoa, giáo trình,

tài liệu tham khảo; trang bị các phương tiện

kỹ thuật cho công tác giáo dục – giảng dạy

và yêu cầu về phương pháp giảng dạy,

phương pháp giáo dục

d Quy định cơ chế vận hành hệ thống

giáo dục, phương thức quản lý vi mô và vĩ

mô đối với hệ thống

e Quy định về công tác kiểm tra, đánh

giá, thi cử, cấp văn bằng chứng chỉ

g Tổ chức đội ngũ giáo viên, cán bộ

quản lý giáo dục, nhân viên phục vụ trong

hệ thống giáo dục

3 Đổi mới căn bản và toàn diện hệ

thống sư phạm Hệ thống sư phạm phải

đổi mới không chỉ căn bản và toàn diện,

mà còn phải theo tinh thần triệt để Giáo

viên được hiểu là người lao động làm ra

sản phẩm theo đúng yêu cầu của mục tiêu

giáo dục Sản phẩm của giáo dục do giáo

viên làm ra là những nhân cách mà tổng

thể những nhân cách đó sẽ là nguồn nhân

lực và nhân tài cho đất nước

Đổi mới sư phạm cần đi trước đổi mới

toàn bộ giáo dục và đào tạo

4 Đổi mới hệ thống chính sách đầu

tư cho giáo dục Trong kinh tế công

nghiệp hiện đại và kinh tế tri thức, người ta

coi tri thức là nguồn vốn quan trọng hàng đầu; sức lao động và tài nguyên là nguồn vốn xếp ở hàng thứ hai Để có vốn tri thức phải có giáo dục, cho nên giáo dục phải xếp vào yếu tố kinh tế, đầu tư cho giáo dục

là đầu tư vào phát triển kinh tế Chính sách đầu tư cho giáo dục phải gồm giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy; cả giáo dục thế hệ trẻ lẫn giáo dục người lớn; cả giáo dục mầm non, phổ thông, chuyên nghiệp, đại học và sau đại học lẫn đào tạo sư phạm

Chính sách giáo dục phải được ưu tiên hàng đầu trong mọi chính sách xã hội

Kết luận

Đổi mới tư duy giáo dục phải hướng tới một nền giáo dục của dân, do dân, vì

dân – một nền giáo dục vì con người chứ

không phải cho con người: Ai cũng được học hành, ai cũng có được cơ hội và điều kiện học suốt đời, nghĩa là ở bất kỳ lứa tuổi nào, con người cũng được hưởng quyền thỏa mãn nhu cầu học tập (nếu có)

Một nền giáo dục của dân, do dân, vì dân là nền giáo dục dân chủ nhất nền giáo dục ấy sẽ đào tạo ra những con người xây

đắp và bảo vệ một Nhà nước của dân, do,

vì dân, một nhà nước thật sự cách mạng,

thật sự dân chủ, thật sự công bằng, bình đẳng, bác ái

Tôi mượn lời cựu Tổng thống Abraham Lincoln để kết lại bài viết này :

“Chính quyền của dân, do dân, vì dân sẽ không bao giờ diệt vong trên trái đất”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Quốc Bảo (2008), Đặc trưng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam (một số vấn đề về

xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam), Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội

2 Nguyễn Mạnh Cầm (2009), Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, Nxb Dân trí,

Hà Nội

Trang 28

3 Phạm Tất Dong (2009), Cấu trúc mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt

Nam, Hà Nội

4 Phạm Tất Dong (2012), Khuyến học, Nxb Dân trí, Hà Nội

5 John Naisbitt, Patricia Aburdena (2002), Xu hướng vĩ mô 2000 Ban Khoa giáo Trung ương, Tài liệu tham khảo, Hà Nội

6 Đặng Hữu (2001), Kinh tế tri thức – Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

* Ngày nhận bài: 07/11/2013 Biên tập xong: 10/11/2013 Duyệt đăng: 12/11/2013

Trang 29

ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN NỀN GIÁO DỤC

THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA, XÃ HỘI HÓA,

DÂN CHỦ HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

PHAN VĂN KHA *

TÓM TẮT

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục yêu cầu phải đổi mới tất cả các mặt, các thành tố của hệ thống giáo dục, đổi mới những vấn đề cốt yếu, những khâu then chốt, khâu đột phá, bao gồm từ đổi mới tư duy giáo dục và những giải pháp vĩ mô (xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, lấy người học làm trung tâm, hội nhập quốc tế, đảm bảo chất lượng, đầu tư tài chính ) đến việc nghiên cứu khoa học giáo dục

Từ khóa: hệ thống giáo dục, hội nhập quốc tế, chuẩn hóa, khoa học giáo dục

ABSTRACT

Fundamental and comprehensive renovation of education requires renovation of all aspects and elements of education system, key issues, critical and breakthrough points, including renovation of education thinking and macro solutions (it is considered that education is of top national policy, with learner-centered approaches, international integration, quality assurance, financial investment…) and education science research

Keywords: education system, international integration, standardization, education

science

1 Nhận thức về đổi mới căn bản và toàn

diện nền GD theo hướng chuẩn hóa,

hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và

hội nhập quốc tế

1.1 Về đổi mới căn bản và toàn diện nền

GD

- Đổi mới toàn diện có thể được hiểu

là: đổi mới tất cả các mặt, các thành tố của

hệ thống GD: 1) Triết lí GD, tư duy GD,

quan điểm chỉ đạo phát triển GD…; 2) Sứ

mạng và mục tiêu GD; 3) Quản lí nhà

nước về GD (Tổ chức hệ thống, phân cấp

và cơ chế quản lí, cơ cấu khung của hệ

thống, công tác quy hoạch, các chính

sách, hệ thống giám sát…); 4) Quản lí nhà

trường, quyền tự chủ và trách nhiệm xã

hội của các trường; 5) Hoạt động dạy học,

đánh giá kết quả GD và các điều kiện đảm

bảo (chương trình và tài liệu dạy học, giáo

viên (GV) và động lực của GV, cơ sở vật

chất và phương tiện dạy học, tài chính,

môi trường dạy học…)

- Đổi mới căn bản được hiểu là đổi mới những vấn đề cốt yếu, khâu then chốt, lớn, buộc phải làm, khả thi, khâu đột phá chi phối quá trình phát triển để kiến tạo mô hình GD mới phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước Để phát triển bền vững cần đổi mới từ trong cách nghĩ, cách làm, trong tư duy (nhận thức, triết lí, quan điểm) đến mục tiêu, sứ mạng của GD, và hành động phù hợp với năng lực hiện tại của

hệ thống và những cơ hội, thách thức, rào cản do bối cảnh kinh tế - xã hội (KT - XH) của đất nước và do hội nhập quốc tế mang

lại

Cần lưu ý là, đổi mới căn bản, toàn diện

không có nghĩa là làm lại tất cả, làm lại từ

đầu, phủ định sạch trơn, mà cần xem xét, kế thừa những gì và phải thay đổi những gì cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước

1.2 Về chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa

Trang 30

- Chuẩn hoá là một tiêu chuẩn của

hiện đại hoá Để chuẩn hóa GD cần xây

dựng hệ thống chuẩn và thực hiện nâng

cấp để các thành tố của nó đạt chuẩn

Trong GD phải tiến tới chuẩn hoá về mọi

mặt, từ chương trình, sách giáo khoa, đội

ngũ GV… đến trường lớp, bàn ghế, thiết bị

dạy học Chuẩn hoá nhà trường về mọi mặt

là điều kiện cho GD toàn diện và nâng cao

chất lượng GD

- Hiện đại hóa trong GD được hiểu là

hiện đại hóa các thành tố của GD, trước

hết phải hiện đại hóa nội dung, phương

pháp GD và cùng với nó là cơ sở vật chất,

thiết bị dạy học Nội dung GD phải phản

ánh những thành tựu mới nhất của các

khoa học và thành tựu phát triển KT - XH

của đất nước Phương pháp GD phải được

đổi mới theo hướng thức tỉnh tối đa tiềm

năng của người học, hình thành và phát

triển ở người học những năng lực chung và

năng lực chuyên biệt, khả năng thích nghi

tốt nhất, nhanh nhất, tinh thần phê phán

khách quan, khoa học, tư duy sáng tạo và

có phương pháp tự học suốt đời Ngày nay,

nói đến hiện đại hóa GD không thể không

nói đến ứng dụng công nghệ thông tin và

truyền thông vào GD

- Về dân chủ hóa, cần phân biệt ba

khái niệm: dân chủ hóa GD, dân chủ hóa

nhà trường và dân chủ hóa QLGD Dân

chủ hóa GD trước hết thể hiện ở chủ

trương GD cho mọi người, mọi người đều

có quyền bình đẳng tham gia làm GD,

đóng góp ý kiến, giám sát GD; thực hiện

công bằng xã hội trong GD Dân chủ hóa

nhà trường thể hiện ở chỗ làm cho nhà

trường thực sự là của dân, do dân và vì

dân Dân chủ hóa nhà trường phải đảm

bảo nguyên tắc dân chủ trong mọi quan hệ

trong nhà trường (quan hệ giữa GV và học

sinh, giữa GV với GV, giữa GV với lãnh

đạo nhà trường…), đảm bảo công khai,

minh bạch, công bằng Dân chủ hóa QLGD

trước hết là chống quan liêu, phiền hà,

tham nhũng trong GD, là thực hiện công

khai, minh bạch, công bằng các chính sách,

chế độ đối với GV, CBQL và người học

- Xã hội hóa GD thể hiện sự nghiệp

GD là của toàn dân, của toàn xã hội, đồng thời mọi người có quyền được hưởng nền

GD Giáo dục phải thực sự là của dân, do dân và vì dân

2 Về đổi mới tư duy GD và những giải pháp vĩ mô

2.1 Phát triển GD phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển GD Đầu tư cho GD là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách

ưu tiên đối với GD, đặc biệt là chính sách

đầu tư và chính sách tiền lương

2.2 Phát triển GD hướng tới người học, đảm bảo công bằng về cơ hội tiếp cận GD Phát triển GD một mặt đáp ứng nhu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, mặt khác phải thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, học suốt đời

Cần thay đổi nhận thức về người học, người học không phải là đối tượng thụ động của GD để nhà trường và nhà GD áp đặt ý chí của mình Tùy theo cá tính, mỗi con người có những sở thích, sở trường, sở đoản riêng, sự đa dạng ấy làm nên cuộc sống phong phú trong xã hội hiện đại và là mảnh đất dễ nẩy nở tài năng sáng tạo Tôn trọng và phát triển cá tính người học, không được hạn chế hay kìm hãm sự phát triển của mỗi cá nhân, phải mở ra nhiều con đường, nhiều hướng, nhiều cơ hội lựa chọn cho người học

để “phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có” ở mỗi người học

Phát triển GD hướng tới người học, thực hiện dạy học phân hóa, phát triển năng

lực người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng (phát triển các trường năng khiếu; phân hóa GD trung học phổ thông (THPT) theo hướng tự chọn phù

Trang 31

hợp với sở thích, khả năng của người học);

tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học,

học suốt đời, đồng thời đáp ứng nhu cầu

nhân lực phát triển KT - XH, từng bước xây

dựng xã hội học tập; tạo cơ hội giúp cho mọi

người phát huy được tài năng, trí tuệ, sở

trường, năng lực của mình, tham gia vào quá

trình phát triển và thụ hưởng thành quả của

quá trình đổi mới toàn diện GD nước ta mà

Đảng đang thực hiện

Nhà nước cần có những chính sách

ưu tiên về đầu tư đối với các vùng miền

khó khăn để nâng cao chất lượng GD, đạt

được mặt bằng chung; có chính sách đặc

biệt với các đối tượng là người dân tộc

thiểu số, người nghèo, con em diện chính

sách (chính sách học phí, học bổng, tín

dụng…) Xây dựng hệ thống GD mở, phân

luồng và liên thông trong toàn bộ hệ thống

để tạo điều kiện cho mỗi người dân học tập

bằng mọi hình thức, học suốt đời

2.3 Hội nhập quốc tế về GD trên cơ sở giữ

gìn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững

độc lập, chủ quyền, định hướng xã hội chủ

nghĩa Hội nhập quốc tế nhằm thu hút các

nguồn đầu tư từ các nước và tổ chức quốc

tế để phát triển GD Khuyến khích các cơ

sở GD trong nước hợp tác với các cơ sở

GD nước ngoài trong đào tạo nhân lực và

nghiên cứu khoa học, chuyển giao công

nghệ, nâng cao trình độ đội ngũ nhà giáo

và CBQLGD

2.4 Lấy chất lượng làm trọng tâm, ưu tiên

nâng cao chất lượng trong mối quan hệ với

tăng quy mô GD; tập trung vào quản lí

chất lượng; phân tầng chất lượng GD đáp

ứng nhu cầu đa dạng và năng lực của hệ

thống, năng lực của người học

a) Ưu tiên nâng cao chất lượng GD,

chuyển từ mô hình phát triển theo chiều rộng

sang mô hình phát triển theo chiều sâu, coi

trọng GD đạo đức, lối sống, năng lực sáng

tạo, năng lực thực hành và ngoại ngữ

- Chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều

kiện đảm bảo chất lượng Phát triển hệ

thống chuẩn chất lượng và quản lí chất

lượng theo chuẩn (chuẩn cơ sở GD, chuẩn

nghề nghiệp của giáo viên (GV) và CBQLGD; chuẩn kiểm định chất lượng các trường và chương trình GD); thực hiện định kì đánh giá quốc gia về chất lượng học tập của học sinh (HS) phổ thông; lựa chọn mô hình phù hợp quản lí chất lượng

cơ sở GD và chương trình đào tạo;

- Nâng cao chất lượng phổ cập GD

mầm non 5 tuổi, phổ cập tiểu học, THCS (phổ cập bền vững) và chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt là một bộ phận nhân lực chất lượng cao;

- Giảm tốc độ tăng chỉ tiêu tuyển sinh

cao đẳng và đại học, đảm bảo đến 2020 đạt khoảng 350 – 400 SV/vạn dân; nâng tỉ lệ

GV đại học có trình độ tiến sĩ lên 25% và đảm bảo tỉ lệ SVĐH/GV là 20

b) Phân tầng chất lượng GD đáp ứng nhu cầu đa dạng và phù hợp với năng lực của hệ thống, năng lực của người học

Phân tầng chất lượng GD để thực hiện định hướng phân hóa trong GD, phù hợp với sự phân hóa về năng lực của người học

ở từng lứa tuổi và từng cấp học, trình độ đào tạo

Phân tầng chất lượng GD, trong đó có

bộ phận dành cho đại trà HS, SV và bộ phận chất lượng cao (hệ thống trường chuyên, trường năng khiếu, các lớp cử nhân tài năng, các trường dạy nghề và đại học xuất sắc, đại học trọng điểm) Xây dựng và phát triển các

cơ sở GD trọng điểm, chất lượng cao để đào tạo, bồi dưỡng các tài năng cho đất nước, đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các ngành

KT - XH, thực hiện một trong ba khâu đột phá của Chiến lược phát triển KT - XH 2011-2020 Các cơ sở GD chất lượng cao sẽ

là mô hình làm đầu tàu lôi kéo các cơ sở GD khác phát triển

Ưu tiên đầu tư phát triển các cơ sở GD chất lượng cao, trước hết là các trường THPT chuyên, các trường đại học và đại học

sư phạm, sư phạm kĩ thuật trọng điểm Phát triển các chương trình GD đại học và nghề nghiệp đạt trình độ quốc tế nhằm cung cấp

Trang 32

nhân lực chất lượng cao cho đất nước

c) Thực hiện định kì đánh giá quốc gia

về chất lượng học tập của HS phổ thông và

thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở GD

của các cấp học, trình độ đào tạo và kiểm

định các chương trình GD nghề nghiệp, đại

học

2.5 Đảm bảo định hướng XHCN của GD

trong nền kinh tế thị trường

- Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư,

chăm lo cho GD phổ cập và phổ cập GD

bền vững, GD cho những đối tượng chính

sách xã hội, người dân tộc, vùng dân tộc,

vùng sâu vùng xa, tạo cơ hội cho mọi

người học thương xuyên, học suốt đời; đào

tạo nhân lực cho các lĩnh vực liên quan tới

an ninh quốc gia (quân sự, công an), các

lĩnh vực đặc biệt cần được ưu tiên (ngành

sư phạm, các ngành khoa học cơ bản, đào

tạo mũi nhọn, các ngành có nhu cầu cần

đào tạo nhưng khó tuyển sinh, v.v )

- Trong đào tạo nhân lực: Nhà nước

điều tiết bằng các những cơ chế, chính

sách Các doanh nghiệp, người sử dụng lao

động phải có trách nhiệm đầu tư phát triển

đào tạo nhân lực, cung cấp thông tin về nhu

cầu đào tạo, hỗ trợ cơ sở vật chất phương

tiện kĩ thuật phục vụ đào tạo, cơ sở thực

tập cho SV, chuyên gia tham gia quá trình

phát triển chương trình và tham gia đào

tạo, đánh giá kết quả đào tạo, tuyển dụng

SV sau khi tốt nghiệp

- Không thị trường hóa đào tạo nhân

lực nhưng phát triển đào tạo nhân lực phải

tuân thủ các quy luật của thị trường, đặc

biệt là quy luật cung cầu (cung - cầu nhân

lực), quy luật cạnh tranh (trong tuyển sinh,

cạnh tranh nội bộ các trường trong nước và

cạnh tranh quốc tế) Nhà nước cần có cơ

chế, chính sách để điều tiết phát triển đào

tạo nhân lực, đảm bảo sự cạnh tranh lành

mạnh giữa các cơ sở GD, đặc biệt giữa các

cơ sở GD Việt Nam với các cơ sở GD

nước ngoài Hợp tác và cạnh tranh vừa là

cơ hội, vừa tạo động lực để phát triển GD,

nâng cao chất lượng GD

2.6 Tăng đầu tư và đổi mới cơ chính tài chính cho GD

- Đổi mới cơ chế tài chính để đảm bảo huy động, phân bổ và sử dụng sao cho có hiệu quả; đầu tư tập trung, tránh tư tưởng dàn đều và đầu tư dàn trải, đầu tư đến đâu chuẩn hóa đến đó Nâng cao tính tự chủ

của các cơ sở GD, đảm bảo tính minh bạch

và trách nhiệm đối với Nhà nước, người học và xã hội; đảm bảo nguồn lực tài chính cho một số cơ sở GD Việt Nam đủ sức hội nhập và cạnh tranh quốc tế Đổi mới chính sách tài chính đảm bảo công bằng trong cạnh tranh giữa các cơ sở GD Việt Nam với các cơ sở GD nước ngoài, nâng cao chất lượng ở những cơ sở GD có điều kiện (các cơ sở GD chất lượng cao) để thu hút con em những gia đình Việt Nam và con

em người nước ngoài vào học

- Đảm bảo tỷ lệ chi cho giáo dục trong

tổng ngân sách nhà nước từ 20% trở lên, phù hợp với điều kiện KT - XH và quản lý

sử dụng có hiệu quả Ngân sách nhà nước đầu tư cho GD được tập trung ưu tiên cho

GD phổ cập; GD ở những vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội; GD năng khiếu và tài năng; đào tạo nhân lực chất lượng cao; đào tạo các ngành khoa học cơ bản, khoa học

xã hội nhân văn, khoa học mũi nhọn và những ngành khác mà xã hội cần nhưng khó thu hút người học

- Đầu tư ngân sách nhà nước có trọng điểm Từng bước chuẩn hóa, hiện đại

hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính và phương tiện dạy học tối thiểu của tất cả các cơ sở GD; ưu tiên đầu tư xây dựng một số trường đại học xuất sắc, chất lượng trình độ quốc tế, các trường trọng điểm, trường chuyên, trường đào tạo học sinh năng khiếu, trường dân tộc nội trú, bán trú Phấn đấu đến năm 2020 có một số khoa, chuyên ngành đạt chất lượng cao Quy hoạch, đảm bảo quỹ đất để xây dựng trường học, ưu tiên xây dựng các khu đại học tập trung và ký túc xá cho sinh viên

Trang 33

- Có cơ chế, chính sách quy định trách

nhiệm của doanh nghiệp trong đầu tư phát

triển đào tạo nhân lực, đặc biệt đào tạo

nhân lực chất lượng cao và nhân lực thuộc

ngành nghề mũi nhọn Quy định trách

nhiệm của các bộ, ngành, các tổ chức chính

trị - xã hội, cộng đồng và gia đình trong

việc đóng góp nguồn lực và tham gia các

hoạt động GD, tạo cơ hội học tập suốt đời

cho mọi người, góp phần từng bước xây

dựng xã hội học tập Xây dựng và thực

hiện chế độ học phí mới nhằm đảm bảo sự

chia sẻ hợp lý giữa nhà nước, người học và

các thành phần xã hội

- Triển khai các chính sách cụ thể để

hỗ trợ cho các cơ sở GD đại học, dạy nghề

và phổ thông ngoài công lập, trước hết về

đất đai, thuế và vốn vay Xác định rõ ràng,

cụ thể các tiêu chí thành lập cơ sở GD, bảo

đảm chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho

người dân và các tổ chức KT - XH tham

gia thành lập trường theo quy hoạch phát

triển của Nhà nước

2.7 Đổi mới căn bản quản lí nhà nước về

GD và quản lí cơ sở GD

- Tập trung xây dựng hệ thống văn bản

quy phạm pháp luật và chính sách đồng bộ

tạo hành lang pháp lí triển khai thực hiện

đổi mới căn bản và toàn diện GD;

- Thống nhất đầu mối quản lí nhà

nước và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lí

nhà nước về GD từ trung ương xuống địa

phương;

- Đảm bảo dân chủ hóa trong GD

Thực hiện cơ chế người học đánh giá

người dạy, GV và giảng viên đánh giá

CBQL, CBQL cấp dưới đánh giá CBQL

cấp trên, cơ sở GD đánh giá cơ quan quản

lý nhà nước về GD

- Thực hiện đồng bộ việc phân cấp

quản lí GD Hoàn thiện và triển khai cơ

chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa

phương trong QLGD theo hướng phân định

rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền gắn

với trách nhiệm; tăng quyền tự chủ và

trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD đi

đôi với hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch về chất lượng GD, các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính của các cơ

sở GD; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; đảm bảo sự giám sát của cơ quan nhà nước, của các tổ chức chính trị - xã hội

và nhân dân; thúc đẩy hợp tác và cạnh tranh lành mạnh tạo động lực phát triển GD;

- Hoàn thiện cơ cấu hệ thống GD quốc

dân, xây dựng khung trình độ quốc gia về

GD tương thích với các nước trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo phân luồng trong hệ thống, đặc biệt là phân luồng sau

THCS, THPT và liên thông giữa các chương trình GD, cấp học và trình độ đào tạo; đa dạng hóa phương thức học tập đáp ứng nhu cầu nhân lực, tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân

- Phân tầng chất lượng GD phổ thông,

GD nghề nghiệp và đại học theo các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, các cơ sở GD chưa đạt chuẩn phải có lộ trình để tiến tới đạt chuẩn; chú trọng xây dựng các cơ sở

GD tiên tiến, trọng điểm, chất lượng cao để đào tạo bồi dưỡng các tài năng, nhân lực chất lượng cao cho các ngành KT - XH

- Thực hiện quản lí theo chiến lược,

quy hoạch, kế hoạch phát triển GD và quy hoạch phát triển nhân lực của từng ngành, địa phương trong từng giai đoạn phù hợp tình hình phát triển KT - XH, quốc phòng -

cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính của các cơ sở GD; thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả GD; xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng GD, thực hiện kiểm định chất lượng

cơ sở GD của các cấp học, trình độ đào tạo

Trang 34

và kiểm định các chương trình GD nghề

nghiệp, đại học

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông

tin, truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả

QLGD ở các cấp

- Đổi mới căn bản về chính sách phát

triển đội ngũ nhà giáo và CBQL GD:

Đảng và Nhà nước cần có chính sách

đặc biệt đối với đội ngũ nhà giáo và

CBQLGD vì: GD vừa là mục tiêu vừa là

động lực phát triển KT - XH, là nhân tố

quyết định sự phát triển xã hội, thực hiện

sứ mệnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân

tài, đào tạo nhân lực, đặc biệt là nhân lực

chất lượng cao cho đất nước, trong đó đội

ngũ nhà giáo và CBQLGD có vai trò quyết

định

Thực hiện các chính sách ưu đãi về vật

chất và tinh thần tạo động lực cho các nhà

giáo và CBQLGD, nhất là nhà giáo công

tác tại vùng dân tộc, vùng đặc khó khăn

Chuẩn hóa trong tuyển chọn, sử dụng và

đánh giá nhà giáo và CBQLGD bằng cách

thay đổi chính sách tuyển dụng, đánh giá,

chế độ đãi ngộ, khuyến khích sự cạnh tranh

lành mạnh; có chính sách đặc biệt nhằm

thu hút các nhà giáo, nhà khoa học, chuyên

gia có kinh nghiệm và uy tín trong và ngoài

nước tham gia giảng dạy và nghiên cứu

khoa học ở các trường đại học để nâng tỉ lệ

giảng viên trong các trường đại học có

trình độ tiến sĩ lên 25% vào năm 2020 Có

chính sách học bổng đặc biệt để thu hút

học sinh giỏi theo học ngành sư phạm

2.8 Đổi mới chương trình, phương

pháp và hình thức tổ chức dạy học

- Trên cơ sở đánh giá chương trình GD

phổ thông hiện hành và tham khảo chương

trình tiên tiến của các nước, thực hiện đổi

mới chương trình và sách giáo khoa từ sau

năm 2015 theo định hướng phát triển năng

lực học sinh, vừa đảm bảo tính thống nhất

trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù

mỗi địa phương Chú trọng nội dung GD

đạo đức, pháp luật, thể chất, quốc phòng -

an ninh và các giá trị văn hóa truyền thống;

GD kỹ năng sống, GD lao động và hướng nghiệp HS phổ thông

- Đổi mới chương trình, tài liệu dạy

học trong các cơ sở GD nghề nghiệp và đại học dựa trên nhu cầu của đơn vị sử dụng lao động, vận dụng có chọn lọc một số chương trình tiên tiến trên thế giới, phát huy vai trò của các trường trọng điểm trong từng khối ngành, nghề đào tạo để thiết kế các chương trình liên thông Phát triển các chương trình đào tạo đại học theo hai hướng: nghiên cứu và nghề nghiệp ứng dụng

- Phát triển các chương trình GD

thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm mở rộng các hình thức học tập đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người, giúp người học hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp

vụ phù hợp với yêu cầu công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống

- Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy

học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học, đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% GV GD nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học Biên soạn và sử dụng giáo trình, sách giáo khoa điện tử Đến năm

2020, 90% trường tiểu học và 50% trường THCS tổ chức dạy học 2 buổi/ngày Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp THPT, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình GD với kết quả thi

- Thực hiện định kỳ đánh giá quốc gia

về chất lượng học tập của học sinh phổ thông nhằm xác định mặt bằng chất lượng và làm căn cứ đề xuất chính sách nâng cao chất lượng GD của các địa phương và cả nước

Trang 35

2.9 Tăng cường gắn đào tạo với sử dụng,

nghiên cứu khoa học và chuyển giao công

nghệ đáp ứng nhu cầu xã hội

- Khuyến khích doanh nghiệp, các nhà

đầu tư trong và ngoài nước mở các cơ sở

GD nghề nghiệp, đại học để tăng cường

khả năng tự cung ứng nhân lực và góp

phần cung ứng nhân lực cho thị trường lao

động

- Quy định trách nhiệm và cơ chế phối

hợp giữa Bộ GD&ĐT với các bộ, ngành,

địa phương; giữa các cơ sở đào tạo và

doanh nghiệp trong việc xác định nhu cầu

đào tạo, xây dựng và đánh giá chương

trình, tuyển sinh, tổ chức đào tạo và thực

tập tại doanh nghiệp, tuyển dụng HS, SV

tốt nghiệp

- Gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên

cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và

sản xuất; thành lập các doanh nghiệp khoa

học công nghệ trong các cơ sở đào tạo

Nâng cao năng lực của các cơ sở nghiên

cứu khoa học, trong đó ưu tiên đầu tư cho

các cơ sở nghiên cứu khoa học mũi nhọn,

phòng thí nghiệm trọng điểm trong các

trường đại học

2.10 Tăng cường hỗ trợ phát triển GD đối

với các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số và

đối tượng chính sách xã hội

- Xây dựng và thực hiện các chính

sách nhằm đảm bảo bình đẳng về cơ hội

học tập, hỗ trợ và ưu tiên phát triển

GD&ĐT nhân lực cho vùng đồng bào dân

tộc thiểu số, vùng khó khăn, các đối tượng

chính sách xã hội, người nghèo

- Có chính sách ưu đãi đối với nhà

giáo, CBQLGD ở vùng dân tộc thiểu số,

vùng khó khăn

- Phát triển GD từ xa, GD nghề

nghiệp, mở rộng hệ thống dự bị đại học

Phát triển hệ thống cơ sở GD đặc biệt dành

cho người khuyết tật, trẻ em bị ảnh hưởng

bởi HIV và trẻ em lang thang đường phố,

các đối tượng khó khăn khác

- Tăng đầu tư cho giáo dục đặc biệt; có

chính sách đãi ngộ đối với GV GD đặc biệt

- Tập trung phát triển các trường đại

học đơn ngành sư phạm trọng điểm đào tạo

GV mầm non và phổ thông, các trường đại học sư phạm kĩ thuật trọng điểm để nâng cao chất lượng đào tạo GV;

- Tiến tới bỏ hệ đào tạo GV mầm non

trình độ trung cấp và GV phổ thông trình

độ cao đẳng; Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng một bộ phận GV mầm non, GV phổ thông có trình độ đào tạo trên chuẩn;

tổ chức đào tạo liên thông nâng cấp lên trình độ đại học cho đội ngũ GV trình độ trung cấp và cao đẳng hiện có;

- Phát triển cả 2 mô hình đào tạo song

hành (như hiện nay) và liên thông để đào tạo

GV mầm non và phổ thông ở các trường đại học sư phạm trọng điểm và GV kĩ thuật ở các trường đại học sư phạm kĩ thuật;

- Chuẩn hóa trong đào tạo GV Các

trường đại học và khoa sư phạm, sư phạm kĩ thuật phải đi trước, đón đầu để đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo

và CBQLGD đủ sức thực hiện đổi mới chương trình GD phổ thông sau năm 2015;

- Đảm bảo từng bước có đủ GV thực

hiện GD toàn diện theo chương trình GD mầm non và phổ thông mới, dạy học 2 buổi/ngày, GV dạy ngoại ngữ, GV tư vấn học đường và hướng nghiệp, GV giáo dục đặc biệt

2.12 Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục

a) Tăng chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước cho các trường đại học trọng điểm và viện nghiên cứu quốc gia, ưu tiên các ngành khoa học, công

Trang 36

nghệ mũi nhọn Khuyến khích và hỗ trợ

công dân Việt Nam đi học tập và nghiên

cứu ở nước ngoài bằng kinh phí tự túc

b) Khuyến khích các cơ sở giáo dục

trong nước hợp tác với các cơ sở giáo dục

nước ngoài để nâng cao năng lực quản lý,

đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao

công nghệ, đào tạo bồi dưỡng giáo viên,

giảng viên và cán bộ khoa học và quản lý

giáo dục; tăng số lượng học bổng cho học

sinh, sinh viên đi học nước ngoài

c) Khuyến khích các tổ chức, cá nhân

nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt

Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ

cho giáo dục, tham gia giảng dạy và nghiên

cứu khoa học, ứng dụng khoa học và

chuyển giao công nghệ góp phần đổi mới

giáo dục ở Việt Nam Xây dựng một số

trường đại học, trung tâm nghiên cứu hiện

đại để thu hút các nhà khoa học trong

nước, quốc tế đến giảng dạy và nghiên cứu

khoa học

3 Nghiên cứu khoa học giáo dục với việc

đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục

a) Ưu tiên nghiên cứu cơ bản về

KHGD; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và

xu thế phát triển GD trong và ngoài nước,

nghiên cứu đón đầu nhằm cung cấp những

luận cứ khoa học cho việc hoạch định

đường lối, chủ trương, chiến lược và chính

sách phát triển GD của Đảng và Nhà nước, phục vụ đổi mới quản lý nhà nước về GD

và quản lý cơ sở GD, đổi mới quá trình GD trong các nhà trường, góp phần thiết thực

và hiệu quả vào sự nghiệp phát triển GD nói chung và xây dựng nền KHGD Việt Nam nói riêng

b) Phát triển mạng lưới cơ sở nghiên cứu KHGD, tập trung đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu của cơ quan nghiên cứu KHGD quốc gia và các viện nghiên cứu trong các trường sư phạm trọng điểm Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia GD thông qua đào tạo trong và ngoài nước, trao đổi hợp tác quốc tế

c) Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về KHGD; thực hiện tốt chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng phục vụ đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam

Phát triển KHGD là một trong những giải pháp chiến lược trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020; nghiên cứu KHGD cần được Nhà nước ưu tiên đầu tư Tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu của

cơ quan nghiên cứu KHGD Quốc gia, đặc biệt là xây dựng đội ngũ chuyên gia nghiên cứu GD giỏi, là góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện nền GD nước ta trong giai đoạn tới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, Hà Nội

3 Phan Văn Kha (2006), Phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, Tạp chí KHGD, số 14

4 Phan Văn Kha (2007), Hợp tác, cạnh tranh - Cơ hội và động lực phát triển giáo dục,

Tạp chí KHGD, số 22

5 Phan Văn Kha (2008), Phát triển đội ngũ giảng viên và bài toán tương quan giữa quy

mô với chất lượng giáo dục đại học, Tạp chí KHGD, số 31

* Ngày nhận bài: 06/11/2013 Biên tập xong: 09/11/2013 Duyệt đăng: 12/11/2013

Trang 37

CÁC MÂU THUẪN TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC MÂU THUẪN ĐÓ

NHẰM ĐỔI MỚI CÁCH LÀM GIÁO DỤC

Từ khóa: mâu thuẫn, chất lượng và quy mô giáo dục

ABSTRACT

We analyse and show some principal conflicts They are presented in order of consideration from the most general level (rules of philosophy, mechanisms, common fields) to that under the particular perspective of education such as its quality and scale, curriculum,textbooks Enclosed with short analysis are notes providing useful information for readers

Keywords: conflicts, quality and scale of education

1 Mâu thuẫn 1: Mâu thuẫn giữa việc

coi trọng, tầm nhìn về vai trò quan

trọng của giáo dục với những hành

động cụ thể chưa đủ hiệu quả trong

phát triển giáo dục

Ở các nước như Mỹ, Hàn Quốc,

Singaporere,… các tuyên ngôn, tầm nhìn,

các chiến lược phát triển giáo dục thường

đều do người đứng đầu quốc gia khởi

xướng và chỉ đạo Việc thực hiện các kế

hoạch, chiến lược giáo dục được triển khai

thực sự, thông qua bộ máy chính quyền,

thông qua các cơ chế cụ thể và được đánh

giá giám sát thường xuyên

Các nước có thành tựu phát triển kì

diệu như Ireland, Singapore, Hàn Quốc

đều coi việc phát triển giáo dục là ưu tiên

hàng đầu để nhanh chóng phát triển đất

nước Thủ tướng của Singapore vào thập

kỉ 90, Lý Quang Diệu, đã tuyên bố: cạnh

tranh quốc tế thực chất là cạnh tranh giáo dục Ở Mĩ, mỗi đời Tổng thống đều có tuyên ngôn và có theo dõi, ra các điều luật, các chương trình cải cách giáo dục (Luật không để trẻ em nào tụt hậu của Tổng thống

Mĩ G.W Bush năm 2001 (phụ lục 3), chương trình vượt lên tốp đầu (race to the top) của Tổng thống Mĩ B Obama,…) Việt Nam là nước đang phát triển, mới qua ngưỡng nước nghèo, đã có tuyên ngôn

về tầm quan trọng của Giáo dục, nhưng chưa thực sự thể hiện trong hành động cụ thể Chiến lược GD được Chính phủ ban hành, nhưng việc tổ chức triển khai, giám sát, đánh giá và điều chỉnh, tổng kết nó không được sự quan tâm của các lãnh tụ, lãnh đạo, các chính khách, các Bộ, Ngành, các địa phương (1)

Giải pháp: Các lãnh tụ của Đảng và

Nhà nước cần có các tuyên ngôn và hành

*

Trang 38

động quyết liệt và thường xuyên trong

điều hành chỉ đạo phát triển giáo dục

tới sự quan tâm của toàn xã hội, để tất cả

các ban ngành đều có những đóng góp hiệu

quả cho sự nghiệp giáo dục, có như vậy

giáo dục mới thực sự là quốc sách hàng

đầu

Tăng cường các hoạt động đánh giá

giám sát thường xuyên, điều chỉnh các hoạt

động giáo dục từ cấp trung ương tới các

cấp địa phương Những tồn tại yếu kém

của giáo dục phải được xem xét như một

tồn tại, yếu kém mà toàn xã hội cần giải

quyết

Chúng ta đã có những tuyên ngôn về

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tuy

nhiên chỉ là tuyên ngôn chung chung, chưa

cụ thể ở giai đoạn nào cần tới loại nhân lực

gì Chẳng nhạn cần có tầm nhìn ngắn hạn

trong bối cảnh hội nhập trong khu vực Để

chuẩn bị nhân lực có sức cạnh tranh trong

khu vực trong tầm nhìn tới 2015, khi mà

ASIAN trở thành thị trường và cơ sở sản

xuất thống nhất bao gồm hài hòa hóa các

tiêu chuản sản phẩm và qui chế, giải quyết

nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và

thương mại, và hoàn chỉnh các quy tắc về

xuất xứ Mô hình liên kết kinh tế khu vực

dựa trên những cơ chế liên kết kinh tế hiện

có của ASEAN có bổ sung thêm hai nội

dung mới là tự do di chuyển lao động và

di chuyển vốn tự do hơn(2) Cần tính toán

những gì giáo dục cần làm để tạo nguồn

nhân lực đủ sức cạnh tranh thành công

trong bối cảnh: ASIAN trở thành “thị

trường và cơ sở sản xuất thống nhất” và chủ động chuẩn bị nhân lực để đáp ứng “tự

do di chuyển lao động và di chuyển vốn” Các hoạt động của các tổ chức như Hội đồng quốc gia giáo dục, các ủy ban về giáo dục cần có chất lượng và hiệu quả

hơn

2 Mâu thuẫn 2: Mâu thuẫn giữa nguy

cơ tụt hậu về đầu tư cho giáo dục so với các nước khác ngày càng tăng với mong muốn ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong

cạnh tranh quốc tế

Ý thức được rằng cạnh tranh quốc tế thực chất là cạnh tranh về giáo dục và đào tạo, hiện nay tất cả các nước, kể cả các nước có nền kinh tế phát triển cao luôn đã

và đang đầu tư cho phát triển giáo dục, nguồn kinh phí dành cho phát triển giáo dục cao cả về tỷ lệ tương đối và con số

tuyệt đối(3)

Nguy cơ không đủ sức để phát triển giáo dục nhanh chóng làm giảm khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực trong tương lai của Việt Nam sẽ kéo theo nguy cơ tiếp tục tụt hậu hơn nữa về trình độ phát kinh tế

- xã hội Như các sản phẩm kinh tế khác, quá trình giáo dục đòi hỏi sự tiêu dùng các nguồn lực khác nhau Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt về giáo dục hiện nay, nếu chỉ dựa vào kinh phí của Nhà nước để phát triển giáo dục, chắc chắn nền giáo dục của chúng ta không thể cạnh tranh được với các nước phát triển trên thế giới

Giải pháp: - Đa dạng hóa, huy động tối

đa các nguồn lực giáo dục; đa dạng hóa các loại hình giáo dục; đa dạng hóa các

cơ sở giáo dục

- Tận dụng tối đa khả năng phát triển

giáo dục từ các nguồn lực khác nhau; Tạo chính sách, cơ chế, phương thức phát triển giáo dục nhằm tăng dần tỷ trọng đầu tư từ các nguồn gia đình, cá nhân, doanh nghiệp

Trang 39

Hiện nay, các doanh nghiệp lớn, các

tập đoàn kinh tế đều có nhu cầu đào tạo

nhân lực phục vụ sự phát triển của mình,

phù hợp nhu cầu về công nghệ, nhu cầu về

chất xám, nhu cầu về lao động các trình độ,

các loại hình riêng phù hợp với nhu câu

của tập đoàn, của công ty Kèm theo đó là

tăng cường số lượng ngày càng nhiều các

cơ sở giáo dục, đào tạo công lập, tư nhân;

Khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề ở các

doanh nghiệp, tập đoàn, có cơ chế và chính

sách để huy động tối đa đóng góp của các

doanh nghiệp, công ty, nhà máy, cơ sở sản

xuất đầu tư cho giáo dục, trước hết là đầu

tư cho các cơ sở giáo dục, dạy nghề phục

vụ đào tạo nhân lực cho cơ sở mình

Với truyền thống hiếu học của dân tộc

Việt Nam, có thể và cần thiết có chính sách

huy động các gia đình đầu tư cho việc giáo

dục, đào tạo con em của mình Ở nhiều nước Châu Á, nơi có truyền thống đầu tư cho con cái học tập, nhiều gia đình đã dành tỷ lệ kinh phí đáng kể chi cho việc học tập của con em họ(4)

Cũng cần có chính sách đi đôi với tận dụng đầu tư từ gia đình là đảm bảo công bằng xã hội về giáo dục, đảm bảo cung ứng giáo dục cho các đối tượng khó khăn, cho các vùng dân tộc thiểu số

- Đa dạng hóa các loại hình giáo dục;

vấn đề đặt ra ngay từ việc xem xét hệ thống giáo dục quốc dân, cùng với cốt lõi là giáo dục chính quy, các loại hình giáo dục, đào tạo khác từ đó có hệ thống nhiều cơ sở đào tạo khác nhau để chúng vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực(5)

Phi chính quy

Đầu tư từ nhà nước, chính quyền địa phương

Đầu tư

từ các doanh nghiệp,

tổ chức

xã hội

Đầu tư

từ các gia đình,

cá nhân

Đầu tư từ

các tổ chức

quốc tế

Trang 40

Do nguồn tài chính hạn hẹp, nhà nước

là nhân vật chính phải cáng đáng đầy đủ tài

chính cho tất các cấp học, các trình độ đào

tạo Điều này làm cho kinh phí đầu tư,

nguồn lực đầu tư bị căng mỏng để phủ toàn

hệ thống trong mọi cuộc đổi mới Rốt cuộc,

mức độ đầu tư là không đủ để tạo ra một

chuyển biến mới cho tất cả các thành phần

của hệ thống Hiện nay dù đã hình thành xu

thế thị trường hóa giáo dục nhưng ở mọi

nơi trên thế giới, chính phủ vẫn đóng vai

trò lớn mang tính quyết định trong sự

nghiệp giáo dục, cung cấp phần lớn ngân

sách cho giáo dục, bảo đảm giáo dục về cơ

bản vẫn là một lợi ích công Ngay ở các

nước OECD, nơi có nhiều nước như Mỹ,

Úc, NewZealand, Nhật Bản, Thụy Sĩ ra

tuyên bố chính thức cổ vũ cho việc tự do

hóa thương mại dịch vụ giáo dục, thì trong

suốt thập kỷ 1995-2004, chi ngân sách nhà

nước cho giáo dục không ngừng tăng cả về

con số tuyệt đối lẫn tính theo đầu người

học Ở Việt Nam, giáo dục luôn phải

đương đầu với mâu thuẫn lớn giữa một bên

là yêu cầu cao về mở rộng quy mô, nâng

cao chất lượng với một bên là sự hạn hẹp

của nguồn lực tài chính Mặc dù chi ngân

sách cho giáo dục tăng và hiện đã chiếm

20% tổng chi ngân sách, nhưng mâu thuẫn

đó vẫn gay gắt và sẽ tiếp tục gay gắt do

quy mô giáo dục không ngừng mở rộng

trên toàn hệ thống, yêu cầu về chất lượng

cũng đa dạng và nghiêm ngặt hơn

Ngày nay việc cung ứng giáo

dục ở hầu như mọi nơi trên thế giới đều

tuân theo nguyên tắc chia sẻ chi phí giữa

nhà nước và người học Nhà nước sẽ không

độc quyền trong cung ứng giáo dục, yêu

cầu người học phải trả một phần chi

phí cho việc học bởi lẽ giáo dục không chỉ

đem lại lợi ích cho xã hội mà còn đem lại

lợi ích cho cá nhân, đặc biệt ở giáo dục

nghề nghiệp, giáo dục đại học và giáo dục

người lớn Mức độ chia sẻ chi phí tùy theo

chính sách và điều kiện cụ thể của quốc

gia Việc thay đổi mô hình chi phí giáo dục

là một vấn đề cần thực hiện, đòi hòi có nghiên cứu kĩ

3 Mâu thuẫn 3: Mâu thuẫn giữa cách thiết kế triển khai mô hình giáo dục mới với quy luật hình thành các yếu tố mới trong phát triển kinh tế - xã hội

Triết học duy vật biện chứng Mác – Lênin chỉ ra rằng, những mầm mống, yếu

tố của một giai đoạn phát triển mới của mỗi sự vật, hiện tượng bao giờ cũng đã tồn tại trong giai đoạn trước của sự vật, hiện tượng đó

Muốn giáo dục phát triển đúng quy luật, cần để các yếu tố mới của hệ thống giáo dục mới được nảy nở, thử thách và hoàn thiện, phát triển từ ngay trong lòng

hệ thống hiện hành Hiện nay, việc duy trì

cơ chế quản lí bao cấp, mang tính mệnh lệnh sẽ kìm hãm sự xuất hiện của các yếu

tố mới trong giáo dục, không tạo điều kiện

để những sang kiến mới, mô hình giáo dục mới kịp nảy sinh và phát huy tác dụng Chúng ta thường tập trung chỉ đạo phát triển Giáo dục theo một mô hình nào đó (thường là do chỉ một nhóm chuyên gia đề xuất, bỏ qua các mô hình khác), việc thử nghiệm thí điểm mô hình dự kiến chỉ có thể chứng tỏ rằng mô hình đề xuất có thể tồn tại được, chưa chỉ ra rằng tất cả các mô hình khác là kém hơn Thêm vào đó, việc triển khai mô hình mới được thực hiện đồng loạt cùng một lúc Như vậy, nhiều địa phương, cơ sở giáo dục chưa kịp chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho mô hình mới sẽ không thể triển khai mô hình mới một cách

có chất lượng

Giải pháp: Cho phép thử nghiệm

các mô hình giáo dục đa dạng, áp dụng các phương thức đào tạo tiên tiến (tiến hành bởi các nhóm nghiên cứu, các nhà đầu tư khác nhau), đồng thời tuân thủ các quy định nhằm giáo dục truyền thống văn hóa, đạo đức, đảm bảo hệ thống tư tưởng chỉnh trị do nhà nước quy định trong giáo dục thế hệ trẻ

Ngày đăng: 20/01/2015, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Atay, D. (2006). “Teachers’ professional development: Partnership in research”. Teaching English as a Second or Foreign Language. 10 (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teachers’ professional development: Partnership in research”. "Teaching English as a Second or Foreign Language
Tác giả: Atay, D
Năm: 2006
3. Cochran-Smith & Lytle.S.L (1993). Inside/Outside: Teacher Research and Knowledge. New York: Teachers College Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inside/Outside: Teacher Research and Knowledge
Tác giả: Cochran-Smith & Lytle.S.L
Năm: 1993
4. Craft, A. (1996). Continuing professional development. London: Open University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Continuing professional development
Tác giả: Craft, A
Năm: 1996
5. Dam, L. (2008). “In-service teacher Education for Learner Autonomy”. Independence 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In-service teacher Education for Learner Autonomy”
Tác giả: Dam, L
Năm: 2008
6. Joyce, B & Showers, B. (1996). “The Evolution of Peer Coaching”. Educational Leadership, vol 53, n6, p12 (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Evolution of Peer Coaching”. "Educational Leadership
Tác giả: Joyce, B & Showers, B
Năm: 1996
7. Hayes, D. (1997). INSET, innovation and change. In-service teacher development: International perspective. London: Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). INSET, innovation and change. In-service teacher development: "International perspective
Tác giả: Hayes, D
Năm: 1997
8. Ganser, T. (2000). “An ambititious vision of professional development for teacher”. In: NASSP Bulletin, 84 (168), 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ambititious vision of professional development for teacher”. In: "NASSP Bulletin
Tác giả: Ganser, T
Năm: 2000
9. Glatthorn, A. (1995). Teacher development. In Anderson, L. (Ed)’s International encyclopedia of teaching and teacher educator (2 nd edition). London: Pergamon Sách, tạp chí
Tiêu đề: International encyclopedia of teaching and teacher educator
Tác giả: Glatthorn, A
Năm: 1995
12. Widdowson, H.G. (1987). “Against dogma: a reply to Michael Swan”. ELT Journal 39 (3): 158-161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Against dogma: a reply to Michael Swan”. "ELT Journal
Tác giả: Widdowson, H.G
Năm: 1987
10. Sparks & Loucks-Horsley (1989). Five models of professional development. Retrieved from http://www.ncrel.org/sdrs/areas/issues/educatrs/profdevl/pd2fimo.htm Professional Development Approaches, retrieved from http://www.calpro-online.org/ pubs/Approach2.PDF Link
1. Allard de Hoop (2006, 2007). Workshops on coaching at Cantho University, Vietnam Khác
11. Villegas-Reimers, E (2003). Teacher Professional Development: an International Review of the Literature. UNESCO: International Institute for Educational Planning.Retrieved from www.unesco.org/iiep Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình giáo dục cũ  kỹ này thì mọi thay đổi  bên trong cái giới hạn đó giỏi lắm cũng chỉ  là sự chắp vá đối phó mà thôi - Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường
Hình gi áo dục cũ kỹ này thì mọi thay đổi bên trong cái giới hạn đó giỏi lắm cũng chỉ là sự chắp vá đối phó mà thôi (Trang 21)
Hình thức   :  9.215.116 - Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường
Hình th ức : 9.215.116 (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w