Phát triển tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại nước CHDCND Lào. Với mục tiêu đưa nước Lào đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, CHDCND Lào đang tiến hành đẩy mạnh CNH, HĐH, trong đó chuyển dịch CCKT được coi là khâu đột phá, và là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong các ngành, các lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAYLOM NODNAPHO
PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ TẠI NƯỚC CHDCND LÀO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAYLOM NODNAPHO
PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ TẠI NƯỚC CHDCND LÀO
Chuyên ngành : Kinh tế Công nghiệp
Mã số : 62.31.09.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn: PGS TS Võ Xuân Tiến
PGS TS Nguyễn Trường Sơn
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khác.
Tác giả luận án
Phaylom Nodnapho
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 3
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCKT Cơ cấu kinh tế
CNH Công nghiệp hoá
CSTC Chính sách tài chính
CSTT Chính sách tiền tệ
CTCP Công ty cổ phần
DN Doanh nghiệp
GDP Thu nhập quốc dân
HĐH Hiện đại hoá
HĐQT Hội đồng quản trị
Kip Đơn vị Kip của đồng tiền Lào
KT - XH Kinh tế - xã hội
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với mục tiêu đưa nước Lào đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại, CHDCND Lào đang tiến hành đẩy mạnh CNH, HĐH,trong đó chuyển dịch CCKT được coi là khâu đột phá, và là nhiệm vụ trọng tâm,xuyên suốt trong các ngành, các lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ
Để thực hiện được vấn đề này cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp,trong đó giải pháp về vốn có vai trò hết sức quan trọng Hơn nữa, trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và CHDCND Lào đã là thành viên của WTOthì việc xác định một CCKT hợp lý đảm bảo thúc đẩy kinh tế phát triển một cách bềnvững là một trong những vấn đề phức tạp mà Nhà nước Lào đặc biệt quan tâm Dovậy, việc tìm ra các giải pháp về vốn để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKTmột cách bền vững theo hướng CNH, HĐH là hết sức cần thiết và cấp bách
Với chức năng là một trung gian tài chính, là nơi cung ứng vốn quan trọng vàchiếm tỷ trọng cao trong tổng mức vốn đầu tư cho toàn xã hội, trong những nămqua các NHTM đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển kinh tế đấtnước và tác động mạnh mẽ vào quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH,HĐH; với khối lượng vốn tín dụng đầu tư ngày càng tăng; kinh tế - xã hội phát triển
và tăng trưởng bền vững; các hình thức huy động và sử dụng vốn tín dụng phongphú, đa dạng
Cũng như cả nước, hoạt động tín dụng của các NHTM tại Lào đã tác độngmạnh mẽ trong việc thúc đẩy chuyển dịch CCKT theo hướng tích cực Tuy nhiên, kếtquả vẫn còn nhiều hạn chế, các nguồn tiềm năng của đất nước chưa được khai thácđầy đủ, kinh tế vẫn còn nghèo nàn, chưa tạo ra được bước đột phá trong chuyển dịch
cơ cấuvà phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại và bền vững
Trước yêu cầu mới là tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế củaCHDCND Lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì đòi hỏi cần phải giải quyếtđồng bộ nhiều vấn đề Với điều kiện hiện nay, tích lũy nội bộ nền kinh tế còn thấpchưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển, thì vấn đề cấp bách đặt ra là cần phải tiếp tục
Trang 8nghiên cứu và tìm ra các giải pháp để hoàn thiện hoạt động tín dụng của các NHTMnhằm đáp ứng có hiệu quả nhu cầu về vốn, nhất là nguồn vốn trung và dài hạn đểthúc đẩy nhanh và đột phá trong chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách bền vững làvấn đề nan giải có tính cấp bách cả về lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ những nhận thức trên tác giả chọn đề tài: “Phát triển tín dụng
ngân hàng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” để làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới đều chỉ rarằng, tín dụng có tác dụng rất lớn đối với yêu cầu phát triển kinh tế Điều đáng chú
ý là, các luận thuyết và các quan điểm đều nhìn nhận thấy mối quan hệ ràng buộccủa tín dụng, ngân hàng với tiền tệ và lạm phát, vai trò của các nhân tố này đối vớiviệc tạo ra hướng vận động và quy mô của luồng vốn trong nền kinh tế Với tư cách
là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng ngân hàng là động lực mạnh mẽ kíchthích mọi chủ thể kinh tế thực hiện tiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trungnhững nguồn vốn nhàn rỗi, phân tán thành nguồn vốn lớn để cung ứng chto các hoạtđộng đầu tư Tuy nhiên các nghiên cứu về tác động của tín dụng ngân hàng thươngmại đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia còn khá ít Ở Làocác công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa được nhiều tác gỉa đề cập
Nghiên cứu về tác động của tín dụng NHTM đến quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế tại Việt Nam, trong quá trình học tập và làm luận án, tác giả đã tìm hiểu đượcnhững công trình tiêu biểu như sau:
(i) Hoàng Việt Trung (2002) ‘‘Tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy chuyểnchuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Hà Nội’’, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.Cuốn sách tập trung vào nghiên cứu vai trò và cơ chế tác của tín dụng ngân hàngtrong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Thành phố Hà Nội.Cuốn sách đã nêu lên được những vấn đề lý luận về vai trò của tín dụng ngân hàngviệc thúc đẩy chuyển dịch chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH ởThành phố Hà Nội; phân tích thực trạng tác động của tín dụng ngân hàng trong thúc
Trang 9đẩy chuyển dịch chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội, nhữngmâu thuẫn và yêu cầu đặt ra; đưa ra phương hướng và giải phát huy vai trò của tíndụng ngân hàng thúc đẩy chuyển dịch CCKT trên địa bàn phố Hà Nội theo hướngCNH, HĐH.
(ii) Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Hà Huy Hùng (2003), bảo vệ tại HọcChính trị quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài ‘‘Đổi mới hoạt động tín dụng ngân hànggóp phần chuyển dịch CCKT trên địa bàn Nghệ An theo hướng CNH, HĐH’’ Luận
án chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của tín dụng ngân hàng trong thúc đẩy chuyểndịch trên địa bàn Nghệ An theo hướng CNH, HĐH Luận án tiếp tục làm rõ lý luận vềtín ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy chuyển dịchCCKT hướng CNH, HĐH; Phân tích thực trạng tác động của tín dụng ngân hàng đốivới dịch CCKT ở Nghệ An giai đoạn 1991-2001; Đề xuất và đưa ra một số giải phápđổi hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy chuyển dịch CCKT trên địa bànNghệ An theo hướng CNH, HĐH
(iii) Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân đồng (2006), bảo vệ tại Học ViệnNgân hàng với đề tài ‘‘Giải pháp tín dụng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch CCKT
ở tỉnh Bắc Ninh’’ Luận án đã khái quát các vấn đề lý luận về CCKT và vai trò của tíntrong chuyển dịch CCKT, trong đó tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về tín dụng ngânhàng và tín dụng nhà nước; luận án đã phân tích đánh giá thực trạng tín dụng đối vớiquá trình chuyển dịch CCKT ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2004; đưa ra các
đề xuất về các giải pháp và kiến nghị về tín dụng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấutỉnh Bắc Ninh đến năm 2020
(iiii) Ngoài ra, còn một số luận án thạc sĩ, tiến sĩ ở Trường đại học kinh tếdân, Trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Ngân hàngThành phố Hồ Chí Minh, Học viện ngân hàng, Học viện tài chính và các trườngthuộc khối ngành kinh tế khác cũng đã được nghiên cứu và đề cập ở mức độ nhấtđịnh đến tín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Những công trình khoa học đã công bố những vấn đề lý luận và thực tiễn vềtín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đã được phân tích và luận
Trang 10giải tùy theo mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của từng công trình, hoặcchỉ nghiên cứu ở từng khía cạnh, và địa điểm cụ thể Việc nghiên cứu một cách toàndiện tác động của tín dụng ngân hàng thương mại đến chuyển dịch cơ cấu kinh tếthì rất ít có công trình đề cập đến Tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, đến naychưa có công trình khoa học10 nào đã công bố trùng lặp với công trình nghiên cứucủa tác giả, đây là công trình khoa học độc lập và đầu tiên nghiên cứu về vai tròhoạt động tín dụng ngân hàng thương mại đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạiCHDCND Lào
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án
Làm rõ những căn cứ lý luận và thực tiễn hoạt động tín dụng ngân hàngthương mại đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trên cơ sở đó đưa ra định hướng vàcác giải pháp để hoàn thiện hoạt động tín dụng của NHTM góp phần thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Lào theo hướng CNH, HĐH
Nhiệm vụ của luận án
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm những căn cứ lý luận và thực tiễn về vai trò,tác động của hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại trong việc thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế
- Phân tích, đánh giá và làm rõ tính đặc thù, những đặc điểm riêng về hoạtđộng tín dụng ngân hàng tại CHDCND Lào để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp đồng bộ để tiếp tục hoàn thiện hoạtđộng tín dụng của ngân hàng thương mại nhằm nâng cao vai trò của nó trong việcthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại CHDCND Lào theo hướng công nghiệp hóa
và hiện đại hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạtđộng tín dụng của ngân hàng thương mại trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế, chủ yếu là cơ cấu ngành và cơ cấu kinh tế theo thành phần theo hướng côngnghiệp hóa và hiện đại hóa
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu về không gian là toàn bộ lãnh thổ CHDCND Lào; Vềthời gian là từ 2006 – 2012 và ở góc độ quản lý kinh tế đối với hoạt động tín dụngcủa NHTM, không đi sâu nghiên cứu về kỹ thuật nghiệp vụ của hoạt động tín dụngngân hàng Luận án chủ yếu đề cập đến sự tác động của tín dụng ngân hàng thươngmại đến chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu theo thành phần Việc chuyển dịch cơcấu theo các tiêu chí khác gặp nhiều khó khăn, do những điều kiện riêng trongnghiên cứu tại Lào.
5 Phương pháp nghiên cứu
Là một luận án khoa học kinh tế vừa mang tính lý luận vừa mang tính ứngdụng thực tiễn nên trong quá trình nghiên cứu tác giả chủ yếu dựa vào các phươngpháp nghiên cứu sau:
- Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luận
án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thống kê,phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp diễn giải và quy nạp cũngnhư sự suy luận khoa học để giải quyết các vấn đề
- Kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trước đó, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồnvốn tín dụng NHTM để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo huớng CNH,HĐH Bên cạnh đó luận án còn sử dụng các số liệu, tình hình thực tế từ NHNN Lào
và, các NHTM, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Tổng cục Thống kê Lào để làm luận chứng
Trang 12- Đưa ra cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng của NHTM, lý luận về chuyểndịch cơ cấu kinh tế và tác động của hoạt động tín dụng NHTM đối với việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Chuyển dịch cơ câu kinh tế chịu tácđộng của nhiều nhân tố, tuy nhiên tài trợ vốn tín dụng của ngân hàng thương mại cótác động quan trọng trong việc thúc đẩy xu hướng và tốc độ chuyển dịch cơ cấukinh tế, là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện quá trình chuyểndịch theo định hướng, đặc biệt la cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế theo thành phần.
- Phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện và khoa học về vai tròhoạt động tín dụng của các NHTM trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế;đặc biệt làm rõ những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt độngtín dụng NHTM ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại CHDCND Lào Thờigian qua, cơ cấu kinh tế của Lào đã có sự chuyển dịch, tuy nhiên tốc độ chuyển dịchcòn chậm, xu hướng chuyển dịch chưa rõ ràng và chưa theo hướng hiện đại hóa.Nguyên nhân cơ bản là nguồn lực tài chính trong nước còn hạn chế, sự phân bổnguồn lực này chưa hợp lý Tác động của tín dụng thương mại ngân hàng vào quátrình chuyển dịch còn khá mờ nhạt Việc chuyển dịch cơ cấu ngành đặc biệt là giữacông nghiệp và nông nghiệp chưa thể hiện rõ; nguồn lực tài chính từ các ngân hàngthương mại chưa có sự chuyển dịch phù hợp Điều này đặt ra những yêu cầu và đồihỏi cần thực hiện nhanh các giải pháp nhằm định hướng quá trình quá tác động vàmức độ tác động của tín dụng ngân hàng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếtại Lào
- Đề xuất hệ thống những quan điểm, giải pháp và kiến nghị một cách đồng bộ, khả thi, mang tính thực tiễn cao để tiếp tục hoàn thiện hoạt động tín dụng của các NHTM nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấutheo thành phần tại CHDCND Lào theo hướng CNH, HĐH, phù hợp với xu hướnghội nhập kinh tế quốc tế và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội CHDCND Lào đếnnăm 2020 Các giải pháp của luận án vừa có tính định hướng, vừa đi sâu vào nhữngvấn đề cụ thể của hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm tác động tích cực và mạnh
mẽ hơn đến quá trình chuyển dịch
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐẾN
QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển hoạt động tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng ngân hàng đã xuất hiện rất sớm ở Châu Âu Từ thế
kỷ thứ VII đến thế kỷ V trước công nguyên ở Hy Lạp và Ý đã xuất hiện các thươngnhân làm nghề ngân hàng rồi sau đó phát triển ra các nước khác ở Châu Âu Hoạt độngngân hàng lúc này chủ yếu là đổi tiền, nhận tiền gửi mua bán và trao đổi vay tiền
Đến thời Trung cổ các nghiệp vụ ngân hàng đơn giản đã xuất hiện và tiếp tụcphát triển lan rộng ra các nước Châu Âu, Trung đông và Trung Hoa Tuy nhiên, từthế kỷ 17 trở về trước, nghề ngân hàng chưa phát triển và chưa có vai trò quantrọng, chỉ là một nghề mua bán và làm dịch vụ thông thường Như vậy, hoạt độngtín dụng đã xuất hiện từ rất sớm nhưng nó chưa đóng vai trò quan trọng
Trong suốt thế kỷ 18 ở Châu Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ các ngân hàng tư bản lầnlượt ra đời và phát triển mạnh, lan rộng sang các nước phong kiến, thuộc địa, nửathuộc địa Hoạt động của các NHTM trong giai đoạn này chủ yếu là các dịch vụ traođổi tiền tệ, huy động tiền gửi, chiết khấu thương phiếu, tín dụng thương mại, cungcấp các tài khoản giao dịch, tài trợ chính phủ … Trong đó, dịch vụ chiết khấuthương phiếu và tín dụng thương mại là các nghiệp vụ cơ bản và truyền thống
Sự ra đời và phát triển của tín dụng thương mại bắt nguồn từ sự xuất hiện vàphát triển đến mức phổ biến của hành vi mua bán chịu Nó bắt đầu phát triển vàđược mở rộng khi kinh tế thị trường chuyển qua giai đoạn tự do cạnh tranh Công
cụ để thực hiện quan hệ tín dụng thương mại là các kỳ phiếu thương mại (thươngphiếu)
Thương phiếu là một loại giấy tờ nhận nợ, trong đó ghi rõ số tiền mua chịu,thời hạn hoàn trả và các cam kết của người mua đối với người bán Khi chưa đếnhạn thanh toán, nếu các DN cần tiền cho chu kỳ sản xuất tiếp theo sẽ mang các
Trang 14thương phiếu đến NHTM xin chiết khấu Việc đáp ứng yêu cầu thanh toán thươngphiếu trước hạn cho người thụ hưởng đã đánh dấu sự ra đời của tín dụng ngân hàng.
Như vậy, tín dụng ngân hàng ra đời trên cơ sở các nghiệp vụ chiết khấuthương phiếu, và là một trong những kỹ thuật cấp tín dụng lâu đời nhất của cácNHTM Khi chiết khấu thương phiếu, ngân hàng và chủ kỳ phiếu thỏa thuận chuyểnnhững giấy tờ có giá thành tiền trước kỳ hạn thanh toán, ngân hàng đáp ứng số tiềnnày cho chủ kỳ phiếu sử dụng và ngân hàng nắm quyền đòi nợ đối với người pháthành Chủ kỳ phiếu chịu trách nhiệm cùng ngân hàng về số tiền được chiết khấucho đến khi ngân hàng nhận được số tiền từ người phát hành kỳ phiếu theo thời hạn
đã cam kết [3]
Ngày nay hoạt động tín dụng vẫn là một trong những hoạt động chủ yếu củacác NHTM, là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu cơ bản lớn nhất, cóvai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho phát triển kinh tế xã hội của tất cảcác quốc gia
1.1.2 Khái niệm, đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm tín dụng và hoạt động tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá, hay nói một cách khác, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá thì ở đó có tíndụng hoạt động và phát huy tác dụng Trong nền kinh tế, khi bị thiếu vốn các chủthể tham gia vào các quan hệ kinh tế có thể thoả mãn nhu cầu về vốn của mìnhbằng nhiều hình thức khác nhau Một trong những hình thức phổ biến được sửdụng đó là tham gia vào các quan hệ tín dụng Trong quan hệ tín dụng, người sởhữu vốn gọi là người chủ nợ (vay người cho vay) và người sử dụng vốn gọi là con
nợ (hay người đi vay)
C Mác định nghĩa: "Tín dụng dưới các hình thức biểu hiện đơn giản là sự tínnhiệm ít nhiều có căn cứ, đã khiến cho một người này giao cho người khác một số
tư bản nào đó dưới hình thái tiền hoặc hàng hoá được định giá thành một số tiềnnhất định nào đó Số tiền này được trả trong một thời hạn nhất định, Khi tư bản
Trang 15được cho vay người ta tăng số tiền phải hoàn trả thêm một tỷ lệ phần trăm nhất địnhcoi là giá để trả về quyền sử dụng tư bản" [4, trang 25]
Với ý nghĩa tương tự, ngày nay các nhà kinh tế định nghĩa “Tín dụng là mộtgiao dịch về tài sản (Tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng, các địnhchế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác), trong đó bêncho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất địnhtheo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi chobên cho vay khi đến hạn thanh toán”
Như vậy, tín dụng đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội
và đã có nhiều quan niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra Qua những khái niệmtrên, có thể hiểu bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và
có những đặc điểm cơ bản sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thứccho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản)
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tàisản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở tin rằng người đi vay phải trả đúng hạn
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cáchkhác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kếthoàn trả vô điều kiện
Trong nền kinh tế thị trường, với tư cách là một định chế tài chính trunggian, ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thực hiện hoạt động ngân hàngvới các nội dung cơ bản là: Hoạt động huy động vốn; hoạt động tín dụng; hoạt độngđầu tư tài chính và cung ứng các dịch vụ thanh toán Trong đó hoạt động tín dụng làhoạt động cơ bản và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hoạt động của các NHTM[2]
Tóm lại, tín dụng ngân hàng là loại hình tín dụng bằng tiền, hình thành trongquá trình hoạt động của các ngân hàng, trong đó các ngân hàng thương mại trực tiếpđóng vai trò vừa là người cho vay vừa là người đi vay
Trang 16Hoạt động tín dụng là một hoạt động chủ yếu của NHTM, là việc các NHTM
sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn đi vay và nguồn vốn huy động để cấp tín dụngcho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và cácgiấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quyđịnh của ngân hàng Trung ương Qua đó ta thấy rằng, hoạt động tín dụng là hoạtđộng quan trọng nhất của các NHTM trong giai đoạn hiện nay, vì nguồn vốn chonghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếucho các NHTM
1.1.2.2 Đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng
Thứ nhất, yếu tố lòng tin Đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là
điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh Lòng tin trong quan hệ tín dụng đượcbiểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có lòng tin từ một phía của người cho vay đốivới người đi vay Nếu người cho vay không tin tưởng vào khả năng hoàn trả củangười đi vay thì quan hệ tín dụng có thể không phát sinh và ngược lại, nếu người đivay cảm nhận thấy người cho vay không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượngtín dụng, về thời hạn vay, thì quan hệ tín dụng cũng có thể không phát sinh Tuynhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quantrọng hơn nhiều bởi vì người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họcho người khác sử dụng [1]
Thứ hai, tính có hoàn trả Khác với quan hệ mua bán thông thường khác,
quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị vốn vay chứ không trao đổiquyền sở hữu vốn vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hóahay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định Sau khi khai thácgiá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trảtoàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức kèm theo như cam kết đã giaoước với người cho vay [1]
Thứ ba, tính thời hạn Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng
đều là hàng hóa và vì thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng Trong kinh doanh tíndụng người cho vay chỉ bán “ giá trị sử dụng của khoản vay” chứ không bán “giá trị
Trang 17của khoản vay” và đặc biệt hành vi bán quyền sử dụng này không phải là quyền bánhẳn mà là bán có thời hạn Vì vậy, sau khi hết thời gian sử dụng theo cam kết,khoản vay đó được hoàn trả cho “người bán” [3]
Thứ tư, tính nhạy cảm và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật
Hoạt động tín dụng của NHTM là dựa trên niềm tin, vì vậy tính nhạy cảm rất cao,chỉ cần có một biến động nhỏ cũng có thể gây tác động đối với hoạt động kinhdoanh của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
Nếu ngân hàng hoạt động tốt, hoạt động tín dụng có hiệu quả sẽ góp phầntiết kiệm các nguồn lực, giảm thiểu chi phí cho xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tếtăng trưởng và phát triển bền vững Ngược lại, khi ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến những người gửi tiền, và sự phá sản của ngân hàng luôn có hiệu ứngdây chuyền, lây lan rất lớn và tác động xấu đến đời sống kinh tế xã hội Do hậu quả
từ việc phá sản ngân hàng đến nền kinh tế, cho nên hoạt động kinh doanh của ngânhàng phải được giám sát chặt chẽ thường xuyên bằng các luật định Những quy chếgiám sát phổ biến là: Quy chế về an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngânhàng; Quy chế về cho vay của TCTD đối với khách hàng; Quy chế về bảo vệ nhàđầu tư; Quy chế về thành lập và cấp giấy phép kinh doanh cho các NHTM
Thứ năm, hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố rủi ro.
Rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ loại hình kinh doanh nào Tuy nhiên, rủi ro trongkinh doanh của ngân hàng nói chung và rủi ro trong hoạt động tín dụng nói riêng cónhững điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh khác về mức độ và nguyên nhân.Rủi ro trong hoạt động tín dụng và rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng có tínhlan truyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành, màcòn của tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốcgia mà còn trong phạm vi nhiều quốc gia khác [3]
1.1.2.3 Chức năng của hoạt động tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa, bản chất của quan hệ tíndụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định, làquan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng hai bên
Trang 18cùng có lợi Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàngnói riêng đều có các chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, phân phối lại vốn tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội Chức năng này
gồm hai loại nghiệp vụ được tách hẳn ra là huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và chovay vốn đối với các nhu cầu cần thiết của nền kinh tế Theo chức năng này, vốn tiền
tệ tạm thời chưa dùng đến được chuyển cho người tạm thời cần sử dụng Việc luânchuyển vốn tiền tệ này xuất phát từ lợi ích của cả hai bên, được thực hiện một cách
tự nguyện xuất phát từ chức năng của tài chính về phân phối của cải bằng tiền, chứcnăng bảo đảm vốn và thúc đẩy vận động liên tục tiền vốn
Các NHTM huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế sau đó chovay đối với các tổ chức, cá nhân thiếu vốn để SXKD, tiêu dùng Do đó, đã khắcphục được tình trạng thừa thiếu vốn và phát huy được hiệu quả sử dụng vốn, tạo rahiệu quả kinh tế - xã hội
Thứ hai, kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua các quan hệ tín dụng đối
với các tổ chức và cá nhân Vốn tiền tệ cho vay không làm thay đổi quyền sở hữucủa người có vốn cho vay, khi cho các tổ chức, cá nhân vay vốn các NHTM luôntính đến sự bảo toàn của vốn gốc, đồng thời phải có thêm tiền lãi Do vậy, họ phảithường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn của người vay đó là chức năng vốn có củatín dụng nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng
Chức năng kiểm tra của hoạt động tín dụng được thực hiện cả trong quá trình
từ khi phát sinh quan hệ tín dụng đến khi kết thúc quan hệ tín dụng Người sử dụngvốn phải sử dụng vốn có hiệu quả, đúng mục đích vay…
Thứ ba, chức năng thanh khoản và tạo tiền Trong quan hệ tín dụng, khi
một khoản tín dụng được cấp cho khách hàng, có nghĩa là khách hàng đang thiếuthanh khoản để chi trả cho khoản hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà họ đang muốn
sử dụng, hay đã sử dụng rồi nhưng chưa thanh toán Khi một khoản thặng dư tàichính chưa được sử dụng, nó nằm trong vị thế là tiền cất trữ, và khi nó được đưa
ra để cho vay thì nó trở thành phương tiện lưu thông hay phương tiện thanh toáncủa nền kinh tế
Trang 19Không những tạo ra thanh khoản mà hoạt động tín dụng của các NHTM cònlàm cho số lượng phương tiện lưu thông và thanh toán trong nền kinh tế tăng lên.Khi ngân hàng cấp một khoản tín dụng thì đồng nghĩa với việc nó tạo ra một khoảntiền cung ứng thêm trong nền kinh tế Thông thường các chủ thể kinh tế gửi vàongân hàng số tiền mà mình đang cần để làm phương tiện thanh toán để sử dụng cácdịch vụ thanh toán của ngân hàng như séc, ủy nhiệm chi, nhưng khi ngân hàng dựatrên cơ sở số dư tiền gửi này để cấp thêm một khoản tín dụng thì lập tức phươngtiện thanh toán sẽ tăng lên một lượng tương ứng [6]
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo các quy luậtkhách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh… Cácdoanh nghiệp để có thể đứng vững trên thương trường thì cần phải có vốn để đầu tư
và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ưu để doanh nghiệp có thểkhai thác Các doanh nghiệp phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển Nhưvậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và gópphần điều hành nền kinh tế thị trường Vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiệntrên các khía cạnh sau [4], [6], [12]:
Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế.
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu vàvốn vay Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệuquả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn Hơn nữa, để có thểvay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mìnhđối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng Muốn vậy, trong các dự
án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọn dự án có mức sinh lãi cao nhất
Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin đểđịnh lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả Điều đó làm tănghiệu quả kinh tế của dự án, phương án
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giámsát sử dụng vốn vay Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp
Trang 20phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thịtrường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, vai trò tư vấn củacán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những khó khăn, vượtqua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của
nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phânphối vốn một cách có hiệu quả
Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiềncần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó Vìvậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn Nguồn vốndoanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết
dư từ ngân sách… được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư chocác doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quáthu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khichưa có nguồn thu
Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vaycác dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn Điều này tạo nên một cơchế phân phối vốn hiệu quả
Thứ ba:Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các
chính sách tiền tệ
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả năngtạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán Khi nhà nước muốn tăng khốilượng tiền cung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của cácngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại Do vậy thông qua hình thứctín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng tronglưu thông
Thứ tư:Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan
hệ giao lưu kinh tế quốc tế
Trang 21Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra.Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với cácthành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với cácdoanh nghiệp nước ngoài Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ nàythông qua hình thức bảo lãnh, cho vay… đối với các doanh nghiệp để từ đó nângcao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nềnkinh tế tăng trưởng và phát triển
1.2 CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1.2.1 Cơ cấu kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành,lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” và liệt
kê các loại cơ cấu khác nhau: Cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh
tế kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu thànhphần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật trước hết là cơ cấu công -nông nghiệp - dịch vụ là quan trọng nhất”
Khái niệm cơ cấu hiểu trên bình diện chung nhất là “một phạm trù phản ảnh
cấu trúc bên trong của một đối tượng, là tập hợp những mối liên hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành đối tượng đó” Về hình thức, cơ cấu được
nhìn nhận như là tương quan giữa các bộ phận trong một toàn thể xét theo một tiêuthức nào đó và mối quan hệ giữa chúng Xét theo quan điểm hệ thống, cơ cấu là mộtthuộc tính của hệ thống [13]
Trong nghiên cứu kinh tế, cơ cấu kinh tế thường được xem xét trên cácphương diện:
- Cơ cấu ngành kinh tế: Là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế,thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng
Trang 22giữa các ngành với nhau Cơ cấu theo ngành nghề, phản ánh vị trí tỷ trọng cácngành, cấu thành nền kinh tế, một cách phổ biến bao gồm:
+ Ngành công nghiệp (thường bao gồm cả xây dựng cơ bản)
+ Ngành nông nghiệp, theo nghĩa rộng bao gồm nông-lâm-ngư nghiệp + Ngành dịch vụ (thương nghiệp, vận tải, viễn thông,…)
Cơ cấu ngành kinh tế còn được chia thành: Ngành sản xuất vật chất vàngành sản xuất phi vật chất hoặc được chia thành: Ngành sản xuất nông nghiệp vàngành sản xuất phi nông nghiệp
- Cơ cấu kinh tế theo các thành phần kinh tế: Là cơ cấu theo tỷ trọng thamgia vào cấu trúc nền kinh tế của các thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tếphản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của các thànhphần kinh tế trong nền kinh tế Theo cách phân chia thống kê gồm: Kinh tế nhànước, kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Cơ cấu kinh tế theo vùng - lãnh thổ: Loại cơ cấu này phản ánh những mốiliên hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một quốc gia trong hoạt động kinh tế Cơcấu vùng - lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh
tế - xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thốngnhất
Việc phân chia các loại cơ cấu kinh tế như trên không phải là tất cả các cách phân loại cơ cấu kinh tế nhưng đó là các cách phân loại phổ biến và được nghiên cứu nhiều nhất trong các nghiên cứu kinh tế Trong đó nghiên cứu theo
cơ cấu ngành kinh tế có ý nghĩa quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển của phân công lao động xã hội
1.2.1.2 Tính chất của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan bởi nó được hình thành và phát triểntheo các qui luật tự nhiên khách quan Tính chủ quan của con người không thể làmthay đổi các qui luật đó được mà chỉ cố gắng làm sao nhận thức được chúng ngàycàng sâu để có thể phân tích và đánh giá đúng những xu thế phát triển khác nhau
Trang 23tùy theo điều kiện thực của từng nước, từng vùng, từng lãnh thổ trong từng giaiđoạn thời gian.
- Tính chất khách quan: Nền kinh tế có sự phân công lao động, có các ngành,lĩnh vực, bộ phận kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hìnhthành một cơ cấu kinh tế với tỷ lệ cân đối tương ứng giữa các bộ phận, tỷ lệ đóđược thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhucầu xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu đó
Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt kết quả phát triển kinh tế - xã hội củatừng giai đoạn phát triển nhất định Nhưng không vì thế mà áp đặt chủ quan, tự đặtcho mình những tỉ lệ và những vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của
xã hội Mọi sự áp đặt chủ quan nóng vội nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ýmuốn, thường dẫn đến tai họa không nhỏ, bởi vì sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầmchiến lược khó khắc phục, hậu quả lâu dài
- Tính chất lịch sử xã hội: Sự biến đổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với
sự thay đổi không ngừng của lực lượng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểmchính trị xã hội của từng thời kỳ Cơ cấu kinh tế được hình thành khi quan hệ giữacác ngành, lĩnh vực bộ phận kinh tế được xác lập một cách cân đối và sự phân cônglao động diễn ra một cách hợp lý
- Tính biến đổi: cơ cấu kinh tế luôn có sự biến đổi, chuyển dịch theo hướngngày càng mở rộng và tìm cách hoàn thiện một cơ cấu kinh tế phù hợp với điều kiệnkinh tế - xã hội của nước đó
- Cơ cấu kinh tế có tính tương quan: cơ cấu kinh tế được hình thành và xâydựng cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế mà trong đó số lượng (quy mô, tỷtrọng, tốc độ) và chất lượng (vị trí, sự tương tác, trình độ công nghệ ) là hai yếu tốquyết định sự thành công, thất bại của một nền kinh tế Chúng khác nhau và thậmchí có thể mâu thuẫn nhau, nhưng trong quá trình phát triển kinh tế, chúng khôngthể thiếu nhau được và dựa trên cơ sở kỹ thuật công nghệ, cơ cấu kinh tế chuyểnhóa từ cơ cấu kinh tế này sang cơ cấu kinh tế khác có hiệu quả và phù hợp hóa theo
Trang 24sự thay đổi về lượng Khi lượng được tích lũy đến độ nhất định thì tất yếu phải dẫnđến biến đổi về chất [13], [16].
1.2.1.3 Cơ cấu kinh tế hợp lý
Cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế có khả năng tạo ra quá trình táisản xuất mở rộng Cơ cấu kinh tế hợp lý được xem xét trên các điều kiện sau:
- Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với các quy luật khách quan
- Cơ cấu kinh tế phải phản ánh được khả năng khai thác và sử dụng cácnguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng được yêu cầu hội nhập với quốc tế và khuvực, nhằm tạo ra sự phát triển cân đối và bền vững
- Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thếgiới Ngày nay đó là xu hướng quốc tế hoá, khu vực hoá, xu hướng chuyển sang nềnkinh tế thị trường năng động Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vựcngày càng phát triển thì việc lựa chọn chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ khaithác được các lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong nềnkinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia và thực hiện hội nhập thắng lợi
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.2.1 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳphát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định Xét trong mối liên hệ vớităng trưởng kinh tế có thể thấy: Tăng trưởng kinh tế không phải là quá trình làm racùng một sản phẩm nhiều hơn mà còn là quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêudùng Tăng trưởng kinh tế và quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế song hành trong môitrường và điều kiện phát triển kinh tế, giữa chúng có mối quan hệ “đẩy kéo” Sựthay đổi cơ cấu ngành kinh tế hay cơ cấu thành phần kinh tế hay cơ cấu vùng kinh
tế về thực chất là quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực vào các hoạt độngkinh tế tạo ra tăng trưởng Khi nền kinh tế tăng trưởng qua các thời kỳ, thu nhậpbình quân đầu người tăng lên thì cơ cấu sản xuất, tiêu dùng thay đổi Điều đó giúpgiải thích vấn đề thực tiễn: Nền kinh tế có mức sản lượng tính theo đầu người càngcao thường có cơ cấu khác với các nước có sản lượng bình quân đầu người thấp
Trang 25Các nước kinh tế phát triển có đặc điểm công việc khác với các nước kém phát triển
và cơ cấu tiêu dùng là khác nhau
Mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đặc biệt là cơ cấu ngành kinh
tế với tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả mộtđộng thái về phân bổ các nguồn lực của một quốc gia, một địa phương trong nhữngthời điểm nhất định vào những hoạt động sản xuất riêng
Từ những phân tích trên cùng với khái niệm về cơ cấu kinh tế có thể đưa ra
khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế như sau: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự
thay đổi các tỷ lệ cân đối giữa các bộ phận trong cơ cấu kinh tế cũ sang các tỷ lệ cân đối mới thiết lập một cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu của phát triển kinh tế [13]
Chuyển dịch CCKT không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là quátrình tích luỹ về lượng, dẫn đến sự biến đổi về chất của CCKT Quá trình này diễn
ra trên ba khía cạnh: theo ngành, theo lãnh thổ và theo thành phần kinh tế CCKTchuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp (tức là số ngành, số sản phẩm ngày càngnhiều; phạm vi liên kết ngày càng rộng: từ ít đến nhiều, từ trong nước ra ngoàinước), từ trạng thái có trình độ thấp sang trạng thái có trình độ cao hơn (ý nói vềtrình độ công nghệ và quy mô, chất lượng sản xuất hàng hoá ngày một cao) nhằmđem lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời kỳ phát triển
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình vận động và pháttriển nhằm tiếp cận một CCKT phù hợp nhất, đó là quá trình chuyển đổi căn bản,toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế từ sử dụnglao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng vớicông nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa vào sự phát triểncủa công nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hộicao Hơn nữa, chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH còn là quá trình lựachọn, hình thành, phát triển lĩnh vực, ngành nghề có tính mũi nhọn cho nền kinh tế,hướng tới nền kinh tế tri thức hiện đại Mục tiêu của chuyển dịch CCKT theo hướng
Trang 26CNH, HĐH là đạt tới CCKT tối ưu trên cơ sở kế thừa những tinh hoa CCKT cũ,thay thế xoá bỏ những mặt lạc hậu, lỗi thời của CCKT cũ
Khác với các mô hình công nghiệp hóa đã từng tồn tại trong lịch sử, kể cả sựthành công gần đây của mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu ở một số nềnkinh tế đông Á, công nghiệp hóa ngày nay được tiến hành trong điều kiện toàn cầuhóa và hội nhập kinh tế quốc tế Trong điều kiện toàn cầu hóa ngày nay, hội nhậpkinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từngnước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúcđẩy tự do hóa nền kinh tế của mỗi nước trên các cấp độ đơn phương, song phương
và đa phương
Như vậy, có thể hiểu hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình đồng thời thựchiện hai tiếp cận: Trước hết, là ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tếquốc tế trong đó các thành viên tham gia đàm phán xây dựng và thực hiện các luậtchơi chung, đồng thời thực hiện các quy định, các cam kết với từng nước thành viêntrên nguyên tắc tự do hóa, giảm thiểu sự khác biệt và không phân biệt đối xử; hai
là, tiến hành những cải cách ở trong nước để thực hiện có hiệu quả các quy định, cam kết quốc tế về mở cửa thị trường, xóa bỏ các hàng rào thuế quan vàphi thuế quan; điều chỉnh CCKT phù hợp với yêu cầu tự do hóa kinh tế, nâng caonăng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của các DN; đào tạo nguồn nhân lựctheo yêu cầu phát triển mới; thực hiện việc xây dựng và hoàn thiện các thể chếtương thích Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu, địnhhướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi nước Dođiều kiện kinh tế - xã hội đặc thù, mỗi nước sẽ có lộ trình, bước đi và các giải pháphội nhập rất khác nhau Do đó, hội nhập kinh tế quốc tế là khách quan, do toàn cầuhóa kinh tế và cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới quy định, song không thể
có hội hập kinh tế quốc tế chung chung mà là hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi nướcvào các thể chế khu vực và toàn cầu cụ thể, ở cấp độ song phương hoặc đa phương
và cùng một thời điểm lịch sử, những nước khác nhau sẽ có thể cùng lúc tham gianhiều định chế Tuy nhiên, ở mỗi mức độ và hình thức đòi hỏi các nước thành viên
Trang 27tham gia phải đáp ứng những điều kiện nhất định Sự đáp ứng các điều kiện đó làmcho nền kinh tế mỗi nước ngày càng liên kết chặt chẽ với nền kinh tế thành viên kháchay nói cách khác đó là liên kết với nền kinh tế thế giới trong quá trình hội nhập kinh
tế của mình Từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng tạo ra thịtrường chung thống nhất, những cản trở cho sự hợp tác giao lưu kinh tế giảm và dầndần mất đi, nhưng sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt
1.2.2.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện động thái sử dụng và phân bổcác nguồn lực của một quốc gia hay một địa phương nhằm tạo ra sự tăng trưởng củacác bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế Nghiên cứu các học thuyết và thực tiễn củachuyển dịch cơ cấu kinh tế các nước sẽ chỉ ra cho chúng ta thấy xu hướng chungcho chuyển dịch cơ cấu kinh tế [14], [15]
a) Những học thuyết về xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Quy luật tiêu dùng của E.Engel: Đây là kết quả nghiên cứu thực nghiệmcủa Engel (nhà kinh tế học người Đức) về quy luật tiêu dùng Quy luật này phảnánh mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thu nhập cho tiêu dùng cá nhân.Đường Engel là một đường biểu diễn mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng cánhân về một loại hàng hoá cụ thể Bằng quan sát thực nghiệm, Engel nhận thấy rằngkhi thu nhập của hộ gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thựcphẩm giảm đi Chức năng chính của ngành nông nghiệp là sản xuất lương thực thựcphẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đikhi thu nhập tăng lên đến một mức nhất định Quy luật Engel được phát hiện cho sựtiêu dùng lương thực nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng nghiêncứu xu hướng tiêu dùng của các hàng hoá khác Các nhà kinh tế gọi các hàng hoánông sản là hàng hoá thiết yếu, các hàng hoá công nghiệp là hàng hoá lâu bền vàcung cấp sản phẩm dịch vụ là hàng hoá cao cấp Qua quá trình nghiên cứu, họ pháthiện ra rằng, trong quá trình gia tăng thu nhập, tỷ lệ chi tiêu cho hàng hoá thiết yếu
có xu hướng giảm, tỷ lệ chi tiêu cho hàng hoá lâu bền và cho hàng hoá cao cấp ngày
Trang 28càng gia tăng Như vậy, theo Engel, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhậpbình quân xã hội cao thì nông nghiệp có tỷ trọng thu hẹp so với ngành công nghiệp.
- Quy luật tăng năng suất lao động của A Fisher: Theo A.Fisher, nền kinh tếgồm 3 khu vực: Khu vực thứ nhất bao gồm các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp vàkhai thác khoáng sản Khu vực thứ hai bao gồm các ngành công nghiệp, xây dựng;Khu vực thứ ba là các ngành dịch vụ
A.Fisher đã phân tích: theo xu hướng phát triển khoa học công nghệ, ngànhnông nghiệp dễ có khả năng thay thế lao động nhất, việc tăng cường sử dụng máymóc thiết bị và phương pháp canh tác có thể tăng năng suất lao động trong nôngnghiệp Trong khi đó, ngành công nghiệp với sự phức tạp của công nghệ mới lạikhó hơn ngành nông nghiệp trong việc thay thế lao động Khi nền kinh tế phát triểnvới sự gia tăng tiêu dùng sản phẩm của ngành công nghiệp thì tỷ trọng lao độngtrong nông nghiệp có xu hướng tăng lên Ngành dịch vụ khó có khả năng thay thếlao động nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra nó trong khi tốc độ tăngcủa cầu sản phẩm dịch vụ khi nền kinh tế ở trình độ phát triển cao lớn hơn tốc độtăng thu nhập Vì vậy tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng vàtăng càng nhanh khi nền kinh tế ngày càng phát triển
- Lý thuyết của Rostow: Theo mô hình Rostow, quá trình phát triển kinh tếcủa mỗi quốc gia được chia thành 5 giai đoạn và ứng với mỗi giai đoạn là một dạng
cơ cấu ngành kinh tế đặc trưng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy Cụ thểtừng giai đoạn được phân tích như sau:
+ Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống, nền kinh tế thống trị bởi sản xuất nôngnghiệp, năng suất lao động thấp, tích luỹ gần bằng 0, mang nặng tính tự cung tự cấp
+ Giai đoạn 2: Chuẩn bị cất cánh, được coi là thời kỳ quá độ giữa xã hộitruyền thống và sự cất cánh Trong thời kỳ này, hiểu biết về khoa học - kỹ thuật được
áp dụng vào sản xuất trong cả nông nghiệp và công nghiệp, giáo dục được mở rộng,
hệ thống ngân hàng ra đời, ngoại thương và hệ thống giao thông vận tải, liên lạc pháttriển Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn gắn với đặc điểm truyền thống, năng suất thấp
Trang 29+ Giai đoạn 3: Cất cánh, trong giai đoạn này các tiến bộ khoa học - kỹ thuậtgiúp tăng năng suất Dòng chảy vốn trong nước vào các hoạt động hiệu quả, côngnghệ phát triển Tỉ lệ đầu tư/GDP từ 5% - 10%
+ Giai đoạn 4: Trưởng thành, tiến bộ bền vững về công nghệ và kỹ thuật,xuất hiện các ngành công nghệ mới thay thế một số ngành cũ Tỉ lệ đầu tư/GDP đạttới 10% - 20%
+ Giai đoạn 5: Tiêu dùng cao, phát triển khu vực dịch vụ, dân chúng đượchưởng thêm nhiều sản phẩm tiêu thụ, mức sống tăng lên cao, phúc lợi xã hội đượccải thiện
- Nghiên cứu của Harry T Oshima: Harry T Oshima là nhà kinh tế ngườiNhật Bản, ông đã đưa ra quan điểm mới về mô hình phát triển và mối quan hệ công
- nông nghiệp dựa trên những đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp và hoạtđộng kinh tế châu Á Oshima cho rằng quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tếphải dựa trên động lực tích luỹ và đầu tư đồng thời ở cả hai khu vực kinh tế và bắtđầu từ nông nghiệp Theo ông thì sự phát triển được bắt đầu bằng việc vẫn giữ laođộng trong nông nghiệp, nhưng cần tạo thêm nhiều việc làm trong thời gian nhànrỗi Sau đó sẽ sử dụng lao động nhàn rỗi vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiềulao động, tạo việc làm trong những tháng nhàn rỗi, nâng cao mức thu nhập của nôngdân, mở rộng thị trường trong nước cho các ngành công nghiệp và dịch vụ Khi thịtrường lao động trở lên khắt khe hơn thì tiền công sẽ được tăng nhanh, hầu hết cácnông trại, xí nghiệp phải chuyển sang cơ giới hoá Sự phát triển trong nông nghiệp
sẽ đặt ra yêu cầu tăng thêm quy mô sản xuất công nghiệp cũng như yêu cầu về cáchoạt động dịch vụ Theo Oshima, khi nền kinh tế có việc làm đầy đủ thì cần đầu tưphát triển công nghiệp theo chiều sâu, các ngành công nghiệp có hàm lượng vốn caothay thế cho ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động Điều đó làm cho hiệu quảsản xuất của các ngành công nghiệp ngày càng cao
b) Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước phát triển trong lịch sử kinh tế thế giới
Trang 30Thực tế kinh nghiệm của các nước phát triển, quá trình công nghiệp hoá làquá trình chuyển dịch từ nông nghiệp hoặc ngành nghề truyền thống sang côngnghiệp hoá chỉ ra rằng các nước có các mô hình khác nhau Mô hình cổ điển: cácnước chuyển dịch cơ cấu dựa trên tích luỹ nội bộ, tự trang bị cơ sở vật chất vàchuyển đổi từ khu vực truyền thống sang khu vực công nghiệp, không phụ thuộcnhiều vào yếu tố bên ngoài Nước Anh có quá trình công nghiệp hoá theo kiểu hìnhnày, đi từ thủ công lên nửa cơ khí rồi cơ khí, từ nông nghiệp sang công nghiệp nhẹ
và từng bước sang công nghiệp nặng
Các nền kinh tế Đông Á, bắt đầu từ Nhật Bản và sau đó là các nước HànQuốc, Hồng Kông, Singapore và Đài Loan (NIEs) và tiếp theo là Malaixia,Indonesia là Thái Lan đã tăng trưởng nhanh chóng trong vòng một phần tư thế kỷcùng với quá trình công nghiệp hoá với công nghệ cao đã được xem là “Sự thần kỳĐông Á” Nhật Bản là nước đi đầu ở Đông Á trong quá trình công nghiệp hoá,nhưng giai đoạn đầu, công nghiệp hoá của Nhật Bản theo kiểu cổ điển, giai đoạnsau Nhật Bản lấy ngoại thương là nội dung để chuyển đổi công nghệ thành nguồnlực Đó là lý do mà quá trình công nghiệp hoá của Nhật Bản được rút ngắn so vớiAnh, Mỹ Các nước NIEs lại có cách làm khác, các nước này công nghiệp hoá trên
cơ sở chính sách huy động các nguồn vốn nội địa, sử dụng các lợi thế so sánh đểphát triển, xây dựng nền kinh tế hướng ngoại Từ đó thu hút nguồn vốn đầu tư nướcngoài và phát triển trên phạm vi thế giới bằng các công ty đa quốc gia Bằng cáchnày các nước NIEs đã rút ngắn quãng đường công nghiệp hoá rất nhiều so với NhậtBản và còn được gọi là kiểu “đàn sếu bay” Theo đó, mọi nền kinh tế đều có nhữngđiều kiện cần thiết về cơ chế và cách thức cần thiết để chuyển đổi hữu hiệu nguồnvốn đầu tư thành các mức sản lượng cao Vai trò quan trọng của tiết kiệm và đầu tưvới quan điểm sự gia tăng của vốn đầu tư để mua sắm máy móc, thiết bị, phươngtiện vận tải…làm tăng tổng cầu, do đó tác động đến gia tăng sản lượng Sự thay đổinày thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các ngành, khu vực kinh tế tới các vị thế mới
Mặc dù khác nhau về cách thức nhưng đặc điểm chung cho chuyển dịch cơcấu kinh tế của các nước phát triển là:
Trang 31- Các nền kinh tế do có sự hạn chế về nguồn lực và trình độ sản xuất nên chỉ
có thể tập trung nguồn lực vào một số ngành trong giai đoạn đầu phát triển
- Vốn và lao động gia tăng kéo theo tăng sản lượng tăng trên mỗi lao động
- Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của cải vậtchất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp
lý có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài
- Thu nhập tăng lên làm thay đổi thói quen tiêu dùng làm thay đổi cầu
về hàng hoá, theo đó có thể kéo theo sự phát triển của một số ngành để đáp ứng cácnhu cầu ngày càng gia tăng cũng dẫn đến thay đổi cơ cấu kinh tế
- Sự đóng góp của các ngành kinh tế trong cơ cấu GDP của nền kinh tế có xuhướng chung là ngành nông nghiệp có tỷ lệ ngày càng giảm, còn khu vực phi nôngnghiệp (công nghiệp và dịch vụ) ngày càng tăng lên Ngay trong nội bộ các ngànhcũng có những thay đổi, trong khu vực công nghiệp, những ngành công nghiệp chếbiến đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chếtạo, điện tử sẽ dần dần chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các ngành công nghiệp khaikhoáng, sơ chế nông sản, công nghiệp lắp ráp… Trong khu vực dịch vụ, những lĩnhvực dịch vụ chất lượng cao, gắn với công nghệ hiện đại như bảo hiểm, ngân hàng,
tư vấn, viễn thông, hàng không… chiếm tỷ lệ cao sẽ rất khác với những lĩnh vựcdịch vụ phục vụ sinh hoạt dân sự với công nghệ thủ công hoặc trình độ thấp quy mônhỏ Trong nông nghiệp cơ cấu cây trồng, vật nuôi sẽ thay đổi theo hướng khai tháctối ưu điều kiện canh tác, năng suất lao động được nâng cao do hiện đại hoá nôngnghiệp Kéo theo đó là sự thay đổi về cơ cấu lao động trong các ngành, một khuynhhướng chung là sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vựccông nghiệp và dịch vụ
Như vậy qua những phân tích thực nghiệm lý thuyết và thực tiễn chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của các nước cho thấy xu hướng chung chuyển dịch cơ cấu kinh tế là:nền kinh tế có cơ cấu tỷ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ ngày càng cao,theo đó khu vực sản xuất nông nghiệp ngày càng được hiện đại hoá
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 32Việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung chịu sự tác động củanhiều nhân tố Các quốc gia hay từng địa phương của một quốc gia có một đặc điểmriêng về điều kiện và các nguồn lực tự nhiên trong phát triển kinh tế Nhưng có thểnói với điều kiện tự nhiên và các nguồn lực của mình các nhân tố ảnh hưởng đến hìnhthành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay địa phương gồm [16]:
a) Lao động
Trình độ lao động, mức độ phát triển của khoa học công nghệ phản ánh trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động
và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng laođộng tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội Sự phát triển củalực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ, thiết bị,hình thành các ngành sản xuất mới, biến đổi lao động từ giản đơn sang lao độngphức tạp, từ ngành này sang ngành khác tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế Nếu
xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là CNH - HĐH thì yếu tố trình độ lao độngcủa người lao động sẽ quyết định thời gian của chặng đường công nghiệp hoá vàhiện đại hoá đất nước
Yếu tố lao động trong một quốc gia bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: quy môdân số trong độ tuổi lao động, mức độ phát triển của giáo dục đào tạo và điều kiệnkinh tế - xã hội của nước đó
b) Khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ là yếu tố không thể thiếu đối với nền kinh tế hiện đại.Khoa học, công nghệ tiến bộ cùng với trình độ lao động tạo ra khả năng tăng năngsuất lao động Kể cả trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ, khoa họccông nghệ giúp tạo ra bước đột biến trong sản lượng Nhờ đó quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn Tuy nhiên cần chú ý rằng, để có khoa học và côngnghệ thì cần phải có nghiên cứu, để có nghiên cứu phải có sự đầu tư Thời giannghiên cứu khoa học công nghệ thường không thể xác định trước và kết quả có thểkhông đạt như mong muốn nên việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệthường chỉ được các quốc gia phát triển quan tâm đầu tư nhiều Đối với các nước
Trang 33kém phát triển để có được khoa học công nghệ mà không qua nghiên cứu thườngthông qua chuyển giao và chi phí chuyển giao cũng rất đắt Như vậy chúng ta cũng cóthể thấy thêm tầm quan trọng của vốn đầu tư đối với khoa học công nghệ.
c) Vốn đầu tư
Vốn đầu tư là một bộ phận cơ bản của vốn nói chung Trên phương diện nềnkinh tế, vốn đầu tư là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã bỏ ra để tạo ranăng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trong sản xuất)
Vai trò của đầu tư trong việc tạo ra tăng trưởng đã được thừa nhận rộng rãitrong xã hội công nghiệp Và chúng ta đã thấy rằng tăng trưởng và chuyển dịch cơcấu kinh tế có mối quan hệ “đẩy kéo” Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ
lệ đầu tư thấp tại Mỹ trong những năm 1970 và đầu 1980 là nguyên nhân cùng với
sự tăng trưởng chậm về năng suất lao động dẫn đến tỷ lệ tăng thu nhập quốc dân/đầu người thấp từ năm 1970 so với Nhật Bản và Tây Âu Những nghiên cứu phântích sự tác động của tiền vốn đến tăng trưởng tại các nước đang phát triển khôngnhiều(do hạn chế về số liệu) và không toàn diện Tuy vậy, những tính toán có được
về yếu tố phát triển cho thấy tích luỹ vốn có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh
tế ở những nước đang phát triển, đặc biệt trong giai đoạn đầu của sự phát triển
Theo mô hình Harrod - Domar, tăng trưởng kinh tế của một đơn vị kinh tếbất kỳ (doanh nghiệp, ngành kinh tế, vùng kinh tế hay toàn bộ nền kinh tế) được thểhiện bằng hàm sản xuất giản đơn: g= s/k (Trong đó: g: Tỷ lệ tăng trưởng của sảnlượng đầu ra; s: tỷ lệ tiết kiệm; k: hệ số gia tăng vốn/đầu ra - hệ số ICOR)
Quan hệ trên có thể được diễn đạt đơn giản là tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh
tế bị quyết định bởi cả tỷ lệ tiết kiệm s và tỷ lệ gia tăng vốn đầu ra k của nền kinh
tế Do đó lôgic của công thức trên là để tăng trưởng nền kinh tế phải tiết kiệm vàđầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Nền kinh tế có tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư càngcao tăng trưởng càng nhanh Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào cảhiệu suất của đầu tư, tức là mức sản lượng tăng lên có được từ một đơn vị đầu tưtăng thêm- được tính bằng 1/k Trong thực tế hệ số k có xu hướng tăng lên nghĩa là
xu hướng đầu tư ngày càng nhiều vốn hơn Như vậy, khối lượng và cơ cấu
Trang 34phân bổ vốn đầu tư có tác động quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đối với
cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn nhiều hay ít, việc sử dụng vốnhiệu quả cao hay thấp đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăngcường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo điều kiện tiền đề vật chất cho việc pháttriển các ngành mới, do đó, làm chuyển dịch cơ cấu ngành Đối với cơ cấu lãnh thổ,vốn đầu tư khi sử dụng hợp lý sẽ có tác dụng giải quyết những mất cân đối về pháttriển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi đói nghèo,phát huy tối đa các lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế của vùng Trong nhữngđiều kiện của nền kinh tế xuất phát điểm thấp, thể hiện cơ sở hạ tầng thấp kém,công nghệ chậm được đổi mới, năng suất lao động thấp… thì để chuyển sang cơ cấukinh tế mới hiện đại và tối ưu hơn nền kinh tế cần có vốn đầu tư để thoả mãn cácyêu cầu về cơ sở vật chất và kỹ thuật để tạo ra các nhân tố thay thế Đầu tư cho cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và thiết bị cần các khoản đầu tư lớn và dài hạn Điều đó khi xéttrong điều kiện các nước đang phát triển cho thấy: Để thúc đẩy nền kinh tế chuyểndịch theo hướng công nghiệp hoá thì vốn đầu tư cần lớn và đặc biệt là vốn trung vàdài hạn cần được đầu tư tập trung vào các ngành, khu vực kinh tế trọng điểm gắnvới mục tiêu xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý
Sự hạn chế về quy mô và sự phân tán của vốn trong nền kinh tế có thể dẫntới xu hướng của cơ cấu kinh tế là số lượng các doanh nghiệp sẽ tập trung nhiều hơn
ở những ngành cần ít vốn đầu tư, khả năng thu hồi vốn nhanh, quy mô doanhnghiệp thường nhỏ, công nghệ thấp Các ngành công nghiệp sẽ khó có khả năngtăng quy mô và tiếp cận công nghệ hiện đại và các ứng dụng khoa học kỹ thuật mớivào sản xuất Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế do đó có thể bị kéo dài hoặckhông đúng hướng mà chính phủ mong đợi Hiện tượng này có thể thấy là ở thời kỳđầu của công nghiệp hoá của các nước NIEs, các lĩnh vực như thương mại quy mônhỏ, các ngành tiểu thủ công sử dụng nhiều lao động vốn ít như: dệt, may, giày dép,
sơ chế nông sản… chiếm tỷ lệ cao
Để có vốn cần phải đầu tư, muốn có vốn đầu tư cần phải có nguồn Trong nền kinh tế quốc dân tiết kiệm, tích luỹ là phần thu nhập chưa chi tiêu, là nguồn
Trang 35để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư Xét về phạm vi, nguồn vốn đầu tư được chia thành nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài:
- Các nguồn vốn đầu tư trong nước:
+ Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước: Nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhànước bao gồm nguồn vốn tích luỹ của ngân sách nhà nước và nguồn vốn tín dụngcủa nhà nước Nguồn vốn tích luỹ của ngân sách có nguồn gốc là các khoản thu từthuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác ngoài thuế Nguồn vốn tín dụng của ngânsách còn được hình thành từ vay nợ của nhà nước thông qua phát hành các công cụ
nợ như trái phiếu, tín phiếu, công trái và các khoản vay từ các chính phủ, các tổchức phi chính phủ
+ Nguồn vốn tự đầu tư của các đơn vị kinh tế thuộc các ngành, khu vực kinhtế: Đây chính là nguồn tiết kiệm, tích luỹ của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh haycủa cá nhân kinh doanh trong các ngành và khu vực kinh tế Thông thường đó là lãisau thuế được để lại dành cho đầu tư phát triển Trong thực tế nguồn vốn đầu tư tạicác đơn vị kinh tế còn bao gồm cả nguồn vốn thu từ khấu hao tài sản cố định
+ Tiết kiệm của dân cư: Tiết kiệm của dân cư là phần thu nhập để dành chưatiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình Tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào thu nhập vàchi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình Nguồn tiết kiệm của dân cư phân bố không tậptrung nên cần có các cách thức huy động và sử dụng (phân bổ) đáp ứng nhu cầu vốnđầu tư cho nền kinh tế
- Các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài: Bao gồm các nguồn vốn của cácchính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế và của đầu tư vào mộtnước dưới các hình thức khác nhau:
+ Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA: ODA là nguồn vốn
do các cơ quan chính thức của chính phủ của một số nước hoặc của các tổ chứcquốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy, hỗ trợ quá trình pháttriển kinh tế của các nước này
+ Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: Đây là nguồn vốn do tư nhân nướcngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của nước chủ nhà nhưng
Trang 36không tham gia vào công việc quản lý; hoặc cấp qua tín dụng thông qua ngân hàngthương mại; các tổ chức tài chính; hoặc thông qua các khoản tín dụng thương mại
mà các nhà xuất khẩu nước ngoài dành cho các nhà nhập khẩu nước chủ nhà
+ Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI: Đây là nguồn vốn nướcngoài đầu tư trực tiếp vào một quốc gia vào các hoạt động kinh tế dưới các hìnhthức như doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh… Các nướcđang phát triển nhờ thu hút vốn FDI có thể bù đắp được sự thiếu hụt vốn trong nước
để đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạoviệc làm
Thực tiễn hoạt động kinh tế cho chúng ta thấy khi vốn đầu tư cho dự án,phương án kinh doanh vượt quá khả năng vốn tự có (tự tiết kiệm và tích luỹ) củachủ đầu tư thì cần có sự hỗ trợ của các nguồn vốn bên ngoài Điều đó cần thiết phải
có cơ chế truyền dẫn vốn từ các nguồn nói trên đến các các chủ đầu tư bổ sung chophần vốn tự có chưa đủ Việc làm đó được thực hiện thông qua thị trường tài chính
Hình 1.1: Vai trò trung gian của thị trường tài chính
Thị trường tài chính được khái niệm là nơi các giá trị vốn tiền tệ được giaodịch Xét về tính chất pháp lý của các giao dịch, thị trường tài chính được chiathành thị trường tài chính chính thức và thị trường tài chính phi chính thức
- Thị trường tài chính phi chính thức bao gồm các giao dịch tài chính không
do các tổ chức có đăng ký cung cấp, thông thường là các quan hệ vay mượn, traođổi mang tính chất cá nhân không có chứng thực pháp lý Khi kinh tế càng pháttriển thị thị trường tài chính phi chính thức bị thu hẹp lại
- Thị trường tài chính chính thức, các giao dịch tài chính do các định chế tàichính cung cấp Tham gia vào thị trường tài chính chính thức trong nền kinh tế hiệnđại có nhiều kiểu định chế tài chính, các ngân hàng và sở giao dịch chứng khoán giữ
Các nguồn vốn
đầu tư
Các phương án,
dự án kinh doanh
Thị trường tài chính
Trang 37vai trò nòng cốt Điều dễ thấy là trong khi các nước phát triển có thị trường chứngkhoán giao dịch mạnh thì các nước đang phát triển không có được điều này do chưađạt đợc những điều kiện phát triển nhất định Và ở những nước đang phát triển, khithị trường chứng khoán chưa phát triển thì ngân hàng là kênh dẫn vốn bên ngoàiquan trọng đối với hoạt động kinh tế của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế
d) Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội là người đặt hàng cho tất
cả các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế Xu hướng thị trườngphản ánh xu hướng cầu hàng hoá của xã hội, một sự thay đổi trong nhu cầu hànghoá của một ngành kéo theo sự thay đổi về cung hàng hoá ngành đó, có thể là thuhẹp hay mở rộng sản xuất ngành đó
Thị trường và nhu cầu xã hội không chỉ quy định về số lượng mà cả về chấtlượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nên nó có tác dụng trực tiếp đến quy mô, trình độphát triển của các cơ sở kinh tế; đến xu hướng phát triển và phân công lao động xãhội, đến vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế quốc dân thốngnhất
e) Sự ổn định kinh tế vĩ mô và các chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế
Xét trên bình diện kinh tế vĩ mô là xem xét nền kinh tế theo các tổng lượng
và cân đối lớn của các ngành và lĩnh vực kinh tế Các cân đối lớn như hàng hóa vàtiền tệ; cân đối cung cầu hàng hóa; tiêu dùng và tiết kiệm… được xác định theo các
tỷ trọng nhất định trong một thời kỳ
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, mọi sự hoạt động của nền kinh tế đềucần có sự điều tiết của Nhà nước để giữ ổn định các quan hệ cân đối này theo các tỷtrọng nhất định có lợi cho nền kinh tế Song không phải nhà nước can thiệp trực tiếpvào quá trình sản suất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Nhà nước điều hành thôngqua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế thể hiện quan điểm chiến lược,mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định Nhànước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, quy định các tỉ lệ của cơ cấu kinh
Trang 38tế nhưng nó vẫn có tác động gián tiếp bằng các định hướng phát triển, để thực hiệnmục tiêu đáp ứng nhu cầu xã hội Và khi có các biến động kinh tế vĩ mô (sự mất cânđối vĩ mô), nhà nước sẽ hướng tác động của mình nhằm bình ổn và hạn chế tối thiểuhậu quả do biến động gây ra Các ảnh hưởng của can thiệp của nhà nước sẽ làmthay đổi các tổng lượng lớn các nhân tố kinh tế vĩ mô và kéo theo các tỉ lệ của cơcấu kinh tế thay đổi
f) Nhóm các nhân tố tác động từ quốc tế và khu vực
- Xu thế chính trị - xã hội của khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hìnhthành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Xét đến cùng, chính trị là biểu hiện tập trungcủa kinh tế Sự biến động về chính trị - xã hội của một nước hay một số nước, nhất
là các nước lớn, sẽ tác động mạnh mẽ đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốnđầu tư, chuyển giao công nghệ, tiếp thu khoa học - kỹ thuật … của các nước kháctrên thế giới và khu vực Do đó thị trường và nguồn lực nước ngoài cũng thay đổi,buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, bảo đảm cho nền kinh tế nước mình ổn định và phát triển
- Xu thế toàn cầu hoá và quốc tế hoá lực lượng sản xuất, tạo ra sự phát triển
và đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, hợp tác với nhau một cách toàndiện cả trong sản xuất và trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ Ngày nay, một sản phẩmhàng hoá thường có sự tham gia của nhiều công ty, xí nghiệp trong một nước hoặcnhiều nước trong khu vực và thế giới cùng sản xuất Đối với các quốc gia thực hiệnchiến lược hướng về xuất khẩu thì yếu tố này trở thành một nhân tố không thể thiếutrong quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ và sự bùng nổ thôngtin trên thế giới, tạo điều kiện cho các nhà sản xuất - kinh doanh nắm bắt thông tin,hiểu thị trường và hiểu đối tác mà mình muốn hợp tác Từ đó giúp họ định hướngsản xuất kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh cho phù hợp với xu thếhợp tác đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, cùng nhau phân chia lợinhuận
Các nhân tố bên ngoài có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã
Trang 39hội và là nhân tố tác động đến hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song cácnhân tố bên trong giữ vai trò quyết định.
1.3 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra nhu cầu về vốn đầu tư để phát triển cácngành, lĩnh vực kinh tế Các ngân hàng là một kênh cung ứng vốn đầu tư qua cấptín dụng cho nền kinh tế và hoạt động góp vốn trực tiếp Vai trò và tác động củaviệc huy động và sử dụng vốn đầu tư của ngân hàng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tếthể hiện thông qua các nội dung cơ bản sau [1], [2], [30]:
1.3.1 Tập trung nguồn lực tài chính tài trợ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tiết kiệm trong nền kinh tế là phần thu nhập chưa chi tiêu, được nhìn nhận lànguồn có thể huy động để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư Việc huy động nguồn tiếtkiệm và đầu tư cho một ngành kinh tế mang ý nghĩa giúp cho ngành đó phát triển vàlàm thay đổi cơ cấu kinh tế tổng thể Tuy nhiên, để chuyển các khoản tiết kiệmthành nguồn vốn đầu tư cần phải có kênh truyền dẫn Trong lĩnh vực này, các ngânhàng và thị trường chứng khoán trở thành những kênh truyền dẫn hữu hiệu Đối vớicác nước đang phát triển thì thể chế tài chính chủ yếu là dựa vào ngân hàng vì để cómột thị trường chứng khoán mạnh cần phải có cơ sở hạ tầng và công cụ lưu thôngphát triển, cái mà các nước đang phát triển còn thiếu
Hệ thống ngân hàng làm cầu nối trung gian cho một phần trong tổng đầu tưquốc gia Các công ty, hộ gia đình, trước hết sử dụng các khoản tiết kiệm của chínhbản thân tài trợ các khoản đầu tư trực tiếp mà họ thực hiện Chỉ khi nào nhu cầu đầu
tư vượt quá tiết kiệm thì mới đi vay và khi tiết kiệm vượt quá đầu tư thì lại cần chovay Nhiệm vụ của hệ thống ngân hàng là chuyển các khoản tiết kiệm từ những đơn
vị kinh tế dư thừa sang những đơn vị kinh tế thâm hụt Quy trình này bao gồm việcngân hàng vừa tiếp nhận nguồn vốn gửi của khách hàng và gánh lấy nghĩa vụ trả
nợ sau này và vừa cấp vốn cho những người khác
Một quy trình quan trọng do các ngân hàng khi thực hiện huy động và sử
Trang 40dụng vốn trong hoạt động của mình chính là việc chuyển hoá các công cụ tài chínhngắn hạn thành các công cụ tài chính dài hạn Trong quy trình này, ngân hàng huyđộng nguồn vốn ngắn hạn sau đó cho vay dài hạn dựa trên cơ sở lòng tin của kháchhàng vào ngân hàng và quy luật số lớn Thực tế, người tích luỹ thường thích tích luỹngắn hạn hơn là dài hạn do ít rủi ro và ít tổn thất về khả năng thanh khoản hơn.Chức năng chuyển hoá thời hạn cho phép người tích luỹ tích luỹ ngắn hạn và ngườiđầu tư huy động vốn dài hạn Quy trình này được gọi là quy trình chuyển hoá thờihạn và mang tính chất đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp tài chính dài hạnhoặc tài trợ dự án trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng các yêu cầu của pháttriển ngành mới, mở rộng quy mô sản xuất
Thông qua huy động và sử dụng vốn các ngân hàng đã đóng vai trò tích tụvốn trước một bước, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều thời gian trong quátrình mở rộng sản xuất Bởi vì để mở rộng sản xuất kinh doanh đáp ứng cung và cầucủa thị trường, các doanh nghiệp cần phải đầu tư Nhưng nếu chờ đợi số vốn tíchluỹ từ lợi nhuận để lại đủ số lượng để thực hiện mở rộng sản xuất, thì doanh nghiệp
có thể phải mất thời gian dài Trong khi chờ đợivốn tự tích luỹ, doanh nghiệp có thể
sử dụng vốn tín dụng ngân hàng để thực hiện mục đích của mình Điều đó một mặtcho phép doanh nghiệp có khả năng trang trải kịp thời các chi phí đầu vào mặt kháccung ứng hàng hoá được nhiều và liên tục cho thị trường
Với đặc điểm trên, huy động và sử dụng vốn của ngân hàng giữ vai trò quantrọng trong việc đáp ứng các nhu cầu đầu tư trong quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế Vốn ngân hàng phối kết hợp với các nguồn vốn khác để đầu tư có trọngđiểm hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn.Thông qua việc đầu tư theo dự án, theo các chương trình của Nhà nước, từ đó hìnhthành các khu công nghiệp tập trung, các vùng nông, công nghiệp kết hợp như cácvùng nông, công nghiệp làm thay đổi cơ cấu kinh tế
Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệpnông thôn là một nội dung quan trọng Ở những nước đang phát triển, vốn tự có, tựtài trợ của các hộ gia đình, trang trại thường bị hạn chế về quy mô Để cơ giới hoá