Một số khái niệm cơ bản về nông nghiệp hữu cơ Nông nghiệp hữu cơ là nền nông nghiệp hướng tới một hệ thống sản xuất nôngnghiệp tạo ra thực phẩm và sợi mà tất cả các loại sản phẩm tạo ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP THÀNH PHỐ
Đề tài: Nghiên cứu sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh và thuốc
bảo vệ thực vật sinh học cho sản xuất lúa hữu cơ tại Hà Nội
Mã số: 01C-06/07-2010-2
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Trang 2Hà Nội, 12/2011
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA ĐỀ TÀI
TT Học hàm, học vị Họ, tên, Tổ chức công tác Nội dung công việc tham gia
Thời gian làm việc cho đề tài
1 PGS.TS Phạm Tiến Dũng Trường Đại học Nông
3 TS Trần Danh Thìn Trường Đại học Nông
nghiệp Hà nội Cộng tác viên 18 tháng
4 TS Nguyễn Văn Cương Trường Đại học Nông
nghiệp Hà nội Cộng tác viên 18 tháng
5 TS Phạm Hồng Thái Trường Đại học Nông
10 Nguyễn Thị Hòa Trường Đại học Nông
nghiệp Hà nội Cộng tác viên 18 tháng
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
Cơ quan chủ quản: HTX Nông nghiệp Đại Nghĩa, Mỹ Đức, Hà Nội
Điện thoại : 04 33744925
Địa chỉ: Thị trấn Đại nghĩa, Mỹ Đức, Hà Nội
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Lê Ngọc Thạch
- Thời gian thực hiện : tháng 1 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài: 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
2 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 3
2.1 Một số khái niệm cơ bản về nông nghiệp hữu cơ 3
2.2 Những lợi ích của nông nghiệp hữu cơ 4
2.3 Tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC) 7
2.4 Sản xuất lúa hữu cơ 9
2.4.1 Nguồn dinh dưỡng cho sản xuất lúa 9
2.4.2 Tình hình sâu hại trên lúa và lúa hữu cơ 12
2.5 Thực tiễn về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và lúa hữu cơ 17
2.5.1 Những thành tựu và nghiên cứu ở nước ngoài 17
2.5.2 Thực tiễn và nghiên cứu trong nước 23
3 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Cách tiếp cận 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 29
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Thực trạng một số hệ thống sản xuất lúa tại Hà Nội 37
4.2 Nghiên cứu hiệu quả của sử dụng chế phẩm vi sinh vùi xác hữu cơ sau thu hoạch so với vùi không sử dụng chế phẩm đến sản xuất lúa hữu cơ 44
4.3 Nghiên cứu xác định liều lượng phân compost và phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho sản xuất lúa hữu cơ 47
4.4 Nghiên cứu lựa chọn dinh dưỡng bón lá phù hợp cho sản xuất lúa hữu cơ tại Hà Nội 51
4.5 Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu sinh học 55
4.6 Kết qủa xây dựng quy trình 61
Trang 54.7 Kết quả xây dựng mô hình 61
4.7.1 Đánh giá mô hình vụ xuân 61
4.7.2 Đánh giá mô hình vụ mùa 64
4.8 Đánh giá chất lượng sản phẩm: Gạo hữu cơ 68
4.8.1 Đánh giá chất lượng thương phẩm 68
4.8.2 Đánh giá chất lượng thử nếm 70
4.8.3 Đánh giá chất lượng qua kết quả phân tích sinh hóa 70
5 TỔNG HỢP CÁC SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI 72
5.1 Một số sản phẩm đã đạt được so với yêu cầu đặt ra: 72
5.2 Báo cáo tổng hợp tài chính 74
6 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
6.1 Kết luận 75
6.2 Đề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 82
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Lượng dinh dưỡng trong một số loại phân hữu cơ 11
Bảng 2.2 Mười nước đứng đầu thế giới về diện tích sản xuất hữu cơ 17
Bảng 2.3 Chi phí và lãi thuần của những cây trồng hữu cơ (Rs/ha) 18
Bảng 2.4 Đặc tính chất lượng gạo theo quy tắc an toàn vệ sinh thực phẩm 21
Bảng 2.5 Báo cáo giá trị kinh tế canh tác hữu cơ cà chua và cải bắp ở Sóc Sơn 26
Bảng 4.1 Lượng phân bón hoá học cho cây lúa 38
Bảng 4.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông hộ qua các năm 38
Bảng 4.3 Lượng phân bón hoá học cho cây lúa 39
Bảng 4.4 Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại huyện Quốc Oai 40
Bảng 4.5 Cơ cấu diện tích lúa huyện Mỹ Đức năm 2009 41
Bảng 4.6 Lượng phân bón hoá học cho cây lúa 42
Bảng 4.7 Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại huyện Mỹ Đức 43
Bảng 4.8 Kết quả phân tích nước cho sản xuất lúa theo ba thời điểm 43
Bảng 4.9 Kết quả phân tích đất trước nghiên cứu tại Mỹ Đức 44
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của của phương thức vùi rơm rạ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng giống lúa Bắc Thơm 7 45
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phương thức vùi rơm rạ khác nhau đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Bắc Thơm 7 46
Bảng 4.12 Năng suất lúa qua các công thức có và không xử lý chế phẩm vi sinh khi cày vùi rơm rạ 47
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lúa Bắc Thơm 7, năm 2010 49
Bảng 4.14 Năng suất của giống lúa Bắc Thơm 7 trồng hữu cơ trong hai vụ 50
Bảng 4.15 Hạch toán hiệu quả kinh tế* của trồng lúa hữu cơ so với sản xuất truyền thống, 2010 (1000đ/ha) 51
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến năng suất lúa vụ Xuân 52
Bảng 4.17 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của lúa vụ mùa 53
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến năng suất của giống lúa Bắc Thơm 7 vụ xuân và mùa tại Hà Nội 54
Bảng 4.19 Hiệu quả kinh tế của các loại phân bón lá với lúa vụ xuân 54
Bảng 4.20 Hiệu lực của thuốc lên rầy nâu (Nilaparvata lugens) 56
Bảng 4.21 Hiệu lực của các thuốc sinh học lên sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrosis medinalis) 57
Bảng 4.22 Mật độ sâu cuốn lá nhỏ trước và sau xử lý thuốc sinh học 58
Trang 7Bảng 4.23 Hiệu lực của một số loại thuốc với sâu cuốn lá nhỏ ngoài đồng ruộng
58
Bảng 4.24 Mật độ của rầy nâu trước và sau khi xử lý thuốc trừ sâu sinh học 59
Bảng 4.25 Hiệu lực(%) của một số loại thuốc đối với rầy nâu ngoài đồng ruộng 59
Bảng 4.26 Năng suất lúa của các công thức xử lý thuốc khác nhau 60
Bảng 4.27 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của lúa trong mô hình và ngoài mô hình (sản xuất truyền thống) 62
Bảng 4.28 Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất mô hình lúa hữu cơ 63
Bảng 4.29 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của lúa trong mô hình và ngoài mô hình (sản xuất truyền thống) 64
Bảng 4.30 Hiệu quả kinh tế của sản xuất của hữu cơ và truyền thống hiện tại 65
Bảng 4.31 Một số chỉ tiêu đánh giá định tính về môi trường cho sản xuất lúa hữu cơ tại HTX Đại Nghĩa 66
Bảng 4.32 Kết quả phân tích vi sinh vật đất 66
Bảng 4.33 Kết quả phân tích lý, hóa tính của đất 67
Bảng 4.34 Đánh giá hiệu quả xã hội của mô hình sản xuất lúa hữu cơ 68
Bảng 4.35 Chất lượng thương phẩm của giống lúa Bắc Thơm 7 68
Bảng 4.36 Kết quả cho điểm cảm quan chất lượng cơm gạo Bắc thơm 7 theo
hai mẫu 69
Bảng 4.37 Một số chỉ tiêu sinh hóa gạo 70
Trang 8NNHC: Nông nghiệp hữu cơ
NOSB: Ban tiêu chuẩn quốc gia về hữu cơ
SRI: Hệ thống thâm canh lúa cải tiến
USDA: Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ
Trang 9THÔNG TIN CHUNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
(ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP THÀNH PHỐ)
1 Thông tin chung về đề tài
Tên đề tài: Nghiên cứu sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh và thuốc bảo vệ thực vật
sinh học cho sản xuất lúa hữu cơ tại Hà Nội”
Mã số: 01C-06/07-2010-2
Chủ nhiệm đề tài: Phạm Tiến Dũng
Điện thoại: 0912 79 29 69
Email: ptdung@hua.edu.vn/ptdung@trungtamhuuco.com
Thời gian thực hiện: từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
2 Mục tiêu đề tài:
- Xây dựng quy trình sản xuất lúa hữu cơ trên cơ sở sử dụng các sản phẩm hữu
cơ vi sinh, phụ phẩm nông nghiệp và thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Hà Nội
- Xây dựng được mô hình sản xuất lúa hữu cơ diện tích 1,5ha/vụ
3 Tính mới và sáng tạo
- Là những kết quả nghiên cứu mới về sản xuất lúa hữu cơ, các vật liệu sản xuất hoàn toàn hữu cơ
- Tìm ra loại và lượng phân bón hữu cơ (phân compost, phân hữu cơ vi sinh sôngGianh, dinh dưỡng bún lỏ, thuốc trừ sâu sinh học) thích hợp nhất cho sản xuất lúa hữu cơ tại Hà Nội
- Lần đầu tiên xây dựng quy trình sản xuất lúa hữu cơ tại địa bàn Hà Nội
4 Kết quả nghiên cứu
- Đã xây dựng được tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến sản xuất
lúa hữu cơ
- Đã đỏnh giá thực trạng một số hệ thống sản xuất lúa tại Hà Nội
- Đã đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm vi sinh khi vựi xỏc hữu
cơ sau thu hoạch so với vựi khụng sử dụng chế phẩm đến sản xuất lúa hữu cơ
- Đã xác định liều lượng phân compost và phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh thích hợp cho sản xuất lúa hữu cơ tại Hà Nội
- Đã lựa chọn loại dinh dưỡng bún lỏ phù hợp cho sản xuất lúa hữu cơ tại Hà Nội(Chelax Lay O )
Trang 10- Đã đỏnh giá được hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu, bệnh sinh học:(CATEX 3.6 EC, VBT USA, TAISIEU) trong sản xuất lúa hữu cơ
- Đã xây dựng hai qui trình sản xuất lúa hữu cơ vụ xuân và mùa cho giống lúaBắc thơm 7 tại Hà Nội
- Đã xây dựng hai mô hình sản xuất lúa hữu vơ vụ xuân và mùa năm 2011 trên diện tích 1,5 ha tại Hà Nội
- Đã đánh giá được hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của mô hình sản xuất lúa hữu cơ vụ xuõn, mựa tại Hà Nội
- Đã đỏnh giá được chất lượng lúa, gạo được sản xuất hữu cơ so với lúa gạo đượcsản xuất thông thường
5 Sản phẩm
- Báo cáo chuyên đề: 14
- Hai quy trình sản xuất lúa hữu cơ: vụ xuân, vụ mùa
- Bài báo đã gửi đăng: 2
- Đào tạo được: 7 kỹ sư và 1 thạc sỹ
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng
- Đã chuyển giao kết quả nghiên cứu cho 60 nông dân thông qua tập huấn vàthực hiện hai mô hình sản xuất vụ xuân, vụ mùa
- Hiện nay khi kết thúc đề tài, nông dân tại điểm nghiên cứu đang áp dụng
- Đã và đang chuyển giao cho nông dân tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên quachương trình khuyến nông
Ngày tháng năm 2011
Cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Trang 11INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information
Project title: Study of suitable using of micro- organical fertilizers and pesticide for organical rice production at Hanoi
bio-2 Objectives
- To establish an organical rice production technique package by suitable using of
micro- organical fertilizers, agricultural by- products and bio-pesticide at Hanoi
- Building organical rice production models on area of 1.5 ha, crops
3 Creativeness and innovativeness
- It is new research results on organical rice production, production materials areonly organic
- Have found out suitable type and dose of organical fertilizers (compost, SongGianh micro-orgaical fertilizer, forliar fertilizer, bio-pesticide ) for organical riceproduction suitably at Hanoi
- First time to establish organical rice production technique package at Hanoi
4 Research results
- Have collected general informations of research results related to organical riceproduction
- Have evaluated the present of rice production systems at Hanoi
- Have evaluated effectiveness of using micro products during to buryagriculture by- products after havesting and to compare it to buring without using ofmicro products and it’s affect to organical rice production
- Have founded out suitable dose of compost and Song Gianh micro-orgaicalfertilizer for organical rice production at Hanoi
- Have ditermied a foliar fertilizer (Chelax Lay O) having higher efectiveness fororganical rice production at Hanoi
- Have evaluated effectiveness of bio-pesticides (CATEX 3.6 EC, VBT USA,TAISIEU) for organical rice production at Hanoi
- Have establised two organical rice production technique packages in Spring andAutumn season for Bacthom variety 7 at Hanoi
- Have establised two models of organical rice production in Spring and Autumnseason of 2011 year on the area of 1.5 ha at Hanoi
Trang 12- Have evaluated economical, social and environmental effectiveness of twoorganical rice production models in Spring and Autumn season at Hanoi
- Have evaluated quality of rice to be produced by organic direction to compare itrelated to normal rice production
5 Products
- Component reports: fourteen
- Organical rice production technique package: Two
- Articles submited to publish: two
- Training for 7 bacherlors and 1 master of science in crop sciences brand
6 Effects, transfer alernatives of research results and applicability
- Have transfered research results to 60 farmers through two training courses andcarriyng two models of organic rice production in Spring and Autumn season
- At present although the project to be finished but farmers in studied site to beapplying projects results
- Have transfered and transfering projewct results to farmers in Hanoi, Bacninhand Hungyen
Trang 131 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất lúa nước hiện nay tại Việt Nam dùng rất nhiều phõn hoỏ học và thuốctrừ sâu, bệnh hoá học, thuốc trừ cỏ, thậm chí nhiều loại thuốc hoá học không rõ nguồngốc nhưng người dân vẫn sử dụng Việc sản xuất này cho năng suất lúa cao nhưng làmsuy thoái môi trường, chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng, mất an toàn nghiêm trọng.Hiện tại còn một số vùng sản xuất lúa không dùng thuốc bảo vệ thực vật vàphân bón hoá học nhưng không tập trung, chủ yếu ở cỏc vựng miền núi, năng suất lúathấp và hay bị sâu bệnh hại, không đảm bảo đời sống cho người sản xuất
Hà Nội nằm trong vựa lúa của Đồng bằng sông Hồng, có đội ngũ cán bộ khoahọc kỹ thuật nhiều, tỷ lệ đất canh tác trên đầu người thấp Vì vậy sản xuất lúa khôngnhững cần đảm bảo về năng suất mà còn phải đảm bảo về chất lượng, môi trường.Đặc biệt tại Hà Nội, sản xuất lúa hữu cơ còn rất ít, hầu như chưa có lúa gạo hữu
cơ mang tính hàng hóa Nhưng nhu cầu của người dân Hà Nội đối với gạo hữu cơ hiệnnay đang tăng cao
Việc cung ứng gạo hữu cơ trên địa bàn Hà Nội hiện chưa đáp ứng được nhu cầucủa người tiêu dùng Do vậy giá gạo hữu cơ luôn ở mức cao và phụ thuộc chặt vàonguồn hàng Ví dụ: tháng 10 năm 2009, ECOMART – cửa hàng bán sản phẩm hữu cơlớn ở Hà Nội đã thông báo giá bán gạo Bắc thơm hữu cơ là 20 000 đồng/kg, trong khi
đó giá gạo Bắc thơm bình thường ngoài thị trường là 13 000 đồng/kg
Sản xuất lúa hữu cơ là hướng phát triển tốt, không chỉ đáp ứng yêu cầu của địaphương mà còn tạo điều kiện thân thiện với môi trường, tăng khả năng, cơ hội choxuất khẩu trong thời kỳ hội nhập
Nông nghiệp hữu cơ là quá trình sản xuất tạo ra các sản phẩm hữu cơ (khôngphải là sản phẩm an toàn như một số người lầm tưởng) có nghĩa là sản phẩm không có
dư lượng hoá chất độc Đầu vào của sản xuất hữu cơ, toàn bộ là các chế phẩm hữu cơ,không sử dụng bất kỳ hóa chất tổng hợp nào như phân bón, thuốc trừ sâu bệnh từ bênngoài nhằm hướng tới nền nông nghiệp bền vững
Vậy rất cần có nghiên cứu, xây dựng mô hình sản xuất lúa hữu cơ để từ đó nhânrộng tạo sản phẩm hàng hóa lúa gạo hữu cơ là điều rất cần được quan tâm
Trang 141.2 Mục tiêu đề tài:
- Xây dựng quy trình sản xuất lúa hữu cơ trên cơ sở sử dụng các sản phẩm hữu
cơ vi sinh, phụ phẩm nông nghiệp và thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Hà Nội
- Xây dựng được mô hình sản xuất lúa hữu cơ diện tích 1,5ha/vụ
1.3 Yêu cầu của đề tài
(1) Đánh giá thực trạng một số hệ thống sản xuất lúa tại Hà Nội
- Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến sản xuất lúa hữu cơ
- Đánh giá thực trạng một số hệ thống sản xuất lúa tại Hà Nội
(2) Nghiên cứu bổ sung một số quy trình kỹ thuật trong sản xuất lúa hữu cơ
- Nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm vi sinh khi vựi xỏc hữu cơ sau thu hoạch so với vựi khụng sử dụng chế phẩm đến sản xuất lúa hữu cơ.
- Nghiên cứu xác định liều lượng phân compost và phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho sản xuất lúa hữu cơ.
- Nghiên cứu lựa chọn loại dinh dưỡng bún lỏ phù hợp cho sản xuất lúa hữu cơ tại Hà Nội
- Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu, bệnh sinh học: (CATEX 3.6
EC, VBT USA, TAISIEU)
- Xây dựng quy trình sản xuất lúa hữu cơ dựa trên các kết quả đã thử nghiệm và
kế thừa các kết quả nghiên cứu trước.
(3) Xây dựng mô hình sản xuất lúa hữu cơ
- Tập huấn quy trình sản xuất lúa hữu cơ cho nông dân và cán bộ kỹ thuật, chỉ đạo:
- Phân tích mẫu đất, nước trước, sau khi xây dựng mô hình
- Xây dựng mụ hình sản xuất lúa hữu cơ vụ xuân, vụ mùa năm 2011, diện tích 1,5ha/vụ
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các mô hình
(4) Đánh giá chất lượng lúa, gạo được sản xuất hữu cơ so với lúa gạo được sản xuất thông thường
Trang 152 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
2.1 Một số khái niệm cơ bản về nông nghiệp hữu cơ
Nông nghiệp hữu cơ là nền nông nghiệp hướng tới một hệ thống sản xuất nôngnghiệp tạo ra thực phẩm và sợi mà tất cả các loại sản phẩm tạo ra bằng đầu vào hữu
cơ, không sử dụng bất kỳ một loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học nào(USDA 2001)
Theo Cục tiêu chuẩn hữu cơ quốc gia (NOSB) 2009, định nghĩa nông nghiệphữu cơ là một hệ thống quản lý sản xuất mà thúc đẩy và tăng cường sự đa dạng, chutrình sinh học và hoạt động sinh học của đất Nó dựa trên việc sử dụng ít nhất nhữngđầu vào phi nông nghiệp (off-farm), dựa trên thực tiễn quản lý phục hồi, duy trì vàtăng cường phù hợp sinh thái
Quản lý canh tác hữu cơ dựa trên sự phát triển đa dạng sinh học đồng ruộng phá
vỡ nơi cư trú của sâu bệnh, duy trì và làm giàu dinh dưỡng đất
Nông dân sản xuất nông nghiệp hữu cơ không được phép sử dụng phân bón,thuốc sâu hóa học Một số đặc trưng thiết yếu của sản xuất nông nghiệp hữu cơ baogồm:
- Thiết kế và ứng dụng một sơ đồ hệ thống sản xuất hữu cơ mô tả các hoạt động sẽđược sử dụng để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, một hệ thống sổ sách ghichép chi tiết theo dõi các sản phẩm từ ngoài đồng đến điểm bán hàng
- Và duy trì một vùng đệm để ngăn chặn sự xâm nhiễm vô ý của sâu bệnh từ vùngsản xuất truyền thống (không hữu cơ) kề liền (Catherine Greene, Amy Kremen, 2003).Mục đích hàng đầu của nông nghiệp hữu cơ là đảm bảo sức khỏe và năng suất củacác cộng đồng độc lập về đời sống đất đai, cây trồng, vật nuôi và con người
Theo tổ chức nông nghiệp hữu cơ quốc tế IFOAM thì "Vai trò của nông nghiệphữu cơ gồm cả giai đoạn canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng, là nhằm mụcđích duy trì sức khỏe của hệ sinh thái và các sinh vật, bao gồm cả các sinh vật có kíchthước nhỏ nhất sống trong đất đến con người."
Nhìn chung Canh tác Nông nghiệp hữu cơ sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan tựnhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh việc khai thác quá mức và gây ô nhiễm chocác nguồn lực tự nhiên, giảm thiểu việc sử dụng năng lượng và các nguồn lực không
thể tái sinh, sản xuất ra thực phẩm không có các chất độc hại và mang lại chất lượng
cao… Ngoài ra, nông nghiệp hữu cơ còn đảm bảo, duy trì và gia tăng độ màu mỡ lâu
Trang 16dài cho đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là các chu trình dinhdưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, đa dạng mùa vụ
và các loại vật nuôi, phù hợp với điều kiện địa phương,…
Sự khác biệt rõ nhất giữa sản xuất các loại sản phẩm hữu cơ với sản xuất sảnphẩm sạch, an toàn khác là quy trình sản xuất: Sản xuất các sản phẩm hữu cơ không sửdụng thuốc trừ sâu và phõn hoỏ học, nguồn thức ăn trong chăn nuôi là nguồn thức ăn
tự nhiên Trong khi quy trình sản xuất rau quả và sản phẩm nông nghiệp sạch, an toànvẫn sử dụng một số lượng nhất định thuốc trừ sâu và phân bón hoá học, thức ăn tăngtrọng và các chất kích thích trong chăn nuôi
2.2 Những lợi ích của nông nghiệp hữu cơ
Những lợi ích chung
Những lợi ích lớn nhất của nông nghiệp hữu cơ, El-Hage Scialabba (FAO) đãnói là sự không lệ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch, dựa vào những nguồn sẵn có của địaphương mà giảm thiểu sức ép nông nghiệp sinh thái và hiệu quả chi phí Tác giả miêu
tả nông nghiệp hữu cơ như “hệ thống thức ăn tân cổ truyền” mà kết hợp khoa học hiệnđại và kiến thức bản địa
(Source: World of Certified Organic Agriculture (COA),2007 )
Figure 2.1: Những lợi ích của nông nghiệp hữu cơ
Theo báo cáo của FAO (2007) khẳng định thế giới chuyển sang nông nghiệp hữu
cơ vừa thể giải quyết được nạn đói, vừa ngăn chặn được sự biến đổi khí hậu Cũng theobản báo cáo trước của FAO, nông nghiệp truyền thống, cùng với sự phá rừng và đốtnương rẫy là đóng góp 30% lượng thải CO2 và 90% NO2 vào không khí
Trang 17Lợi ích về mặt kinh tế
Mặc dù phạm vi kinh tế rất rộng, kinh tế nông nghiệp có xu hướng tập trungvào tăng năng suất và hiệu quả ở mức nông hộ Xu hướng kinh tế chủ đạo lấy phươngpháp tiếp cận trung tâm đối với những giá trị của thế giới thiên nhiên: đa dạng sinhhọc, ví dụ như cái lợi là nó được quý trọng bởi con người và tăng lợi nhuận Các tổchức Chính phủ như Liên minh Châu Âu trợ cấp sản xuất hữu cơ vì những nước này
họ tin những lợi bên ngoài là giảm sử dụng nước, giảm sự làm bẩn nguồn nước bởithuốc trừ sâu và những chất dinh dưỡng khác của nông nghiệp, giảm xói mòn đất,giảm thải cacbon, tăng đa dạng và nhiều lợi khác
Năng suất và lợi nhuận
Hai hai năm nghiên cứu thử nghiệm trang trại, Đại học Cornell 2005 đã kết luậnsản xuất ngô và đậu tương hữu cơ cho năng suất giống như canh tác thường qua thờigian dài, nhưng tiêu thụ ít năng lượng và không sử dụng thuốc sâu hoá học Kết quảnói chung là năng suất thấp nhưng lại đạt cao trong những năm hạn hán (Lang, 2005)
Một nghiên cứu ở 1804 trang trại hữu cơ ở Trung tâm Mỹ được công bố bởiHurricane Mitch 1988 thấy rằng trang trại hữu cơ bền vững với sự phá huỷ hơn, duy trì
từ 20-40% tầng đất mặt và sự thất bại kinh tế thấp hơn có ý nghĩa so với những trang
trại thường (Holt-Gimenez, 2000)
Mặt khác, một nghiên cứu trong 21 năm ở Thuỵ Sỹ chỉ ra năng suất hữu cơ thấphơn khoảng 20% so với canh tác thường, nhưng cùng với đó là thấp hơn 50% chi phí
về phân bón và năng lượng, và ít hơn 97% sử dụng thuốc trừ sâu (Maeder, et al,2002)
Trong khi canh tác hữu cơ không yêu cầu phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp,giảm chi phí đầu vào, cùng với những lợi mà người tiêu dùng giành cho sản phẩm hữu
cơ đã tạo ra lợi nhuận cao hơn cho sản phẩm hữu cơ
Lợi ích về sức khoẻ
Canh tác thường sử dụng một lượng lớn thuốc trừ sâu qua những kỹ thuật như
sự quét bụi cho cây trồng Những nghiên cứu chỉ ra những ngừời làm việc với thuốctrừ sâu có nguy cơ tăng sự phát triển bệnh Parkinson (Sciam, 2006)
Khoảng 31000 ton thuốc trừ sâu là được sử dụng ở Anh hàng năm, và khoảng40% mẫu hoa quả, rau và bánh mì được lấy mẫu là chứa dư thừa thuốc trừ sâu trongnăm 2004 (Hiệp hội đất, 2009)
Trang 18Một nghiên cứu năm 2001 đã chứng minh rằng trẻ con ăn thức ăn hữu cơ nhiễmthấp hơn đáng kể thuốc sâu chứa nguyên tố phosphor hơn trẻ con ăn thức ăn sản xuấtthường (SCIAM, 2006)
Một nghiên cứu năm 2007 chỉ ra sự tiêu dùng sữa hữu cơ có liên quan đến việcgiảm rủi ro eczema, mặc dầu chưa tìm thấy ở hoa quả, rau và thịt hữu cơ (Kummeling
et al., 2007)
Sự bảo tồn đất
Nông nghiệp hữu cơ đang nổi rất nhanh vì hướng giải quyết dài bền vững choviệc sản xuất thức ăn Nó tập trung vào những công nghệ tái sinh, sự đa dạng, đầu vàobên ngoài thấp và đầu ra cao làm cho nó có thể thay thế phương pháp nông nghiệpthâm canh sử dụng nhiều hoá chất đang đóng góp vào sự nóng lên toàn cầu
Nông nghiệp hữu cơ sử dụng ít hoặc không thuốc trừ cỏ, sâu và vì vậy phù hợp
với sự đa dạng sinh thái và tăng vi sinh vật có lợi (Gabriel and Tscharntke, 2006) Rất
nhiều loài cỏ cuốn hút côn trùng để cải thiện chất lượng đất và diệt những côn trùng
hại cỏ (Van Elsen, 2006) Những tổ chức đất xung quanh thường có lợi vì tăng vi
khuẩn Bacteria do sự trải dài của phân bón tự nhiên
Đảm bảo đa dạng sinh học
Trong tiêu chuẩn canh tác hữu cơ người ta quy định phải có sự luân canh câytrồng trong một năm mà luân canh giúp cải tạo đất Những nghiên cứu chỉ ra rằng chấthữu cơ mất từ sự thâm canh mạnh mẽ các cây trồng có thể được lấy lại khi cây trồngđược luân canh với cây trồng cỏ lâu năm Hai tiến trình đóng góp đối với điều này thứnhất là sự phân huỷ nhanh của các chất hữu cơ từ đất trồng bị dừng dưới cây trồng
Trang 19mặt Điều này tất nhiên cũng đạt được khi không làm đất Thứ hai là cỏ và cây họ đậuphát triển mạnh hệ rễ sẽ tiếp tục được trồng hay chết đi Nhưng rễ chết sẽ cung cấpnguồn chất hữu cơ năng động cho đất, cái mà là thức ăn cho vi sinh vật đất để xâydựng đất tốt
Quản lý sâu bệnh hại cây trồng bởi luân canh Ví dụ như ngô, hạt ngũ cốc nhỏ vànhững cỏ khác là những cây trồng tốt để luân canh với rau Bệnh sưng rễ bắp cải - rễ cây
của họ mù tạc bị tấn công bởi nấm mốc nhờn Plasmodiophora brassicae làm rễ cây trở
lên sưng phồng Bệnh này tồn tại trong đất 7 năm mặc dù thiếu họ mù tạc hay cỏ dại.Tuy nhiên bệnh này lại giảm nhanh khi cà chua, dưa chuột, đậu và kiều mạch là đượctrồng Bệnh sưng rễ bắp cải là được điều khiển có hiệu quả bởi trồng rau mùi vụ hè, bạc
hà, vườn rau hung hay cây thảo dược có mùi thơm hang năm khác hai hay 3 vụ liên tục.(Charles L Mohler & Ellen Johnson, 2009)
2.3 Tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC)
Tiêu chuẩn NNHC là để thúc đẩy sự tin cậy của người tiêu dùng và bảo vệ thị
trường khỏi sự kinh doanh lừa đảo (Lampkin et al.,1999) Nó dựa trên pháp chế và quy
định ở mức quốc tế và quốc gia (cả riêng và chung)
Tiêu chuẩn quốc tế, cần được quan tâm để xác định chất lượng theo IFOAMhay CODEX trong sản xuất hữu cơ và thực phẩm cần được kiểm tra Những tiêu chuẩn
cơ bản này được cân nhắc ở mức tối thiểu mà quốc tế chấp nhận và cung cấp nền tảngcho sự phát triển tiêu chuẩn chi tiết hơn ở mức quốc gia Pháp chế và quy định quốcgia cho việc chứng nhận những tiêu chuẩn hữu cơ dựa trên những yêu cầu quốc tế: vìvậy sự kết hợp với tiêu chuẩn quốc gia là cần thiết Vai trò và hoạt động kiểm tra,chứng nhận cụ thể cần được mô tả và xem xét trong bối cảnh quốc gia hay quốc tế
Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có thể được chứng nhận bởi nhiều tiêu chuẩnkhác nhau như: Hệ thống tiêu chuẩn theo IFOAM, Mỹ, Nhật Bản, Canada,…
Ở Việt nam mới đưa ra 24 nguyên tắc trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ là:
(1) Tất cả các loại phân bón hoá học bị cấm trong sản xuất NNHC
(2) Cấm dựng cỏc loại thuốc hoá học BVTV
(3) Cấm dùng hooc môn tổng hợp (thuốc kích thích)
(4) Các thiết bị phun thuốc đã dùng trong canh tác thông thường không được sửdụng trong canh tác hữu cơ
Trang 20(5) Các dụng cụ đã dùng trong canh tác thông thường phải được làm sạch trướckhi dùng trong canh tác hữu cơ.
(6) Nông dân phải ghi chép vật tư đầu tư trong quá trình sản xuất
(7) Các loại cây trồng trong ruộng hữu cơ phải khác với các loại cây trồng trongruộng canh tác thông thường
(8) Ruộng canh tác hữu cơ cạnh ruộng canh tác thông thường thì ruộng canh tác
HC phải có vùng đệm Cây trồng HC phải có vùng đệm ít nhất 1 m
(9) Nếu việc xâm nhiễm qua không khí thì cần phải có một loại cây trồng nhầmtránh việc xâm nhiễm qua đường phun Loại cây trồng vùng đệm phải khác với câytrồng hữu cơ Nếu việc xâm nhiễm qua con đường nước thì phải đào rãnh hoặc đắp bờlàm vùng đệm để tránh nước bẩn không chảy vào
(10) Ngăn cấm việc phá rừng nguyên sinh để canh tác HC
(11) Các cây trồng ngắn ngày phải có ít nhất 24 tháng chuyển đổi Loại cây ngắnngày được gieo sau thời gian chuyển đổi có thể được công nhận là cây trồng HC (12) Các cây trồng lâu năm phải có ít nhất 24 tháng chuyển đổi Sản phẩm cây lâunăm được thu hoạch sau giai đoạn chuyển đổi có thể được chứng nhận là sản phẩm
HC
(13) Cấm sử dụng vật tư đầu vào có sự biến đổi gen
(14) Trong điều kiện cho phép cần sử dụng hạt giống HC và các nguyên liệu HC.(15) Cấm sử dụng thuốc BVTV hoá học để xử lý hạt giống trước khi gieo trồng.(16) Phân bón HC yêu cầu cho sản xuất bao gồm: Phân ủ, phân xanh và các loạikhoáng từ các nguồn tự nhiên
(17) Cấm đốt cành cây, rơm rạ, trừ trường hợp đối với kiểu du canh
(18) Cấm dùng phân tươi
(19) Nếu sử dụng các loại phân gia cầm (gà vịt và chim) mang từ ngoài vào thì chỉđược lấy từ các trại nuôi gia cầm chăn thả tự nhiên
(20) Phân ủ đô thị không được phép sử dụng
(21) Nông dân phải có những biện pháp nhằm ngăn ngừa xói mòn đất mầu và tìnhtrạng nhiễm mặn đất
(22) Túi và các vật đựng được sử dụng vận chuyển và lưu kho sản phẩm HC phảimới hoặc đã được làm sạch Tỳi đó đựng phân bón hoá học hoặc thuốc trừ sâu khôngđược phép sử dụng để đựng SP HC
Trang 21(23) Không được phép phun các loại thuốc trừ sâu cấm sử dụng trong canh tác HCtrong kho chứa nông sản.
(24) Có thể sử dụng thuốc trừ sâu sinh học đã được phép ban hành
2.4 Sản xuất lúa hữu cơ
2.4.1 Nguồn dinh dưỡng cho sản xuất lúa
Yoshida (1985) cho rằng ở các nước nhiệt đới lượng các chất dinh dưỡng N,
P2O5, K2O cần để tạo ra một tấn thóc trung bình là 20,5kg N; 5,1kg P2O5, 44kg K2Otrên nền phối hợp 90P2O5 - 60K2O thì hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh
vụ chiêm và 22,6kg N trong vụ mùa
Trong các loại phân bón, đạm là yếu tố dinh dưỡng vô cùng quan trọng, ngoàiviệc thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh nú cũn giữ vai trò quyết định trong việc tăng năngsuất lúa Cây lúa cần đạm trong suốt quá trình sinh trưởng từ khi cấy đến khi chin đặcbiệt nhất là trong giai đoạn đẻ nhánh và làm đòng Ở thời kỳ đẻ nhánh nhất là khi câylúa đẻ nhánh rộ cõy hỳt đạm nhiều nhất, khoảng 70% lượng đạm cần thiết trong thời
kỳ đẻ nhánh, đây là thời kỳ ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất vỡ nú kích thích đẻnhánh Theo Yoshida (1985) việc hút đạm thời kỳ này quyết định 74% năng suất lúa,ngoài ra lúa cũng hút nhiều đạm trong thời kỳ phõn hoỏ đũng và phát triển đòng thànhbông tạo các bộ phận sinh sản
Theo Yoshida bón thúc đạm tiến hành khi bông non dài khoảng 1-2mm, khoảng23-25 ngày trước trỗ, đạm hấp thụ ở thời kỳ này để tăng số gié và kích thước bông.Đạm hấp thụ được lúc hình thành bụng giỳp cho lá giữ màu lục nhạt sau khi trỗ gópphần vào sự quang hợp tích cực, tăng khả năng vận chuyển vật chất vào hạt Thòi điểmbón thúc đạm cũng ảnh hưởng đến khả năng chống đỗ ngã của cây (Singh &Takahashi, 1962) Bón thúc vào 20 ngày trước trỗ không những làm sản lượng bôngđạt tối đa mà còn tăng sự kháng đổ ngã do ảnh hưỏng đến chiều dài và đường kínhlóng
Trang 22Ngoài đạm, lân và kali cũng là 2 yếu tốt dinh dưỡng quan trọng đối với lỳa Lõngiỳp bộ rễ lúa phát triển tốt, cây đẻ nhánh tập trung và chin sớm góp phần tăng năngsuất và phẩm chất hạt Cây lúa hỳt lõn mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng.Kali xúc tiến sự chuyển các chất đồng hoá và gluxit vào trong cây Cây lúa huỏt nhiềukali ở giai đoạn đầu của sinh trưởng.
Phân bón cho sản xuất lúa hữu cơ
Với nhu cầu dinh dưỡng cao của cây lúa, nhưng trong sản xuất hữu cơ khôngđược bón phân hoá học vậy nguồn phân thay thế cần thiết bao gồm chủ yếu là phânhữu cơ:
Phân hữu cơ: là các chất hữu cơ được vùi vào đất, sau khi phân giải có khả
năng cung cấp dinh dưỡng một cách tổng hợp cho cây trồng nhưng quan trọng hơn là cókhả năng cải tạo đất
Tác dụng của phân hữu cơ thể hiện ở hai mặt chính:
Một là, tác dụng cải tạo đất, theo Võ Minh Kha (1987) thì phân hữu cơ là mộtnguyên liệu cải tạo đất nhanh và tổng hợp, cải tao về mọi khía cạnh Tác giả đã giảithích logic khoa học như sau: (1) khi vùi vào đất chất hữu cơ thường phân giải chậm, vìvậy để lại đáng kể các nguyên tố dinh dưỡng trong đất, do đó làm tăng dần hàm lượngcác nguyên tố dinh dưỡng ở tầng canh tác (2) là nguồn bổ sung mùn không thể thay thế
ở trong đất nhất là đất canh tác (3) là có hàm lượng CO2 đáng kể tạo ra trong quá trìnhphân giải Chính CO2 làm tăng khả năng hoà tan các chất dinh dưỡng khó tiêu để cungcấp cho cây trồng (4) mùn tạo ra trong quá trình phân giải kết hợp lân ở trạng thái phức
hệ lõn - mựn, do đó giữ lân ở trạng thái cây trồng có thể sử dụng được ngay cả khi đấtgiàu Fe, Al và Ca (5) chất hữu cơ tạo thành phức hệ hữu cơ - vô cơ với các chất khoáng,
do đó làm hạn chế khả năng rửa trụi cỏc chất dinh dưỡng, đồng thời hạn chế cây trồnghỳt cỏc nguyên tố kim loại nặng giúp sản phẩm an toàn hơn
Về mặt lý tính của đất, tác dụng của chất hữu cơ được giải thích như sau: đối vớicấu trúc đất, thông qua quá trình mựn hoỏ tạo ra các axit humic vai trò như một chất keođất, chính vì vậy có khả năng bảo vệ đất, giúp chống được hiện tượng xói mòn Có ảnhhưởng tốt tới chế độ nước và tiết kiệm nước của đất, có nghĩa giảm sự bốc hơi nước bềmặt, giúp chúng ta tiết kiệm nước tưới và tăng lượng nước tự do trong đất Chính nước
tự do này là lượng nước mà rễ cây hấp thụ được Ngoài tác dụng tiết kiệm nước tưới, khibón chất hữu cơ còn ảnh hưởng tốt tới chế độ nhiệt vì thông qua sản phẩm là các hợp
Trang 23chất mùn màu nâu và đen có khả năng giữ nhiệt tốt hơn Ngoài ra phân hữu cơ còn cótác dụng cải tạo chế độ khí của đất làm tăng lượng khí CO2, O2 tăng thoáng khí cho đất.
Về mặt sinh học chất hữu cơ có tác dụng cung cấp thức ăn kể cả ở thể khoáng và thểhữu cơ tạo điều kiện cho tập đoàn vi sinh vật trong đất phát triển mạnh Mặt khác làm tăngnhanh số lượng vi sinh vật trong đất làm khu hệ vi sinh vật đất phong phú hơn
Hai là phân hữu cơ chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng cả đa lượng, trung lượng và
vi lượng cũng như các chất kích thích sinh trưởng, kích thích ra rễ giúp cây trồng phát triểnthuận lợi
Bảng 2.1 Lượng dinh dưỡng trong một số loại phân hữu cơ
2O5 K2O CaO
- Phõn hữu cơ vi sinh Sông Gianh
Là nguồn phân được sản xuất theo quy trình công nghiệp mang phần lớn chấthữu cơ và một số thành phần dinh dưỡng khác quan trọng cho cây trồng và đặc biệt lànguồn vi sinh vật có ích đối với đất, cây bao gồm: Hữu cơ ≥ 15%; P2O5 ≥ 1,5%; Ca ≥1%; Mg ≥ 0,5%; S ≥ 0,2% Các chủng vi sinh vật có ích trong phân gồm: Aspergillus
sp đạt 1.106 CFU/g, Azotobacter và Bacillus là 1.106 CFU/g Phân thường dung chobún lút, giỳp bổ xung cho đất tập đoàn vi sinh vật hữu ích, giúp cải tạo lý tính, hóa tính
và tăng độ phì nhiêu cho đất, làm cho đất trở nên tơi xốp, giúp cho cây trồng phát triểncân đối, tăng năng suất cây trồng, giá trị nông sản và bảo vệ môi trường
- Chế phẩm hữu cơ vi sinh ANVIL I (dạng hạt): Loại phân này có tác dụng
tăng cường lượng vi sinh vật có ích cho đất, giúp cải tạo và làm tơi xốp đất, tăng sức
đề kháng cho cây Có thể sử dụng cho tất cả các loại cây trồng, lượng bón 300 – 800kg/ha Thành phần của phân gồm: Hữu cơ tổng số ≥ 20%, vi sinh vật hữu ích là 1.106
Trang 24CFU/g phân, không có vi sinh vật gây hại, các chất vi lượng gồm có Cu, Zn, Mg, Fe,Si…đạt 2000ppm.
- Phân hữu cơ vi sinh đa chức năng số 05 – KC 04 – 04: Đây là sản phẩm của
đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mã số KC 04 – 04 Phân này có nguồn gốc từ rác thảitrường đại học Nông Nghiệp Hà Nội nên rất giàu Cacbon Thành phần của phân gồm:
Độ ẩm là 38%; độ xốp là 71%; PHKCl = 6,7; P2O5 = 0,95%; K2O = 1,90%; N = 0,45%;
P2O5 = 518,60 mg/ 100g phân; K2O = 16,50 mg/ 100g phõn Cỏc chủng vi sinh vậtgồm: Azotobacter = 3,4.109 CFU/g, Bacillus = 2,5.109 CFU/g; Enterobacter = 3,1.109CFU/g phân; tạp khuẩn <1%
Các chế phẩm phân bón hữu cơ bổ sung quan trọng khác: phân bón
WEGH, Bio-plant, Tricoderma, chelax hữu cơ, dinh dưỡng tổng hợp người sản xuất cóthể tự làm ra bằng cách chiết xuất từ đường với các sản phẩm nông nghiệp: cá, xươngđộng vật, rau muống, đu đủ, ngải cứu, chuối theo phương pháp của Hàn Quốc
2.4.2 Tình hình sâu hại trờn lỳa và lúa hữu cơ
Thiệt hại do sâu, bệnh hại gây ra cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sảnxuất lúa nói riêng là rất lớn Vì vậy những nghiên cứu về sâu, bệnh hại đặc biệt là sâu,bệnh hại lỳa đó được bắt đầu từ rất sớm
Hàng năm thiệt hại do sâu, bệnh hại gây ra ở các châu lục là không giống nhau Châu
Á là nơi mà sâu bệnh phát sinh, phát triển nhiều và gây hại với diện tích lớn nhấtchiếm 43%, Châu Phi 42%, Nam Mỹ 33%, Châu Âu 29%, Bắc và Trung Mỹ 29%(theo phòng trừ tổng hợp IPM)
Côn trùng hại lúa là yếu tố quan trọng hạn chế vùng sản xuất lúa ở nhiều nướctrên thế giới Thành phần sâu hại lúa rất phong phú và đa dạng với nhiều bo, họ, loàikhác nhau Trên thế giới đã ghi nhận được hơn 800 loài sâu hại lúa (Dale, 1994 ;Kiritari, 1979)
Theo kết quả điều tra của Dale, 1994; Kiritani, 1979 [35], [36] Trên thế giới
có hơn 800 loài sâu hại lúa Đông Nam Á đã phát hiện được khoảng hơn 100 loài(Norton và ct, 1990; Pathak và ct, 1969) [37], [38] Tuy nhiên trong số đó chỉ có một
số ít loài gây hại nghiêm trọng cho cây lúa còn đa số không gây hại hoặc ít gây hại
Số loài gây hại ở cỏc vựng không giống nhau Kết quả nghiên cứu củaKiritani, 1979 [38] Ở Châu Á có tới 20 loài sâu hại chính, ở Châu Úc chỉ có 9 loài,
Trang 25Châu Mỹ là 13 loài và Châu Phi là 15 loài Đa số các loài còn lại ít gây hại hoặc gâyhại không đáng kể.
Theo Nagarajan, 1994, Ấn Độ có 4 loài sâu hại chính là sâu đục thân 2 chấm,rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và sâu năn Nhưng theo Chiu,1980 ở Trung Quốc có 7 loàisâu hại chính là: sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu,rầy xanh đuôi đen, sâu năn, bọ trĩ Còn ở Nhật Bản cú cỏc loài sâu: đục thân 2 chấm,đục thân 5 vạch, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen…(Karitani, 1979) Số lượng các loài sâugây hại chính phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Ở giai đoạn sinh trưởngdinh dưỡng có khoảng 22 loài, giai đoạn làm đòng đến trổ có khoảng 8 loài và giaiđoạn chín chỉ có 3- 4 loài (Norton và ct, 1990)
* Sâu cuốn lá nhỏ.
Trong những năm 60 của thập kỷ, sâu cuốn lá nhỏ vẫn là dich hại thứ yếu Sau
đó bắt đầu từ những năm 70 thỡ chỳng lại được xem là đối tượng gây hại chủ yếu quantrọng ở nhiều vùng trồng lúa của châu Á, phía nam đảo Thái Bình Dương, Hawai vàAustralia
Sâu cuốn lá nhỏ là một trong những loài sâu hại lỳa chớnh ở nhiều vùng trồng
lỳa trờn Thế giới, loài Cnaphalocrocis medinalis Guenee có phân bố rộng Bản đồ
phân bố của sâu cuốn lá được CIE thể hiện năm 1987 sau đó Khan và cộng sự có bổsung rồi được Barrion hoàn chỉnh
Ở Châu Á, hầu hết các nước đều xuất hiện loài sâu hại này, điển hình là TháiLan, Ấn Độ, Trung Quốc, Apganixtan, Bangladet, Brunay, Butan…Ở Châu ĐạiDương sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin
Ký chủ chính của sâu cuốn lá nhỏ là cây lúa, ngoài ra chỳng cũn gây hại trờnlỳa mỳ, cao lương, đại mạch, cỏ lá tre, cỏ môi, cỏ lồng vực, cỏ gà nước, cỏ bấc TheoBarrion và cộng sự (1991), sâu cuốn lá nhỏ có 19 loài ký chủ
Trong những năm 1990 – 1994 thì sâu cuốn lá nhỏ đứng ở hàng thứ hai nguy hại saurõ̀y nõu ( Nguyờ̃n Cụng Thuọ̃t, 1996)
Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng của viện BVTV (1976) thì sõu cuụ́n lánhỏ phân bố ở hầu hết các vùng trồng lúa trong cả nước Tuy nhiên, thời gian phátsinh, mức độ gây hại phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và tập quán canh tác của từngđịa phương Nhìn chung các tỉnh ven biển sõu cuụ́n lá nhỏ thường có thời gian phát
Trang 26sinh sớm và mức độ gây hại cao hơn ở các nơi khác (báo cáo tổng kết cục BVTV,2002) Ở các tỉnh phía Bắc trong mấy năm gần đây sự gây hại của sõu cuụ́n lá nhỏ có
xu hướng tăng lên và gây hại nặng ở cả hai vụ là vụ xuân và vụ mùa Diện tích nhiễmsâu cuốn lá nhỏ toàn vùng năm 2005 là 384.583ha, 2006 tăng lên đến 475.549ha, cònnăm 2007 là 463.225ha
Trên đồng ruộng sõu cuụ́n lá nhỏ gây hại từ giai đoạn mạ đến giai đoạn trổ,nặng nhất ở giai đoạn đòng Ở thời kỳ lúa con gái không hoặc ít ảnh hưởng đến năngsuất vì cây lúa có khả năng tự đền bù Giai đoạn lúa làm đòng – trụ̃ bụng nờ́u bị sâucuốn lá nhỏ gây hại sẽ ảnh hưởng đến sự phát triờ̉n của cây lúa, làm cho gié lúa ngắn,
ít hạt, trọng lượng hạt giảm hoặc nghẹn đòng bông lúa ngắn, hạt lép lửng, dẫn tới năngsuất có thể giảm tới 60% ( cục BVTV,1995; Nguyờ̃n Cụng Thuọ̃t, 1996)
Phạm vi nhiệt độ hoạt động của sõu cuụ́n lá nhỏ là 10 – 300C, trên dưới ngưỡngnày mọi hoạt động của sõu đờ̀u bị ức chờ́n nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong
Ngoài các yếu tố nhiệt độ, õ̉m đụ ̣ thì các yếu tố canh tác như lượng phân bón,mật độ gieo cấy, giống lúa và giai đoạn sinh trưởng của cây cũng ảnh hưởng đến quyluật phát sinh của sõu cuụ́n lá nhỏ Ruộng gieo cấy với khoảng cách 15 x 10cm có mật
độ sâu hại cao gấp 3 lần những ruụ ̣ng cṍy với khoảng cách 20 x 20cm Vì ở nhữngruụ ̣ng cṍy dày tạo nên tiểu khí hậu đồng ruộng có ẩm độ cao là điều kiện thích hợp chosõu cuụ́n lá nhỏ phát triển đạt mật độ cao nhất Ruộng bón nhiều đạm, bón lai raithường bị sõu cuụ́n lá nhỏ hại nặng Do những ruộng này cây lúa phát triển nhanh có
bộ lá xanh non, mềm hấp dẫn bướm đến đẻ trứng Vì thế nên sẽ có mật độ sâu non caohơn (Nguyễn Văn Hành và Trần Huy Thọ, 1980)
* Rõ̀y nâu.
Việt Nam cũng như các nước trồng lúa khác ở Đông Nam Á rõ̀y nõu đã và đangngày càng trở thành loài sâu hại lúa quan trọng Ở các tỉnh phía bắc, trước năm 1971rõ̀y nõu chỉ phát sinh rải rác và chỉ hại cục bộ ở một số tỉnh Vụ mùa năm 1971 rõ̀ynõu phát sinh thành dịch trên diện rộng Ở các tỉnh phía Nam rõ̀y nõu cũng đã phátsinh mạnh từ 1971 (Cục BVTV và Vện BVTV, 1980; Trần Huy Thọ và ctv, 1989)
Trong những năm 1990 – 1994 rõ̀y nõu là loài đứng thứ nhất nguy hại trên câylúa (Nguyờ̃n Cụng Thuọ̃t, 1996) [15] Những năm gần đây rõ̀y nõu càng trở nên nguyhiểm hơn, bởi vì ngoài tác hại trực tiếp là chích hút nhựa của cây lúa, ở vùng đồng
Trang 27bằng sông Cửu long và Đông Nam bụ ̣ rõ̀y nõu còn là môi giới truyền bệnh vius nguyhiểm như: bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa (Bộ nông nghiệp và phát triển nôngthôn, 2006)
Theo số liệu thống kê báo cáo công tác BVTV năm 2006 của cục BVTV chothấy rõ̀y nõu, rõ̀y lưng trắng có xu hướng tăng lên về mặt mật độ và diện tích phân bố.Chỉ tính riêng năm 2006 cả nước có diện tích nhiờ̃m rõ̀y nõu và rầy lưng trắng là605.593ha (tăng 3.2 làn so với năm 2005) trong đó có 51.8 ha bị cháy rầy chủ yếuphân bố ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ
Ở Việt Nam rõ̀y nõu tồn tại quanh năm, nhưng sự phát sinh, gây hại phụ thuộcchặt chẽ vào điều kiện thời tiết, tập quán canh tác của từng vùng miền Ở các tỉnh phíaBắc thời tiết có 4 mùa rõ rệt thì rõ̀y nõu phát sinh từ tháng 1 – tháng 11 hàng năm vàthường có 7 – 8 lứa, trong đó gây hại nặng ở lứa thứ 2, thứ 3 của vụ xuân, lứa thứ 6,thứ 7 của vụ mùa (Trung tâm BVTV phía bắc, 2005, 2006, 2007)
Mật độ cấy cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể rõ̀y nõu Nhữngruộng lúa cấy dày, bón nhiều đạm rõ̀y nõu phát sinh với mật độ quàn thể cao và ngượclại (Nguyễn Đức Khiêm, 1995a, 1995c)
Trần Huy Thọ [35] cho thấy ở những vùng thâm canh cao hệ số tích lũy rầycao, mức độ gây hại cao hơn nhiều so với những vùng thâm canh thấp Chế độ nướctrên ruộng lúa có ảnh hưởng đến mật độ quần thể rõ̀y nõu, ruụ ̣ng luôn luôn có đủ nướcthường xuyên có mật độ quần thể rõ̀y nõu cao hơn ruộng chế độ nước không thườngxuyên (Nguyễn Đức Khiêm, 1995; Trần Huy Thọ, 1989)
Các giống lúa khác nhau có khả năng phản ứng với rõ̀y nõu khác nhau Ở miềnBắc đã xác định được 332 giống và dòng lai có tính kháng rầy trong số 905 giống vàdòng lai được đánh giá Miền Nam xác định được 78 dòng lai có tính kháng rầy trong
1134 giống và dòng lai được đánh giá ( Nguyễn Đức Khiêm, 1995a) Nhưng cũng xảy
ra trường hợp nhiờ̀u giụ́ng có khả năng kháng với rõ̀y nõu ở miền Bắc nhưng lại nhiễmvới rõ̀y nõu ở đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên chưa thṍy giụ́ng nào kháng ởđồng bằng sông Cửu Long mà lại nhiờ̃m rõ̀y ở miờ̀n Bắc.(Nguyờ̃n Đức Khiêm,1995a)
* Sâu đục thân 2 chấm
Trang 28Sâu đục thân 2 chấm có tên khoa học là Scipophaga incertula Walker, thuộc họ
ngài sáng Pyralidae, bộ cánh vẩy Lepidoptera Gây hại phổ biến khắp các vùng trồnglúa ở nước ta Sâu đục thân 2 chấm là loài đơn thực tính khá điển hình Tuy nhiênnghiên cứu mới đây cho thấy chúng còn phá hoại trên 4 loài lúa dại và cỏ Leptochpanicoides (Giáo trình côn trùng nông nghiệp, 2006)
Theo Nguyờ̃n Cụng Thuọ̃t,1996 năm 1991 – 1994, sâu đục thân 2 chấm đượcxếp là đối tượng gây hại nguy hiểm thứ 3 trên lúa sau rõ̀y nõu và sõu cuụ́n lá nhỏ Ởcác tỉnh phía Bắc sâu đục thân 2 chấm gây hại cả 2 vụ lúa, mỗi vụ đều có một lứa gâyhại nặng đó là lứa 2 (vụ xuân) và lứa 5 (vụ mùa) Một vài năm gần đây mức độ gây hạicủa đục thân 2 chấm tăng lên kể cả diện tích phân bố và mức độ gây hại
Sâu đục thân 2 chấm gây hại nặng ở một số tỉnh Nam Định, Bắc Ninh, HảiPhòng, Ninh Bình, Hải Dương tỷ lệ bông bạc nơi cao là 30 – 50%, có nơi cá biệt đến
70 – 90% (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2006, 2007)
Quy luật phát sinh, gây hại của sâu đục thân 2 chṍm trờn đồng ruộng có liênquan chặt chẽ với vùng địa lý, khí hậu và điều kiện canh tác của từng vùng Ở các tỉnhphía Bắc cùng một năm ở vụ mùa sâu đục thân 2 chấm thường gây hại nặng hơn vụxuân (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2006, 2007)
Mức độ hại liên quan chặt chẽ với trà lúa, trong mỗi vụ, trong mỗi vụ tỷ lệ hạigiữa các trà lúa cũng khác nhau Mức độ hại của sâu đục thân 2 chṍm trờn các giốnglúa phụ thuộc vào thời vụ và giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Các giống lúa nếpthường bị hại nặng hơn các giống lúa khác Trong cùng một giống lúa ở giai đoạn khácnhau thì mức độ gây hại cũng khác nhau Ở giai đoạn lúa trụ̃ bụng nờ́u gặp lứa sâu ra
rộ thì khả năng gây hại lớn hơn các giai đoạn khác (Giáo trình côn trùng nông nghiệp,2006) Ngoài ra tình hình sâu bệnh hại còn phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡngcho cây trồng, khi không bón phân hóa học, chỉ có phân hữu cơ và không dùng thuốcsâu hóa học, chắc chắn tình hình sâu bệnh sẽ được cải thiện đáng kể
2.5 Thực tiễn về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và lúa hữu cơ
2.5.1 Những thành tựu và nghiên cứu ở nước ngoài
Theo số liệu thống kê năm 2005, các nước có diện tích sản xuất hữu cơ nhiềutrên thế giớ được thể hiện trên bảng 2.2
Trang 29Bảng 2.2 Mười nước đứng đầu thế giới về diện tích sản xuất hữu cơ
Phần trăm diện tích (%) Tổng diện tích hữu cơ (1000ha)
(Willer & Yusefi, 2005)
Theo Quỹ quốc tế về nông nghiệp và phát triển (IFAD) ở Ấn độ có 2,5triệu hađất dưới điều kiện canh tác hữu cơ năm 2004 Ngoài ra, khoảng 15000ha được chứngnhận hữu cơ ở Ấn độ Kết quả là xuất khẩu thực phẩm hữu cơ là mục tiêu cơ bản củanông dân cũng như của Chính phủ Các thực phẩm hữu cơ của Ấn ĐỘ đã được chấpnhận ở thị trường Mỹ và Châu Âu với các sản phẩm nổi tiếng như sản phẩm thảo mộc,lúa mì, hoa quả và rau, cotton, gạo basmati (2500ton) (FAO) Cũng theo bản báo cáocủa RCNOS 2005 “Thị trường chế biến thực phẩm ở Ấn độ” chỉ ra xuất khẩu thựcphẩm hữu cơ chiếm 53% trong khi chỉ 6-7% tổng sản phẩm nông nghiệp ở Ấn độ đượcxuất khẩu (Organic farming, exports & food consumption in India” 6/4/2007 see at
http://www.organicfacts.net
Ngoài ra theo kết quả từ nghiên cứu vế sản xuất hữu cơ ở miền Nam Ấn độ(bảng 3) cho thấy sản xuất lúa hữu cơ cho lãi thuần là 20000 RS/ha (46,11Rs=1USD),hiệu quả lãi thuần trên đồng vốn đầu tư là 2,0
Trang 30Bảng 2.3 Chi phí và lãi thuần của những cây trồng hữu cơ (Rs/ha)
Crops
Gross Cost (Tổng chi)
Gross Returns (Tổng lãi)
Net Returns (Lãi thuần)
Net Returns over Cost (per rupee) (Tỷ số lói/Chi phớ)
14000087000300001500002200025000030000NA
12600072000222001100001600017000020000NA
9.04.52.92.82.72.12.0NA
Chú ý: Chi phí cho lạc, lúa chỉ tính cho một vụ cũn cỏc cây trồng khỏc thỡ tớnh cho 1 năm
Source: Rajendran (1998).Tại Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật quốc gia Suwon đã triển khai nghiêncứu lúa hữu cơ với các vật liệu hữu cơ khác nhau như phân chuồng ủ hoai, phân ủ rơm
rạ, phân ủ từ cây họ đậu thì so với canh tác truyền thống đã làm tăng hàm lượng kali
và canxi trong đất nhưng hàm lượng lân bị giảm Sử dụng cây họ đậu ủ làm phân bóncho năng suất lúa cao hơn so với ủ phân chuồng hoặc ủ rơm rạ Kết quả cũng cho thấycanh tác hữu cơ bằng cây họ đậu mang lại hiệu quả cao hơn trong việc cải thiện lý hoỏtớnh đất so với các loại phân ủ khác (Yong-Hwan Lee, Sang-Min Lê, Yun-Jeong Leeand Du-Hoi Choi, 2003)
Ở Thái Lan, theo Green Net 2006 thì sản lượng nông nghiệp hữu cơ năm
2005 là 29415,1ton, đạt giá trị 920,36 triệu Baht Thị trường sản phẩm nôngnghiệp hữu cơ của Thái ước tính gần 3,21 tỷ Baht, trong đó hơn một nửa là xuấtkhẩu Tuy vậy vùng trồng trọt hữu cơ được chứng nhận vẫn còn nhỏ 22550ha,chiếm 0,108% tổng diện tích đất nông nghiệp Những người dân nuôi trồng sảnphẩm hữu cơ chỉ chiếm khoảng 0,141% trong 5,1 triệu hộ nông nghiệp của Quốcgia Các sản phẩm hữu cơ xuất khẩu chủ yếu là gạo (hai giống chủ yếu là Jasmime
và Mali 105), rau, quả, thảo dược, tụm,…
Tuy nhiên hàng năm Bộ Nông nghiệp Thái cấp 1tỷ Baht/năm cho việc xúc tiếnphát triển nông nghiệp hữu cơ
Trang 31Anthony, W và cộng sự (2003) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các loàiphụ phẩm đến năng suất lúa nước ở Thái Lan 1992-1997, kết quả cho thấy vùi rơm rạnăng suất lúa tăng 8% so với khụng vựi Vựi cỏc phụ phẩm phân xanh khác cho năngsuất tăng từ 20-26% so với khụng vựi Vựi rơm rạ 5 tấn/ha liên tục trong 11 vụ đã cảithiện được độ phì một cách đáng kể và làm tăng năng suất lúa khoảng 45% so vớikhụng vựi.
Theo Sununtar Setboonsarng, PingSun Leung, and Junning Cai 2006 (Học việnphát triển ngân hàng Châu Á) thì những nông dân sản xuất lúa hữu cơ có lợi nhuận caohơn những nông dân sản xuất thường Đó là những nông dân sản xuất hữu cơ ở miềnBắc có lãi thuần 1234Baht/rai trong khi nông dân sản xuất hữu cơ ở Đông bắc đạt1098Baht/rai Trong khi đó những nông dân sản xuất lúa thường chỉ đạt lãi thuần 731Baht/rai ở miền Bắc và 273 Baht/rai ở Đông bắc (1Baht=600đồng VN, 1rai=1600m2)
Sự khác nhau về lợi nhuận này là do sự khác nhau đáng kể về giá gạo 6,5 và 6 Baht/kg
ở miền Bắc và 7,9 và 5,9 Baht/kg ở Đông bắc
Ở Trung Quốc, tháng 5/2005 tổ chức chứng nhận và kiểm định của Chínhphủ Trung Quốc (CNCA) đã cung cấp những tiêu chuẩn mới cho sản phẩm hữu cơ:Tiêu chuẩn sản phẩm hữu cơ quốc gia Trung Quốc (CNOPS) Tất cả các tổ chứcchứng nhận ở trong nước và những thanh tra của họ phải đăng ký với CNCA và tất
cả những sản phảm bán ở TQ phải tuân thủ đúng với CNOPS và được dán nhãn
"hữu cơ" hay "hữu cơ trong giai đoạn chuyển đổi" Sản phẩm cũng có logo của tổchức riêng chứng nhận
Trang trại hữu cơ đầu tiên đã được chấp thuận bởi tổ chức chứng nhận nướcngoài vào năm 1990 Sau 20 năm phát triển nhanh chóng, thực phẩm hữu cơ ở TrungQuốc đã trở nên quan trọng Những diện tích cho sản xuất hữu cơ được xác định rõ,như vùng sản xuất đậu tương hữu cơ ở đông bắc TQ, rau hữu cơ ở Shangdong, và tràhữu cơ ở Zhejiang, Jiangsu, Anhui và Jiangxi
Ngày nay, khoảng 200 sản phẩm được chứng nhận hữu cơ bao gồm: ong, chè,sữa, các loại hạt, hoa quả, rau, động vật, thuỷ sản, thuốc, gia vị tự nhiờn,… (Jinsong et
al, 2004) Tuy nhiên diện tích đất dưới quản lý hữu cơ chỉ chiếm 0,6% tổng diện tíchđất nông nghiệp của đất nước (WILLER and YUSSEFI, 2006)
Xuất khẩu nông nghiệp hữu cơ tăng từ dưới 0,3 triệu USD năm 1995, đến 142triệu năm 2003 Những thị trường chính là Nhật bản, Mỹ, Canada và các nước Châu
Trang 32Âu như Pháp, Đức và Netherlands và sản phẩm chính xuất khẩu là chè, đậu tương, đậuxanh và rau (UNESCAP, 2002) Rau hữu cơ là mảng thành công nhất ở thị trường hữu
cơ TQ, khoảng 80% rau hữu cơ là để xuất khẩu sang Nhật bản Những trang trại rauhữu cơ tập trung ở các tỉnh phía Đông và gần Bắc kinh (Debo, 2003) Đến cuối năm
2006, tổng giá trị bán thực phẩm hữu cơ tiến tới 5,6tỷ Yuan (800 triệu USD) Đồngthời, cuối năm 2006 có khoảng 2300 công ty nhận được sự chứng nhận sản phẩm hữu
cơ từ 31 tổ chức chứng nhận 5,28 triệu ha cho việc sản xuất thực phẩm hữu cơ đượcchứng nhận và 3,85 triệu tấn thực phẩm hữu cơ đã được sản xuất
Gạo hữu cơ có lãi ròng xấp xỉ 55% và gạo sạch là 21% vì gạo hữu cơ có giábán cao trong năm 2006 Năm 2007, giá gạo sạch tăng một cách đáng kể, kết quả làdoanh thu của nó chiếm 85% tổng thu và gạo hữu cơ chiếm khoảng 15% tổng thu.Tổng lãi ròng năm 2007 là khoảng 57% cho gạo hữu cơ và 27% cho gạo sạch (SRajendran, 2002)
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu hữu cơ làm phân bón cho lúa thayphõn hoỏ học tới năng suất, chất lượng lúa hữu cơ; đặc biệt là hàm lượng sắt, kẽm,đồng và mangan trong gạo Y.V.Singh và cs (2007) cho thấy khi bón riêng rẽ mỗi loạitảo xanh lục (B) với lượng 15kg/ha, bèo dâu (A) với lượng 1 tấn/ha, Vermicompost(V) 5 tấn/ha, phân chuồng gia đình (F) 5 tấn/ha tổng hợp thì năng suất thua kém nhiều
so với phân bón hoá học ở mức thông thường: 80N - 40P2O5 - 40K2O và hàm lượngcác chất như sắt, kẽm trong gạo khác nhau không có ý nghĩa thống kê Nhưng khi bóntổng hợp cả 4 vật liệu trên cho lỳa thỡ năng suất thua kém không ý nghĩa thống kê(4,05 so với 4,38 tấn/ha và LSD0,05 bằng 3,4 và 3 tương ứng) Ngoài ra khi bón kết hợpcác vật liệu trờn cũn làm tăng luợng các bon hữu cơ, lân dễ tiêu, mật độ vi sinh vật,nấm và enzim trong đất góp phần bền vững chất lượng đất sau 3 năm nghiên cứu
Cũng theo Supradip Saha và cs (2007) việc sử dụng các lọai phân hữu cơ khácnhau với mức 10 tấn/ha cho năng suất thấp hơn với bón phân hoá học (mức 100:60:40N:P:K) nhưng hàm lượng protein khác nhau không có ý nghĩa thống kê (7,78% so với7,6% của phân bón hoá học), duy chỉ có hàm lượng sắt cao hơn (52,2 so với 41 g/gcủa phõn hoỏ học)
Theo Franz Augstburger & cs, 2002 cho rằng những đặc tính chất lượng củagạo được yêu cầu bởi những nhà nhập khẩu Những giá trị tối đa và tối thiểu khác
Trang 33nhau được đưa ra để thương lượng giữa những nhà xuất khẩu và nhập khẩu nhưngchúng phải tuân theo những quy tắc về vệ sinh và an toàn thực phẩm quốc gia như:
Bảng 2.4 Đặc tính chất lượng gạo theo quy tắc an toàn vệ sinh thực phẩm
Đặc tính chất lượng Giá trị tối đa
Staphylococcus aureus <100 CFU/g
Clostridium prefringens <10 CFU/g
dù chất lượng cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nguồn dinh dưỡng đóngmột vai trò quan trọng, cú ớt thông tin đánh giá chất lượng gạo bởi các nguồn phânhữu cơ khác nhau Trong thí nghiệm này, chúng tôi đã trồng giống gạo thơm trên 2nền phân bón của bốn loại phân hữu cơ được làm từ cây sắn dây Peuraria lobata mức 5
và 10 tấn/ha, cây tầm gai Urtica sp (nettle) mức 5 và 10 tấn/ha, Lantana sp mức 5 và
10 tấn/ha, cỏ mùa đông mức 5 và 10 tấn/ha, và 2 phân hữu cơ bổ sung khác là gia cầmmức 2,5 và 5 tấn/ha, phân trang trại mức 5 và 10 tấn/ha Chúng tôi đã nghiên cứu ảnhhưởng của các nguồn hữu cơ này đến các đặc tính dinh dưỡng, hoá lý sinh và chấtlượng gạo nấu, sử dụng công thức phân bón hoá học làm đối chứng Kết quả chỉ ra
Trang 34rằng năng suất hạt bị ảnh hưởng đáng kể bởi các nguồn dinh dưỡng chính của cây.Năng suất gạo cao nhất là 4 tấn/ha đạt được ở công thức bón phân hoá học Hàm lượngprotein trong hạt là cao nhất 8,98% ở các công thức bón phân hữu cơ và thất nhất là7,55% ở công thức đối chứng (100:60:40 kg N,P,K/ha) Giữa các công thức hữu cơ,phân trang trại ở mức 10 tấn/ha đóng góp thấp nhất về hàm lượng protein (7,78%).Hàm lượng sắt cao có ý nghĩa 52,2gFe/g của phân hữu cơ hơn phõn hoỏ học (42,1
gFe/g) Tuy nhiên, phõn hoỏ học có hàm lượng đồng cao hơn 4,1 gFe/g so với phânhữu cơ 3,1-4,0 gFe/g Về những thuộc tính chất lượng cho thấy chiều dài hạt gạo nấu
tỉ lệ thuận với độ dài hạt Phân cỏ mùa đông tạo ra lợi tương đối là đạt năng suất 3,87tấn/ha, hàm lượng protein 8,42%, sắt 48,31gFe/g và head rice covery 49,39% so vớicác nguồn dinh dưỡng khác Những kết quả của nghiên cứu đã khẳng định rằng nhữngnguồn dinh dưỡng hữu cơ cho kết quả tương đối tốt về các đặc tính hoá lý sinh và chấtlượng nấu nướng của gạo mặc dầu ở một vài thông số là không tốt hơn phõn hoỏ học
Theo Preston Sullivan, 2003 Steven Rutledge đã trồng gối lỳa mỳ/lỳa làm giảmchi phí đầu vào từ 50 – 70 đô la cho một acre mà không làm đất, không dùng thuốc trừ
cỏ (1 acre tương đương khoảng 0, 4 ha) John Williams (1992) cho thấy sản xuất lúahữu cơ tại thung lũng Sacramento U.S thay đổi từ 1,362 tấn đến 9,080 tấn trên 1 ha,nhìn chung thấp hơn sản xuất hiện tại không hữu cơ Giá 1 kg lúa hữu cơ thay đổi từ0,31 đến 0,44 đô la /1 kg Nếu tớnh giỏ 0,31 đô la /kg thì phải có năng suất 5,6 tấn /hamới có lãi thuần, và tớnh giỏ 0,44 đô la /kg thì chỉ cần sản xuất đạt 4,3 tấn /ha là có lãi
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu hữu cơ làm phân bón cho lúa thayphân hóa học tới năng suất, chất lượng lúa hữu cơ, đặc biệt là hàm lượng sắt, kẽm,đồng và mangan trong gạo, Y V Singh và cs (2007) cho thấy: Khi bón riêng rẽ mỗiloại như tảo xanh lục (B) với lượng 15 kg/ha, Bèo dâu (A) với lượng 1 tấn/ha,Vermicompost (V) 5 tấn/ha, Phân chuồng gia đình (F) 5 tấn /ha tổng hợp thì năng suấtthua kém nhiều so với bón phân hóa học ở mức thông thường: N80P40K40 và hàm lượngcác chất như sắt, kẽm trong gạo khác nhau không có ý nghĩa thống kê
Nhưng bón tổng hợp cả 4 vật liệu trên cho lỳa thỡ năng suất thua kém không ýnghĩa thống kê (4,05 so với 4,38 tấn/ha và LSD0,05 bằng 0,48 ) nhưng hàm lượng sắt
và kẽm lại tăng có ý nghĩa (39,8 và 36 ppm so với 33,1 và 32 trong khi LSD0,05 bằng3,4 và 3 tương ứng) Ngoài ra chỳng cũn làm tăng hàm lượng các bon hữu cơ, lân dễ
Trang 35tiêu, mật độ vi sinh vật, nấm và enzim trong đất góp phần bền vững chất lượng đất sau
3 năm nghiên cứu
Theo Supradip Saha và cs (2007) việc sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhauvới mức 10 tấn/ha cho năng suất thấp hơn so với bón phân hóa học (tại mức 100: 60:
40 N:P:K) nhưng hàm lượng protein khác nhau không có ý nghĩa thống kê (7,78% sovới 7,6% của bón phân hóa học), duy chỉ có hàm lượng sắt cao hơn (52,2 so với 41àg/
g của bón phân hóa học)
2.5.2 Thực tiễn và nghiên cứu trong nước
Diện tích đất dưới quản lý hữu cơ là 6475ha, chiếm 0,07% tổng diện tích đấtnông nghiệp của cả nước (WILLER and YUSSEFI, 2006) Do những ưu điểm vượttrội về điều kiện sinh thái nông nghiệp, sản phẩm hữu cơ có tiềm năng tốt nhất ở Việtnam là (Bo, 2001): Ở thành phố với những sản phẩm: rau, quả, rau gia vị, chăn nuôi(thịt, trứng, sữa) Ở các tỉnh miền núi: chè, cà phê, hạt tiêu, quả, cây thuốc, đặc sảnrừng và chăn nuôi
Thực chất đã hình thành hình thức canh tác hữu cơ vào những năm 1960 khi màđầu vào cho sản xuất chủ yếu có nguồn gốc hữu cơ như: sử dụng các giống lúa cổ truyền,cây phân xanh, phân chuồng hay bùn ao làm phân bón cho cây (khi này người dân chưabiết sử dụng phân bón, thuốc sâu hoá họcđụngo vậy hình thức canh tác này năng suấtthấp, sâu bệnh phá hoại nhiều và không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất
Ở Hà nội sản xuất rau hữu cơ đã bắt đầu từ năm 1999, với công ty "hữu cơ Hànội" Công ty này đã kết nối thành công 50 nông dân sản xuất rau tươi, thảo mộc, chè
ở Bản Liền Lào Cai, cam ở Phù Lưu Hàm Yờn Tuyờn Quang và gạo ở Tả Vản Sapa - Lào Cai được chứng nhận năm 2003 bởi ACT (Earth Net Foundation, 2004) vì
-ở những vùng cao này việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hoá học còn rất hạn chế.Công ty cũng mở rộng trồng sản phẩm hữu cơ ở một vài vùng ở Việt nam nhưng sảnphẩm được bỏn chớnh ở Hà nội đến các nhà hàng, khách sạn và cá nhân qua nhữnghợp đồng Một vài loại chè đã được xuất khẩu
Năm 1996-1999, dưới sự hỗ trợ của Vacvina-tea oriens-cidse và Chi cục Thỏinguyờn đó huấn luyện và hình thành tổ hợp sản xuất “Chố xanh hữu cơ Tức Tranh”với sản lượng 6-8 tấn/năm
Trường đại học nông nghiệp Hà nội phối hợp với Trung tâm năng suất Việtnam, Sở khoa học công nghệ và mội trường Bắc Giang đã triển khai đề tài ứng dụng
Trang 36phương pháp canh tác tự nhiên của Hàn quốc với hy vọng thay thế phõn hoỏ học vàthuốc trừ sâu trong sản xuất bằng các sản phẩm hữu cơ vi sinh Tại trạm cải tạo đất bạcmàu Hà Bắc năm 2001 và 2002, thí nghiệm trên một số đối tượng cây trồng theonguyên tắc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu của dân làm đối chứng và công thức canhtác tự nhiên là dụng các chế phẩm hữu cơ vi sinh thay cho phân bón và thuốc trừ sâu ởcác giai đoạn của cây, kết quả cho thấy lúa xuân và khoai tây cho năng suất tương tựnhư canh tác của dân nhưng thu nhập cao hơn vì giảm chi phí sản xuất.
Hàng năm, nông dân Việt Nam đã sử dụng khoảng 60 triệu tấn phân hữu cơ cácloại để bón cho ruộng, tương đương với 180 nghìn tấn N; 300 nghìn tấn K2O và 90nghìn tấn P2O5, tức xấp xỉ 400 nghìn tấn ure; 500 nghìn tấn KCl và 540 tấn photphat.Chỉ thuần tuý tính bội thu thúc thỡ hàng năm nhờ phân hữu cơ đã làm tăng đượckhoảng 3 triệu tấn thóc (bình quân 1 tấn phân hữu cơ tăng được 100kg thóc) (VũQuang Mạnh, 2000)
Bón phân chuồng trên đất bạc màu phù sa sông Hồng cải thiện CEC của đấtnhất là đất bạc màu (tăng 14%) Ngoài ra dung tích hấp thu của đất khi được bón mỗi
vụ 10 tấn phân chuồng và 10-15 tấn phế phụ phẩm sau thu hoạch Nếu bón phân vớilượng bằng 1% trong đất (khoảng 30 tấn/ha) có thể tạo cho đất khả năng giữ đạm từ 3-6mgN/100g đất Sản phẩm CO2 sản sinh trong quá trình phân giải hữu cơ còn có tácdụng hoà tan những chất dinh dưỡng khó tiêu trong đất nhất là các photphat cho câytrồng (Nguyễn Như Hà, 1999)
Vùi rơm rạ vào đất là việc trả lại cho đất hầu hết số lượng các nguyên tố dinhdưỡng mà cây lúa lấy đi từ đất, nờn nú có tác dụng bảo toàn nguồn dự trữ dinh dưỡngcủa đất về lâu dài Mặc dù tác dụng trực tiếp lên năng suất lúa vụ kế tiếp là không lớn
so với việc lấy rơm rạ ra khỏi đồng ruộng, nhưng về lâu dài thì ảnh hưởng thấy rõ Nếukết hợp song song việc bón phân hàng vụ cho lúa cùng với vùi rơm rạ vào đất sẽ bảotoàn được dinh dưỡng N, P2O5, K2O và S cho lỳa Cỏc kết quả nghiên cứu gần đây chothấy cày khô 5-10cm để vùi rơm rạ vừa tăng cường sức thoáng khí cho đất trong thời
kỳ bỏ hoá vừa có tác dụng tốt đến độ phì trong hệ thống thâm canh lỳa-lỳa Việc càykhụ, nụng nờn tiến hành sau khi thu hoạch 2-3 tuần và thời kỳ bỏ hoỏ khụ - ướt giữahai vụ tối thiểu 30 ngày
Lý Kim Bảng và cộng sự đó dựng chế phẩm sinh học chứa 12 – 15 loài vi sinhvật để phân giải rơm rạ thành mùn Sau khi ủ chế phẩm này với rơm rạ 17 – 25 ngày sẽ
Trang 37được một loại phân bón tốt Khi bón phân này cho cây trồng có thể tiết kiệm được 20 –30% lượng phõn khoỏng và tăng năng suất cây trồng 5 –7%.
Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã phân lập và điều chế thành công chếphẩm vi sinh Trichoderma dạng bột là chủng vi nấm có khả năng phân huỷ rơm rạnhanh tạo nguồn phân hữu cơ tại chỗ Cứ 1 tấn rơm rạ dùng 2 kg chế phẩm ủ trongthời gian 4 – 5 tuần tuỳ thời tiết, nếu nhiệt độ cao thời gian ủ có thể rút ngắn hơn Khibón phân này kết hợp với phõn hoỏ học NPK cho lỳa đụng xuõn cho năng suất caohơn so với chỉ bón phân NPK, giảm tỷ lệ bệnh chỏy lỏ, thối cổ bông, cải thiện kết cấu
và độ phì tiềm tàng của đất Khi bón hoàn toàn phân NPK lợi nhuận thu được1.829.000 đồng/ha, trong khi bón kết hợp phân hữu cơ và NPK là 2.475.000 đồng
Mai Hữu Tuyên, Phạm Tiến Dũng (2005) cho thấy, tại Đông anh, Hà Nội kếtquả nghiên cứu ứng dụng canh tác tự nhiên (hữu cơ) thay thế một phần phân bón vàthuốc sâu hóa học trờn lỳa và một số loại rau như cải ngọt, cải bắp, đậu trạch, cà chuachúng tôi cũng đi đến một số nhận xét sau: Sản phẩm khi được phân tích cho thấy đảmbảo an toàn và có chất lượng tốt hơn canh tác như của dân, năng suất của các côngthức áp dụng canh tác tự nhiên vẫn đảm bảo như canh tác của người dân
Phạm Tiến Dũng, Y ka nin H’dok (2009) đã tiến hành nghiờn cứu khả năng ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong sản xuất cà phê sạch tại ĐăkLăk cho thấy mô
hình sử dụng phân bón ủ vi sinh thay thế cho phân chuồng ủ bình thường, đã giảmđược 70% lương phân bón hoá học cho cà phê nhưng năng suất, chất lượng cà phê vẫnđược duy trì không chỉ bằng mà còn cao hơn so với bình thường trên hầu hết các chỉtiêu nghiên cứu Việc dùng phân ủ vi sinh và giảm 70% lượng phõn hoỏ học đã dẫn tớigiảm chi phí sản xuất đáng kể nên hiệu quả kinh tế cao hơn, thu lãi trên đơn vị diệntích cũng cao hơn
Gần đây một số nơi mới tổ chức sản xuất lúa hữu cơ:
Dự án “Phỏt triển khuôn khổ cho sản xuất và marketing Nông nghiệp hữu cơ tạiViệt Nam” của Hội Nông dân Việt Nam (VNFU) và tổ chức Phát triển Nông nghiệpĐan Mạch Châu Á (ADDA) đã được triển khai Theo đó, Hội nông dân các tỉnh sẽ cửcác hội viên có mong muốn tìm hiểu về NNHC, có trình độ tối thiểu là tốt nghiệp Phổthông trung học, để tham gia khóa đào tạo khoảng 4,5 tháng do ADDA tổ chức
Lào Cai, Tuyên Quang, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hà Nội là 6 tỉnhđầu tiên được thử nghiệm chương trình đào tạo này Cụ thể là tập huấn trồng lúa hữu
Trang 38cơ cho nhóm nông dân xã Tả Vai, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai; tập huấn trồng vải hữu cơcho nhóm nông dân xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang; tập huấn rau hữu cơcho nhóm nông dân xã Phù Lưu, huyện Hàm Yờn, Tuyờn Quang, xã Định Phúc, TP.Vĩnh Yên, Vĩnh Phỳc, xó Đỡnh Bảng, Bắc Ninh; và tập huấn thủy sản hữu cơ chonhóm nông dân ở Tõn Dõn, Hải Phòng Dự kiến đến năm 2010, sẽ có khoảng 3000đến 3750 nông dân được đào tạo về NNHC và có sản xuất thành phẩm hữu cơ.
Nông dân hữu cơ ở Sóc Sơn đã đưa ra báo cáo tổng kết giá trị kinh tế trên ruộngcải bắp, cà chua theo phương pháp canh tác hữu cơ Tổng thu nhập là 48 triệu/ sào càchua so với thông thường 20 triệu/ sào cà chua Chi phí sản xuất: 922.000 đồng/ruộng
cà chua so với thông thường là 945.000 đồng/ruộng cà chua Lợi nhuận thu về38.780.000 đồng so với thông thường là 19.055.000 đồng
Riêng ruộng cải bắp do đợt ngập ỳng thỏng 11 năm ngoái, sản lượng hữu cơ chỉ
có 400kg/ruộng cải bắp nhưng bán ra 10.000 đồng/kg so với sản lượng vô cơ 1,4tấn/ruộng cải bắp với giá bán ra 2.500 đồng/kg
Bảng 2.5 Báo cáo giá trị kinh tế canh tác hữu cơ cà chua và cải bắp ở Sóc Sơn Loại cây
Hữu cơ Thông thường Hữu cơ Thông thường Doanh thu 40 triệu
đồng/sào
20 triệu đồng/sào
sử dụng thuốc diệt trừ sâu bệnh có nguồn gốc tự nhiên, thảo mộc (dấm gỗ, lá cây xoannghiền), cỏc cõy dẫn dụ (hoa, cỏ…) Nông dân cũng có thể trồng luân canh và sử dụngphân xanh để tăng độ màu cho đất
Tuy nhiên, dự án vẫn chưa mang lại hiệu quả rõ rệt do việc áp dụng NNHC gặpkhông ít trở ngại từ vốn khởi tạo chuyển đổi sản xuất từ vô cơ sang hữu cơ, chưa có cơquan chứng nhận chuẩn sản phẩm hữu cơ cũng như định chế giá cả (Trích bài phát
Trang 39biểu của Koen Den Braber, cố vấn kĩ thuật dự án, ngày thứ tư, 30 tháng 9 năm 2009,VOVNEWS)
Và mới đây (Lê Văn Tuyên, Google,10/6/2010) Tân Hiệp lại có bước đột phámới: Hợp tác các viện, trường đại học, các nhà khoa học uy tín thực hiện chương trìnhlúa hữu cơ - sinh học (tiến hành trong quý III-2010) nhằm mang lại lợi nhuận cao chonhà nông Cũng trong bài này, GS.TS Vừ Tũng Xuõn núi: “Tụi hoàn toàn ủng hộ vàhợp tác chương trình sản xuất lúa gạo hữu cơ - sinh học, một đề xuất đúng xu thế vànhu cầu của thời kỳ hội nhập của huyện Tân Hiệp Chúng tôi sẽ tập trung các nguồn kỹthuật làm cho lúa gạo hữu cơ - sinh học trên địa bàn Tân Hiệp đảm bảo tiêu chí chấtlượng cao - sạch, bổ dưỡng, nguồn thực phẩm hạn chế bệnh tật cho con người (thựcphẩm chức năng)” PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ nói: “Hội nhập WTO, việc làm cần thiếtđối với sản xuất nông nghiệp là phải tạo ra được quy trình nông nghiệp an toànVietGAP Với huyện Tân Hiệp, theo tôi cần nâng lên tầm cao mới đó là sản xuất lúahữu cơ - sinh học, bởi đây sẽ là giải pháp đột phá kinh tế đối với huyện gồm các tiêuchí về bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất, bảo
vệ môi trường và đang là nhu cầu thị trường thế giới đang quan tâm Tôi sẽ cố gắngcùng huyện Tân Hiệp thực hiện đề án trên, bởi nó có giá trị giữa nghiên cứu - ứngdụng và phục vụ sức khỏe con người, đặc biệt sẽ làm giàu cho nông dân Tân Hiệp”
Và TS Lê Văn Bảnh - Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL nói: “Gần 10 năm nay, Tân Hiệp
là vệ tinh sản xuất lỳa nguyờn chủng - xác nhận của Viện lúa ĐBSCL Tôi cũng đãbàn, ký kết hợp tác khoa học với huyện Tân Hiệp xung quanh việc nâng cao chuỗi giátrị sản xuất nông nghiệp trên đồng ruộng Tân Hiệp giai đoạn 2005-2015: Tân Hiệp làđịa phương sản xuất an toàn lúa giống cho Viện lúa, thí điểm các chương trình cơ giớihóa - điện khí hóa phục vụ sản xuất lúa cao sản, giống lúa của Viện cũng sẽ được làmgiống nguyên liệu sản xuất lúa hữu cơ - sinh học cho Đề án sản xuất lúa hữu cơ - sinhhọc của huyện đang được triển khai”
Thứ sáu, 14 Tháng 1 2011 (Google.com.vn), Với thực trạng môi trường hiệnnay, con người đang đối mặt với hiểm họa từ những hiện tượng thiên tai bất thườnghay còn gọi là Biến đổi khí hậu, một trong những nguyên nhân quan trọng đó là từ cácngành sản xuất, trong đó có nông nghiệp Nhằm thay đổi nhận thức canh tác của ngườinông dân trong sản xuất góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững với những sảnphẩm chất lượng cao, đảm bảo an toàn sản phẩm, bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng
và cho cả người lao động, nhiều đơn vị, tổ chức, cá nhân đã nỗ lực có những chươngtrình, hoạt động thúc đẩy sự cải thiện này Nắm bắt được xu thế chung này, Trung tâmDạy nghề và Hỗ trợ nông dân đưa chương trình xây dựng nông nghiệp hữu cơ vàotrong kế hoạch, định hướng phát triển của Trung tâm
Trang 40Từ giữa năm 2010 đến nay, Trung tâm đã kết nối với các đối tác nhằm kêu gọicác nguồn lực hỗ trợ nông dân Hà Tĩnh có những phương thức sản xuất thích ứng vớiBiến đổi khí hậu Một số hoạt động nổi bật như xây dựng dự án nuôi giun quế- gà sạchtại huyện Lộc Hà nhằm tạo sinh kế bền vững vừa bảo vệ môi trường, tham gia các hộithảo lớn về Biến đổi khí hậu của các NGO trong nước tổ chức… Ngày 14 tháng 8 năm
2010, Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân Hà Tĩnh đó cú buổi làm việc với bàLưu Thị Hồng Tưởng- Chủ tịch hội đồng Quản trị Công ty Hưng Trung Việt – QuảngNam (CPHTV) cùng TS Trần Đăng Hòa- Trưởng khoa Nông học- ĐH Nông lâm Huếphối hợp tổ chức khảo sát chọn điểm xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơtại xã Kim Lộc- Can Lộc, Trung Lễ- Đức Thọ, Đậu Liêu- TX Hồng Lĩnh… Lãnh đạohuyện, địa phương nắm bắt được chủ trương mới và xác định rõ tinh thần nên đồngtình, ủng hộ, phối hợp nhịp nhàng
Sau khi đánh giá, thảo luận Công ty và Trung tâm đã đi đến ký kết hợp đồng,Công ty CPHTV hỗ trợ tổ chức cỏc khúa tập huấn ủ phân hữu cơ vi sinh, đầu tư phânbón, giống và kỹ thuật thâm canh lúa hữu cơ… cho những vựng đó khảo sát Tuynhiên, trong tháng 10 hai trận lũ liên tiếp xảy ra đã phần nào ảnh hưởng đến tiến độthực hiện kế hoạch xây dựng mô hình Cho đến thời điểm hiện nay, các địa phươngnhận được lựa chọn tổ chức tập huấn ủ phân vi sinh như Thạch Lâm, Thạch Long-Thạch Hà; Trung Lễ- Đức Thọ; Đậu Liêu- TX Hồng Lĩnh, Kim Lộc- Can Lộc Hai địaphương xã Thạch Long- Thạch Hà và xã Kim Lộc- Can Lộc được lựa chọn xây dựng
mô hình lúa hữu cơ, tổng số hộ dân đăng ký tham gia mô hình là 42 hộ (Kim Lộc: 9
hộ, Thạch Long: 34 hộ) với tổng diện tích là 5,2ha
Như vậy tại Việt Nam hiện đang trên đà nghiên cứu và phát triển sản xuất lúahữu cơ, việc làm rất cần cho sự phát triển bền vững để có sản phẩm xuất khẩu mang lạihiệu quả kinh té cao cho người trồng lúa, nhưng cần có nghiên cứu đầy đủ hơn để cóthẻ triển khai thành công và thực sự bền vững thì chắc chắn sẽ không chỉ đáp ứng sảnphẩm an toàn, chất lượng cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu mang lại nhiềungoại tệ hơn trên cùng đơn vị diện tích