608 Giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Trang 1Đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại
Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
HÀ NỘI, Tháng 02 - 2009
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 6
1.1 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHO THUÊ TÀI CHÍNH 6
.1.1 Lịch sử hình thành của hoạt động cho thuê tài chính 6
1.1.2 Chu kỳ phát triển của ngành công nghiệp cho thuê tài chính 8
1.2 HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH HIỆN NAY 10
1.2.1 Các khái niệm cơ bản: 10
1.2.2 Đặc thù của hoạt động CTTC 15
1.2.3 Các hình thức CTTC hiện nay 19
1.2.4. Vai trò của CTTC 27
1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 34
CHƯƠNG II 42
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 42
2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH (CTTC) Ở VIỆT NAM 42
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của hoạt động CTTC ở Việt Nam 42
2.1.2 Hành lang pháp lý của hoạt động CTTC ở Việt Nam 44
2.1.3 Các công ty CTTC hiện nay ở Việt Nam 48
2.2 KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CTTC NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 51
2.2.1 Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức của công ty CTTC NH Ngoại thương 51 2.2.2 Các hoạt động của Công ty bao gồm: 55
2.2.3 Quy trình thực hiện một giao dịch CTTC tại công ty CTTC ngân hàng Ngoại thương Việt nam 56
2.3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CTTC CỦA CÔNG TY CTTC NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 59
2.3.1 Đặc điểm và thực trạng hoạt động của công ty CTTC Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam 59
2.3.2 Phân tích thực trạng 62
Bảng 1: Kế hoạch kinh doanh năm 2008 62
Bảng 2: Kết quả kinh doanh năm 2008 63
Bảng 3: Phân loại nợ tại Hội sở chính và Chi nhánh Hồ Chí Minh 63
2.4 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CTTC CỦA CÔNG TY CTTC NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 64
2.4.1 Về dư nợ cho thuê tài chính 64
2.4.2 2.4.2 Về tỉ lệ nợ xấu 65
2.4.3. Về kết quả kinh doanh: 66
2.4.4. Hiệu quả nguồn nhân lực: 66
2.4.5. Về nguồn vốn: 67
2.4.6. Biên độ chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào: 67
Trang 32.4.7 Các hệ số an toàn theo quy định của NHNN 67
Những hạn chế và nguyên nhân 68
1 Những hạn chế còn tồn tại 68
2 Nguyên nhân khách quan 69
3 Nguyên nhân chủ quan 71
CHƯƠNG III 73
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 73
1 Mục tiêu phương hướng cho năm 2009 73
2 Những thuận lợi cho mục tiêu 74
3 Khó khăn để thực hiện mục tiêu 74
4 Nhiệm vụ và giải pháp 75
1 Phát triển khách hàng, tăng trưởng dư nợ: 75
2 Xử lí nợ xấu: 75
3 Hoàn thiện hệ thống văn bản, quy trình quy chế: 76
4 Ngoài ra, Công ty cần thực hiện một số giải pháp khác như 77
5 Kiến nghị với Ngân hàng ngoại thương Việt nam 77
6 Kiến nghị với Bộ công an 78
KẾT LUẬN 79
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay, thế giới nói chung cũng như ViệtNam nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn Nhất là việc gia nhập WTO vào năm 2006của Việt Nam,khiến tình hình cạnh tranh giữa các công ty với nhau là hết sức khốc liệt
Để có thể tồn tại và đứng vững trên cái thị trường mở này,các công ty phải không ngừngđổi mới công nghệ,đổi mới phương thức kinh doanh trong đó đổi mới công nghệ,thiết bịmáy móc là yếu tố quan trọng nhất bởi nó quyết định tới chất lượng sản phẩm nóiriêng,và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doang nói chung
Thực tế cho thấy, việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị ở các doanh nghiệpsản xuất là một đòi hỏi bức thiết trong bối cảnh hội nhập để nâng cao chất lượng sảnphẩm cũng như năng suất lao động, giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.Phần lớn các trang thiết bị của nhiều doanh nghiệp đã lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với cácnước tiên tiến Song muôn thuở nan giải vẫn là câu hỏi: lấy vốn ở đâu? Hiện nay lượngvốn dài hạn đầu tư cho các dự án này ở các doanh nghiệp Việt nam là hết sức khiêm tốn.Kênh tài trợ quen thuộc vẫn là đi vay ở các ngân hàng thương mại.Tuy nhiên, đối với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới ra đời không có đủ tài sản đảm bảo cũngnhư uy tín thì việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng quả là khó khăn Ngoài ra, pháthành cổ phiếu, trái phiếu cũng là một kênh dẫn vốn nhưng chưa hiệu quả ở nước ta cũng
do các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số.Trong những trường hợp như vậy, đi thuêtài chính là một giải pháp tối ưu, kịp thời và đúng đắn góp phần tháo gỡ khó khăn vềnguồn tài trợ cho các doanh nghiệp
Phần trên hơi dài quá Em cần chú y về chính tả và ngữ pháp: sau dấu chấm vàdấu phẩy phải cách ra, sau trạng từ hoặc các linking word phải có dấu phẩy
Hoạt động cho thuê tài chính ở các nước phát triển trên thế giới đã trở thành mộtkênh dẫn vốn không thể thay thế, cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho các doanhnghiệp thúc đẩy sự tăng trưởng đầu tư của các quốc gia đó Còn ở Việt Nam,hoạt độngcho thuê tài chính đi vào hoạt động được hơn chục năm đã có những tác động tích cựcnhưng vẫn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập do tính đặc thù của loại hình tín dụng này
Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt nam được thành lập từnăm 1998 Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động, Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng
Trang 5Ngoại thương Việt nam đã thực hiện được nhiều giao dịch cho thuê tài chính và đạt đượcnhững thành tựu nhất định, tuy nhiên Công ty vẫn gặp nhiều vướng mắc trong hoạt độngcho thuê hiện nay Khó khăn thế nào, cần cụ thể ra Vì thế, việc nghiên cứu hoạt động chothuê tài chính nói chung và áp dụng nó vào Việt nam như thế nào cho có hiệu quả, tìm ranguyên nhân của những hạn chế và các giải pháp khắc phục, là những vấn đề rất cần thiết
và đáng quan tâm
lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt nam”
Kết cấu đề tài gồm ba chương:
Chương I : Tổng quan về hoạt động cho thuê tài chính.
Chương II: Thực trạng hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHO THUÊ TÀI CHÍNH.
.1.1 Lịch sử hình thành của hoạt động cho thuê tài chính
Người đàn ông dầu hoả J.Paul Getty, tỷ phú đầu tiên trên thế giới, đã phát biểu "Mua làmtăng giá trị, cho thuê làm giảm giá trị" Ngày nay, hơn 30% trong số những trang thiết bịđược sử dụng ở Hoa Kỳ đều dưới dạng hợp đồng cho thuê Đây là hình thức hữu hiệunhất để gia tăng mở rộng nguồn tài chính trong cả nước Hơn 80% các công ty- từ nhỏmới thành lập cho đến những công ty lớn trong danh sánh Forture 500- đã thuê từ vài haytất cả các thiết bị với tổng số giá trị hợp đồng thuê ban đầu gần $300 tỷ mỗi năm
Thời Đại Hy Lạp Và Babylonia Cổ Đại
Trong chương 1 nếu các phần em tham khảo ở tài liệu nào, thì cần ghi rõ tên tác giả, tênsách, năm xuất bản, để tránh trường hợp trùng với các bạn khác, nếu trùng, có có bằngchứng là em tham khảo ở tài liệu nào Tuy nhiên, tham khảo trong tài liệu, em cũng phảitóm lược lại, đừng chép y nguyên
Những hình thức cho thuê sớm nhất đã được phát hiện khoảng 5,000 năm Lịch sử ghinhận sự có mặt của một công ty cho thuê vào khoảng năm 1800 trước công nguyên ởBabylonia Nếu một nhân viên hay một người lính không muốn trồng trọt trên đất đai mà
họ được cấp sau khi phục vụ cho chế độ quân chủ, anh ta sẽ cho công ty đó thuê lại, đó làchuyên gia cho thuê Công ty đã chi trả tiền thuê cho người lính trước và sau đó chonhững người nông dân thuê lại mảnh đất đó
Người Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên phát triển việc cho thuê hầm mỏ Nhiềuloại hầm mỏ có kích cỡ khác nhau ở Athens thì thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và nó
sẽ được cho thuê lại thông qua một đặc quyền cho các công ty khai thác mỏ từ 3 đến 7năm Người Hy Lạp cổ đại cũng đi tiên phong tạo ra khái niệm ngân hàng cho thuê Tàisản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng cho thuê đầu tiên được ký kết vào năm 370 trước
Trang 7công nguyên trong đó bao gồm tên ngân hàng, tiền ký quỹ, các văn phòng và đội ngũnhân viên.
Vương Quốc Anh
Một trong những đạo luật đầu tiên liên quan đến lĩnh vực cho thuê ở Vương Quốc Anh làĐạo Luật Wales được ban hành vào năm 1284 Đạo Luật đã dựa trên những luật lệ đấtđai hiện hành để làm khuôn khổ hợp pháp cho việc cho thuê bất động sản cũng như choviệc cho thuê các dụng cụ trong ngành nông nghiệp Những chuyến hàng hoá của ngànhđường sắt vào những thập niên 19 cho thấy rằng những doanh nghiệp nhỏ đã đầu tưnguồn vốn của họ vào các chuyến xe goòng chở than đá và sau đó lại cho những công tyhầm mỏ thuê mướn lại Các hợp đồng cho thuê thông thường cho người đi thuê có quyềnđược mua lại các dụng cụ đó khi mãn hạn hợp đồng
Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ
Những dạng hợp đồng cho thuê tài chính tạm thời bắt nguồn từ Hoa Kỳ Công ty cho thuêđầu tiên ở Hoa Kỳ do Henry Shoeld sáng lập vào năm 1952 Công ty được thành lập đểphục vụ cho ngành công nghiệp vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt Các nước Châu âu
đã nối gót thành lập những công ty cho thuê vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên1960
Cải tiến công nghệ là nguyên nhân khiến các Doanh nghiệp phải nâng cấp nguồn vốn của
họ thường xuyên hơn Thuê tài chính đã giúp các Doanh nghiệp có được tài sản trongđiều kiện có lợi hơn là việc mua hoàn toàn trang thiết bị Mức thuế môi trường rộnglượng vào những năm 1950 phối hợp với nhiều mức thuế ưu đãi đã có tác động mạnh mẽđến số lượng các hợp đồng cho thuê được ký kết trên phạm vi toàn cầu
Những Thị Trường Mới Nổi
Các quốc gia ở Châu á, Nam Mỹ và Châu phi đã không đi theo đường lối hình thành cáccông ty cho thuê mãi cho đến thập niên 1970 và 1980 Các tiểu bang trước đây của Liên
Trang 8Đoàn Sô Viết, bao gồm cả Nga, đã bắt đầu hình thành các công ty cho thuê sau khi ChủNghĩa Cộng Sản bị sụp đỗ vào những năm đầu của thập niên 1990.
Hướng Tới Tương Lai
Aristotle đã từng phát biểu rằng "Sự giàu có thật sự không dựa trên quyền được sở hữutài sản mà dựa trên quyền được sử dụng chúng" Một Doanh Nghiệp không phải sở hữutài sản của chính mình để tạo ra lợi nhuận Mà thông thường đó chỉ là có đủ quyền sửdụng tài sản này trong một giai đoạn nhất định nào đó
Các chuyên gia của Ngân Hàng Thương Mại & Cho Thuê Tài Chính Cardiff (Hoa Kỳ)nói:“Chúng tôi cho rằng việc thuê tài chính mang lại lợi ích cho tất cả các bên có liênquan trong niên kỷ tương lai Cơ chế cho thuê tài chính hướng tới việc đầu tư vào cácnguồn tài sản mà cho phép Doanh nghiệp đi vào hoạt động nhanh chóng và sản sinh ramức lợi nhuận hợp lý để bù đắp chi phí thuê mướn” Những công ty như Ngân hàngCardiff khẳng định vị trí độc nhất nhằm mục đích chi phối phạm vi hoạt động này Trongkhi ấy, các Ngân hàng theo thông lệ lại đầu tư nguồn vốn của họ vào những người đi vaynhững người có những quyết định mà họ không thể chi phối và kiểm soát được một cách
dễ dàng
1.1.2 Chu kỳ phát triển của ngành công nghiệp cho thuê tài chính.
Mặc dù ngành công nghiệp cho thuê tài chính trong mỗi quốc gia phát triển theo tuỳtheo tốc độ tăng trưởng của quốc gia đó, nhưng tất cả đều theo khuynh hướng của mộtchu kỳ tiến triển chắc chắn Chu kỳ cho thuê tài chính này được minh hoạ ở sơ đồ dướiđây Sự liên quan mật thiết giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sẽ giúp nhữngngười cho thuê hiểu rõ hơn về môi trường cạnh tranh mà họ đang phải đối mặt một khi đãhội nhập vào thị trường quốc tế
Trang 9Số sơ đồ: Sơ đồ chu kỳ phát triển của hoạt động Cho thuê tài chính Nguồn tham khảo, đặt cuối sơ đồ
Trang 101.2 HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH HIỆN NAY.
1.2.1 Các khái niệm cơ bản:
I Khái niệm cho thuê tài chính (CTTC) và những thuật ngữ liên quan.
a Cho thuê tài chính
Chúng ta biết rằng khi doanh nghiệp cần mua sắm trang thiết bị sản xuất có thể sử dụng hình thức thuê tài sản Nếu hợp đồng thuê tài sản gần như kéo dài suốt vòng đời hữu ích của nó và không thể hủy ngang hoặc chỉ được hủy ngang khi doanh nghiệp đãbồi thường thỏa đáng cho bên cho thuê thì gọi là thuê tài chính Ngược lại, thuê tài sản trong thời gian ngắn, và có thể hủy ngang tùy theo ý muốn chủ quan của doanh nghiệp đi thuê gọi là thuê hoạt động (thuê thông thường)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam (luật hay nghị định nào?????) thì một giaodịch được gọi là thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện:
o Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyểnquyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuậncủa hai bên
o Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưutiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế củatài sản thuê tại thời điểm mua lại;
o Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cầnthiết để khấu hao tài sản thuê;
o Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tàichính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm
ký hợp đồng
Trang 11Do đó cho thuê tài chính thực ra là một hình thức cấp tín dụng Khi một hợp đồngthuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một khoảnvốn Khoản vốn này có được do doanh nghiệp không phải bỏ tiền ra mua tài sản màvẫn có tài sản sử dụng lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vì đáng lẽ ra, cóthể doanh nghiệp đã phải đi vay một số vốn tương đương giá trị tài sản trong hợpđồng thuê trả cho công ty cho thuê tài chính bao gồm cả vốn gốc và lãi.
b Bên cho thuê:
Bên cho thuê là người nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản cho thuê, là các công ty cho thuê tài chính có tư cách pháp nhân, được cấp giấy phép hoạt động
c Bên thuê:
Bên thuê là người nắm quyền sử dụng tài sản thuê, là các cá nhân, các doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật, trực tiếp sử dụng tài sản thuê trong thời hạnthuê
d Tài sản thuê:
Tài sản thuê là động sản như máy móc, thiết bị Theo Khoản 3, Điều 7 Nghị định16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 thì tài sản thuê là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tiến tiến, có giá trị sử dụng hữu ích trên một năm được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu
e Thời hạn cho thuê:
Là thời gian bên thuê sử dụng tài sản thuê và trả tiền thuê, được bên cho thuê và bên thuê thoả thuận trong hợp đồng CTTC
Trang 12dự liệu trước trong hợp đồng.
Các tiêu chuẩn xác định một giao dịch là CTTC.
a Theo Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC)
Theo Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế, một giao dịch được gọi là CTTC phải thoảmãn ít nhất1 trong 4 tiêu chuẩn sau:
1) Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi kết thúc hợp đồng thuê
2) Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với giá tượng trưng tạithời điểm chấm dứt hợp đồng
3) Thời hạn hợp đồng chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản
4) Hiện giá của các khoản tiền thuê do người thuê trả tương đương hoặc lớnhơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng
b Theo Hội đồng tiêu chuẩn kế toán tài chính Mỹ (FASB)
Ở Mỹ, Hội đồng tiêu chuẩn kế toán tài chính (FASB) đã quy định 4 tiêu chuẩn nhưsau:
1) Quyền sở hữu của tài sản thuê được chuyển giao cho người đi thuê khichấm dứt hợp đồng thuê
2) Hợp đồng thuê cho phép người được thuê quyền lựa chọn mua tài sản thuêvới giá thấp hơn ở thời điểm nào đó hoặc đến khi chấm dứt thời hạn thuê
Trang 133) Thời hạn thuê bằng 75% hoặc cao hơn so với đời sống hoạt động ước tínhcủa tài sản thuê.
4) Hiện giá các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu là 90% hoặc hơn so vớigiá trị tài sản thuê
c Theo Nghị định số 95/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 16 được Chính phủ ban hành năm 2001 quy định về tổ chức và hoạt động củaCông ty cho thuê tài chính (CTCTTC)
Ở Việt nam, theo Điều 1 của Nghị định này, một giao dịch được gọi là CTTC phảithoả mãn một trong các điều kiện sau:
1) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyểnquyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo thoả thuận của haibên
2) Nội dung của hợp đồng cho thuê có qui định: khi kết thúc thời hạn thuê,bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấphơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại
3) Thời hạn thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời hạn cần thiết đểkhấu hao tài sản thuê
4) Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp đồng thuê, ít nhất phảitương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợpđồng
Như vậy, có thể khái quát các tiêu chuẩn quy định một giao dịch là CTTC của một sốquốc gia trên thế giới theo bảng sau:
Hạn chế sử dụng đại từ nhân xưng (em, chúng ta) trong chuyên đề, chỉ dùng chữ tôitrong mở đầu và kết luận nếu thực sự cần
Bảng 1.1:
Trang 14Bảng thống kê tiêu chuẩn để một giao dịch được gọi là CTTC của một số quốc
gia trên thế giới.
Nếu bảng này không do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo
Khôngbắtbuộc
Không bắtbuộc
Phần lớn Tài sản
≤ 10năm:
70%,Tài sản
>10năm:
60%
Tài sản > 5năm: 60%,Tài sản ≤5năm:
70%
Tài sản cóđời sống
Trang 15I Sự khác biệt của CTTC với hình thức tín dụng ngân hàng.
Thực chất, CTTC là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn nhưng so với hoạt độngtín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, CTTC vẫn mang những điểm khác biệt
- Trong giao dịch CTTC , bên cho thuê tài trợ cho doanh nghiệp bằng các tài sảnnhư máy móc, thiết bị, gọi chung là các động sản Còn trong tín dụng ngân hàng, ngânhàng sẽ tài trợ cho doanh nghiệp trực tiếp bằng tiền và doanh nghiệp sẽ sử dụng số tiền
đó để mua máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất của mình Như vậy, so với tíndụng ngân hàng, CTTC đảm bảo cho bên tài trợ là khoản tiền bỏ ra đã được sử dụng đúngmục đích
- Nghiệp vụ cho thuê tài chính thường có quan hệ nhiều bên: bên đi thuê, bên chothuê, nhà cung cấp, nhà bảo hiểm ngược lại tín dụng ngân hàng thì thường chỉ có quan hệsong phương giữa người đi vay và người cho vay
- Phí cho thuê đối với hoạt động CTTC thường cao hơn so với lãi suất cho vaytrung và dài hạn của ngân hàng do phí cho thuê được tính trên cơ sở lãi suất cho vaytrung và dài hạn cộng với chi phí phát sinh đối với tài sản và chi phí quản lý của công tyCTTC
- Hoạt động cho thuê tài chính (cho vay bằng hiện vật) thường gắn liền với quyền
sở hữu về tài sản, bên cho thuê nắm giữ giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và là người sởhữu tài sản Trong khi đó tín dụng ngân hàng (cho vay bằng tiền) thì chỉ thông qua hợp
Trang 16đồng tín dụng để nhận biết được là bên đi vay đã vay với số tiền là bao nhiêu Vì vậy khidoanh nghiệp đi vay bị phá sản thì bên cho thuê tài sản mặc nhiên thu hồi tài sản củamình Do đó, về lý thuyết, tín dụng thông qua hoạt động cho thuê tài chính có mức độ antoàn cao hơn tín dụng bằng tiền.
Như vậy, hoạt động CTTC có ưu điểm hơn so với tín dụng trung và dài hạn của ngânhàng Nó giúp cho các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốntrung và dài hạn, đồng thời nó có độ an toàn cao hơn xét trên phương diện nhà tài trợ
Bảng 1.2: Sự khác biệt giữa CTTC và Tín dụng ngân hàng
Nếu bảng này không do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo
Tiêu thức so sánh Cho thuê tài chính Tín dụng ngân hàng
- Quyền sở hữu Do bên cho thuê nắm giữ
cho đến khi quyền mua củabên thuê được thực hiện
Bên đi vay chiếm giữ ngay
từ đầu
II Sự khác biệt của CTTC với hình thức thuê mua trả góp.
Hình thức tín dụng thuê mua hay còn gọi là thuê mua trả góp chính là sự phát triểncủa hình thức tín dụng thương mại Sở dĩ có sự phát triển này là do trong những thập kỷgần đây thuê mua trả góp đã được các nhà chế tạo phát triển nó thành một hình thức tàitrợ vốn thông qua tài sản hiện vật và nó cũngđược các định chế tài chính, các nhà kinhdoanh cho thuê sử dụng như một hình thức tài trợ cho thuê
Tín dụng thuê mua trả góp là một hình thức mua trả góp tài sản trong một khoảngthời gian từ 1 tới 5 năm, được áp dụng đối với trường hợp người mua có thế chấp và cả
Trang 17không có thế chấp Nhưng trong hầu hết mọi giao dịch, tín dụng thuê mua trả góp là mộthình thức tài trợ vốn cho người thuê không có thế chấp.
Khi bên thuê có nhu cầu thuê mua tài sản theo hình thức này, họ sẽ thiết lập hợp đồngvới chủ tài sản Trong đó bên thuê thường phải trả ngay cho nhà tài trợ một khoản tiền từ25% đến 30% giá trị của tài sản, phần còn lại bên thuê sẽ phải trả góp làm nhiều lần, mỗilần trả một phần giá trị của tài sản cùng tiền lãi Đến khi kết thúc hợp đồng bên thuê sẽđược chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ người cho thuê
Bảng 1.3: Phân biệt CTTC và Thuê mua trả góp Nếu bảng này không do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo
1 Bên cho thuê Công ty Cho thuê tài chính Nhà cung cấp hoặc Công ty cho
4 Giá trị còn lại Có thể chuyển giao cho người
thuê khi hết hạn hợp đồng
Chuyển giao cho người thuê khihết hạn hợp đồng
5 Quyền sở hữu Quyền sở hữu thuộc về bên cho
thuê và có thể được chuyển giaocho bên thuê khi kết thúc hợpđồng
Chuyển giao cho bên thuê vàothời điểm kết thức hợp đồng
III Sự khác biệt giữa CTTC và Cho thuê vận hành.
Trang 18Như đã đề cập ở phần 1.3 về chu kỳ phát triển của CTTC đã đề cập, cho thuê vậnhành là giai đoạn phát triển hơn so với CTTC Giống như CTTC, cho thuê vận hànhcũng là một hình thức tài trợ máy móc thiết bị mà không cần bên mua phải bỏ ra toàn
bộ số tiền ngay lập tức Tuy nhiên, cho thuê vận hành có một số nét khác biệt so với
Bảng 1.4: Phân biệt CTTC và Cho thuê vận hành Nếu bảng này không
do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo
1.Thời hạn thuê.
Thường dài hơn một nửa cho đến bằng đời
sống hữu ích của tài sản
Rất ngắn so với đời sống hữu ích của tàisản
2.Quyền huỷ ngang hợp đồng.
- Không được quyền huỷ ngang hợp đồng - Được quyền huỷ ngang hợp đồng
3.Mức thu hồi vốn của một hợp đồng.
- Thông thường mức vốn gốc được thu hồi
gần bằng với giá trị tài sản (tổng số tiền tài
trợ), đặc biệt đối với cho thuê động sản
- Mức vốn được thu hồi nhỏ hơn rất nhiều
so với giá trị tài sản
4.Trách nhiệm bảo dưỡng, bảo hiểm và
đóng thuế tài sản.
- Người thuê chịu mọi chi phí vận hành,
bảo dưỡng, phí bảo hiểm và đóng thuế tài
sản
- Người cho thuê chịu mọi chi phí bảodưỡng, đóng bảo hiểm và thuế tài sản
Trang 195.Cung ứng tài sản thuê.
- Tài sản cho thuê thường do người thuê
đặt hàng, giao nhận và sử dụng
- Tài sản thuê thường do người cho thuêcung cấp
6.Chuyển quyền sở hữu hoặc bán tài sản.
- Trong hợp đồng có quy định chuyển
quyền sở hữu tài sản hoặc bán lại tài sản
vụ trong tương lai
1.2.3 Các hình thức CTTC hiện nay Mỗi hình thức phân loại, cần ghi rõ tài liệu
nào phân loại như vậy Tất cả các sơ đồ dưới đây, nếu không do em tự tập hợp, thì phải ghi rõ nguồn tài liệu tham khảo
I Phân loại CTTC dưới phương diện người cho thuê.
A CTTC hai bên (Two-party Lease).
Là loại hợp đồng CTTC trong đó người cho thuê sử dụng thiết bị của họ có sẵn tài trợcho bên thuê
Người cho thuê thường là các nhà sản xuất hoặc các công ty cho thuê, sử dụng tài sản của họ để tài trợ cho người thuê Hình thức tài trợ này có đặc điểm cơ bản sau:
o Hàng hoá cho thuê thường là những tài sản có giá trị không quá lớn thường
là máy móc, thiết bị
Trang 20o Chỉ có hai bên tham gia trực tiếp vào giao dịch: Bên cho thuê và bên đi thuê.
o Vốn tài trợ hoàn toàn do bên cho thuê đảm nhận
o Người cho thuê có thể mua lại máy móc, thiết bị khi chúng đã lạc hậu.Phương thức tài trợ này có sự tham gia của hai bên được thực hiện như sau:
Trang 21Sơ đồ 1.1: CTTC có sự tham gia của hai bên.
Đây là một hình thức tài trợ mà các nhà sản xuất thường sử dụng để đẩy mạnhviệc tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra Mặt khác, nhờ luôn luôn cập nhật những côngnghệ mới để chế tạo các loại máy móc, thiết bị nên các nhà sản xuất có thể sẵn sàng mualại những thiết bị đã lạc hậu về mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy móc mới,hiện đại do họ chế tạo ra
B CTTC ba bên (Third-party Lease).
Là loại hợp đồng CTTC ghi rõ nhà cung cấp, đó là người mà bên cho thuê ký hợpđồng mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê để tài trợ cho họ Đây là hình thức được phổbiến ở các nước có thị trường cho thuê chưa phát triển
Phương thức tài trợ này có sự tham gia của ba bên, bao gồm: Bên cho thuê, bên thuê
Trả tiền thuê và dịch vụ
phụ tùng
Bán lại các thiết bị lạc hậu
Bên thuê (Lessee)
Trang 22Sơ đồ 1.2: CTTC có sự tham gia của ba bên
3 5
1 Bên cho thuê và bên thuê ký hợp đồng CTTC
2 Bên CTTC và nhà cung cấp ký hợp đồng mua tài sản
3 Nhà cung cấp và bên thuê ký hợp đồng bảo hành, bảo dưỡng (có thể bên chothuê ký với nhà cung cấp về việc bảo hành và bảo dưỡng cho bên thuê)
4 Nhà cung cấp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho bên cho thuê
5 Nhà cung cấp chuyển giao tài sản cho bên thuê
6 Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản
7 Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho bên thuê
8 Bên thuê thanh toán tiền thuê định kỳ cho bên cho thuê
Phương thức tài trợ có sự tham gia của ba bên còn gọi là phương thức thuê mua thuần(net lease) là phương thức được áp dụng phổ biến nhất hiện nay, đặc biệt là ở các nướcđang phát triển Trên thế giới, 80% hợp đồng CTTC áp dụng theo phương thức này
C CTTC liên kết (Syndicate Lease)
Đây là phương thức cho thuê gồm nhiều bên tài trợ cho một người thuê Sự liên kếtnày có thể xảy ra theo chiều ngang hoặc chiều dọc tuỳ theo tính chất của loại tài sản haykhả năng tài chính của các nhà tài trợ Trong trường hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều địnhchế tài chính hay các nhà chế tạo cùng nhau hợp tác để tài trợ cho người thuê tạo thành sựliên kết theo chiều ngang Còn đối với trường hợp các đinh chế tài chính hay các nhà chế
Bên cho thuê (Lessor)
Bên thuê (Lessee) Nhà cung cấp
(Supplier)
Trang 23tạo lớn giao tài sản cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hành thìhình thành sự liên kết theo chiều dọc.
Các bước và đặc điểm trong giao dịch với bên thuê của hình thức này không khác biệtlớn so với phương thức cho thuê điển hình
1.Có thể có sự liên kết giữa các định chế
tài chính và các nhà sản xuất hay các công
ty mẹ và các chi nhánh
1.Là một doanh nghiệp nhận tài sản thuê
2.Đối tượng cho thuê là những loại tài sản
có giá trị lớn
2.Thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê,bảo quản tài sản, chịu rủi ro, mua bảohiểm như trong phương thức cho thuêthuần
3.Các công ty con chuyên doanh cho thuê
có trình độ chuyên môn cao, chuyên sâu
vào từng lĩnh vực công nghiệp hay loại
thiết bị cụ thể
4.Các đặc điểm khác tương tự phương thức
cho thuê thuần
D CTTC bắc cầu (Leveraged Lease).
Xuất phát từ tình hình thực tế nhiều Công ty cho thuê tài chính không đủ vốn để tàitrợ cho những dự án lớn hoặc Công ty đã sử dụng hết nguồn vốn của mình Từ đó hìnhthức cho thuê tài chính bắc cầu được ra đời Theo thể thức này, bên cho thuê đi vay đểmua tài sản cho thuê - từ một hay nhiều người cho vay nào đó Vật thế chấp cho khoảnvay này là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền thuê mà bên thuê sẽ thanhtoán trong tương lai Người cho vay được hoàn trả tiền đã cho vay từ các khoản tiền thuê.Sau khi trả hết món nợ vay, những khoản tiền thuê còn lại người cho thuê sẽ được hưởng
Trang 24Một giao dịch được gọi là CTTC bắc cầu được minh hoạ theo sơ đồ sau.
Sơ đồ 1.3: CTTC bắc cầu.
Phương thức tài trợ này thường được sử dụng trong các giao dịch cho thuê đòi hỏimột lượng vốn đâù tư lớn, chẳng hạn cho thuê máy bay thương mại, tàu chở hàng haymột tổ hợp chuyên ngành lớn Hình thức cho thuê này đem lại lợi nhuận và mở rộng khảnăng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của Công ty CTTC
E CTTC môi giới (Broker Lease).
Đây là hình thức cho thuê chỉ được áp dụng ở những nước mà công nghệ cho thuê đãphát triển rất mạnh Theo phương thức tài trợ này, những nhà môi giới cho thuê có thểtìm kiếm những người có nhu cầu thuê, thoả thuận với nhà cung cấp (hoặc những nhà sảnxuất), bảo đảm những khoản nợ tài trợ cho người cho thuê để sử dụng trong việc mua cácthiết bị cho thuê và xác định người cho thuê cuối cùng trong giao dịch cho thuê Nhữngnhà môi giới cho thuê điển hình không sở hữu tài sản hay nắm giữ các giao dịch cho thuê
Bên thuê (Lessee)
Bên cho thuê (Lessor)
Bên cho vay (Lender)
Tiền trả nợ
Tiền cho vay
Tài sản Tiền thuê
Trang 25trong tài khoản của chính họ Những nhà môi giới cung cấp một hoặc rất nhiều dịch vụ,dựa trên yêu cầu được đưa ra trong các giao dịch CTTC.
Sơ đồ 1.4: CTTC môi giới (CTTC trọn gói - Pakaged Lease)
Nhà cung
cấp (Supplier)
Nhà môi giới cho thuê (Lease broker)
Quỹ tài trợ (Funding)
Bên cho thuê cuối cùng (Ultimate lessor) Bên thuê
(lessee)
Trang 26Hiện nay, hình thức cho thuê môi giới này được áp dụng ở một số nền kinh tế rất pháttriển như Mỹ, Nhật và một số nước châu Âu Phương thức CTTC môi giới thể hiện trình
độ chuyên môn hoá cao trong ngành công nghiệp cho thuê
II Phân loại theo CTTC dưới phương diện người đi thuê.
A Bán và tái thuê (Lease-back).
Trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp nhất là các doanhnghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn về vốn lưu động Vay vốn đòi hỏi nhiều thủ tục,điều kiện mà các doanh nghiệp khó có thể thoả mãn Đồng thời, trong điều kiện doanhnghiệp có nhu cầu phải duy trì năng lực sản xuất nên không thể bán bớt tài sản cố định đểchuyển thành tài sản lưu động Trong bối cảnh đó hình thức “bán và tái thuê” đã được rađời để đáp ứng nhu cầu này
Bán và tái thuê là một thoả thuận tài trợ tín dụng mà công ty A (bên thuê) bán một tàisản của chính họ cho công ty B (bên cho thuê) Đồng thời ngay lúc đó một hợp đồng chothuê tài chính được thảo ra với nội dung công ty B đồng ý cho công ty A thuê lại chínhtài sản mà họ vừa bán Như vậy, ưu điểm của hình thức này là giải quyết nhu cầu vốn lưuđộng cho các doanh nghiệp
Sơ đồ 1.5: Giao dịch bán và tái thuê.
Trang 27Những tiện ích của dịch vụ này là ngoài mục đích giải quyết nhu cầu vốn lưu động,những công ty muốn tạo ra lợi nhuận ghi sổ hay lợi nhuận tính thuế với điều kiện giá bántài sản phải cao hơn phần khấu hao còn lại trong sổ sách Hình thức này có sức cạnh tranhrất cao tại Hoa kỳ, đặc biệt trong ngành kinh doanh bất động sản Ở Việt nam hiện nay,hình thức này đã bắt đầu được áp dụng ở một số công ty CTTC.
B CTTC giáp lưng (Under Lease).
Cho thuê tài chính giáp lưng là phương tài trợ mà trong đó được sự thoả thuận củangười cho thuê, người thuê thứ nhất cho người thuê thứ hai thuê lại tài sản mà người thuêthứ nhất đã thuê từ người cho thuê
Kể từ thời điểm hợp đồng thuê lại được ký kết, mọi quyền lợi và nghĩa vụ cùng tàisản được chuyển giao từ người thuê thứ nhất sang người thuê thứ hai Các chi phí pháp
lý, di chuyển tài sản phát sinh từ hợp đồng này do người thuê thứ nhất và người thuê thứhai thoả thuận với nhau Tuy nhiên, người thuê thứ nhất vẫn phải chịu trách nhiệm liênđới đối với những rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài sản vì họ là người trực tiếp ký kếthợp đồng với người cho thuê
Với phương thức thuê này, mặc dù doanh nghiệp không đủ điều kiện để trực tiếp thuêmua vẫn có thể thuê được tài sản để sử dụng cho sản xuất kinh doanh
Sơ đồ 1.6: CTTC giáp lưng
Trong giao dịch kiểu này, tiên thuê mà bên thuê thứ hai phải trả thường cao hơn tiềnthuê mà bên thuê thứ nhất trả cho bên cho thuê Phần chênh lệch giữa hai khoản tiền thuê
Bên thuê thứ nhất (Lessee I)
Quyền sử dụng tài sản
Tiền thuêQuyền sử dụng tài sản
Trang 28đó bên thuê thứ nhất đựoc hưởng, coi như là hoa hồng trách nhiêm Ngoài ra hình thứcCTTC giáp lưng cũng áp dụng trong trường hợp bên thuê thứ nhất đã thuê tài sản đó,nhưng sau đó không có nhu cầu sử dụng thì có thể cho người khác thuê lại dưới sự đồng
ý của bên cho thuê
C CTTC mạo hiểm (Venture leasing)
Vốn mạo hiểm theo nghĩa thông thường nhất có thể hiểu là phần đầu tư vào cổ phầnmang tính kiên nhẫn và chấp nhận rủi ro cao trong doanh nghiệp mới ra đời, mang tínhđổi mới cao hoặc những doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng nhanh Các nhà tư bảnmạo hiểm tạo ra các quỹ, các công ty đầu tư và hỗ trợ quá trình hình thành công nghệmới Đổi mới được hỗ trợ bằng vốn mạo hiểm là một mô hình kiểu mới so với hai môhình đổi mới theo kinh doanh cá nhân cổ điển và dựa vào những hãng lớn
CTTC mạo hiểm là một hình thức đáng được đề cập đến Trong phương thức tài trợnày, có một sự kết hợp giữa vốn cổ phần và CTTC Thay vì nhận tài trợ bằng sự tham giacủa một cổ đông, công ty có thể đạt được thiết bị bằng sự trao đổi về những bảo đảm Cácnhà tư bản trong trường hợp này sẽ ít rủi ro hơn bởi vì họ vẫn là sở hữu hợp pháp củathiết bị cung cấp Người đi thuê trong trường hợp này nhận được lợi ích từ hợp đồng thuêcũng như lợi ích từ hợp đồng vốn mạo hiểm Bằng việc đưa ra những điều kiện bảo đảm,bên cho có quyền đạt được một phần cổ phần chưa trả tại một thời gian nhất định trongtương lai
Ngoài ra, người ta còn phân biệt CTTC theo phương thức thanh toán tiền thuê như:CTTC thanh toán theo niên kim cố định, CTTC thanh toán tăng dần (giảm dần), CTTCthanh toán ngắt quãng,
Nhìn chung, hợp đồng CTTC diễn ra rất đa dạng và khó có thể phân biệt từng loạithoả thuận cho thuê một cách rạch ròi Các phương thức tài trợ này đan xen lẫn nhau, nênviệc đánh giá, phân tích chúng đòi hỏi xem xét trên nhiều khía cạnh
1.2.4 Vai trò của CTTC
I Tác động của CTTC đối với nền kinh tế
Trang 29Trong bất cứ xã hội nào, nền kinh tế nào mà tìm được phương thức để người có vốn vàngười cần vốn gặp nhau hiệu quả, tối ưu thì xã hội đó, nền kinh tế đó sẽ phát triển Bảnchất của hoạt động cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, thịtrường cho thuê tài chính cũng là một bộ phận của thị trường vốn, thị trường này diễn racác hoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính trung dài hạn theonhững phương thức giao dịch nhất định Như vậy, cho thuê tài chính hay thị trường chothuê tài chính đã góp một phần để giải quyết bài toán về vốn cho nền kinh tế.
Cho thuê tài chính gắn chặt với việc trang bị và đổi mới máy móc, công nghệ và mở rộngsản xuất đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất của các ngành công nghiệp vừa vào nhỏ thuộckhu vực dân doanh Phát triển tốt thị trường cho thuê tài chính sẽ giúp cho các doanhnghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất của doanh nghiệp cũng như của toàn nềnkinh tế
Đặc biệt thông qua hình thức cho thuê tài chính có thể thu hút một lượng vốn lớn từ dân
cư qua các hình thức huy động vốn trung dài hạn hoặc liên doanh với nước ngoài để tạo
ra kênh dẫn vốn từ bên ngoài vào cho nền kinh tế
II Những động lực thúc đẩy người cho thuê cung cấp các dịch vụ CTTC.
a) CTTC có mức rủi ro thấp (Low risk level).
Tính chất của hoạt động CTTC là người cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản trong suốtthời hạn thuê nên người thuê không được phép bán, cho, tặng và làm hư hại tài sản Tàisản CTTC được mua bảo hiểm trong suốt thời hạn thuê
Do đó, công ty CTTC có thể kiểm soát, theo dõi việc sử dụng tài sản Nếu bênthuê có những dấu hiệu gây ra các rủi ro liên quan đến tài sản CTTC ngay lập tức công ty
sẽ có những yêu cầu đồi với doanh nghiệp và biện pháp cuối cùng là thu hồi tài sản
Với các hình thức tín dụng khác thì đảm bảo vốn vay là rất phong phú và đa dạng
vì vậy khi doanh nghiệp bị phá sản thì khả năng thu hồi vốn vay gặp rất nhiều vấn đề.Nhưng ở đây do công ty CTTC vẫn đứng tên chủ sở hữu tài sản nên nếu doanh nghiệpchẳng may bị phá sản Công ty chỉ việc thu hồi tài sản của mình về
Trang 30Khi tiến hành hoạt động CTTC người cho thuê đã yên tâm người thuê sử dụngvốn đúng mục đích, bởi vì nhà tài trợ đầu tư bằng máy móc thiết bị Hoạt động tài trợ này
là đầu tư trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh vì vậy tài sản CTTC sẽ được đưavào sản xuất mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và cho nhà tài trợ
b) Những động lực đầu cơ giá trị còn lại (Residual speculation motivations).
Giá trị còn lại của thiết bị thuê có thể là dự báo cho một dòng tiền vào rất quan trọngđối với người cho thuê Nó cũng có thể là một phần quan trọng trong thu nhập của củangười cho thuê trong một giao dịch cho thuê Vào cuối kỳ thuê, giả định không có quyềnchọn mua và quyền tái đổi mới, người thuê sẽ trả lại thiết bị thuê cho người cho thuê.Người cho thuê sau đó sẽ tái cho thuê thiết bị đó hoặc bán nó với giá cao nhất có thểđược Để đưa ra một mức giá cho thuê cạnh tranh, người cho thuê phải xác định giá trịtương lai kỳ vọng này vào lãi suất thuê
Ví dụ, nếu người cho thuê tin chắc rằng thiết bị sẽ có giá trị 10% giá trị nguyên gốccủa nó, thì giá trị các khoản tiền thuê phải bao gồm 90% chi phí thiết bị Bên cho thuê với
kỳ vọng sẽ có được 10% giá trị còn lại đã nhận ra một khi thiết bị được trả lại sẽ có thểbán hoặc tái cho thuê Ở đây, người cho thuê có thể sẽ phải đối mặt với rủi ro, giá bánhoặc giá cho thuê không đủ bù đắp chi phí giá trị còn lại của thiết bị
Các công ty CTTC cũng được thúc đẩy bởi cơ hội sẽ kiếm được thu nhập cao hơn làthu nhập kỳ vọng từ giá trị còn lại của thiết bị do sự gia tăng trong giá cho thuê Tấtnhiên, bên cho thuê bao giờ cũng phải đối mặt rủi ro do cho thuê hoặc bán với giá thấphơn giá trị còn lại dự tính Dù vậy, bên cho thuê vẫn cố gắng để bù đắp được tối thiểubăng giá trị còn lại bằng cách tăng giá kỳ vọng ở thiết bị còn lại
c) Những cơ hội mở rộng (Integration opportunities).
Sự mở rộng ở đây đề cập đến những cách mà một công ty CTTC có thể phát triển cáchoạt động của mình Sự mở rộng theo chiều sâu liên quan đến cơ hội giành được một loạisản phẩm từ các nguồn khác nhau, từ sản phẩm cho đến vận chuyển, làm đại lý bảo hiểm
Mở rộng theo chiều rộng có thể hiểu là sự đa dạng hoá sản phẩm của mình
Trang 31Các hãng sản xuất sử dụng CTTC như một cách để bán hàng hoá của mình Do đó,các công ty CTTC có thể mở rộng theo chiều sâu bằng cách thúc đẩy các hãng bán đượchàng hoá như giới thiệu khách hàng đến các hãng, đồng thời các hãng cũng giới thiệukhách hàng đến thuê tài chính tại công ty để mua các sản phẩm của hãng Do mối quan hệchặt chẽ giữa công ty CTTC và nhà cung cấp nên công ty có cơ hội phục vụ khách hàngtốt hơn với những kiến thức mở rộng về các sản phẩm Những kiến thức này cho phépbên cho thuê có thể dự đoán được giá trị còn lại một cách chính xác hơn, góp phần hạnchế một số rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho thuê khi tài sản bị trả lại.
Trong các hợp đồng CTTC bao giờ cũng có điều khoản về bảo hiểm tài sản Việc cómối quan hệ với các hãng bảo hiểm cũng là một hình thức vừa đem lại sự thuận tiện chobên thuê đồng thời cũng mang lại một khoản thu nhập cho công ty CTTC Các công tyCTTC có thể kiêm luôn vai trò đại lý cho các hãng bảo hiểm để hưởng hoa hồng phầntrăm Khoản tiền hoa hồng này sẽ gia tăng theo số hợp đồng cho thuê
Như đã đề cập phần trước, cho thuê mạo hiểm cũng là một hình thức mở rộng củahoạt động CTTC Bằng cách đầu tư vào các ngành nghề kinh doanh hoặc các công ty cònrất non trẻ nhưng có triển vọng phát triển trong tương lai, công ty CTTC có thể kỳ vọngmột khoản lãi cổ phần lớn trong thời gian tới
Như vậy, sự linh hoạt với cơ hội mở rộng phong phú đa dạng của hoạt động CTTC làmột trong những lý do thúc đẩy các doanh nghiệp lựa chọn hình thức kinh doanh này
d) Thị trường CTTC quốc tế (International leasing) đã phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động CTTC trên thế giới đã có những phát triển rất quan trọng trong thời gianqua và trong tương lai dự đoán sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa để phục vụ các công ty đaquốc gia cũng như các công ty nước ngoài đang tìm kiếm các phương thức tài trợ tài sảnmới
Các thiết bị cho thuê phổ biến trên thế giới hiện nay là: máy bay, xe ray, máy tính,công cụ máy móc, tàu thuyền, Sự phát triển của hoạt động cho thuê hiện nay trên thếgiới tạo điều kiện rất thuận lợi cho các công ty CTTC Bởi vì với một thị trường cho thuê
đã phát triển tương đối hoàn chỉnh sẽ đem lại những nhận thức và hiểu biết của các doanh
Trang 32nghiệp về nghiệp vụ CTTC một cách rõ ràng hơn, giảm đựoc chi phí giới thiệu, quảngcáo.
Bên cạnh đó, do trên thế giới các hình thức CTTC đã được áp dụng rất linh hoạt và đadạng nên tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty cho thuê mới thành lập có thể học hỏiđược kinh nghiệm từ những công ty CTTC nổi tiếng hiện nay
Trên đây chỉ là một số tiêu biểu trong rất nhiều động lực thúc đẩy người cho thuê cung cấp các dịch vụ CTTC Tuy nhiên, hoạt động CTTC không chỉ đem lại lợi ích cho bên cho thuê mà còn rất hữu dụng đối với bên thuê
III Lý do để những người cần vốn tìm đến với hình thức thuê tài chính.
Công nghệ (Technology).
Sự thích ứng với những thay đổi công nghệ luôn luôn là chìa khoá dẫn đến thànhcông của những người hoạt động sản xuất kinh doanh CTTC là một giải pháp hiệu quảcho vấn đề này
Một trong những lý do chính để tài trợ thiết bị bằng hình thức thuê tài chính chứkhông phải mua là CTTC giúp cho người đi thuê tránh được nhiều rủi ro từ sự sở hữu.Nhiều loại thiết bị bây giờ thay đổi công nghệ rất nhanh khiến nó trở nên lỗi thời về côngnghệ (điển hình cho loại thiết bị này là máy tính) Thực tế, trong rất nhiều tình huốngthiết bị không còn sử dụng được nữa trước khi những trách nhiệm hay những chi phí đểtài trợ cho thiết bị đó được hoàn thành.CTTC giúp những người thuê tránh được nhữngrủi ro về công nghệ bằng sự chuyển dịch những rủi ro đó cho người cho thuê
Với những kiến thức về thiết bị của người cho thuê, biết kết hợp giữa đầu vào và thịtrường thiết bị bán lại, có thể làm cho thiết bị trở nên có giá trị cao hơn khi ở trong tayngười cho thuê hơn là người thuê Các công ty CTTC với những chuyên gia về thiết bịcho phép người cho thuê có thể bán được thiết bị ở mức giá cao hơn là người mua trựctiếp bán
Do đó CTTC đã chuyển giao những rủi ro công nghệ từ bên thuê sang bên cho thuêtrong thời hạn thuê Điều này trở nên dễ dàng hơn bởi vì có nhiều quyền lựa chon linh
Trang 33hoạt có thể được hình thành trong hợp đồng thuê Mà nếu như mua thiết bị hay nói cáchkhác nắm quyền sở hữu thiết bị, họ phải chịu tất cả các rủi ro của quyền sở hữu bao gồm
cả rủi ro về công nghệ
Bên cạnh đó, tài sản CTTC ở nhiều nước được phép cho khấu hao nhanh để đổi mớicông nghệ Tài sản cố định của doanh nghiệp nhiều khi phải bị trích khấu hao với thờihạn quá dài, ảnh hưởng đến sự đổi mới công nghệ Với tài sản thuê tài chính có thời gianthu hồi từ 60-70% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản, do vậy tạo điều kiện cho doanhnghiệp có thể đổi mới máy móc thiết bị
Thuế thu nhập (Income tax).
Hình thức thuê tài chính giúp các doanh nghiệp hoãn thuế thu nhập doanh nghiệp Dotài sản thuê được khấu hao nhanh và tiền thuê được hạch toán thẳng vào chi phí Khácvới tài trợ thiết bị bằng vốn đi vay hay vốn tự có, doanh nghiệp đi thuê được hạch toánvào chi phí một tỷ lệ khấu hao tài sản thuê theo quy định của Bộ tài chính, số tiền khấuhao này thường nhỏ hơn giá trị tiền thuê phải trả theo hợp đồng
Do đó, việc hạch toán tiền thuê thẳng vào chi phí sẽ làm chi phí tăng thêm so với hìnhthức tài trợ khác làm cho lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp giảm, đồng thời nộp thuếthu nhập cũng giảm đi Sang các năm sau khi doanh nghiệp thực hiện xong nghĩa vụ hợpđồng, bên cho thuê chuyển giao máy móc, thiết bị với giá tượng trưng rất nhỏ thấp hơnnhiều so với giá trị thực của nó Doanh nghiệp vẫn có thể tiếp tục sử dụng tài sản trongmột thời gian dài mà không phải trích khấu hao nữa hoặc nếu có thì với một tỷ lệ rất nhỏ.Lúc này, lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp sẽ tăng lên, doanh nghiệp nộp ngân sáchnhiều hơn
Quản lý dòng tiền (Cash flow management).
Thuê tài chính là một công cụ quản lý dòng tiền hữu hiệu Thực tế, quản lý dòng tiền
là lý do được nhắc đến thường xuyên nhất đối với những công ty ứng dụng hình thứcthuê tài chính
Khả năng chấp nhận được đối với bên thuê (Affordability to lessees)
Trang 34Khi giá của thiết bị đang tăng, việc mua thiết bị ngay lập tức là một khó khăn lớn đốivới nhiều công ty Do đó, thuê tài chính là một sự lựa chọn sáng suốt của những công tybởi những lý do liên quan đến khả năng.
Hình thức thuê tài chính linh hoạt hơn về phương thức thanh toán do người thuê cóthể lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp với dòng tiền của mình Sự lựa chọn này cóthể là trả theo niên kim cố định, trả tiền thuê giảm dần hoặc tăng dần, cũng như thời kỳtrả có thể trả hàng tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng theo thoả thuận giữa bên thuê và bên chothuê phù hợp với luồn tiền vào, ra của doanh nghiệp thuận tiện cho bên thuê trong việcquản lý dòng tiền một cách chủ động
Ngoài ra, với thuê tài chính, các chi phí liên quan như thuế giá trị gia tăng, những chiphí lắp đặt, bảo dưỡng, bảo hiểm có thể được bao gồm như một phần trong tiên thuê Nếunhư mua thì doanh nghiệp phải trả ngay từ đầu Nhưng do các chi phí này được tính cộngvào tiền thuê gốc và được tính lãi trong từng kỳ, do đó doanh nghiệp có thể chia cáckhoản đó ra thành nhiều kỳ để trả Như vậy giảm được chi phí cơ hội cho việc sử dụngnhững khoản tiền đó ngay lập tức Họ có thể sử dụng tiền của mình váo những cơ hội đầu
tư sinh lời lớn hơn để gia tăng lợi nhuận Nói cách khác, CTTC giúp các doanh nghiệp cóthể bảo toàn vốn lưu động cho những mục tiêu dự kiến
Dự đoán luồng tiền (Improved cash forecasting).
Trong một hợp đồng CTTC, người thuê sử dụng thiết bị trong một giai đoạn nhất định
và thanh toán phí thuê theo một lịch trình cụ thể Những trách nhiệm hợp đồng cố định đãgiúp người thuê dự đoán một cách chắc chắn chi phí tương lai liên quan đến thiết bị, do
đó cho phép côngty chuẩn bị những kế hoạch về luồng tiền ra một cách chính xác Thêmvào đó, một công ty biết được những quyết định đưa ra khi kết thúc thời hạn thuê là muathiết bị, trả lại, hay thuê mới Một khi quyết định được thực hiện, các chi phí của quyềnchọn vào cuối kỳ thuê đã được xác định và hợp thành trong chiến lược dự toán và kếhoạch Với đặc điểm này, CTTC đã góp phần hỗ trợ cho việc chuẩn bị chính xác ngânsách của công ty
Sự linh hoạt và thuận tiện (Flexibility and convinience).
Trang 35Thuê tài chính là phương thức tài trợ rất linh hoạt và thuận tiện với việc hạn chế cácquy tắc cứng nhắc như trong hình thức vay Các công ty CTTC thường cố gắng thíchnghi với những nhu cầu đặc thù của từng doanh nghiệp Công nghiệp CTTC còn non trẻ
và chưa có hệ thống, nhưng dự đoán sẽ phát triển rất mạnh mẽ trong thời gian tới bởinhững tiện ích nó đem lại cho các doanh nghiệp
- Thuê tài chính có khả năng tài trợ cho các doanh nghiệp không đủ điều kiệnvay vốn ngân hàng Muốn vay vốn ngân hàng, ngoài các điều kiện tín dụng ngặt nghèo,doanh nghiệp cần phải có tài sản thế chấp Lựa chọn thuê tài chính, bên thuê không bịyêu cầu phải có tài sản thế chấp vì vật đảm bảo chính là tài sản thuê Lợi ích này rất thuậnlợi với các doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa đủ uy tínvới ngân hàng
- Thuê tài chính có khả năng thu hút vốn đầu tư lớn từ bên ngoài thông quaviệc vay vốn và nhập khẩu máy móc thiết bị Các công ty CTTC có thể thu hút vốn từnước ngoài băng cách vay vốn trực tiếp từ các tổ chức nước ngoài và nhập máy móc bằnghình thức trả chậm Nếu như doanh nghiệp đứng ra tự mua trực tiếp, thì doanh nghiệpphải có một ngân hàng có uy tín đứng ra bảo lãnh để có thể trả chậm cho nhà cung cấp.Nhưng để được ngân hàng bảo lãnh thì bản thân doanh nghiệp cũng phải có đầy đủ cácđiều kiện tín dụng mà nhiều doanh nghiệp không thể đáp ứng Nếu thông qua công cụCTTC thì vấn đề này được giải quyết dễ dàng hơn nhiều
1.3 các chỉ tiêu đánh giá HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động CTTC của công ty cho thuê.
Hiệu quả hoạt động CTTC của một công ty cho thuê là khái niệm đánh giá tính hình hoạt động CTTC tại công ty theo định hướng đã đề ra Nó thể hiện khả năng đóng góp của kết quả hoạt động CTTC vào kết quả hoạt động kinh doanh nói chung của công ty Hiệu quả hoạt động này được đánh giá thông qua các yếu tố định tính và định lượng
Những yếu tố định lượng ở đây là những yếu tố có thể tính toán được thông qua cáccon số cụ thể Các yếu tố được lượng hoá này đánh giá hiệu quả hoạt động CTTC mộtcách rõ ràng như là tổng dư nợ CTTC, tỷ lệ nợ quá hạn, thu lãi từ hoạt động CTTC, chi
Trang 36phí cho hoạt động CTTC, đoạn ngắn quá Hoạt động CTTC không những được đánhgiá dựa trên các con số mà còn phải được xem xét cả những nhân tố mang tính chất kinhnghiệm có khi còn thiên về cảm tính yếu tố định tính có thể là hạn chế rủi ro, đảm bảo antoàn trong hoạt động cho thuê, phát triển thị phần, nâng cao uy tín, Đánh giá hiệu quảhoạt động CTTC sẽ đem lại cho công ty một cái nhìn cụ thể về tình hình hoạt động CTTCtại công ty để từ đó có những chiến lược phát triển thích hợp nhằm đạt được những mụctiêu đề ra.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động CTTC: tài liệu tham khảo
Trang 37-Tỷ lệ nguy cơ rủi ro (%).
Tổng giá trị các khoản CTTC có nợ quá hạn
Tổng số nợ gốc và lãi đến hạn trong năm
-Hệ số bù đắp lãi tiền vay.
Thu lãi CTTC
H =
Trả lãi tiền vay
Em có nói đến các chỉ tiêu định tính, trên đây chỉ có các chỉ tiêu định lượng, em cầnliệt kê ra các chỉ tiêu định tính, sau đó, trong chương 2, cũng cần sử dụng các chỉ tiêunày để đánh giá hiệu quả tại Vietcombank
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính của công
ty cho thuê tài chính (CTTC).
I Yếu tố khách quan:
A Môi trường pháp lý, kinh tế:
Bất cứ một hoạt động kinh doanh nào của doanh nghiệp cũng đều chịu tác động rấtlớn của hệ thống cơ chế chính sách của nước sở tại Đặc biệt với một lĩnh vực còn non trẻ
Trang 38như CTTC thì lại càng chịu ảnh hưởng sâu sắc Hệ thống này tạo ra một hành lang pháp
lý thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các công ty cho thuê, góp vai trò quan trọng vào địnhhướng phát triển chung cho mọi hoạt động tín dụng thuê mua
Với một cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh và rõ ràng sẽ là một môi trường hết sứcthuận lợi để hoạt động cho thuê phát triển ngày càng hiệu quả Bởi vì những bên liênquan trong một giao dịch CTTC sẽ nắm rõ được quyền hạn và nghĩa vụ của mình, biết rõhoạt động nào là hợp pháp, hoạt động huy động vốn cũng sẽ linh hoạt và hiệu quả hơn.Một hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp rõ ràng và hợp lý mới tạo điều kiện để cáccông ty CTTC vạch ra được những kế hoạch đúng đắn để mở rộng kinh doanh, nâng caohiệu quả hoạt động cho thuê
Từ trang này về sau, nếu cô ghi: đoạn ngắn quá, thì có nghĩa là em phải sửa lại đoạn
đó, đoạn không thể chỉ có 1 câu, các câu viết về cùng 1 vấn đề nên để trong 1 đoạn Ví dụdưới đây về môi trường kinh tê, em chia 4 đoạn ngắn quá là không phù hợp
Bên cạnh môi trường pháp lý thì môi trường kinh tế cũng có một ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả hoạt động của một công ty CTTC Một nền kinh tế vững mạnh, điều mà rất cầnthiết cho việc tìm nguồn tài trợ tài sản, sẽ dẫn đến sự tăng trưởng các giao dịch cho thuê.Điều này đã được thảo luận về những dự đoán kinh tế trong hầu hết các quốc gia trên thếgiới Những vấn đề kinh tế trong những năm trước là nguyên nhân dẫn đến một loạt hoạtđộng tái cơ cấu, phục hồi, bán và cho thuê lại Những người cho thuê với vai trò là nhàcung cấp thiết bị đã gặp phải khó khăn trong vấn đề thu hồi các khoản nợ định kỳ Tuynhiên điều này đã được cải thiện khi nền kinh tế tăng trưởng trở lại Trạng thái ổn địnhcủa nền kinh tế dẫn đến việc sử dụng thiết cho thuê tăng, số dư nợ quá hạn giảm vàkhuynh hướng này sẽ vẫn tiếp tục trong thời gian tới Trong một nền kinh tế ổn định vàtăng trưởng đều đặn, đầu tư phát triển dẫn đến nhu cầu đổi mới công nghệ ngày càng cao,hoạt động cho thuê tài chính có điều kiện để phát triển và mở rộng thị trường Một môitrường kinh doanh lành mạnh cũng là một nhân tố quan trọng đối với hiệu quả hoạt độngcho thuê Trong môi trường này các công ty CTTC có điều kiện học hỏi lẫn nhau về kinhnghiệm cũng như chia sẻ thị phần, tăng khả năng chuyên môn hoá trong lĩnh vực chothuê để cùng phát triển hoạt động cho thuê trở thành một ngành công nghiệp thực thụ
Trang 39Các đối thủ cạnh tranh trong môi trường kinh doanh là động lực để công ty vươn lên tựkhẳng định mình, nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê.
B Những yếu tố từ phía doanh nghiệp đi thuê:
Doanh nghiệp đi thuê là đối tác thường xuyên duy nhất trong hợp đồng cho thuê tàichính, là đối tượng để các công ty CTTC tài trợ vốn Do đó, tình hình sản xuất kinhdoanh cũng như những hiểu biết của họ về hoạt động cho thuê tài chính là rất đáng quantâm
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đi thuê ảnh hưởng trực tiếp đếnhiệu quả hoạt động của các công ty cho thuê Bởi vì nó gắn liền với chất lượng tín dụng,với khả năng thu hồi nợ của các công ty CTTC Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tốtthì doanh nghiệp mới có khả năng thựch hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê định kỳ chocông ty CTTC Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được xem xét ở đây
là phải được thẩm định trong một thời kỳ hoặc trong một thời gian nhất định tuỳ theo thờihạn thuê Có những doanh nghiệp trước mắt thì kết quả kinh doanh có vẻ rất khả quannhưng chỉ hai, ba năm nữa sẽ bước vào thời kỳ đi xuống của chu kỳ kinh doanh Do đó,nguy cơ không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối với công ty cho thuê là có thểxảy ra Điều này tác động trực tiếp đến doanh thu và do đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệuquả hoạt động của công ty CTTC
Sự hiểu biết của các doanh nghiệp đối với hoạt động CTTC cũng đóng vai trò hết sứcquan trọng, nó không có tác động trực tiếp như nhân tố trước nhưng nó lại đem lại sựphát triển tiềm năng cho hoạt động CTTC sau này Đặc biệt là ở Việt Nam, hoạt động chothuê còn khá là mới mẻ Các doanh nghiệp thiếu vốn hầu như đều đi tìm nguồn tài trợ ởcác ngân hàng, các quỹ hỗ trợ Thuê tài chính dường như là phương án cuối cùng mà họnghĩ đến nếu như không tiếp cận được với các khoản vay Điều này xuất phát từ nhậnthức của các doanh nghiệp về lợi ích của thuê tài chính là chưa đầy đủ
II yếu tố chủ quan:
Thị trường cho thuê toàn cầu hiện nay đang bước vào giai đoạn cạnh tranh gay gắt cả
về thiết bị cung cấp lẫn các dịch vụ kèm theo Những người đi thuê với trình độ nhận
Trang 40thức về cho thuê ngày càng cao đang có nhu cầu đòi hỏi dịch vụ tốt, linh hoạt hơn Thực
tế này đòi hỏi các công ty cho thuê phải có những chiến lược ưu việt Những nhân tốđược nhắc tới dưới đây chỉ là tiêu biểu trong các chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng cho thuê và góp phần trực tiếp vào sự thành công của nhiều công ty CTTC nổi tiếngtrên thế giới hiện nay
1) Những ưu thế cạnh tranh:
Một trong những chiến lược kinh tế cho sự thành công là lợi thế cạnh tranh Lợi thế
có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Nhiều công ty cho thuê tài chính đã
sử dụng quy mô quy mô của họ như là một lợi thế Họ có thể đưa ra một cơ cấu rất khảthi, tài trợ cho tất cả các loại hình thiết bị,tiếp thị cho những sản phẩm của họ ra thế giớibên ngoài, đem lại cho chúng những ưu thế riêng biệt trên thị trường
Những công ty cho thuê tài chính khác lại tạo ra lợi thế cho mình bằng cách tìm kiếmnhững nguồn tài trợ dồi dào Qua nhiều năm, những người cho thuê đã phát triển hoạtđộng cho thuê tài chính của mình bằng nguồn vốn vay từ các ngân hàng truyền thống vàvay công cộng qua các công ty bảo hiểm, các quỹ trợ cấp, những nhà đầu tư mạo hiểm,các quỹ thu nhập và phát hành chứng khoán Đoạn quá ngắn
Bên cạnh đó còn có những lợi thế cạnh tranh khác như mối quan hệ lâu dài với cácnhà cung cấp, những dịch vụ đặc thù, và các lợi thế khác
2) Sự chuyên môn hoá (Specialization):
Chuyên sâu vào một mảng thị trường thích hợp, đây cũng là một ưu thế cạnh tranhkhác đủ quan trọng để đảm bảo chỗ đứng vững chắc cho các công ty cho thuê tài chính.Rất nhiều công ty cho thuê tài chính dù lớn hay nhỏ đã trở nên thành công bằng việc tậptrung vào một sản phẩm đặc thù nào đó phù hợp với đặc tính ưu việt của từng công ty.Đôi khi sự chú trọng đó nhằm vào loại hình tài sản cho thuê chẳng hạn chuyên sâu vàocho thuê máy tính, ô tô hay các thiết bị sản xuất công nghiệp Sự chuyên dụng đó cũng cóthể là theo quy mô giao dịch, có thể giới hạn về địa lý hay sự chuyên môn về công nghệ