° ĐINH VĂN SƠN ° HỒ THỊ THANH THUỶ ° LƯU THỊ LOAN ° NGUYỄN NGỌC PHÚ ° NGUYỄN THỊ THUỲ LINH LÊ NGỌC TUẤN ° HỒ VĂN HẢI NGUYỄN KIÊN QUYẾT ° LÊ KIÊN GIANG ° HOA ÁNH TƯỜNG Mối quan
Trang 1Tạp chí
Đại học Sài Gòn
Số 4 Nguyễn Trãi, Phường 3, Quận 5, TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 08.38321332 - 08.38321360 - Fax: 08.39381910 Email: tcdhsg@sgu.edu.vn - Website: www.sgu.edu.vn
Số 14 4/2013ISSN 1859 - 3208
Tổng Biên tập
PGS.TS Đinh Xuân Khoa
GS TSKH Thái Duy Tuyên
TS Nguyễn Thị Diệu Thảo
TS Phạm Nguyễn Kim Tuyến
ThS Lê Văn Việt
ThS Hồng Hữu Lượng
ThS Phan Anh Tài
ThS Cao Thái Phương Thanh
Thơng tin và Truyền thơng.
° ĐINH VĂN SƠN
° HỒ THỊ THANH THUỶ
° LƯU THỊ LOAN
° NGUYỄN NGỌC PHÚ
° NGUYỄN THỊ THUỲ LINH
LÊ NGỌC TUẤN
° HỒ VĂN HẢI NGUYỄN KIÊN QUYẾT
° LÊ KIÊN GIANG
° HOA ÁNH TƯỜNG
Mối quan hệ giữa hai thể loại song thất lục bát và ngâm khúc trong văn học Việt Nam trung đại
Một số hình thức hoạt động ngồi giờ lên lớp nhằm nâng cao hiệu quả dạy đọc – hiểu thơ trữ tình hiện đại ở trường trung học phổ thơng
Nh Tâm trạng cơ đơn – nhìn từ thân phận người Việt xa xứ qua tiểu thuyết “Và khi tro bụi” của Đồn Minh Phượng
Đánh giá các ảnh hưởng của dự án chống ngập úng khu vực thành phố
Hồ Chí Minh đến mơi trường, đề xuất các biện pháp phát huy và giảm thiểu
Đánh giá tác động nước dâng do biến đổi khí hậu đến dải ven biển tỉnh Khánh Hồ
Tiếp cận xây dựng chi phí xử lý chất thải rắn cơng nghiệp ngành kim loại
và gia cơng cơ khí tại thành phố Hồ Chí Minh
Học phí: một cơng cụ hỗ trợ cho cơng tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ
Đánh giá thể lực sinh viên đầu vào Trường Đại học Sài Gịn theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bàn về “Đổi mới phương pháp dạy học” nhìn từ gĩc độ nhà thực hành
Trang 2° NGUYỄN THUỲ LINH
° NGUYỄN HOÀNG GIAO
Nghiên cứu điều chế và thử hoạt tính quang xúc tác TiO2
pha tạp EUROPINghiên cứu đặc điểm sinh học
và nuôi thử nghiệm rắn ri voi
Enhydris bocourti (gray 1842) ở
tỉnh Đồng Tháp
Tái cấu trúc ngành điện trong thị trường điện Việt Nam
Vấn đề xác định thị trường liên quan trong luật cạnh tranh tại Việt Nam: những bất cập của phương pháp SSNIP
Trang 3
CONTENT
language - Meaning and Use
Trong Lu’s pre-1945 narrative prose
that luc bat” (STLB) and “Ngam khuc” in medieval Vietnamese Literature
to improve the effectiveness of the Teaching reading Comprehension
on modern Lyrical Poetry at high Schools
expatriates in the novel “Va khi tro bui” by Doan Minh Phuong
LE VAN TAM
NGUYEN PHU BAO
Evaluate the impacts of the flood control projects in the Ho Chi Minh City on the environment and propose some solutions to enhance the positive impacts and mitigate the negative ones
NGUYEN KY PHUNG
BUI CHI NAM Evaluate the impacts of sea level
rise caused by the climate change
on the coastal area of Khanh Hoa Province
LE NGOC TUAN
The approach of setting the charge
of the industrial solid waste treatment in the mechanical manufacture in Ho Chi Minh City
Trang 4
NGUYEN KIEN QUYET
Tuition- an assisting tool for the task of evaluating the students’ learning results in the training by credit
LE KIEN GIANG
freshmen of Saigon University in pursuant to Decision 53/2008 by The Ministry of Education and Training
Method” from the view of the Executors
VO QUANG MAI NGUYEN TAN PHUOC
The research on preparing
experimenting its photo-catalytic activity
experimental breeding of Enhydris bocourti (Gray, 1842) in Dong Thap Province
electrical market of Vietnam
Some problems concerned with the method ''Small but Significant And Non-Transitory Increase in Price'' – SSNIP- in defining the relevant product market
Trang 5Từ khoá: từ phiếm định, chỉ định từ, đại từ, lượng từ, quán từ
ABSTRACT
The indefinite word in Vietnamese is a word class in small quantities but has notable characteristics Besides being used to express absolute affirmativeness, absolute negation and interrogation-refutation, the indefinite word still takes on various grammatical functions in sentences The aim of this article is to present the meaning and usage of some kinds of indefinite words such as indefinite determiner, indefinite pronoun, indefinite quantifier and indefinite article
Key words: indefinite word, determiner, pronoun, quantifier, article
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ phiếm định là “từ chỉ chung chung, không rõ ràng, cụ thể người nào, sự vật nào” [7, tr 752] Lớp từ này xưa nay ít nhiều đã được đề cập đến trong hầu hết các sách ngữ pháp tiếng Việt, nhưng công trình xem xét đầy đủ về nó thì từ trước tới nay chưa có Do vậy, việc nghiên cứu từ phiếm định trong tiếng Việt một cách đầy đủ và có hệ thống sẽ rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Điều đó không những góp phần vào việc nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ pháp của một loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt mà còn đóng góp tích cực vào những công việc mang tính thực tiễn sâu sắc hơn như: dịch thuật giữa các ngôn ngữ, biên soạn các loại tự điển, sách giáo khoa, giáo trình
2 Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA CHỈ ĐỊNH TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
Chỉ định từ phiếm định là một tiểu loại của chỉ định từ, là “từ dùng để chỉ định danh
từ, bằng cách thêm một ý về hoàn cảnh đặc biệt của những người hay sự vật do danh từ mệnh danh” [10, tr 256] Do vậy, cách dùng này cũng không nằm ngoài cách dùng của chỉ định từ Thế nhưng chỉ định từ phiếm định cũng là một tiểu loại của từ phiếm định, mà từ phiếm định
là từ chỉ chung chung, không cụ thể Do vậy, chỉ định từ phiếm định phải là từ được dùng để
“chỉ định một danh từ bằng cách thêm vào ý nghĩa của danh từ ấy một ý khái quát (để nói trổng, không chỉ cái gì rõ rệt)”[10, tr 266]
• BẤT CỨ (KÌ)
Hoàng Phê cho rằng bất cứ (kì) là từ “biểu thị ý không có điều kiện nào kèm theo cả,
không loại trừ trường hợp cụ thể nào cả” [7, tr 48] Khi nó chỉ định cho danh từ, nó làm cho danh từ này mang tính khái quát Ví dụ:
(*) ThS, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Trang 62
(1) Hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp để đập phá đốt nhà hay lăn ra kêu làng nước
[1, tr 26]
• GÌ
Bùi Đức Tịnh [10] cho rằng gì vốn là một chỉ định từ nghi vấn dùng để hỏi Khi được
sử dụng như chỉ định từ phiếm định, nó chỉ định cho các danh từ chỉ sự vật, sự việc, hiện tượng nhưng không nói rõ ra đó là các sự vật, sự việc, hiện tượng cụ thể nào Ví dụ:
(2) Nó nói qua bên Mỹ, gặp nghề gì có tiền thì làm, cạnh tranh với người tứ xứ, mình
là dân nhỏ con, sức lực yếu nhưng tay chân lanh lẹn [6, tr 317]
Từ gì trong câu này chỉ định cho danh từ nghề, nhưng nó không chỉ rõ đó là nghề nào
mà chỉ cho biết chung chung bất cứ nghề nào có thể nuôi sống bản thân Đây cũng là ưu điểm của người Việt Nam chúng ta nói chung: cần cù, chịu thương, chịu khó, sẵn sàng làm bất cứ công việc chân chính nào để mưu sinh
Chi là một biến thể của gì Vì thế, trong các câu có sử dụng từ gì, ta có thể thay thế gì bằng chi
• KHÁC
Khác là từ chỉ cái không giống, cái chưa biết đến Khi được dùng như chỉ định từ phiếm định thì khác chỉ thêm nghĩa khái quát vào cho danh từ mà nó chỉ định Đó có thể là
những danh từ chỉ người, vật, nơi chốn hay thời gian Ví dụ:
(3) Tấn hơi mệt biết rằng nếu đến quán ăn phở thì chắc khi ăn rồi chàng sẽ đi nơi
(4) Làng này còn bao nhiêu người khá giả tương đối, nhà ngói đơn sơ nhưng là nổi bật
lên ở địa phương, xưa kia làm hội đồng xã, có con em làm sĩ quan chế độ cũ [6, tr 194]
Từ xưa kia ở đây không cho biết cụ thể ngày, tháng, năm nào cả
Tuy vậy, cũng cần phân biệt giữa kia: chỉ định từ phiếm định và kia: chỉ định từ chỉ
định Hãy quan sát ví dụ dưới đây:
(5) Bên kia bờ sông, cây cối bị san bằng mặt đất, một con mèo chạy cũng rất rõ [4, tr 186]
Từ kia trong câu này không phải là chỉ định từ phiếm định vì nó có một ý nghĩa về vị trí trong không gian (cái bờ sông mà ta đang thấy trước mặt) Do vậy, nó phải là một chỉ định
từ chỉ định
• NÀO
Giống như gì, nào cũng là chỉ định từ nghi vấn biến dị thành chỉ định từ phiếm định
Nó được dùng để chỉ định cho danh từ đứng trước nhưng nó không cho biết cụ thể người nào, vật nào Ví dụ:
(6) Chú nào biết thì tôi khen thưởng [6, tr 85]
Từ nào trong câu này chỉ định cho từ chú, nhưng nó không xác định rõ là chú nào cả
Trang 73
Cả gì và nào cùng chỉ định cho danh từ, nhưng cũng có sự khác biệt đôi chút giữa
chúng Xét các ví dụ sau:
(7a) … nhà văn nào ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời vụn
vặt thì chẳng bao giờ tiến xa [6, tr 77]
(7b)* … nhà văn gì ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời vụn
vặt thì chẳng bao giờ tiến xa
(8a)* Tiếng nào như tiếng giặc tấn công
(8b) Tiếng gì như tiếng giặc tấn công [4, tr 77]
Câu (7a) và (8b) là những câu chấp nhận được trong khi đó câu (7b) và (8a) thì không
Vì sao lại có hiện tượng này? Trong câu (7a), danh từ nhà văn đã được hạn định Đó là những nhà văn ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời vụn vặt chứ không phải
chỉ hết tất cả những nhà văn Do vậy, việc sử dụng từ nào chứ không phải từ gì trong câu này
là thoả đáng Ở câu (8b), từ tiếng không hề bị giới hạn cho nên sử dụng từ gì sẽ hợp lí hơn từ nào Như vậy, phạm vi chỉ định của từ nào hẹp hơn phạm vi chỉ định của từ gì Hay nói cách khác, từ nào được dùng khi ta nói về sự không xác định trong những đối tượng đã biết Còn
từ gì nói về tính không xác định hoàn toàn, tuyệt đối
Trong phương ngữ Trung bộ, mô được dùng thay cho nào Do đó, có thể thay thế nào bằng mô trong những câu có sử dụng nào
• NỌ
Cũng giống như kia, khi được dùng làm chỉ định từ phiếm định thì nọ cũng mất hẳn
công dụng chỉ vị trí của nó Nó thêm tính không xác định ở cách xa hay trong quá khứ cho danh từ mà nó chỉ định Ví dụ:
(9) Anh phu nọ đạp bằng một chân thôi, chân kia thì bẹt ra, duỗi thẳng.[6, tr 112]
Trong câu này, người ta chưa xác định được cụ thể anh phu nào cả
3 Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA ĐẠI TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
Đại từ phiếm định là một tiểu loại của đại từ Do vậy, ý nghĩa và cách dùng của nó không thể tách rời khỏi ý nghĩa và cách dùng của đại từ Theo Bùi Đức Tịnh, đại từ phiếm định là loại đại từ được dùng để “thay thế cho danh từ để chỉ những người hay vật mà ta không muốn nói rõ ra” [10, tr 243]
Mặt khác, tác giả cũng khẳng định thêm là các đại từ phiếm định trong tiếng Việt đều
có nguồn gốc từ các đại từ nghi vấn và các danh từ Các đại từ phiếm định: ai, đâu, gì, nào, sao nguyên là các đại từ nghi vấn chuyển hoá thành Các đại từ phiếm định: người, người ta,
kẻ nguyên là các danh từ
3.1 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ người
• AI
Bùi Đức Tịnh xác định rằng ai vốn là một đại từ nghi vấn Khi ai được dùng làm đại
từ phiếm định để chỉ chung cho tất cả mọi người thì nó chỉ có thể được sử dụng trong các loại
câu khác với câu hỏi chính danh Theo khảo sát của chúng tôi, ai được sử dụng rất nhiều trong
câu trần thuật, những câu “có thể xác định được là đúng hay là sai” [3, tr 36], “những câu mà giá trị ngôn trung chỉ là trình bày, nhận định, không yêu cầu trả lời, không yêu cầu thực hiện một hành động nào khác và không bộc lộ tình cảm, cảm xúc.” [5, tr 123] Xét ví dụ sau:
(10) Gã cũng có gia đình đàng hoàng như ai [4, tr 145]
Trang 84
Từ ai trong câu trần thuật này không chỉ cụ thể một người nào cả
Ai cũng xuất hiện ở ngôi thứ ba số nhiều khi theo sau nó có từ cũng
(11) Ở trong xóm này, mình là người quan trọng, ai cũng biết mặt, nhưng ra tới chợ,
tới xóm khác thì mình là con kiến nhỏ xíu, vô danh [6, tr 11]
Mặt khác, ai cũng có thể được dùng ở ngôi thứ hai số ít lẫn số nhiều Xét các ví dụ sau
đây:
(12) Ai ơi đợi với em cùng
Thân em nay Bắc mai Đông một mình [Ca dao VN]
Ai trong câu ca dao này ở ngôi thứ hai số ít Đó là từ mà người con gái dùng để gọi
người con trai: hãy cho em đi cùng vì thân gái một mình hiu quạnh và cô đơn lắm anh ơi, nhưng chưa xác định rõ người con trai nào cả
(13) Ai có dao dùng dao, có mác dùng mác, mỗi người dân là một người lính, mỗi
thước đất là một chiến hào, sẵn sàng hi sinh bảo vệ nền độc lập cho Tổ quốc! [4, tr 24]
Ai trong câu này ở ngôi thứ hai số nhiều Nó chỉ hết tất cả những người dân Việt Nam
yêu nước, những người với những vũ khí thô sơ nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh tấm thân mình để bảo vệ nền chủ quyền đất nước trước sự xâm lược của bọn giặc ngoại xâm Truyền thống yêu nước này của người Việt Nam cứ truyền mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác
• KẺ
Bùi Đức Tịnh khẳng định rằng kẻ vốn là một danh từ Khi được sử dụng như một đại
từ phiếm định, nó không chỉ cụ thể ai, người nào Ví dụ:
(14) Thỉnh thoảng, cánh cửa sắt ngoài cổng như khua động, ngân lên, ông đoán chừng
gió thổi mạnh, bản lề cửa không khít khao, hoặc kẻ nào muốn tìm nơi ẩn núp qua cơn mưa đã
dựa lưng vào [6, tr 197]
Đôi khi, kẻ cũng được dùng để chỉ người hoặc những người không cụ thể nhưng hàm
ý coi thường, khinh khi Ví dụ:
(15) Thời buổi kim tiền này, người ta không thể quan niệm được một kẻ có tài nhưng
làm không ra tiền [6, tr 91]
Kẻ có thể được đặt sau những từ vốn cũng là những từ phiếm định như: nhiều, những Ví dụ:
(16) Có nhiều kẻ mừng thầm [1, tr 47]
Kẻ có thể giữ vai trò làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trong câu Ví dụ:
(17) Kẻ1 mạnh chính là kẻ2 giúp đỡ kẻ3 khác trên đôi vai của mình [1, tr 101] (Kẻ1:
chủ ngữ, kẻ2: vị ngữ, kẻ3: bổ ngữ)
• NGƯỜI
Bùi Đức Tịnh cho là người có nguồn gốc từ danh từ Trong ngôn ngữ văn học, người
ta dùng nó để chỉ trổng, không cụ thể người nào Nó thường giữ vai trò làm chủ ngữ trong câu Ví dụ:
(18) Anh học sinh trường cô-le, người trong ban tiếp tế đã cho tôi theo thuyền từ Hậu
Giang đến đây [4, tr 3]
• NGƯỜI TA
Trang 95
Trong ngôn ngữ tiếng Việt, người ta thường xuất hiện ở ngôi thứ ba số nhiều và mang
sắc thái trung hoà Nó được dùng để “chỉ chung những người bất kì, ngoài mình hay những người đang trong cuộc” [7, tr 676] Ví dụ:
(19) Người ta quýnh quáng chạy tới chạy lui lộn xộn trên khoảng đất trống [4, tr
229]
Người ta thường đảm nhận vai trò làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu Ví dụ:
(20) Tự nhiên người ta đánh con, người ta đuổi con, người ta áp chế [8, tr 33] (người ta: chủ ngữ)
(21) lại sợ người ta bắt được quả tang mình muốn bắt quả tang người ta [8, tr 115] (người ta: bổ ngữ)
3.2 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ vật
• GÌ
Gì được dùng để chỉ “sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó không rõ.” [7, tr 366] Thường xuất hiện từ cũng theo sau gì trong câu trần thuật khẳng định Ví dụ:
(22) Thấy tía nuôi tôi làm gì, tôi cũng bắt chước làm theo như vậy [4, tr 217]
Từ gì trong câu này không chỉ một sự việc cụ thể nào cả
Gì cũng xuất hiện trong câu trần thuật phủ định để chỉ một sự vật, một hiện tượng nào
đó không cụ thể
(23) Trong hiện tại, rừng tràm chẳng còn gì [6, tr 302]
Trong ngôn ngữ văn học cũng như trong sinh hoạt đời thường, từ cái thường hay xuất
hiện trước gì Chẳng hạn:
(24) Con thì cái gì cũng hỏi [4, tr 219]
Gì thường đảm nhận chức năng chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu Ví dụ:
(25) Tôi bước đến gần, nhìn vào họ xem họ đang làm gì [4, tr 97] (gì: bổ ngữ)
• NÀO
Hoàng Phê quan niệm rằng nào là từ được dùng để chỉ “bất cứ cái nào trong cùng một
tập hợp những cái cùng loại” [7, tr 636] Nó thường hay đi kèm với từ cũng
(26) Thấy người, con nào cũng há họng ra, toan đớp [4, tr 201]
→ Chưa xác định cụ thể con nào cả
Không giống như gì có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ trong câu, nào chỉ làm định ngữ trong
câu mà thôi Ví dụ:
(27) Gần khắp mặt biển Thái Bình Dương, cảng nào anh cũng có tới [4, tr 92]
→ Chưa có một cái cảng cụ thể nào được xác định ở đây cả
3.3 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ người lẫn vật
Hoàng Phê chỉ ra rằng nấy thường được dùng kết hợp với các từ như: ai, gì, nào đứng
trước để chỉ chính cái vừa mới được đề cập trước đó Thế nhưng những cái vừa mới được
nhắc đến đều là những cái phiếm định Do vậy, nấy cũng được dùng để chỉ những cái phiếm định Theo khảo sát của chúng tôi, nấy có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ và định ngữ trong câu Ví
dụ:
Trang 106
(28) Ai gặp nấy hốt [4, tr 224] (nấy: chủ ngữ)
Trong câu này, người ta chưa xác định cụ thể được bất kì một người nào cả
3.4 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ địa điểm
• ĐÂU
Nguyễn Kim Thản [9] nhấn mạnh rằng đâu vốn là đại từ nghi vấn dùng để hỏi địa
điểm Khi làm đại từ phiếm định, nó chỉ một địa điểm, một nơi nào đó không xác định rõ
(29) … nhưng đi đâu với giá nào mấy cậu cũng đồng ý [6, tr 117]
Từ đâu trong câu này không chỉ một nơi cụ thể nào cả
Đâu thường xuất hiện trong câu trần thuật khẳng định và thường có từ cũng theo sau
Ví dụ:
Tương tự như đâu trong câu (29), đâu trong câu này cũng chỉ một nơi phiếm định Người ta cũng sử dụng đâu trong câu trần thuật phủ định
Đâu có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp trong câu như: chủ ngữ, vị ngữ,
trạng ngữ Ví dụ:
nữa [4, tr 83] (đâu1: chủ ngữ, đâu2: vị ngữ)
(33) Rồi thì khỏe ru, tôi trở về, còn anh tự ý đi đâu thì đi [6, tr 11] (đâu: trạng ngữ)
3.5 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ thời gian
Bao giờ vốn là đại từ nghi vấn hỏi về thời gian Khi được dùng như đại từ phiếm định,
nó chỉ “khoảng thời gian nào đó không muốn nói rõ ra hoặc bất kì khoảng thời gian nào” [7,
tr 34] Nó thường được dùng trong các câu trần thuật và đảm nhận vai trò làm trạng ngữ trong câu Ví dụ:
(34) Bao giờ có một điều bất thường, một biến cố gì vừa xảy ra thì tức khắc bọn trẻ
con kéo đến đó ngay [4, tr 234]
Từ bao giờ trong câu này chỉ một khoảng thời gian bất kì, không xác định
Trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, bao giờ được dùng để chỉ một sự việc rất khó có thể
xảy ra hoặc không bao giờ xảy ra
(35) Bao giờ rau diếp làm đình,
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta [Ca dao VN]
→ Việc mình lấy ta là việc rất khó xảy ra nếu không muốn nói là không thể
3.6 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định chỉ sự tình
Sao được dùng để chỉ sự tình, phương thức, cách thức nào đấy mà chưa được xác định
rõ ràng Với ý nghĩa phiếm định này, sao thường xuất hiện trong các câu trần thuật và làm
chức năng trạng ngữ Chẳng hạn:
(36) Đời sao kì cục, khó nói quá, muốn nói thì cũng không biết sao mà nói [6, tr 114]
Trang 117
Từ sao trong câu này được dùng để chỉ một cách thức nhưng đó là cách thức chung
chung, không cụ thể
4 Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA LƯỢNG TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê quan niệm rằng lượng từ phiếm định là loại lượng từ được dùng để “trỏ lượng phiếm định, nhiều hay ít” [2, tr 323] Hay nói cụ thể hơn, lượng từ phiếm định chỉ một cách khái quát về số lượng chứ nó không cho biết chính xác là bao nhiêu Trong tiếng Việt, lượng từ phiếm định có cách dùng hết sức đa dạng Một số có cách dùng của chỉ định từ phiếm định, số khác có thể được dùng như đại từ phiếm định và cũng có một số được dùng như cả chỉ định từ phiếm định lẫn đại từ phiếm định
4.1 Lượng từ phiếm định chỉ số lượng ít
• CHÚT
Chút là từ chỉ một lượng rất nhỏ, rất ít, gần như không đáng kể Nó có chức năng của một
chỉ định từ phiếm định trong câu Ví dụ:
(37) Đôi khi Thiện sai bảo vợ đem lá thơ đến nhà ông phán để xin chút tiền [6, tr
181]
→ Chưa xác định được chính xác số tiền là bao nhiêu, nhưng chắc là rất ít
• CHÚT ÍT
Giống như chút, chút ít cũng chỉ một lượng phiếm định rất nhỏ, rất ít Nó có thể làm
chức năng của một chỉ định từ phiếm định lẫn đại từ phiếm định trong câu
(38) Anh thợ gặt trở về Hòn Chông, chiếc xuồng đầy gạo, mắm, thêm chút ít tiền giấu trong lưng quần [6, tr 41] (chút ít: chỉ định từ phiếm định)
Từ chút ít trong câu này không chỉ chính xác số lượng tiền mà anh thợ gặt có
• DĂM
Dăm là từ chỉ số lượng không nhiều, trên dưới năm Nó thường đi trước danh từ để
chỉ định cho danh từ này
(39) Bà cô đi theo hàng ít ra cũng dăm hôm mới về [1, tr 32]
→ Chưa ai biết chính xác bao hôm nữa bà ấy mới về
• DĂM BA
Từ này chỉ chỉ số lượng ít, không xác định, khoảng năm hoặc ba bốn mà thôi Nó cũng
có chức năng như một chỉ định từ phiếm định trong câu
(40) Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm [1, tr 36]
→ Chưa ai biết chính xác họ mua được bao nhiêu sào ruộng
Trong câu này, ít chỉ định cho danh từ nước mắt nhưng nó không cho biết số lượng là
bao nhiêu nhưng chắc chắn là rất thấp
Trang 128
• ÍT NHIỀU
Ít nhiều là từ chỉ số lượng không nhiều thì ít nhưng chắc chắn là có Nó thường được
dùng để chỉ định cho các danh từ trong câu Ví dụ :
(42) nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở Thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác,
anh sẽ không phải là bạn anh Hoàng nữa [1, tr 117]
Ít nhiều trong câu này chỉ định cho danh từ nhà văn nhưng nó cũng không cho biết số
lượng chính xác là bao nhiêu
• MẤY
Mấy là từ chỉ số lượng nào đó không nhiều chỉ khoảng trên dưới năm ba và được
dùng để chỉ định cho các danh từ đếm được trong câu Ví dụ:
(43) Chắc là nướng trọn mấy đồng bạc của người ta nhờ lão đưa trả cho tôi rồi [4, tr
55]
→ Chưa ai biết chính xác là lão ta đã nướng hết bao nhiêu đồng bạc rồi
Mấy còn có chức năng làm vị ngữ như một đại từ phiếm định Ví dụ:
(44) Và năm chục đồng bạc với mình là mấy [1, tr 23]
• MỘT CHÚT
Từ này chỉ một lượng nào đó thôi nhưng không đáng kể Nó cũng được dùng để chỉ định cho danh từ trong câu Ví dụ:
(45) Không có lấy nhẹ cho đỡ bức [4, tr 56]
Trong câu này, một chút chỉ định cho danh từ gió nhưng nó không cho biết số lượng
cụ thể
• MỘT ÍT
Giống như một chút, một ít cũng chỉ một lượng rất nhỏ nào đó, không đáng kể Nó
thường được dùng như chỉ định từ phiếm định trong câu Ví dụ:
(46) có lần thị xin của hắn một ít rượu để về bóp chân [1, tr 31]
→ Chưa ai biết chính xác lượng rượu mà bà ấy đã xin nhưng chắc hẳn là một lượng rất nhỏ
• MỘT SỐ
Một số là từ chỉ số lượng ít, phiếm định Nó được dùng như chỉ định từ phiếm định để
chỉ định cho danh từ trong câu Nó chỉ xuất hiện trước danh từ đếm được mà thôi
(47) Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận cùng lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt
Nam dùng ngòi bút mình để làm những việc đê tiện thế [8, tr 118]
Trong câu này, một số chỉ định cho danh từ nhà văn để chỉ một số lượng tương đối ít
• MỘT TÍ
Cũng giống như một ít, một tí chỉ một lượng rất nhỏ, rất ít Nó cũng đi trước danh từ
để chỉ định cho danh từ này trong câu Ví dụ:
(48) Mỗi lần cùng đường đất sinh nhai, và bán hết mọi thứ rồi, tôi lại phải bán đi một
tí sách của tôi [1, tr 50]
→ Chưa ai biết chính xác số lượng sách được bán đi nhưng hẳn là rất ít
Trang 139
• MỘT VÀI
Đây là từ chỉ số lượng rất ít, không xác định: một hoặc vài ba Nó có cách dùng tương
tự như chỉ định từ phiếm định trong câu Nó chỉ đi trước các danh từ đếm được
(49) Thảng hoặc có một vài người nào đó lưu tâm hỏi hoàn cảnh gia đình cha mẹ tôi ở
đâu… thì tôi đều kiếm cớ nói tránh đi, hoặc lái câu chuyện về một hướng khác [4, tr 73]
Trong câu này, chưa có người cụ thể nào được xác định cả
• MỖI
Mỗi được sử dụng như một chỉ định từ phiếm định đứng trước danh từ đếm được Nó
được dùng để chỉ một cá thể bất kì nào đó của một tập hợp, nhưng qua đó cũng chỉ chung cho tất cả các cá thể của tập hợp đó Ví dụ:
(50) Mỗi người cầm một hòn đất bước đến bỏ vào huyệt mả [4, tr 171]
Từ mỗi ở đây chỉ chung cho tất cả mọi người, chứ không cụ thể hoá một người nào cả Mỗi kết hợp được với một như trong ví dụ sau đây:
(51) Mỗi một cử chỉ của anh ông, cháu giai cháu dâu ông, đều làm ông kinh ngạc như
người tiên giới bị rơi xuống trần gian [8, tr 77]
Giống như mỗi, từng cũng được sử dụng như chỉ định từ phiếm định trong câu để chỉ
cá thể riêng lẻ nhưng không phải một cá thể cụ thể mà là một cá thể bất kì trong một tập hợp
đã được tiền giả định Từng đi trước các danh từ đếm được Ví dụ:
(53) Từng đàn cò bay vùn vụt theo mây, ngửa mặt trông theo gần như không trông kịp
[4, tr 47]
Trong câu này, chưa có đàn cò cụ thể nào được xác định
• VÀI
Vài là từ chỉ số lượng ít, không xác định, khoảng chừng hai, ba Trong câu, nó được
dùng trước danh từ đếm được để chỉ định cho danh từ này
(54) Cậu từng gặp ba tôi vài lần [6, tr 183]
→ Chưa xác định được lần nào cả
• Vài ba
Vài ba cũng chỉ số luợng không nhiều, khoảng chừng hai hoặc ba Nó chỉ định cho
các danh từ đếm được trong câu Ví dụ:
(55) Vài ba người mặc theo thời trang phổ biến ở Sài Gòn [6, tr 303]
→ Chưa xác định được bao nhiêu người cả
Trang 14(58) Như vậy, chẳng cần phải nói, ai cũng biết Xuân Tóc Đỏ được đại đa số [8, tr 149]
Từ đại đa số trong câu này chỉ số lượng rất đông, nhưng không cho biết cụ thể là bao
nhiêu
• HẦU HẾT
Hầu hết chỉ số lượng nhiều, nhưng chưa xác định rõ ràng là bao nhiêu Nó có thể được sử dụng như chỉ định từ phiếm định và thường phải có các, mọi theo sau
(59) Má nuôi tôi là một người thuộc khá nhiều chuyện cổ tích và biết hầu hết mọi
cung cách làm ăn của những người nông dân nghèo ở khắp mọi nơi vùng Nam Bộ [4, tr 115]
→ Chưa xác định được cung cách làm ăn nào cả
• LẮM
Lắm là từ chỉ lượng được cho là lớn, nhiều Nó thường đi trước danh từ để chỉ định
cho danh từ này
(60) Mẹ kiếp! Lắm đám cưới linh đình, mà rồi lại chả bỏ nhau ùn ùn ra đấy à? [1, tr
77]
→ Chưa xác định được có bao nhiêu đám cưới
• MỌI
Nguyễn Kim Thản cho rằng mọi là từ chỉ “toàn thể sự vật, hoặc toàn thể sự vật còn lại
(ngoài những cái mà người ta chỉ riêng ra)” [9, tr 197] Nó được dùng như một chỉ định từ phiếm định trước các danh từ đếm được trong câu Chẳng hạn:
(61) Em bé gái bước ra, nghiêng đầu chào mọi người [4, tr 9]
Từ mọi trong câu này không chỉ rõ người nào hết
• NHIỀU
Trang 1511
Đây là từ chỉ số lượng lớn Trong câu, nó có cách dùng tương tự như chỉ định từ
phiếm định Không giống như mọi, nhiều có thể đi trước danh từ đếm được cũng như không
Phần đông chỉ số lượng phiếm định, nhưng rõ ràng là đa số trong một tập hợp người
Nó có thể làm chủ ngữ hoặc chỉ định cho danh từ trong câu Ví dụ:
(63) Tôi gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương [1, tr 124] (phần đông: chủ ngữ)
Trong câu này, phần đông chỉ số lượng nhiều, nhưng nó không cho biết chính xác là
Giống như nhiều, phần nhiều cũng chỉ số lượng lớn phiếm định Nó có thể được sử
dụng như một đại từ phiếm định trong câu Ví dụ:
(65) những kẻ tự tử chẳng may phần nhiều không mấy ai thoát chết cả [8, tr 95]
Trong câu này, chưa ai biết được có bao nhiêu người tự tử không thoát chết
• Rất nhiều
Nếu như nhiều chỉ số lượng lớn thì rất nhiều lại chỉ số lượng lớn hơn Rất nhiều
thường đi trước các danh từ để chỉ định cho các danh từ này Ví dụ:
(66) Rất nhiều người bắt tay Văn Minh và nhân đó bắt tay Xuân Tóc Đỏ nữa [8, tr
Trang 1612
Tất là từ chỉ số lượng toàn bộ, không loại trừ một ai Nó chỉ có thể được dùng làm bổ
ngữ cho động từ trong câu Ví dụ:
(68) Tôi đuổi tất không chừa một đứa nào, kể cả con bé Thảo là con ngoan nhất [1,
(69) Trong tất cả các tiểu thuyết Đông Tây, có hai quyển tôi mê nhất là Tam quốc và
Đông chu liệt quốc [1, tr 131]
Từ tất cả trong câu này chỉ số lượng toàn bộ, không cụ thể
Tất cả có chức năng ngữ pháp hết sức đa dạng, có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ như một
đại từ phiếm định, chỉ định cho danh từ như một chỉ định từ phiếm định trong câu
(70) Tất cả cuốn đi, xa dần [4, tr 79] (Tất cả: chủ ngữ)
• VÔ SỐ
Đây là từ chỉ số lượng nhiều lắm, nhiều đến mức không thể đếm hết, tính hết
được Nó đi trước danh từ để chỉ định cho danh từ này Xét ví dụ dưới đây:
(71) Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn” [8, tr 125]
→ Chưa biết được chính xác có bao nhiêu anh như thế
4.3 Lượng từ phiếm định chỉ số lượng không rõ nhiều hay ít
• BAO NHIÊU
Bao nhiêu chỉ lượng nào đó không rõ nhiều hay ít Nó có thể làm bổ ngữ cho động từ
hoặc chỉ định cho danh từ đứng sau nó Chẳng hạn:
(72) ở xó nhà ấy, muốn rót bao nhiêu thì rót, để yên cho hắn ngủ [1, tr 31] (bao nhiêu: bổ ngữ)
→ Chưa xác định được số lượng rượu là bao nhiêu
5 Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA QUÁN TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
• CÁC
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê lí giải rằng các vốn có nghĩa là mỗi người, mỗi vật Từ nghĩa mỗi người, mỗi vật, các chuyển sang nghĩa mọi người, mọi vật, tức mang nghĩa số nhiều Ngoài ra, các còn có thuộc tính chỉ biệt nữa Do vậy, các chỉ được sử dụng
như một quán từ phiếm định mà thôi
(73) Đèn măng-sông trong các hiệu buôn, các tiệm ăn của người Hoa kiều thắp lên
sáng rực [4, tr 4]
Trong câu này, các đi trước các danh từ hiệu buôn, tiệm ăn để chỉ định cho các danh
từ này một cách khái quát
• MỘT
Trang 1713
Một có đặc điểm là mang lại ý nghĩa khái quát, chung chung, không cụ thể, rõ ràng
cho danh từ đứng sau nó Chẳng hạn:
(74) Một hôm má nuôi tôi thở dài, bàn với tía nuôi tôi như vậy [4, tr 192]
Không có hôm nào cụ thể được xác định ở đây Sở dĩ có hiện tượng này là do đặc
điểm của quán từ phiếm định một quy định
• NHỮNG
Những là một từ định lượng số nhiều không chỉ biệt hay nói cách khác là một quán từ
phiếm định số nhiều Nó thường hay xuất hiện trước các danh từ để chỉ định cho các danh từ này Ví dụ:
(75) Những tia chớp xé rạch bầu trời đen kịt phát ra những tiếng nổ kinh thiên động
địa chung quanh ngôi miếu [4, tr 48]
→ Chưa có một tia chớp hay tiếng nổ nào được xác định cả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nam Cao (2006), Truyện ngắn Nam Cao, Nxb Hội nhà văn
2 Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Nxb
Đại học Huế
3 Nguyễn Đức Dân (2001), Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb Giáo dục
4 Đoàn Giỏi (2004), Đất rừng phương Nam, Nxb Phụ nữ
5 Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng và Bùi Tất Tươm (2007),
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Câu trong tiếng Việt, Quyển 1, Nxb Giáo dục
6 Sơn Nam (2004), 4 truyện vừa:Ngôi nhà mặt tiền, Âm dương cách trở, Chuyện tình một
người thướng dân, Truyện ngắn của truyện ngắn, Nxb Trẻ
7 Hoàng Phê (chủ biên) và các đồng tác giả (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã
hội, Trung tâm từ điển học, Hà Nội-Việt Nam
8 Vũ Trọng Phụng (2008), Số đỏ, Nxb ĐHSP
9 Nguyễn Kim Thản (1997), Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục
10 Bùi Đức Tịnh (1995), Văn phạm Việt Nam, Nxb Văn hoá
* Nhận bài ngày: 16/2/2013 Biên tập xong: 16/4/2013 Duyệt đăng : 18/4/2013
Trang 18dĩ vãng để hướng đến tương lai tươi sáng; tìm đến tình yêu tự do, cao cả nhưng ái tình là bể khổ; sống trong buổi giao thời để rồi nổi loạn nửa vời; cuối cùng họ tìm về thiên nhiên để ru dịu tâm hồn
Từ khoá: mô típ, văn xuôi, ngoái tìm dĩ vãng, ái tình là bể khổ, nổi loạn nửa vời, tìm về
thiên nhiên
ABSTRACT
Motif is all the simplest elements, but it makes sense in the structure of artwork’s subject and plot It’s the factors, large and small parts – they have been formed stably and sustainably, and used more than once in composing Literary Art Motifs in Luu Trong Lu’s pre-1945 narative prose are diversity His characters look back to the past and toward a bright future, find free and great love But love is miseries; living in converting period and taking half-hearted rebellion, they finally turn back to the nature for sedating their souls
Keywords: motif, prose, look back to the past, love is miseries, half-hearted rebellion,
turn back to the nature
1 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Lưu Trọng Lư là một trong những tác giả viết thành công ở cả hai lĩnh vực thơ và văn xuôi Những tác phẩm thơ của ông viết trong thời Thơ mới đã được độc giả biết tới nhiều và bình phẩm ngay từ khi nó mới chào đời Riêng với mảng văn xuôi tự sự mà ông sáng tác sáng tác trước năm 1945 thì việc tìm hiểu, nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức độ sơ khởi Không có tham vọng đánh giá bao quát, đầy đủ về bộ phận quan trọng này trong văn nghiệp của ông, ở bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số mô típ nổi bật đã làm nên khuôn mặt riêng của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư Đó là các mô típ: ngoái tìm dĩ vãng, ái tình là bể khổ, nổi loạn nửa vời, tìm về thiên nhiên
2 Trước hết, xin nói về mô típ ngoái tìm dĩ vãng Tác phẩm của Lưu Trọng Lư thường
được đặt trong chiều hồi tưởng về quá khứ Quá khứ có khi rõ ràng, khi mơ hồ huyền ảo, song chính là những khoảng lung linh trong tâm tưởng để nhân vật mỗi lần hồi tưởng là một lần có thêm sức mạnh, thêm động lực để sống, để tồn tại và ước mơ Nhớ lại những lần theo cha mẹ về quê ngoại, mạch hồi tưởng về gia đình dần được hé mở Cái làng Lâm Cự ven sông Gianh là quê
ngoại:“Ông ngoại tôi, tuy rằng là bậc đại phú có những cánh đồng cò bay thẳng cánh, nhưng
không phải là dòng dõi thư hương Cả một làng Lâm Cự tuy cũng có đôi người học hành nhưng không một ai đỗ đạt gì cả Cho nên tình cờ được một người xin làm rể là một tay khoa cử, người gàn dở đến đâu cũng phải biết là một điều danh giá lắm” [10, 523-524] Không gian cách trở
giữa hai làng đã tạo ra những chuyến về quê ngoại theo lệ hằng năm, đó cũng là dịp để Thiệu từ
khi còn là một cậu bé cho đến lúc học hành đỗ đạt gắn bó với Bến cũ Nơi đây, có Quỳnh - cô
(*) ThS, Trường Trung cấp Kĩ thuật Công nghiệp Đồng Nai
Trang 192
gái bến quê theo đạo Công giáo Và bi kịch tình yêu đã xảy ra nơi bến quê này: “Năm ấy tôi
mới lên tám… Tôi đã sớm biết rung động rất nhiều trước một cảnh vật khả ái, hay trước cái tình lưu luyến mênh mông của một bà mẹ” [11, 931] Hình ảnh Chiếc cáng xanh ẩn hiện trong
trí nhớ của tác giả như một thời rực rỡ, êm đềm của gia đình Quê ngoại hiện lên khi êm đềm,
có khi cũng đầy sóng gió Hình ảnh người mẹ tần tảo hiền dịu hiện về trong kí ức như níu kéo,
như day dứt, nhớ thương: “Ngồi trên chiếc cáng xanh với mẹ tôi, tôi quên làm sao được đôi mắt
trong xanh của mẹ tôi, với cái nhìn hiền lành âu yếm!” [11, 957]
Dòng họ là nơi những kí ức tuổi thơ hiện về nhiều nhất Tác giả hình dung về sự ra đời
của mình: “Tôi đoán biết được cái cách người ta sửa soạn cho tôi ra đời… Tôi biết chắc là không
khí đầu tiên tôi được hít khi mới được bước vào cõi đời, ấy là một không khí hoàn toàn An Nam”
[11, 1106] Sống trong gia đình có con nhiều phòng, với mối quan hệ phụ hệ phức tạp, Cọt (tên gọi của nhân vật Tôi) đã sớm cảm nhận được cái đau thương của người lớn: “ấy cái sự đau xót
của mẹ tôi vẫn lấy cái sự con năm bảy phòng của thầy tôi làm điều đau xót của mình Bận nào
mẹ tôi khóc than thì cũng vì những sự xích mích giữa các mẹ tôi hay giữa các con khác mẹ của thầy tôi” [11, 1113]…“Mà tôi thầm lặng chứng kiến nỗi đau thương của hai thân tôi Lời nói tôi đây không phải là lời nói ngoa, cái nhân loại lớn lao kia có thể đau xót thế nào thì đứa bé kia cũng đau xót nhường ấy” [11, 1116]
Tuổi thơ gắn với đất ruộng, với những lần đi bẫy chim sả, đi bắt cá, đi ăn năn, đi thả diều
của tác giả Kí ức còn hiện về trong nỗi nhớ về những kiến trúc chạm trổ nơi đình làng: “Không
mấy đêm là tôi không nằm mê thấy kì lân hay cọp đuổi Mà có lẽ là con cọp của bác thợ Nề Đời tôi sau này đã bao lần thấy cọp, những con cọp thật, nhưng chưa có con cọp nào hung dữ như con cọp ấy của tuổi ấu thơ Mỗi khi ở Hà Nội về, đi qua đình tôi thường đứng lại ngắm nghía con cọp ấy của tuổi trẻ, của bác thợ Nề Nhưng con cọp ấy đã mờ hẳn, dưới lớp rêu xanh, đã trở nên hiền lành dưới thời gian, nhưng mà nó vẫn còn linh động, vẫn hung dữ ở trong tưởng tượng của tôi” [11, 1143]
Hồi ức của tác giả còn hướng về những ngày đến trường Cậu bé Cọt hết học trường làng lại lên trường tỉnh, thôi học chữ Hán sang học chữ Tây Đó là nét riêng, nét trong sáng của nhân vật trong truyện của ông
Đó còn là nỗi tiếc thương ngậm ngùi pha chút lo sợ của thi sĩ Liên (Em là gái bên song
cửa) khi nghe tiếng gà gáy: “Đời tôi chỉ có hai lần buồn não nhất, ấy là hai lần được nghe tiếng
gà gáy Một lần vào giữa ban ngày, một lần vào gần nửa đêm
Cái lần giữa ban ngày chính là cái lần cách đây đã bốn năm, vào một ngày giữa mùa hạ… Tiếng gà ban trưa ấy làm cho tôi sực nhớ lại những cơn nắng xanh rờn trong thời niên thiếu” [11, 1048]
Nhớ về dĩ vãng đầy ám ảnh nhưng nhân vật của Lưu Trọng Lư không “tiêu cực” Quay trở về quá khứ để hướng đến tương lai Nỗi buồn quá khứ soi chiếu cho hiện thực nhiều đắng cay cũng là một nỗi buồn trong sáng không bi lụy, bi thương
3 Trong sáng tác văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư trước năm 1945, chúng tôi thống kê được 34/54 tác phẩm viết về đề tài tình yêu Con số 63% quả là tỉ lệ không nhỏ, điều này phù hợp với xuất phát điểm của một thi sĩ lãng mạn viết văn xuôi Tình yêu là một loại tình cảm rất đặc biệt và khá phức tạp của cuộc sống con người Diện mạo của tình yêu tuỳ vào quan điểm thẩm
mĩ, văn hoá, xã hội của từng thời kì, của từng tác giả mà hiện ra cũng rất khác nhau Với Lưu Trọng Lư, ông đã diễn tả tình yêu ở nhiều góc độ, các nhân vật trong tác phẩm của ông chìm đắm trong bể tình Nếu các nhà văn Tự Lực văn đoàn đặt ra một vấn đề rất mới mẻ trong tình yêu nam
nữ, đó là vấn đề đấu tranh cho luyến ái và hôn nhân tự do, họ có thể hi sinh hạnh phúc cá nhân
Trang 203
chỉ cần người mình yêu được vui vẻ, thì các mối tình trong truyện của Lưu Trọng Lư đều có kết
cục thương tâm Đây là cơ sở để ta nói đến mô típ ái tình là bể khổ xuất hiện trong nhiều truyện
của ông
Nhà thơ Liên và nữ sinh Cẩn (Em là gái bên song cửa) cùng đi chung một chuyến tàu từ
Huế ra Hà Nội Hai người quen biết nhau, thân thiết nhau, rồi yêu nhau trong không gian phố
cũ Hà Thành chật hẹp Hai người trao đổi với nhau qua một sợi dây Đó là phương tiện nối liền hai cửa sổ, gắn kết hai tâm hồn Nhưng rồi Cẩn phải từ bỏ tình yêu, từ bỏ Hà Nội trở về Huế để nhận lỗi trước gia đình và tự kết liễu đời mình, chỉ vì nàng đã trót yêu một thi sĩ đã có vợ con
Hải và Lan (Gió cây trút lá) đã bước qua được ranh giới của một thầy thuốc con quan và
một cô kĩ nữ trên sông Hương để có những ngày sống êm đềm bên nhau Lan là cô gái tân tiến thích đọc tiểu thuyết Pháp, cô say sưa đọc truyện “Romeo và Juliet”; Hải hết sức chạy chữa cho bệnh hen của Lan mau khỏi Sau khi tình cờ nghe được câu chuyện giữa Hải và cha, cô quyết định ra đi và chết trong đau đớn trên dòng sông Hương
Cô bé hái dâu phải sống trong đau khổ và dằn vặt, bởi vì chính cô đã bồng bột chạy trốn
cuộc tỏ tình trong động Phong Nha, cô đã đánh mất tình yêu trong phút chốc Qua những bức thư
cô gửi cho bạn, cô đã bộc lộ hết nỗi đau khổ và ân hận của mình
Mối tình nơi thôn dã giữa Đối và Vịnh bắt nguồn từ sự đồng cảm Những kỉ niệm trong rừng sim, những buổi chiều chăn trâu thổi sáo của hai người diễn ra thật đẹp Nhưng kết cục thật đau thương, bị cha mẹ ngăn cản, Đối bỏ lên nguồn làm ăn Vịnh ở nhà mang bầu, bị làng phạt vạ phải làm vợ thằng Mõ Đối chết ở nơi tha phương, còn Vịnh ôm hận nuôi con là câu chuyện tình
bi thương của đôi trẻ nơi thôn quê trong Khói lam chiều
Thiệu (Bến cũ) qua những lần theo thầy mẹ về quê ngoại đã quen và yêu Quỳnh, cô gái
quê theo Công giáo Sau khi Thiệu được bổ làm quan, được cha mẹ cưới cho cô vợ con nhà danh giá, anh không dám phản kháng, anh vẫn âm thầm yêu, lặng lẽ tìm gặp Quỳnh Qua những bức thư vụng trộm, hai người đã toan bỏ quan, bỏ đạo để trốn đi với nhau, nhưng khi Thiệu đến như
đã giao hẹn thì Quỳnh đã tự tử bằng thuốc độc
Tiên và tục là hai cõi hoàn toàn khác nhau Chàng tiều phu lấy được vợ tiên, sau bảy năm trời chung sống, có được với nhau một mặt con Rồi, người vợ quay lại kiếp tiên, lặng lẽ trốn về trời để lại đứa con thơ và người chồng tội nghiệp nơi trần thế Ngày này qua tháng khác, chàng
tiều phu bế đứa con thơ mãi miết đi tìm vợ, tìm mãi: “Đi cho cái đầu xanh ở trên tay tôi chừng
nào hoá ra bạc” [10, 147]
Một anh mù làm nghề hát xẩm và một cô gái đẹp, có tài thổi sáo con nhà quan đã tìm một nơi hẻo lánh để có những ngày sống hạnh phúc trong tình yêu và âm nhạc Nhưng, cô gái mắc bệnh rồi qua đời để cho người xẩm sống những ngày còn lại trong cô đơn và thương tiếc Đó là
câu chuyện tình vượt qua ranh giới của giai cấp trong tiểu thuyết Tàn một kiếp
Đọc tác phẩm của Lưu Trọng Lư, hai tiếng Ái tình được tác giả nhắc đi nhắc lại như một nỗi
ám ảnh Ái tình trong sạch, ái tình nồng nàn, ái tình rào rạt, ái tình vẩn vơ; vị ái tình, thiếu ái tình,
thần lực của ái tình; ái tình là sự siêu độ, ái tình mới là cái nguồn bất tận của ánh sáng, của tươi vui Vấn đề tình yêu nam nữ trong sáng tác của Lưu Trọng Lư là một vấn đề khá mới mẻ, họ muốn
vươn đến một tình yêu tự do và cao cả, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc của mình để cho người yêu được hạnh phúc Dù tình yêu đó có bị ngăn cản, không đến được với nhau nhưng nếu là một tình yêu thật
sự thì nó mãi là tình yêu
4 Văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư đặc biệt phổ biến mô típ nổi loạn, nhưng đó là sự nổi
loạn nửa vời Các nhân vật nổi loạn nửa vời này là những người chịu ảnh hưởng luồng gió mới từ
Trang 214
phương Tây, ảnh hưởng của văn hoá Pháp Họ thường xuất thân trong gia đình quan lại, nhưng được học trường Pháp Việt, biết tiếng Pháp, sớm hoà nhịp với văn minh phương Tây Cô Nhung thích tới rạp để xem cô đào Sydney nổi tiếng, Nhung càng xem kịch càng mê mẩn đến nỗi bản
thân cô như đang nhập hồn mình vào vai diễn: “Nhung đã bắt đầu quên mình, quên cảnh xung
quanh mình, và thấy phiêu lưu trong cảnh trời trong sáng nhí nhỏm của nước Nhật Bản” [10,
361] Nhung thích viết nhật kí và có mối tình tuổi học trò trong sáng với Đông Cô Nguyệt cũng
là gái tân thời, trọ học ở nhà cô dượng Học ở trường Đồng Khánh, cô yêu Thanh, tình yêu tuổi học trò
Cô Nhung và Cô Nguyệt, ngỡ rằng sự tân thời của hai cô là động lực để hai người đấu tranh cho một tình yêu tự do, nhưng Nhung đã lặng lẽ xa Đông để theo cha vào Huế làm vợ một ông quan trẻ Còn Nguyệt cũng chẳng hơn gì, cô nhắm mắt đưa chân làm vợ lẽ cho ông dượng là chồng của cô mình Từ hai cô gái hiền lành, sống sôi nổi, có cá tính khi trở thành những bà mệnh phụ lại ngoan hiền hơn xưa
Huy (Từ thiên đường đến địa ngục) là chàng trai đã cảm nhận được tư tưởng mới của thời đại
đó là chủ nhĩa Mã Khắc Tư Chàng và vợ đều sống theo cách sống tân thời, thích đi xem phim rạp, sống cuộc sống tự do trong quan hệ vợ chồng Nhưng khi bị mẹ can thiệp, ngay lập tức Huy bỏ quan,
bỏ vợ và thoát li gia đình để đi tìm lí tưởng mới Vợ chồng Lương (Cô gái tân thời) cũng vậy, đam
mê nghề làm báo, cả hai vợ chồng chạy theo thời cuộc lần lượt mở những tờ báo cho riêng mình Khả năng kém cỏi không thể cạnh tranh trước các tờ báo khác, Lương đóng cửa toà soạn, tờ báo của Vinh đang lúc ăn nên làm ra, lại là chỗ dựa cho một phong trào nữ quyền đang lên, vậy mà cô nghe chồng cũng đóng cửa tờ báo Hai vợ chồng quay trở về sống cuộc sống của những tay trọc phú ham lạc thú,
ít lí tưởng Sự thoát li gia đình của Huy, hay mở toà soạn báo của vợ chồng Vinh là một sự nổi loạn nửa vời, nông nổi, tuỳ hứng Huy xa gia đình, ngỡ rằng sẽ tìm được lí tưởng cho cuộc đời mình Nhưng thực tế, anh đã rơi vào cuộc sống trụy lạc bên bàn đèn thuốc phiện và gái giang hồ Một năm sau, Huy quay về thì vợ đã mất, còn mình thì thân tàn ma dại
5 Trong cảm hứng sáng tạo của những nhà lãng mạn, thiên nhiên là đề tài chủ đạo Đối
với nhiều nhà thơ đầu thế kỉ XIX, thiên nhiên là hiện thân xác thực của Thượng đế Nhưng đối với phần lớn các nhà lãng mạn, khung cảnh thiên nhiên phơi bày trước hết cho chính con người:
mùa thu và cảnh tà dương là hình ảnh của cuộc đời về chiều, trong khi ngọn gió rền và cây sậy biết thở than tượng trưng cho cảm xúc của nhà thơ Thiên nhiên còn là nơi chốn nghỉ ngơi và tĩnh
tâm Về với thiên nhiên, người ta quên đi bộ mặt xã hội, quên đi những phiền nhiễu của thế gian Đến trào lưu văn học lãng mạn, Thơ mới đã có những thay đổi rất cơ bản trong việc miêu tả thiên nhiên Thiên nhiên được miêu tả chân thực hơn, cái đẹp của cảnh vật trong đời sống hàng ngày đã được phát hiện và đưa vào sáng tác thi ca Tình cảm thiên nhiên trong Thơ mới thì hết sức chân thật Lưu Trọng Lư có thể thổ lộ tâm tình dễ dàng với thiên nhiên như với một người bạn tâm giao Xuất thân là một nhà thơ lãng mạn, khi bước sang lĩnh vực văn xuôi, ông mang theo cả bức tranh thiên nhiên vào trong sáng tác của mình Cảm xúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhà văn không chỉ để thoát li thực tại mà tìm đến nó như một người bạn để tâm sự, để chia sẻ nỗi niềm
Trong những trang văn của Lưu Trọng Lư, ta thấy thấp thoáng hình ảnh của ánh trăng, của mùa thu, của sông Hương, núi Ngự, của động Phong Nha, của hồ Tây, chùa Thầy, chùa Láng
Trăng trong van xuôi của ông đầy thi vị làm tôn thêm vẻ đẹp của tạo vật: “Trăng đã lên trên đầu
ngọn tre cồn, đỏ như mặt một thiếu nữ cạn xong cốc rượu tối tân hôn Ánh trăng dần dần từ chỗ nồng nàn ngả xuống màu êm dịu Một cái êm dịu mát rượi như làn da mịn Cái vườn cây, dưới ánh trăng, trở nên bao la… và những sắc đẹp của những bông hoa trở nên mơ màng và kín đáo Mọi vật đã mất hết vẻ rõ ràng, bộc lộ, mà trùm khoác một màu u huyền đầy thi vị Con Sông Hương, từ nhà mát trông xuống, trắng xoá và óng ánh như một dải lụa” [10, 684]
Trang 225
Sông Hương, núi Ngự, núi Thiên Thai, đất Cố Đô thơ mộng cũng được Lưu Trọng Lư
nhắc đến:“Xưa nay, núi Ngự và sông Hương đã làm nên danh tiếng cho đất đế đô
Thiên Thai! Tuy rằng chốn thắng cảnh ấy mượn cái tên đầy thi vị của một cái động tiên, nhưng mà nó vẫn có cái phong cốt của một ông võ tướng lẫm liệt ở trên mình ngựa, tay múa ngọn gươm sáng quắc” [10, 161 - 162] Động Phong Nha lộng lẫy: “Động chính là một hòn núi trổ ra một dòng nước Ở đây không còn là cái động nữa: ta có cái cảm giác là lạc bước vào cái cung điện nguy nga lộng lẫy của các hàng vua chúa giàu sang nhất trong thiên hạ” [10, 423]
Thiên nhiên là một trong những nguồn cảm hứng lớn nhất của chủ nghĩa lãng mạn Vì thế, hầu hết nghệ sĩ lãng mạn đều say sưa kiếm tìm vẻ đẹp ở trong đó Thiên nhiên như một khoảng trời trong trẻo, thanh sạch ru dịu những tâm hồn lãng mạn đang bất hoà sâu sắc với cuộc sống ngột ngạt, tù túng Họ coi nó là người bạn để sẻ chia tâm sự Lưu Trọng Lư là nhà văn nằm trong dòng chảy đó
6 Lưu Trọng Lư là tác giả đóng góp nhiều trong phong trào Thơ mới và ông cũng thành công ở lĩnh vực văn xuôi Khi khảo sát mảng văn xuôi của ông sáng tác trước 1945, người đọc ít nhiều nhận thấy một đặc thù góp phần quan trọng tạo nên phong cách văn xuôi của tác giả này,
đó là ông tập trung vào một số mô típ Những mô típ chúng tôi khảo sát nêu trên góp phần tạo nên nét riêng, độc đáo trong phong cách Lưu Trọng Lư với vai trò là nhà văn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
2 Lại Nguyên Ân (2011), “Văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư”, Lưu Trọng Lư Tác phẩm - truyện
ngắn, tiểu thuyết, tập 1, Nxb Lao động - Trung tâm Văn hoá - Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội
3 Huy Cận - Hà Minh Đức (chủ biên, 1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
4 Nguyễn Đình Chú (1987), Cần nhận thức đúng thời kì văn học 1930 - 1945, Nxb Văn học,
Hà Nội
5 Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội
6 Hà Minh Đức - Nguyễn Văn Thành (sưu tầm, biên soạn - 2007), Lưu Trọng Lư Về tác gia và
tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội
7 Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2010), Từ điển thuật ngữ văn
học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
8 Phạm Khải (2011), “Tiếng thu còn mãi”, Văn nghệ Công an, (154), ra ngày 20/6
9 Lưu Trọng Lư (2011), Tác phẩm - truyện ngắn, tiểu thuyết, tập 1 (Lại Nguyên Ân - Hoàng
Minh sưu tầm, biên soạn), Nxb Lao động - Trung tâm Văn hoá - Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội
10 Lưu Trọng Lư (2011), Tác phẩm - truyện ngắn, tiểu thuyết, tập 2 (Lại Nguyên Ân - Hoàng
Minh sưu tầm, biên soạn), Nxb Lao động - Trung tâm Văn hoá - Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội
11 Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội
12 Hoàng Phê (chủ biên, 2004), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng
Trang 24Từ khóa: Song thất lục bát, ngâm khúc, thi ca, thi đàn, nội dung, chức năng, thi pháp
ABSTRACT
Song that luc bat (STLB) and ngam khuc is pure Vietnamese two basic categories of medieval poetry Vietnam During its campaign and development, STLB and ngam khuc has been interacted together and created a magic "marriage" The STLB combined with ngam khuc has contributed to Vietnam medieval literary Forum a unique genre for the next generation of the
classic works of merit as both content scope, functions and enforcement
Keywords: Song that luc bat, ngam khuc, poetry, Forum, content, functions, enforcement
1. “Thể loại văn học là nơi thể hiện rõ nhất đặc trưng loại hình văn học Mỗi một loại hình văn học có một hệ thống thể loại riêng Có thể thấy đây chính là phương diện phân biệt rõ nhất hai loại hình văn học trung đại và hiện đại Lịch sử văn học về một phương diện quan trọng là lịch sử của loại và thể loại văn học Văn học trung đại Việt Nam hiện diện qua một hệ thống thể loại bề bộn, chồng chéo, ngổn ngang, độc đáo, phong phú, ” [1, 38 – 39] Thể trong loại, loại
trong thể là những hiện tượng trong văn học Và hai thể loại song thất lục bát và ngâm khúc trong
văn học Việt Nam trung đại là một hiện tượng như thế
Song thất lục bát (STLB) là thể thơ thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ ca dao, dân ca Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào khẳng định STLB ra đời chính xác vào thời gian nào Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy vào khoảng cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam trung đại xuất hiện một hiện tượng lạ Đó là sự góp mặt lần đầu của hai thể thơ lục bát và thể thơ STLB trên thi đàn, mà vốn dĩ trong một thời gian dài trước đó là sự chiếm lĩnh độc tôn của một số thể loại du nhập từ Trung Hoa Ngay từ lúc manh nha, STLB hiện diện trong
tác phẩm Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào của Lê Đức Mao (1462-1529):
Rồi từ đó nhờ ơn cấp túc Tiếng quản huyền nô nức nhân gia Năm năm mở tiệc xướng ca
Đào dâng hai chữ “Tam đa” mừng làng
Có thể xem đó là những dòng STLB thành văn cổ nhất Trong thơ ca Việt Nam trung đại, thể loại này tiếp tục phát triển cho đến những thập niên đầu của thế kỉ XX
(*) ThS, Đại học Lâm nghiệp cơ sở 2, Thị trấn Trảng Bom – Đồng Nai
Trang 252
2 Đơn vị cơ bản của thể STLB là một tổ hợp (hay khổ) gồm 4 câu, trong đó có 2 câu
thất ngôn và câu lục bát (1 câu 6 chữ và một câu 8 chữ) Nếu 2 câu thất ngôn đi trước rồi tiếp đến
là câu lục bát được gọi là STLB Ngược lại, nếu câu lục bát đi trước, tiếp theo là 2 câu thất ngôn, gọi là lục bát gián thất Mô hình hiệp vần chuẩn của một đoạn STLB tiêu biểu được Phan Diễm
Phương trong Lục bát và song thất lục bát, Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại, xác định như
sau:
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng rượi rượi buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
(dòng 25- 32, Chinh phụ ngâm – (Bản dịch Nôm) của Đoàn Thị Điểm)
Chữ cuối câu thất trên vần với chữ thứ (5) câu thất dưới, chữ cuối câu thất dưới vần với chữ cuối câu lục, chữ cuối câu lục vần với chữ thứ (6) câu bát và chữ cuối câu bát vần với chữ thứ (5) (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo Cứ như thế, mô hình hiệp vần lặp kéo dài không giới hạn
Về nhịp điệu, thể thơ lục bát nhịp điệu khá đa dạng, nhưng thể STLB có hai câu song thất bao giờ cũng ngắt nhịp theo lối 3/4 (thơ Đường luật 4/3) nên những khổ thơ STLB nối tiếp nhau tạo thành âm hưởng có tính chất chu kì Vì thế những bài thơ STLB càng kéo dài càng dễ có cảm
giác đều đều và buồn Cũng theo Phan Diễm Phương, có thể chia sự phát triển của thể STLB
thành ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn thứ nhất (khoảng cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVII), xuất hiện hai tác phẩm là
Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào của Lê Đức Mao và Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sỹ
Khải Thể thơ STLB chưa bị một ý thức cách luật chặt chẽ, ràng buộc Nó hoạt động một cách tự
do Giai đoạn thứ hai (nửa đầu thế kỉ XVII đến thế kỉ XVIII), với sự góp mặt của ba tác phẩm
Thiên nam minh giám, Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm, thể thơ STLB đã đi vào xu hướng ổn
định, ngoại trừ vần điệu của tiếng thứ (3) và tiếng thứ (5) dòng thất trên Giai đoạn thứ ba (thế kỉ XIX đến những năm 20 của thế kỉ XX), thể thơ STLB đã đi vào ổn định và trở thành khuôn mẫu
Có thể nói đây là giai đoạn rực rỡ nhất của thể STLB với nhiều tác phẩm còn lưu lại với thời gian
như: Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến, Hải ngoại
huyết thư – bản dịch của Lê Đại (nguyên tác bằng chữ Hán của Phan Bội Châu)…
3 Trong quá trình vận động và phát triển, STLB luôn tìm kiếm và khẳng định những chức
năng và nội dung riêng làm nên nét đặc thù của thể loại Từ thế kỉ XVII-XVIII, khi lục bát đang phát huy vai trò tự sự trong các truyện Nôm, STLB cũng thực sự tìm được mảnh đất màu mỡ mà
ở đó, nó có thể phát huy một cách tốt nhất khả năng trữ tình, đó là ngâm khúc Theo Bùi Văn Nguyên, “nếu thể lục bát được áp dụng một cách thích đáng vào truyện thơ thì STLB với sắc thái riêng của nó, lại được chọn cho lối ngâm khúc” [3, 235] Lục bát lợi dụng cấu trúc để kéo dãn bài
thơ đến vô cùng nhằm thích ứng với vai trò kể chuyện, còn STLB lại khai thác ưu thế về các yếu
tố vần, điệu, cũng như tổ hợp các dòng để thể hiện nội dung của ngâm khúc
Những tác phẩm ngâm khúc thuộc loại hình trữ tình phần lớn cũng giống như các bài thơ
Đường luật Nhưng các bài thơ Đường luật chỉ diễn tả một khoảnh khắc của tâm trạng, một cảm xúc trước thiên nhiên, một nỗi buồn thoáng qua nhưng thấm thía, một mối u hoài mơ hồ, mênh
mông… Còn ngâm khúc thì diễn tả cả một tâm trạng phong phú, phức tạp, nhưng nói chung là
Trang 263
đứng yên, không phát triển Với đối tượng phản ánh như vậy, nếu nhà thơ không có sự hiểu biết sâu sắc về tâm lí, không có một nghệ thuật cao sẽ rất dễ rơi vào tình trạng tẻ nhạt, đơn điệu
Thành công lớn của các khúc ngâm là ở chỗ tác giả biết cách khai thác tâm trạng và biết cách sử
dụng những thủ pháp xây dựng hình tượng cho phù hợp với những đặc điểm tâm trạng ấy, tạo thành một hệ thống thi pháp cụ thể, riêng biệt của thể loại Ở đây, đáng chú ý là việc sử dụng thể
thơ STLB Phải nói rằng, trong các thể thơ của dân tộc, không một thể thơ nào phù hợp với ngâm
khúc bằng thể STLB STLB là thể thơ duy nhất mà đặc điểm của nó là nhịp điệu có tính chất chu
kì Điều đó thích hợp với việc miêu tả một đối tượng có tính chất đứng yên, ít biến động Trong
các tác phẩm ngâm khúc hình tượng phong phú chủ yếu ở bề dày chứ không phải ở bề cao và nó
phát triển xoay quanh những tâm điểm, chứ không phải xoay quanh những trục có tính chất tuyến
tính Điều đó đưa đến kết quả là trong loại hình ngâm khúc, kết cấu đăng đối được sử dụng một
cách hết sức phổ biến
Kết cấu đăng đối và trùng điệp là một kết cấu phổ biến trong trong thơ cổ nói chung Nó làm thành một nét đặc thù có tính cách lịch sử của thi pháp cổ Chẳng hạn, trong thơ Đường luật, những câu thực và câu luận đối nhau từng đôi một:
Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
(Qua Đèo Ngang - Bà huyện Thanh Quan)
Còn ở thơ lục bát, câu lục và câu bát đều có những khả năng tiểu đối Thể lục bát còn tạo
ra những kết cấu trùng điệp Nhưng trong lục bát, hình thức tiểu đối đa dạng và linh hoạt; còn kết cấu trùng điệp khi cần thiết vẫn được tác giả khai thác triệt để, chứ không tồn tại phổ biến:
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
(Truyện Kiều – Nguyễn Du) Trái lại, thơ STLB của ngâm khúc thì khác hẳn Trong STLB, hai câu thất có thể đối nhau;
câu lục và câu bát đều có khả năng tiểu đối và kết cấu trùng điệp Ở thể thơ này, có thể được thực
hiện từ những yếu tố nhỏ nhất là từ, nhóm từ, đến câu và mấy khổ thơ liền Bản dịch Chinh phụ
ngâm là một ví dụ tiêu biểu Trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc, tác giả sử dụng đầy đủ kết
cấu đăng đối và trùng lặp nhưng liều lượng vừa phải nên tác phẩm vẫn thanh thoát Bên cạnh
những câu đối cho trang trọng, Chinh phụ ngâm khúc lại có nhiều câu không đối để cho mạch thơ
hồn nhiên Bên cạnh những câu thơ trùng điệp để nhấn mạnh, gây ấn tượng, lại có nhiều câu thơ
không trùng điệp tạo sự lưu loát, bay bổng, liên tục Chinh phụ ngâm sử dụng thi pháp cổ nhưng
không bị cầm tù trong thi pháp ấy:
Trang 27tác Phan Diễm Phương đã đưa ra tư liệu dẫn chứng để so sánh vấn đề này Trong cuốn Chinh
phụ ngâm bị khảo, nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn cho in ba bản phỏng dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn Cả ba bản đều có những dòng lục bát điêu luyện, trong đó
bản sát với văn bản, được trích dẫn một số đoạn đặt cạnh đoạn song thất tương ứng để đối sánh
Để diễn tả tâm trạng của người phụ nữ trong buổi tiễn chồng ra trận, đoạn lục bát viết:
Tấc niềm vò võ đòi phương Hàm Dương chàng ngắm, Tiêu Tương thiếp ngừng
Tiêu Tương khói toả nghìn trùng Hàm Dương cây cũng ngất chừng thẳm sâu
Xanh xanh nọ khóm ngàn dâu Nỗi chàng, nỗi thiếp đong sầu dường bao
Đoạn STLB (theo bản hiện hành chúng tôi sử dụng làm đối tượng so sánh) là:
Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại, Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Về cấu trúc tổ chức lời văn nghệ thuật, chúng ta không cần bàn thêm, bởi cả hai đều điêu luyện
“mười phân vẹn mười” Song, vấn đề chuyển tải nội dung và khắc hoạ tâm trạng thì đoạn STLB so với đoạn lục bát ở trên không phải không có sự khác biệt Theo chúng tôi, thể STLB chiếm ưu thế nổi trội hơn trong việc thể hiện tâm trạng so với thể thơ lục bát bởi sự xoắn xuýt âm, vần, nhịp điệu và sự trang nhã của nó
Không chỉ so với thơ lục bát mà so với các thể thơ khác, STLB cũng tạo ra một dấu ấn
riêng biệt Chẳng hạn, trong Chinh Phụ ngâm nguyên tác, Đặng Trần Côn viết theo lối nhạc phủ,
Đoàn Thị Điểm dịch sang Nôm bằng thể STLB rất thành công Nhờ bản dịch này mà người ta
biết nhiều đến Chinh phụ ngâm hơn Điều này được Trần Minh Thương trong Thể loại ngâm
khúc hình thức Song thất lục bát trong văn học Việt Nam trung đại làm rõ Ở đây, chúng tôi xin
dẫn một đoạn để minh hoạ
Nguyên văn trong đoạn đầu nguyên tác của Đặng Trần Côn có ba dòng:
Trang 285
Thiên địa phong trần Hồng nhan đa truân
Du du bi thương hề thùy tạo nhân?
Đoàn Thị Điểm dịch Nôm đoạn trên là:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Qua đoạn thơ dịch trên, người đọc có thể cảm nhận chất trữ tình và sắc thái trang nhã mà rất gần gũi, rất riêng biệt của thể STLB
4 Có thể nói, nếu lục bát kết duyên cùng truyện Nôm thì STLB kết duyên cùng ngâm khúc STLB hầu như được sinh ra để trở thành hình thức chuyên dụng cho những áng thơ trữ tình trường thiên STLB có khả năng độc đáo trong việc diễn đạt nội dung trữ tình Hai thể loại ngâm khúc và STLB có mối quan hệ gắn bó với nhau STLB đã khai thác ưu thế của mình là âm điệu đều đều, trầm lặng, khổ thơ lặp lại có tính chất chu kì với những vần chân, vần lưng kết dính, xoắn xuýt với nhau đã trở thành ưu điểm nổi bật để diễn tả tình cảm đau buồn, u uất triền miên
của các khúc ngâm Vì vậy, phần lớn những tác phẩm ngâm khúc trữ tình nổi tiếng của văn học Việt Nam trung đại như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Tự tình khúc, Thu dạ lữ hoài ngâm…
đều được sáng tác hoặc được dịch bằng thể thơ này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Biện Minh Điền (2009), “Vấn đề phân loại thể loại văn học trung đại Việt Nam”, trong sách
Một số vấn đề văn học và ngôn ngữ trong nhà trường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Phan Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
3 Bùi Văn Nguyên – Hà Minh Đức (2003), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội (tái bản), Hà Nội
4 Trần Minh Thương (2009), Thể loại ngâm khúc hình thức song thất lục bát trong văn học
Việt Nam trung đại
* Nhận bài ngày 20/2/2013 Biên tập xong: 15/4/2013 Duyệt đăng : 18/4/2013
Trang 29MỘT SỐ HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ TRÊN LỚP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY ĐỌC – HIỂU
THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TÓM TẮT
Hoạt động ngoài giờ văn học bao gồm bước: học sinh chuẩn bị bài ở nhà dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên (GV); các hoạt động ngoại khoá; sự đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá Đó là những giải pháp quan trọng và thiết thực nhằm nâng cao tính chủ động sáng tạo của học sinh (HS) trong các giờ học văn nói chung và giờ đọc - hiểu thơ trữ tình hiện đại nói riêng Nếu chúng ta biết kết hợp linh hoạt các hình thức học tập trên với các khâu, các phương pháp và hình thức dạy học trên lớp thì chắc chắn sẽ tạo được những hiệu quả tích cực trong việc dạy học thơ trữ tình hiện đại Bài viết chỉ ra tầm quan trọng và hiệu quả giáo dục của các hình thức dạy học ngoài giờ trên lớp trong việc dạy học thơ trữ
tình hiện đại trong nhà trường phổ thông hiện nay
Từ khoá: thơ trữ tình, , hoạt động ngoại khoá, kiểm tra, đánh giá
ABSTRACT
Activities outside of class hours include students’ lesson preparation under teachers’ organization and instruction, extracurricular activities on literature as well as the various forms of exams and assessment These are the important and practical solutions in order to raise students’ initiative and creativeness in literature class in general, and in reading comprehension time of modern lyrical poetry in particular If we know how to combine above studying forms with teaching methods and teaching forms in class time which are implemented under teachers’ instruction as well as students’ active participation and self- awareness; mutual relations and multiple relations will be created among teachers, authors and students, students and students in a harmonized positive aesthetic atmosphere from the studying of modern lyrical poetry This essay shows the educational importance and effectiveness of studying forms outside of class hours in teaching modern lyrical poetry at high schools
Keywords: lyrical poetry, lesson preparation, extracurricular activities on literature,
exams and assessment
Hoạt động ngoài giờ văn học bao gồm các bước: HS tự chuẩn bị bài ở nhà dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên GV; các hình thức hoạt động ngoại khoá; sự đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá Những giải pháp quan trọng và thiết thực này giúp nâng cao tính chủ động sáng tạo của học sinh trong các giờ học văn nói chung và giờ đọc – hiểu thơ trữ tình hiện đại nói riêng
1 HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ TÌM HIỂU VĂN BẢN THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI TRONG SÁCH GIÁO KHOA (SGK) TRƯỚC KHI LÊN LỚP
Học tập thực chất là một quá trình nhận thức và tự nhận thức của con người Muốn đi đến nhận thức, tất yếu phải chú ý khâu tổ chức nhận thức một cách khoa học và cụ thể Trong hoạt động dạy học, khâu chuẩn bị bài là một trong những khâu quan trọng, có vai trò không nhỏ đối với hiệu quả dạy học
Chuẩn bị bài ở nhà là bước tập dượt cho sự cảm thụ trên lớp được sâu sắc Bằng sự hiểu biết của bản thân, HS trực tiếp đi vào thế giới tác phẩm Trên cơ sở cảm thụ trực tiếp đó
(*) ThS, Trường Trung cấp Kĩ thuật Công nghiệp Đồng Nai
Trang 30của HS, GV sẽ khơi sâu, phát triển những ấn tượng đúng đắn, và loại trừ những cảm xúc hay suy nghĩ ban đầu còn lệch lạc, chủ quan về tác phẩm, tác giả hay một nhân vật, chi tiết nào đó…
Nội dung công việc chuẩn bị bài ở nhà của HS bao gồm nhiều mặt và đa dạng Đó có thể là tập đọc, tìm hiểu điển cố, điển tích, từ ngữ khó, hay suy nghĩ về một chi tiết nghệ thuật, một kiến thức cụ thể cần thiết có liên quan đến việc tiếp nhận tác phẩm Mục đích chủ yếu là nhằm khơi dậy hứng thú của HS đối với tác phẩm và hướng các em đến những vấn đề then chốt của bài học mà sau đó GV sẽ hướng dẫn đi sâu phát hiện ở trên lớp Câu hỏi chuẩn bị tuyệt đối không được tuỳ tiện Mỗi câu hỏi cho HS vừa có tác dụng khêu gợi hứng thú, vừa hướng dẫn đi vào thế giới trung tâm cảm hứng của tác giả, vừa có tác dụng chuẩn bị cho hoạt động khám phá của GV và HS ở trên lớp
Khi đến lớp, GV phải kiểm tra công việc chuẩn bị bài ở nhà của HS Đây không chỉ là một công việc thường lệ của người dạy trước khi bắt tay vào giảng dạy một tài liệu mới, mà còn là bước cần thiết Việc hướng dẫn HS khám phá bài văn chỉ thực hiện được một khi GV nắm chắc được tâm trạng HS trước khi bước vào bài học, tạo được một tâm thế thâm nhập tác phẩm là tạo được tiền đề tâm lí cần có cho quá trình tiếp cận và khai thác tác phẩm văn học
Thơ trữ tình hiện đại, do đặc trưng thể loại quy định hướng đi riêng trong cảm thụ và truyền thụ, ngoài những công việc chuẩn bị như tất cả các bài học khác như: Đọc diễn cảm, tìm hiểu phần tiểu dẫn và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa thì việc chuẩn bị bài ở nhà cho các tiết đọc – hiểu thơ trữ tình hiện đại cũng có những nét riêng, mang tính đặc thù Chẳng hạn, việc đọc diễn cảm cần phải yêu cầu đọc nhiều lần hơn, diễn cảm hơn, vì thơ trữ
tình hiện đại khá “tự do” trong kết cấu và câu chữ (chẳng hạn bài Đàn ghita của Lorca hay trường ca Đất nước)…, nếu không sẽ khó bắt được mạch cảm xúc
Việc học thơ trữ tình hiện đại thường được sắp xếp sau thơ trữ tình dân gian và thơ trữ tình trung đại nên đòi hỏi sự tích hợp tri thức ở một bước cao hơn Ví dụ: Học thơ Hồ Chí
Minh trong Nhật kí trong tù phải liên hệ với thơ Đường, thơ trung đại Việt Nam; học thơ trữ
tình cách mạng phải so sánh với thơ trữ tình lãng mạn… Vì vậy, HS phải xem lại nhiều kiến thức cũ trên tinh thần “ôn cố tri tân”
Việc chuẩn bị học thơ trữ tình hiện đại còn đòi hỏi HS phải quan tâm nhiều hơn đến bối cảnh lịch sử xã hội thời hiện đại đầy biến động, là bối cảnh hiện thực cho nhiều bài thơ trữ tình hiện đại ra đời Số lượng tác phẩm của các tác giả trong chương trình thơ trữ tình hiện đại cũng nhiều hơn hơn so với các tác giả trung đại, nên việc tìm kiếm tư liệu đọc thêm vừa là một điều thú vị, vừa là một thách thức với người học Chẳng hạn, để học một bài thơ của Xuân Diệu trong chương trình, HS phải tìm hiểu thêm về tác giả Xuân Diệu với vai trò tác gia văn học trong phần văn học sử với những tập thơ, văn xuôi, phê bình văn học, dịch thuật…
Cái tôi trong thơ trữ tình hiện đại thường có nhiều gương mặt, nhiều sắc thái biểu cảm, mang nhiều tâm sự khác nhau, nên trong sự chuẩn bị bài ở nhà, đòi hỏi HS cũng phải có sự đồng cảm, không phải bằng sự trải nghiệm thực tế mà bằng sự suy tư, cảm nhận tinh tế từ câu chữ, văn bản Vì vậy, việc chuẩn bị phải có thời gian và tâm thế, không thể vội vàng qua loa
Việc chuẩn bị chu đáo cho một giờ đọc – hiểu thơ trữ tình hiện đại đòi hỏi sự lao động khoa học nghiêm túc, tự nguyện và đầy cảm hứng của cả thầy và trò Đó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho một giờ học thành công
2 TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VỀ THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI
Hoạt động ngoại khoá là thuật ngữ dùng để chỉ các hình thức hoạt động kết hợp dạy học với vui chơi ngoài lớp, nhằm mục đích gắn việc giảng dạy, học tập trong nhà trường với thực tế xã hội Ngoại khoá là một hình thức hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp có tổ chức, có
Trang 31kế hoạch, có phương hướng xác định, được HS tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ lên lớp chính khoá dưới sự điều khiển, hướng dẫn của GV nhằm bổ sung, củng cố, mở rộng và nâng cao những kiến thức và kĩ năng bộ môn (trong đó có môn Ngữ văn) đã được học trong chơng trình chính khoá, đồng thời góp phần giáo dục HS một cách toàn diện Với cách hiểu như trên, ngoại khoá được xem là một hình thức dạy học quan trọng trong quá trình giáo dục, bổ trợ kiến thức, rèn luyện kĩ năng tự chủ, sáng tạo, năng động của HS, đem lại niềm vui
và kích thích hứng thú học tập cho HS
Cho đến nay, vấn đề ngoại khoá môn Ngữ văn đã được nghiên cứu trên cả bình diện lí thuyết và triển khai thực hành trong giảng dạy Tuy nhiên, hầu hết các giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn, SGK Ngữ văn vẫn chưa có sự đầu tư đúng mức cho chương “ngoại khoá” như các chương mục khác Vì thế, chưa thể tháo gỡ hết được những khó khăn về ngoại khoá cho cả người dạy lẫn người học
Như vậy, hoạt động ngoại khoá là một hình thức tổ chức học tập đặc thù, cần phân biệt với các hình thức dạy học khác Tổ chức hoạt động ngoại khoá không giống với việc bồi dưỡng HS yếu kém và HS năng khiếu Bởi lẽ, việc bồi dưỡng hai đối tượng HS này tuỳ thuộc tính chất và nhiệm vụ của từng trường hợp mà có tính bắt buộc nhiều hay ít Và chính vì không bắt buộc nên hoạt động ngoại khoá có thực sự phát huy được tác dụng hay không trước hết phụ thuộc vào sực hứng thú, say mê, lòng yêu nghề, vào sự nhận thức đầy đủ, chuẩn bị chu đáo và năng lực tổ chức sáng tạo của GV Việc động viên, khuyến khích các em tích cực tham gia hoạt động ngoại khoá không có nghĩa là GV giao phó hoàn toàn hoạt động này cho
HS Chỉ dưới sự điều khiển, hướng dẫn của người thầy, tất cả HS mới được cuốn hút vào cuộc chơi “Vui mà học, học mà vui” và HS phải được vui chơi thực sự thì hoạt động ngoại khoá mới có kết quả, mới phát huy được hết tác dụng
Để tổ chức thành công các buổi sinh hoạt ngoại khoá cần có nhiều yếu tố, trong đó ý tưởng sáng tạo của thầy và trò, sự nhiệt tình và tự nguyện tham gia của mọi thành viên, sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn linh hoạt của người thầy…, đặc biệt ở phần này, tố chất nghệ sĩ trong cả GV và HS là rất cần thiết Những tố chất này sẽ không còn ở dạng tiềm năng nữa mà phải thật sự được khai thức, được phát huy, phát lộ thành những năng lực, năng khiếu thật sự Với thơ trữ tình hiện đại, tính chất phong phú về số lượng, do sự gần gũi với người học về mặt thời gian, cảm nhận và cuộc sống, ta có thể có rất nhiều hình thức ngoại khoá hấp dẫn và
có hiệu quả
Tổ chức hoạt động ngoại khoá môn Ngữ văn GV có thể thực hiện như sau: GV có thể
tổ chức nhóm sáng tác học đường thường xuyên có sinh hoạt và ra mắt sản phẩm đầu tay của
HS như báo tường, nội san; GV có thể tổ chức cho các em những câu lạc bộ Thơ mới, câu lạc
bộ Thơ kháng chiến, câu lạc bộ Thơ trẻ đương đại… Trong những buổi này, có thể kết hợp với tất cả các nghệ thuật đọc thơ, ngâm thơ, bình thơ, sáng tác thơ, thả thơ…; GV cũng có thể kết hợp các câu lạc bộ thơ ca với câu lạc bộ âm nhạc, như tổ chức những đêm câu lạc bộ hát những bài thơ trữ tình hiện đại đang được học trong nhà trường được phổ nhạc và yêu thích
như: Đồng chí (Chính Hữu), Từ ấy (Tố Hữu), Viếng lăng Bác (Viễn Phương), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)…, hoặc câu lạc bộ theo chủ đề như Đêm thơ
– Nhạc Thơ mới, có thể vừa đọc, vừa ngâm, bình vừa hát những bài Thơ mới nổi tiếng đã
được các nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc như: Tiếng sáo Thiên Thai, Đây thôn Vĩ Dạ, Chiều, Chân
quê…; GV cũng có thể có liên hệ với các Hội Văn học nghệ thuật địa phương để tổ chức
những buổi giao lưu giữa các đơn vị, để HS và GV được tiếp xúc, tọa đàm, giao lưu, học hỏi với các văn nghệ sĩ; GV cũng có thể đề nghị các tạp chí văn học nghệ thuật, nhất là các tạp chí địa phương giúp đỡ các em viết bài viết nhỏ thuyết minh, giới thiệu, về các tác giả tác phẩm trong nhà trường, hoặc các tác giả, tác phẩm mới… Ngoài ra, GV còn có thể tổ chức các buổi chơi dã ngoại, ngoại khoá văn học về thăm quê hương, gia đình, nơi yên nghỉ của các nhà thơ được học trong chương trình, ngoài chương trình Ví dụ như ở Ba Vì thì có thể đi thăm quê Tản Đà, ở Quy Nhơn đi thăm mộ Hàn Mặc Tử, gặp gỡ nhà thơ Thanh Thảo ở quê
Trang 32nhà Quảng Ngãi, về Huế đi thăm mộ nhà thơ Thanh Hải, đi thăm quê Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, thăm thôn Vĩ Dạ bên bờ sông Hương… Nhìn chung, hoạt động ngoại khoá văn học gắn với thơ trữ tình hiện đại cũng phong phú không kém gì các chủ đề khác như văn học dân gian, văn học nước ngoài Đó vừa là hoạt động khoa học nghiêm túc, nhưng lại mang màu sắc sáng tạo nghệ thuật rất cao, giúp chúng ta đạt được nhiều mục đích giáo dục, nhất là phát huy được tính tích cực sáng tạo và yêu thích văn chương nghệ thuật, đánh thức, khêu gợi được những tiềm năng trong người HS
3 KẾT HỢP VIỆC DẠY HỌC – HIỂU THƠ TRỮ TÌNH VỚI CÁC HÌNH THỨC KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ
Kiểm tra - đánh giá được xem là khâu quan trọng của quá trình dạy học Sở dĩ như vậy
là vì kiểm tra - đánh giá là hệ quả tất yếu của việc đổi mới dạy học Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học bộ môn thì tất yếu phải đổi mới kiểm tra – đánh giá Với môn Ngữ văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra những định hướng đổi mới kiểm tra – đánh giá tương đối rõ ràng: Đổi mới kiểm tra theo hướng hạn chế lối ra đề tái hiện đơn thuần, ghi nhớ máy móc Trong quá trình dạy học, cần đổi mới kiểm tra – đánh giá bằng cách nêu vấn đề mở, đòi hỏi HS phải vận dụng tổng hợp kiến thức - kĩ năng, và trình bày ý kiến của bản thân Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của HS cần kết hợp một cách hợp lí hình thức tự luận với hình thức trắc nghiệm kết quả Trong đó, nhấn mạnh định hướng: đa dạng hoá các hình thức trắc nghiệm kết quả, tìm kiếm các hình thức ra đề phù hợp với đặc trưng môn học và thực tiễn dạy học ở địa phương Chính vì vậy, khi tiến hành dạy học thơ trữ tình hiện đại, khâu kiểm tra – đánh giá cũng cần đổi mới theo chiều hướng nói trên
Lâu nay, việc kiểm tra – đánh giá trong dạy học Ngữ văn nói chung còn nhiều bất cập Nguyên nhân là do một bộ phận GV còn chủ quan trong ra đề, hoặc hình thức ra đề chưa phong phú… dẫn đến HS chỉ học vẹt những phần kiểm tra hoặc học tủ Điều đó làm cho vốn tri thức tiếp nhận thu hẹp và yếu về kĩ năng Trước những hạn chế đó, GV cần xác định việc kiểm tra – đánh giá cho phù hợp với tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, tức là đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ vào chuẩn kiến thức – kĩ năng và thực tế học tập của HS
GV có thể sử dụng kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan (TNKQ) và tự luận hoặc cả hai hình thức đó Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng, nên cần có sự kết hợp một cách hợp lí các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của HS chính xác hơn Nên dùng TNKQ để kiểm tra việc hiểu biết, tự luận để kiểm tra khả năng phân tích, đánh giá và sáng tạo
Để vận dụng hình thức TNKQ vào dạy học văn, trước hết chúng ta cần thấy dược những ưu thế lẫn hạn chế của TNKQ Mặc dù với hình thức TNKQ, GV phải mất rất nhiều công sức và thời gian cho việc xây dựng bộ đề, bài TNKQ không thể giúp cho GV thấy được
HS phát huy năng lực tổng hợp trong vận dụng tri thức, cách diễn đạt ngôn ngữ và cảm xúc bằng ngôn ngữ viết hay ngôn ngữ nói như trong tự luận và vấn đáp, không cho phép người học thực hiện được các ý tưởng sáng tạo do câu trả lời TNKQ phải trong phạm vi các phương
án đưa sẵn Nhưng TNKQ có hiệu lực lớn trong việc hạn chế lối học tủ, giúp HS biết cách suy luận logic Từ đó, TNKQ giúp HS rèn luyện tư duy sắc bén và phán quyết nhanh nhẹn Về phía GV, TNKQ cho phép GV kiểm tra trình độ, năng lực và tư chất HS trên một phạm vi kiến thức rộng, việc đánh giá hoàn toàn mang tính khách quan, có thể vận dụng hình thức kiểm tra này vào mọi thời điểm dạy học và ít tốn thời gian kiểm tra, thời gian chấm điểm
TNKQ còn có một ưu thế lớn là có thể có nhiều dạng câu hỏi phong phú và linh hoạt hơn tự luận Sau đây là các dạng câu hỏi TNKQ thường gặp:
- Câu hỏi Đúng/Sai: Câu hỏi chỉ có 2 lựa chọn với xác suất 50/50 Đây là loại câu hỏi nhanh, phải trả lời lập tức;
Trang 33- Câu hỏi chỉ có duy nhất một lựa chọn phương án đúng nhất Có thể là câu có hình thức khẳng định hoặc hình thức phủ định;
- Câu hỏi nhiều lựa chọn: Đáp án có thể là hơn một phương án;
- Câu hỏi TNKQ kết hợp tự luận: Có một phương án là lựa chọn khác;
- Câu hỏi điền khuyết: Câu hỏi có những chỗ trống và học sinh phải điền vào chỗ trống những từ thích hợp từ những phương án cho sẵn hoặc bằng vốn tri thức văn học đã có;
- Câu hỏi ghép đôi: Câu hỏi này được thiết kế thành hai cột, mỗi cột là một nửa câu nên chưa hoàn chỉnh HS phải lựa chọn ghép hai vế bên hai cột để tạo thành một câu hoàn chỉnh và đúng
Bên cạnh hình thức trắc nghiệm, GV còn có thể sử dụng hình thức tự luận Đây là hình thức kiểm tra - đánh giá HS thông qua bài làm văn về những vấn đề học tập Kiểm tra bằng hình thức này HS dễ và hay học tủ Do đó, để tránh HS học tủ và kích thích sự sáng tạo của các em khi làm bài, GV cần và nên ra bài luận tổng hợp
Câu hỏi tự luận thực chất là dạng câu hỏi mở đòi hỏi HS tự xây dựng câu trả lời Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn hay dài Đánh giá về tính chất của dạng câu hỏi này, Trần
Bá Hoành trong cuốn Đánh giá trong giáo dục cho rằng dạng này được cho là chủ quan vì
việc đánh giá, cho điểm tuỳ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người chấm, từ khâu xây dựng đáp án, biểu điểm, xác định các tiêu chí đánh giá đến khi đối chiếu bài trả lời với đáp án, biểu điểm, các tiêu chí đã định Câu hỏi tự luận là phương pháp truyền thống được sử dụng phổ biến từ trước đến nay trong quá trình dạy học Câu hỏi thường ít về số lượng, và bộc lộ nhiều yếu tố chủ quan của người sử dụng kể từ khâu soạn thảo, sử dụng và đánh giá câu trả lời của
HS Câu hỏi tự luận có những ưu điểm khó phủ nhận như kích thích khá tốt năng lực cảm thụ, trình độ diễn đạt, tư tưởng, cảm xúc… của HS và những điều này lại là những phẩm chất yêu cầu hết sức quan trọng mang tính đặc thù của môn Ngữ văn ở bậc THPT
Qua câu hỏi tự luận, GV có thể đánh giá được một phạm vi tri thức, kĩ năng của HS theo mục đích, yêu cầu của mình, qua đó để khuyến khích HS tự sắp xếp diễn đạt ý, tìm ra được câu trả lời không những đúng về nội dung mà còn hay trong lối diễn đạt, trình bày, khuyến khích cảm thụ văn chương của HS GV còn có điều kiện đưa ra những câu đo lường thái độ và sự sáng tạo của HS khi trả lời Việc câu hỏi ít, in sao đề ít cũng góp phần giảm thiểu kinh phí trong việc làm đề, sử dụng đề
Bên cạnh những ưu điểm trên, dạng câu hỏi tự luận còn có những nhược điểm, hạn chế là khó bao quát được nhiều bài, nhiều phần của chương trình, từ đó HS dễ học tủ, học lệch, thậm chí chép cả bài sẵn có Chính điều này nảy sinh hiện tượng một số HS giỏi, có tri thức toàn diện, nhưng đôi khi lại bị đánh giá thấp hơn những HS học vẹt, học tủ hay gian lận trong thi cử Ngoài ra, vì số lượng câu hỏi ít nên câu hỏi tự luận khó chọn được mẫu mang tính chất tổng hợp, toàn diện, tiêu biểu và việc chấm bài của GV phải phụ thuộc nhiều vào năng lực, trình độ và “gu thẩm mĩ” của người chấm, cho nên khó tránh khỏi tính chủ quan trong việc chấm bài của GV
Trong chương trình Ngữ văn, việc kiểm tra – đánh giá có thể tổ chức trong nhiều phân môn, nhiều hình thức, với nhiều cột điểm khác nhau trong bảng điểm của HS Trong giờ đọc – hiểu văn bản, GV có thể kiểm tra mức nhận thức và cảm xúc của HS về tác phẩm ngay trong giờ học bằng khâu kiểm tra bài cũ, kiểm tra sự chuẩn bị bài mới, đặt và trả lời hệ thống câu hỏi trong giáo án… Nhưng quan trọng nhất là có sự tích hợp với môn Làm văn (bao gồm làm văn viết và luyện nói) Sản phẩm của giờ làm văn là tổng hợp của nhiều yếu tố: tri thức văn học, tri thức ngôn ngữ, tiếng Việt và làm văn; trình độ tư duy, vốn sống, yếu tố tâm lí, trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, cá tính sáng tạo; trình độ chính trị, nhân cách của người học TNKQ và tự luận đều là những hình thức kiểm tra – đánh giá phổ biến hiện nay trong nhà trường Chúng cần kết hợp với nhau một cách khoa học và hợp lí, để đạt hiệu quả tối ưu của quá trình dạy
Trang 34học Cuối mỗi bài học trong phần bài tập củng cố, GV nên ra bài tập dưới cả hai hình thức TNKQ và tự luận
Để việc giảng dạy thơ trữ tình hiện đại có hiệu quả, ngoài việc chú ý các phương pháp, hình thức học tập trên lớp, chúng ta còn phải quan tâm đến các hình thức, phương pháp học tập ngoài giờ như việc hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà trước khi lên lớp, tổ chức các hoạt động ngoại khoá văn học về thơ trữ tình hiện đại, đổi mới các hình thức kiểm tra – đánh giá kết hợp TNKQ với tự luận Nếu chúng ta biết kết hợp linh hoạt các hình thức học tập trên với các khâu, các phương pháp và hình thức dạy học trên lớp thì chắc chắn sẽ tạo được những hiệu quả tích cực trong việc dạy học thơ trữ tình hiện đại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá
trình dạy học (Tài liệu BDTX chu kì 1993 – 1996 cho GV THPT), Bộ Giáo dục và Đào
tạo
2 Trần Thanh Đạm (chủ biên) (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể,
Nxb Giáo dục, Hà Nội
3 Trần Bá Hoành (2007), Đánh giá trong giáo dục, Nxb Giáo dục
4 Trần Bá Hoành (2007), “Những vấn đề cơ bản về dạy học tích cực”, Thế giới trong ta (4),
tr 4-6
5 Nguyễn Thúy Hồng (2007), Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh
THCS, THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội
6 Phan Trọng Luận (1997), Phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
7 Nguyễn Công Lý (2001), "Ngoại khoá văn học với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm",
Tạp chí Giáo dục
8 Trần Hữu Phong (chủ biên) (2006), Thiết kế bài dạy học và trắc nghiệm khách quan môn
Ngữ văn Trung học phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội
9 Võ Thị Quỳnh (2002), Hoạt động ngoại khoa văn học trong nhà trường, Nxb Thuận Hoá,
Huế
10 Đỗ Ngọc Thống (2006), Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
11 Nguyễn Tri – Nguyễn Trọng Hoàn (2001), Một số vấn đề đổi mới PPDH Văn – Tiếng
Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 351
TÂM TRẠNG CÔ ĐƠN – NHÌN TỪ THÂN PHẬN
NGƯỜI VIỆT XA XỨ QUA TIỂU THUYẾT “VÀ KHI TRO BỤI”
CỦA ĐOÀN MINH PHƯỢNG
NGUYỄN NGỌC PHÚ (*)
TÓM TẮT
Nhà văn Đoàn Minh Phượng là cây bút đang nỗ lực làm mới thể loại tiểu thuyết Việt Nam
ở thế kỉ XXI, đổi mới trong nội dung tư tưởng và trong hình thức thể hiện Tiểu thuyết “Và khi tro bụi” của Đoàn Minh Phượng để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với bạn đọc,có đóng góp mới trong việc thể hiện tâm trạng cô đơn, u buồn của người Việt xa xứ, đồng thời thể hiện cảm quan hiện sinh trong sự nhận thức về thế giới, sự tồn tại của con người trong thế giới ấy
Từ khoá: tiểu thuyết Việt Nam, tâm trạng cô đơn, thân phận con người, nội dung tư
tưởng
ABSTRACT
Doan Minh Phuong writer is trying to pen a new genre fiction Vietnam in the twenty-first century, changes in the content of thought and forms of expression And when the dust novel of Doan Minh Phuong leave a good impression for you to read, there are new contributions in expressing the mood of loneliness, sadness Vietnamese expatriates, while reflecting the current sense students in the perception of the world, the existence of human beings in that world
Keywords:
1 Tư duy văn học ngày càng mở rộng biên độ thẩm mĩ cùng với sự vận động của đời sống xã hội Việt Nam ở thế kỉ XXI Quan niệm về hiện thực, về con người ở tiểu thuyết có nhiều đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, với những bút pháp mới lạ, hấp dẫn Nhà văn
Đoàn Minh Phượng là cây bút gây được ấn tượng với bạn đọc qua cuốn tiểu thuyết đầu tay Và khi
tro bụi, tác phẩm đoạt giải thưởng văn xuôi duy nhất của Hội Nhà văn năm 2007 Đây là tác
phẩm có lối viết khá lạ, gần như theo dòng ý thức triền miên, thể hiện được tâm trạng cô đơn, u
buồn của người xa quê hương, thể hiện cảm quan hiện sinh rõ nét
2 Đoàn Minh Phượng đã có sự đổi mới quan niệm về con người, nhìn con người từ nhiều
góc độ, xây dựng được nhiều kiểu nhân vật và tính cách riêng biệt Tiểu thuyết Và khi tro bụi viết
về những khốc liệt của cuộc sống, những bi kịch gia đình, sự cô đơn và hoang mang Trong tiểu
thuyết Và khi tro bụi, nhân vật tôi rất hoang mang khi người chồng tử nạn trong một tai nạn xe
cộ, đã hết sức đau khổ và cảm thấy cuộc sống trống vắng, vô vị Người phụ nữ nghĩ đến cái chết
và chọn lựa cuộc hành trình đi tìm cái chết trên những chuyến tàu Tâm trạng nhân vật mơ hồ,
hoang mang và luôn tự vấn “mình là ai” Chính trong cuộc hành trình của mình, chị lại bắt gặp
cuộc đời, số phận của những người khác và cũng từ những cuộc đời, số phận của người khác, chị
tự đối chiếu, so sánh thân phận và tìm lại cội nguồn ngỡ như đã bị xóa sạch suốt hàng chục năm trời Đó là cội nguồn của một đứa bé gái Việt Nam mồ côi, lạc loài bị đánh mất tuổi thơ và cả quê hương trong những năm chiến tranh Con người tồn tại với những hoài nghi và ám ảnh bởi sự đổ
vỡ, nhân vật An My vẫn mãi không có câu chuyện nào để kể, không biết mình là ai Nhân vật
Mai, Chi và Quỳnh trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau là những mảnh đời con gái đồng dạng, sống
(*) ThS, Trường Đại học Đồng Tháp
Trang 362
câm lặng Nỗi đau đàn bà trở thành một chủ đề lớn xuyên suốt tiểu thuyết Và khi tro bụi Con
người không quê hương, không gia đình, con người vừa tìm kiếm vừa trốn chạy trước những khốc liệt của cuộc sống thực tại Cuộc sống không có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc:
“Người ta sống trong những thế giới của giác quan, hoặc của ý nghĩ, hoặc của tình cảm Người
ta sống trong ngày hôm nay, hoặc ngày mai, hoặc ngày hôm qua” [2, 37] Con người cô đơn
trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng thể hiện những lo âu bất an trước thực tại bởi những bi kịch gia đình, những mâu thuẫn giằng xé trong tâm hồn
3 Đoàn Minh Phượng hiểu rằng là con người thì không thể vượt qua được cái chết Trong
Và khi tro bụi cái chết được lặp lại trong nhiều thân phận Mở đầu bằng cái chết của người chồng
trong những ngày mù sương, cái chết của Anita trong câu chuyện người trực đêm ở khách sạn, cái chết của người cha nuôi, người mẹ và em gái từ thuở ấu thơ, tất cả được kết nối qua một mắt xích đó là hành trình đi tìm cái chết của An My, nhưng tất cả chỉ gợi về một thế giới lờ mờ,
huyền ảo, không xác định Người chồng chết “xe rơi xuống núi, ở một đoạn đèo, trong một đám
sương mù, khoảng 5 giờ một buổi chiều tháng 11” [2, 1] Những thông tin về không gian và thời
gian đã không xác định được điều gì cụ thể, không có sự thật nào được hé lộ ra trong hành trình
tìm kiếm của An My Ngay cả cái chết của người cha nuôi cũng “không có ý nghĩa nào rọi sáng”
[2, 39] Trong những khoảng không gian và thời gian của hiện thực, trong giờ phút đối diện với
người đàn ông lạ tưởng như có thể tìm lại sự sống, An My vẫn thấy “ở gần cái chết hơn bao giờ
hết”, An My bất lực khi lí giải: “Nhiều năm sau, tôi cố hiểu cái chết của cha nuôi tôi Cuộc đời không đầy những bí ẩn, nhưng sự thật về cuộc đời luôn ở một nơi nào xa hơn tầm với của con người” [2, 39] Con người trong Mưa ở kiếp sau cũng tồn tại trong một thế giới đầy bí ẩn, tất cả
cũng là sự buồn bã bao trùm cả thực tại, kiếp người tồn tại trong không gian, thời gian của sự cô đơn và u buồn Cái chết là điều con người không thể tránh khỏi, khi chết đi con người trở về với cát bụi, trở về với sự hư vô nhưng có một điều bí ẩn là cái chết như thế nào cũng chưa ai có thể cảm nhận được, không ai khám phá được
Trong tiểu thuyết Và khi tro bụi, người đọc cảm thấy ám ảnh về câu chuyện một người
phụ nữ ngập trong buồn rầu của nỗi đau mất chồng đã bỏ nhà, bỏ cửa đi sống trên những chuyến
xe lửa với 20 viên thuốc ngủ để sẵn trong túi Nhân vật có quá nhiều lỗ hổng không lấp được:
“Tâm tưởng tôi chơi vơi trong một nỗi hao hụt không có gì lấp nổi Tôi không còn gì, hồn tôi chỉ là một đám tro” [2, 3] Nhân vật rất đau đớn đã muốn xóa đi những kí ức buồn của chính
mình - người mà tình cảm đã bị tê liệt vì đã từ chối quá khứ và trách nhiệm Đoàn Minh Phượng
đã thể hiện những suy tư sâu sắc về con người, thấy được sức sống tiềm tàng, mãnh liệt ở con người Cái chết của Anita, cái chết người cha nuôi, người mẹ và bé An trở thành một thế giới bí
ẩn, ám ảnh khôn nguôi đối với An My, là một phần của thế giới thực Đối diện với kí ức về cái chết của mẹ, em gái, cái chết của mình, An My mới hiểu được ý nghĩa của cuộc sống, mới trở về với khát vọng sống mãnh liệt Bao trùm tác phẩm là cảm thức về cái chết, là hành trình con người
đi tìm bí ẩn của cái chết nhưng đó lại là hành trình đi tìm lại sự sống, tìm lại chính mình Chính
những biểu tượng như: sương mù, tro bụi, cái chết, màu trắng, màu đen… đã tạo nên giá trị cho tác phẩm Và khi tro bụi thể hiện cuộc đấu tranh giữa một bên là cuộc sống bình yên, dễ dàng với
một bên là cuộc sống dấn thân đầy khó khăn, nguy hiểm và căng thẳng, con người đã tự đấu tranh
để đi trên hành trình tìm lại cái tôi của mình
4 Sáng tác Đoàn Minh Phượng thể hiện cảm quan hiện sinh khi mà con người khao khát
tự do và quyền sống, mong muốn suy tư về chính tự do và thân phận làm người Trước đây, trong văn học miền Nam 1954 – 1975, cảm hứng hiện sinh đã được bộc lộ trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Thị Hoàng Sau này, những sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Huy Thiệp,… cũng thể hiện rất rõ những dấu ấn của chủ nghĩa hiện
Trang 373
sinh Theo tác giả Lê Tiến Dũng: “Chưa có một trào lưu văn học nào như văn học hiện sinh mà
chỉ trong thời gian ngắn đã cho ra đời một khối lượng lớn đến thế” Văn học hiện sinh quan
niệm: “Kiếp người là một bất đắc dĩ, là một thảm kịch, là thất bại, vì vậy nó mang nặng chủ
nghĩa bi quan xa lạ với chủ nghĩa lạc quan cách mạng” [1, 134]
Sư u buồn và nỗi cô đơn của con người còn thể hiện ở không gian của câu chuyện ẩn hiện
trong màn sương mờ ảo như tác giả Ngô Đồng đã nhận định: “Toàn bộ câu chuyện luôn ẩn hiện
trong một màn sương mờ ảo, hoang mang, đôi lúc khó nắm bắt Một thân phận tha hương, phải chịu đựng những xung đột về xã hội, văn hoá, phân vân giữa quá khứ và hiện tại, hiện tại và tương lai Để cuối cùng người đàn bà – nhân vật chính nhận ra, chị cũng là một trong số những người chị từng gặp và tiếp tục đi tìm” [3] Nỗi cô đơn luôn thường trực trong tâm trạng những
nhân vật trong tiểu thuyết Và khi tro bụi, nhân vật không biết đi đâu và về đâu, họ chạy trốn quá
khứ, trở thành những con người không căn cước khi lưu lạc trên chốn chính quê hương mình, và
trong những mảnh vụn cuộc đời mình Khi đó, con người không còn tuổi thơ, quê hương, gia
đình và không biết mình là ai Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng đã mang đến sự cảm nhận mới lạ
về tâm trang cô đơn của con người, thể hiện bi kịch của con người trong thời hiện đại: “Trong
những cuốn tiểu thuyết như vậy, cái chết bao giờ cũng hay chờ đón các nhân vật ở phần kết thúc – không phải là cái chết cho sự sống ở tương lai mà chính là cái sống không có đường về tương lai Ở đó, nếu người ta không đâm chém, không tạt ác xít vào mặt nhau vì tiền, vì gái thì người ta cũng uống thuốc ngủ quá liều vì thất tình, vì ghen tuông hay vì một thứ tuyệt vọng nào đó” [4,
196]
Nhà văn Đoàn Minh Phượng cũng thường gửi gắm trong trang viết của mình những trăn
trở, lo âu Trong bài Cách kể chuyện của tôi rất… xưa, Đoàn Minh Phượng đã nói: “Nhân vật tôi
– người phụ nữ trong truyện từ nỗi hoang mang khi người chồng tử nạn trong một tai nạn xe cộ
đã hết sức đau khổ và cảm thấy cuộc sống trống vắng, vô vị Người phụ nữ nghĩ đến cái chết và chọn lựa cuộc hành trình đi tìm cái chết trên những chuyến tàu bình thường nhưng tưởng như vô định Tâm trạng nhân vật mơ hồ, hoang mang và luôn tự vấn “mình là ai”” [6] Ở đây tác giả nói
nhiều đến nỗi u buồn, ám ảnh từ cuộc sống đi vào trong câu chuyện của mỗi nhân vật: “Có lẽ đến
gần 20 năm sau, tôi mới thấy rõ ràng mình là một người lưu lạc Sự lưu lạc đó bắt đầu vào năm nào? Ngày trước tôi sống ở thành phố, tôi không hiểu chiến tranh, tôi tìm mọi cách không nhìn thấy nó, tìm mọi cách đặt mình bên ngoài câu chuyện chung của đất nước mình Sự lưu lạc bên trong đã bắt đầu trước khi tôi rời Việt Nam và theo tôi hết phần lớn cuộc đời” [2] Đoàn Minh
Phượng đã đề cập đến những bất an, lo âu, thể hiện cảm quan riêng về thực tại và con người Chủ nghĩa hiện sinh là một học thuyết mà đối tượng là sự tồn tại của con người xét trong hiện thực cụ thể của nó Vì vậy, tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng mang dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh, thể hiện cái tôi và ảnh hưởng mạnh mẽ của cái tôi hiện sinh thoả mãn nhu cầu cái tôi cá nhân, con người muốn thoát khỏi cuộc sống hiện tại u buồn, con người cảm thấy không còn chỗ đứng trong thực tại, con người muốn hướng đến tự do, khẳng định cái tôi cá nhân Ở đây sự tri giác về thực tại và con người mang màu sắc hiện sinh, từ đó nó chi phối sâu sắc nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm Sáng tác Đoàn Minh Phượng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn suy nghĩ về thế giới hiện thực, nhận thức về thân phận con người thể hiện cái nhìn thấm đẫm tinh thần bi quan, hoài nghi về sự tồn tại của con người, của kiếp người, con người không hiểu mình và ngơ ngác trước thế giới thực tại
5 Cảm thức lưu lạc như đã trở thành một phần vô thức trong con người của Đoàn Minh
Phượng Nhà văn đã có nhiều năm sống ở nước ngoài, ra đi từ năm 1977, những nhân vật trong tác phẩm cũng có những nét giống với cuộc đời của nhà văn, nó như những mảnh vỡ trong cuộc sống, lắp ghép chúng lại với nhau để làm nên sự hoàn thiện trong tâm hồn Khi người chồng đã
Trang 384
hoá thành tro bụi, An My thấy hồn mình chỉ là một đám tro, không còn người quen, không còn việc gì trên đời để làm, nơi chốn nào để đến, cô quyết định đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình Mua một chiếc vé xe lửa, An My bắt đầu chuyến hành trình 3 tháng, để hiểu được mình là ai
trước khi chết: “Đến lúc cận kề cái chết An My mới viết lên được: “Tôi là một đứa trẻ mồ côi
Tôi đến từ một đất nước có chiến tranh” “Có người là họa sĩ nhưng không vẽ núi, không vẽ nhà, chỉ ngày đêm mài mực để một hôm phác lên giấy một vệt cong Tôi cũng muốn làm như họ… Nhưng thế giới của tôi không nguyên vẹn để tôi có thể vẽ lên một nét nguyên vẹn Họ vẽ sự thanh bình, mầu đen của họ là khoảng sâu thẳm, còn tôi vẽ cuộc chiến bại, mầu đen của tôi là một thứ bóng tối phủ lên trăm nghìn mảnh vỡ…” [2] Hành trình đi tìm cái chết của chị biến thành một
cuộc kiếm tìm để ngăn một cái chết khác, một người từ bỏ gốc rễ, cội nguồn của mình sẽ không thật sự bám rễ được vào đâu hết, người ấy cần phải sống những ngày những đêm, những tháng của mình chứ không phải sống bằng thời gian, trí nhớ của người khác, giống như tro bụi, cũng có quê hương và một lúc nào đó rơi về Ở Đoàn Minh Phượng, đằng sau nỗi cô đơn là sự quyết tâm
thực hiện một hành trình tìm lại nguồn cội, trở về với bản chất của mình: “Tôi đang cố gắng
dừng lại Các nhân vật trong truyện của tôi bắt đầu từ sự trở về Chuyện đó mới là khó chứ đâu phải dễ như xách va li đi về ngôi nhà cũ là xong” “Tôi thấy mình lạc lõng và luôn có cảm giác như mình không tồn tại trên mặt đất Như thể mình bị cắt rời khỏi phần da thịt của mình” [2]
Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng thể hiện rõ sự bi kịch trong gia đình, sự mâu thuẫn trong cách nhìn nhận cuộc sống của con người Con người trong sáng tác của chị là con người lưu lạc mang nhiều nỗi cô đơn, buồn rầu Do vậy, với Đoàn Minh Phượng, viết tiểu thuyết cũng là cách để thể hiện những trải nghiệm về nỗi cô đơn, u buồn trước thực tại
6 Con người cô đơn trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng thể hiện sự đổi mới trong tư
duy của một cây bút nữ đáng chú ý ở những năm đầu thế kỉ XXI Nhà văn Đoàn Minh Phượng đã tiếp tục tiến trình phát triển văn xuôi Việt Nam từ sau năm 1975 nhất là thể loại tiểu thuyết, thể hiện khả năng nhạy bén trong việc tiếp cận và khai thác hiện thực Cuộc sống trong tác phẩm bề bộn và phức tạp, thể hiện cái nhìn toàn vẹn về đời sống của nhà văn Nhà văn chọn cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất, chọn điểm nhìn bên trong để có thể kể lại tất cả những trải nghiệm, những gì riêng tư nhất của con người Cách viết của chị khá lạnh, viết để chống lại sự mất mát, viết để thấy mình còn tồn tại ở trên đời Đọc tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, ta bắt gặp nỗi buồn triền miên, nỗi buồn như một ám ảnh của số kiếp một con người Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
là những dòng suy tưởng về con người thể hiện ý nghĩa của cuộc sống và sự lựa chọn không dễ dàng của con người trước cuộc sống, nó đã để lại nỗi ám ảnh sâu sắc cho người đọc Phải chăng điểm nổi bật trong sáng tác của những tác giả Việt kiều là cách nhìn cuộc sống già dặn, là ước vọng kiếm tìm những giá trị nhân sinh tiềm ẩn trong dòng chảy vô biên của cuộc đời?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Tiến Dũng (1999), Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội
2 Đoàn Minh Phượng (2008), Và khi tro bụi, Nxb Trẻ
3 Ngô Đồng, Đoàn Minh Phượng “Và khi tro bụi”, http://vietbao.vn/Van - hoa/Doan -Minh -
Phuong - Va – khi – tro - bui/70101665/181/
4 Lữ Phương (1981), Cuộc xâm lăng về văn hoá tư tưởng của đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt
Nam, Nxb Văn hoá
5 Phạm Thị Thu Thủy (2003), Nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam từ 1995 đến nay, luận văn
thạc sĩ ĐHSP Hà Nội
Trang 40Từ khoá: chống ngập úng, hệ thống kiểm soát mực nước, tác động môi trường, khu vực
Keywords: flood control, regulator, environmental impacts
1 GIỚI THIỆU
Quy hoạch thuỷ lợi chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh [1,2] được nghiên cứu thực hiện trên diện tích 968.500 ha, bao gồm thành phố Hồ Chí Minh (diện tích 209.500 ha) và các vùng phụ cận là hạ du các sông Đồng Nai (từ hồ Trị An đến biển có diện tích 235.000 ha), sông Sài Gòn (từ hồ Dầu Tiếng đến Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 243.000 ha và sông Vàm Cỏ Đông có diện tích 281 ha) Khu vực chống ngập úng gồm 3 vùng kiểm soát nước:
(*) PGS.TS, Viện Kĩ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường (VITTEP)
(**) , (***) ThS, Viện Kĩ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường (VITTEP)