1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa

110 556 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 895 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế, trong những năm qua Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp như tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-LÊ ANH HÙNG

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG ĐIỀU KIỆN ĐÔ THỊ HÓA VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan

Hà Nội - 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và nguồn gốc thông tin được trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ

rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Học viên

Lê Anh Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến các thầy,

cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, trưởng đại học Nông nghiệp Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện bản luận văn này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS

TS Nguyễn Hữu Ngoan đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.

Tôi xin trân thành cảm ơn HĐND, UBND, các ban ngành, đoàn thể tỉnh Hưng Yên đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi trường, sở Nội

vụ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của tỉnh đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại địa bàn

Tôi xin trân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã không ngừng động viên, giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.

Dù đã có nhiều cố gắng nhưng trong báo cáo chắc không tránh khỏi sai sót kính mong thầy, cô giáo, các bạn học viên góp ý để nội dung nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Học viên

Lê Anh Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai tồn tại từ xa xưa, từ trước khi xuất hiện loài người, qua nhiều thiên niên kỷ, con người sống và tồn tại vĩnh hằng cùng đất đai, đất đai gắn bó với con người một cách chặt chẽ cả về mặt vật chất và tinh thần Đất là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng

Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường sản xuất

ra luơng thực, thực phẩm, là một nhân tố quan trọng của môi trường sống và trong nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển hay huỷ diệt các nhân tố khác của môi trường Vì vậy, chiến lược sử dụng đất hợp lý là một phần của chiến lược nông nghiệp sinh thái bền vững của tất cả các nước trên thế giới cũng như của nước ta hiện nay

Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất nông nghiệp (ĐNNo), lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu Mục đích của việc sử dụng đất nông nghiệp là làm thế nào để bắt nguồn tư liệu có hạn này mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài Nói cách khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường một cách bền vững Để thực hiện mục tiêu này cần bắt đầu từ nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp một cách toàn diện, như G.S Bùi Huy Đáp đã viết “Phải bảo vệ một cách khôn ngoan tài nguyên đất còn lại cho một nền sản xuất nông nghiệp bền vững”

Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên - Môi trường và Tổng cục Thống kê năm 2009, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.105,1 nghìn ha, trong đó ĐNNo chỉ có 9.598,8 nghìn ha chiếm 28.99% Bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người là 0,43 ha bằng 1/7 mức bình quân thế giới Bình quân ĐNNo trên đầu

Trang 9

người là 1230 m2 bằng 1/3 mức bình quân thế giới Mặt khác, ĐNNo phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng Chính vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta

Thực tế, trong những năm qua Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp như tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho người sử dụng đất, hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá và đưa các giống cây tốt, năng suất cao vào sản xuất, nhờ đó mà năng suất cây trồng, hiệu quả sử dụng đất được nâng lên Trong đó, việc thay đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống mới với năng suất

và chất lượng cao, áp dụng các tiến bộ KH-KT, có biểu hiện ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả sử dụng đất Tuy nhiên do ĐNNo thì có hạn, diện tích không tăng mà còn

có nguy cơ bị giảm đi do xu hướng khí hậu nóng lên làm mực nước biển dâng cao Bên cạnh đó là việc sử dụng đất lãng phí, không hiệu quả, huỷ hoại đất cũng như tốc gia tăng về dân số, đặc biệt là tốc độ công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa (ĐTH) nhanh khiến cho ĐNNo đã mất dần lại càng trở nên khan hiếm hơn Trong khi đó, Quản lý nhà nước (QLNN) về ĐNNo đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, làm đau đầu nhiều nhà chính trị và quản lý, là mối quan tâm hàng đầu của các tầng lớp nhân dân Vấn đề này cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, bằng những luận

cứ khoa học để có những biện pháp, chính sách điều chỉnh thích hợp

Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ và trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cùng với việc CNH nhanh,

mở rộng quy mô sản xuất, kinh tế liên tục phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm, từ 2003-2007 đạt 13,17%/năm Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh trong những năm qua có bước chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khối ngành công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng khối ngành nông nghiệp và thuỷ sản Tỉnh Hưng Yên đang từng bước thay đổi theo dáng dấp của một quần thể đô thị mới hiện đại

Tuy nhiên, cùng với quá trình CNH và ĐTH phát triển nhanh chóng, thực trạng phát triển KT-XH trong thời gian qua của tỉnh Hưng Yên cho thấy áp lực đối với ĐNNo của tỉnh ngày càng gia tăng Thực tế trong những năm vừa qua QLNN

về ĐNNo của Tỉnh Hưng Yên đang đối mặt là phức tạp, mang nhiều nét đặc trưng

Trang 10

mà nhiều tỉnh, thành phố khác trên cả nước thường gặp phải Do vậy, nếu QLNN về ĐNNo tại tỉnh Hưng Yên được nghiên cứu, giải quyết tốt sẽ mang lại những bài học

cả về lý thuyết và thực tiễn cho các Tỉnh, Thành phố khác tham khảo và học tập

3 Vấn đề đặt ra cho nông thôn thay đổi ra sao?

4 Giải pháp nào đảm bảo quá trình CNH-ĐTH và tăng cường Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp?

Để trả lời câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện

Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng QLNN về ĐNNo của tỉnh Hưng Yên trong quá trình ĐTH-CNH, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với ĐNNo của tỉnh Hưng Yên

Trang 11

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề về QLNN về ĐNNo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong điều kiện ĐTH - CNH Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến QLNN về ĐNNo của tỉnh như: mối liên hệ trong hệ thống QLNN về ĐNNo, hoạt động của các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình QLNN và sử dụng ĐNNo

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Hoạt động QLNN về ĐNNo thể hiện trên những khía cạnh

về nội dung QLNN trong điều kiện ĐTH - CNH

- Về thời gian, không gian nghiên cứu: Công tác QLNN về ĐNNo ở tỉnh Hưng Yên từ năm 2005 đến nay và định hướng đến năm 2015

Trang 12

Phần II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp

Đất đai được hình thành thông qua quá trình lịch sử lâu dài nhờ vào sự phong hoá đá mẹ dưới sự tác động của không khí, gió, nước, sinh vật Sản phẩm của quá trình phong hoá đá đó là các chất vô cơ như: N,C,S,Mg Theo thời gian sản phẩm của quá trình phong hoá đó tích tụ thêm các chất hữu cơ từ xác của động vật, thực vật bị chết, phân, chất thải cửa động, thực vật (đây chính là một phần nguồn dinh dưỡng quan trọng sẽ cung cấp cho thực vật sau này) và hình thành nên đất

Đất đai được hình thành trên bề mặt trái đất do đó đất đai là một khoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu, lớp đất phủ bề mặt, );

và theo chiều ngang (là sự kết hợp của thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật., ) Quỹ đất đai của mỗi vùng, địa phương luôn bị giới hạn bởi địa giới hành chính của vùng, địa phương đó Quỹ đất đai của một đất nước bi giới hạn bởi biên giới, địa giới lãnh thổ quốc gia Tổng quỹ đất của toàn thế giới bị giới hạn bởi bề mặt trái đất Chính vì thế không ai có thể nói rằng đất đai là nguồn tài nguyên vô tận, không có giới hạn mà ngược lại đất đai có giới hạn

Đất nông nghiệp (ĐNNo) là nơi con người khai thác các loài động vật, thực vật bằng cách săn bắn, hái lượm, sản xuất ĐNNo cung cấp cho con người từ thời nguyên thuỷ tất cả những sản phẩm cần thiết của đời sống, đời sống con người những năm nguyên thủy là đời sống cộng đồng, hoạt động sản xuất nông nghiệp còn rất thô sơ, và đất đai là tư liệu lao động quý giá nhất mà họ có lúc bấy giờ Dần dần, khi cuộc sống con người ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng lên Con người nguyên thuỷ bắt đầu có những nhận thức mới, những nhu cầu và sự thay đổi mới trong xã hội Lúc này, chỉ dựa hoàn toàn vào thiên nhiên không có sự canh tác thôi không thể đáp ứng được nhu cầu ngày một cao được nữa Từ đó con người đã biết dựa vào ĐNNo để chăn nuôi, cày cấy, trồng trọt và từ đây cuộc sống con người bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ mà con người biết tự canh tác tạo ra của cải vật chất cho bản thân, hạn chế ảnh hưởng của thiên nhiên đến đời sống Sản phẩm mà con người tạo ra ngày càng đa dạng, đầy đủ hơn, nhờ biết khai thác sức mạnh của ĐNNo mà đời sống con người ngày càng nâng lên nhanh chóng, kéo theo

nó là sự phát triển của xã hội, nền kinh tế và nhận thức

Trang 13

Cho đến ngày nay, khi con người nhờ có KH-KT mà đời sống ngày một cải thiện và chất lượng ngày một nâng cao nhưng cuộc sống con người vẫn không thể tách rời khỏi ĐNNo Dọc theo quá trình phát triển ta có thể thấy mục đích đầu tiên của con người đối với đất đai để sản xuất nông nghiệp; vả bây giờ có thêm rất nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Cho đến nay, con người vẫn không rời bỏ được nền sản xuất nông nghiệp đã tồn tại từ rất lâu đời Như vậy, một nguồn đất trong tổng quỹ đất của loài người là phục vụ cho mục đích trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng quỹ đất đó được gọi là ĐNNo.

Theo luật đất đai năm 2003, “ĐNNo là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản hoặc

sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”

Đất đai khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được gọi là ruộng đất Con người tác động vào ĐNNo tạo ra của cải, vật chất cho đời sống ĐNNo - ruộng đất là đối tượng lao động đồng thời là tư liệu lao động của con người Lúc đầu, con người canh tác chỉ để đáp ứng nhu cầu của bản thân, gia đình nền kinh tế “tự cung tự cấp” Xã hội phát triển quá trình chuyên môn hoá diễn ra, nông phẩm không đơn giản chỉ để phục vụ cho bản thân người sản xuất nữa Nông phẩm là một mặt hàng quan trọng trên thị trường, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người sử dụng đất và cho toàn xã hội Vì vậy, đất đai sử dụng vào sản xuất nông nghiệp - ruộng đất chiếm

vị thế đáng kể đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội loài người

2.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp

2.1.2.1 Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất không thể thay thế của hoạt động sản xuất nông nghiệp

ĐNNo là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại, là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được cho sản xuất cơ bản Quả thật, trong quá trình sản xuất và tồn tại của con người, con người không thể tách rời đất đai Vai trò của đất đai trong ngành trồng trọt và ngành sản xuất nông nghiệp còn được thể hiện rõ ràng hơn

Thứ nhất, ĐNNo là đối tượng của sản xuất thể hiện ở chỗ người sản xuất tác động vào đất đai để sản xuất ra của cải nông nghiệp như: lương thực, thực phẩm, rau quả Nhờ vào KH-KT, sự tiên tiến của công nghệ, con người đã tác động làm thay đổi tính chất, độ phì của đất để phục vụ mục đích cuối cùng là sản lượng cây trồng

Trang 14

với năng suất ngày càng cao, chất lượng cây trồng ngày càng tăng lên không ngừng, khả năng chống chọi với những tác động bất lợi đến cây trồng ngày càng lớn.

Hoạt động của con người tác động vào đất có thể là trực tiếp hay gián tiếp Con người trực tiếp tác động vào đất đai như là một tư liệu sản xuất, đối tượng sản xuất như: Cày bừa, cuốc đất, trồng trọt Con người tác động vào đất đai gián tiếp như: sản xuất phân bón, hoá chất ứng dụng vào đất đai Tất cả để phục vụ cho đời sống của con người

Thứ hai, ĐNNo là tư liệu sản xuất, từ ĐNNo cây cối, động vật được trồng trọt, chăn nuôi cho ra sản phẩm ĐNNo là nguồn cung cấp môi trường sống cho động, thực vật các nguồn khoáng vi lượng và dinh dưỡng cho sự sống của thực vật Trong ĐNNo chứa đầy đủ thức ăn, dinh dưỡng, không khí mà cây trồng cần thiết cho sự sống Chính vì vậy người sản xuất đã có trong tay một tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng không thể thay thế được

Mặt khác, mặc dù con người đã cố gắng để tạo ra sản phẩm nông nghiệp mà không cần dùng đến đất đai như: trồng cây trên nước, trồng cây bằng dung dịch dinh dưỡng Nhưng chưa có một quốc gia nào có thể tách rời trồng trọt với ĐNNo cả Những sản phẩm tạo ra từ những thí nghiệm chỉ có khối lượng rất nhỏ và năng suất rất thấp, Điều này càng chứng minh sự cần thiết, và tầm quan trọng của đất đai nói chung và ĐNNo Có thể khẳng định con người luôn cần đến ĐNNo để sản xuất và đó

là tư liệu sản xuất không thể thay thế được

2.1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý

Đất nông nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành nên môi trường, gắn liền với môi trường tự nhiên và điều kiện sinh thái Theo quy luật của mối liên hệ phổ biến thì để có được môi trường trong sạch, các yếu tố trong môi trường phải được bảo vệ và trong lành, nếu không yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến yếu tố khác, một yếu tố không được bảo vệ có thể gây ảnh hưởng xấu đến các yếu tố khác và như thế môi trường sẽ bị ô nhiễm

Nếu ĐNNo không có được môi trường trong sạch, hiệu quả sử dụng đất nói chung sẽ giảm sút đáng kể Chúng ta có thể thấy nếu đất đai bị ô nhiễm hậu quả tất yếu là nguồn nước bị ô nhiễm, không khí bị ô nhiễm, môi trường sống bị ô nhiễm Con người khai thác đất đai không có ý thức thường chỉ xét đến các lợi ích trước mắt

mà không thể nhìn thấy được lợi ích lâu dài Điều này càng lành suy giảm môi trường của cuộc sống hơn

Trang 15

Tuy nhiên, con người có thể tác động lên đất đai theo hai mặt: một mặt tiêu cực làm ĐNNo và môi trường xấu đi Một mặt tích cực làm ĐNNo và môi trường tốt lên

Con người - chủ thể của hoạt động kinh tế - xã hội hoàn toàn có thể tạo ra môi trường trong sạch cho đời sống của bản thân và cộng đồng bằng những hành vi tích cực: dùng phân bón hợp lý, không phá rừng ồ ạt, không bỏ hoang hoá, khai thác đất đai hợp lý, năng suất, hiệu quả Những hành động này làm một trong những tác nhân quan trọng trong bảo vệ môi trường nói chung và ĐNNo nói riêng Tuy nhiên, môi trường trong sạch là đóng góp chung của toàn xã hội, của toàn cầu, của cả thế giới, của cả cộng đồng loài người không phải là nhiệm vụ của riêng ai Do đó, cần có

sự nỗ lực chung và một chiến lược hợp tác, giúp đỡ, làm việc có hệ thống trên tầm quốc tế

2.1.2.3 Đất nông nghiệp là nguồn cung cho các mục đích sử dụng

Như ADam Smith đã nhận định “đất đai, trong hầu hết các tình huống sản sinh ra một lượng lương thực nhiều hơn so với khối lượng đủ để duy trì sự sống của người lao động”

Nói như vậy có nghĩa là ĐNNo có thể sản sinh ra một lượng sản phẩm thừa

đủ để cung cấp cho bản thân người nông dân sản xuất, một phần sản phẩm dư thừa còn lại sử dụng vào đâu? trong xã hội, quá trình trao đổi mua bán xảy ra và sản phẩm

dư thừa được người sản xuất đưa ra thị trường cung cấp cho xã hội, các cá nhân khác Cùng với khoa học công nghệ càng phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ

và kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ngày càng nhanh và mạnh theo cả chiều sâu (khoa học và công nghệ áp dụng hiệu quả, ngày càng mạnh, càng hiện đại) và chiều rộng (khóa học công nghệ áp dụng vào hầu hết các công đoạn, các giai đoạn sử dụng đất, trên diện tích rộng, hầu khắp) Dựa trên sức sản xuất của ĐNNo và khoa học công nghệ, con người có thể tạo ra một khối lượng lớn hơn nữa các sản phẩm nông nghiệp Như vậy con người không cần phải sử dụng một diện tích quá lớn để sản xuất ra sản phẩm đầy đủ cho đời sống, họ có thể sử dụng một diện tích nhất định cũng đã đủ cung cho nhu cầu của xã hội Diện tích ĐNNo cần sử dụng cho quá trình sản xuất so với trước kia giảm xuống, Diện tích ĐNNo dôi ra dùng vào đâu?

Quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ ngày càng mở rộng Nhu cầu đất đai phục vụ cho mục đích sản xuất công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Quá trình chuyển dịch cơ cấu đất đai cho các mục đích sử dụng của con người cũng xảy ra sao cho phù hợp ĐNNo sẽ là nguồn

Trang 16

cung quan trọng cho các mục đích sử dụng khác quỹ ĐNNo được cắt để phân bổ cho mục đích sử dụng khác Đối với nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào nền sản xuất nông nghiệp do vậy diện tích ĐNNo còn chiếm tỷ trọng lớn trong quỹ đất của quốc gia Tuy có diện tích khá lớn khoảng 33.105,1 nghìn Ha (năm 2009) nhưng ĐNNo chưa được khai thác đúng mức, hiệu quả và năng suất còn thấp, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp so với thế giới Vì vậy, cần thiết phải chuyển một số diện tích ĐNNo sang mục đích khác nhằm mang lại hiệu quả cao hơn Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa của đất nước, cơ cấu nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh mẽ từng ngày, diện tích đất cần cung cấp cho mục đích xây dựng, giao thông, đất ở, đất khu công nghiệp, thương mại gia tăng nhanh chóng Quỹ ĐNNo là một nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụng đất khác cho nên một diện tích lớn ĐNNo đã và sẽ được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp đã mang lại những hiệu quả lớn lao cho đất nước Tuy nhiên, sự chuyển đổi này cần phải có tính toán và có quy hoạch rõ ràng, thực tế và mang tính dự báo cao Trong hệ thống các điều khoản của Pháp luật nước Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ cho các trường hợp điều chỉnh các quỹ đất nhằm cân đối các nhu cầu

và bảo đảm diện tích ĐNNo cần thiết của xã hội

2.1.3 Đặc điểm, phân loại đất nông nghiệp

ĐNNo là một bộ phận của tổng quỹ đất, Nó có đặc điểm chung của đất đai đồng thời có những đặc điểm riêng của nó,

2.1.3.1 Đất nông nghiệp không tự sinh ra và có khả năng tái tạo

Quá trình hình thành đất đai là quá trình của tự nhiên, đó là một quá trình dài, diễn ra liên tục dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, không thể ngày một ngày hai mà có khi là cả hàng ngàn hàng vạn năm mới hình thành nên được đất đai trên bề mặt trái đất Đất đai được hình thành với một số lượng hạn chế trên toàn cầu

và phạm vi từng quốc gia, đất đai phải chịu chi phối bởi nguồn gốc hình thành, đá

mẹ, các hệ sinh thái, khí hậu, chế độ mưa nắng Con người không thể tạo ra đất đai, ĐNNo quá trình hình thành nên đất đai là một quá trình tự nhiên qua thời một khoảng thời gian dài, năng lực của con người không đủ để tạo ra đất đai Chính vì vậy mà ta có thể nói ĐNNo không thể tái sinh

Tuy nhiên, con người tác động vào ĐNNo theo hai hướng khác nhau: tích cực

và tiêu cực Quá trình tác động theo chiều hướng tích cực sẽ góp phần rất lớn vào cải tạo và nâng cao chất lượng ĐNNo, khắc phục được hiện tượng hoang hoá, khôi phục và nâng cao độ phì nhiêu của ĐNNo, tạo ra một diện tích ĐNNo mới cho sản

Trang 17

xuất Như vậy nếu biết cách gìn giữ và sử dụng thì đất đai vẫn có thể tái tạo lại, thực

tế cũng đã chứng minh điều đó

Qua đây, có thể kết luận đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng có tính hai mặt: không thể tái sinh nhưng có khả năng tái tạo, Tính hai mặt này rất quan trọng trong quá trình sử dụng đất, Một mặt, con người sử dụng ĐNNo phải hết sức tiết kiệm, xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận khi phân bố, sử dụng, chuyển mục đích sử dụng các loại đất, Một mặt, phải luôn chú ý ứng dụng tiến bộ KH-KT để tăng khả năng phục hồi sức sản xuất và tái tạo ĐNNo, phục hồi đất hoang hoá đưa vào sử dụng , Trong quá trình sử dụng con người phải luôn biết cách khai thác ĐNNo, không vắt kiệt khả năng sản xuất của ĐNNo

2.1.3.2 Tính sở hữu và sử dụng

Có một thời xã hội loài người không có sự phân hóa, cuộc sống bầy đàn mọi sản vật tìm được đều là của chung của toàn cộng đồng, ngay cả đất đai Đất đai là sở hữu chung của cả bầy đàn, cộng đồng Cùng với sự phát triển của xã hội chế độ sở hữu và chiếm hữu đất đai cũng phát triển theo Chế độ chiếm hữu ruộng đất đã biến quyền sở hữu đất đai từ sở hữu chung của tập thể bầy đàn thành sở hữu tư nhân Cùng với quá trình thương mại hoá nền nông nghiệp thì việc chia nhỏ quyền sở hữu ĐNNo và quyền sở hữu tư nhân về đất đai cũng là một tất yếu dĩ nhiên dẫn đến quá trình bần cùng hoá nông dân những người luôn cần đến đất đai như là một tư liệu lao động, đối tượng lao động trực tiếp Người nắm trong tay đất đai là người có nhiều quyền lợi kinh tế lớn nhất trong nền sản xuất xã hội, song song với nó người sở hữu đất đai còn nắm quyền lực về mặt chính trị Kẻ không có đất đai chỉ là kẻ làm thuê, làm công bị tách ra khỏi tư liệu sản xuất mất đi tư liệu sản xuất Và như vậy, trong xã hội xuất hiện sự tách biệt giữa người sở hữu ĐNNo và người sử dụng đất ĐNNo, người sở hữu ĐNNo giờ đây không phải là người lao động trực tiếp mà trao quyền

sử dụng đó cho các đôi tượng khác qua các hình thức cho thuê đất, giao đất

Ở nước ta ngay sau ngày đất nước được giải phóng năm 1945 đất nước bước đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc; và cho tới nay pháp luật nước Cộng hoà

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nanh đã quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu”, Nhà nước thể hiện vai trò của mình thông qua việc

- Quyết định mục đích sử dụng đất

- Quy định hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất

- Quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Trang 18

- Định giá đất (Trích luật đất đai năm 2003)

Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi có từ ĐNNo thu được bằng các chính sách tài chính về ĐNNo như: chính sách thuế sử dụng ĐNNo, chính sách quy định về tiền thuê ĐNNo, thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng ĐNNo , Là người đại diện chủ sở hữu ĐNNo trên cả nước nhưng Nhà nước không phải là người trực tiếp sử dụng ĐNNo, Nhà nước trao quyền sử dụng ĐNNo cho những người có nhu cầu sử dụng ĐNNo thông qua hình thức: giao đất, cho thuê đất Người sử dụng trực tiếp ĐNNo, được Nhà nước ban một số quyền đối với ĐNNo như: sử dụng, định đoạt Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã tạo ra nhiều thuận lợi cho công tác QLNN

về đất đai nói chung và QLNN về ĐNNo nói riêng, Nhà nước có thể thu hồi, điều chỉnh, giao đất, quyết định mục đích sử dụng của đất đai sao cho phù hợp với yêu cầu của sự phát triển Khi cần thu hồi, lấy lại ĐNNo Nhà nước có thể bồi thường cho

cá nhân, tổ chức sử dụng đất tiền bồi thường thiệt hại, nếu người sử dụng đất không chấp nhận với mức đền bù, hay vì lý do khác thì Nhà nước có quyền cưỡng chế đối với trường hợp đó

2.1.3.3 Đất nông nghiệp có tính đa dạng và phong phú

Trên bề mặt trái đất, đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng được hình thành nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đá mẹ là nguồn gốc sinh ra đất đai ĐNNo được tạo ra mang những tính chất khác nhau phụ thuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp ĐNNo đó Chính vì vậy mà chúng ta có những loại ĐNNo khác nhau như: đất phù

sa, đất đỏ bazan, đất sét thịt, đất cát Thiên nhiên tạo ra rất nhiều loại ĐNNo khác nhau có tính chất và đặc điểm khác nhau đặc trưng riêng của mỗi loại

Thậm chí trong một loại ĐNNo, không phải ở đâu loại đất đó cũng giống nhau, có nơi đất đó tốt hơn, có nơi lại xấu hơn, thành phần cơ giới, độ phì nhiêu của chúng là khác nhau Ví dụ như: ĐNNo do phù sa Sông Hồng thường mang tính chất

cơ giới nhẹ, nhiều kiềm Phù sa Sông Cửu Long thường mang tính chất cơ giới nặng hơn phù sa Sông Hồng, Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp của khí hậu, điều kiện tự nhiên của địa phương nơi ĐNNo phân bố mà con người lựa chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao cho phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa Tính đa dạng và phong phú của ĐNNo vì thế cũng mang lại nhiều lợi ích cho con người Mỗi một địa phương một loại đất, một tính chất khác nhau lại có luồng sản phẩm khác nhau, phù hợp và như thế con người

sẽ có nhiều sản phẩm nông nghiệp đa dạng và phong phú hơn Một số vùng có thể

Trang 19

hình thành nên nền sản xuất chuyên canh cây, con đặc sản mà không vùng nào có thể

có được mang lại giá trị kinh tế cao

2.1.4 Phân loại đất nông nghiệp

Phân loại ĐNNo là một việc làm quan trọng cho công tác sản xuất và quản lý ĐNNo Dựa vào sự phân loại đó con người có thể xác định được mục tiêu sản xuất, cây con giống phù hợp, chế độ chăm sóc hợp lý Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân chia ĐNNo Có thể phân chia ĐNNo dựa vào: mục đích sử dụng, tính chất đất,

độ PH, thành phần cơ giới

Theo luật đất đai năm 2003 điều 13 quy định: đất đai chia làm ba nhóm: nhóm ĐNNo, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng, Trong đó ĐNNo: Đất trồng cây hàng năm, Đất trồng cây lâu năm, Đất lâm nghiệp, Đất nuôi trồng thuỷ sản, Đất làm muối, ĐNNo khác theo quy định của chính phủ

Ta có thể nhận thấy sự thay đổi rất lớn giữa cách phân loại đất của luật Đất đai năm 1993 và luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2003 đâ quy định chi tiết

và cụ thể hơn, các loại đất đã được phân chia theo đúng mục đích sử dụng Sự thay đổi có thể thấy rõ, một số loại đất chuyên dùng và ĐNNo nay chuyển sang đất phi nông nghiệp nông nghiệp Sự đổi mới này thể hiện một tư duy mới tránh xảy ra sự trùng lặp, chồng chéo trong phân chia các loại đất như trước đây

Ngoài ra, việc phân chia ĐNNo còn theo nhiều cách khác nhau, dựa trên những tiêu chí khác nhau Ví dụ, phân chia ĐNNo dựa trên đặc tính đất đai, thổ nhưỡng của đất đai Hay ta có thể phân chia ĐNNo theo phân bố vị trí địa lý, tính chất màu mỡ của đất đai, độ phì nhiêu của ĐNNo Ta có ĐNNo phân bố ở đồng bằng, ĐNNo phân bố ở miền trung du, ĐNNo có tính chất màu mỡ cao, ĐNNo độ phì thấp, ĐNNo có tính chất màu mở trung bình

2.1.5 Khái quát Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

QLNN là sự tác động một cách có tổ chức, hệ thống nhằm mục đích điều chỉnh các hành vi của con người, tổ chức, cá nhân bằng quyền lực của Nhà nước

để hướng ý chí và mục đích của họ theo mục đích chung của toàn xã hội Nhà nước tác động lên các đối tượng thông qua công việc thiết lập các mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người, giữa các tập thể với nhau, quan hệ giữa cá nhân với tập thể các mối quan hệ tồn tại trong xã hội là rất nhiều, tất cả các mối quan hệ đó đều cần phải được điều chỉnh để lợi ích của người này không làm xâm phạm lợi ích của người khác, đảm bảo được lợi ích của đất nước

Trang 20

Trước hết Nhà nước vừa là một cơ cấu có tổ chức bao gồm một hệ thống các

cơ quan từ trung ương đến địa phương Tính tổ chức đặt ra vấn đề là làm sao hình thành nên các tổ chức, bộ máy quản lý với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp Các

tổ chức, bộ máy đó hoạt động như thế nào? Sự phối hợp hoạt động, phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các cá nhân tổ chức như thế nào để bộ máy Nhà nước quản lý mang lại hiệu quả tối ưu đạt được mục tiêu đã đề ra? Đó là một vấn đề lớn đối với công tác tổ chức bộ máy QLNN

Nhà nước còn tạo lập nên bộ máy sức mạnh về pháp luật, an ninh, bộ máy pháp chế để thực hiện công tác quản lý của mình, đưa cá nhân, tổ chức vào đúng quỹ đạo, hoạt động trong khuôn khổ phục vụ lợi ích cá nhân mà lợi ích đó không gây ảnh hưởng xấu đến xã hội Sự tồn tại của bộ máy pháp chế trong cơ cấu các cơ quan chức năng quản lý là một tất yếu khách quan, đó là điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần thiết

QLNN còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và đối tượng quản

lý Chủ thể của sự QLNN là bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã… và toàn bộ các cán bộ công nhân viên chức của Nhà nước làm việc trong công tác QLNN Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã hội: Đối tượng của công tác QLNN là các quá trình kinh tế, các hoạt động, các mối quan hệ có liên quan Riêng trong lĩnh vực QLNN về đất đai chủ thể QLNN về đất đai (cụ thể ở đây là ĐNNo) thì Nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý là các cá nhân tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp

sử dụng ĐNNo, có liên quan đến ĐNNo Và đối tượng của công tác QLNN về ĐNNo là những mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc, vấn đề có liên quan đến ĐNNo xảy ra trong xã hội

2.1.6 Sự cần thiết Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu đất đai thay đổi theo hướng chuyển dịch của cơ cấu nền kinh tế Vì vậy, trong tổng quỹ đất không đổi thì ĐNNo có chiều hướng giản dần diện tích do phải chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác (đất dùng cho công nghiệp, đất dùng vào mục đích thương mại, đất ở ) Xu hướng

là khách quan nhưng không thể phủ nhận được vai trò của ĐNNo trong đời sống của con người ngày nay Tổng quỹ đất của mỗi quốc gia phải luôn có một quỹ ĐNNo cần thiết với mục đích đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia cũng như các nhu cầu khác về nông sản cho xã hội

Trang 21

Đứng trước sức ép của sự phát triển kinh tế, ĐNNo phải được sự quản lý và

sử dụng hợp lý để không còn việc sử dụng tràn lan nếu không có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, không những ảnh hưởng đến thế hệ này mà còn ảnh hưởng đến thế hệ sau, dẫn tới nguy cơ phá huỷ sự phát triển bền vững của thế giới

Theo thống kê của Liên Hợp Quốc hàng năm có hàng vạn ha ĐNNo bị hoang hoá, bị sa mạc hoá, mất tính canh tác, bị bỏ không không ai canh tác Mỗi giây đồng hồ trôi qua có gần 20 ha bị hoang hoá, sa mạc hoá, Đây là một mối đe doạ lớn đối với quỹ ĐNNo trên thế giới

Ngay ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Đảng và Nhà nước ta đã

đề ra nhiều chủ trương, chính sách, phương hướng và giải pháp phát triển và đổi mới cho đất nước Sau hơn 20 năm đổi mới đất nước bước đầu đã thu được rất nhiều thắng lợi như: GDP đầu người không ngừng tăng lên, thu nhập bình quân đầu người tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7% trở lên, thoát khỏi đói nghèo, đói ăn Từ một đất nước đói nghèo, sống nhờ vào viện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới, lương thực không những đủ để cung cấp trong nước mà còn thoả mãn nhu cầu xuất khẩu nông phẩm ĐNNo là một tiềm lực to lớn mang lại cho toàn dân tộc ta nhiều lợi thế phù hợp với truyền thống lao động phong tục tập quán, trình độ phát triển nếu biết cách khai thác và sử dụng sẽ là một tài nguyên vô giá cho sự phát triển của đất nước

Nhà nước chủ thể quản lý của xã hội, phải QLĐĐ nói chung và ĐNNo nói riêng một cách hợp lý, có các chế tài mới phù hợp với xu thế hội nhập để có được hiệu quả sử dụng tối ưu, lâu dài, bền vững đảm bảo được nền độc lập dân tộc, phát triển kinh tế Trong các chế tài QLNN đã có và đang dần hoàn thiện những quy định liên quan đến yếu tố nước ngoài giúp cho quá trình hội nhập của nước ta

Thực tế cho thấy, công tác QLNN về đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng

đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể trong suốt thời gian qua Đó là những tiền đề thuận lợi cho công cuộc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng của công tác QLNN về ĐNNo phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn nữa

2.1.7 Nội dung công tác Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

Theo luật đất đai 2003 nội dung của công tác QLNN về đất đai nói chung gồm có 13 nội dung Tuy nhiên, đối với ĐNNo là một bộ phận của tổng quỹ đất đai,

nó mang những đặc thù riêng biệt, chính vì vậy mà nội dung của công tác quản lý của Nhà nước về ĐNNo cũng có nhiều khác biệt Công tác QLNN về ĐNNo có thể khái quát ở các nội dung sau:

Trang 22

2.1.7.1 Ban hành văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp

và tổ chức thực hiện văn bản đó.

Để đảm bảo được vai trò quản lý của mình, bất kỳ một Nhà nước nào cũng tan ra và thực thi một chế tài phù hợp Những chế tài này là tiền đề, hàng lang cho lĩnh vực áp dụng Không có một quốc gia nào có thể có được hiệu quản quản lý mà không cần đến chế tài Ngay cả ở nước ta, hệ thống văn bản điều chỉnh các mối quan

hệ đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng rất đa dạng Đó là những công cụ để Nhà nước thực hiện được quyền quản lý của mình

2.1.7.2 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản

đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp có nhiều loại, tính chất, vùng miền khác nhau chúng được

sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Để có một cơ chế quản lý phù hợp, có được định hướng, quy hoạch và kế hoạch phù hợp với địa phương, tỉnh, thành phố, cả nước Việc đầu tiên bắt buộc Nhà nước phải nắm được các thông tin về đất nông nghiệp như: Diện tích, loại đất tình hình sử dụng, phân bố, mục đích sử dụng, Những thông tin này sẽ đóng góp rất lớn cho công tác QLNN về đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng

Đối với ĐNNo, để quản lý được ĐNNo một cách có hệ thống Nhà nước cũng cần những thông tin về ĐNNo: diện tích, tình trạng sử dụng, mục đích sử dụng (trồng cây ngắn ngày, dài ngày ) Từ những thông tin về ĐNNo người quản lý có được kế hoạch sử dụng hợp lý và cho ra những quyết định sử dụng đứng đắn, phải thu thập tiếp những thông tin về ĐNNo để biết được tình hình ĐNNo đang diễn biến như thế nào từ đó có những điều chỉnh, sửa đổi kế hoạch, quy hoạch, pháp luật đất đai Chính vì vậy, Nhà nước phải tiến hành khảo sát đo đạc đánh giá, phân hạng ĐNNo, lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNNo

2.1.7.3 Lập, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp

Bất kể quốc gia nào cũng cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung

và ĐNNo nói riêng Đứng trên cương vị là cơ quan QLNN về đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng Nhà nước là người tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các vùng, lãnh thổ, ngành Xét trên phạm vi quy hoạch thì quy hoạch, kế hoạch

sử dụng ĐNNo có thể được lập cho một huyện, thành phố, vùng, cả nước Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định rất rõ và cụ thể trong luật Đất đai

2003 từ Điều 21 đến Điều 30

Trang 23

Kế hoạch sử dụng ĐNNo được lập theo kỳ kế hoạch, và phải dựa trên QHSDĐ đã được ban hành, phù hợp với sự phát triển khoa học công nghệ Trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất nếu cần phải đánh giá và điều chỉnh cho phù hợp với phương hướng phát triển KT-XH của địa phương thì phải tiến hành chỉnh sửa sao cho phù hợp

2.1.7.4 Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp

Công tác giao đất, cho thuê đất “Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” “Cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”

Ngoài ra, khi có nhu cầu chuyển đổi giữa hình thức giao đất hay cho thuê đất, người sử dụng đất có thể xin phép chuyển đổi hình thức.Thời hạn sử dụng đất còn lại được tính theo quy định của pháp luật

2.1.7.5 Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp.

Khi sử dụng ĐNNo người sử dụng ĐNNo được quyền chuyển đổi mục đích

sử dụng đất khi thấy cần thiết, Nhà nước quy định ở trong luật Đất đai năm 2003 Đây là một biện pháp QLNN về đất nông nghiệp, tạo điều kiện cho người sử dụng ĐNNo có điều kiện linh hoạt trong cách sử dụng, nâng cao hiệu quả của đất nông nghiệp, đồng thời, Nhà nước cũng phải nắm được những biến động của ĐNNo, nắm bắt được tình hình đất nông nghiệp trong cả nước, chính vì vậy công tác QLNN về ĐNNo sẽ thuận lợi, hiệu quả hơn rất nhiều

2.1.7.6 Thu hồi đất nông nghiệp

Theo luật Đất đai năm 2003 “thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật” Việc thu hồi đất là một vấn đề rất phức tạp ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của dân cư, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức Vì vậy công tác này cần được làm triệt để, khoa học và chính xác đảm bảo tính công bằng tránh thất thoát nguồn vốn của Nhà nước

Việc thu hồi đất là để tận dụng nguồn lực của đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng Mục đích trước hết của việc thu hồi đất là phục vụ cho lợi ích quốc gia, cộng đồng Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/CP ngày 03/12/2004 về bồi thường,

hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trường hợp mà ĐNNo đang sử dụng

Trang 24

vượt hạn mức được giao, ĐNNo nhận giao khoán khi bị thu hồi được quy định trong điều 10 Nghị định 197/2004/NĐ-CP.

2.1.7.7 Thống kê, kiểm kê đất nông nghiệp

Việc thống kê đất đai được thực hiện hàng năm, mỗi năm thực hiện một lần phục vụ cho tình hình QLĐĐ Qua công tác thống kê Nhà nước nắm bắt tình hình thực tế của địa phương, tỉnh thành, cả nước, có được thông tin về các loại đất (diện tích, phân bổ, tình hình sử dụng, )

Trách nhiệm về thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai thuộc về UBND các cấp tổng hợp báo cáo kết quả thống kê, kiểm kê đất đai lên Bộ Tài nguyên và Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo lên chính phủ kết quả thống kê hàng năm, kết quả thống kê hàng năm của cả nước Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả kiểm kê đất hàng năm đồng thời kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cả nước

2.1.7.8 Công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp

“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan

hệ giữa người sử dụng đất và Nhà nước, công nhận quyền sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất hợp pháp”

Các cá nhân tổ chức, hộ gia đình sử dụng đất hợp pháp được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đối với ĐNNo người dân làm hồ sơ đăng ký với

cơ quan Nhà nước có chức năng có thẩm quyền, người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được phép toàn quyền sử dụng đất, trên mặt pháp lý họ là người chủ duy nhất được thừa nhận quyền sở hữu và được trao, bảo vệ những quyền, lợi ích chính đáng bởi pháp luật Nhà nước

Nói chung những quy định về việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ĐNNo được quy định rất chi tiết và đầy đủ trong luật Đất đai năm 2003 Việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ĐNNo là một công tác được Nhà nước

ta chú ý và được triển khai khá sớm ở nước ta, kết quả mang lại đã được công nhận

2.1.7.9 Thực hiện công cụ tài chính trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

Công cụ tài chính là một trong những biện pháp của Nhà nước ban hành ra nhằm phân phối lại lợi ích của các bên thân gia trong các mối quan hệ liên quan đến đất nông nghiệp Việc thực thi công cụ tài chính trong quản lý sử dụng ĐNNo phải

Trang 25

đảm bảo được các yêu cầu mà Nhà nước đặt ra để phục vụ cho công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc thu tài chính đất đai nói chung và ĐNNo nói riêng phải tuân theo quy định của pháp luật Việc thu tiền sử dụng đất phải căn cứ vào diện tích, thời hạn sử dụng đất, khung giá đất tương ứng, tuân theo các văn bản hướng dẫn như: thông tư 117/2004/TT-BTC (ngày 07/12/2004), nghị định 198/2004/NĐ- CP Nghị định 74/NĐ-CP ngày 25/10/1993 quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng ĐNNo

2.1.7.10 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của người dân sử dụng đất nông nghiệp và của cơ quan Quản lý nhà nước về đất đai

Thanh tra việc QLNN về đất nông nghiệp của UBND các cấp, Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất nông nghiệp của người dân, tổ chức, cá nhân Việc thanh tra đất đai đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, nghiệp vụ và lực lượng thanh tra đủ lớn, Mục đích của công tác thanh tra là mang lại những thông tin nhanh và chính xác về tình hình sử dụng đất đai phát hiện sớm những trường hợp

vi phạm để xử lý kịp thời, Mặt khác thanh tra đội ngũ thực hiện công tác QLNN để phát hiện hành vi gian lận, tham ô, thanh lọc bộ máy, hạn chế, triệt tiêu hành động có hại cho lợi ích xã hội, tư lợi cá nhân

2.1.7.11 Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý

và sử dụng đất nông nghiệp

Gần đây, dư luận đã dấy lên nhiêu vụ kiện tụng về đất đai, có vụ mang tính tập thể khiếu kiện hang loạt, gây bức xúc xã hội, mất niềm tin của dân chúng Hơn nửa số đơn thư khiếu kiện là về lĩnh vực đất nông nghiệp đủ thấy tình hình sử dụng, QLNN ở ta đang có vấn đề, giải quyết được tranh chấp, khiếu nại là rất khó khăn, mất nhiều thời gian, hệ thống pháp luật phải đầy đủ hoàn thiện

Nghị định 181/NĐ - CP quy định bổ sung những vấn đề về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính, giải quyết khiếu nại tố cáo Tuy nhiên hệ thống văn bản hướng dẫn như thế là vẫn chưa

đủ, còn nhiều quy định mang tính chất chung chung không cụ thể khó khăn cho người thực thi luật

2.1.8 Bộ máy Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

Mỗi chế độ chính trị được thiết lập thì có một bộ máy quản lý khác nhau Cơ cấu tổ chức, phân công chức năng, quyền hạn của bộ máy quản lý đó cũng khác nhau phù hợp với từng điều kiện cụ thể của đất nước, đối với nước ta chế độ sở hữu đất

Trang 26

đai được công nhận là chế độ sở hữu của toàn dân (Luật Đất đai năm 2003), Nhà nước thống nhất QLĐĐ trên phạm vi cả nước

Bộ máy QLNN ngày càng hoàn thiện, càng tinh giản, thì hiệu quả làm việc, giải quyết vấn đề càng nhanh chóng, thuận lợi Hệ thống cơ quan quản lý được tổ chức, thiết lập, phân cấp, phân quyền từ trung ương đến địa phương Cơ quan cao nhất, có quyền hạn lớn nhất trong bộ máy QLNN về đất nông nghiệp là Bộ tài nguyên và Môi trường (được thành lập theo nghị định 91/CP, ngày l l/1 l/2002) là cơ quan trực thuộc của chính phủ thực hiện chức năng QLNN về đất đai, tài nguyên, môi trường, đo đạc bản đồ, quản lý hành chính, dịch vụ công Ngoài ra ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các Sở Tài nguyên và Môi trường Ở các huyện, thành phố quận, thị xã, xã, phường có các phòng tài nguyên môi trường Các sở, phòng này chịu trách nhiệm quản lý về các lĩnh vực có liên quan trên địa bàn được giao, thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp và báo cáo lên cấp trên trực tiếp tình hình sử dụng đất đai để nắm bắt được tình hình sử dụng đất một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất

Riêng đối với đất nông nghiệp ngoài sự quản lý Nhà nước chung, còn chịu sự Quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, dưới cấp tỉnh là Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, cấp huyện là Phòng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn

2.1.9 Đô thị hóa, Công nghiệp hóa và những vấn đề đặt ra cho công tác Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp.

Quá trình phát triển của sự phân công lao động xã hội gắn liền với việc hình thành các hình thức cư trú mới của con người Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác

- Lênin đã khẳng định: lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 phương thức sản xuất, phương thức sản xuất sau bao giờ cũng tiến bộ hơn phương thức sản xuất trước nó, tương ứng với mỗi phương thức sản xuất việc hình thành các hình thức cư trú càng về sau càng tiến bộ và đa dạng hơn các hình thức cư trú trước đó Hình thức cư trú ban đầu của các bộ lạc người cổ đại là ở trong các hang, hốc, nhà lều, lán tạm bợ, tiến đến hình thức cư trú tập trung thành các khu dân cư mang tính cộng đồng kiểu làng, bản, thôn, ấp của xã hội phong kiến Đến giai đoạn TBCN, các cuộc cách mạng trong công nghiệp và các thành tựu to lớn của KH-KT, đô thị được hình thành và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh Vì vậy có quan niệm cho

Trang 27

rằng: đô thị là nơi tập trung dân cư, lao động đông đúc, có mật độ dân cư cư trú cao

và tính không thuần nhất về xã hội mà chủ yếu là lao động phi nông nghiệp Những người này sống và làm việc theo một phong cách lối sống thành thị - đó là lối sống đặc trưng bởi một số đặc điểm như: lao động chủ yếu trong các ngành phi nông nghiệp, nhu cầu về đời sống tinh thần cao, có điều kiện để tiếp thu nhanh chóng nền văn minh tiên tiến của nhân loại, là nơi được đầu tư cao về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ công cộng, nhằm đảm bảo cho điều kiện sống và làm việc của cư dân được thuận lợi

Cũng có quan niệm cho rằng: đô thị là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hoá (buôn bán) giữa những người tách ly khỏi lao động sản xuất (hoặc là bộ phận dân cư làm nghề lưu thông trao đổi hàng hoá giữa người sản xuất và người tiêu dùng) Tuy nhiên quan niệm này chưa khái quát đầy đủ được cơ sở hình thành và các yếu tố tồn tại phát triển của đô thị

Qua mỗi giai đoạn phát triển, đô thị dần trở thành nơi cư trú tập trung của những cộng đồng dân cư lớn và rất lớn, phần lớn đất đô thị được sử dụng để xây dựng các công sở và làm nơi cư trú, dân số đô thị gia tăng, mà lực lượng bổ sung chính vẫn là đất nông nghiệp, như vậy đất nông nghiệp giảm là xu thế tất yếu

Trong thời kỳ CNH các cụm công nghiệp, thương mại tập trung ngày càng phát triển, tạo ra các trung tâm kinh tế trọng điểm có tính chất đầu tàu, hoặc làm ngòi nổ cho nền kinh tế của một vùng hay toàn bộ quốc gia (ví dụ Khu công nghiệp Dung Quất của Việt Nam)

Quá trình ĐTH gắn liền với quá trình CNH, HĐH đất nước, đó cũng là quá trình làm biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang dạng thành thị Cũng có quan niệm cho rằng ĐTH - CNH là một quá trình mở rộng thêm ranh giới hành chính của các đô thị (được hiểu là quá trình tăng thêm diện tích đất đô thị, đất khu công nghiệp) Nó được thực hiện bằng sự sáp nhập các khu dân cư mới sống lân cận đô thị, hoặc bằng sự chinh phục dần dần không gian nông thôn lân cận để cho dân chúng sống và làm việc theo lối sống thành thị, theo

Trang 28

yêu cầu của CNH, thương mại dịch vụ và giao dịch quốc tế.

Đặc biệt có quan điểm cho rằng cần phải kiềm chế tốc độ ĐTH - CNH vì những hậu quả do nó mang lại cho xã hội là rất phức tạp: đất sản xuất nông nghiệp

bị thu hẹp dần dẫn đến an ninh lương thực không được bảo đảm; nông dân bị thu hồi đất sản xuất sẽ trở thành một lực lượng lao động dư thừa đóng góp vào đội quân thất nghiệp gây mất ổn định xã hội Tạo ra sự mất bình đẳng gây ra phân hoá có thể dẫn tới xung đột xã hội giữa thành thị và nông thôn; Bệnh đô thị như mật độ dân số

đô thị dày đặc, giao thông ách tắc, nhà ở chật chội thiếu thốn, môi trường nhiễm bẩn cùng với các tệ nạn xã hội: ma tuý, băng đảng, cướp giật, trộm cắp… là những căn bệnh xã hội mãn tính của đô thị gây băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống.… Tuy nhiên, quan điểm này có nhiều hạn chế và chỉ phản ánh những đô thị phát triển không có định hướng và không có tổ chức hoặc tổ chức quản lý quá kém Thực tế cho thấy sức hấp dẫn của ĐTH - CNH chính là ở sự cải thiện rõ rệt về mức sống và khả năng tạo ra nhiều công ăn việc làm Mật độ sử dụng đất sẽ giảm đi do KH-KT phát triển cộng với tiềm lực kinh tế mạnh Nhà cao tầng và siêu cao tầng cũng là một sự lựa chọn góp phần làm giảm sức ép về đất đai ở trung tâm những đô thị cực lớn Đại đa số các nước phát triển và một số quốc gia đang phát triển mạnh như Trung Quốc, Thái Lan… đều thực hiện chính sách trợ giá nông nghiệp và tăng cường đầu tư cho khu vực nông thôn, nhằm dần xoá bỏ sự chênh lệch quá lớn giữa nông thôn và thành thị nhờ có sự phát triển kinh tế rất cao của khu vực đô thị

Ở nước ta, từ năm 1993 Luật đất đai quy định ĐNNo có giá trị và QSDĐ được phép chuyển nhượng, tài nguyên ĐNNo đã dần được khai thác sử dụng có hiệu quả hơn, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước để đầu tư trở lại cho phát triển kinh tế, đặc biệt là đầu tư làm cho quá trình ĐTH - CNH diễn ra nhanh chóng QLNN về ĐNNo trong quá trình ĐTH - CNH đòi hỏi Nhà nước nắm toàn bộ các khâu công việc từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện và chỉ đạo điều hành cụ thể ở tất cả các cấp của bộ máy quản lý ĐNNo không thể như “một nguồn tài nguyên được để sẵn trong kho” chỉ việc xuất ra, sử dụng (theo hình thức cấp phát) mà không cần tính toán chi tiết đến tính hiệu quả các tác động của nó vào quá trình tổ chức quản lý, sử dụng của các nhu cầu tổng thể của xã hội Trong điều kiện

Trang 29

ĐTH - CNH ĐNNo được coi là một nguồn lực để chuyển thành vốn đầu tư cho phát triển kinh tế đô thị, ĐNNo được coi là một nguồn lực, một loại hàng hoá có giá trị cao

Quá trình ĐTH - CNH là quá trình mở rộng quy mô (trong đó có diện tích chiếm đất) của đô thị Nhưng do tính chất có giới hạn của ĐNNo, đặc biệt đối với tình hình cụ thể ở nước ta, bình quân diện tích đất tự nhiên theo đầu người vào loại thấp (ở nhóm cuối) trên thế giới Vì vậy diện tích đất dành cho phát triển đô thị là hạn chế và sử dụng sao cho hợp lý, tiết kiệm, mang lại hiệu quả cao là nhiệm vụ rất nặng nề của hoạt động QLNN về ĐNNo Do điều kiện tốc độ ĐTH - CNH trong những năm gần đây ở nước ta diễn ra rất mạnh, dân cư tập trung về đô thị tìm kiếm việc làm tạo ra sức ép lớn và phát sinh mâu thuẫn giữa cung, cầu ĐNNo ở trong các

đô thị ở nước ta Mặt khác đất đô thị ở nước ta còn có đặc điểm là phân bố phân tán

về mục đích sử dụng và chủ thể sử dụng, dẫn tới có sự đan xen giữa các khu ĐNNo trong các khu dân cư và các khu đất để phát triển các công trình đô thị như: các khu hành chính sự nghiệp, khu vực hoạt động sản xuất thương mại dịch vụ Đặc điểm này là hậu quả của công tác QHSDĐ đai yếu kém trong những năm vừa qua Yêu cầu của sự phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải HĐH đô thị trên cơ sở cải tạo và xây dựng lại hệ thống HTKT đô thị và bố trí hợp lý, khoa học các công trình đô thị Đây cũng chính là một nguyên nhân quan trọng cần phải tăng cường vai trò QLNN về ĐNNo trong quá trình ĐTH - CNH trong thời gian tới, vừa để khắc phục những yếu kém của hoạt động quản lý của giai đoạn trước đây, vừa nhằm khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực ĐNNo cho quá trình ĐTH - CNH

Tính phức tạp của QLNN về ĐNNo trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

và tính tất yếu phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về ĐNNo trong quá trình ĐTH - CNH Nội dung cơ bản của QLNN đối với ĐNNo là hoạt động quản lý, giám sát, điều chỉnh các mối quan hệ nhằm sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế của ĐNNo Phạm vi quản lý là bao gồm toàn bộ tài nguyên ĐNNo trong phạm vi hành chính của đất nước Mục tiêu quan trọng nhất của việc phải tăng cường QLNN đối với đất đai là đảm bảo cho chế độ sở hữu toàn dân về

Trang 30

đất được tuân thủ nghiêm minh, hạn chế tối đa sự lãng phí và thất thoát tài sản và tài nguyên ĐNNo, đảm bảo các nguồn lợi kinh tế từ đất được thu về cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý Đồng thời bảo vệ, cân bằng cảnh quan và môi trường sống, thực hiện phát triển đô thị bền vững có sự hài hoà giữa lợi ích kinh tế, cải thiện môi trường xã hội và môi trường tự nhiên của đô thị.

Do quá trình ĐTH - CNH là tất yếu khách quan, quá trình mờ rộng quy mô

đô thị cả về chiều sâu (cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, các công trình xây dựng phục

vụ cho các nhu cầu phát triển của đô thị ) và chiều rộng (diện tích chiếm đất của đô thị) là cần thiết trong quá trình phát triển Nhưng ĐNNo có đặc điểm là giới hạn về diện tích (bình quân diện tích đất theo đầu người ở nước ta rất thấp) và không di chuyển được Chính vì vậy Quản lý ĐNNo phải tuân theo những quy định chặt chẽ

để đáp ứng nhu cầu đất đô thị ngày càng tăng, tất yếu đòi hỏi tăng cường hoạt động QLNN về ĐNNo trong quá trình ĐTH - CNH Mặt khác do đất đai khi đã được chuyển từ ĐNNo thành đất đô thị, việc thay đổi công năng sử dụng (từ đất đã xây dựng các công trình đô thị sang ĐNNo ) phải trên cơ sở đã có định hướng chiến lược phát triển đúng đắn, có qui hoạch ổn định, có kế hoạch sử dụng cụ thể

Thực tế trong quá trình ĐTH - CNH hiện nay ở nước ta thể hiện nhiều yếu tố bất hợp lý cả về bố trí không gian đô thị, cơ cấu sử dụng các loại đất và hiệu quả kinh tế trong khai thác ĐNNo phải chuyển đổi Quá trình ĐTH - CNH ở nước ta, trong đó có tỉnh Hưng Yên diễn ra rất nhanh, đòi hỏi phải kịp thời đổi mới cơ chế chính sách quản lý ĐNNo, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thu hút đầu tư, tập trung khai thác nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển Vì ĐNNo được coi là nguồn nội lực vô cùng quan trọng cho sự phát triển KT-XH ở nước ta cả về giá trị và giá trị

Trang 31

nhiên, quy luật sinh thái tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội, yếu tố khoa học công nghệ và tổ chức bộ máy QLNN về ĐNNo.

2.1.10.1 Điều kiện tự nhiên.

ĐNNo được sử dụng vào mục đích nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, cày cấy thí nghiệm về nông nghiệp) Sản xuất nông nghiệp lại là một ngành chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: thời tiết, khí hậu, chế độ gió mùa Tuy có sự phát triển của khoa học, công nghệ, áp dụng KH-KT vào sản xuất nhưng đời sống sản xuất nông nghiệp vẫn luôn gắn liền với điều kiện tự nhiên, những biện pháp áp dụng chỉ có thể hạn chế một phần các tác động có hại của thiên nhiên đến quá trình sản xuất mà thôi Việc sản xuất nông nghiệp không thể tách rời hoàn toàn với thiên nhiên Thiên nhiên, điều kiện tự nhiên vẫn là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp như câu tục ngữ : “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

Quản lý ĐNNo phải chú ý đến điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, ẩm độ, chế độ mưa nắng Mặt khác ĐNNo phân bố ở nhiều vùng khác nhau chế độ dinh dưỡng, độ màu mỡ, phì nhiêu cũng khác nhau Chính vì vậy năng suất, sản lượng

và hiệu quả kinh tế trên các loại ĐNNo cũng khác nhau, trên các vùng khác nhau là khác nhau Để làm tốt công tác quản lý người quản lý phải có chính sách linh hoạt, phù hợp với từng điều kiện cụ thể Chính vì thế trong khi tính giá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất Nhà nước đã có những chế tài phân chia ra nhiều loại ĐNNo khác nhau, dựa trên sự phân chia đó để tính tiền sử dụng đất Ngoài ra tùy vào đời sống thực tế ở một số địa phương, tình hình thiên tai của vùng gặp phải như thế nào mà người quản

lý có chế độ hỗ trợ, miễn giảm, không thu tiền thuế tạo điều kiện cho người sử dụng đất

Như chúng ta biết đất đai có chế độ dinh dưỡng, thành phần cơ giới, địa hình, địa mạo khác nhau, cây trồng, vật nuôi không thể sống trong môi trường mà chế

độ đất đai, nước, dinh dưỡng, địa hình ,,không tương thích QLNN về đất đai phải lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sao cho đúng, không thể đưa cây trồng, vật nuôi vào những nơi điều kiện tự nhiên không thích hợp Cố gắng xây dựng một nền nông nghiệp có hiệu quả, gắn liền với cuộc sống con người

2.1.10.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác QLNN về ĐNNo, Điều kiện kính tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhìn vào điều kiện KT-XH của một đất nước, một địa phương có thể thấy được tình hình, hiện trạng sử dụng đất của đất nước, địa phương đó Liệu đất nước, địa

Trang 32

phương đó có đủ trình độ để áp dụng khoa học vào sản xuất, khai thác ĐNNo hay không? trình độ nhận thức giá trị thu lại trên diệc tích đất sử dụng có cao hay không? Ngược lại khi nhìn vào hiện trạng sử dụng đất có thể thấy được trình độ phát triển kinh tế của vùng, địa phương, thành phố đó Cụ thể, một đất nước, địa phương khai thác đất với quy mô tập trung, theo mô hình tổ chức có quy hoạch, khoa học công nghệ cao, thu nhập mang lại lớn thì dĩ nhiên nước đó là một nước có nền kinh tế phát triển Mối quan hệ qua lại giữa sử dụng, QLĐĐ và đời sống kinh tế - xã hội thể hiện rất rõ theo những khía cạnh sau:

Khi nền kinh tế - xã hội phát triển nhu cầu của con người cũng thay đổi không những về mặt số lượng mà còn về mặt chất lượng Sản phẩm mà xã hội đòi hỏi ngày càng nhiều, nhiều nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp mới, đa dạng Khi xã hội phát triển trình độ nhận thức và KH-KT áp dụng vào sản xuất nông nghiệp cũng tăng nhanh, khả năng khai thác nguồn lực đất đai của con người cũng tăng iên Sản phẩm nông nghiệp vì thế cũng thay đổi nhiều so với trước kia sản phẩm nông nghiệp thô sơ rất ít chủng loại thì ngày nay sản phẩm nông nghiệp đa dạng, phong phú nhiều loại sản phẩm mới lạ, nhiều giống mới do lai tạo, do nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa điều kiện kinh tế - xã hội và hiện trạng của công tác QLNN về ĐNNo

Ngược lại, Sản xuất nông nghiệp phát triển góp phần nâng cao thu nhập cho người trông trọt, chăn nuôi và chính vì vậy con người có đời sống cao hơn Xã hội cũng phát triển theo sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức Trên đây là mối quan hệ qua lại giữa điều kiện kinh tế - xã hội và công tác QLNN về ĐNNo Trong xu hướng phát triển của xã hội cơ cấu kinh tế phải chuyển dịch phù hợp xu thế phát triển và tình hình thực tế của đất nước Cơ cấu thương mại dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp phát triển đi đôi với quy hoạch các quỹ đất đai phục vụ cho mục đích phát triển

Như vậy mối quan hệ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và công tác QLNN về ĐNNo là rất rõ ràng, người quản lý phải có phương pháp, cách thức, quy định hợp lý, linh hoạt để công tác quản lý đi cùng với lợi ích của cá nhân,

hộ gia đình, tổ chức sử dụng đất cũng như lợi ích cửa xã hội

2.1.10.3 Yếu tố khoa học và công nghệ công nghệ ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp

ĐNNo là tài nguyên vô giá và đặc biệt của nền sản xuất xã hội của nước ta, nó vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sản xuất quan trọng Trong quá trình khai thác, sử dụng ĐNNo người sản xuất phải áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật,

Trang 33

các tiến bộ công nghệ khoa học tiến tiến Biết áp dụng, khai thác nguồn lực KH-KT thì khả năng làm việc đối với đất đai, khắc phục điều kiện khó khăn của thiên nhiên

để trồng trọt, sản xuất nâng cao chất lượng, tạo ra các nguồn giống với chất lượng mới, khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên Quá trình phát triển của nền nông nghiệp nước ta và các nước khác trên thế giới từ trước đến nay đã chứng minh sức mạnh của khoa học công nghệ ứng dụng đóng góp cho công tác sản xuất nông nghiệp, từ đó tác động đến công tác QLNN về ĐNNo Sau khi đất nước đổi mới nhiều thay đổi trong chính sách, định hướng, phương pháp của Nhà nước Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; đã làm cho năng suất, sản lượng, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp tăng lên nhanh chóng Đất nước chúng ta từ một nước đói nghèo trở thành một nước có nền nông nghiệp phát triển Đất nước không những thoát khỏi tình hình đói ăn (những năm 45 của thế kỷ trước) mà còn trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, càfê, chè, điều Thực tế đã chứng minh lợi ích của việc áp dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật vào sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp Để có được nền nông nghiệp phát triển thì Nhà nước, Chính phủ cần có chính sách kịp thời nhạy bén khuyến khích áp dụng, cải tiến, nghiên cứu khoa học về sản xuất nông nghiệp Song song với nó Nhà nước phải áp dụng tiến bộ công nghệ để bảo tồn, bảo vệ nền sản xuất nông nghiệp, quỹ đất đai nói chung và quỹ ĐNNo nói riêng và nâng cao chất lượng của công tác lưu trữ, bảo vệ, thu thập tài liệu, tư liệu về ĐNNo, thay thế bản đồ giấy bằng những bản đồ số hoá,bản đồ công nghệ can để lập, điều chỉnh công tác QLNN phù hợp hơn, khoa hơn, nhanh chóng, thuận tiện hơn

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trang 34

Cũng như Việt Nam, Trung quốc là quốc gia thuộc hệ thống các nước XHCN trước đây và hiện nay là quốc gia xây dựng mô hình phát triển nhà nước theo hình thái xã hội XHCN, nhưng mang đặc sắc Trung Quốc Là quốc gia nông nghiệp được xếp vào dạng các nước đang phát triển, kinh nghiệm của Trung Quốc trong cuộc phát triển kinh tế đất nước là bài học lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới Trung Quốc có dân số đông nhất thế giới (theo thống kê năm 2008 dân số Trung Quốc là l,324 tỷ người) trong đó dân số nông nghiệp chiếm gần 80% Tổng diện tích đất đai toàn quốc là 9.632.796 Km2, trong đó diện tích đất canh tác là trên l00 triệu ha (chiếm 7% diện tích đất canh tác toàn thế giới) Trung Quốc bắt đầu công cuộc 4 HĐH trong đó có CNH là mũi nhọn từ năm 1978, nhưng đến năm 1988, tốc độ CNH của Trung Quốc có những bước phát triển vượt bậc, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn ở mức cao nhất thế giới liên tục trong gần 20 năm qua Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và cách mạng công nghiệp, tốc độ ĐTH - CNH ở Trung Quốc cũng diễn ra rất mạnh mẽ (hàng chục các thành phố công nghiệp, các đặc khu kinh tế mới như Thâm Quyến được xây dựng mới) Vì vậy việc giải quyết quan hệ

xã hội về đất đai ở Trung Quốc trong quá trình CNH - HĐH với đảm bảo an ninh lương thực cho gần l/5 dân số thế giới của Trung Quốc là mô hình thành công lớn đóng góp cho thế giới QLNN về ĐNNo ở Trung Quốc có một số đặc điểm nổi bật:

Từ năm 1949, Trung Quốc tiến hành cải cách ruộng đất, chia ruộng đất của địa chủ phong kiến cho nông dân, tuy nhiên, hình thức sở hữu tư nhân về đất đai cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn Từ đầu những năm 1950, ở Trung Quốc đã tiến hành phong trào tập thể hoá nông nghiệp với việc hình thành hàng vạn nông trang tập thể trong khắp cả nước Sở hữu về đất đai đã được thiết lập ở Trung Quốc từ thập

kỷ 50 thế kỷ XX Trong vài thập niên liên tiếp, Trung Quốc là quốc gia chậm phát triển và trong tình trạng thiếu lương thực triền miên

Từ năm 1978, Trung Quốc đã khôi phục kinh tế tư nhân, thừa nhận kinh tế hộ nông dân là một thành phần kinh tế, Nhà nước tiến hành giao đất cho hộ nông dân để

tổ chức sản xuất (thay cho mô hình nông trang tập thể) Điều 10 Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc và Luật quản lý đất của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định: Quyền sở hữu đất Trung Quốc toàn bộ thuộc về sở hữu nhà nước, phân làm 2

Trang 35

hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong đó toàn bộ đất đai thành thị thuộc

về sở hữu nhà nước Đất nông thôn và ngoại ô thành phố, ngoài đất do pháp luật quy định thuộc về sở hữu nhà nước, còn lại là sở hữu tập thể

Quy hoạch là biện pháp quan trọng trong công tác QLĐĐ của Nhà nước Trung Quốc Luật pháp quy định Nhà nước có quyền và có trách nhiệm xây dựng QHSDĐ trong phạm vi cả nước và trong từng cấp chính quyền theo đơn vị hành chính lãnh thổ

Thống kê, phân loại đất cũng đươc quy định tại Luật QLĐĐ Đất đai của Trung Quốc được chia làm 3 loại chính:

- Đất dùng cho nông nghiệp: là đất đai trực tiếp sử dụng cho sản xuất nông nghiệp bao gồm đất canh tác, đồng cỏ, đất nuôi trồng thuỷ sản

- Đất xây dựng: là đất được sử dụng để xây dựng công trình kiến trúc, nhà cửa

đô thị, dùng cho mục đích công cộng, khai thác khoáng sản, đất sử dụng trong các công trình an ninh quốc phòng

- Đất chưa sử dụng: là loại đất còn lại không thuộc 2 loại đất nêu trên

Nhà nước quy định tổng kiểm kê đất đai 5 năm một lần và có thống kê đất đai hàng năm, việc thống kê đất đai hàng năm được tiến hành ở các cấp quản lý theo đơn

vị hành chính từ trung ương đến địa phương; Hồ sơ đất đai được thiết lập đến từng chủ sử dụng đất và cập nhật biến động liên quan đến từng chủ SDĐ, đến từng mảnh đất

Luật quy định Nhà nước thu tiền khi giao đất (ở Trung Quốc không có hình thức giao đất ổn định lâu dài không thời hạn), người sử dụng phải nộp đủ tiền sử dụng cho Nhà nước mới được thực hiện các quyền; Nhà nước coi việc giao đất thu tiền là biện pháp quan trọng để tạo ra nguồn thu ngân sách đáp ứng nhu cầu về vốn

Trang 36

ổn định an ninh lương thực bằng biện pháp yêu cầu bên được giao đất phải tiến hành (có thể trực tiếp hoặc nộp tiền) khai thác đất chưa sử dụng, bù vào đúng với diện tích canh tác bị mất đi Nhà nước Trung Quốc còn ban hành quy định về phí trưng dụng đất (như là dạng bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất ở Việt Nam) Đó là các loại chi phí

mà đơn vị sử dụng đất phải trả gồm: Chi phí đền bù đất (do đơn vị phải trả cho nông dân bị trưng dụng đất), trưng dụng đất không có thu lợi thì không phải đền bù; chi phí đền bù đầu tư đất (là phí đền bù cho đầu tư bị tiêu hao trên đất, tương tự phí đền

bù tài sản trên đất ở Việt Nam); chi phí đền bù sắp xếp lao động và phí đền bù sinh hoạt phải trả cho đơn vị bị thu hồi đất (tương tự hình thức chi phí hỗ trợ chuyển nghề, đào tạo nghề và thu nhận lao động); chi phí quản lý đất (gần như phí hay lệ phí hành chính được sử dụng cho các cơ quan quản lý như tổ chức phát triển quỹ đất; Ban chỉ đạo GPMB ) Người dân ở nông thôn sau khi đã bán nhà hoặc cho thuê nhà sẽ không được Nhà nước cấp thêm Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu tập thể không được phép chuyển nhượng hoặc cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp

2.2.1.2 Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp

Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống quốc gia TBCN, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng ảnh hưởng của phương pháp tổ chức QLNN trong lĩnh vực đất nông nghiệp của Cộng hoà Pháp còn khá rõ đối với nước ta Vấn đề này có thể lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu QLĐĐ

do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống QLĐĐ thực dân còn khá rõ nét trong ý thức của một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của Nước Cộng hoà Pháp có một số đặc điểm đặc trưng là:

Luật pháp quy định quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện còn tồn tại song hành hai hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu tư nhân về đất nông nghiệp và sở hữu nhà nước (đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng) Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất nông nghiệp cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu đất nông nghiệp nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng

Trang 37

Công tác quy hoạch

Do đa số đất nông nghiệp thuộc SHTN, vì vậy trong quá trình ĐTH, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm chú ý từ rất sớm và được thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919, ở Pháp đã ban hành Đạo luật về kế hoạch ĐTH cho các thành phố có từ l0.000 dân trở lên Năm 1973 và năm 1977, Nhà nước đã ban hành các Nghị định quy định các qui tắc về phát triển đô thị, là cơ sở để ra đời Bộ Luật về chính sách đô thị Đặc biệt là vào năm 1992, ở Pháp đã có Luật về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã cho đến nay, Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền sở hữu tư nhân (SHTN) và sự can thiệp ngày càng sâu sắc hơn của Nhà nước, cũng như của các cộng đồng địa phương vào công tác Quản lý nhà nước về ĐNNo, quy hoạch ĐNNo Nó mang ý nghĩa kinh tế rất lớn thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ giữa các ngành khác nhau như xây dựng và quy hoạch lãnh thổ

Mặc dù là quốc gia duy trì chế độ SHTN về ĐNNo, nhưng công tác QLNN về ĐNNo của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, rất qui củ và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về kích thước, vị trí địa lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và SDĐ có hiệu quả

2.2.1.3 Kinh nghiệm của Mỹ

Nước Mỹ có diện tích tự nhiên gần 9,3 triệu km2, dân số gần 300 triệu người,

là một quốc gia phát triển, Mỹ có một hệ thống pháp luật về đất nông nghiệp rất phát triển có khả năng điều chỉnh được các quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhất Luật đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền SHTN về đất nông nghiệp; các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Cho đến nay có thể thấy các quy định này đang phát huy rất có hiệu

Trang 38

quả trong việc phát triển kinh tế đất nước, vì nó phát huy được hiệu quả giá trị của đất nông nghiệp.

Tuy công nhận quyền SHTN, nhưng Luật Đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của Nhà nước trong Quản lý nhà nước về ĐNNo Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về qui hoạch

và kế hoạch SDĐ, quyền quy định về quy hoạch; quyền quy định về mục đích SDĐ; quyền xử lý các tranh chấp về QSDĐ và quyền ban hành các quy định về tài chính đất, quyền thu hồi đất thuộc SHTN để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền

bù công bằng cho người bị thu hồi Về bản chất quyền SHTN về đất đai ở Mỹ cũng chỉ tương đương QSDĐ ở Việt Nam

Như vậy có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới (dù quy định chế độ sở hữu đối với đất nông nghiệp khác nhau), đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất nông nghiệp Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu thế toàn cầu hoá hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp, để phục vụ cao nhất cho quyền lợi của quốc gia, đổng thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, phát triển, tạo điều kiện để phát triển giữ được ổn định về an ninh lương thực, an ninh kinh tế và an ninh quốc gia

2.2.1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của một số tỉnh, thành phố trong quá trình đô thị hoá

2.2.1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2095,2 km2 với dân số 5.891 triệu người với 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành, 254 phường, 5 thị trấn và 58 xã Là Thành phố đặc biệt, vì vậy công tác QLNN về đất nông nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình ĐTH - CNH có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế của Thành phố Từ khi có Luật Đất đai năm 1987, Thành uỷ, UBND Thành phố đã ban hành hàng trăm văn bản về công tác Quản lý nhà nước về ĐNNo và quản lý quy hoạch nhằm thể chế hoá chính sách và pháp luật đất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước trên địa bàn Trong đó đặc biệt là Thành phố đã ban

Trang 39

hành Quyết định số 4755/QĐ- UB ngày 26/9/1998 về khung giá các loại đất theo quy định của Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ Quyết định về khung giá đất theo Nghị định số 188/CP ngày 16/1 l/2004 của chính phủ Về công tác quản

lý quy hoạch đô thị ngày l0/7/1998 Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống hồ sơ địa chính của Thành phố cơ bản được xây dựng khá bài bản, toàn Thành phố đã được đo đạc và thành lập bản đồ địa chính chính qui và không chính qui ở các tỷ lệ l/500 và l/1000 (l/500 ở các quận nội thành và 1/1000 ở các huyện ngoại thành) Thành phố cũng đã xây dựng quy hoạch- kế hoạch SDĐ giai đoạn 2001 đến 2010 và

123/QĐ-đã được Chính phủ phê duyệt Vào năm 2005, Thành phố 123/QĐ-đã công bố cơ bản hoàn thành công tác triển khai cấp GCN QSDĐ ở và QSHN ở tại đô thị Trong giai đoạn sốt đất năm 2002, UBND Thành phố đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-UB ngày 22/4/2002 nhằm chấn chỉnh và tăng cường QLNN về đất đai trên địa bàn Hàng nghìn vụ việc vi phạm tổ chức pháp luật của các và cá nhân trên địa bàn Thành phố

đã được xử lý Nhìn chung các văn bản của Thành uỷ và UBND Thành phố đã góp phần ổn định công tác Quản lý nhà nước về ĐNNo ở địa phương Từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Thành phố cũng đã ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện Luật và các Nghị định của Chính phủ Tuy nhiên, cũng như tình hình chung của các tỉnh, thành phố trong cả nước, công tác QLNN về ĐNNo, đất đô thị ở Thành phố cũng có rất nhiều bức xúc, phức tạp Tuy nhiên do hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành chưa đồng bộ và chưa có khả năng đáp ứng được yêu cầu của tình hình thực tế xã hội hiện nay trong công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng

2.2.1.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là Thành phố cảng quan trọng của vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc, thành phố Hải Phòng có diện tích l.526,3 km2 và dân số là l.793 triệu người với

5 quận, l thị xã và 8 huyện; 57 phường, 9 thị trấn, 152 xã Trong nhiều năm qua, QLNN về ĐNNo ở Thành phố có nhiều vấn đề phức tạp Đặc biệt Hải Phòng là nơi

có nhiều điểm nóng khiếu kiện tranh chấp đất đai rất gay gắt Nguyên nhân cơ bản là

do trong quá trình ĐTH, giá đất bị đẩy lên rất cao, trong khi Thành phố chưa có biện

Trang 40

pháp kiên quyết để ngăn chặn kịp thời tình trạng vi phạm pháp luật Đặc biệt tình trạng tự chuyển mục đích sử dụng ĐNNo thành đất ở, mua bán đất đai trái quy định của pháp luật diễn ra khá phổ biến Hệ thống hồ sơ địa chính không được lưu trữ đầy

đủ và cập nhật thường xuyên Vì vậy công tác QLNN về đất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu thông tin pháp lý về nguồn gốc SDĐ làm cơ sở để thực hiện giao đất, đền bù thiệt hại về đất và xử lý các vi phạm pháp luật trong Quản

lý nhà nước về ĐNNo Từ năm 1993 đến năm 2002, Thành phố đã ban hành 12 văn bản thể chế hoá các quy định của Luật và Nghị định của Chính phủ để triển khai công tác QLNN về đất nông nghiệp trên địa bàn Ngày 11/10/1994 Thành phố đã thành lập Sở Địa chính Hải Phòng và kiện toàn hệ thống tổ chức ngành Địa chính Đến ngày 19/10/2001 thành lập Sở Địa chính nhà đất để thực hiện các công tác QLNN về đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Công tác lập quy hoạch sử dụng ĐNNo và quy hoạch phát triển đô thị được triển khai chậm do Thành phố chưa có sự đầu tư thoả đáng Năm 2001 HĐND thành phố Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết số

20 ngày 5/7/2001 ''Phê duyệt quy hoạch SDĐ thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000- 2010'' Theo qui hoạch này, đến năm 2010, diện tích ĐNNo: l 176 ha của Thành phố

sẽ tăng 2062 ha, đất lâm nghiệp 528 ha Cũng như một số tỉnh, thành phố phía Bắc, công tác Quản lý nhà nước về ĐNNo của Thành phố sau khi luật đất đai 2003 có hiệu lực cơ bản dần ổn định Tuy nhiên việc khai thác, SDĐ còn kém hiệu quả từ năm 2003 đến nay, công tác triển khai cấp GCN QSDĐ còn chậm, cả về cấp GCN QSDĐ ở và cấp GCN QSDĐ cho các đơn vị SDĐ, đây là một nhược điểm lớn của QLNN về đất đai ở thành phố Hải Phòng

2.2.2 Bài học rút ra cho tỉnh Hưng Yên về Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá

Từ việc nghiên cứu tình hình Quản lý nhà nước về ĐNNo ở một số quốc gia

trên thế giới và một số tỉnh thành trong nước, bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác QLNN về đất nông nghiệp trong điều kiện CNH – ĐTH ở tỉnh Hưng Yên là:

(l) Hệ thống các văn bản pháp luật phải được nghiên cứu sâu sắc, khoa học và được ban hành đồng bộ, kịp thời, mang tính chất ổn định (tuy chỉ là tương đối nhưng

Ngày đăng: 17/01/2015, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phan Đại Doãn (1996), Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay- Một số vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay- Một số vấn đề và giải pháp
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
4. Harold Koontz; Cyril Odonnel; Heinz Weihrich (1993), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Harold Koontz; Cyril Odonnel; Heinz Weihrich
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1993
9. Nguyễn Ngọc Hiến (2005), Kỹ năng quản lý đất đai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng quản lý đất đai, Nxb Chính trị Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
10. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2006)
Năm: 2006
11. Nhà xuất bản Lao động (2006), Tìm hiểu Luật Kinh doanh BĐS, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật Kinh doanh BĐS
Tác giả: Nhà xuất bản Lao động
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động (2006)
Năm: 2006
13. Quốc Hội (1995), Luật đất đai năm 1993, Các văn bản pháp luật về quản lý đô thị, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 1993, Các văn bản pháp luật về quản lý đô thị
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1995
16. Quốc Hội (2003), Luật đất đai 2003, Hệ thống văn bản pháp luật mới nhất về quản lý, kinh doanh và tài chính đối với BĐS, Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai 2003, Hệ thống văn bản pháp luật mới nhất về quản lý, kinh doanh và tài chính đối với BĐS
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2003
17. Trường ĐH kinh tế quốc dân (2002), Giáo trình quản lý học kinh tế quốc dân tập II, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý học kinh tế quốc dân tập II
Tác giả: Trường ĐH kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
18. Trường ĐH kinh tế quốc dân (2006), Giáo trình chính sách kinh tế xã hội Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính sách kinh tế
Tác giả: Trường ĐH kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
29. Viet Nam net (2006), “Còn khá phổ biến tình trạng quy hoạch "treo" và sử dụng lãng phí đất đai”, Diễn đàn trao đổi, site: http://www.mof.gov.vn//Nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Còn khá phổ biến tình trạng quy hoạch "treo" và sử dụng lãng phí đất đai
Tác giả: Viet Nam net
Năm: 2006
1. Chính phủ (2003), Quyết định số 13/2003/QĐ-TTG ngày 17 tháng 01 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 Khác
2. Chính phủ (2006), Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành LĐĐ 2003 Khác
5. Lê Đình Thắng (2000), Thực trạng và giải pháp mở rộng thị trường nhà đất ở Thành phố Hà Nội .6. Lê Đình Thắng (2000), QLNN về đất đai và nhà ở, Trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân Khác
7. Lê Đình Thắng (2000), Giáo trình nguyên lý thị trường nhà đất, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
8. Lê Minh Thông (2001), Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Trung tâm khoa học và nhân văn Quốc gia Khác
19. UBND tỉnh Hưng yên (1997)- Chỉ thị số 15/CT.UB ngày 24/4/1997 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 04/CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai Khác
20. UBND tỉnh Hưng yên (1997) Chỉ thị số 25/CT.UB ngày 20/6/1997 về việc thực hiện chính sách đền bù đất đai, hoa màu, giải toả mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất xây dựng cơ bản Khác
21. UBND tỉnh Hưng yên (1997)- Quyết định số 882/QĐ-UB ngày 05/7/1997 về việc quy định giá các loại đất Khác
22. UBND tỉnh Hưng yên (1997)- Quyết định số 883/QĐ-UB ngày 17/7/1997 về việc quy định mức giá tối thiểu nhà ở, đất ở Khác
23. UBND tỉnh Hưng yên (1997)- Chỉ thị số 30/CT.UB ngày 17/7/1997 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Đất đai tỉnh Hưng Yên qua các năm 2008 - 2009 - 2010 - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 3.1 Đất đai tỉnh Hưng Yên qua các năm 2008 - 2009 - 2010 (Trang 47)
Bảng 3.2: Phân vùng đất nông nghiệp - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 3.2 Phân vùng đất nông nghiệp (Trang 48)
Bảng 3.3: Phân hạng đất nông nghiệp - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 3.3 Phân hạng đất nông nghiệp (Trang 49)
Bảng 3.5: Phân bố dân số của tỉnh Hưng Yên - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 3.5 Phân bố dân số của tỉnh Hưng Yên (Trang 52)
Bảng 4.1: Diện tích, cơ cấu sử dụng đất năm 2010 tỉnh Hưng Yên - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.1 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất năm 2010 tỉnh Hưng Yên (Trang 72)
Bảng 4.2: Diện tích đất sử dụng cho các khu công nghiệp - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.2 Diện tích đất sử dụng cho các khu công nghiệp (Trang 73)
Bảng 4.3: Cơ cấu đất dùng cho đô thị - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.3 Cơ cấu đất dùng cho đô thị (Trang 74)
Bảng 4.4: Tình hình biến động đất nông nghiệp của Hưng Yên - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.4 Tình hình biến động đất nông nghiệp của Hưng Yên (Trang 75)
Bảng 4.6. Biến động diện tích đất trồng lúa ở cấp huyện và toàn tỉnh - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.6. Biến động diện tích đất trồng lúa ở cấp huyện và toàn tỉnh (Trang 76)
Bảng 4.8: Biến động diện tích đất trồng cây lâu năm ở cấp huyện và toàn tỉnh - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.8 Biến động diện tích đất trồng cây lâu năm ở cấp huyện và toàn tỉnh (Trang 78)
Bảng 4.11: Thu hồi đất nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.11 Thu hồi đất nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên (Trang 81)
Bảng 4.12: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên - hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở tỉnh hưng yên trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa
Bảng 4.12 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w