Như vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp được coi như là một trong những phương án giúp doanh nghiệpcũng cố và vươn đến một vị thế mà tại đó doanh nghiệp có thể chống chọilạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHẩ
NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH 1 TV ĐTPT CHÈ NGHỆ AN 4 2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Các chức năng, vai trò và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp .9
2.1 Các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 10
2.1.1 Sự cần thiết năng cao năng lực cạnh tranh 13
2.1.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp .15
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 21
2.1.4 Các công cụ nâng cao sức cạnh tranh 28
2.1.6 Các phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 32
2.2 Cơ thực tiễn 36
Trang 32.2.1 Trên thế giới 36
2.2.2 Ở Việt Nam 36
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 36
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 42
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 43
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 43
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 44
4.THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 45 4.1 Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH 1TV Đầu Tư Phát Triển chè Nghệ An 45
4.1.1 Khái quát về tình hình sản xuất và tiêu thụ của Công ty 45
4.1.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty 46
4.1.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Công ty 48
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao nâng lực cạnh tranh sản phẩm và chiến lược của Công ty 48
4.2.1 Căn cứ xây dựng giải pháp – chiến lược 48
4.2.2 Các giải pháp cụ thể 48
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49 5.1 Kết luận 49
5.2 Kiến nghị 49
Trang 51 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếkhu vực và thế giới Do vậy, các Doanh nghiệp nước ta phải đối diện vớimôi trường kinh doanh biến động không ngừng và gặp rủi ro,áp lực Cạnhtranh trở nên ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp trong nước không chỉcạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nướcngoài Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi Quátrình cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh
để đứng vững trên thị trường Mặt khác,cạnh tranh là một hiện tượng vốncủa nền kinh tế thị trường, khi nền kinh tế càng phát triển thì cạnh tranhcàng gay gắt quyết liệt Các công ty không ngừng củng cố vị thế của mìnhbằng nhiều cách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân Qua đótạo ra những khách biệt hẳn so với đối thủ cạnh tranh, giúp doanh nghiệpdành lấy thị phần Như vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp được coi như là một trong những phương án giúp doanh nghiệpcũng cố và vươn đến một vị thế mà tại đó doanh nghiệp có thể chống chọilại các hoạt động đến năng lực cạnh tranh một cách hiệu quả.Nõng caonăng lực cạnh tranh là một yếu tố khách quan.Nếu không làm được điềunày thì doanh nghiệp không chỉ thất bại trờn sõn khỏch mà còn thất bạitrờn sõn nhà buộc các doanh nghiệp không ngừng phải cố gắng trong hoạtđộng tổ chức sản xuất kinh doanh của mình để tồn tại và phát triển Đặcbiệt trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệđang phát triển nhanh, nhiều công trình khoa học công nghệ tiên tiến ra đờitạo ra các sản phẩm tốt,đũi hỏi năng lực của Doanh nghiệp.Do vậy, cácdoanh nghiệp phải đi sâu nghiên cứu thị trường, phát hiện ra những nhucầu mới của khách hàng để qua đó có thể lựa chọn phương án phù hợp với
Trang 6nghiệp nào nhạy bén hơn thì doanh nghiệp đó sẽ thành công Có thể nói,việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hộinhập là rất cần thiết.
Nghệ An được đánh giá là tỉnh có tiềm năng để phát triển cây chè.Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Công ty TNHH 1 TV ĐTPT Chè Nghệ An córất nhiều xí nghiệp sản xuất chế biến chè Xuất phát từ yêu cầu cần thiết vàthực tiễn nói trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH 1 TV ĐTPT Chè Nghệ An” làm đề tài.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh và thực trạng cạnh tranh của Công
ty TNHH 1 TV Đầu tư Phát Triển chè Nghệ An Để đề ra được định hướng
và các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
1.3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài
- Ngành hàng: Sản xuất và kinh doanh chè
- Tác nhân tham gia trong cỏc khõu: Sản xuất,kinh doanh, tiêu dùng
- Các nhân tố chủ yếu có liên quan đến thị trường chố:Cơ chế chínhsách, giá cả, chủng loại,cụng tỏc Marketing, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
- Đối tượng nghiên cứu khác: Một số công ty sản xuất chố khỏc trờn
Trang 7địa bàn để so sánh với công ty TNHH 1 TV ĐTPT Chè Nghệ An.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Phạm vi về nội dung: Nâng cao năng lực cạnh tranh tại công tyTNHH1TV ĐTPT chè Nghệ An
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại Công tyTNHH1TV ĐTPT chè Nghệ An
- Phạm vi về thời gian:
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2011 đến tháng 10/2012.+ Các số liệu thông tin được thu thập của công ty từ năm 2009 đến2011
+ Đề xuất định hướng giải pháp đến năm 2020
Trang 82 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY TNHH 1 TV ĐTPT CHẩ NGHỆ AN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Theo từ điển trực tuyến định nghĩa:
“Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân
hay cỏc nhúm, cỏc loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giànhđược lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác.Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnhvực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao Cạnh tranh có thể
là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nộidung mà thuật ngữ này được sử dụng Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quảkhác nhau Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồnsống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vìchúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại.”
Theo quan điểm triết học:
Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá
thể có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thểcùng quan tâm Trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thểkinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đốitrong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhấtcho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc cóthể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốnbán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp
Trang 9Theo quan điểm kinh tế chính trị:
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sảnxuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêuthụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất chomỡnh.Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng(Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa ngườitiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sảnxuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ Cú cỏc biệnpháp cạnh tranh chủ yếu: cạnh tranh giá cả (giảm giá ) hoặc phi giá cả(quảng cáo )
Tóm lại :Có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh, nó phụ thuộcvào phạm vi, đối tượng, và cách tiếp cận khái niệm: từ phạm vi vĩ mô đếnphạm vi từng yếu tố, từ lĩnh vực kinh doanh đến lĩnh vực chính trị, xã hội,tựnhiờn….Tuy nhiờn ở đây chúng ta chỉ chú trọng đến khái niệm cạnh tranhtrong lĩnh vực kinh tế
Trong lĩnh vực kinh tế thì cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là mộttrong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc ngườisản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật,
áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất laođộng, hiệu quả kinh tế Đú chớnh là cạnh tranh lành mạnh Ở đâu thiếu cạnhtranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ, kém phát triển
Từ những nhận định trên, khái niệm cạnh tranh trong kinh doanh có thể hiểu như
sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau
tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng là của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích Đối với người
Trang 10sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
2.1.1.2 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là một trong những tồn tại nhiều quan điểmkhác nhau về năng lực cạnh tranh hay còn gọi là sức cạnh tranh, khả năngcạnh tranh) của doanh nghiệp Có quan niệm gắn năng lực cạnh tranh với
ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm lạigắn sức cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần thu lợi nhuận của Doanhnghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lựccạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khảnăng “thu lợi” của các doanh nghiệp Cách quan niệm này có thể gặp trongcác công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley(1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban Quốcgia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế) Cách quan niệm như vậy tương đồng vớicách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên Hạn chế trong cáchquan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cáchbao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Khái niệm năng lực cạnh tranh được áp dụng với 2 cấp độ: cấp vĩ
mô đó là cạnh tranh quốc gia và cấp vi mô bao gồm năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp
a, Năng lực cạnh tranh quốc gia
Theo diễn đàn kinh tế thế giới(WET- World Economic Forum) thìnăng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì mức tăngtrưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và cácđặc trưng kinh tế
Năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững thu hút đượcđầu tư, đảm bảo kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân (Viện
Trang 11nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và chương trình phát triển Liên HợpQuốc, 2002).
Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranhcủa quốc gia dựa lên năng suất lao động, Poter cho rằng: ‘ Khái niệm có ýnghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất laođộng”(Michael Porter,1990)
Đối với Fagerberg định nghĩa năng lực cạnh tranh của một quốc gia
là ‘ Khả năng của một đất nước trong việc nhận thức rõ mục đích của chínhsách kinh tế tập trung nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm, màkhông gặp phải các khó khăn trong cán cân thanh toán.(Nguyễn VĩnhThanh,2005)
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu : Năng lực cạnh
tranh của quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra phát triển bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới.
b, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo Aldington Report(1985):”Doanh Nghiệp có năng lực cạnhtranh là DN có thể sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội
và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế Khả năngcạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năngbảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN”(Nguyễn HữuThắng,2008)
Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp nước Anh đưa ra địnhnghĩa: “Đối với DN Theo quan niệm này, năng lực cạnh tranh là khả năngsản xuất đúng sản phẩm, xác định gớa cả đúng vào thời điểm Điều đó cónghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các
DN khỏc”(Nguyễn Hữu thắng,2008)
Năng lực cạnh tranh của DN được đo bằng :
Trang 12Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệmkhá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụhàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanhnghiệp Cách quan niệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứucủa Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989)hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tếQuốc tế) Cách quan niệm như vậy tương đồng với cách tiếp cận thươngmại truyền thống đã nêu trên Hạn chế trong cách quan niệm này là chưabao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinhdoanh của doanh nghiệp
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịutrước sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sáchnăng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế
về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới Ủy ban Quốc gia về Hợptác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực củamột doanh nghiệp “khụng bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinhtế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính,khó có thể định lượng
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụngcác yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bềnvững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suấtlao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quanniệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanhnghiệp
Trang 13Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợithế cạnh tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạomới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năngsuất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo
ra thu nhập cao và phát triển bền vững
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm Năng lực cạnh tranh của DNnhư sau: Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì nâng cao lợi thếcạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút
và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bềnvững
2.1.2 Các chức năng, vai trò và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
*Chức năng cạnh tranh
- Cạnh tranh giúp đảm bảo việc điều chỉnh quan hệ gữa cung và cầu
- Cạnh tranh giúp cho điều khiển sao cho những nhõn tố sản xuất sẽđược sử dụng và những nơi có hiệu quả nhất, làm thiểu tổng giá thành củasản xuất xã hội
- Cạnh tranh để tạo tiền đề thuận tiện cho sản xuất thích ưng linhhoạt của cầu và công nghệ sản xuất
- Cạnh tranh tác động một cách tích cực điều tiết và phõn phối thunhập
- Cạnh tranh thúc đẩy sự đổi mới được coi là một chức năng cạnhtranh năng động trong những thập kỷ gần đõy
Trang 14* Vai trò cạnh tranh của Doanh nghiệp
Doanh nghiệp sản xuất khi tham gia vào thị trường thì buộc phảichấp nhận sự cạnh tranh.Đó có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà doanhnghiệp không thể lẫn tránh và tỡm mọi cách vươn lên chiếm ưu thế
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp để có thểsản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thịtrường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm cóchất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng chi phí thấp
hơn thì được coi là cạnh tranh cao (Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005).
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp được xỏc địnhtrờn cỏc nhúm yếu tốchủ yếu được biểu hiện qua sơ đồ 2.1
Uy tín, thương hiệu sản phẩm
Công nghệ và dịch vụ trợ giúp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm
Chất lượng,
khả năng cung
ứng các đầu
vào
Trang 152.1 Các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sức cạnh tranh của một công ty trong một lĩnh vực được xác địnhbằng những thế mạnh mà công ty đú cú hoặc huy động được có thể cạnhtranh thắng lợi
Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợpcác yếu tố để xác lập vị thế so sánh tương đối hay tuyệt đối, tốc độ tăngtrưởng và phát triển bền vững, ổn định của doanh nghiệp trong mối quan hệ
so sánh với tập hợp các đối thủ cạnh tranh trên cùng một môi trường và thịtrường cạnh tranh xác định trong một khoảng thời gian và thời điểm nhấtđịnh Thoả mãn tốt nhất đòi hỏi của khách hàng để thu được lợi ích ngàycàng cao cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước vàngoài nước
Nâng cao năng lực cạnh tranh là đánh giá thực tế năng lực cạnh tranhcủa quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ đó thông qua các tiêu chí để
có những nhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủsức cạnh tranh trên thị trường Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thayđổi mối tương quan giữa thế và lực doanh nghiệp về mọi mặt của quá trìnhsản xuất kinh doanh
- Mục tiêu của hầu hết các loại doanh nghiệp là đạt vị thế cao trongthị trường để sau đó tận dụng vị thế có lợi này khai thác tối đa lợi nhuậntrong một thời gian dài
Trong đề tài này chúng ta quan tâm đến: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
*Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh trước hết là sự biểu hiện “tớnh trội” của mặt hàng
đó về chất lượng giá cả và cơ chế vận hành của thị trường tạo nên sự hấpdẫn, thuận tiện cho khách hàng trong quá trình tiếp cận và sử dụng
Trang 16Lợi thế cạnh tranh cũng là sự thể hiện tính kinh tế của các yếu tố đầuvào cũng như đầu ra của sản phẩm, nó bao gồm chi phí cơ hội và năng suấtlao động cao, chất lượng sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế và thị hiếutiêu dùng trờn cỏc thị trường cụ thể Do vậy, lợi thế cạnh tranh xột theo
tinh chất thương mại cũng là “nghệ thuật bán hàng” được biểu hiện qua
các nội dung mang tính giải pháp về chiến lược và sách lược của mộtngành hàng, một sản phẩm trong quá trình sản xuất và trao đổi thương mại,chiến lược cạnh tranh suy cho cùng là “chinh phục cả thế giới khách hàng
bằng uy tín, giá cả và chất lượng” (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 1999).
+ Các lợi thế cạnh tranh bao gồm:
- Lợi thế cạnh tranh về thương hiệu: Một thương hiệu mạnh có thể mangđến những lợi ích lớn cho doanh nghiệp như: tăng thêm thị phần, cho phộp
họ xác định chớnh sách giá cao, giảm chi phí khuyến thị - hay nói cáchkhác sẽ giúp phần làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất Nếu vậy, liệu mọinhà sản xuất đều cần xây dựng một thương hiệu mạnh?
Thương hiệu là một tài sản của doanh nghiệp, xõy dựng thương hiệuhay đầu tư vào các hoạt động khỏc thỡ doanh nghiệp phải xác định đượclợi ích mà nhãn hiệu mang lại có tương xứng với khoản tiền đầu tư vào đầuhay không
Lợi ích của thương hiệu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như loại hàng
hoá cung cấp hay độ lớn của doanh nghiệp, đó là thực hiện một nghiên cứu
và đưa ra được mức độ quan trọng của thương hiệu đối với những loại hànghoá và dịch vụ khác nhau
Một số lĩnh vực hàng hoá mà thương hiệu đúng vai trò rất lớn đếngiá trị của công ty là các loại sản phẩm cao cấp, thức ăn và nước uống, Vớinhững sản phẩm này thì yếu tố tiờn quyết để giúp doanh nghiệp thành công
là phải xây dựng được một thương hiệu mạnh Ngược lại, một số sản phẩmkhác như các loại mặt hàng thiết yếu thỡ doanh nghiệp nến đầu tư vào công
Trang 17nghệ và kênh phân phối để tạo ra những sản phẩm có giá thành thấp vàphân phối rộng khắp.
- Lợi thế về chi phí: tạo thành sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủcạnh tranh, các nhân tố sản xuất đất đai, vốn là lao động thường được xemnhư là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh
- Lợi thế về sự khác biệt: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làmtăng giá trị sử dụng cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sảnphẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm, lợi thế này chophộp thị trường chấp nhận mức giỏ thậm chớ cao hơn đối thủ
+ Lợi thế cạnh tranh có thể được biểu hiện và đo được bằng các chỉtiêu vừa định tính vừa định lượng
- Các chỉ tiêu định tính:
1 Chất lượng sản phẩm, vệ sinh công nghiệp và thực phẩm cao haythấp…là các tiêu chuẩn về chất lượng và độ an toàn trong sử dụng
2 Quy mô, khối lượng và sự ổn định của sản phẩm
3 Kiểu dáng mẫu mã của sản phẩm, phù hợp với thị hiếu và tập quántiêu dùng trờn cỏc thị trường đến mức độ nào
4 Môi trường thương mại, thể hiện mức độ và khả năng giao dịchcũng như uy tín trên thị trường
5 Môi trường kinh tế vĩ mô và cơ chế chính sách thương mại (thuế,
Trang 182 Số lượng hàng hoá tiêu thụ trong ngày, tháng, quý, năm, lượnghàng nào tiêu thụ được nhiều nhất, lượng hàng nào tiêu thụ được ít nhất.
3 Số lượng khách hàng tiềm năng, số lượng khách hàng thực
4 Giá thành và giá cả sản phẩm
Giá thành biểu hiện những chi phí của yếu tố đầu vào
Giá cả thường biểu hiện trong hoạt động lưu thông và trao đổi
2.1.1 Sự cần thiết năng cao năng lực cạnh tranh
Nâng cao năng lực cạnh tranh là đánh giá thực tế năng lực cạnh tranhcủa quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ đã thông qua các tiêu chí để
có những nhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủsức cạnh tranh trên thị trường Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thayđổi mối tương quan giữa thế và lực của doanh nghiệp về mọi mặt của quátrình sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quancủa nền sản xuất hàng hoá, là một nội dung trong cơ chế vận động của thịtrường Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá dịch vụ bán ra càngnhiều, số lượng cung cấp càng lớn thì cạnh tranh càng gay gắt Nhưng cũngchính nhờ sự cạnh tranh, mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướngngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội Trong nền kinh tế thịtrường, cạnh tranh diễn ra mọi lúc mọi nơi, không phụ thuộc vào yếu tốchủ quan của riêng ai, nên cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọngthúc đẩy sự phát triển Mọi ngành, doanh nghiệp đều phải tự mình vậnđộng để đứng vững trong cơ chế này Cơ chế thị trường mở đường chodoanh nghiệp nào biết nắm vững thời cơ, biết phát huy tối đa thế mạnh củamình để giành thắng lợi trong cạnh tranh
Trang 19Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới đótạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, song cũngbuộc các doanh nghiệp có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trênthương trường, hội nhập kinh tế chính là khơi thụng cỏc dòng chảy nguồnlực trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyểngiao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý.
Thách thức hàng đầu khi hội nhập kinh tế thế giới là tính cạnh tranhngày càng càng khốc liệt cả thị trường trong nước và xuất khẩu do các hàngrào thuế quan bảo hộ cũng như các chính sách ưu đãi đang dần bị xoá bỏ.Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải không ngừng tăng vốn đầu tư, luụn đổimới cụng nghệ, chất lượng lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh và nâng cao năng lực cạnh tranh Thách thức nữa là hàng hoá dịch vụ
sẽ ngày càng phải đương đầu với những rào cản thương mại quốc tế mới Vìvậy, các doanh nghiệp cần phải trang bị cho mình những kiến thức về thịtrường trong và ngoài nước, nắm bắt tập quán, luật kinh doanh ở thị trườngtrong và ngoài nước Khi mà sức cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao
nó sẽ thể hiện tốt vai trò, chức năng của mình trong việc
- Phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
- Kích thích sản xuất phát triển ổn định
- Thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật
- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của cácdoanh nghiệp là một tất yếu khách quan
2.1.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nhóm sản phẩm phụ thuộc trướchết là hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp, chiến lược của ngành vàmôi trường kinh doanh
Trang 20Các yếu tố quan trọng của môi trường kinh doanh là bối cảnh kinh tế
vĩ mô, hệ thống pháp luật, phỏp quy và chính sách của Nhà nước về cáclĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính, cải cách doanh nghiệp, nguồn nhânlực, khoa học công nghệ
Các yếu tố ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh ngành, doanh nghiệpđến khả năng cạnh tranh của hàng hóa: vốn; cơ sở vật chất kỹ thuật; nănglực tổ chức; quản lý sản xuất; thị trường các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sảnphẩm đầu ra; chi phí sản xuất và khả năng sáng tạo sản phẩm mới…
Xuất phát từ đặc điểm và nội dung hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp có thể tổng hợp các yếu tố tạo ra khả năng không ngừng vượt trộitrong quá trình cạnh tranh:
Thứ nhất: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều loại chiến lược khácnhau được phân loại theo cấp độ chiến lược và phạm vi của chiến lược, baogồm chiến lược kinh doanh tổng hợp và chiến lược yếu tố, bộ phận hợpthành giải quyết từng vấn đề kinh doanh cụ thể
Chiến lược kinh doanh tổng quát đề cập đến những vấn đề quantrọng bao trùm nhất và có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của doanhnghiệp như: phương thức kinh doanh, chủng loại hàng hoá, thị trường tiêuthụ, các mục tiêu tài chính và các chỉ tiêu tăng trưởng…
Dưới đây là một số chiến lược quan trọng trong chiến lược kinhdoanh của doanh nghiệp
+ Chiến lược phát triển thị trường mục tiêu
- Cách tiếp cận đơn giản là doanh nghiệp chọn một trong số các thị
trường thành phần làm thị trường mục tiêu và xây dựng marketing cho thịtrường này
Trang 21- Cách tiếp cận thị trường trọng điểm phức tạp, doanh nghiệp chọn
hai hay nhiều hơn trong các thị trường thành phần làm thị trường mục tiêu
và xây dựng marketing hỗn hợp cho từng thị trường mục tiêu đó
- Cách tiếp cận thị trường mục tiêu chấp nhận được, doanh nghiệp
chọn hai hay nhiều hơn trong số các thị trường thành phần làm thành mộtthị trường tương đối đồng nhất và xây dựng marketing hỗn hợp chung chothị trường
+ Chiến lược giữ vững và phát triển thị trường hiện tại
Một trong những nội dung của chiến lược kinh doanh là chiến lượcgiữ vững và phát triển thị trường hiện tại của doanh nghiệp, giữ vững vàphát triển thị trường hiện tại xuất phát từ yêu cầu của quá trình kinh doanhcủa doanh nghiệp phải nhằm tới mục tiêu về lợi nhuận Để làm được điềunày doanh nghiệp cần nghiên cứu nhu cầu của khách hàng trên thị trường,
cơ hội trên thị trường hiện tại của doanh nghiệp thường xuất hiện khi cónhu vầu của khách hàng còn chưa đáp ứng được hoặc đáp ứng chưa tốt,hoặc khi doanh nghiệp có điều kiện và khả năng cạnh tranh để tăng thịphần trên thị trường nhờ một lợi thế chung nào đó hay do sự suy yếu củađối thủ
+ Chiến lược tiếp cận và xâm nhập thị trường mới.
Một trong những mục tiêu mà doanh nghiệp cần hướng tới trong quátrình kinh doanh là tăng trưởng thường xuyên để củng cố và phát triển vịthế của mónh trờn thị trường Để có thể tiếp cận và thâm nhập thị trườngmới, việc đầu tiên mà doanh nghiệp cần làm là nghiên cứu thị trường mớinày để xác định thị trường trọng điểm để từ đó có cách ứng xử phù hợp vớithị trường mới
+ Các chiến lược marketing hỗn hợp
Trang 22Chiến lược marketing hỗn hợp đi vào chi tiết cụ thể những sản phẩmmang tới cho khách hàng: được định dạng như thế nào, được giới thiệu rasao, và nó được bỏn ở đâu để khách hàng có thể mua được, đây là nguyêntắc 4P, đó là Product (sảm phẩm), Price (giá cả), Promotion (quảng cáogiới thiệu) và Place (địa điểm).
Các chiến lược sản phẩm bao gồm nhiều khía cạnh, khi triển khaimột sản phẩm vào thị trường, tuỳ thuộc từng đặc điểm thị trường và sảnphẩm mà có thể áp dụng các chiến lược:
Thứ nhất, chiến lược mở rộng thị trường là việc giới thiệu sản phẩm
của doanh nghiệp với các thị trường mà không có sự thay đổi nào về sảnphẩm, thực chất đây là chiến lược dựa trên quan điểm tiêu chuẩn hoá sảnphẩm Người ta cho các nhu cầu của người dựng và các điều kiện thị trườngđang trở nên đồng nhất hơn, do đó trong trường hợp này doanh nghiệp giữnguyên sản phẩm để bán ở thị trường hiện tại và tìm kiếm thị trường mớicho nó Chiến lược này có thể áp dụng đối với doanh nghiệp khả năng tàichính nhỏ Khả năng nghiên cứu và phát triển hạn chế thì hiệu quả hơn
Thứ hai, chiến lược thích nghi sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu và thị
hiếu của thị trường Sự thích nghi này cú thể tiến hành từng phần hoặc toàn
bộ các đặc điểm của sản phẩm như thay đổi nhãn hiệu cho sản phẩm và cácdịch vụ hỗ trợ sản phẩm Để tiến hành chính sách này các doanh nghiệp cầndựa vào việc nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm, mức độ chấp nhận sảnphẩm của thị trường, tìm kiếm công dụng mới cho sản phẩm
Thứ ba, chiến lược sản phẩm mới, quá trình triển khai sản phẩm mới
phải quyết định đến số lượng cỏc nhúm hàng, các kiểu loại, kích cỡ của sảnphẩm được đưa ra thị trường đáp ứng nhu cầu thị trường phự hợp với nănglực doanh nghiệp
Trang 23Chiến lược giỏ là một trong những chính sách quan trọng trong chiếnlược marketing hỗn hợp Căn cứ để đưa ra quyết định trong chiến lược giỏ là:các yếu tố chi phí; những mục tiêu của doanh nghiệp; yếu tố lạm phát; nhu cầucủa thị trường cạnh tranh; cạnh tranh trên thị trường; kờnh phõn phối…
Một chiến lược marketing hỗn hợp hữu hiệu đòi hỏi các chiến lượcxúc tiến thương mại phải bao gồm:
- Quảng cáo: Quảng cáo có thể được tiến hành trước khi sản phẩm cómặt trên thị trường Các bước thực hiện trong quảng cáo: xác định mục tiêuquảng cáo; xây dựng nội dung quảng cáo; chọn phương tiện và lập kế hoạchquảng cáo, thiết kế quảng cáo; đánh giá hiệu quả quảng cáo
- Xúc tiến bán hàng: Là hoạt động thu hút sự chú ý của khách hàngtới một sản phẩm làm nó hấp dẫn hơn ở nơi bán và nơi tiêu thụ Các hìnhthức xúc tiến chủ yếu: thay đổi hình thức sản phẩm, khuyến khích muahàng (hạ giá khuyến mãi), trưng bày và giới thiệu sản phẩm hàng hoá
- Hội trợ triển lãm và trưng bày giới thiệu sản phẩm: Quan sỏt cỏcđối thủ cạnh tranh, khách hàng và xu thế của thị trường nhằm đưa ranhững sản phẩm phù hợp
Chiến lược kinh doanh bao gồm những quyết định gắn liền với việclựa chọn, phát triển và kiểm soỏt các thành viên kênh để đáp ứng được cácđiều kiện và mục tiêu thị trường Để lựa chọn các thành viên kênh cần xâydựng các chỉ tiêu, tiến hành đánh giá cho điểm và lựa chọn cỏc thành viêncủa kênh tối ưu nhất, các thành viên của kênh thường lựa chọn các công tykinh doanh bán buôn và bán lẻ, cỏc mụi giới…
Thứ hai, quy mô của doanh nghiệp
Trang 24Quy mô của doanh nghiệp thực chất là giảm chi phớ trờn một đơn vịsản phẩm, tận dụng lợi thế về quy mô sản xuất kinh doanh lớn Khi quy mô
về vốn lớn nó sẽ là cơ sở, là nền tảng để doanh nghiệp tiến hành các hoạtđộng của mình nhằm hướng tới lợi nhuận cao nhất cú thể Trong nền kinh
tế hội nhập, yếu tố vốn đối với doanh nghiệp càng trở nên quan trọng, là cơ
sở để doanh nghiệp mở rộng quy mô tạo thế cạnh tranh với các doanhnghiệp khỏc Cũn nếu quy mô nhỏ thỡ phải chấp nhận bất lợi về chi phí, do
đó rất khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác
Thứ ba, năng lực quản lý và điều hành
Do môi trường kinh doanh luôn ở trạng thái không ổn định, thay đổimột cách chóng mặt, đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triểnphải linh động, thớch ứng với cỏc biến động dỳ, nếu khụng doanh nghiệp
sẽ lạc hậu và bi loại khỏi cuộc Nhu cầu luôn thay đổi, chu kỳ sống của sảnphẩm bị rỳt ngắn, các sản phẩm thay thế liên tục xuất hiện với chất lượng,mẫu mã, công dụng cao hơn Do vậy, sức cạnh tranh của doanh nghiệpđược đánh giá bởi tính linh hoạt và ứng dụng của doanh nghiệp để đáp ứngnhu cầu luôn thay đổi của thị trường Sự linh hoạt của doanh nghiệp trongquản lý sẽ giảm được tỷ lệ chi phí quản lý trong giỏ thành sản phẩm, qua
đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ tư, khả năng nắm bắt thông tin
Ngày nay sự bựng nổ thông tin, tin học đó khẳng định vai trò to lớncủa thông tin Thông tin về thị trường mua bán, thông tin về tâm lý và thịhiếu khách hàng, thông tin về giá cả, đối thủ cạnh tranh…cú ý nghĩa quantrọng trong việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Nắm bắtthông tin giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong kinh doanh, giúp chodoanh nghiệp tìm và tạo ra “lợi thế so sỏnh” của doanh nghiệp…
Trang 25Thứ năm, đảm bảo chữ tín
Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, những hành động bất tín, gianlận (như hàng giả, trốn thuế…) trong kinh doanh chỉ có thể đem lại lợi íchnhỏ nhoi trước mắt, nhưng nhất định sẽ làm cho doanh nghiệp thiệt hạinhiều hơn về lâu dài, mất bạn hàng và chỗ đứng trên thị trường
Thứ sáu, chi phí kinh doanh
Trong đó bao gồm chi phí nghờn cứu và phát triển sản phẩm mới(R&D); các chi phí tiện ích; chi phí vận tải; chi phí mặt bằng sản xuất…lànhững nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh của doanh nghiệp
Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới là chi phí quan trọngtrong nền kinh tế hiện đại bởi các doanh nghiệp muốn tồn tại, có sức cạnhtranh thì cần phải biết đổi mới mãnh, do đó đối với hầu hết các doanhnghiệp trên thế giới hiện nay, nhất là các nước đang phát triển, chi phínghiên cứu và phát triển sản phẩm mới chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấuchi phí nhằm đầu tư nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới, độc đáo, hiệnđại, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng, qua đó tạo một vị thế tốt trênthị trường
Thứ bảy, công nghệ
Trình độ máy móc trang thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng lớn tới khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp, nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhấtthể hiện năng lực sản xuất của daonh nghiệp và tác động trực tiếp đến chấtlượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ sản xuất, thiết bị máy móc cũng ảnhhưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm, một doanh nghiệp có trang thiết bịhiện đại thì sản phẩm của daonh nghiệp đó nhất định sẽ có chất lượng cao
Thứ tám, tổ chức hệ thống của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cho dự trù yếu tố mặt hàng sản xuất kinh doanh,nhân sự, tài chính, trang thiết bị hay công nghệ như nhau nhưng do trật tự tổ
Trang 26chức hệ thống với hiệu lực khác nhau thì sức cạnh tranh của nó cũng cónhững điểm khác nhau.
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Các nhân tố ngoại sinh
+ Các nhân tố kinh tế
Công cuộc đổi mới đó làm cho đời sống kinh tế nước ta khởi sắc vànăng động hơn Thị trường trong nước tăng nhanh, thị trường nước ngoàicũng được mở rộng, kinh tế ổn định, nền sản xuất phát triển, hàng hoá dịch
vụ tương đối đa dạng, phong phú, quan hệ cung cầu ngày càng được cảithiện tạo tiền đề ổn định dần về giá cả, tạo ra nhiều điều kiện và môi trườngkinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp Có thể nói, trong thời gian quachúng ta đó đạt được những thành công đáng kể trong việc diều tiết kinh tế,
ổn định kinh tế nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanhnghiệp phỏtt triển Trong môi trường kinh doanh nhõn tố kinh tế dự ở bất cứcấp độ nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu Bởi lẽ, sựhình thành hệ thống tổ chức quản lý và các thiết chế của hệ thống đó có ảnhhưởng trực tiếp và quyết định đến chiều hướng và cường độ hoạt động kinh
tế trong nền kinh tế nói chung cũng như trong từng ngành, từng vùng vàtừng doanh nghiệp nói riêng
Tốc độ tăng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toántăng dần dần tới sức mua các loại hàng hoá dịch vụ tăng lên
- Nền kinh tế đang phát triển mạnh, cơ sở hạ tầng được cải thiện tạođiều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hoá
- Quan hệ kinh tế ngày càng được mở rộng, các rào cản về thuế quan vàphi thuế quan đang dần được dỡ bỏ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuậnlợi trong việc xuất khẩu hàng hoá
Trang 27Tuy nhiên môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn hạn chếảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp: nền kinh tế có tốc độ tăngtrưởng cao nhưng chưa vững chắc, tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao, bội chiNgân sách Nhà nước đáng kể, mức tiết kiệm đầu tư chưa cao, nguồn vốnhuy động trong nước vẫn còn hạn chế và sử dụng lóng phớ… Hệ thống kếhoạch, tài chính, ngân hàng là những công cụ chủ đạo của Nhà nước đóđược đổi mới nhưng còn chậm chưa đap ứng nhu cầu của doanh nghiệp.
+ Các nhân tố về văn hoá xã hội
Các nhân tố về văn hoá – xã hội ảnh hưởng một cách chậm chạp vàrất sừu sắc đến môi trường kinh doanh Trong thực tế các vấn đề về phongtục tập quán, lối sống, trình độ dừn trớ, dân trí, tụn giỏo… có ảnh hưởngrất sâu sắc đến cơ cấu của nhu cầu thị trường, chẳng hạn kết cấu dân cư vàtrình độ dân trớ cú ảnh hưởng trước hết đến thẩm mỹ, thị hiếu…tiếp đó làcác đòi hỏi về mẫu mã, chủng loại, màu sắc của sản phẩm
+ Các nhân tố về tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên tạo ra những điều kiện thuận lợi và khó khănban đầu cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, nếu tài nguyên thiênnhiên phong phú, điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi, vị trí của doanhnghiệp thuận lợi thì cũng coi như là một lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp, giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh