1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

610 Mở rộng tín dụng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

59 625 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mở rộng tín dụng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Trường học Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Chuyên ngành Tín dụng
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 382,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

610 Mở rộng tín dụng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ khi có chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đề ra, nền kinh tếViệt Nam đang có những bước tiến vượt bậc, tốc độ tăng trưởng GDP hằng nămluôn đạt trên 7%, là nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh thứ hai trên thế giới, chỉsau Trung Quốc Nhân tố chủ chốt trong sự phát triển kinh tế này chính là cácdoanh nghiệp, những người trực tiếp mang về nguồn thu cho nền kinh tế quốc dân.Chính vì vậy, việc tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ViệtNam, giúp các doanh nghiệp bắt kịp với trình độ sản xuất, công nghệ trên thế giới,

sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào trong nước… là những mục tiêu hàngđầu mà Nhà nước ta đã đề ra ngay từ những ngày đầu hội nhập Để thực hiện đượcđiều đó thì yếu tố vốn đầu tư là một trong những yếu tố then chốt, quyết định

Có nhiều nguồn vốn doanh nghiệp có thể khai thác như huy động trong nhândân thông qua phát hành trái phiếu, thu hút đầu tư nước ngoài, góp vốn liên doanh,

cổ phần hóa… Tuy nhiên nguồn vốn thông dụng nhất vẫn là vay ngân hàng Mốiquan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là một mối quan hệ bền chặt, chi phối lẫnnhau và thường là lâu dài, mang lại lợi ích cho cả đôi bên

Vì lẽ đó, các ngân hàng cũng thường xuyên đổi mới chính sách tín dụng nhằmđem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp, góp phần vào công cuộc xây dựng đấtnước đang diễn ra từng ngày từng giờ Tuy nhiên, do nền kinh tế của nước ta vẫncòn đang trong quá trình phát triển, nên thị trường tiền tệ nói chung và thị trườngvốn tín dụng nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, chưa mang lại những hiệu quả nhưmong đợi

Vì vậy, trong quá trình thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần

Á Châu Hà Nội, được tìm hiểu về hoạt động cho vay doanh nghiệp của chi nhánh,

với mong muốn đóng góp những suy nghĩ của mình, em đã chọn đề tài: “Mở rộng

cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu chi nhánh

Hà Nội”

Trang 2

Chuyên đề gồm ba chương với những nội dung chính như sau:

Chương 1: Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ACB Hà Nội Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ACB

Hà Nội

Do còn hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn, nên chuyên đềkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được ý kiến đóng gópcủa thầy cô và bạn bè để chuyên đề của em hoàn thiện hơn

Trang 3

CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Khái quát về ngân hàng thương mại

1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh

tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nóichung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại (NHTM)thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngânhàng

Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hộiđều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội.Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ giađình và một phần đối với Nhà nước (thành phố, tỉnh,…) Đối với các doanh nghiệp,ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hoá

dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị Khi doanh nghiệp và ngườitiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sửdụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử… Và khi họ cần thôngtin tài chính hay lập kế hoạch tài chính họ thường đến các ngân hàng để nhận đượclời tư vấn Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ (thông qua muachứng khoán Chính phủ) là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển Ngânhàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy là công

cụ quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế bềnvững

Tóm lại, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế.Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò màchúng thực hiện trong nền kinh tế Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang khôngngừng thay đổi Thực tế rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm các công ty kinh

Trang 4

doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảohiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng Ngược lại,ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môigiới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thựchiện nhiều dịch vụ mới khác Vì vậy, ta có thể định nghĩa ngân hàng theo nhữngloại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.

Ngân hàng là các tổ chức trung gian tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.

Còn nếu dựa trên các hoạt động chủ yếu thì có thể hiểu : Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch

Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ ngân hàng

phải có một lượng vốn nhất định, gọi là vốn chủ sở hữu Đây là loại vốn ngân

hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng

và là cơ sở để huy động vốn từ công chúng, tạo “đòn bẩy” cho hoạt động Trên

Trang 5

thực tế, các ngân hàng là những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính (tài trợ bằngnợ) lớn nhất Vốn chủ sở hữu (vốn tự có) chiếm không quá 10% giá trị tổng tài sản.Vốn nợ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn của NHTM, được hìnhthành chủ yếu từ hai nguồn tiền gửi và các khoản vay.

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, thể

hiện các yêu cầu tài chính đối với ngân hàng từ phía doanh nghiệp, hộ gia đình vàChính phủ Có 5 loại hình tiền gửi chính:

- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch) Đây là tiền của doanh nghiệp

hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ Trongphạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều đượcngân hàng thực hiện Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rất thấp (hoặc bằngkhông), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng vớimức phí thấp

- Tiền gửi tiết kiệm Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời

chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm), họ có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện cácmục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảotoàn

- Tài khoản NOW Đây là những tài khoản chỉ có thể được nắm giữ bởi cá

nhân và các tổ chức phi lợi nhuận Đây là tài khoản hưởng lãi và cho phép ngườigửi tiền phát séc để thực hiện thanh toán cho bên thứ ba

- Tiền gửi có kỳ hạn Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân

hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn Hình thức này có lãi suất cao hơn tiềngửi thanh toán, tùy theo độ dài của kỳ hạn, nhưng không được áp dụng các hìnhthức thanh toán như tiền gửi thanh toán

- Tiền gửi của các ngân hàng khác Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và

một số mục đích khác, NHTM này có thể gửi tiền tại NHTM khác Tuy nhiên quy

mô nguồn này thường không lớn

Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM Tuy nhiên, khi cần, NHTMthường vay mượn thêm Tại nhiều nước Ngân hàng Trung ương thường quy định tỷ

Trang 6

lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn của chủ Vì vậy nhiều ngân hàng vào nhữnggiai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy

động bị hạn chế Các khoản vay chủ yếu của ngân hàng là:

- Vay Ngân hàng Trung ương (NHNN) Đây là khoản vay nhằm giải quyết

nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ(thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), NHTM thường vay Ngân hàng Trungương Hình thức cho vay chủ yếu của Ngân hàng Trung ương là tái chiết khấu(hoặc tái cấp vốn)

- Vay các tổ chức tín dụng khác Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn

nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng

- Vay trên thị trường vốn Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng

cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu)trên thị trường vốn Đây là các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho cácnguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn

độ thanh khoản của các hợp đồng tín dụng, mặc dù là rất quan trọng, nhưng ở vào

vị trí thứ yếu Những phát triển gần đây về “sự bảo đảm an toàn” đã góp phần tạo

ra thanh khoản cho các khoản cho vay khác nhau Sự bảo đảm an toàn nảy sinh khicác thưong phiếu hoặc tín phiếu được phát hành và dựa trên các khoản tín dụng cóliên quan, như tín dụng thương mại hoặc tín dụng tiêu dùng Điều này cho phépchủ nợ đầu tiên thu hồi vốn một cách gián tiếp, khi vốn vẫn đang hoạt động

Nhà quản lý ngân hàng cũng phải quyết định phân chia vốn trong phạm vi cáckhoản mục cho vay, nghĩa là vốn phải được phân thành các khoản cho vay tiêu

Trang 7

dùng, cho vay thương mại, cho vay bất động sản và các loại cho vay khác Sự phânchia này được thực hiện trên cơ sở khả năng sinh lợi và nhu cầu tín dụng, phù hợp

với các giới hạn và những quy định phải tuân theo

1.2.3 Trung gian thanh toán

Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết cácquốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa vàdịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàngđưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủynhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nốicác quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiệnthanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua cáctrung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả caokhi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng Vì vậy, công nghệ thanhtoán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộngrãi Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trongthanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngânhàng trên toàn thế giới Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tănghiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanhtoán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu

2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

2.1 Khái niệm

Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận Theo lẽ đó, cho vay là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn gọi là tín dụng ngân hàng) Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất, là hoạt động chủ yếu trong quan hệ tín dụng của NHTM, song đem lại rủi ro cao nhất cho NHTM

Trong quan hệ cho vay thể hiện các nội dung sau:

Trang 8

+ Trái chủ, hay còn gọi là người cho vay, chuyển giao cho người thụ trái, haycòn gọi là người đi vay, một lượng giá trị nhất định Giá trị này có thể dưới hìnhthái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất độngsản.

+ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, saukhi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người chovay Trong quan hệ tín dụng người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vàomột ngày nào đó trong tương lai mà hai bên đã thỏa thuận

+ Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cáchkhác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức Marx viết: “Đem tiền cho vay với tưcách là một việc có đặc điểm là sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó, mà vẫn giữđược nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vậnđộng”

Như vậy quan hệ cho vay có thể được hiểu theo nghĩa rộng là sự vận dộng củaluồng vốn từ nơi đang tạm thời thừa sang nơi thiếu vốn, hoặc đang cần vốn Quan

hệ cho vay có thể diễn ra giữa nhiều chủ thể khác nhau như doanh nghiệp, cá nhân,ngân hàng, chính phủ

2.2 Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại

2.2.1 Căn cứ vào mục đích

Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây

dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương

mại và dịch vụ

Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung

vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại vàdịch vụ

Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như

phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…

Trang 9

Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua

sắm các vật dụng đắt tiền, ngân hàng còn cho vay để trang trải các chi phí thôngthường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng

2.2.2 Căn cứ vào thời hạn cho vay

Cho vay ngắn hạn Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng, được sử

dụng nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắnhạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất và cá nhân Đối với NHTM tín dụngngắn hạn chiếm tỉ trọng cao nhất

Cho vay trung hạn Theo quy định hiện nay của Nhà nước Việt Nam, cho

vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, còn đối với các nước trên thế giớiloại cho vay này có thời hạn đến 7 năm

Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định,cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựngcác dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp,chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng: máy cày, máy bơm nước,xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều, hồ tiêu…

Cho vay dài hạn Đây là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm (Việt Nam),

hoặc trên 7 năm (đối với các nước trên thế giới)

Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dàihạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, các dự ánlớn của quốc gia, xây dựng các xí nghiệp mới…

2.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố

hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bảnthân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, cókhả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụngdựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổsung

Trang 10

Cho vay có đảm bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài

sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đối với cáckhách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải cóđảm bảo Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn mộtnguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn

2.2.4 Căn cứ vào hình thái tài sản

Cho vay bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được

cung cấp bằng tiền Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng và việc thựchiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời

vụ, tín dụng trả góp…

Cho vay bằng hiện vật (thuê-mua) Hoạt động chủ yếu của NHTM là cho

vay để khách hàng mua tài sản Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, khách hàngkhông đủ (hoặc chưa đủ) điều kiện vay Để mở rộng tín dụng, NHTM đã mua cáctài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho khách hàng thuê Vì tài sản cho thuêthuộc sở hữu ngân hàng nên ngân hàng có thể thu hồi để bán hoặc cho người khácthuê khi người thuê không trả nợ được Điều này góp phần giảm bớt thiệt hại chongân hàng

Hoạt động cho thuê có hai hình thức chủ yếu là cho thuê nghiệp vụ và chothuê tài chính Cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian ngắn,người đi thuê không có dự định “mua” tài sản đó để sử dụng lâu dài Cho thuê tàichính đáp ứng nhu cầu cho thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quyền muatài sản khi hết hợp đồng thuê Hoạt động cho thuê của NHTM chủ yếu là cho thuêtài chính

2.2.5 Căn cứ vào hình thức cho vay

Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của

ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không cóđiều kiện để cấp hạn mức thấu chi Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu vàtín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuấtđặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai

Trang 11

đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh Mỗi món vay được tách biệt nhauthành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau

Cho vay từng lần

Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản Ngân hàng có thể kiểm soáttừng món vay tách biệt Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo

Cho vay theo hạn mức Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa

thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức có thể tính cho cả kỳ hoặccuối kỳ Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ

sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng

Cho vay theo hạn mức

Quy mô vay

Thời gian vay : Quy mô và thời gian cho vay

Thời gian

Dư nợ

Dư nợ trong kỳ Hạn mức được duyệt trong kỳ

Trang 12

Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ khôngđược vượt quá hạn mức tín dụng Một số trường hợp, ngân hàng quy định hạn mứccuối kỳ Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức Tuy nhiên đến cuối kỳ, kháchhàng phải trả nợ để giảm dư nợ, sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạnmức.

Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thườngxuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Trongnghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khi khách hàng có thunhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng.Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngânhàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiệnvấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút

Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng

hóa Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn Ngân hàng có thể cho vay đểmua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Ngân hàng và khách hàng thỏathuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hànghóa và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong một nămhoặc vài năm Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàngxem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định có cho vay nữa hay không

Thời gian

Dư nợ

Hạn mức được duyệt cuối kỳ

Dư nợ

Trang 13

tùy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính củakhách hàng.

Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệphoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trảthường xuyên với ngân hàng

Cho vay luân chuyển

Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng Thủ tục vay chỉ cầnthực hiện một lần cho nhiều lần vay Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịpthời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn

Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hóa tồn đọng…) thì ngânhàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay khôngđược quy định rõ ràng

Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách

hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận Cho vay trả gópthường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cốđịnh hoặc hàng lâu bền Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khảnăng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thunhập hàng kỳ của người tiêu dùng) Ngân hàng thường cho vay trả góp đối vớingười tiêu dùng thông qua hạn mức tín dụng

Thời gian Cho vay

Dự trữ hàng hóa (Tăng khi mua và giảm khi bán)

Vay ( ), trả( )

Trang 14

Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa muatrả góp Khả năng tài trợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay Nếungười vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàngcũng bị ảnh hưởng Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãisuất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.

Cho vay hoàn trả theo yêu cầu (thấu chi):

Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chitrội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định vàtrong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi

Thấu chi

Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian

và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngân quỹsong không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi chokhách hàng trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn

là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trongtháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng…Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao,thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn

Trục y: Số dư tiền gửi thanh toán (đồng) Trục x: Thời gian

Hạn mức thấu chi Vay ngân hàng (thực hiện thấu chi)

Số dư tiền gửi

x y

Trang 15

2.2.6 Căn cứ vào mối quan hệ với người vay

Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng

thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

Cho vay gián tiếp, bao gồm các loại sau:

+ Chiết khấu thương mại (discount)

Người hưởng thụ hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn trong hạn thanh toán có thểnhượng lại cho ngân hàng Trong trường hợp này ngân hàng cấp cho khách hàngmột khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí Khi các chứng

từ này đến hạn thanh toán người thụ lệnh hối phiếu hoặc người có trách nhiệmthanh toán cho ngân hàng Cần lưu ý trong nghiệp vụ chiết khấu thương mại ngườiđược cấp tín dụng và người chịu trách nhiệm thanh toán chính cho ngân hàng là haingười khác nhau

+ Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp

Do sự tác động của phương thức tiêu thụ hàng hóa gần phương pháp tiếp thịmới đã thúc đẩy các ngân hàng thương mại đưa vào áp dụng loại cho vay gián tiếp.Trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp thương mại đang tìm mọi biện pháp đãcạnh tranh trong việc tiêu thụ hàng hóa, trong đó bán chịu hàng hóa được coi làbiện pháp để mở rộng tiêu thụ hàng hóa có hiệu quả nhất Tuy nhiên nguồn vốn củacác doanh nghiệp có hạn, vì vậy cần phải có nguồn tài trợ của ngân hàng thông quanhượng lại các phiếu bán hàng trả góp

Cho vay gián tiếp thông qua mua các phiếu bán hàng được thực hiện theo quytrình như sau:

Cấp vốn (1)

Thanh toán nợ (2)

Trang 16

(1) Doanh nghiệp thương mại bán chịu hàng hóa cho người mua – ngườitiêu dùng hoặc người nông dân

(2) Doanh nghiệp thương mại chuyển nhượng phiếu bán hàng trả góp chongân hàng để được tài trợ vốn

(3) Người mua thanh toán cho ngân hàng theo định kỳ

+ Mua các khoản nợ của doanh nghiệp (nghiệp vụ factoring)

Nghiệp vụ factoring hay còn gọi là mua các tích trái là một hình thức tài trợvốn ngắn hạn Nghiệp vụ này thường do các công ty mua nợ (factor) thực hiệnNghiệp vụ factoring được thực hiện như sau:

(1) Khách hàng bán các tích trái (khoản phải thu theo hóa đơn) cho ngườimua nợ (factor- thường là công ty con của ngân hàng )

(2) Người mua nợ thanh toán một khoản tiền bằng số tiền trên tài khoản

nợ trừ đi lãi và hoa hồng mà người mua nợ được hưởng, đồng thời ngườimua nợ còn giữ lại một phần để phòng ngừa hàng trả lại

(3) Khi đến hạn con nợ phải thanh toán cho người mua nợ

Ngoài các loại cho vay trên đây, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảolãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình Đối với nghiệp vụ này ngân hàng

Con nợ (debtor)

Người mua nợ (factor)

(2)

(1)

Trang 17

không phải cung cấp hàng tiền, nhưng khi người bảo lãnh không thực hiện đượcnghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụthanh toán Chính vì lí do trên đây mà người ta gọi hành vi cam kết bảo lãnh củangân hàng là tín dụng bằng chữ kí.

2.2.7 Tín dụng bằng uy tín của ngân hàng (nghiệp vụ bảo lãnh)

Tín dụng chấp nhận: Tín dụng chấp nhận là việc khách hàng phát hành một

hối phiếu mà trong đó ngân hàng đóng vai trò là người thụ lệnh Khách hàng dùnghối phiếu này để chiết khấu ở một ngân hàng khác để nhận tiền Trước khi hốiphiếu đến hạn thanh toán khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng thụ lệnh đểngân hàng này chi trả cho ngân hàng chiết khấu

Trong quan hệ này ngân hàng không phải là người thiếu nợ, mà ngân hàng chomượn uy tín của mình để khách hàng được vay vốn

Tín dụng chứng từ: Ngân hàng mở tín dụng chứng từ cho khách hàng là

nhà nhập khẩu và người hưởng thụ là nhà xuất khẩu ở nước ngoài Điều này cónghĩa là ngân hàng đã cam kết trả tiền khi nhà xuất khẩu đã gửi hàng và xuất trìnhcác chứng từ theo đúng các điều kiện của tín dụng thư

Bảo lãnh của ngân hàng: Trong hình thức tín dụng bằng chữ kí, bảo lãnh là

loại tín dụng được áp dụng phổ biến Để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ củakhách hàng, ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng bằng việc phát hành cácchứng thư bảo lãnh

Chứng thư bảo lãnh là giấy cam kết của ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thaycho người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện nghĩa vụ

Bảo lãnh ngân hàng có các loại thông dụng sau:

+ Bảo lãnh thuế quan: Ngân hàng phát hành chứng thư bảo lãnh cho nhà nhập

khẩu để người này được lấy hàng ra khỏi cảng mà chưa phải đóng thuế cho Nhànước Người hưởng thụ của cam kết bảo lãnh này là tổ chức thuế quan của Nhànước

+ Bảo lãnh khoản tiền giữ lại: Đối với các công trình xây dựng, bên chủ đầu

tư không thanh toán toàn bộ số tiền theo hợp đồng mà thường giữ lại một khoản

Trang 18

khoảng 10% Khoản tiền 10% có thể giữ lại cho đến khi hoàn thành công trình vàđược chủ đầu tư (bên A) nghiệm thu hoặc cũng có thể giữ lại trong một khoảngthời gian sau khi đã hoàn thành công trình Nếu chủ thầu xây dựng muốn nhận toàn

bộ số tiền theo hợp đồng thì phải được ngân hàng đứng ra bảo lãnh

+ Bảo lãnh bảo đảm hoàn trả tiền ứng trước: Nhiều người cung cấp yêu cầu

khách (người mua hàng hóa dịch vụ) phải đặt trước một phần tiền trong giá trị hợpđồng cung cấp Tiền đặt cọc vừa giúp bên cung cấp có một phần vốn để sản xuấtkinh doanh, vừa có tác dụng ràng buộc người mua phải mua hàng đã đặt Tuynhiên, đề phòng người cung cấp không cung cấp hàng đồng thời lại không trả tiềnđặt cọc, bên mua yêu cầu bên cung cấp phải có bảo lãnh của ngân hàng về việc sẽtrả tiền ứng trước Vậy bảo lãnh bảo đảm hoàn trả tiền ứng trước là cam kết củangân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua (người hưởng bảo lãnh)nếu bên cung cấp (người được bảo lãnh) không trả

+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn

thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng nhưcam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba

Các hợp đồng được bảo lãnh như hợp đồng cung cấp hàng hóa, xây dựng, thiếtkế… Việc khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp không đúng hạn, khôngđúng chất lượng cam kết… đều có thể gây tổn thất cho bên thứ ba Bảo lãnh củangân hàng một mặt bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba, mặt khác thúc đẩykhách hàng nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng

+ Bảo lãnh bảo đảm tham gia dự thầu: Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu

tư (hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu

Trong hoạt động kinh tế, rất nhiều hoạt động được thực hiện thông qua đấuthầu như đấu thầu cung cấp thiết bị, xây dựng Để tìm kiếm được các nhà thầu có

đủ năng lực và hạn chế những rủi ro khi nhà thầu vi phạm các điều khoản tham dựthầu như trúng thầu nhưng không thực hiện hợp đồng, không kê khai đúng các yêucầu của chủ đầu tư… chủ đầu tư thường xuyên yêu cầu bên dự thầu phải ký quỹ(đặt cọc) dự thầu Nếu vi phạm, bên dự thầu sẽ bị mất tiền ký quỹ Do ký quỹ gây

Trang 19

ra nhiều thủ tục phiền phức cho cả hai bên, đặc biệt làm đọng vốn của bên tham gia

dự thầu, nhiều chủ thầu yêu cầu thay thế tiền ký quỹ bằng bảo lãnh của ngân hàng

+ Bảo lãnh hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn): Nhiều tổ chức tín dụng khi

cho vay đòi hỏi phải có đảm bảo hoặc bằng hàng hóa, chứng khoán, bất động sản,hoặc bảo lãnh cả người thứ ba… Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có nhucầu vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu song nếu uy tín của người vay trên thịtrường đó chưa cao, việc phát hành sẽ rất khó khăn Điều đó nảy sinh nhu cầu bảolãnh vay vốn Bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay là cam kết của ngân hàng đối vớingười cho vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân,…) về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạnnếu khách hàng (người đi vay) không trả được

+ Bảo lãnh bảo đảm thanh toán: Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh

toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng củangân hàng không thanh toán đủ

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHTM

3.1 Các nhân tố khách quan

Môi trường kinh tế

Doanh ngiệp hoạt động trong môi trường kinh tế, vì thế bất cứ sự biến độngnào của môi trường kinh tế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp, qua đó ảnhhưởng gián tiếp tới ngân hàng Nếu nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiệnlợi cho hoạt động tín dụng phát triển lành mạnh Khi đó, các quá trình sản xuấtkinh doanh trong nền kinh tế sẽ phát triển lành mạnh, các doanh nghiệp làm ăn cólãi, khoản cho vay của ngân hàng được sử dụng có hiệu quả và có khả năng thu hồicao Một khi môi trường kinh tế không ổn định, môi trường kinh doanh biến động

sẽ gây khó khăn cho hoạt động của người vay làm họ mất khả năng thanh toán chongân hàng, dẫn đến ngân hàng cũng kinh doanh thua lỗ do không thu được nợ

Môi trường xã hội

Các yếu tố như trật tự xã hội, an toàn an ninh xã hội có ảnh hưởng trực tiếpđến lòng tin của khách hàng Thật vậy, nếu như một địa bàn có an ninh trật tựkhông tốt sẽ gây tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư, họ sẽ không bỏ vốn vào đó, hạn

Trang 20

chế nhu cầu vay vốn, ngân hàng sẽ không thể cho vay đươc Hoặc ngân hàng lạiđóng trên một địa bàn có tình hình an ninh kém cũng sẽ không thu hút được cácnhà đầu tư đến liên hệ vay vốn, ngân hàng đó cũng không thể mở rộng cho vay.

Môi trường pháp lý

Hoạt động của ngân hàng nằm trong hành lang pháp lý hẹp, chịu sự điều chỉnhcủa Ngân hàng Trung ương để phù hợp với chính sách kinh tế của đất nước, vàphải tuân theo một hệ thống các văn bản pháp luật, văn bản dưới luật kết cấu vớinhau một cách chặt chẽ, thống nhất

Nếu Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, kìm hãmlạm phát thì ngân hàng thương mại không thể mở rộng cho vay Ngược lại, nếuNgân hâng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, khuyến khích đầu tư,thì ngân hàng thương mại có thể mở rộng cho vay

Bên cạnh đó, các hoạt động của ngân hàng phải tuân thủ theo pháp luật Nếunhững quy định của pháp luật không rõ ràng, đồng bộ, kịp thời sẽ gây khó khăntrong hoạt động tín dụng, đồng thời cũng tạo tâm lý bất an cho doanh nghiệp, họkhông thể đẩy mạnh kinh doanh được Ngược lại, một hệ thống pháp luật rõ ràng,tạo môi trường kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh Vì vậy nhân tố pháp luật có vịtrí hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vaynói riêng Việc tuân thủ nghiêm túc các quy định của Ngân hàng Nhà nước, Luậtcác tổ chức tín dụng, Luật dân sự… không chỉ giúp ngân hàng và doanh nghiệp yêntâm kinh doanh mà cũng tạo ra sự canh tranh bình đẳng, chống độc quyền, thaotúng thị trường tín dụng

Môi trường chính trị

Môi trường chính trị phản ánh sự bình ổn của một quốc gia Một đất nướcluôn có khủng bố, đảo chính, chiến tranh… thì không những nền kinh tế bị pháhủy, phát triển chậm chạp mà còn ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư, không thuhút được đầu tư Do đó ngân hàng cũng không thể mở rộng cho vay, hoạt động củangân hàng cũng vì thế mà ỳ trệ, không phát triển được

Trang 21

3.2 Các nhân tố chủ quan

Về phía người vay

Doanh nghiệp đi vay có ảnh hưởng quan trọng đến quy mô và chất lượngkhoản vay Nếu doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, có khả năng dự đoán các vấn

đề kinh doanh tốt, làm ăn với ngân hàng lâu năm, uy tín cao thì chắc chắn nhu cầutín dụng của họ sẽ được ngân hàng đáp ứng đầy đủ Ngược lại nếu trình độ yếukém, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì, làm ăn thua lỗ… thì khả năngngân hàng cho vay là không có thể xảy ra, ngân hàng không mở rộng cho vay

Về phía NHTM

+ Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho cán bộ tín dụng ngân hàng thực

hiện một khoản cho vay tốt Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiềudoanh nghiệp đến xin vay vốn, đảm bảo khả năng sinh lời của khoản vay Căn cứvào chính sách tín dụng, cán bộ tín dụng sẽ biêt cách phân tán rủi ro, tuân thủ phápluật, đường lối chính sách của Nhà nước Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấptín dụng nói chung đều được xem xét và đưa ra trong chính sách như: quy mô, lãisuất, kỳ hạn, tài sản đảm bảo, các khoản tín dụng có vấn đề… Điều này có nghĩa làviệc mở rộng cho vay doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào chính sách tín dụng củangân hàng đó

+ Quy trình tín dụng Để chuẩn hóa quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và

thu nợ đối với khách hàng, các ngân hàng thường đặt ra quy trình phân tích tíndụng Đó là các bước mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quan trong ngânhàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng Nếu việc ứng dụng quy trình tíndụng linh hoạt, có sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý giữa các bước sẽ vừa làm hài lòngkhách hàng tạo uy tín để khách hàng xin vay những nguồn vốn lớn, vừa đảm bảo

an toàn cho khoản vay, tạo điều kiện mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp

+ Trình độ cán bộ Trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng có vai trò

quan trọng trong việc mở rộng cho vay Với một đội ngũ cán bộ giỏi am hiểunghiệp vụ của mình thì việc lựa chọn đánh giá khách hàng chuẩn xác, mức độ antoàn cao là cơ sở để ngân hàng có thể tin tưởng mở rộng quy mô cho vay của mình

Trang 22

Nếu chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giákhông tốt, cố tình làm sai… là những nguyên nhân dẫn tới mất tín nhiệm với doanhnghiệp, hoạt động cho vay bị hạn chế.

+ Công nghệ ngân hàng Trong thời đại công nghệ thông tin, khoa học kỹ

thuật như hiện nay, bất cứ ngành nghề nào cũng có sự đóng góp của công nghệhiện đại Ứng dụng công nghệ vào trong ngân hàng giúp tăng tốc độ xử lý côngviệc, tăng sự chính xác, khai thác được nhiều thông tin về doanh nghiệp để đưa raquyết định cho vay chính xác Thủ tục giản tiện hơn cũng khuyến khích doanhnghiệp tìm đến ngân hàng vay vốn

+ Hoạt động huy động vốn Một trong những hoạt động chính của NHTM là

tìm kiếm các khoản vốn (huy động vốn) để sử dụng nhằm thu lợi nhuận Ngânhàng càng thu hút được nhiều nguồn vốn thì càng có nhiều khả năng mở rộng chovay

+ Thông tin tín dụng là những thông tin về khách hàng, môi trường kinh

doanh của khách hàng, tình hình kinh doanh của khách hàng… thông tin càngchính xác, nhanh nhạy thì khả năng phòng ngừa rủi ro của ngân hàng càng lớn,càng có cơ sở để mở rộng thêm nhiều loại hình cho vay phù hợp với nhu cầu củakhách hàng Mặt khác, một ngân hàng với lượng thông tin phong phú có thể đưa ranhững tư vấn hữu ích cho khách hàng và đây cũng là yếu tố mở rộng quy mô chovay

Trang 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHO VAY DOANH NGHIỆP

TẠI CHI NHÁNH ACB HÀ NỘI

1 Khái quát về chi nhánh ACB Hà Nội

1.1 Sự ra đời và nhiệm vụ chính của chi nhánh ACB Hà Nội

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (gọi tắt là ngân hàng ACB) là mộtngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đăng ký hoạt động tại nước Cộng hòa Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấpgiấy phép hoạt động số 0032/NH-GP ngày 24-04-1993 Vốn điều lệ ban đầu là 20

tỷ VND cho thời hạn hoạt động 50 năm Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 06-1993 Năm 1994, ngân hàng tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ VND, năm 1996vốn điều lệ là 341 tỷ VND, năm 2003 ACB lại tăng vốn điều lệ lên 424 tỷ VND vàtính đến ngày 23-08-2005 vốn điều lệ của ACB là 948,32 tỷ VND

04-Sau hơn 10 năm hoạt động, đến nay ACB đã có 61 chi nhánh và phòng giaodịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc

 Tại TP Hồ Chí Minh: 23 chi nhánh và 13 phòng giao dịch

 Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh): 6 chinhánh và 6 phòng giao dịch

 Tại khu vực miền Trung (Đà Nẵng, Daklak, Khánh Hoà, Hội An, Huế): 5chi nhánh và 1 phòng giao dịch

 Tại khu vực miền Tây (Cần Thơ, An Giang, và Cà Mau): 3 chi nhánh

 Tại khu vực miền Đông (Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu): 3 chi nhánh

và 1 phòng giao dịch

 5.584 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB (31/12/2005)

 360 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union(tháng 03/2005)

 E-banking

Trang 24

Trong hệ thống ngân hàng ACB thì Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần

Á Châu tại Hà Nội (viết tắt là ACB Hà Nội) là chi nhánh cấp một đầu tiên trên cảnước, đã được khai trương và đi vào hoạt động từ ngày 14/12/1993, tại địa chỉ 184

- 186 Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Hiện nay ACB Hà Nội có một chi nhánhcấp hai là chi nhánh Cửa Nam tại 6 Nguyễn Thái Học và năm phòng giao dịch(PGD) là:

- PGD Kim Liên tại số 1 Chùa Bộc, quận Đống Đa

- PGD Bát Đàn tại 46B Phố Bát Đàn, quận Hoàn Kiếm

- PGD Chùa Hà tại 18 Trần Đăng Ninh, quận Cầu Giấy

- PGD Ngọc Lâm tại 225 Phố Ngọc Lâm, quận Long Biên

- PGD Nội Bài tại Khu C, tầng 1, Sân Bay Quốc tế Nội Bài

Nhiệm vụ chính của ACB Hà Nội là cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngânhàng nhằm phục vụ tốt nhất, đáp ứng tốt nhất nhu cầu cho mọi đối tượng kháchhàng Đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của ngân hàng ACB cũng như

cả hệ thống ngân hàng Việt Nam Những sản phẩm dịch vụ chính mà ACB Hà Nộicung cấp bao gồm:

 Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại

 Kinh doanh ngoại tệ và vàng

 Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ

Bên cạnh đó ACB còn là nơi đặt chi nhánh của Công ty cổ phần địa ốc ACB(công ty liên kết với ngân hàng ACB) hoạt động trong lĩnh vực bất động sản

Trang 25

1.2 Cơ cấu tổ chức của ACB Hà Nội

Cơ cấu tổ chức của ACB Hà Nội gồm 01 giám đốc, 02 phó giám đốc và cáckhối, phòng ban: Phòng tổ chức hành chính, Phòng kế toán, Bộ phận pháp lý chứng

từ, Bộ phận thẻ, Bộ phận thẩm định tài sản, Tổ xử lý nợ, Phòng khách hàng doanhnghiệp và Phòng khách hàng cá nhân

Giám đốc phụ trách các công việc chung của ngân hàng 01 phó giám đốc phụtrách và chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng 01 phó giám đốc phụ trách về hoạtđộng thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ

 Lập kế hoạch và tổ chức tuyển dụng nhân sự theo yêu cầu hoạt động củachi nhánh Thực hiện chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm của cán bộ nhânviên, quản lý lao động, ngày công lao động, việc thực hiện nội quy của cơquan

 Làm công tác cơ yếu, văn thư, hành chính, lưu trữ, in ấn, điện thoại,telex/fax, liên lạc, tống đạt văn thư phục vụ cho hoạt động của ngân hàng

 Trang bị, sửa chữa và bảo quản tài sản, kho tàng, nhà cửa, vật tư kỹ thuật,thiết bị máy móc và phương tiện làm việc cho ngân hàng

 Lập dự toán và thực hiện dự toán chi tiêu hành chính của chi nhánh

 Làm công tác lễ tân

 Làm công tác lao vụ

 Làm công tác y tế, bảo hiểm

 Bảo quản và sử dụng xe công tác

 Làm công tác tổ chức cán bộ

 Làm công tác thanh tra

Trang 26

 Thực hiện tốt mọi quan hệ tài khoản với khách hàng, đảm bảo nhanh, chínhxác nhằm tăng cường sự tín nhiệm của khách hàng đối với chi nhánh Tổchức thực hiện tốt các nghiệp vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng(các đơn vị kinh tế và cá nhân trong nước và nước ngoài) có quan hệ tàikhoản với ngân hàng ACB.

 Hằng năm phải hoàn thành công tác quyết toán thường niên đúng thời hạn,

rõ ràng, chính xác để trình hội đồng quản trị phê duyệt Trích lập các quỹ

và giám sát việc chấp hành chế độ tài chính nghiêm túc trong chi nhánh

 Tổ chức việc bảo quản và lưu trữ các tài liệu về kế toán, thống kê hạch toántheo chế độ

 Hằng năm căn cứ vào việc thực hiện các kế hoạch, cho vay, thu nợ, tính lỗlãi để tiến hành phân tích tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh nhằmtham mưu cho ban lãnh đạo định ra công tác chỉ đạo các mặt nghiệp vụ chonăm tiếp sau

- Kiều hối Western Union

Phòng khách hàng cá nhân được chuyên môn hóa để thực hiện các nghiệp vụcho các khách hàng lẻ, các hộ gia đình Cũng như ngân hàng ACB, chi nhánh ACB

Trang 27

Hà Nội cung cấp một danh sách các dịch vụ đa dạng để đáp ứng nhu cầu của đôngđảo người dân Các nghiệp vụ chính được thực hiện là:

 Tiền gửi thanh toán bằng VND và ngoại tệ

 Sản phẩm thẻ, bao gồm: Thẻ tín dụng nội địa và quốc tế, Thẻ thanh toán vàrút tiền nội địa và toàn cầu

 Quyền chọn mua bán vàng, quyền chọn mua bán ngoại tệ

 Tiền gửi tiết kiệm bằng VND, ngoại tệ và vàng

 Dịch vụ chuyển tiền, nhận tiền từ nước ngoài và gửi đi nước ngoài Trong

đó dịch vụ chuyển nhanh Western Union có thể coi là thế mạnh của ACBnói chung và ACB Hà Nội nói riêng, với hơn 422 đại lý trên toàn thế giới

 Sản phẩm cho vay Đây là một trong những dịch vụ rất phong phú mà ACB

Hà Nội cung cấp cho khách hàng, các loại hình cho vay tiêu biểu có thể kểđến là: Cho vay trả góp mua nhà hoặc sửa chữa xây dựng nhà, Cho vayhoán đổi nhà, Cho Việt kiều vay mua nhà ở Việt Nam, Cho vay trả góp sinhhoạt tiêu dùng, Cho vay trả góp sản xuất kinh doanh, Cho vay du học, Chovay thẻ tín dụng, Cho vay cầm cố cổ phiếu, …

 Các dịch vụ khác như: Giữ hộ vàng, Thu đổi ngoại tệ, Trung gian mua bánbất động sản, Dịch vụ du học, Bankdraft đa ngoại tệ

1.2.4 Phòng khách hàng doanh nghiệp

Khách hàng doanh nghiệp là mảng mang lại nguồn thu nhập cao cho ACB HàNội Chính vì vậy, Phòng khách hàng doanh nghiệp được phân ra làm nhiều tổchuyên trách, bao gồm: Quầy giao dịch, Tổ dịch vụ khách hàng, Tổ thanh toánquốc tế và Tổ tín dụng khách hàng doanh nghiệp

Quầy giao dịch là nơi trực tiếp diễn ra các hoạt động cấp vốn cho doanhnghiệp vay và nhận, thanh toán ngoại tệ thay cho khách hàng, căn cứ trên những hồ

sơ pháp lý đã được thẩm định

Tổ dịch vụ khách hàng (gồm hai bộ phận là CSR và Loan CSR) là nơi kháchhàng có thể nhận được sự tư vấn tận tình, hiểu rõ được các nghiệp vụ ngân hàng,lựa chọn được cho mình một loại hình dịch vụ phù hợp

Trang 28

Tổ thanh toán quốc tế có những nhiệm vụ cụ thể sau:

 Nghiên cứu, tham gia với các đơn vị xuất nhập khẩu để áp dụng phươngthức thanh toán có lợi nhất đối với hàng xuất nhập khẩu, đảm bảo an toàntiền và hàng

 Thực hiện các nghiệp vụ cụ thể về thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu vàcác khoản liên quan đến hàng hóa đó với nước ngoài

 Hướng dẫn và phối hợp chặt chẽ với các đơn vị xuất nhập khẩu lập cácchứng từ thanh toán chính xác, nhanh chóng kịp thời để tránh những sai sót,

sơ hở trong khâu lập chứng từ thanh toán dẫn đến không thu được hoặc thuchậm tiền hàng xuất khẩu

 Tổ chức các đại diện thanh toán ở những nơi cần thiết tại bến cảng để phốihợp với các đơn vị giao hàng xuất khẩu lập, kiểm tra, kiểm soát chứng từ

để bảo đảm khâu luân chuyển chứng từ, thanh toán thu tiền hàng xuất khẩukịp thời

 Lập hồ sơ các ngân hàng và thương nhân nước ngoài liên quan đến cácnghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu để nhận xét, đánh giá, xếp loại, gópphần với các đơn vị xuất nhập khẩu trong quan hệ giao dịch đối ngoại đượctốt

 Lập và báo cáo thống kê định kỳ tình hình thanh toán xuất nhập hàngtháng, quý, năm

 Theo dõi tình hình tài chính, tiền tệ quốc tế và nghiên cứu pháp chế quốc tế

về các chính sách tài chính, tín dụng, thanh toán đối ngoại của từng nước vàcủa các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế Đồng thời nghiên cứu pháp chếđối ngoại của nhà nước, của bộ ngoại giao và Ngân hàng Nhà nước để xâydựng các mối quan hệ tiền tệ, tín dụng và thanh toán với các ngân hàng, các

tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài Đề xuất chủ trương, chính sách vàcác biện pháp để sử dụng các hình thức tín dụng và thanh toán cá lợi choviệc phát triển quan hệ hợp tác quốc tế giữa ACB với nước ngoài

Trang 29

 Nghiên cứu và tiến hành các thủ tục xây dựng mạng lưới ngân hàng đại lý ởnước ngoài của ngân hàng ACB và theo dõi mối quan hệ với các ngân hàngđại lý và ngân hàng giao dịch của ngân hàng ACB, đồng thời tiến hành giaodịch, trao đổi tài liệu, tin tức, thăm hỏi… với các tổ chức và cá nhân nướcngoài có quan hệ với ngân hàng.

 Nghiên cứu, xây dựng, trao đổi các quy ước mật mã, khóa điện và bảo quản

sử dụng trong quan hệ giao dịch điện giữa ngân hàng ACB với ngân hàngđại lý và khách hàng nước ngoài có quan hệ khóa điện với ngân hàng ACB

 Dịch thuật các tài liệu phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu và thông dịch cácbuổi tiếp khách, đàm phán của lãnh đạo ngân hàng ACB với khách nướcngoài

Tổ tín dụng doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng trong nghiệp vụ sử dụngvốn mang lại hiệu quả, mang lại nguồn thu chính cho chi nhánh ACB Hà Nội Cácnghiệp vụ chuyên trách của tổ bao gồm:

 Nghiên cứu, lập các kế hoạch tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đểtìm nguồn vốn cân đối, thông qua giám đốc phê duyệt, tổ chức thực hiện

 Nghiên cứu các hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp để trình giám đốc phêduyệt, tổ chức thực hiện

 Nghiên cứu các yêu cầu bảo lãnh vay nợ nước ngoài, vay nợ trong nước đểtrình giám đốc phê duyệt và thực hiện

 Nghiên cứu các hồ sơ kinh tế của các đơn vị, tổ chức kinh tế có quan hệ tíndụng với chi nhánh ACB Hà Nội để theo dõi tình hình hoạt động, năng lựctài chính, khả năng thực hiện kế hoạch… để đảm bảo vốn cho vay được sửdụng đúng mục đích, có hiệu quả, đảm bảo trả được nợ vay

 Báo cáo thống kê và phân tích hiệu quả kinh tế của nghiệp vụ tín dụng tạichi nhánh ACB Hà Nội

1.2.5 Bộ phận thẻ Bộ phận pháp lý chứng từ Bộ phận thẩm định tài sản

-Tổ xử lý nợ.

Ngày đăng: 29/03/2013, 15:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình tăng trưởng của ACB Hà Nội giai đoạn 2003 - 2005 - 610 Mở rộng tín dụng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Bảng 1 Tình hình tăng trưởng của ACB Hà Nội giai đoạn 2003 - 2005 (Trang 30)
Bảng 2: Doanh số cho vay của ACB Hà Nội bằng VND   phân theo đối tượng cho vay giai đoạn 2003 – 2005 - 610 Mở rộng tín dụng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Bảng 2 Doanh số cho vay của ACB Hà Nội bằng VND phân theo đối tượng cho vay giai đoạn 2003 – 2005 (Trang 38)
Bảng 4: Doanh số cho vay doanh nghiệp giai đoạn 2003 - 2005 - 610 Mở rộng tín dụng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Bảng 4 Doanh số cho vay doanh nghiệp giai đoạn 2003 - 2005 (Trang 39)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w