Tầm quan trọng của bài luyện tập trong chương trình Hoá học THCS: Luyện tập hay tổng kết, ôn tập là một trong những khâu quan trọng của quá trình dạy học, là một trong những dạng bài nhằ
Trang 1
PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO PHÙ MỸ TRƯỜNG THCS MỸ TÀI
GV: Đặng Thị Oanh
Trang 2Tầm quan trọng của bài luyện tập trong chương trình Hoá học THCS:
Luyện tập hay tổng kết, ôn tập là một trong những khâu quan trọng của quá trình dạy học, là một trong những dạng bài nhằm hoàn thiện kiến thức, giúp học sinh tái hiện những kiến thức đã học Từ đó mà hệ thống lai, tìm ra các mối liên quan giữa các kiến thức, thấy được cái chung, cái bản chất của từng loại kiến thức cũng như các đặc thù của mỗi kiến thức Nhờ đó mà củng cố lại những kiến thức
đã học một cách vững chắc và sâu sắc hơn Khi so sánh những kiến thức đã học cũng làm rõ thêm những vấn đề còn thiếu chính xác hoặc chưa rõ ràng
Khi luyện tập hoặc tổng kết, ôn tập, tư duy của học sinh phát triển cao độ, vì khi đó buộc học sinh phải tìm tòi, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, tổng quát hoá nhiều kiến thức đã học Qua đó rèn luyện được nhiều kĩ năng bộ môn như giải thích, vận dụng kiến thức, tính toán, viết phương trình hoá học…
Qua luyện tập hay tổng kết, ôn tập giúp giáo viên kiểm tra được sự tiếp thu kiến thức của học sinh, kiểm tra được sự hiểu chính xác, sâu sắc đầy đủ khả năng vận dụng kiến thức của học sinh vào việc giải thích, làm bài tập Đồng thời cũng kiểm tra được mình qua quá trình giảng dạy có những kiến thức nào thiếu sót để
có kế hoạch củng cố, đính chính cho kịp thời Thông qua quá trình luyện tập, giáo viên có dịp mở rộng thêm một cách thích hợp những kiến thức cần thiết ở mức độ cho phép của chương trình
Tóm lại, bài luyện tập hay tổng kết, ôn tập phải giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu, hiểu sâu, hiểu toàn diện và vận dụng tốt các kiến thức đã học
2 Về cơ sở thực tế:
Là giáo viên dạy bộ môn Hoá học với đủ các đối tượng học sinh và đã từng là một cộng tác viên thanh tra của Ngành, được dự giờ nhiều đồng nghiệp trong Huyện, tôi nhận thấy rằng hầu hết các giáo viên rất lo ngại khi phải dạy một tiết luyện tập hay ôn tập khi có người dự giờ Dạy học như thế nào để có hiệu quả; giúp cho học sinh nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản, biết vận dụng vào giải bài tập và phân bố thời gian hợp lí trong một tiết? Đó là điều mà hầu hết giáo viên đều trăn trở Trong thực tế, đây là bộ môn chưa phải tất cả các trường đều quan tâm đúng mức như Văn, Toán, Anh văn Nhiều trường do điều kiện khó khăn
về cơ sở vật chất, về thời gian, về kinh phí… nên chưa thể bố trí dạy thêm cho học sinh yếu kém, nếu có thì cũng rất ít ỏi chỉ một số tiết trước khi tổ chức kiểm tra học
kì hoặc thi cử Chưa kể đây là bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tiến hành thí nghiệm còn vất vả nhiều hơn các bộ môn khác, do phải chuẩn bị dụng cụ, pha chế hoá chất, thử trước nhiều lần và vệ sinh sau khi thực hành, điều đáng ngại là phải tiếp xúc với một số hoá chất độc hại ảnh hưởng đến sức khoẻ của cả giáo viên và học sinh nên hầu hết các tiết luyện tập rất ít giáo viên quan tâm đến tiến hành thí nghiệm Trong thực tế, chất lượng bộ môn Hóa học còn thấp do nhiều nguyên nhân: nhiều thuật ngữ mới lạ và tên gọi khó đọc, học sinh hỏng nhiều về kiến thức
Trang 3II NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
Với những cơ sở nêu trên, do trong quá trình dạy học khi tổ chức thực hiện tiết luyện tập trên lớp còn gặp nhiều bất cập, nên tôi đã cố gắng nghiên cứu những nguyên nhân gây hạn chế để từ đó tìm ra giải pháp tích cực, nhằm giải quyết những khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện tiết luyện tập Hoá học
* Tên đề tài: “ Hoàn thiện kiến thức khi luyện tập Hoá Học bậc THCS”
* Mô tả thực trạng dạy học tiết luyện tập Hóa học
* Nêu một số giải pháp để giải quyết những khó khăn khi thực hiện tiết luyện tập trong chương trình Hoá 8 và 9
* Nhiệm vụ:
1 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước khi tiến hành tiết luyện tập trên lớp
2 Phương pháp dạy học tiết luyện tập (Nội dung luyện tập và tổ chức các hoạt động dạy học)
3 Quy trình lên lớp dạy học tiết luyện tập
* Qua tiết luyện tập, giúp học sinh có khả năng tự tổng hợp kiến thức toàn chương, vận dụng sáng tạo khi thực hành giải bài tập, giải được nhiều dạng bài tập mở rộng hoặc nâng cao, học sinh hứng thú khi luyện tập Hoá học, thấy được
sự gần gũi quan trọng của Hoá học trong cuộc sống
* Khái quát các kết luận và những đề xuất để thực hiện tiết luyện tập hiệu quả
III PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
Dựa vào:
- Các tài liệu bồi dưỡng giáo viên về phương pháp dạy học bộ môn Hoá học
- Định hướng đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học Hoá học của Bộ giáo dục – đào tạo
- Tích luỹ kinh nghiệm của cá nhân trong quá trình dạy học
- Dự giờ đồng nghiệp trong quá trình thanh kiểm tra ở trường và ở ngành
- Các chuyên đề thao giảng thực hiện minh hoạ các tiết luyện tập để cùng nhau tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; trao đổi cùng đồng nghiệp phương pháp dạy học các bài luyện tập để thống nhất phương án tối ưu khi
tổ chức cho học sinh luyện tập trên lớp, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tiết luyện tập
- Kết quả phân tích của các bài kiểm tra sau từng chương, đối chiếu chất lượng bộ môn sau nhiều năm học, rút ra nhận xét, kết luận
Trang 4IV CƠ SỞ VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH:
2 Thời gian tiến hành:
- Áp dụng luyện tập theo phương pháp tích cực trong quá trình giảng dạy và rút ra kinh nghiệm sau từng tiết thực hiện
Xử lí kết quả các bài kiểm tra khối lớp 9 ở 2 năm học 2007 – 2008, 2008
-2009 và học kì I năm học -2009 – 2010 sau từng tiết luyện tập
- Chuẩn bị xây dựng đề tài : năm học 2008 – 2009
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh qua các bài kiểm tra 1 tiết và kiểm tra HKI năm học 2009 – 2010
- Viết thô sáng kiến kinh nghiệm từ tháng 1/2010
- Hoàn thiện vào tháng 3 năm 2010
Trang 5
Trong chương trình Hoá học THCS ở lớp 8 có 8 bài và lớp 9 có 6 bài luyện tập Tất cả các bài luyện tập đều có cấu trúc gồm hai phần: KIẾN THỨC CẦN NHỚ và BÀI TẬP Vị trí của các bài này thường được bố trí ở cuối mỗi chương trước bài kiểm tra 45 phút, kiểm tra học kì và trước các bài thực hành Mục tiêu của các bài luyện tập là giúp học sinh ôn tập, hệ thống hoá, vận dụng (luyện tập, giải bài tập) một số nội dung đã học, thường là sau một chương
I.1 ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN:
Qua thực tế công tác thanh kiểm tra nội bộ hoặc dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy phần lớn giáo viên chuẩn bị và thực hiện các tiết luyện tập theo quy trình như sau:
1 Chuẩn bị:
a Giáo viên:
- Hệ thống bảng phụ (tóm tắt kiến thức cần nhớ, đề bài tập trong SGK hoặc SBT, bài tập cho thêm hoặc bài giải hoàn chỉnh.)
- Phiếu học tập, thiết bị dạy học…
b Học sinh: Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị nội dung kiến thức cần nhớ, trả
lời câu hỏi và giải quyết các bài tập trong nội dung bài luyện tập
2 Thực hiện tiết Luyện tập ( Hoạt động dạy học):
a Phần KIẾN THỨC CẦN NHỚ:
Phần lớn giáo viên đàm thoại với học sinh, cho học sinh trả lời lần lượt các câu hỏi để nhắc lại kiến thức đã học theo sự chuẩn bị đã được giáo viên dặn
từ tiết trước và ghi tóm tắt kiến thức cơ bản theo thứ tự:
1 Nêu câu hỏi cho cá nhân, nhóm 1 Học sinh trả lời
2 Giao bài tập cho toàn lớp hoặc
cho riêng từng nhóm 2 Học sinh giải bài tập theo yêu cầu của giáo viên
3 Yêu cầu nhận xét, rút ra kết luận 3 Thực hiện nhận xét, khái quát hoá
4 Yêu cầu chốt lại kiến thức đã học 4 Học sinh ôn tập, hệ thống hoá các khái niệm, tính chất đã học
5 Ghi tóm tắt kiến thức cơ bản 5 Chép vào vở theo nội dung ghi bảng của giáo viên
Hoặc giáo viên treo sơ đồ câm cho học sinh lựa chọn kiến thức phù hợp, dùng phiếu học tập có ghi sẵn kiến thức phù hợp để sắp xếp thành hệ thống logich
Hoặc treo bảng tóm tắt kiến thức cần nhớ cho học sinh đối chiếu với kết quả
đã chuẩn bị ở nhà
Hoặc bỏ qua phần này và cho học sinh về nhà xem SGK vì sợ không đủ thời gian để giải quyết hết các bài tập trong phần BÀI TẬP
…
Trang 6b Phần BÀI TẬP:
Giáo viên lựa chọn một số bài tập trong phần bài tập của SGK rồi cho học sinh thực hiện theo thứ tự hết bài 1 đến bài 2, 3, 4… bằng các hình thức:
Đàm thoại với học sinh để hoàn thành bài giải
Gọi 1, 2 học sinh lên bảng thực hiện → cả lớp nhận xét → giáo viên hoàn chỉnh (bài giải mẫu)
Cho các nhóm học sinh thảo luận giải quyết bài tập mà giáo viên đã chọn, báo cáo kết quả → nhóm khác nhận xét, bổ sung → giáo viên hoàn chỉnh và đưa đáp án đúng
Giáo viên gợi ý, hướng dẫn để học sinh giải quyết bài tập theo gợi ý, hướng dẫn của giáo viên
Giáo viên nêu phương pháp giải bài tập và cho học sinh về nhà thực hiện
……
Khi kết thúc tiết luyện tập, giáo viên dặn dò học sinh về nhà ôn lại kiến thức cần nhớ, xem lại một số bài tập đã giải để chuẩn bị cho tiết sau kiểm tra
I.2 ĐỐI VỚI HỌC SINH:
- Việc giáo viên giao cho về nhà rất ít học sinh chuẩn bị chu đáo, thường là học sinh chỉ đọc qua phần kiến thức cần nhớ, không tổng hợp được kiến thức cơ bản của một chương hoặc một chủ đề đã học
- Một bộ phận nhỏ học sinh khá giỏi có quan tâm và thực hiện một số bài tập nhưng vẫn chưa có khả năng tìm ra mối quan hệ kiến thức giữa các phần, các chương…
- Nhiều học sinh hỏng kiến thức cơ bản của từng bài nên chủ yếu khi đến lớp, giáo viên thực hiện thì lại chép toàn bộ kiến thức đã được trình bày, không
có khả năng chủ động tìm kiếm và tổng hợp kiến thức
Việc phân bố thời gian giữa các phần trong quy trình luyện tập đôi khi chưa thật hợp lí Có giáo viên nhắc lại kiến thức cần nhớ với lượng thời gian quá nhiều do học sinh không chuẩn bị đầy đủ những yêu cầu của giáo viên trước khi đến lớp, nên không đủ thời gian cho phần giải quyết bài tập Có giáo viên lại xem nhẹ phần kiến thức cần nhớ vì cho rằng nội dung này đã được SGK
Trang 7
Việc làm này dẫn đến sự hẫng hụt kiến thức thực tế, học sinh không nắm được mạch kiến thức cần nhớ nên việc vận dụng lí thuyết để giải bài tập gặp nhiều khó khăn; khả năng tổng hợp, khái quát, mở rộng, nâng cao chưa được rèn luyện trong quá trình luyện tập
Hầu hết giáo viên không sử dụng thí nghiệm hoá học trong quá trình luyện tập bởi nhiều lí do như: sử dụng hoá chất độc hại, việc pha chế, thực hiện và
vệ sinh sau khi thực hành tốn nhiều thời gian, … trong khi đó quỹ thời gian một tiết luyện tập với lượng kiến thức cần ôn luyện lại quá nhiều Chính vì thế nên trong giờ luyện tập, chủ yếu giáo viên lựa chọn một số bài tập để giải hoặc hướng dẫn những nội dung chủ yếu sao cho để tiết sau, học sinh có thể làm bài được khi kiểm tra, không chú trọng đến công tác thực hành thí nghiệm để củng cố và phát triển tư duy cho học sinh thông qua việc thực hành thí nghiệm Vì vậy tính chất trực quan của thí nghiệm trong việc hoàn thiện kiến thức rất hạn chế, tính hệ thống và độ bền kiến thức không cao, chưa thể đáp ứng yêu cầu của bộ môn khoa học thực nghiệm
Việc giao cho học sinh chuẩn bị ở nhà hầu như không được thực hiện đầy đủ bởi không phải học sinh nào cũng có tính tự giác, tích cực Công việc chuẩn
bị mà giáo viên giao cho học sinh còn mang tính chất chung chung, thiếu chi tiết cụ thể Công tác kiểm tra trước khi bước vào giờ ôn tập chưa được quan tâm đúng mức Đa số học sinh còn nặng công việc gia đình nhất là đối với học sinh vùng nông thôn, nhiều học sinh hỏng kiến thức cơ bản, một số học sinh chưa có động cơ học tập bộ môn đúng đắn….nên sự chuẩn bị đầy đủ, chu đáo theo yêu cầu của giáo viên chỉ được thực hiện ở một số học sinh khá giỏi, có hứng thú và yêu thích học tập bộ môn Vì vậy, việc chuẩn bị ở nhà của học sinh hầu như chưa đem lại hiệu quả cho quá trình luyện tập mà chủ yếu là giáo viên ôn gì thì học sinh ghi nhận chừng ấy, thiếu tính độc lập, tư duy, sáng tạo trong học tập bộ môn
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đối với một số giáo viên còn gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là tự học nên kinh nghiệm giảng dạy bộ môn qua việc chuẩn bị bài giảng điện tử còn nhiều bất cập … Kĩ năng tạo hình ảnh động để minh hoạ hay thay thế một số thí nghiệm khó hoặc không
có điều kiện để thực hiện được là một điều quá khó đối với giáo viên Các thiết bị như đèn chiếu, băng hình bộ môn… ở một số trường còn thiếu nên việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa thực hiện đều đặn ở tất cả các tiết luyện tập Hoá học Vì vậy, chất lượng và hiệu quả giờ luyện tập chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu chung về đổi mới phương pháp dạy học
Theo Giáo sư quá cố Nguyễn Ngọc Quang thì: “Phương pháp dạy học hoá
học là cách thức hoạt động cộng tác có mục đích giữa thầy và trò, trong đó
Trang 8thống nhất sự điều khiển của thầy với sự bị điều khiển và sự tự điều khiển của trò, nhằm làm cho trò chiếm lĩnh được khái niệm hoá học” Vậy làm thế
nào để học sinh chiếm lĩnh được khái niệm Hoá học và vận dụng các khái niệm đó vào thực tế một cách hiệu quả thông qua quá trình luyện tập? Tôi xin nêu ra ở đây một số giải pháp như sau:
II.1 Giải pháp chung:
II.1.a Cấu trúc bài dạy luyện tập:
Khi giảng dạy một bài luyện tập, cần thực hiện theo quy trình sau: tổ chức lớp; định hướng mục đích nhiệm vụ bài học; tổ chức học sinh hệ thống hoá, khái quát hoá trên cơ sở đã được chuẩn bị trước nhằm xây dựng nên những bảng tổng kết, các sơ đồ, biểu đồ…; giải quyết bài tập dựa trên cơ sở lí thuyết đã ôn tập; tổng kết bài học; hướng dẫn công việc ở nhà
II.1.b Định hướng chung dạy học tích cực đối với bài luyện tập:
Giáo viên cần sử dụng biện pháp đa dạng giúp học sinh tích cực ôn tập, hệ thống hoá các kiến thức đã học, mối liên hệ giữa chúng (nếu có), đồng thời tích cực vận dụng để luyện tập giải bài tập nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức và rèn luyện các kĩ năng
II.1.c Phương pháp sử dụng các bài luyện tập:
Khi dạy bài luyện tập hay ôn tập, phần kiến thức cần nhớ được bố trí trong nội dung bài không phải là để giáo viên nhắc lại các kiến thức đã học Phải luôn nhớ rằng trong luyện tập, ôn tập các kiến thức đều đã có Vì vậy giáo viên phải biết sử dụng loại bài này để nâng cao kiến thức, kỹ năng cho học sinh một cách sâu sắc, toàn diện, đầy đủ, mở rộng và chính xác hơn Cần cố gắng chủ động giúp học sinh tìm ra mạch kiến thức cơ bản của nội dung được học, mối liên quan hệ thống kiến thức Từ hệ thống kiến thức đó, chọn những bài tập có nội dung tổng hợp liên quan đến nhiều kiến thức cần luyện tập để khắc sâu, mở rộng và nâng cao Khi chọn bài tập giáo viên cần lưu ý các yêu cầu sau:
Giúp học sinh vận dụng kiến thức của chương một cách tổng hợp
Loại bài tập mới có nội dung liên quan, giúp hình thành và rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn
Mức độ phù hợp với mọi đối tượng học sinh yếu, trung bình, khá giỏi Qua bài luyện tập phải làm cho tư duy học sinh nâng cao và phát triển Vì vậy
để phát triển tư duy học sinh, cần chọn lọc và xây dựng hệ thống câu hỏi hỏi đáp có tính mục đích và nội dung rõ ràng, tránh câu hỏi mập mờ, khó hiểu, vụn vặt Ngoài câu hỏi chính, cần có câu hỏi phụ để dẫn dắt khi cần thiết
Nên hướng dẫn cho học sinh cách tổng kết ôn tập ở nhà để chuẩn bị cho bài luyện tập ở trường được thuận lợi Công việc này được tiến hành đều đặn, thường xuyên và cụ thể sau từng tiết học chứ không phải tiết sau luyện tập thì
tiết trước mới dặn dò chung chung: “ Về nhà ôn lại kiến thức đã học để tiết
sau luyện tập!” Việc làm này giúp học sinh độc lập suy nghĩ và kích thích tính
năng động sáng tạo, phát triển tư duy, đó cũng là một phương pháp tích cực
trong việc ôn và luyện tập của học sinh (xem chi tiết ở phần giải pháp cụ thể)
Phải luôn luôn thay đổi các hình thức luyện tập cho phong phú đa dạng và hiệu quả Và dù trong bất kì hình thức nào, học sinh cũng phải chủ động tham gia vào quá trình ôn tập, luyện tập một cách tích cực, hứng thú Điều này phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và nghệ thuật sư phạm của mỗi giáo viên Cần động
Trang 92.1.a/ Chuẩn bị của giáo viên:
Cần định hướng việc thực hiện tiết luyện tập theo những nội dung và phương pháp nào để chuẩn bị thiết kế bài giảng cho phù hợp với mục tiêu cần đạt Nên chọn lọc các bài tập trong SGK, phân chia thành các dạng phù hợp, biến đổi thành
hệ thống bài tập có tính chất tổng hợp để giúp học sinh vận dụng kiến thức một cách tích cực nhất, khắc sâu kiến thức cơ bản Có thể chọn những bài tập trong phần bài tập để kiểm tra trước khi luyện tập, chọn bài tập để giải tại lớp và hướng dẫn học ở nhà… Nên giao công việc cụ thể cho học sinh chuẩn bị ở nhà như: ôn khái niệm nào, xây dựng mối quan hệ giữa các loại chất nào, điều chế chất này từ nguyên liệu nào, có bao nhiêu cách, làm bài tập nào trong SGK, SBT… , để quá trình luyện tập được thuận lợi
Định hướng những điều trên để giáo viên chuẩn bị thiết bị dạy học phù hợp khi lên lớp như: hệ thống bảng phụ, phiếu học tập, dụng cụ và hoá chất thực hành thí nghiệm… Nếu thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng, thì việc tạo hình ảnh động để thay thế một vài thí nghiệm, tạo cơ chế diễn biến của phản ứng hoá học … trong quá trình giảng dạy là hết sức quan trọng và cần thiết Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đang được quan tâm, vì vậy giáo viên nên cố gắng thực hiện trong các tiết luyện tập, sẽ giúp giáo viên và học sinh tiết kiệm được thời gian rất nhiều và hiệu quả của tiết luyện tập cũng được nâng cao
2.1.b/ Hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị ở nhà:
Như đã nói ở trên, công việc này phải được tiến hành đều đặn, thường xuyên trong từng tiết học Người giáo viên khi giảng dạy bộ môn cần phải nắm vững hệ thống kiến thức, cấu trúc chương trình môn học và toàn bộ cấp học Một số giáo viên xem nhẹ việc xây dựng Kế hoạch giảng dạy vì cho rằng Kế hoạch giảng dạy không được sử dụng thường xuyên trong quá trình truyền thụ kiến thức Lập Kế hoạch giảng dạy từ đầu năm học giúp ta nắm vững cấu trúc chương trình, hệ thống kiến thức môn học, biết kiến thức của bài học này có mối quan hệ mật thiết với bài nào và sẽ được áp dụng trong những bài học nào của chương sau, lớp sau… Cần chuẩn bị những dụng cụ hoá chất nào cho từng bài, từng chương, thời gian chuẩn bị như thế nào cho phù hợp để tổ chức thực hiện thí nghiệm hiệu quả…
♣ Ví dụ 1:
Khi giảng dạy lớp 8, Tiết 8, Bài: “ĐƠN CHẤT VÀ HỢP CHẤT PHÂN TỬ”,
một số giáo viên khi giảng dạy phần “ĐƠN CHẤT VÀ HỢP CHẤT” chỉ giới thiệu
cho học sinh: Đơn chất gồm hai loại là Kim loại (như Fe, Cu, Al…) và Phi kim (như
C, P, S…) mà chưa chú ý yêu cầu học sinh bước đầu phải cố gắng học thuộc những nguyên tố Kim loại và Phi kim thường gặp, một số kim loại tan được trong nước như: K, Na, Ba, Ca Nếu không cho học sinh nắm vững nội dung này thì đến
tiết 40, Bài “OXIT”, giáo viên sẽ rất khó khăn trong việc hình thành cho học sinh
Trang 10khái niệm oxitbazơ, oxitaxit, cách phân loại và gọi tên Và đến tiết 55, bài “NƯỚC”, khi nghiên cứu về tính chất hoá học của nước, học sinh sẽ không chọn được oxitbazơ, axitaxit để phản ứng với nước Lưu ý cho học sinh những kim loại nào tan trong nước thì oxit tương ứng cũng tác dụng được với nước… Và tất nhiên,
khi vào đầu năm học lớp 9, bài “ÔN TẬP ĐẦU NĂM” với thời lượng 1 tiết, giáo
viên sẽ rất vất vả trong việc nhắc lại các hợp chất đã được học ở lớp 8
Đến Tiết 2, lớp 9, Bài “TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CỦA OXIT”, học sinh sẽ không thể nào phân biệt được đâu là oxit bazơ, oxitaxit và chúng sẽ có tính chất như thế nào? Làm thế nào để vận dụng tính chất hoá học của Oxit vào bài tập 1 trang 6 SGK?
Có những oxit sau: CaO, Fe 2 O 3 , SO 3 Oxit vào có thể tác dụng được với : a) Nước? b) Axit clohiđric? c)Natrihidroxit?
Và nếu không giúp học sinh phân biệt có mấy loại oxit, chúng khác nhau như thế nào thì sẽ không thể nào mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh khá giỏi khi muốn nói về một số oxit lưỡng tính Như vậy, để dạy tốt phần này và cho những phần sau, giáo viên cần hướng dẫn học sinh về nhà chủ động ôn tập về oxit bằng cách dùng dấu → để sắp xếp các nội dung trong khung thành sơ đồ sao cho phù hợp Ví dụ:
♣ Ví dụ 2:
Sau khi dạy xong Tiết 11, Bài 7, lớp 9: “ TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CỦA BAZƠ ”, cần hướng dẫn học sinh nắm được: Tính chất nào có ở tất cả mọi bazơ? Tính chất nào chỉ có ở dung dịch bazơ mà không có ở bazơ không tan và ngược lại? Lấy ví dụ cụ thể cho bazơ không tan như Cu(OH)2 và dung dịch bazơ như NaOH
( Điền dấu (x) vào ô trống nếu có phản ứng xảy ra)
OXIT KHÔNG TẠO MUỐI
OXI NGUYÊN TỐ
với dd Axit→ Muối và nước
với oxitaxit → Muối
với nước → dd Axit với dd Bazơ→ Muối và nước với oxitbazơ → Muối
với nước ( không ) với dd Axit→ Muối và nước với dd bazơ →Muối và nước
Trang 11
GV : Đặng Thị Oanh Trang
Đổi màu chỉ thị (quỳ tím, phenolphtalein) x
Đến tiết 14, Bài 9: “ TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CỦA MUỐI ”, bổ sung thêm cho học sinh điền dấu (x) đối với muối CaCO3
Đổi màu chỉ thị (quỳ tím,
Tác dụng với dung dịch muối x
Từ phần ôn tập này, buộc học sinh rút ra kết luận: “Bazơ không tan và Muối
không tan trong nước có tính chất gì giống nhau?” (Lấy ví dụ cho Cu(OH)2 và CaCO3) Có hướng dẫn cụ thể như vậy thì học sinh mới có thể vận dụng vào việc chọn chất thích hợp để hoàn thành dãy chuyển hoá hoá học, một trong những dạng bài tập cơ bản mà học sinh thường mắc sai sót trong quá trình giải bài tập
♣ Ví dụ 3:
Sau khi dạy xong chương 3: “PHI KIM, SƠ LƯỢC VỀ BẢNG TUẦN HOÀN
CÁC NGUYÊN TỐ HOÁ HỌC” - giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm mối quan
hệ giữa các chất vô cơ Hoàn thiện kiến thức này là một việc vô cùng quan trọng
và cần thiết Có thể học sinh biểu diễn không đầy đủ mối quan hệ giữa các chất vô
cơ nhưng bước đầu chúng ta tạo điều kiện để học sinh dần dần tự khẳng định mình trong việc tổng hợp kiến thức là điều không thể thiếu trong quá trình dạy học Hoá học Sau đó có thể cho học sinh đối chiếu với sơ đồ hoàn chỉnh ở mức độ dành cho học sinh trung bình Đối với học sinh khá giỏi, có thể cho học sinh phát hiện ở những trường hợp đặc biệt phản ứng có thể xảy ra theo chiều ngược lại không? Lấy ví dụ cụ thể để minh hoạ cho từng trường hợp Tạo sơ đồ mối quan hệ như sau là học sinh đã nắm vững phần lớn kiến thức về Hoá học vô cơ
Trang 12SƠ ĐỒ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHẤT VÔ CƠ
♣ Ví dụ 4:
Sau khi học xong Tiết 64, Bài 53: “PROTEIN”, lớp 9, giáo viên cần cho học sinh tự ôn tập theo những nội dung nhƣ sau:
- Có bao nhiêu loại phản ứng hoá học đƣợc nghiên cứu trong phần Hoá Hữu cơ?
- Đặc điểm của mỗi loại phản ứng trên là gì? (Liên quan nhƣ thế nào đến đặc điểm cấu tạo phân tử của chất đã nghiên cứu?)
- Những chất nào tham gia phản ứng thế, cộng, trùng hợp, thuỷ phân…? Phản ứng thuỷ phân và phản ứng este hoá quan hệ với nhau nhƣ thế nào?
Để hoàn thành yêu cầu này của giáo viên, học sinh phải tự ôn lại tính chất hoá học của tất cả các chất hữu cơ đã học, và nhƣ vậy sau từng nội dung bài học,
Muối
Oxitaxit Oxitbazơ
Muối và kim loại
Muối Muối
Muối và Hiđro
Kim loại
Phi kim
Hai muối
Trang 13
GV : Đặng Thị Oanh Trang
kiến thức của học sinh sẽ được bổ sung và hoàn thiện Đến tiết luyện tập hay ôn
tập, học sinh sẽ thấy thoải mái và hứng thú vì mình đã phát hiện và tổng hợp được
kiến thức của cả một chương, giáo viên cũng nhẹ nhàng hơn trong việc tổ chức
thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp
II.2.2 Phương pháp dạy học tiết luyện tập:
(Nội dung luyện tập và Tổ chức hoạt động dạy học trên lớp)
Như đã nói phần thực trạng dạy học, hầu hết giáo viên thực hiện theo đúng
quy trình của SGK là dạy hết phần kiến thức cần nhớ rồi đến phần giải bài tập
Theo cá nhân tôi, không nhất thiết tất cả các bài luyện tập trong SGK đều thực
hiện như vậy Tuỳ từng bài luyện tập mà ta có thể ôn kiến thức cần nhớ rồi giải
quyết bài tập, song có lúc ta có thể lồng ghép kiến thức cần nhớ vào trong mỗi bài
tập, cũng có thể qua bài tập ta lại khắc sâu kiến thức cần nhớ
2.2.a/ PHẦN KIẾN THỨC CẦN NHỚ:
Nên thực hiện theo một số hình thức sau:
♣ Ví dụ 1: phương pháp grap nội dung kiến thức
Ở lớp 8, Tiết 44 “ BÀI LUYỆN TẬP 5” - chương “OXI KHÔNG KHÍ”, ta nên
thực hiện đàm thoại với học sinh để hoàn thiện kiến thức này theo hệ thống grap
nội dung như sau:
♣ Ví dụ 2: Phương pháp tạo bảng biểu kiến thức cơ bản
Ở lớp 9 , Tiết 51, Bài 42 “ LUYỆN TẬP CHƯƠNG 4: HIĐROCACBON –
NHIÊN LIỆU”, ta nên cho học sinh tự hoàn thiện kiến thức này trong công việc tự
làm ở nhà Trên lớp giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh theo phần đã
hướng dẫn ở tiết trước để có kết quả theo bảng tóm tắt sau:
Khái niệm hóa học
ỨNG DỤNG
TÍNH CHẤT
- Tác dụng với kim loại → oxitbazơ
- Tác dụng với phi kim → oxitaxit
- Tác dụng với hợp chất → các chất khác
PHÂN LOẠI
Oxitbazơ
( là oxit kim loại)
Oxitaxit
(thường là oxit phi kim)
OXI
ĐIỀU CHẾ Trong PTN: từ
KMnO4, KClO3
O2, 78% N2, 1% các khí khác)
Cần cho sự hô hấp,
Sự cháy
Phản ứng hóa hợp Phản ứng phân hủy
Sự cháy, sự oxi hóa
Trang 14* CH3COONa + NaOH → CH4 +
2CH4lam lanh nhanh1500o C
Và với Axetilen, cần giới thiệu phản ứng trùng hợp tạo Polivinylclorua (PVC)
CH ≡ CH + HCl → CH2 = CHCl
nCH2 = CHCl t o, ,P xt (– CH2 – CH –)n
Cl
Hoặc Tiết 58 , Bài 48 “ LUYỆN TẬP RƯỢU ETYLIC, AXITAXETIC và
CHẤT BÉO” học sinh tự hoàn thiện kiến thức cần nhớ theo bảng tóm tắt sau:
2 Phản ứng thế với Na, K:
2C2H5OH +2Na→2C2H5ONa +
* Từ tinh bột, đường bằng cách lên men
* Từ Etilen hợp nước:
Trang 15ng gh
ép kiế
n th
ức cầ
n nh
ớ và
o tro
ng ph
ần bài tập
Tiết
58, bài 38, “BÀI LUYỆN TẬP 7” – Lớp 8:
Từ bài tập 1, 2, 3 (Phần bài tập) rút ra tính chất hóa học của nước và thành phần phân tử của axit, bazơ, muối
Bài tập I : Viết PTHH (nếu có) giữa nước với:
a/ Kim loại Cu, K, Ca
+ Oxitbazơ
dung dịch Bazơ
- Tác dụng với kim loại :
2CH3COOH + Mg → (CH3COO)2Mg + H2
cacbonat:
2CH3COOH + CaCO3 → (CH3COO)2Ca + H2O + CO2
C2H5OH + O2 men giam
3RCOONa + C3H5(OH)3
Trang 16Bài tập II: Hoàn thiện bảng 1,2,3 để rút ra thành phần phân tử của axit, bazơ,
muối
Bảng 1:
– NO3 (nitrat)
Bảng 2:
Nhôm hiđroxit
Fe (III)
Bảng 3:
♣ Ví dụ 4 : Qua bài tập khắc sâu kiến thức cần nhớ
* Tiết 18, Bài 13, Lớp 9, “LUYỆN TẬP CHƯƠNG 1: HỢP CHẤT VÔ CƠ”
Bài tập 2 trang 43 SGK, cho học sinh thực hiện thí nghiệm đã chuẩn bị trước (Đặt
mẫu Natrihidroxit trên tấm kính và để ngoài không khí vài ngày trước khi thực hiện luyện tập) và hướng dẫn:
- NaOH có tác dụng với dung dịch HCl không? Có giải phóng khí không?
- Để có khí bay ra làm đục nước vôi, thì NaOH đã tác dụng với chất nào đó trong không khí tạo ra hợp chất X Hợp chất này tác dụng với dung dịch HCl sinh ra khí CO2 Vậy X thuộc loại hợp chất gì?
- Hợp chất X là muối cacbonat, muối này được tạo thành do NaOH tác dụng với chất nào trong không khí? Oxi hay cacbonđioxit hay hơi nước trong không khí? Qua bài tập trên giúp học sinh vừa nhớ lại tính chất của dung dịch bazơ, vừa nhớ lại tính chất của muối cacbonat, đồng thời để nhận biết muối cacbonat ta nên dùng thuốc thử là dung dịch axit (dấu hiệu có khí thoát ra)
Trang 17♣ Ví dụ 1: Tiết 44, “BÀI LUYỆN TẬP 5”, lớp 8, chia hệ thống bài tập thành các
dạng sau:
- Dạng 1: Viết PTHH, phân loại chất: biến đổi các bài tập 1, 3, 4, 5 thành một bài
tập lớn để viết PTHH và phân loại chất
- (a/ Viết PTHH biểu diễn sự cháy của C, S, P, Mg, Na, Al, Fe biết sản phẩm lần
lượt là: CO 2 , SO 2 , P 2 O 5 , MgO, Na 2 O, Al 2 O 3 , Fe 3 O 4.
- b/ Phân loại và gọi tên sản phẩm các phản ứng trên (Mở rộng: nếu để ngoài
không khí một thời gian thì Sắt sẽ bị gỉ do hoá hợp với oxi trong không khí tạo
Fe 2 O 3 Viết PTHH?)
- Dạng 2: Các loại phản ứng hóa học: bài tập 6,7
- Dạng 3: Tính theo PTHH (toán hiệu suất): bài 8 (Mở rộng : nếu nhiệt phân cùng
một khối lượng KClO3 và KMnO4 thì chất nào sẽ tạo oxi nhiều hơn?)
♣ Ví dụ 2: Tiết 51, Bài 42, “LUYỆN TẬP CHƯƠNG 4: HIĐROCACBON NHIÊN
LIỆU” , lớp 9
- Dạng 1: Viết công thức cấu tạo: (bài 1 và mở rộng một số bài tập tương tự)
(Mở rộng: qua bài tập trên, rút ra phương pháp viết công thức cấu tạo cho từng loại hiđrocacbon:CnH2n+2, CnH2n (anken và xicloankan), CnH2n – 2 )
- Dạng 2: Nhận biết các chất: Bài 2 (mở rộng: nếu thêm axetilen thì nhận biết
bằng cách dùng dung dịch AgNO3/NH3 → nhận Axetilen có kết tủa vàng)
- Dạng 3: Xác định CTHH một chất
♣ Ví dụ 3: Tiết 28, Bài 22, “LUYỆN TẬP CHƯƠNG 2: KIM LOẠI”, lớp 9
- Dạng 1: Hiện tượng hóa học: Biến đổi bài tập 3 thành bài tập cho học sinh quan
sát thí nghiệm (trình chiếu hiện tượng) sử dụng các kim loại A, B, C, D thực hiện phản ứng liên quan đến hiện tượng hóa học Nếu các kim loại trong bài tập trên là Fe, Al, Ag, Cu thì A, B, C, D tương ứng với kim loại nào? Nếu cho A, B vào dung dịch X, trong đó B tan tạo khí không màu, A không tan thì dung dịch X thuộc loại gì?
- Dạng 2: Thực hiện dãy chuyển hóa (bài 4a, b, c) Biến dãy chuyển hoá Sắt (II)
và Fe (III) thành:
FeSO4 → Fe(OH)2 → FeCl2 → Fe
Trang 18
Fe
Mở rộng cho đối tượng học sinh khá giỏi:
1/ Phản ứng xảy ra trong quá trình luyện gang: phản ứng không hoàn toàn đối với quá trình chuyển hóa từ Fe 2 O 3 → Fe 3 O 4 → FeO → Fe
2/ Fe(OH) 2 chuyển hoá thành Fe(OH) 3 ngoài không khí, cũng như khi nung Fe(OH) 2 ngoài không khí thì sản phẩm thu được là Fe 2 O 3
(Khi nung ngoài không khí thì Fe(OH) 2 tạo Fe 2 O 3 do:
♣ Ví dụ 1: Bài tập nhận biết: phương pháp chung là dựa vào:
- Sự biến đổi màu sắc (sự đổi màu quỳ tím, phenolphtalein; màu của một số hợp chất sắt, đồng; màu của dung dịch Brom, dung dịch thuốc tím )
- Sự xuất hiện chất khí (phản ứng tạo khí H2, CO2, SO2, NO2 …)
- Sự xuất hiện chất kết tủa (kết tủa của muối, của bazơ…)
- Khả năng tan và không tan của các chất trong nước ……
- Ví dụ cụ thể:
Đối với việc nhận biết các dung dịch muối nên nhận biết theo thứ tự: muối cacbonat (thuốc thử là dung dịch axit ), muối sunfat (thuốc thử là dung dịch BaCl2), muối clorua (thuốc thử là dung dịch AgNO3), muối nitrat còn lại
* VD: đề kiểm tra HKI năm học 2008 – 2009: Nhận biết các dung dịch muối
mất nhãn: K 2 CO 3 , Na 2 SO 4 , KNO 3 Nhiều học sinh dùng thuốc thử là dung dịch BaCl 2 để nhận ra muối Na 2 SO 4 (kết tủa trắng), sau đó dùng dung dịch axit để nhận dung dịch K 2 CO 3 (có khí thoát ra) Sẽ không thể nhận biết được, vì BaCl 2 cũng tạo kết tủa trắng với K 2 CO 3 Hoặc đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT
năm học 2009 – 2010: Nhận biết các dung dịch NaOH, HCl, Na 2 SO 4 , NaCl mất nhãn Nhiều học sinh dùng quỳ tím nhận được dung dịch NaOH, HCl; dùng dung dịch AgNO 3 nhận muối NaCl (dấu hiệu kết tủa trắng), còn lại là muối
Na 2 SO 4 Sẽ không thể nhận biết được, vì muối Ag 2 SO 4 cũng là muối ít tan nếu nồng độ đậm đặc!
Tuy nhiên trong một vài trường hợp đặc biệt, có thể mở rộng cho học sinh khá giỏi một số dung dịch muối làm đổi màu chỉ thị như dung dịch Na2CO3 làm quỳ tím hóa xanh, dung dịch NaHSO4 làm quỳ tím hóa đỏ …
Nhận biết các chất lỏng: Rượu etylic, Axitaxetic, Benzen, dung dịch Glucozơ: chú ý cho học sinh nên nhận biết theo thứ tự: axit (hoặc dung dịch Glucozơ),
Trang 19
GV : Đặng Thị Oanh Trang
Rượu etylic, Benzen Có thể có nhiều cách nhận biết dung dịch axitaxetic như dùng thuốc thử là quỳ tím, kim loại Mg, muối cacbonat, CuO… học sinh thường nhầm lẫn là dùng Na để nhận biết rượu (có khí H2 thoát ra) trước khi nhận biết axit và dung dịch Glucozơ, khi đó Na sẽ phản ứng với cả axit và dung dịch Glucozơ đều xuất hiện bọt khí H2!
…
♣ Ví dụ 2: Bài tập thực hiện dãy chuyển hóa:
Điều quan trọng nhất là phải nắm vững tính chất hóa học của các chất và nhớ tính tan của các chất trong nước (gồm tính tan của muối và bazơ) Học sinh thường không chọn đúng chất để thực hiện dãy chuyển hóa, nhất là đối với muối (không thỏa mãn điều kiện để phản ứng xảy ra), vì vậy cần khắc sâu cho học sinh (hoặc mở rộng khi cần thiết), trong chương trình Hóa học THCS:
- Phải đảm bảo tính thực tế trong quá trình thực hiện (ví dụ: để điều chế khí CO2
từ muối CaCO3 thì ta thường dùng dung dịch axit chứ không nhiệt phân - vì khi nung CaCO3 phải ở nhiệt độ trên 9000
(ví dụ: Na2SO4BaCl2 NaCl AgNO3 NaNO3
- Muối và Bazơ không tan trong nước thường chỉ tan được trong dung dịch axit
và có thể bị nhiệt phân (trừ BaSO4)
VD: CuSO4 → Cu(OH)2 → CuO ; Na2CO3→ CaCO3 → CO2
- Tính tan của muối sunfua: K Ba Ca Na, , , , Mg Al Zn Fe Pb, , , , , Cu Ag,
Tan trong nước không tan trong nước không tan trong nước
và dd axit chỉ tan trong dd axit và dd axit
Vì vậy, có phản ứng CuCl 2 + H 2 S → CuS↓ + 2HCl nhưng phản ứng FeCl 2 +
H 2 S không xảy ra