Để đánh giá về hàm lượng của chúng trong các mẫu môi trường và sinh hoá, các nhà khoa học đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp ICP-MS, phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử
Trang 1XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI CHÌ(II) VÀ CADIMI(II) BẰNG
PHƯƠNG PHÁP VÔN-AMPE HOÀ TAN SỬ DỤNG ĐIỆN CỰC
MÀNG BITMUT TRÊN NỀN CACBON NANOTUBE
CAO VĂN HOÀNG ( )
TRỊNH XUÂN GIẢN( )
TRỊNH ANH ĐỨC ( )
TỪ VỌNG NGHI ( )
NGUYỄN VĂN HỢP ( )
NGUYỄN HẢI PHONG ( )
TÓM TẮT
hoà
- hoà
hoà
-
- 120s Quy -
ABSTRACT Bismuth film electrode prepared in situ on the support of carbon nanotubes (BiFE/nanoC) was used for the simultaneous determination of sub-ppb levels of lead (II) and cadmium (II) by differential pulse - anodic stripping voltammetry (DP-ASV) in the solution of 0.1 M acetate buffer (pH = 4.5) Conditions for fabrication of the electrode were found: the carbon nanotubes paste/tricresyl phosphate binding oil mass ratio (mC:mTCP) of 6:4; the mixture dried at suitable temperatures and then packed into one end of a Teflon electrode probe Effects of supporting electrolytes and interferents such as metal ions and surfactant Triton X-100 on lead and cadmium stripping responses were surveyed Under suitable conditions, the method gained high reproducibility of the metal ions stripping peak current: 0.8% (n = 9) for lead and 1.1% (n = 9) for cadmium, and low limit of RSD: 0.05 ppb for each metal at a deposition potential of – 1200 mV detection for a deposition time of 60 s – 120 s The DP-ASV procedure using BiFE/nanoC was applied successfully to the analysis of lead and cadmium in natural water samples in Binh Dinh province, Central Vietnam
( )
ThS, Đại học Quy Nhơn
( )
GS.TSKH, Viện Hoá học, Viện KH & CN Việt Nam
( )
TS, Viện Hoá học, Viện KH & CN Việt Nam
( )
GS.TS, Đại học KHTN, Đại học QG Hà Nội
( )
PGS.TS, Đại học Khoa học, Đại học Huế
( )
TS, Đại học Khoa học, Đại học Huế
Trang 21 MỞ ĐẦU
Cadimi và chì là những kim loại có
mặt trong hầu hết các đối tượng môi trường
và sinh hoá Ở nồng độ cao chúng ảnh
hưởng có hại đối với cơ thể người và động
vật Để đánh giá về hàm lượng của chúng
trong các mẫu môi trường và sinh hoá, các
nhà khoa học đã sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau như phương pháp ICP-MS,
phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử, phổ
hấp thụ phân tử và các phương pháp phân
tích điện hoá
Trong các công trình đã được công bố,
phương pháp Von – Ampe hoà tan anot
được sử dụng chủ yếu để xác định hàm
lượng các kim loại trong các đối tượng môi
trường, sinh hoá, nước, đất… Phương
pháp Von – Ampe hoà tan hấp phụ có độ
nhạy và độ chọn lọc cao, giới hạn phát hiện
thấp nhưng đối tượng áp dụng hẹp, chủ yếu
để xác định hàm lượng kim loại trong nước
tự nhiên Hầu hết các nghiên cứu đều sử
dụng điện cực giọt treo thuỷ ngân (HDME)
hoặc màng mỏng thuỷ ngân (MFE) Tuy
nhiên, do độc tính cao của thuỷ ngân, nên
điện cực thuỷ ngân không thích hợp cho
phân tích tại hiện trường Do đó, xu hướng
hiện nay trên thế giới, các nhà khoa học cố
tìm kiếm những vật liệu mới để thay thế
thuỷ ngân dùng làm điện cực làm việc
Wang.J (Đại học bang Arizona, Mĩ) [1] đã
thành công trong quá trình chế tạo ra điện
cực màng bitmut trên điện cực nền glassy
cacbon, ứng dụng để xác định Pb, Cd, Zn,
Cu, Co, Ni trong các đối tượng môi trường
Economou [2] cũng ứng dụng điện cực
màng bitmut để xác định hàm lượng Ni và
Co Hutton [3] và Trần Chương Huyến [4]
cũng đã nghiên cứu điện cực Bi phân tích
vết các chất bằng phương pháp Von –
Ampe hoà tan Ngoài điện cực màng
bitmut thì còn có các loại điện cực màng
vàng, chì Bobrowski[1] và Hoàng Thái Long [2]
Trong bài báo này chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu loại điện cực mới màng bitmut được phủ trên nền điện cực cacbon nanotubes (BiFE/nanoC) để xác định đồng thời cadimi (Cd) và chì (Pb)
2 THỰC NGHIỆM
2.1 Thiết bị, dụng cụ và hoá chất
Hệ thống thiết bị phân tích cực phổ
797 VA Computrace (Metrohm, Thụy Sĩ) gồm máy đo, bình điện phân và hệ điện cực gồm: điện cực làm việc là điện cực BiFE/nanoC (d = 3,0 ± 0,1mm), điện cực
so sánh Ag/AgCl/ KCl 3M và điện cực phụ
trợ Pt
- Cân phân tích AB204-S (± 0,1mg) (Mettler Toledo, Thụy Sĩ) Máy cất nước hai lần Aquatron (Bibbly Sterilin, Anh) Thiết bị lọc nước siêu sạch EASY pure RF (Barnstead, Mĩ) Micropipet các loại: 0,5 ÷ 10µL; 10 ÷ 100µL; 100 ÷ 1000µL Các dụng cụ thuỷ tinh: bình định mức, buret, pipet, cốc nhỏ,…
- Dầu tricrizyl photphat (Mĩ); NaCH3COO(Merck) ; CH3COOH (Merck); Cacbon nano (Nhật); các dung dịch làm việc của các kim loại Bi3+
, Hg2+, Pb2+,
Cd2+, Cu2+, Zn2+,… được pha từ dung dịch chuẩn gốc có nồng độ 1000ppm sử dụng cho AAS
- Nước cất sử dụng là nước cất hai lần
đã được lọc qua thiết bị lọc nước siêu sạch (Ф = 0,2µm)
- Dung dịch đệm axetat 0,1M (pH = 4,5) được pha từ hỗn hợp dung dịch NaCH3COO 1M và CH3COOH 1M
2.2 Chuẩn bị điện cực làm việc (WE)
ẩ
Điện cực nền được chế tạo bằng cách nhồi bột nhão nano cacbon với dung dịch tricrizyl photphat theo tỉ lệ khối lượng 6: 4
Trang 3vào ống teflon dài 52mm, đường kính
trong (3 ± 0,1mm), phần trên có gắn dây
kim loại để kết nối vào thiết bị như một
điện cực làm việc
T
Màng bitmut có thể được tạo ra theo
kiểu in situ hoặc kiểu ex situ, Kiểu ex situ
bằng cách điện phân dd BiIII
có nồng độ thích hợp ở thế và thời gian xác định với
điện cực nano cacbon paste (nanoC) quay
với tốc độ không đổi Sau đó tia rửa WE
cẩn thận bằng nước cất rồi nhúng WE vào
dung dịch nghiên cứu Kiểu in situ bằng
cách điện phân đồng thời dd BiIII với dung
dịch nghiên cứu Trong bài báo này chúng
tôi nghiên cứu theo kiểu in situ
2.3 Tiến trình phân tích
Lấy 10ml dung dịch nghiên cứu chứa
Cd2+, Pb2+, đệm axetat 0,1M (pH = 4,5)
vào bình chứa mẫu của máy điện hoá
Nhúng hệ điện cực vào dung dịch, điện
phân làm giàu ở thế -1,2V trong thời gian
120s, quay cực với tốc độ 2000 (rpm) Khi
kết thúc giai đoạn điện phân làm giàu
ngừng quay điện cực để dung dịch In tỉnh
trong vòng 15s, sau đó quét thế theo chiều
dương (-1,2V ÷ -0,3V) bằng kĩ thuật xung
vi phân để hoà tan Cd và Pb, tốc độ quét
v = 30mV/s, biên độ xung Uampl = 50mV,
bề rộng xung tstep = 0,3s, bước thế Ustep =
6mV, đồng thời ghi dòng hoà tan
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Bi3+
trong khoảng nồng độ (0ppb – 400ppb) đến
Ip của In3+ và Pb2+ Từ hình (1) cho thấy:
[Bi3+] = 200ppb là thích hợp vì Ip (In) và
Ip(Pb) đạt được giá trị lớn nhất và độ lặp lại
tốt nhất
0 100 300 500 600 800 900 1000 1200
I p
Bi(III) (ppb)
Ip(In) Ip(Pb)
Hình 1 Phổ đồ ghi đo nồng độ Bi3+ khác nhau
Điều kiện thí nghiệm (ĐKTN):
[Cd2+] = [Pb2+] = 3 ppb; Edep = –1200 mV;
tdep = 120s; = 2000 vòng/phút; v = 30 mV/s;
3.2 Ảnh hưởng của tốc độ quay điện cực làm việc (ω) và tốc độ quét thế (v)
Khảo sát tốc độ quay cực trong khoảng (0,0- 3000 rpm) Kết quả cho thấy tốc độ quay cực ω = 2000(rpm) thì dòng đỉnh hoà tan của In và Pb lớn nhất, nếu tốc độ quay cực lớn hơn 2000 (rpm) thì có thể làm bong lớp nano cacbon ở bề mặt điện cực làm giảm tín hiệu phổ đồ Ip của Cd và Pb
Do vậy ω = 2000 (rpm) được chọn cho các thí nghiệm tiếp theo
Khảo sát tốc độ quét từ 0-100mV/s cho thấy tốc độ quét v = 30mV/s cho giá trị Ip
của Cd và Pb tốt nhất
3.3 Ảnh hưởng của thế điện phân
Khi tăng thế điện phân làm giàu từ -0,8
÷ -1,2 V thì dòng đỉnh hoà tan của Cd và
Pb tăng tuyến tính Nhưng khi tăng tiếp
Edep đến -1,4V thì dòng đỉnh hoà tan của
Cd và Pb tăng không đáng kể so với dòng đỉnh hoà tan ở thế -1,2V đồng thời phổ đồ thu được không cân đối Mặt khác ở thế âm hơn -1,2V có thể có các ion kim loại Zn2+
,
Ni2+, Co3+,… cũng bị khử làm bẩn bề mặt điện cực làm việc, dẫn đến làm giảm độ lặp lại (Ip) của Cd và Pb Do đó Edep = -1,2V được chọn cho nghiên cứu tiếp theo
Trang 4Kết quả thí nghiệm cho thấy, trong
khoảng thời gian điện phân làm giàu từ
30 ÷ 210s thì Ip của Cd và Pb tăng tuyến
tính Tuy nhiên, để rút ngắn thời gian phân
tích, chúng tôi lựa chọn tdep = 120s cho các
thí nghiệm tiếp theo
3.4 Ảnh hưởng của các ion cản trở
Do Ip của Cd2+ và Pb2+ là gần nhau,
nên ảnh hưởng qua lại giữa Cd2+
và Pb2+
cần được đánh giá Sau khi nghiên cứu
chúng tôi nhận thấy rằng khi cố định nồng
độ của Cd2+
ở 5ppb và thay đổi nồng độ
của Pb2+
từ 0- 200ppb cho thấy khi nồng
độ của Pb2+
tăng khoảng 200 lần thì Ip của
In3+ giảm không đáng kể, nhưng khi tăng
nồng độ Pb2+
lên khoảng 400 lần thì Ip của
In3+ giảm khoảng 20-30% Trong thực tế,
hàm lượng của Pb2+
không lớn hơn Cd2+
đến 400 lần nên không lo lắng về ảnh
hưởng của Pb2+
đối với Cd2+ Mặt khác, các kim loại Cu, Zn thường đi với Cd và
Pb trong các mẫu môi trường và mẫu sinh
hoá nên cũng phải được nghiên cứu kĩ
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng
độ của Zn2+
lớn hơn nồng độ của Pb2+ và
Cd2+ 50 lần không ảnh hưởng đến tín hiệu dòng đỉnh hoà tan của Cd và Pb Cu ảnh hưởng khá mạnh đối với Cd và Pb, khi nồng độ Cu2+
gấp 20 lần nồng độ của Cd2+
và Pb2+ thì Ip của Pb và Cd giảm khoảng 30% Tuy nhiên, nếu có mặt của Cu2+ trong dung dịch phân tích thì chúng ta tăng nồng
độ của Bi3+
theo tỉ lệ thuận với nồng độ của
Cu2+, lúc đó Ip của Pb và Cd sẽ được khắc phục Một số anion thường gặp trong các mẫu môi trường như NO3-, PO43-, SO42-,
Cl- (gọi tắt là Xn-) có thể ảnh hưởng đến Ip của Cd và Pb Khi cố định nồng độ của
Cd2+ và Pb2+ ở 5ppb và tăng dần nồng độ của các ion X
từ 20÷ 2000ppb về cơ bản
Ip của cả 2 kim loại nghiên cứu thay đổi không đáng kể
3.5 Ảnh hưởng của chất hoạt động
bề mặt
Các chất hoạt động bề mặt có thể bị hấp phụ lên bề mặt điện cực làm việc nên cản trở phép xác định Cd và Pb Ở bài báo này chúng tôi chọn Triton X-100 để đánh giá ảnh hưởng của chất hoạt động bề mặt đến phương pháp Tiến hành thí nghiệm với Triton X-100, thu được kết quả ở bảng 1
Trang 5Qua bảng 1 cho thấy, chất hoạt động
bề mặt Triton X-100 ảnh hưởng đến phép
xác định Cd và Pb khi nồng độ Triton
X-100 bằng 500ppb, Ip của Cd và Pb giảm lần
lượt là 21,4% và 19,7% Mặt khác, sự có
mặt của chất hoạt động bề mặt làm đường
nền dâng cao hơn Tuy vậy trong nước tự
nhiên hiếm khi [Triton X-100] > 100ppb
nên trong quá trình phân tích mẫu nước tự
nhiên không lo lắng ảnh hưởng của chất
hoạt động bề mặt
3.6 Khoảng tuyến tính, độ lặp lại và
giới hạn phát hiện
Dòng đỉnh hoà tan của Cd và Pb đạt
được độ lặp lại khá tốt trên điện cực
BiF/nanoC với RSD tương ứng là 1,1% và
0,8% ( n = 9)
Độ nhạy của phương pháp tương đối
cao khoảng 300nA/ppb đối với Pb và
275nA/ppb đối với Cd
Giới hạn phát hiện của phương pháp
xác định theo quy tắc 3σ cho mỗi kim loại
là 0,05 µg/l
-1.0 -0.9 -0.8 -0.7 -0.6 -0.5 -0.4 -0.3
U (V)
0
500n
1.0u
1.5u
2.0u
2.5u
3.0u
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk
Unk Cd
Unk
Pb
Unk
Hình 2 Phổ đồ ghi đo Cd và Pb lặp lại
9 lần (n=9)
ĐKTN:
[Cd2+] = [Pb2+] = 7 ppb; Edep = –1200 mV;
tdep = 120 s; = 2000 vòng/phút; tdep = 120 s;
= 2000 vòng/phút; v = 30 mV/s; Erange = –
1200 mV ÷ +200 Mv; [Bi3+] = 200ppb
Pb
Cd
-1.00 -800m -600m -400m -200m
U (V)
500n 1.00u 1.50u 2.00u 2.50u 3.00u 3.50u
I (A)
Hình 3 Phổ đồ ghi đo khoảng tuyến
tính của Cd và Pb với các nồng độ khác nhau (n=9)
ĐKTN: các điều kiện khác như hình 2
3.7 Ứng dụng phân tích mẫu nước
Áp dụng phương pháp DP- ASV sử dụng điện cực BiFE/nano Ag-C với các điều kiện thí nghiệm thích hợp đã xác lập được để phân tích Cd và Pb trong mẫu nước máy, nước thải ở Bình Định
Các mẫu nước được lấy tại nơi thoát ra
ở khu công nghiệp Phú Tài, Bình Định bằng các dụng cụ lấy mẫu chuyên dụng Mẫu sau khi lấy được xử lí sơ bộ bằng dung dịch axít HNO3 20%, sau đó được bảo quản ở nhiệt độ 4-100C, mang về phòng phân tích và xử lí lọc qua siêu lọc có kích thước cỡ 0,45m và dịch lọc thu được đem chiếu qua UV, sau đó phân tích trên hệ thiết bị phân tích cực phổ 797 VA Metrohm
Trang 7Bảng 2: K q ú T L
T
Địa điểm lấy mẫu Hàm lượng Pb (g/l) Hàm lượng Cd (g/l)
Kết quả phân tích mẫu nước thải ở khu
công nghiệp Phú Tài và công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH) Phước Lộc cho
thấy hàm lượng của Cd thỏa mãn điều kiện
nước thải, còn đối với Pb ở nước thải công
ty TNHH Phước Lộc lớn hơn mức cho
phép theo tiêu chuẩn nước sạch Việt Nam
(TCVN)
4 KẾT LUẬN
Chúng tôi đã khảo sát và tìm được các
điều kiện tối ưu cho quy trình thực nghiệm
xác định đồng thời CdII
và PbII trên điện cực mới BiF/nanoC như thế điện phân Edep
= -1,2V, thời gian điện phân làm giàu tdep =
120s, tốc độ quay cực 2000rpm, thành phần nền đệm axetat (pH = 4,5) và khoảng quét thế (-1,2÷ -0,3V)
Việc sử dụng điện cực BiF/nanoC để xác định đồng thời Cd và Pb với giới hạn phát hiện rất thấp 0,05ppb cho mỗi kim loại, độ lặp lại khá tốt R = 0,996 có thể mở
ra một triển vọng mới cho phương pháp vôn-ampe hoà tan, đồng thời không lo lắng
về môi trường Điện cực BiF/nanoC có thể
sử dụng để phân tích trực tiếp các mẫu cần xác định Cd và Pb ở hàm lượng siêu vết tại hiện trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bobrowski Andrzej (2007), "Carbon paste electrode plated with lead film Voltammetric characteristics and application in Adsorptive Stripping" Electroanalysis
20, No.1 pp 61-67
2 Hoàng Thái Long, Nguyễn Văn Hợp, Từ Vọng Nghi, Hoàng Thọ Tín (2005), " Nghiên III
-ampe hoà tan anôt " Hội nghị khoa học phân tích hoá, lí và sinh
học Việt Nam lần thứ hai, pp 255-259
3 Hutton E.A., Hocevar S.B., Ogorevc B (2005), “ ” Analytica
Chimica Acta 537, pp 285-292
Trang 84 Hutton E.A., Hocevar S.B., Ogorevc B., Smyth M.R (2003), “Bismuth film electrode for simultaneous adsorptive stripping analysis of trace cobalt and nickel using constant current chronopotentiometric and voltammetric protocol” Electrochemistry
Communications 5, pp 765-769
5 Hutton E.A., Ogorevc B., Hocevar S.B., Weldon F., Smyth M.R., Wang J (2001),
“ ” Electrochemistry Communications 3, pp 707-711
6 Hutton E.A., Van Elteren J.T, Ogorevc B., Smyth M.R (2004), “ bismuth film electrode for determination of cobalt and cadmium in soil extracts using ICP-MS, Talanta 63, pp 849-855
7 Molina-Holgado T (1995), "Voltammetric determination of lead with a chemically modified carbon paste electrode with diphenylthiocarbazone" Analytica Chimica Acta
309, pp 117-122
8 Morfobos M., Economou A., Voulgaropoulos A (2004), “Simultaneous determination
of nickel(II) and cobalt(II) by square wave adsorptive stripping voltammetry on a rotating-disc bismuth-film electrode”, Analytica Chimica Acta 519, pp 57-64
9 Nguyen Van Hop, Dang Van Khanh, Tu Vong Nghi (2003), “ -situ plated bismuth film ” 8th
Eurasia Conference on Chemical Sciences (EuAsC2S-8), Hanoi Vietnam, pp 16-23
10 Trần Chương Huyến, Lê Thị Hương Giang, Hoàng Tuệ Trang (2005), “
- ”,
Tuyển tập công trình khoa học tham gia Hội nghị khoa học phân tích hoá, lí và sinh học Việt Nam lần thứ hai, tr 215-221
11 Sherigara.S.B, Shivaraj (2006) "Simultaneous determination of lead, copper and cadmium onto mercury film supported on wax impregnated carbon paste electrode"
Electrochinica Acta 52, pp 3137-3142
12 Wang J (2000), Analytical electrochemistry, VCH Publishers Inc., USA
13 Wang J (2005), “Stripping analysis at bismuth electrodes: a review”, Electroanalysis
17 (15-16), pp 1341-1346
14 Wang J., Deo R.P., Thongngamdee S., and Ogorevc B (2001), “Effect of surface-active compounds on the stripping ”,
Electroanalysis 13 (14), pp 1153-1156