Việc hoàn thiện các hình thức tiền lương sẽ giúp cho DN nhậnthức được tầm quan trọng của hệ thống tiền lương trong DN, đồng thời cũng giúp nhàquản trị đưa ra những chính sách tiền lương
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành sản xuất, kinh doanh.Vấn đề cơ bản là phải đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh Để làm được việc đó cần phải có
sự kết hợp của nhiều yếu tố, nhưng yếu tố cơ bản, quan trọng và mang tính quyết địnhnhất là yếu tố con người Trong thời đại ngày nay, khi loài người đã bước sang cuộccách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ ba thì khoa học kỹ thuật đã thực sự trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp như lời Karl Heinrich Marx đã tiên đoán Với sự phát triểnmạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xámchiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các sản phẩm làm ra, con người càng tỏ rõ vai trò quyếtđịnh của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại Nguồn nhânlực là yếu tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế củamỗi quốc gia
Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – mục tiêuquan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, thì nguồn nhân lực chính làchìa khóa của sự thành công Nguồn nhân lực với trình độ tiên tiến sẽ chính là nhân tốđẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Doanh nghiệp được coi làmột xã hội thu nhỏ trong đó con người là nguồn lực quan trọng nhất, quý giá nhất Conngười là yếu tố trung tâm quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Tài sản sức ngườicủa một công ty là tiềm ẩn và là tiềm lực rất lớn nếu biết khai thác Nó là nguồn tài sảncủa công ty như những tài sản vật chất khác Việc tạo ra một môi trường làm việc lýtưởng, đem đến cho nhân viên thù lao hậu hĩnh về vật chất và tinh thần là việc cần làm
để giữ chân nguồn nhân lực Một công ty thành công khi biết đề ra chiến lược thu hútnhân tài và kích thích họ làm tốt công việc
Việt Nam là một nước đang phát triển, thu nhập của hầu hết người lao động cònchưa cao, mức sống của họ còn ở mức trung bình hoặc thấp Thêm vào đó, tình hìnhbiến động của nền kinh tế luôn luôn bấp bênh, khó dự đoán đã khiến cho nhiều doanhnghiệp phải giảm biên chế vì tình hình kinh doanh giảm, cắt giảm nhân công để bù đắpchi phí Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để giữ chân được người tài, cónăng lực thật sự để họ yên tâm công tác và cống hiến hết mình cho DN Đối với sự pháttriển của DN, không có gì quan trọng hơn việc tìm kiếm, đào tạo và giữ chân nhữngngười kiệt xuất Điều này cũng không phải là khám phá mới mẻ đối với bất kỳ DN nào
Và đó cũng là điều khó bác bỏ nhất Ai cũng biết rằng một chế độ ăn hợp lý và tập thểdục thường xuyên là chìa khóa của cuộc sống khỏe mạnh và trường thọ Vậy mà rất ítngười áp dụng và biến những kiến thức không thể chối bỏ đó thành hành động Thayvào đó, lại tìm kiếm lối đi tắt và giải pháp ngắn hạn: các chương trình tạm thời với các
Trang 2kết quả tạm thời Thay đổi cách nghĩ về quản trị nguồn nhân lực trong DN và tìm ranhững giải pháp kích thích tinh thần làm việc của người lao động là cả một quá trình lâudài với các nhà quản trị Việc hoàn thiện các hình thức tiền lương sẽ giúp cho DN nhậnthức được tầm quan trọng của hệ thống tiền lương trong DN, đồng thời cũng giúp nhàquản trị đưa ra những chính sách tiền lương đúng đắn nhằm giữ chân cán bộ công nhânviên, thu hút nhân tài trong và ngoài nước, duy trì đội ngũ lao động có tay nghề, trình
độ cao làm cho người lao động ngày càng gắn bó hơn với DN
Do tình hình chung của nền kinh tế tác động mà Công ty cổ phần Đức Minhcũng không nằm ngoài những khó khăn chung của các DN Quý I năm 2010, lợi nhuậncủa công ty xấp xỉ so với cùng kỳ năm trước Mặc dù lợi nhuận không giảm nhưng đâycũng là vấn đề đáng báo động khi mà lạm phát vẫn tăng mà lợi nhuận công ty không hềtăng Chính vì lẽ đó mà việc sản xuất và kinh doanh của công ty cũng gặp khó khăn.Việc cân đối các khoản chi phí sao cho hợp lý để DN tồn tại bền vững và có lợi nhuận
là một bài toán không dễ dàng tìm ra cách giải Qua quá trình thực tập tại công ty emnhận thấy vấn đề tiền lương của công ty còn gặp một vài bất cập cụ thể như vấn đề địnhmức lao động vẫn còn nhiều nơi lỏng, chất lượng mức chưa tốt, chưa kích thích đượcsản xuất Phần lớn việc trả lương của công ty chủ yếu là áp dụng hình thức trả lươngtheo sản phẩm đối với công nhân sản xuất trực tiếp, còn với bộ phận lao động gián tiếpnhư bộ phận quản lý hay bộ phận văn phòng thì chủ yếu trả lương theo thời gian Tiềnthưởng cũng có mặt hạn chế do quỹ thưởng của công ty không đầu tư nhiều Công táctrả lương cho cán bộ công nhân viên của công ty cũng còn nhiều hạn chế Chính vì vậy
mà em chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân và tìm ra nhữnggiải pháp khắc phục hiệu quả
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề
Là một sinh viên năm cuối chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp thương mại,việc tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản trị tại một doanh nghiệpthương mại trong thực tế là một việc vô cùng quan trọng giúp cho sinh viên áp dụngnhững kiến thức đã được trang bị trong suốt bốn năm ngồi ghế giảng đường vào nghiêncứu và phân tích thực trạng để từ đó đề xuất giải pháp và rút ra những kinh nghiệm quýgiá cho bản thân mình.Qua quá trình thực tập, điều tra khảo sát tại DN, cùng với sự cần
thiết của đề tài này trong lý luận cũng như thực tiễn, em đã lựa chọn đề tài: “Thực
trạng và giải pháp hoàn thiện các loại hình tiền lương tại Công ty cổ phần Đức Minh” làm đề tài nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu về các hình thức tiền lương và công tác quản lý tiềnlương cho cán bộ công nhân viên của Công ty cổ phần Đức Minh
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Trang 3Thứ nhất: Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về tiền lương, bản chất, chức
năng, vai trò của tiền lương và các hình thức tiền lương trong mỗi DN, qua đó thấyđược ý nghĩa của việc hoàn thiện các hình thức tiền lương
Thứ hai: Làm rõ vấn đề của Công ty cổ phần Đức Minh đang gặp phải về việc áp
dụng các hình thức tiền lương thông qua hệ thống thang bảng lương và thông qua côngviệc Đánh giá những thành công mà công ty đã đạt được và những hạn chế mà công tycòn vướng mắc để tìm biện pháp khắc phục
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các hình thức tiền lương tại
Công ty cổ phần Đức Minh, hỗ trợ ban lãnh đạo công ty nhìn nhận và nắm bắt vấn đềmột cách thông suốt để có thể sử dụng quỹ tiền lương thực sự hiệu quả, đồng thời thựchiện những chính sách tiền lương hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu các hình thức tiền lương trong DN
Về không gian: Giới hạn nghiên cứu tại Công ty cổ phần Đức Minh
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu dữ liệu trong khoảng thời gian 3 năm từ 2007 –2009
1.5 Kết cấu luận văn
Cùng với Lời cảm ơn, Mục lục, Danh mục sơ đồ hình vẽ, bảng biểu, cũng nhưDanh mục từ viết tắt trong luận văn thì luận văn bao gồm 4 chương Cụ thể là:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận về các hình thức tiền lương tại doanhnghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng các hình thức tiền lương tạiCông ty cổ phần Đức Minh
Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện các hình thức tiền lương tạiCông ty cổ phần Đức Minh
CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC
TIỀN LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP 2.1 Một số khái niệm và định nghĩa cơ bản
2.1.1 Khái niệm tiền lương
Trang 4Tiền lương phản ánh nhiều mối quan hệ trong kinh tế xã hội Trong nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung, tiền lương không phải là giá cả của sức lao động, không phải làhàng hoá cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như khu vực quản lý nhà nước,quản lý xã hội
Trong kinh tế thị trường, tiền lương được hiểu là: "Tiền lương được biểu hiện
bằng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động Được hình thành thông qua quá trình thảo luận giữa hai bên theo đúng quy định của nhà nước" Thực chất tiền
lương trong nền kinh tế thị trường là giá cả của sức lao động, là khái niệm thuộc phạmtrù kinh tế, xã hội, tuân thủ theo nguyên tắc cung cầu giá cả thị trường và pháp luật hiệnhành của nhà nước Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối, tuân thủnhững nguyên tắc của quy luật phân phối
Đi cùng với khái niệm về tiền lương còn có các loại như tiền lương danh nghĩa,tiền lương thực tế, tiền lương tối thiểu, tiền lương kinh tế, vv…
Tiền lương danh nghĩa là một số lượng tiền tệ mà người lao động nhận từ người
sử dụng lao động, thông qua hợp đồng thoả thuận giữa hai bên, theo quy định của phápluật Thực tế, ta thấy mọi mức trả cho người lao động đều là danh nghĩa
Tiền lương thực tế được xác nhận bằng khối lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch
vụ mà người lao động nhận được qua tiền lương danh nghĩa Tiền lương thực tế đượcxác định từ tiền lương danh nghĩa bằng công thức :
I LTT = I LDN / I G
Trong đó: ILTT : Tiền lương thực tế
ILDN: Tiền lương danh nghĩa
IG : Chỉ số giá cả
Tiền lương thực tế là sự quan tâm trực tiếp của người lao động, bởi vì đối với họlợi ích và mục đích cuối cùng sau khi đã cung ứng sức lao động là tiền lương thực tếchứ không phải là tiền lương danh nghĩa vì nó quyết định khả năng tái sản xuất sức laođộng
Nếu tiền lương danh nghĩa không thay đổi Chỉ số giá cả thay đổi do lạm phát,giá cả hàng hoá tăng, đồng tiền mất giá, thì tiền lương thực tế có sự thay đổi theo chiềuhướng bất lợi cho người lao động
Tiền lương tối thiểu: Theo nghị định 197/CP của Chính phủ ngày 31/12/1994 vềviệc thi hành bộ luật lao động ghi rõ: "Mức lương tối thiểu là mức lương của người laođộng làm công việc đơn giản nhất, (không qua đào tạo, còn gọi là lao động phổ thông),với điều kiện lao động và môi trường bình thường " Đây là mức lương thấp nhất mànhà nước quy định cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trả cho người laođộng
Trang 5Tiền lương kinh tế là số tiền trả thêm vào lương tối thiểu để đạt được sự cungứng lao động theo đúng yêu cầu của người sử dụng lao động.
Về phương diện hạch toán, tiền lương của người lao động trong các doanhnghiệp sản xuất được chia làm 2 loại tiền lương chính và tiền lương phụ Trong đó tiềnlương chính là tiền trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chínhcủa mình, bao gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo Còn tiền lươngphụ là tiền trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện công việc khác ngoàinhiệm vụ chính của họ
2.1.2 Chức năng của tiền lương
2.1.2.1 Chức năng thước đo giá trị của sức lao động
Cũng như mối quan hệ của hàng hoá khác sức lao động cũng được trả công căn
cứ vào giá trị mà nó đã được cống hiến và tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền củagiá trị sức lao động trong cơ chế thị trường Ngày nay ở nước ta thì tiền lương còn thểhiện một phần giá trị sức lao động mà mỗi cá nhân đã được bỏ ra trong quá trình sảnxuất kinh doanh
2.1.2.2 Chức năng duy trì và mở rộng sức lao động
Đây là chức năng cơ bản của tiền lương đối với người lao động bởi sau mỗi quátrình sản xuất kinh doanh thì người lao động phải được bù đắp sức lao động mà họ đã
bỏ ra Để có thể bù đắp lại được, họ cần có thu nhập bằng tiền lương cộng với cáckhoản thu khác (mà tiền lương là chủ yếu), do vậy mà tiền lương phải giúp người laođộng bù đắp lại sức lao động đã hao phí để họ có thể duy trì liên tục quá trình sản xuấtkinh doanh
Mặt khác do yêu cầu của đời sống xã hội nên việc sản xuất không ngừng tăng lên
về quy mô, về chất lượng Để đáp ứng được yêu cầu trên thì tiền lương phải đủ để họduy trì và tái sản xuất sức lao động với ý nghĩa cả về số lượng và chất lượng
2.1.2.3 Chức năng động lực đối với người lao động
Để thực hiện tốt chức năng này thì tiền lương là phần thu chủ yếu trong tổng sốthu nhập của người lao động, có như thế người lao động mới dành sự quan tâm vàocông việc nghiên cứu tìm tòi các sáng kiến cải tiến máy móc thiết bị và quy trình côngnghệ, nâng cao trình độ tay nghề làm cho hiệu quả kinh tế cao
2.1.2.4 Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội
Khi tiền lương là động lực cho người lao động hăng hái làm việc sản xuất thì sẽlàm cho năng xuất lao động tăng lên, đây là tiền đề cho việc phân công lao động xã hộimột cách đầy đủ hơn Người lao động sẽ được phân công làm những công việc thuộc sởtrường của họ
Trang 6Ngoài các chức năng trên tiền lương còn góp phần làm cho việc quản lý lao độngtrong đơn vị trở nên dễ dàng và tiền lương còn góp phần hoàn thiện mối quan hệ xã hộigiữa con người với con người trong quá trình lao động
2.1.3 Vai trò của tiền lương
Tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động, là yếu tố để đảm bảo táisản xuất sức lao động, một bộ phận đặc biệt của sản xuất xã hội Vì vậy, tiền lươngđóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình Ở đây, trướchết tiền lương phải đảm bảo những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người lao động như
ăn, ở, đi lại… Tức là tiền lương phải đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu của người laođộng Chỉ có như vậy, tiền lương mới thực sự có vai trò quan trọng kích thích lao động,
và nâng cao trách nhiệm của người lao động đối với quá trình sản xuất và tái sản xuất
xã hội Đồng thời, chế độ tiền lương phù hợp với sức lao động đã hao phí sẽ đem lại sựlạc quan và tin tưởng vào doanh nghiệp, vào chế độ họ đang sống
Như vậy, trước hết tiền lương có vai trò đối với sự sống của con người lao động,
từ đó trở thành đòn bảy kinh tế để nó phát huy nội lực tối đa hoàn thành công việc Khingười lao động được hưởng thu nhập xứng đáng với công sức của họ đã bỏ ra thì lúc đóvới bất kỳ công việc gì họ cũng sẽ làm Như vậy có thể nói tiền lương đã góp phần quantrọng giúp nhà quản trị điều phối công việc dễ dàng thuận lợi
Trong doanh nghiệp, việc sử dụng công cụ tiền lương ngoài mục đích tạo vậtchất cho người lao động, tiền lương còn có ý nghĩa lớn trong việc theo dõi kiểm tra vàgiám sát người lao động Tiền lương được sử dụng như là thước đo hiệu quả công việc,bản thân tiền lương là một bộ phận cấu thành nên chi phí sản xuất, chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp Vì vậy, nó là yếu tố nằm trong giá thành sản phẩm Do
đó, tiền lương cũng ảnh hưởng đến doanh nghiệp
2.2 Một số lý thuyết về tiền lương
2.2.1 Lý thuyết tiền lương của W.Petty
Dựa trên lý luận giá trị - lao động W.Petty phân tích lý luận tiền lương Ông coitiền lương là một hiện tượng hợp quy luật, bởi vì đây là một hiện tượng kinh tế mớixuất hiện trong thời kỳ này, mà trong thời đại phong kiến không hề có
Về bản chất của tiền lương, ông đã nắm đuợc mối quan hệ giữa công của ngườivới giá trị những tiêu dùng của họ Tiền lương là khoản sinh họat tối thiểu cần thiết chocông nhân và không vượt quá mức này Ông phản đối việc trả lương cao, nếu lương caongười công nhân không muốn làm việc mà chỉ thích uống rượu Điều này là hợp lýtrong điều kiện của chủ nghĩa tư bản chưa phát triển, năng suất lao động còn thấp, chỉ
có hạ thấp tiền lương của công nhân xuống mức tối thiểu cần thiết mới đảm bảo lợinhuận cho nhà tư bản Như vậy, Petty là người đầu tiên đề cập đến "quy luật sắt và tiềnlương"
Trang 7Petty thấy đuợc mối quan hệ giữa tiền lương và lợi nhuận Đây là một quan hệnghịch, một khi tiền lương tăng thì lợi nhuận giảm Như vậy, ông đã thấy đuợc tínhmâu thuẫn và đối lập giữa lợi ích của người công nhân và nhà tư bản Theo ông, việctăng lương trực tiếp gây thiệt hại cho xã hội, tức là thiệt hại cho các nhà tư bản Thực sựthì tiền lương là một phần của giá trị thặng dư do chủ sở hữu chiếm lấy.
Nhìn chung, lý luận tiền lương của W.Petty còn rời rạc nhưng dù sao ông cũng
đã đưa ra đuợc một số nguyên lý đúng đắn về tiền lương
2.2.2 Quan điểm trả lương của A.Smith và Ricardo
2.2.2.1 Quan điểm trả lương của A.Smith
A.Smith cho rằng, tiền lương là thu nhập của bất kỳ người lao động nào Nó là
sự bồi hoàn nhờ công lao động Trong xã hội tư bản tiền lương là thu nhập của giai cấpcông nhân làm thuê Như vậy, tiền lương là thu nhập có lao động, nó gắn liền với laođộng Theo ông, trong sản xuất hàng hóa giản đơn cũng có tiền lương, nó bằng toàn bộsản phẩm của lao động Còn trong chủ nghĩa tư bản, tiền lương cần phải đủ để đảm bảongười công nhân mua phương tiện sống, tồn tại và phải cao hơn mức đó Ông cho rằngtiền lương không thể thấp hơn chi phí tối thiểu cho cuộc sống của công nhân Nếu quáthấp họ sẽ không làm việc và bỏ ra nước ngoài Tiền lương cao sẽ kích thích tiến bộkinh tế bởi vì nó làm tăng năng suất lao động Ông thấy được các nhân tố tác động tiềnlương Đó là điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa, thói quen tiêu dùng; quan
hệ cung cầu trên thị trường lao động; tương quan lực lượng giữa nhà tư bản và côngnhân trong cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lương.Ông nói rằng công nhân ítđược đảm bảo, họ gặp khó khăn trong việc duy trì thời gian bãi công, còn các nhà tưbản lại dễ dàng cấu kết với nhau, luật pháp của nhà nước thì lại bênh vực cho nhà tưbản A.Smith còn tuyên bố rằng lương cao là điều hay, ông không đồng ý với một sốnhà kinh tế cho rằng lương cao là sự kích thích đối với người lao động Ông nói rằngbao giờ người ta cũng thấy thợ thuyền đuợc trả công cao, lanh lẹ hơn là công xá thấp
Để xác định đuợc mức tiền lươngA.Smith đã tính đến những đặc điểm cụ thể vềlao động của con người Theo ông chỉ trong những ngành khó khăn thì cần phải trảlương cao A.Smith còn nói tới mối quan hệ giữa tăng tiền lương và tăng cung về laođộng, tăng sự cạnh tranh giữa công nhân
Tuy nhiên, Smith không hiểu được bản chất của tiền lương Ông chỉ thấy đuợc
sự khác nhau về số lượng giữa tiền lương trong sản xuất hàng hóa giản đơn và trongchủ động bởi vì ông không hiểu phạm trù sức lao động Đây là một hạn chế lớn củaSmith khi phân tích tiền lương
2.2.2.2 Quan điểm trả lương của Ricardo
Ông coi lao động cũng như các hàng hóa khác có giá cả thị trường và giá cả tựnhiên Giá cả thị trường của lao động là tiền lương, nó lên xuống chung quanh giá cả tự
Trang 8nhiên của lao động Giá cả tự nhiên của lao động bằng với giá trị tư liệu sinh họat cầnthiết cho cuộc sống của người công nhân và gia đình anh ta Nó phụ thuộc vào điều kiệnlịch sử, trình độ phát triển, thuyền thống và hình thức tiêu dùng của mỗi dân tộc.
Ricardo ủng hộ "quy luật sắt về tiền lương", tiền lương phải ở mức tối thiểu vàkhông được cao hơn mức đó Ông cho rằng, người công nhân không nên than phiền vềtiền lương thấp vì đây là quy luật tự nhiên Ông giải thích sự xung đột của tiền lương làphụ thuộc vào độ màu mỡ của tự nhiên và sự tăng dân số Ông chống lại sự can thiệpcủa nhà nước vào thị trường lao động và không nên giúp đỡ người nghèo, vì vậy sẽ viphạm quy luật tự nhiên
Như vậy, lý luận tiền lương của Ricardo có những tiến bộ nhất định tuy nhiênvẫn còn nhiều hạn chế Thứ nhất Ricardo coi lao động là hàng hóa nên chưa hiểu đuợcbản chất của tiền lương tư bản chủ nghĩa; thứ hai, khi nói về giá cả những tư liệu sinhhoạt tối thiểu ông chỉ đề cập đến nhu cầu tối thiểu về mặt sinh lý Do đó, ông không thểgiải thích được sự giảm sút của tiền lương một cách có hệ thống; thứ ba, vì cho rằng sựtăng dân số tự nhiên là nhân tố điều tiết tiền lương, nên ông không hiểu được tiền lươngphụ thuộc vào số công nhân có việc làm và số công nhân bị thất nghiệp
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trước đó
Không có công trình nào nghiên cứu đề tài này trong 3 năm gần đây tại Công ty
cổ phần Đức Minh, vì vậy em có tham khảo một vài luận văn của các tác giả nghiêncứu những đề tài liên quan đến đề tài này tại Thư viện Trường Đại học Thương Mại Cụthể:
* Trần Đình Kiên (2008), “Phát triển chính sách tiền lương tại công ty TNHH
dệt may Châu Giang”, Luận văn tốt nghiệp đại học.
* Nguyễn Thị Giang (2008), “Phát triển chính sách tiền lương tại Công ty cổ
phần Tập đoàn Vật liệu xây dựng và cơ khí (EMJ)”, Luận văn tốt nghiệp đại học.
* Hoàng Diệu Linh (2008), “Phát triển chính sách tiền lương tại Công ty cổ
phần Vinafco”, Luận văn tốt nghiệp đại học.
Qua quá trình nghiên cứu em nhận thấy các luận văn cũng đã làm sáng tỏ các nộidung về tiền lương từ công tác tổ chức đến việc áp dụng các hình thức tiền lương Cáctác giả đã vận dụng chúng để phân tích thực trạng của việc áp dụng các hình thức tiềnlương trong từng DN mà họ nghiên cứu và đề ra những giải pháp cụ thể cho từng khókhăn của DN
2.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu
2.4.1 Các hình thức tiền lương tại doanh nghiệp
2.4.1.1 Hình thức tiền lương theo thời gian
Tiền lương theo thời gian là tiền lương thanh toán cho người lao động căn cứ vàothời gian làm việc và trình độ chuyên môn của họ
Trang 9a Đối tượng, điều kiện áp dụng
Tiền lương theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tácquản lý Đối với công nhân sản xuất thì hình thức tiền lương này chỉ áp dụng ở những
bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc không thể tiến hànhđịnh mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất của sản xuất nếu thực hiệntrả công theo sản phẩm sẽ không đảm bảo được chất lượng sản phẩm, không đem lạihiệu quả thiết thực
b Các hình thức tiền lương theo thời gian và ưu, nhược điểm của mỗi hình thức
* Tiền lương theo thời gian giản đơn
Hình thức tiền lương theo thời gian giản đơn là hình thức tiền lương mà tiềnlương nhận được của mỗi người công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thờigian thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định
Hình thức tiền lương này chỉ áp dụng ở những nơi khó xác định mức lao độngchính xác, khó đánh giá công việc chính xác
Tiền lương được tính như sau:
L TT = L CB x T
Trong đó:
LTT : Tiền lương thực tế người lao động nhận được
LCB : Tiền lương cấp bậc tính của người lao động
T : Thời gian thực tế người lao động làm việc (giờ, ngày, tháng)
Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính.
Nhược điểm: Mang nặng tính bình quân, chưa gắn với năng suất lao động của người lao
động
* Tiền lương theo thời gian có thưởng
Hình thức tiền lương này là sự kết hợp giữa hình thức tiền lương theo thời giangiản đơn với tiền thưởng, khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng và chất lượng đã quyđịnh
Trang 10Hình thức tiền lương này phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực
tế, gắn chặt với thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ tiêu thưởng đã đạtđược
Ưu điểm: Khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả công tác
của mình
Nhược điểm: Việc xác định các tiêu chuẩn tính thưởng không chính xác có thể làm tăng
chi phí tiền lương, bội chi quỹ lương,…
2.4.1.2 Hình thức tiền lương theo sản phẩm
a Đối tượng, điều kiện áp dụng
Tiền lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương trả cho người lao động dựatrực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) mà họ đã hoàn thành Đây
là hình thức trả lương được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, nhất là các doanhnghiệp sản xuất chế tạo sản phẩm
Để hình thức tiền lương theo sản phẩm thực sự phát huy tác dụng của nó, cácdoanh nghiệp cần phải đảm bảo được các điều kiện sau đây:
- Phải xây dựng được các định mức lao động có căn cứ khoa học Đây là điều kiện rấtquan trọng làm cơ sở để tính toán đơn giá tiền lương, xây dựng kế hoạch quỹ lương và
sử dụng hợp lý, có hiệu quả tiền lương của doanh nghiệp
- Đảm bảo tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc Tổ chức phục vụ nơi làm việc nhằmđảm bảo cho người lao động có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức năng suất laođộng nhờ vào giảm bớt thời gian tổn thất do phục vụ tổ chức và phục vụ kỹ thuật
- Làm tốt công tác kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm Kiểm tra, nghiệm thu nhằm đảm bảosản phẩm được sản xuất ra theo đúng chất lượng đã quy định, tránh hiện tượng chạytheo số lượng đơn thuần Qua đó, tiền lương được tính và trả đúng với kết quả thực tế
- Giáo dục tốt ý thức và trách nhiệm của người lao động để họ vừa phấn đấu nâng caonăng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đồng thời tiết kiệm vật tư, nguyênliệu và sử dụng hiệu quả nhất máy móc thiết bị và các trang bị làm việc khác
b Các hình thức tiền lương theo sản phẩm và ưu, nhược điểm của mỗi hình thức
* Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
Hình thức tiền lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân được áp dụng rộng rãi đốivới người trực tiếp sản xuất trong điều kiện quá trình lao động của họ mang tính chấtđộc lập tương đối, có thể định mức, kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể
và riêng biệt
- Tính đơn giá tiền lương:
Trang 11Đơn giá tiền lương là mức tiền lương dùng để trả cho người lao động khi họhoàn thành một đơn vị sản phẩm hay công việc Đơn giá tiền lương được tính như sau:
Đ G = L o / Q
hoặc: Đ G = L o T
Trong đó: ĐG : đơn giá tiền lương trả cho một sản phẩm
Lo : lương cấp bậc của công nhân trong kỳ (tháng, ngày)
Q : Mức sản lượng của công nhân trong kỳ
T : Mức thời gian hoàn thành một đơn vị sản phẩm
Tiền lương trong kỳ mà một công nhân hưởng lương theo chế độ trả lương sảnphẩm trực tiếp cá nhân được tính như sau:
L 1 = Đ G Q 1
Trong đó: L1: tiền lương thực tế mà công được nhận
Q1: Số lượng sản phẩm thực tế hoàn thành
Ưu điểm:
- Dễ dàng tính được tiền lương trực tiếp trong kỳ
- Khuyến khích công nhân tích cực làm việc để nâng cao năng suất lao động tăng tiềnlương một cách trực tiếp
Nhược điểm:
- Dễ làm công nhân chỉ quan tâm đến số lượng mà ít chú ý đến chất lượng sản phẩm
- Nếu không có thái độ và ý thức làm việc tốt sẽ ít quan tâm đến tiết kiệm vật tư,nguyên liệu hay sử dụng hiệu quả máy móc thiết bị
* Hình thức tiền lương sản phẩm tập thể
Hình thức này áp dụng cho một nhóm người lao động (tổ sản xuất ) khi họ hoànthành một khối lượng sản phẩm nhất định Hình thức tiền lương sản phẩm tập thể ápdụng cho những công việc đòi hỏi nhiều người cùng tham gia thực hiện, mà công việccủa mỗi cá nhân có liên quan đến nhau
- Tính đơn giá tiền lương
Đơn giá tiền lương được tính như sau:
+ Nếu tổ hoàn thành nhiều sản phẩm trong kỳ ta có:
Trang 12Chia lương cho cá nhân trong tổ:
Việc chia lương cho từng cá nhân trong tổ rất quan trọng trong chế độ trả lương sảnphẩm tập thể Có hai phương pháp chia lương thường được áp dụng Đó là phương phápdùng hệ số điều chỉnh và phương pháp dùng giờ - hệ số Trong thực tế, ngoài hai phươngpháp này, nhiều cơ sở sản xuất, các tổ áp dụng phương pháp chia lương đơn giản hơn,chẳng hạn chia lương theo phân loại, bình bầu A, B, C đối với người lao động
Ưu điểm: Hình thức tiền lương sản phẩm tập thể có tác dụng nâng cao ý thức trách
nhiệm, tinh thần hợp tác và phối hợp có hiệu quả giữa các công nhân làm việc trong tổ
để cả tổ làm việc hiệu quả hơn, khuyến khích các tổ lao động làm việc theo mô hình tổchức lao động theo tổ tự quản
Nhược điểm: Hình thức tiền lương theo sản phẩm tập thể cũng hạn chế khuyến khích
tăng năng suất lao động cá nhân, vì tiền lương phụ thuộc vào kết quả làm việc chungcủa cả tổ chứ không trực tiếp phụ thuộc vào kết quả làm việc của bản thân họ,…
* Hình thức tiền lương theo sản phẩm gián tiếp
Hình thức tiền lương theo sản phẩm gián tiếp được áp dụng để trả lương chonhững lao động làm các công việc phục vụ hay phụ trợ, phục vụ cho hoạt động củacông nhân chính
- Tính đơn giá tiền lương theo công thức sau:
L
Đ G =
-M x Q
Trong đó: ĐG : Đơn giá tiền lương của công nhân phụ, phụ trợ
L: Lương cấp bậc của công nhân phụ, phụ trợM: Mức phục vụ của công nhân phụ, phụ trợQ: Mức sản lượng của một công nhân chính
- Tính tiền lương thực tế:
Tiền lương thực tế của công nhân phụ, phụ trợ tính theo công thức sau:
L I = Đ G Q I
Trong đó: L1 : tiền lương thực tế của công nhân phụ, phụ trợ
ĐG : Đơn giá tiền lương của công nhân phụ, phụ trợ
Trang 13QI : Mức hoàn thành thực tế của công nhân chínhTiền lương thực tế của công nhân phụ, phục vụ còn có thể được tính dựa vàomức năng suất lao động thực tế của công nhân chính, như sau:
L Q 1 L
L I = Đ G x - x - = Đ G x - x I n
M Q 0 M
Trong đó: LI: tiền lương thực tế của công nhân phụ, phụ trợ
L: lương cấp bậc của công nhân phụ, phụ trợ
ĐG: đơn giá tiền lương của công nhân phụ, phụ trợM: mức phục vụ của công nhân phụ, phụ trợ
In: chỉ số hoàn thành năng suất lao động của công nhân chính
Q1: Mức hoàn thành thực tế của công nhân chính
Q0: Mức hoàn thành theo quy định
Ưu điểm: Hình thức tiền lương này khuyến khích công nhân phụ - phụ trợ phục vụ tốt
hơn cho hoạt động của công nhân chính, góp phần nâng cao năng suất lao động củacông nhân chính
Nhược điểm: Tiền lương của công nhân phụ - phụ trợ phụ thuộc vào kết quả làm việc
thực tế của công nhân chính, mà kết quả này nhiều khi lại chịu tác động của các yếu tốkhác Do vậy có thể làm hạn chế sự cố gắng làm việc của công nhân phụ
* Hình thức tiền lương sản phẩm khoán
Hình thức tiền lương sản phẩm khoán áp dụng cho những công việc được giaokhoán cho công nhân Hình thức này được thực hiện khá phổ biến trong ngành nôngnghiệp, xây dựng cơ bản, hoặc trong một số ngành khác khi công nhân làm các côngviệc mang tính đột xuất, công việc không thể xác định một định mức lao động ổn địnhtrong thời gian dài được
Tiền lương khoán được tính như sau:
L I = Đ GK x Q I
Trong đó: LI : tiền lương thực tế công nhân nhận được
ĐGK: đơn giá khoán cho một sản phẩm hay công việc
QI : số lượng sản phẩm được hoàn thành
Một trong những vấn đề quan trọng trong hình thức tiền lương này là xác địnhđơn giá khoán; đơn giá tiền lương khoán được tính toán dựa vào phân tích nói chung vàcác khâu công việc trong các công việc giao khoán cho công nhân
Ưu điểm: Hình thức tiền lương sản phẩm khoán có tác dụng làm cho người lao động
phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình làm việc, giảmthời gian lao động, hoàn thành nhanh công việc giao khoán
Trang 14Nhược điểm: Việc xác định đơn giá giao khoán phức tạp, nhiều khi khó chính xác, việc
áp dụng hình thức tiền lương sản phẩm khoán có thể làm cho công nhân bi quan haykhông chú ý đầy đủ đến một số việc bộ phận trong quá trình hoàn thành công việc giaokhoán
* Hình thức tiền lương sản phẩm có thưởng
Hình thức tiền lương sản phẩm có thưởng là sự kết hợp hình thức tiền lương theosản phẩm (theo các chế độ đã trình bày ở phần trên) và tiền thưởng
Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng gồm hai phần:
- Phần trả lương theo đơn giá cố định và số lượng sản phẩm thực tế đã hoàn thành
- Phần tiền thưởng được tính dựa vào trình độ hoàn thành và hoàn thành vượt mức cácchỉ tiêu thưởng cả về số lượng và chất lượng sản phẩm
Tiền lương sản phẩm có thưởng tính theo công thức sau:
L (m,h)
L th = L +
100
Trong đó: Lth : tiền lương sản phẩm có thưởng
L: tiền lương trả theo sản phẩm với đơn giá cố định m: tỷ lệ phần trăm tiền thưởng (tính theo tiền lương theo sản phẩm vớiđơn giá cố định)
h: tỷ lệ phần trăm hoàn thành vượt mức sản lượng được tính thưởng
Ưu điểm: Hình thức tiền lương này là khuyến khích công nhân tích cực làm việc hoàn
thành vượt mức sản lượng
Nhược điểm: Việc phân tích tính toán xác định các chỉ tiêu tính thưởng không chính xác
có thể làm tăng chi phí tiền lương, bội chi quỹ tiền lương
* Hình thức tiền lương theo sản phẩm lũy tiến
Hình thức tiền lương theo sản phẩm luỹ tiền thường được áp dụng ở những
“khâu yếu” trong sản xuất Đó là khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình sảnxuất
Trong hình thức tiền lương này dùng hai loại đơn giá:
- Đơn giá cố định: dùng để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn thành
- Đơn giá luỹ tiến để tính lương cho những sản phẩm vượt mức khởi điểm Đơn giá luỹtiến là đơn giá cố định nhân với tỷ lệ tăng đơn giá
Tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến được tính theo công thức sau:
L t = Đ G Q I + Đ G x k(Q I - Q 0 )
Trong đó: Lt : tổng tiền lương trả theo sản phẩm luỹ tiến
Trang 15ĐG : đơn giá cố định tính theo sản phẩm
QI : sản lượng sản phẩm thực tế hoàn thành
Q0 : sản lượng đạt mức khởi điểmk: tỷ lệ tăng thêm để có được đơn giá luỹ tiếnTrong hình thức tiền lương sản phẩm luỹ tiến, tỷ lệ tăng đơn giá hợp lý được xácđịnh dựa vào phần tăng chi phí sản xuất gián tiếp cố định Tỷ lệ này được xác định như
sau:
d cd x t c
k = - x 100 %
d L
Trong đó: k: tỷ lệ tăng đơn giá hợp lý
dcd : tỷ trọng chi phí sản xuất, gián tiếp cố định trong giá thành sản phẩm
tc: tỷ lệ của số tiền tiết kiệm về chi phí sản xuất gián tiếp cố định dùng đểtăng đơn giá
dL: tỷ trọng tiền lương của công nhân sản xuất trong giá thành sản phẩm
khi hoàn thành vượt mức sản lượng
Ưu điểm: Việc tăng đơn giá cho những sản phẩm vượt mức khởi điểm làm cho công
nhân tích cực làm việc tăng năng suất lao động
Nhược điểm: Áp dụng chế độ này dễ làm cho tốc độ tăng của tiền lương lớn hơn tốc độ
tăng năng suất lao động của những khâu áp dụng trả lương sản phẩm luỹ tiến
Trên đây là những hình thức tiền lương trong hình thức tiền lương theo sản phẩmđược áp dụng trong các doanh nghiệp hiện nay ở nước ta Trong thực tế ngoài các hìnhthức tiền lương như trên, các doanh nghiệp tại các địa phương, ngành khác nhau thường
áp dụng kết hợp cùng các chế độ phụ cấp lương do Nhà nước quy định, nhằm đảm bảođược các nguyên tắc trong trả lương cho người lao động như hình thức tiền lươngkhoán, hình thức tiền lương hỗn hợp
* Hình thức tiền lương khoán: là hình thức tiền lương mà số tiền lương người lao độngđược hưởng trên khối lượng, số lượng và chất lượng công việc hoàn thành Lươngkhoán có thể theo thời gian (giờ), hay trên đơn vị sản phẩm, hoặc trên doanh thu, thậmchí là lãi gộp trong tháng
* Hình thức tiền lương hỗn hợp: đây là hình thức kết hợp giữa hình thức tiền lương theothời gian và hình thức tiền lương theo sản phẩm Áp dụng hình thức tiền lương này, tiềnlương của người lao động được chia thành hai bộ phận:
- Bộ phận cứng: Bộ phận này tương đối ổn định nhằm bảo đảm mức thu nhập tốithiểu cho người lao động, ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ Bộ phậnnày sẽ được quy định theo bậc lương cơ bản và ngày công làm việc của người lao độngtrong mỗi tháng
Trang 16- Bộ phận biến động: Tùy thuộc vào năng suất, chất lượng và hiệu quả lao độngcủa từng cá nhân người lao động và kết quả kinh doanh của DN.
Hình thức tiền lương hỗn hợp này hiện nay thường được áp dụng cho các DNthương mại
2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện các hình thức tiền lương trong doanh nghiệp
2.4.2.1 Những nhân tố khách quan
* Mặt bằng lương trên thị trường lao động: Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt cácdoanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lưỡng mức lương trong xã hội hiện nay đối với cùngmột ngành nghề, từ đó đề ra mức lương phù hợp cho người lao động Doanh nghiệpcũng cần quan tâm đến mức chi phí sinh hoạt, các tổ chức công đoàn, xã hội, nền kinh
tế, và cả đến hệ thống pháp luật,…
* Chính sách tiền lương của nhà nước: Để đảm bảo cho mức thu nhập của người laođộng, nhà nước đã ban hành chế độ tiền lương mới trong đó có quy định rõ về các tiêuchuẩn, cấp bậc, kỹ thuật, thang lương, bảng lương, mức lương tối thiểu,…
* Tác động của tổ chức Công đoàn: Công đoàn là tổ chức đảm bảo quyền lợi của ngườilao động vì thế mà cấp quản trị phải thỏa thuận với họ về ba lĩnh vực sau: Các tiêuchuẩn để xếp lương, mức chênh lệch lương và mức trả lương
Nếu công ty muốn áp dụng kế hoạch trả lương kích thích người lao động thì phảibàn bạc với công đoàn và có sự ủng hộ của công đoàn thì dễ dàng thực hiện
* Sự phát triển của nền kinh tế: Trong một nền kinh tế đang suy thoái thì nguồn cungứng lao động tăng cao, doanh nghiệp sẽ có xu hướng hạ thấp lương hoặc không tănglương Tuy nhiên công đoàn và xã hội lại ép các doanh nghiệp phải tăng lương cho phùhợp với chi phí sinh hoạt gia tăng
2.4.2.2 Những nhân tố chủ quan
* Bản thân cán bộ công nhân viên
Chính bản thân cán bộ công nhân viên quyết định rất nhiều đến tiền lương của họ.Tiền lương của người lao động phụ thuộc vào các yếu tố như: trình độ, sự nỗ lực, sựhoàn thành công tác hay sự thực hiện công việc, thâm niên, kinh nghiệm, tiềm năng,năng suất lao động,…
Chính vì vậy mà để hoàn thiện được các hình thức tiền lương thì đòi hỏi nhàquản trị phải đào tạo, sắp xếp, bố trí nhân viên sao cho hợp lý nhằm tăng được năngsuất lao động, từ đó hoàn thiện các hình thức tiền lương cho DN
* Tổ chức doanh nghiệp
Chính sách của DN: Là nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức tiền lương trả chocán bộ công nhân viên, nó là công cụ thúc đẩy nhân viên nỗ lực trong công việc, ảnhhưởng tới hành vi làm việc của nhân viên
Trang 17Cơ cấu tổ chức của DN ảnh hưởng đến cơ cấu tiền lương: Nếu cơ cấu DN cànglớn thì cơ cấu tiền lương càng phức tạp.
Khả năng chi trả của DN: Đây là một yếu tố quan trọng quyết định đến công táctiền lương Nếu DN có nguồn tài chính eo hẹp thì họ cũng không có khả năng trả đượcmức lương cao cho nhân viên và ngược lại nếu khả năng chi trả cao thì họ có thể nângcao được mức lương cho nhân viên cũng như có thể đa dạng hóa các hình thức tiềnlương trả cho nhân viên
* Tính chất công việc
Công việc là yếu tố hàng đầu và quyết định đến chính sách tiền lương của DN,các DN chú trọng đến giá trị thực sự của công việc cụ thể Vị trí tầm quan trọng củacông việc rõ ràng là có ảnh hưởng đến tiền lương mà nhân viên được hưởng
Tóm lại:
Các hình thức tiền lương nêu trên chỉ mang tính lý luận, nhà quản trị cần phảicăn cứ vào thực tế , hoàn cảnh của DN mình để áp dụng sao cho hợp lý nhất, góp phầnvào sự phát triển của DN mình nói riêng và của nền kinh tế nói chung
Trong điều kiện hiện nay để tiền lương phát huy tác dụng tích cực của nó thì trướchết mỗi DN phải đảm bảo tiền lương của mình thực hiện đầy đủ các chức năng của tiềnlương là:
+ Đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất lao động
+ Tiền lương phải nuôi sống được người lao động, duy trì sức lao động của họtrong DN Tiền lương chính là giá cả hàng hoá sức lao động, là yếu tố đầu vào quantrọng được hạch toán đầy đủ vào giá thành sản phẩm Đối với người lao động, tiềnlương có vai trò quan trọng trong đời sống của họ, nó quyết định sự ổn định và pháttriển kinh tế gia đình họ, nó là phương tiện để tái sản xuất lao động Vì vậy, tiền lương
có tác động rất lớn đến thái độ của người lao động đối với sản xuất, kinh doanh
Các DN phải tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ, quan tâm đến thị hiếu của kháchhàng, tăng năng suất lao động để nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sảnphẩm nhằm cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Do vậy các DN cần lựa chọn các hìnhthức tiền lương hợp lý để tạo động lực, kích thích người lao động trong sản xuất, kinhdoanh Lựa chọn được hình thức tiền lương hợp lý không chỉ đảm bảo trả đúng, trả đủcho người lao động, gắn tiền lương với kết quả lao động thực sự của mỗi người mà nócòn là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người hăng say, nhiệt tình làm việc, pháthuy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và từ đó cảm thấy thực sự gắn bó với DN, yêu thíchnhững công việc của mình Thực hiện tốt việc áp dụng các hình thức tiền lương tạo điềukiện cho những công tác khác như tổ chức sản xuất, quản lý lao động, hạch toán chi phíđược thực hiện tốt hơn
Trang 18CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG CÁC HÌNH
THỨC TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỨC MINH
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1.Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu không có sẵn, được thu thập lần đầu
* Tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp
Đối với vấn đề hoàn thiện các hình thức tiền lương tại Công ty cổ phần ĐứcMinh tiến hành điều tra, phỏng vấn chuyên sâu một số lãnh đạo và nhân viên ở cácphòng ban trong công ty
* Mục đích của việc thu thập dữ liệu sơ cấp
Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề tiền lương tại công ty, về chính sách tiền lương,công tác tổ chức quản lý tiền lương cũng như giải đáp một số thắc mắc liên quan đếncông tác tiền lương tại công ty
Phương pháp nghiên cứu các dữ liệu sơ cấp: Thông qua các số liệu thu thập được
từ việc quan sát, tìm hiểu tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty, từ đó xử lý so
Trang 19sánh các chỉ tiêu, thông số đã thu thập và đưa ra những kết luận sơ bộ về tình hìnhchung của công ty, tìm ra nguyên nhân và đề ra hướng khắc phục.
3.1.1.1 Phương pháp điều tra trắc nghiệm
* Mục đích điều tra: Việc điều tra này giúp em có thể hiểu rõ thêm về công tác tiềnlương trong công ty thông qua nhiều kênh thông tin – từ những người trực tiếp hưởnglương đến người trực tiếp ra quyết định về chính sách tiền lương của công ty
* Số lượng phiếu điều tra: Số phiếu điều tra được phát ra ở tất cả các bộ phận phòngban trong công ty, mỗi phòng ban có trên hai bản hỏi Tổng số bản hỏi phát ra là 15bản
3.1.1.2 Phương pháp phỏng vấn
* Đối tượng phỏng vấn:
- Nhà quản trị: bao gồm Ban Giám đốc – người trực tiếp xây dựng chính sách tiềnlương của công ty và áp dụng thực hiện những chính sách đó với toàn thể cán bộ côngnhân viên của công ty Các trưởng phó phòng chức năng như phòng phòng Tổ chứcnhân sự, phòng Kinh doanh, phòng Kế toán tài chính,…
- Công nhân viên: Gồm những công nhân viên ở các phòng ban, phân xưởng của công
ty – những người được trực tiếp hưởng lương của công ty Họ sẽ có những nhận xét sátnhất về tình hình đãi ngộ trong công ty
* Mục đích phỏng vấn
Tổng hợp những câu hỏi cũng như những câu trả lời của các đối tượng đượcphỏng vấn, từ đó đưa ra những kết luận về công tác tiền lương của công ty, thấy đượcđiểm mạnh cũng như điểm yếu của công ty, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các giải phápkhắc phục
3.1.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu có sẵn (trong các số liệu thống kê, các cuộcnghiên cứu trước đó của bản thân DN, tổ chức, hay của các đơn vị bên ngoài Nó cũng
có thể là các dữ liệu về kết quả kinh doanh hay các thông tin nội bộ trong DN
3.1.2.1 Nguồn thu thập dữ liệu thứ cấp
Các dữ liệu thứ cấp thu thập được từ phòng Tổ chức – Hành chính, phòng Kếtoán tài chính các số liệu bao gồm:
- Các số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm 2007 –2009
- Các số liệu về cơ cấu lao động của công ty trong 3 năm 2007 – 2009
- Các số liệu về hiệu quả sử dụng lao động của công ty và chính sách tiền lươngcủa công ty trong 3 năm 2007 – 2009
Trang 203.1.2.2 Thu thập và xử lý dữ liệu
- Với những dữ liệu về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 nămgần đây, tiến hành chia tỷ lệ phần trăm doanh số qua các năm nhằm đánh giá mức độtăng trưởng về doanh thu cũng như lợi nhuận của công ty
- Với số liệu về cơ cấu lao động và hiệu quả sử dụng lao động của công ty trong
3 năm gần đây, tiến hành chia tỷ lệ phần trăm đánh giá năng suất lao động bình quân,mức sinh lợi của một lao động, hiệu suất chi phí tiền lương, doanh lợi chi phí tiềnlương
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức tiền lương tại Công ty cổ phần Đức Minh
3.2.1 Đánh giá tổng quan về tình hình áp dụng các hình thức tiền lương của Công
ty cổ phần Đức Minh
3.2.1.1 Giới thiệu về công ty
a Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Đức Minh
Tên tiếng Anh: Duc Minh
Tên viết tắt: Duc Minh joint stock company
Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
Ban đầu công ty được thành lập vào ngày 4/6/2001 với tên “Chi nhánh Công tyXNK Tổng hợp Hà Nội tại Hưng Yên” Chức năng chính của chi nhánh là: XNK, sảnxuất và kinh doanh nhiều mặt hàng như lắp ráp máy điều hòa, nồi cơm điện, các sảnphẩm giấy, khăn giấy, các loại bao bì, bìa carton,…
Là chi nhánh mới được thành lập nên cơ sở vật chất, quy mô sản xuất còn nhỏ hẹp,trình độ cán bộ công nhân viên còn hạn chế, điều kiện tiếp xúc với thị trường còn kém
vì thế vẫn chưa tạo được lòng tin cho khách hàng Chính vì vậy, để đáp ứng nhu cầucủa người tiêu dùng và các công ty, bạn hàng, đến năm 2008 chi nhánh XNK Tổng hợpHưng Yên đã kết hợp với công ty Minh Đức hình thành nên Công ty cổ phần Đức Minhđược cấp giấy phép kinh doanh số 0503000356 ngày 11/6/2008 do Sở Kế hoạch và đầu
tư cấp
Từ khi chuyển thành Công ty cổ phần, hoạt động sản xuất chủ yếu của Công ty
là sản xuất kinh doanh bao bì PP, bìa cacton Công ty dùng nguồn vốn của mình để đầu
tư mở rộng sản xuất nên việc đầu tư các lĩnh vực như nguồn nhân lực, máy móc thiết bị
là yếu tố quan trọng để khẳng định vị trí của Công ty trên thị trường Để nâng cao quátrình sản xuất, Công ty đã chú trọng bổ sung thêm cán bộ có năng lực, kinh nghiệm,trang bị thêm cho văn phòng trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý như máy tính,máy in, máy photo, điện thoại Ngoài ra định kỳ hàng năm Công ty còn cử một số cán
bộ đi học lớp nghiệp vụ để nâng cao trình độ quản lý của Công ty Bên cạnh đó Công ty
Trang 21còn làm tốt nghĩa vụ thu nộp thuế đối với nhà nước thông qua việc thực hiện thuế giá trịgia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, đầy đủ và kịp thời.
Với những cải cách có tính chiến lược đó, ban lãnh đạo công ty luôn chỉ đạo độingũ cán bộ chuyên môn tập trung phát huy các sản phẩm, thị trường truyền thống củacông ty, khai thác, mở rộng thị trường và sản phẩm mới Nhờ vậy, sản phẩm truyềnthống của công ty là bao bì carton và bao bì PP đã có chỗ đứng vững chắc trên thịtrường, với mức tiêu thụ 3500 tấn đến 4000 tấn mỗi năm, với những khách hàng lớnnhư: nhà máy VIFON ACECOOK, rượu Hà Nội, các hãng sản xuất thức ăn chăn nuôigia súc,
Trong xu thế phát triển của thị trường, trong những năm tới Công ty sẽ nâng caochất lượng bao bì để đáp ứng nhu cầu đóng gói của sản phẩm Bên cạnh đó, dự kiếncuối năm 2010, công ty sẽ hình thành một dây chuyền lớn sản xuất bao bì xi-măng Đểđược như vậy Công ty cổ phần Đức Minh phải không ngừng cải tiến dây chuyền sảnxuất, tìm kiếm nguồn nguyên liệu đúng yêu cầu đảm bảo chất lượng
b Cơ cấu tổ chức của Công ty
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của công ty
Trang 22Chức năng nhiệm vụ các phòng ban:
- Giám đốc: Chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động của công ty như chiến lượcphát triển công ty, chỉ đạo các hoạt động kinh doanh, các vấn đề nhân sự, tài chính,… ởtầm vĩ mô của công ty
- Phó giám đốc: Giúp Giám đốc điều hành và được Giám đốc phân công phụ tráchnhững lĩnh vực công tác cụ thể trong công ty
- Phòng Tổ chức – Hành chính: Trực tiếp quản lý và giải quyết khâu lao động, tiềnlương, tiền thưởng, chế độ bảo hiểm, chính sách phát triển nhân sự,… nhằm đạt đượcmục tiêu chung của DN thông qua việc quản lý con người
- Phòng Kế toán tài chính: Có chức năng giúp Giám đốc chỉ đạo toàn bộ công tác kếtoán, thống kê, quản lý kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chế độ quản lý kinh tế,hạch toán kinh tế, lập báo cáo quyết toán kết quả hoạt động kinh doanh ở Công ty
- Phòng Kinh doanh: Có chức năng trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt độngtiếp thị, bán hàng, phân phối sản phẩm tới các khách hàng và khách hàng tiềm năng củacông ty nhằm đạt mục tiêu về doanh số, thị phần và thỏa mãn những mục tiêu củakhách hàng
- Phòng kỹ thuật: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc chỉ đạo và tổ chức thực hiệncác công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý khai thác hệ thống cơ sở vật chất
Văn phòng xưởng
Phòng Kế toán tài chính
Phòng Kỹ thuật
Phân
xưởng
Kéo sợi
Phân xưởng Dệt
Phân xưởng Cắt
Phân xưởng May
Phân xưởng Đóng kiện
Trang 23kĩ thuật, quản lý kĩ thuật an toàn, quản lý các định mức kinh tế kỹ thuật, quản lý về chấtlượng, đồng thời thiết kế, quản lý công nghệ sản xuất, xây dựng đăng kí các tiêu chuẩn
kĩ thuật, chất lượng theo quy định của nhà nước, quản lý thiết kế bảo dưỡng lắp rápthiết bị, xây dựng nội quy vận hành thiết bị kiểm tra về kĩ thuật
- Văn phòng xưởng: Có chức năng quản lý và giám sát trực tiếp các xưởng sản xuấtnhằm đảm bảo hoạt động tại các xưởng diễn ra theo đúng kế hoạch và yêu cầu của côngty
- Phân xưởng Kéo sợi, phân xưởng Dệt, phân xưởng Cắt, phân xưởng May, phân xưởngĐóng kiện: Thực hiện các chức năng đúng như tên gọi của từng phân xưởng là kéo sợi,dệt , cắt, may, đóng kiện nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh choCông ty
c Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
* Chức năng của công ty: Công ty cổ phần Đức Minh là một đơn vị hoạt động kinhdoanh theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước Vì là một tế bào kinh tếnên cũng như những DN khác, công ty cũng có chức năng chung sản xuất ra của cải vậtchất để cung cấp cho nhu cầu thiết yếu của xã hội
* Nhiệm vụ của công ty: Đối với từng loại đối tượng khác nhau, công ty phải thực hiệnnhững nghĩa vụ khác nhau
+ Đối với Nhà nước: Công ty có trách nhiệm nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước cũng nhưcác khoản phí và lệ phí khác Đồng thời công ty phải tổ chức tốt công tác hạch toán kếtoán tài chính theo quy định của pháp luật
+ Đối với công ty:
- Sử dụng và phát triển vốn có hiệu quả, đảm bảo lợi nhuận và mở rộng hoạt động kinhdoanh
- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong công ty
+ Đối với khách hàng: Phục vụ một cách tốt nhất nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng trong phạm vi có thể của công ty, cung cấp đầy đủ số lượng hàng và đảm bảo cho khách hàng
về chất lượng sản phẩm của công ty
3.2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm 2007 – 2009
Trang 24Bảng 3.1: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐỨC MINH TỪ NĂM 2007 – 2009
STT NỘI DUNG Đơn vị
tính
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
So sánh 2008/2007
So sánh 2009/2008 Chênh lệch % Chênh lệch %
Trang 25Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy tình hình hoạt động của công ty trong 3 nămgần đây tương đối ổn định và tăng đều qua các năm, quy mô cũng được mở rộng đáng
kể Điều đó chứng tỏ sản phẩm của Công ty đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trườngbao bì Cụ thể là:
Năm 2008 doanh thu toàn công ty tăng 5,6 tỷ đồng tương ứng tỷ lệ 5,52% Năm
2008 là năm kinh tế thị trường có nhiều biến động phức tạp nhưng doanh thu của công
ty vẫn đạt 107 tỷ đồng Hơn nữa trong năm này, công ty thực hiện cổ phần hóa, tinhgiản lao động, việc chuyển đổi còn có nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của toàncông ty , lợi nhuận vẫn tăng cao, tăng đến 93,1% so với năm 2007, nhờ đó thu nhậpbình quân của cán bộ công nhân viên trong công ty cũng tăng đáng kể (25,22%)
Năm 2009, năm đầu tiên công ty hoạt động dưới hình thức là Công ty cổ phần,việc sản xuất kinh doanh của công ty gặp không ít khó khăn, giá một số nguyên vật liệuchủ yếu tăng, sản phẩm chịu sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường Song dưới sự lãnhđạo, chỉ đạo chủ động, linh hoạt, cụ thể của Đảng bộ, ban giám đốc công ty, toàn thểcán bộ công nhân viên của công ty đã nỗ lực phấn đấu đẩy mạnh phong trào thi đuaphát huy mọi nguồn lực của đơn vị, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, hoàn thành chỉ tiêunộp ngân sách nhà nước, đảm bảo việc làm và nâng cao đời sống của cán bộ công nhânviên Công ty đã phấn đấu hoàn thành kế hoạch do Ban Giám đốc đề ra, chấp hành đầy
đủ các chính sách pháp luật của Nhà nước
Ta thấy lợi nhuận của công ty năm 2009 đã tăng so với năm 2008 là khá lớn từ3,92 tỷ đồng lên 5,29 tỷ đồng Tổng doanh thu năm 2008 là 107 tỷ đồng, năm 2009 là113,58 tỷ đồng, tăng 6,58 tỷ (6,15%) so với năm 2008 Điều này cho thấy, năng suất laođộng và hiệu quả làm việc cao hơn, và đây cũng là kết quả tích cực của hướng đầu tưđổi mới máy móc, thiết bị và bồi dưỡng trình độ lao động của công ty
3.2.1.3 Tổng quan tình hình sử dụng các hình thức tiền lương của Công ty cổ phần Đức Minh trong thời gian gần đây
Trong các năm qua, Công ty cổ phần Đức Minh vẫn luôn áp dụng linh hoạt cả 2hình thức tiền lương:
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm
- Hình thức tiền lương theo thời gian
Hình thức tiền lương theo thời gian được áp dụng trả cho nhân viên phục vụ sảnxuất và cán bộ nhân viên hành chính như các cán bộ nhân viên phòng Kinh doanh,phòng Tổ chức – Hành chính, phòng Kế toán,…
Hình thức tiền lương theo sản phẩm được áp dụng cho các lao động thuộc phânxưởng Kéo sợi, phân xưởng Dệt, phân xưởng Cắt, phân xưởng May và phân xưởngĐóng kiện Ở các phân xưởng này đã có đơn giá sản phẩm rõ ràng, việc kiểm tra,
Trang 26nghiệm thu sản phẩm có thể thực hiện một cách cụ thể và riêng biệt cho từng người laođộng.
Trong thời gian gần đây, thu nhập bình quân theo đầu người của cán bộ côngnhân viên trong công ty không ngừng tăng lên, nó phản ánh tương đối chính xác tìnhhình sản xuất kinh doanh của công ty, năng suất lao động của công nhân và hiệu quảlàm việc của các cán bộ quản lý trong công ty Tuy nhiên, qua bảng 3.1 ta có thể thấylợi nhuận của công ty hàng năm tăng khá cao (năm 2008 tăng so với năm 2007 là93,1% ; năm 2008 tăng so với năm 2008 là 34,95%), mặc dù vậy thu nhập bình quântheo đầu người của công ty lại có tỷ lệ tăng chưa cao, chưa tương xứng so với sự tăng tỷ
lệ của lợi nhuận (năm 2008 tăng 25,22% so với năm 2007; năm 2009 tăng 18,75% sovới năm 2008) Trong khi lợi nhuận tăng cao mà công sức của người lao động khôngđược bù đắp xứng đáng thì sẽ dễ gây ra sự bất mãn cho người lao động Do vậy, màCông ty cần phải xem xét lại việc áp dụng các hình thức tiền lương cho cán bộ côngnhân viên trong Công ty của mình xem đã thúc đẩy họ phát huy hết năng lực làm việccủa mình hay chưa Với việc áp dụng linh hoạt cả 2 hình thức tiền lương, công ty cũng
đã có cố gắng trong việc đánh giá một cách công bằng nhất có thể kết quả làm việc củacán bộ công nhân viên, nhưng công tác đánh giá thực hiện công việc ở công ty còn chưađược chú trọng nên đôi khi vẫn xảy ra tình trạng kết quả đánh giá không tương xứngvới công sức mà họ đã bỏ ra
3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện các hình thức tiền lương tại Công
ty cổ phần Đức Minh
3.2.2.1 Những nhân tố khách quan
* Mặt bằng lương trên thị trường lao động: Hiện nay, trên thị trường lao động, các công
ty đang ra sức cạnh tranh nhau, đưa ra mức lương hấp dẫn nhằm thu hút người giỏi vềphía mình Đặc biệt với những công ty sản xuất kinh doanh cùng ngành nghề, mứclương dành cho cán bộ công nhân viên của họ tăng hay giảm đều ảnh hưởng trực tiếpđến quyết định trả lương ở Công ty cổ phần Đức Minh Trong thời gian qua, Công ty cổphần Đức Minh cũng đã thường xuyên tăng lương cho người lao động để họ tập trunglàm việc cho công ty, không có ý định chuyển sang công ty khác Điều này đòi hỏi cáccán bộ làm công tác tiền lương phải liên tục nghiên cứu mức lương trên thị trường để từ
đó không ngừng hoàn thiện các hình thức tiền lương cho công ty
* Chính sách tiền lương của Nhà nước: Nhà nước đưa ra các chính sách quy định rõ vềcác tiêu chuẩn, cấp bậc, thang lương, bảng lương, mức lương tối thiểu,… Công ty cổphần Đức Minh cũng đã luôn dựa trên những quy định này nhằm hoàn thiện các hìnhthức tiền lương mà vẫn luôn đảm bảo mức thu nhập cho người lao động Các chính sáchtiền lương của Nhà nước có ảnh hưởng tương đối lớn đến công ty, nó đã giúp cho việc
áp dụng các hình thức tiền lương trở nên dễ dàng hơn, đồng thời trong những năm qua
Trang 27nó giúp cho những người làm công tác tiền lương tại công ty làm việc hiệu quả hơn, dễthấy được cần áp dụng hình thức tiền lương nào cho đối tượng lao động nào.
* Tác động của tổ chức Công đoàn: Trong những năm từ 2007 – 2009 thì công tác hoànthiện các hình thức tiền lương của Công ty cổ phần Đức Minh luôn có sự hỗ trợ, canthiệp của Công đoàn Vì thế, lợi ích của người lao động trong công ty tương đối đượcđảm bảo Tổ chức Công đoàn của Công ty có tầm ảnh hưởng lớn đến việc đưa ra cáctiêu chuẩn để xếp lương, mức chênh lệch lương và áp dụng các hình thức tiền lương.Nhờ có sự giúp đỡ của Công đoàn mà các hình thức tiền lương của công ty được ápdụng tương đối phù hợp với từng đối tượng lao động
* Sự phát triển của nền kinh tế: Nền kinh tế đang dần được phục hồi sau thời kỳ suythoái Những tác động của nó đến các công ty là không hề nhỏ Vì vậy, trong thời gianqua, Công ty cổ phần Đức Minh luôn luôn chú ý đến những biến động của nền kinh tế
để có những thay đổi phù hợp cho việc áp dụng các hình thức tiền lương Trong nhữngnăm qua nền kinh tế có nhiều biến động, làm cho giá nguyên vật liệu tăng, lại thêm lạmphát,… nhưng dưới sự lãnh đạo khéo léo của Ban Giám đốc, doanh thu của Công ty vẫnliên tục tăng, lợi nhuận cũng tăng cao nên quỹ lương của Công ty càng ngày càng được
mở rộng, điều này khiến cho việc áp dụng các hình thức tiền lương tại công ty tươngđối thuận lợi hơn và không bị bó hẹp bởi quỹ lương nhỏ
3.2.2.2 Những nhân tố chủ quan
* Bản thân cán bộ công nhân viên của Công ty cổ phần Đức Minh
Trong thời gian qua, bản thân cán bộ công nhân viên của công ty đã quyết địnhrất nhiều đến tiền lương của họ Việc hoàn thiện các hình thức tiền lương của công tyluôn căn cứ vào sự hoàn thành công tác của các cán bộ công nhân viên, và từ đó đã đưa
ra các hình thức tiền lương hợp lý, thúc đẩy họ làm việc một cách tích cực, tạo ra năngsuất lao động cao
Ngoài ra, thâm niên, trình độ của người lao động trong công ty cũng là một yếu
tố quan trọng cần nhắc đến khi áp dụng hình thức tiền lương theo thời gian ở công ty
Vì vậy, công tác hoàn thiện các hình thức tiền lương ở Công ty cũng đã căn cứ vào yếu
tố này để xác định hình thức tiền lương áp dụng chính xác cho từng đối tượng lao động
Mặt khác, năng lực quản lý và khả năng sử dụng công nghệ trong công việc cũng
có ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ đến việc áp dụng hình thức tiền lương nào cho đốitượng lao động nào Vì cả hai yếu tố này đều gắn chặt với con người nên ban lãnh đạoCông ty cổ phần Đức Minh luôn quan tâm và chỉ đạo hết sức sát sao Có thể dễ dàngthấy rằng năng lực quản lý và khả năng sử dụng công nghệ trong công việc của ngườilao động ở Công ty cổ phần Đức Minh là tương đối tốt vì doanh thu của công ty liên tụctăng cao qua các năm, lợi nhuận của công ty tăng dẫn đến quỹ lương của công ty cũng
Trang 28đã được xây dựng lớn hơn để dễ dàng thực hiện việc áp dụng các hình thức tiền lươngsao cho phù hợp nhất với từng cán bộ công nhân viên trong công ty.
* Tổ chức Công ty
Chính sách của Công ty: Do chính sách của Công ty cổ phần Đức Minh mà việchoàn thiện các hình thức tiền lương ở công ty đã luôn được thực hiện đều đặn từng năm.Chính sách của công ty là luôn tạo điều kiện thúc đẩy quá trình lao động sản xuất cóhiệu quả thông qua việc áp dụng các hình thức tiền lương phù hợp với từng đối tượnglao động nhằm đạt được sự công bằng và chính xác, tuy nhiên vẫn phải phù hợp vớitình hình tài chính của công ty Chính vì thế mà trong thời gian qua, phản ứng củangười lao động với mức lương công ty trả cho họ là tương đối tốt, hầu như không cónhiều phàn nàn
Cơ cấu tổ chức của Công ty: Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Đức Minhcũng tương đối đơn giản, đứng đầu là Giám đốc, tiếp đến là Phó Giám đốc, các phòngban và các phân xưởng Vì vậy, việc áp dụng các hình thức tiền lương của công ty thờigian gần đây cũng không quá phức tạp, nên công tác hoàn thiện các hình thức tiềnlương tại công ty cũng dễ dàng thực hiện Với từng đối tương cán bộ công nhân viên cócấp bậc, chức vụ khác nhau thì áp dụng các hình thức tiền lương khác nhau Nhìn chung
cơ cấu tổ chức đơn giản nên ảnh hưởng tương đối tích cực đến việc áp dụng các hìnhthức tiền lương
Khả năng chi trả của Công ty: Đây là điều quan trọng và có tính chất quyết định.Công ty cổ phần Đức Minh có nguồn tài tương đối ổn định nên việc xây dựng quyclương cũng tương đối thuận lợi, việc tăng lương cũng được thực hiện không mấy khókhăn Trong mấy năm trở lại đấy thì đây là một yếu tố ảnh hưởng tích cực đến công táchoàn thiện các hình thức tiền lương
* Tính chất công việc: Công việc là yếu tố chính quyết định đến hình thức tiền lương trảcho mỗi người trong công ty Tại Công ty cổ phần Đức Minh, các cán bộ quản lý vànhân viên hành chính, nhân viên phục vụ được áp dụng hình thức tiền lương khác vớicác công nhân sản xuất trực tiếp Vì vậy, khi hoàn thiện các hình thức tiền lương chocông ty, các cán bộ làm công tác tiền lương đã đặc biệt chú ý đến yếu tố này để đưa ramức lương phù hợp với từng loại công việc và xứng đáng với công sức bỏ ra của mỗingười Trong công ty, công nhân trực tiếp sản xuất được áp dụng hình thức tiền lươngtheo sản phẩm, còn các cán bộ, nhân viên tại các phòng ban trong công ty và nhân viênphục vụ được áp dụng hình thức tiền lương theo thời gian
3.3 Kết quả điều tra và phỏng vấn
3.3.1 Kết quả điều tra
Qua kết quả điều tra khảo sát về các hình thức tiền lương tại Công ty cổ phầnĐức Minh thì 100% số người được hỏi cho rằng công tác tiền lương trong DN rất được
Trang 29chú trọng, và công ty áp dụng cả hình thức trả lương theo thời gian và hình thức trảlương theo sản phẩm Tổng số phiếu phát ra là 15 phiếu, số phiếu thu về là 15.
Bảng 3.2 : Tổng hợp kết quả điều tra về việc áp dụng các hình thức
tiền lương tại Công ty cổ phần Đức Minh
Câu 1
Công ty của anh (chị) hiện đang áp dụng các hình thức tiền lương nào?
a Hình thức tiền lương trả theo thời gian 0/15
Câu 6
Anh (chị) có được biết lý do các khoản khấu trừ vào tiền lương của mình không?
Trang 30Câu 8 nhiều khó khăn không?
ty có sự tăng mức lương cơ bản hiện tại để có mức sống được đảm bảo hơn Họ khônghài lòng với mức lương hiện tại vì nó không đủ để trang trải những chi phí trong cuộcsống thường ngày Tuy nhiên phần đông những người được khảo sát hài lòng với sốtiền lương họ nhận được vì nó xứng đáng với công sức làm việc mà họ bỏ ra
Đánh giá việc áp dụng các hình thức tiền lương ở công ty thì 86,67% số ngườiđược điều tra cho rằng các hình thức tiền lương mà công ty đang áp dụng là hợp lý vớitình hình hoạt động của công ty, loại hình công ty cũng như đặc điểm ngành nghề kinhdoanh Tuy nhiên, 13,33% trong số họ lại có ý kiến khác Họ cho rằng đối với bộ phậnnhân viên của phòng kinh doanh thì công ty nên có một mức lương khoán doanh thu cụthể để họ có thể dễ dàng theo dõi mức lương của mình, và dễ dàng trong việc định giámức lương của họ Còn đối với nhân viên khối văn phòng thì công ty có thể có thêm
Trang 31một mức lương bổ sung dựa vào tình hình kinh doanh trong tháng hoặc trong quý đểkích thích nhân viên làm việc tích cực và có hiệu quả hơn.
Nhìn chung là việc áp dụng hình thức tiền lương theo sản phẩm của công ty kháthuận lợi Một mặt vì công ty có chính sách tiền lương quy định rất chặt chẽ và rõ ràngđịnh mức tiền lương cho bộ phận công nhân được trả lương theo sản phẩm, mặt khác là
do năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty khá cao Chính vì thế mà công ty chỉ gặpmột số khó khăn khi áp dụng hình thức tiền lương này như đánh giá chưa chính xác kếtquả làm việc của một số đối tượng khiến cho họ không hài lòng với cách tính lươnghiện tại của công ty,…
Nhìn vào kết quả tổng hợp có thể thấy việc áp dụng hình thức tiền lương theothời gian là tương đối dễ dàng Có đến 93,33% số người được hỏi cho rằng hình thứctiền lương này áp dụng khá đơn giản và dễ dàng, phù hợp với tình hình hoạt động và cơcấu tổ chức hiện tại của công ty Tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi một số ít khókhăn do hình thức tiền lương này mang lại Nó có thể tạo ra sự thiếu công bằng, gây ra
sự bất mãn của một số người với công ty, tạo dư luận không tốt, ảnh hưởng đến uy tíncủa công ty
Qua đây cũng có thể thấy được rõ sự cố gắng của những người làm công tác tiềnlương trong công ty Họ luôn giải thích rõ ràng các vấn đề liên quan đến tiền lương chocác đối tượng nhận lương hiểu và chấp nhận Do đó công ty đã rất thành công khi việc
áp dụng các hình thức tiền lương được sự ủng hộ của đa số cán bộ công nhân viên trongcông ty
3.3.2 Kết quả phỏng vấn
Phỏng vấn Ban giám đốc công ty về việc áp dụng các hình thức tiền lương tạicông ty, ông Nguyễn Đức Thanh – Giám đốc công ty cho rằng: Công ty rất chú trọngtrong vấn đề áp dụng, hoàn thiện và quản lý thực hiện các hình thức tiền lương sao chohợp lý Quan điểm của Ban giám đốc “Con người là yếu tố quyết định” Chính vì lẽ đó
mà công ty rất quan tâm và tạo điều kiện cho nhân viên làm việc cũng như áp dụng cáchình thức tiền lương hợp lý nhất với từng bộ phận, từng đối tượng sao cho đánh giá mộtcách chính xác nhất năng lực và công sức mà các cán bộ công nhân viên của công ty đã
bỏ ra Hiện tại thì mức thu nhập một tháng của cán bộ công nhân viên trong công tytương đối ổn định Có 55% số người có mức lương dưới 2 triệu đồng, họ đa phần làcông nhân tại các xưởng sản xuất; 21% là từ 2 – 3 triệu đồng; 18% trong số nhữngngười được hỏi có thu nhập từ 3 – 4 triệu đồng; 6% là trên 5 triệu đồng Lý do có sựchênh lệch như vậy là vì đa phần ở công ty là công nhân tại các xưởng sản xuất, sốlượng công nhân lao động phổ thông lớn nên mức lương của họ không cao Những
Trang 32nhân viên hành chính, kế toán và những người có trách nhiệm trong các tổ sản xuất thì
có mức lương cao hơn, không thua kém gì các nhân viên có cùng vị trí ở các công ty lâncận Mức lương cao nhất thuộc về những nhà lãnh đạo của công ty
Tình hình áp dụng các hình thức tiền lương của công ty hiện nay tương đối tốt.Công ty đã cố gắng chi trả cho cán bộ công nhân viên những khoản tiền lương theo thỏathuận cũng như một số các khoản trợ cấp, phúc lợi Vấn đề áp dụng các hình thức tiềnlương là một vấn đề hết sức nhạy cảm, nó có thể kích thích người lao động làm việc nếunhư các hình thức tiền lương đó được áp dụng đúng, còn nó sẽ phản tác dụng nếu như
DN thực hiện không tốt Hiện tại công ty đang áp dụng linh hoạt cả hai hình thức tiềnlương: hình thức tiền lương theo thời gian và hình thức tiền lương theo sản phẩm Theoông Nguyễn Đức Thanh thì chính sách này cũng phản ánh được mức đóng góp của cán
bộ công nhân viên cũng như kích thích được họ làm việc tốt Ngoài ra công ty cũngkhông ngừng hoàn thiện các hình thức tiền lương để sao cho có thể đánh giá đúng nhấtnhững gì mà cán bộ công nhân viên đã làm được cho công ty và trả cho họ những gì họđáng được hưởng, phù hợp với nguyện vọng của cán bộ công nhân viên trong công tycũng như gia đình họ Về mong muốn tăng mức lương cơ bản hiện tại của công nhân,ông Thanh cho biết, công ty cũng đã tính đến việc tăng lương cho người lao động để họ
có thể đảm bảo mức sống cho bản thân và gia đình trước tình hình giá cả sinh hoạt đangngày càng tăng nhanh như hiện nay Tuy nhiên, việc tăng lương phải dựa vào tình hìnhkinh doanh của công ty cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này như cân đốivới những quy định của Nhà nước, quỹ lương của công ty, mặt bằng lương trên thịtrương trong các đơn vị có cùng lĩnh vực kinh doanh Ban giám đốc luôn cố gắng hoànthiện hệ thống các hình thức tiền lương một cách phù hợp nhất với mục đích công ty cóthể thu hút và giữ chân được những cán bộ công nhân viên có năng lực gắn bó lâu dàivới công ty
3.4 Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp
3.4.1 Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình tiền lương của Công ty cổ phần Đức Minh trong thời gian qua
Trang 33Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình tiền lương của Công ty
Trang 34Qua bảng thống kê một số chỉ tiêu phản ánh tình hình tiền lương của Công ty, cóthể nhận thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đang trên đà phát triển, doanhthu của Công ty vẫn tăng dần theo từng năm, mức tăng của năm sau luôn cao hơn mứctăng của năm trước ( nếu như năm 2008 chỉ tăng 5,52% so với năm 2007 thì đến năm
2009 doanh thu của công ty đã tăng 6,15% so với năm 2008) Doanh thu tăng dẫn đếnlợi nhuận của Công ty cũng tăng Đặc biệt, năm 2008 là năm công ty thực hiện cổ phầnhóa, mặc dù lúc đó kinh tế Việt Nam đang chịu ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế thếgiới, tưởng chừng công ty sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhưng ngược lại, với năng lựcquản lý của ban lãnh đạo cộng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trongcông ty, công ty đã vượt qua khó khăn và có mức tăng lợi nhuận đạt mức kỷ lục, tăng93,1% so với năm 2007, theo đó mức thu nhập bình quân theo đầu người ở Công tynăm 2008 cũng tăng 25,22% so với năm 2007
Tỷ suất tiền lương/doanh thu ở công ty năm 2008 tăng 8,02% so với năm 2007,nhưng đến năm 2009 thì lại giảm 1,31% so với năm 2008, điều đó cho thấy rằng doanhthu của công ty vẫn tăng, lợi nhuận cũng tăng cao qua từng năm nhưng quỹ lương củacông ty lại tăng ít hơn khiến cho số tiền lương mà người lao động được hưởng cũngkhông tăng cao
Năng suất lao động bình quân của người lao động trong toàn công ty cũng phảnánh một phần tiền lương mà họ nhận được Năm 2008 chỉ tiêu này tăng 11,97% so vớinăm 2007, nhưng bước sang năm 2009 thì năng suất lao động bình quân ở Công ty cổphần Đức Minh lại giảm một cách đáng kể (4,47%) Đây là một con số đáng báo động.Trong khi tiền lương của người lao động vẫn tăng qua từng năm thì năng suất lao độngbình quân của họ lại giảm chứng tỏ việc áp dụng các hình thức tiền lương ở công ty vẫncòn gặp một số khó khăn như áp dụng chưa đúng đối tượng,… khiến cho người laođộng không phát huy được hết khả năng của mình và không nỗ lực hết mình cho sựnghiệp sản xuất kinh doanh của toàn Công ty
Tổng quỹ lương của công ty cố phần Đức Minh cũng tương đối lớn: năm 2007 là10,5432 tỷ đồng, năm 2008 là 12,4416 tỷ đồng, tăng 18,01% so với năm 2007 Năm
2009 tổng quỹ lương của công ty tăng khá cao – 31,94% so với năm 2008, tuy nhiêntiền lương bình quân mà người lao động nhận được lại không tăng cao như thế, mộtphần là do công ty năm 2009 đã tuyển thêm lao động, phần khác là do năng suất laođộng bình quân của người lao động cũng giảm
Qua một số chỉ tiêu trên, tình hình tiền lương của Công ty cổ phần Đức Minhcũng đã được phản ánh một cách tương đối rõ ràng Nó không chỉ phản ánh một cáchđơn thuần công tác tiền lương trong công ty mà nó còn phản ánh cả năng lực lãnh đạo,quản lý của cấp lãnh đạo và ý thức làm việc của toàn bộ cán bộ công nhân viên củacông ty