đặt vấn đề Cơ Delta là một cơ của khớp vai, tham gia vào các động tác của khớp vai, gồm có 3 bó: bó trước, bó giữa và bó sau. Cơ Delta bám vào mép dưới gai vai, bờ ngoài mỏm cùng vai và một phần ba trước ngoài của xương đòn. Các thớ chạy xuống dưới (bó giữa) hoặc chếch từ sau ra trước (bó sau) hoặc từ trước ra sau (bó trước) tụm lại để bám vào lồi củ Delta (ấn Delta) [4, 6, 18]. Xơ hoá cơ Delta (XHCDT) là hiện tượng xuất hiện các dải xơ trong cơ Delta [23]. Bệnh XHCDT có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải [10, 20, 21]. Khi cơ Delta bị xơ hóa, nhiều động tác của khớp vai bị ảnh hưởng đặc biệt là động tác khép cánh tay vào thân mình. Nếu tình trạng xơ hóa kéo dài có thể gây biến dạng cột sống và lồng ngực. Mặc dù ở bất cứ tuổi nào cũng có nguy cơ mắc bệnh nhưng phần lớn các trường hợp XHCDT phát hiện trên thế giới thường tập trung ở nhóm trẻ em [20, 22, 26]. Trước những năm 60 tình trạng XHCDT đY được mô tả bởi các tác giả Mỹ, Cellarius (1948) và Lerch (1949). Năm 1965, Sato báo cáo 3 trường hợp XHCDT đầu tiên [47]. Năm 1966, Bhattcharyya (ấn Độ) đY mô tả 3 bệnh nhân có tổn thương XHCDT [19]. Đây là tình trạng co ngắn bó giữa cơ Delta do đó cánh tay không khép được vào thân mình. Năm 1969, Goodfellow (Anh) và cộng sự đY mô tả một trường hợp xơ hoá bó trước cơ Delta gây co rút cơ Delta làm cho xương bả vai nhô cao và xoay ngoài tạo nên biến dạng đặc biệt [29]. Từ đó đến nay nhiều trường hợp XHCDT khác đY được báo cáo từ ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc [24, 27, 26]. ở Nhật có thời điểm XHCDT bột phát thành một vấn đề xY hội [43, 49]. Theo báo cáo của Chen (Đài Loan) tỷ lệ xơ hoá cơ Delta trong thập niên 1980 lên đến 10% trẻ em ở một số vùng [27, 25, 26]. Hầu hết các tài liệu đều cho thấy tình trạng XHCDT được xác định là liên quan đến sự thay đổi trong cơ Delta sau khi tiêm thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau và vitamin. Tại Việt Nam, năm 1994, Nguyễn Ngọc Hưng [5] đY phẫu thuật trường hợp đầu tiên co cứng giang vai sau tiêm kháng sinh trong cơ Delta ở trẻ em. Năm 2005, trong đợt kiểm tra sức khoẻ hàng loạt cho trẻ em huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, hàng trăm trẻ em bị XHCDT đY được phát hiện số liệu ước tính về tỷ lệ hiện mắc XHCDT trong quần thể là 1.5%. Cho đến tháng 6 năm 2006 tình trạng XHCDT đY được phát hiện trên 10.000 trẻ em ở 30 tỉnh thành trong cả nước, trong đó Hà Tây là tỉnh được thông báo có nhiều người mắc XHCDT đang gây quan ngại trong dư luận. Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là: 1. Xác định tỷ lệ hiện mắc xơ hóa cơ Delta của tỉnh Hà Tây. 2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng xơ hóa cơ Delta ở trẻ em và tuổi vị thành niên.
Trang 1NguyÔn v¨n Tïng
Nghiªn cøu thùc tr¹ng x¬ ho¸ c¬ delta
ë trÎ em t¹i tØnh hµ t©y vµ mét sè yÕu tè liªn quan
luËn v¨n th¹c sü y häc
Hµ Néi - 2008
Trang 2Trường đại học y Hà Nội
Nguyễn văn tùng
Nghiên cứu thực trạng xơ hoá cơ delta
ở trẻ em tại tỉnh hà tây và một số yếu tố liên quan
Hà Nội - 2008
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu kÕt qu¶ nªu trong nghiªn cøu lµ trung thùc vµ chÝnh x¸c
NguyÔn V¨n Tïng
Trang 4- Đảng uỷ, ban giám hiệu, phòng đào tạo sau đại học, các phòng ban cùng toàn thể giáo viên Truờng Đại học Y Hà nội đ7 tận tình dạy dỗ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
- Đảng uỷ, ban giám đốc, tập thể Bác sĩ, Y tá, nhân viên các phòng khoa ban của Bệnh viện nhi trung ương đ7 tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian học tập tại viện
- Đảng uỷ, ban giám đốc, phòng cán bộ, l7nh đạo và tập thể nhân viên khoa Nhi Bệnh viện trung ương Quân đội 108, cơ quan nơi tôi công tác đ7 quan tâm tạo điều kiện, khuyến khích cho tôi đi học
- Đảng uỷ, ban giám đốc, phòng hành chính cùng toàn thể nhân viên y tế huyện Ba Vì, huyện Thạch Thất và thị x7 Hà Đông tỉnh Hà Tây đ7 tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra
- Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Nhật An - người đ7 tận tâm dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập, truyền
đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu về nghề nghiệp và cuộc sống- người đ7 dành nhiều thời gian và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
- Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô bộ môn Nhi đ7 dạy dỗ, động viên,
đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới cha mẹ và người thân trong gia
đình đ7 luôn động viên, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi yên tâm học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, tập thể học viên cao học Nhi khoá 15
Hà Nội, ngày 16 tháng 9 năm 2008
Nguyễn Văn Tùng
Trang 6đặt vấn đề
Cơ Delta là một cơ của khớp vai, tham gia vào các động tác của khớp vai, gồm có 3 bó: bó trước, bó giữa và bó sau Cơ Delta bám vào mép dưới gai vai, bờ ngoài mỏm cùng vai và một phần ba trước ngoài của xương đòn Các thớ chạy xuống dưới (bó giữa) hoặc chếch từ sau ra trước (bó sau) hoặc từ trước ra sau (bó trước) tụm lại để bám vào lồi củ Delta (ấn Delta) [4, 6, 18]
Xơ hoá cơ Delta (XHCDT) là hiện tượng xuất hiện các dải xơ trong cơ Delta [23] Bệnh XHCDT có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải [10, 20, 21] Khi cơ Delta bị xơ hóa, nhiều động tác của khớp vai bị ảnh hưởng đặc biệt là động tác khép cánh tay vào thân mình Nếu tình trạng xơ hóa kéo dài có thể gây biến dạng cột sống và lồng ngực Mặc dù ở bất cứ tuổi nào cũng có nguy cơ mắc bệnh nhưng phần lớn các trường hợp XHCDT phát hiện trên thế giới thường tập trung ở nhóm trẻ em [20, 22, 26]
Trước những năm 60 tình trạng XHCDT đY được mô tả bởi các tác giả
Mỹ, Cellarius (1948) và Lerch (1949) Năm 1965, Sato báo cáo 3 trường hợp XHCDT đầu tiên [47] Năm 1966, Bhattcharyya (ấn Độ) đY mô tả 3 bệnh nhân có tổn thương XHCDT [19] Đây là tình trạng co ngắn bó giữa cơ Delta
do đó cánh tay không khép được vào thân mình Năm 1969, Goodfellow (Anh) và cộng sự đY mô tả một trường hợp xơ hoá bó trước cơ Delta gây co rút cơ Delta làm cho xương bả vai nhô cao và xoay ngoài tạo nên biến dạng đặc biệt [29] Từ đó đến nay nhiều trường hợp XHCDT khác đY được báo cáo từ
ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc [24, 27, 26] ở Nhật có thời điểm XHCDT bột phát thành một vấn đề xY hội [43, 49] Theo báo cáo của Chen (Đài Loan) tỷ lệ xơ hoá cơ Delta trong thập niên 1980 lên đến 10% trẻ em ở một số vùng [27, 25, 26] Hầu hết các tài liệu đều cho thấy tình trạng XHCDT
Trang 7được xác định là liên quan đến sự thay đổi trong cơ Delta sau khi tiêm thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau và vitamin
Tại Việt Nam, năm 1994, Nguyễn Ngọc Hưng [5] đY phẫu thuật trường hợp đầu tiên co cứng giang vai sau tiêm kháng sinh trong cơ Delta ở trẻ em Năm 2005, trong đợt kiểm tra sức khoẻ hàng loạt cho trẻ em huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, hàng trăm trẻ em bị XHCDT đY được phát hiện số liệu ước tính
về tỷ lệ hiện mắc XHCDT trong quần thể là 1.5% Cho đến tháng 6 năm 2006 tình trạng XHCDT đY được phát hiện trên 10.000 trẻ em ở 30 tỉnh thành trong cả nước, trong đó Hà Tây là tỉnh được thông báo có nhiều người mắc XHCDT
đang gây quan ngại trong dư luận
Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là:
ở trẻ em và tuổi vị thành niên
Trang 8Ch−¬ng 1 Tæng quan
1.1 Gi¶i phÉu, chøc n¨ng c¬ Delta vµ khíp vai
1.1.1 C¬ Delta
+ Nguyªn uỷ cã ba bã: bã sau b¸m vµo mÐp dưíi gai vai Bã ngoài b¸m vµo bờ ngoài mỏm cïng vai Bã tr−íc b¸m vµo 1/3 ngoài bờ trước xương ñßn + B¸m tận: lồi củ delta xương c¸nh tay
+ ðộng t¸c: giang c¸nh tay và tham gia thªm vào ñộng t¸c xoay ngoài và trong
Trang 9+ Về cấu tróc giải phẫu của cơ Delta
Cơ delta cã ba bã, giữa c¸c bã cã v¸ch gian cơ, bã trước và bã sau gồm c¸c sợi cơ dài và song song với nhau Riªng bã giữa của cơ delta cã cấu tróc ñặc biệt, nã là loại cơ h×nh ña l«ng vũ Trong bã cơ cã từ 3- 4 v¸ch xơ dọc chia 4 v¸ch ®i xuèng vµ 3 v¸ch ®i lªn Khi cơ delta bị chấn thương do tiªm, bã giữa cã nguy cơ bị chÌn Ðp như một hội chứng khoang hơn bã trước và bã sau ðiều này cã thể lý giải v× sao bã giữa của cơ hay bị xơ hãa hơn bã trước
H×nh 1.2 CÊu tróc gi¶i phÉu c¬ Delta [28]
Bã sau
Bã gi÷a
Bã tr−íc
Trang 10- ổ chảo xương vai là vòng sụn hình bầu dục, lõm lòng chảo, có diện tiếp xúc với chỏm xương cánh tay chỉ bằng 1/3 diện tích chỏm xương cánh tay
- Viền ổ chảo: là một vòng sụn bám quanh ổ chảo làm cho ổ lòng chảo sâu thêm để tăng diện khớp với chỏm xương cánh tay Dưới sụn viền có 1 khuyết ở bờ trong ổ chảo là 1 khe thông với túi hoạt dịch
Xương ủũn Mỏm cùng vai
Xương bả vai Viền ổ chảo ổ chảo
Mỏm quạ
Trang 111.1.2.2 Phương tiện nối khớp
- Bao khớp: là một bao xơ mỏng và rộng, ở trên bám quanh ổ chảo xương vai vùng cổ giải phẫu, ở dưới bám vào đầu trên xương cánh tay vùng cổ phẫu thuật cách sụn khớp khoảng 1 cm
- Các dây chằng vai:
+ Dây chằng quạ cánh tay: gồm hai chẽ, ở trên đều bám vào mỏm quạ xương vai, ở dưới một chẽ có đầu dài gân cơ nhị đầu bám đi qua
+ Dây chằng ổ chảo cánh tay: là phần dày lên ở mặt trước bên bao khớp
nó gồm 3 dây chằng là: dây chằng trên đi từ củ trên ổ chảo xương vai đến đầu trên củ lớn xương cánh tay; dây chằng chéo giữa đi từ củ trên ổ xương vai đến nền củ bé xương cánh tay; dây chằng chéo dưới đi từ viền trước ổ chảo xương vai tới ổ phẫu thuật xương cánh tay Ba dây chằng này tạo thành ba nét của chữ Z Giữa dây chằng giữa và dưới là điểm yếu nhất của bao khớp, chỏm xương cánh tay thường trật qua đó, đẩy chỏm xương cánh tay ra phía truớc
1.1.2.3 Bao hoạt dịch
- Là một bao áp vào mặt trong bao khớp bao vòng quanh gân dài của cơ nhị đầu, bao chạm vào mặt sau của cơ dưới vai, và có thông với túi thanh mạc của các cơ dưới vai cơ nhị đầu và cơ Delta
1.1.3 Vận động chức năng khớp vai và cơ Delta
Khớp vai là khớp chỏm nên biên độ động tác rất rộng
- Quanh trục trước sau: có động tác giang 900 và khép 300
- Quanh trục ngang: có động tác đưa ra trước 900, ra sau 450
- Quanh trục thẳng đứng: có động tác xoay trong 900, xoay ngoài 600
Động tác xoay vòng là kết quả phối hợp của các động tác quanh 3 trục trên
Trang 12Nếu chỉ có chuyển động đơn thuần của riêng khớp vai thì động tác dạng không quá mức đường thẳng nằm ngang, tức là 900 vì có mỏm quạ án ngữ ở phía trên khớp, trên thực tế vẫn đưa tay lên cao hơn được, là nhờ động tác di chuyển cả xương vai và xương đòn kết hợp động tác của cột sống cụ thể là: nếu đưa một tay lên cao thì góc dưới xương vai di chuyển ra ngoài và cột sống nghiêng về bên đối diện
Nếu cả 2 tay cùng giơ lên cao thì cột sống đoạn ngực dưới và đoạn thắt lưng bị gập ra trước
Khớp vai là một khớp linh hoạt nhất của cơ thể, cũng dễ bị tổn thương nhất vì bao khớp mỏng, lỏng lẻo, dây chằng không đủ chắc và cũng do động tác của khớp vai có biên độ lớn
Phía ngoài khớp vai là xương cánh tay, có cơ Delta bám vào ấn V delta tạo thành ụ vai Khi trật khớp vai thì vai lõm xuống và xuất hiện dấu hiệu nhát rìu
Vận ủộng của khớp vai gồm nhiều ủộng tác và mỗi ủộng tác có sự tham gia của một số cơ nhất ủịnh:
• Gấp: bó trước cơ delta, cơ ngực lớn, cơ quạ cánh tay và bó ngắn cơ nhị ủầu cánh tay
• Duỗi: bó sau cơ delta, cơ tròn nhỏ và cơ lưng rộng
• Giang: cơ trên gai và cơ delta, động tác giang vai ủược bắt ủầu bằng cơ trên gai sau đó là cơ delta
• Khép: do cơ ngực lớn chi phối
• Xoay trong: cơ ngực lớn, cơ tròn lớn, cơ lưng rộng và bố trước
cơ delta
• Xoay ngoài: cơ dưới gai, cơ tròn nhỏ, và bó sau cơ delta
Như vậy, cơ delta tham gia vào các ủộng tác xoay trong và gấp (bó trước), xoay ngoài và duỗi (bó sau), giang vai (bó giữa)
Trang 131.2 bệnh Xơ hóa cơ Delta
Xơ hoá cơ Delta là tình trạng bệnh lý tiến triển chậm, các sợi cơ trong cơ Delta bị biến đổi các dải xơ Các dải xơ này gây nên tình trạng cơ rút cơ Delta và đưa đến những biến dạng thứ phát ảnh hưởng đến chức năng của khớp vai và thẩm mỹ vùng vai [20, 26]
1.2.1 Dịch tễ học bệnh xơ hoá cơ delta
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về xơ hoá cơ Delta trên thế giới
Xơ hoá cơ Delta không phải là một bệnh mới, từ năm 1948 Cellarius T
và Lerch H (1949) người Mỹ ủY nói ủến bệnh lý này [47] Sau chiến tranh thế giới thứ II, việc sử dụng thuốc giảm ủau, thuốc kháng sinh và các loại thuốc tiêm khác trở nên phổ biến và kéo dài, tần suất các trường hợp xơ hoá cơ cũng như sự co cứng cơ tăng dần với việc gia tăng tiêm thuốc trong cơ [14] Năm
1965, Sato báo cáo 3 trường hợp xơ hóa cơ Delta đầu tiên tại Nhật Bản [47] Năm 1966, Bhattcharyya (ấn Độ) đY mô tả 3 bệnh nhân có tổn thương XHCDT [19] Đây là tình trạng co ngắn bó giữa cơ Delta do đó cánh tay không khép được vào thân mình Năm 1969, Goodfellow (Anh) và cộng sự đY mô tả một trường hợp xơ hoá bó trước cơ Delta dẫn đến làm hạn chế động tác gấp của khớp vai và làm cho xương bả vai nhô cao hơn bên đối diện [29] ở
Mỹ và Âu châu bệnh xơ hóa cơ Delta xảy ra rất ít, cho nên giới y tế chẳng mấy quan tâm Trong khi ở các nước đang phát triển, có khá nhiều trường hợp xơ hóa cơ delta đY được phát hiện ở Nhật có thời điểm bệnh này bộc phát đến nỗi trở thành một vấn đề xY hội [46, 49] ở Đài Loan, theo báo cáo của Chen
SS [27], bệnh có thời trở thành phổ biến trong thập niên 1980 với tần số lên
đến 10% trẻ em ở một số vùng
Từ năm 1977 – 2005, nhiều tác giả nước ngoài đY dựa vào các dấu hiệu
“Co rút giang vai”; “Bả vai cánh chim”; sờ ủược “Dải xơ” và “RYnh lõm” dọc theo cơ Delta ủể chẩn ủoán bệnh xơ hóa cơ Delta Năm 1977, Manske dựa
Trang 14vào dấu hiệu co rót giang vai ựể chẩn ựoịn xơ hãa cơ Delta [37] Nhọng nẽm tiạp theo hầu như cịc bịo cịo về xơ hoị cơ Delta ta trến thế giới dừng lại ở bịo cịo những ca bệnh Năm 1983, Chatterjee và cộng sự nhấn mạnh ựến dấu hiệu co rót giang vai, và bả vai cịnh chim là dấu hiệu chỉ ựiểm chẩn ựoịn xể hoị cơ Delta [22] Năm 1985, hiệp hội co rót cơ của Nhật Bản ệY cã bịo cịo ựưa ra chẩn ựoịn và ựiều trị xơ hoị cơ, theo nghiến cứu này thừ xơ hoị cơ là
do tiếm trong cơ nhiều lần, từ ệã nghiến cứu từm hiểu về cịc triệu chứng lẹm sàng, chẩn ệoịn, ựiều trị phẫu thuật xơ hoị cơ tứ ựầu ệỉi, cơ Delta Nghiến cứu ựưa ra cịc nhận xĐt lẹm sàng từnh trạng co rót cơ tứ ựầu ệỉi Năm 1988, Chen SS và cộng sự nghiến cứu trến 115 trường hợp xơ hoị cơ Delta phần lớn trong số này ựều cã tiÒn sử tiếm nhắc ệi nhắc lại nhiều lần trong cơ, cịc tịc giả cũng cã ựề cập tới những biểu hiện lẹm sàng sự giảm của tầm vận ựộng khớp vai cã cơ bị co rót [27] Năm 1989, Chung DC [26] nghiến cứu tỷ lệ hiện mắc và yếu tố nguy cơ xơ cứng cơ ẻ Quảng đềng, Trung Quốc Nghiến cứu ựược tiến hành từ thịng 1 ựến thịng 4 năm 1989 Tất cả trẻ em 6 ựến 19 tuổi ựược khịm sàng lọc ở cịc trường học sau ựã ựược khịm lại chẩn ựoịn xịc ựịnh tại bệnh viện Trong tổng số 83 trường hợp ựược xịc ựịnh là bệnh, trẻ trai mắc bệnh (1,73%) nhiều hơn trẻ gịi (1,05%) Tỷ lệ này ựược từm thấy ở trẻ sau 6 tuổi và cao nhất lứa tuổi từ 13-15 tuổi, nghiến cứu của Chung DC cũng nhận thấy sự phẹn bố xơ hoị cơ khềng ựồng ựều ở tất cả cịc vỉng miền theo nghiến cứu này tỷ lệ mắc xơ hoị tập trung chủ yếu tại cịc tỉnh Wen-Fon
và Yuan ỜWen là những vùng ven biển của bịn ựảo đài Loan để từm hiểu yếu tố nguy cơ 65 ựối tượng ựựểc chọn cỉng tuổi, giới, cỉng nơi cư trõ ở nhãm chứng Kết quả nghiến cứu của Chung DC [26] nhận thấy cã sự kết hợp giữa việc thường xuyến tiếm trong cơ và xơ hoị cơ Delta Nghiến cứu theo dâi 65 trường hợp ựY ựược phẫu thuật thấy tỷ lệ sẹo lồi sau phẫu thuật gẳp 89,2%
Trang 15Năm 1991, Ko YC, và cộng sự [34] khi nghiên cứu tìm hiểu yếu tố nguy
cơ của xơ hoá cơ (GFC) nhận thấy 62 (100%) trẻ trong nhóm bệnh ủược tiêm bắp trong khi ủó chỉ có 57 trẻ trong nhóm chứng có tiêm tĩnh mạch sự khác biệt giữa 2 nhóm (p = 0,029) Vị trí tiêm cũng khác nhau, nhóm chứng tỷ lệ trẻ tiêm mông cao hơn trong nhóm bệnh, tỷ lệ trẻ trong nhóm bệnh có kèm theo nhiễm vi rút viêm gan cao hơn nhóm chứng với tỷ xuất chênh là 3 (95%
CI 1,1- 7,8) Năm 1995, Chen SS và cộng sự [24] theo dõi ủánh giá ủiều trị xơ hoá cơ Delta ở người lớn việc theo dõi sau ủiều trị 2 năm cho thấy kết quả ủiều trị có sự cải thiện rõ rệt về tầm vận ủộng khớp, tỷ lệ bả vai cánh chim còn sau 5 năm là 5%
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về xơ hoá cơ Delta tại Việt Nam
Việt Nam, năm 1985, Nguyễn Ngọc Hưng ủY có những thông báo xơ hoá cơ tứ ủầu ủùi sau tiêm kháng sinh [7] Tháng 8 năm 1994, Nguyễn Ngọc Hưng đY phẫu thuật trường hợp đầu tiên co cứng giang vai do xơ hóa cơ Delta
ở trẻ em [9] Năm 2006, Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự [12] ủY tiến hành nghiên cứu tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nơi ủầu tiên phát hiện xơ hoá
cơ Delta với tỷ lệ cao nhất tại thời ủiểm năm 2006, nhận thấy tỷ lệ xơ hoá cơ Delta tại ủiểm nghiên cứu khá cao 14,9%, tuy nhiên ủây là nghiên cứu nhằm tìm hiểu các yếu tố nguy cơ kèm theo do vậy ủiểm nghiên cứu là ủược chỉ ủịnh chứ không phải do bốc thăm ngẫu nhiên, vì vậy tỷ lệ mắc không ủại diện cho cộng ủồng Nghiên cứu này cũng cho thấy xơ hoá cơ Delta có liên quan chặt chẽ với tiêm kháng sinh trong cơ Delta với tỷ xuất chênh là 3,9 (p < 0,001)
Từ năm 2005, trong đợt kiểm tra sức khoẻ hàng loạt cho trẻ em huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, hàng trăm trẻ em XHCDT đY được phát hiện số liệu
ước tính về tỉ lệ hiện mắc XHCDT trong quần thể 0.015 (số liệu trung tâm y tế huyện Nghi Xuân- Hà Tĩnh) Đến tháng 5 năm 2006 ở 30 tỉnh thành trong cả
Trang 16n−íc ®Y cã trªn 10.000 bÖnh nh©n x¬ hãa c¬ Delta Sè bÖnh nh©n m¾c x¬ hãa c¬ Delta ®−îc ph¸t hiÖn trong c¶ n−íc ngµy cµng ®ang g©y quan ng¹i trong d− luËn vµ xY héi
1.2.2 Nguyªn nh©n vµ c¬ chÕ bÖnh sinh x¬ ho¸ c¬ delta
1993, Liu M vµ cộng sự [36] nghiªn cứu bệnh học x¬ ho¸ c¬ nguyªn nh©n do tiªm vµ thấy cã sự giảm hoạt ñộng của men phosphorylase và cơ quan cảm thụ
insulin Việt Nam, năm 1985, Nguyễn Ngọc Hưng ñY cã những th«ng b¸o xơ
ho¸ cơ tứ ñầu ñïi sau tiªm kh¸ng sinh [7]
ViÖc tiªm nh¾c l¹i th−êng xuyªn vµo vïng c¬ delta còng cã thÓ lµ nguyªn nh©n g©y x¬ ho¸? §iÒu nµy ®Y cã nhiÒu nghiªn cøu cña c¸c t¸c gi¶
kh¸c nhau th«ng b¸o Năm 1988, Chen SS và cộng sự nghiªn cứu trªn 115
trường hợp xơ ho¸ cơ Delta phần lớn trong số này ñều cã tiÒn sử tiªm nhắc ®i nhắc lại nhiều lần trong cơ, c¸c t¸c giả cũng cã ñề cập tới những biểu hiện l©m sàng sự giảm của tầm vận ñộng khớp vai cã cơ bị co rót Năm 1983, Ogata K Nhật Bản ñY g©y ñược t×nh trạng x¬ cơ ở thỏ trªn thực nghiệm sau khi tiªm liªn tục dung dịch Chloramphenicol trong 10 ngµy liªn tiÕp sau một năm xuất hiện xơ ho¸ tại vïng cơ tiªm [45]
T×nh tr¹ng sö dông nhiÒu lo¹i thuèc còng ®−îc xem lµ “thñ ph¹m” lµm cho c¬ bÞ x¬ hãa, kÓ c¶ nh÷ng thuèc nh− dramamine, iron, penicillin chËm,
Trang 17lincomycin, pentazocine/Talwin, hypodermoclyses, streptomycin, tetracycline,
và thuốc chống sốt rét, vitamine và thuốc hạ sốt [20, 30]
Các yếu tố về tiền sử gia đình, địa lý, chủng tộc có thể là yếu tố nguy cơ cho bệnh XHCDT ? Một số không nhỏ các trường hợp trẻ em ít tiêm thuốc
mà cũng bị xơ hóa cơ delta thì không ai biết và đến nay vẫn chưa có lí giải thỏa đáng [20] Năm 1992, Mullaji A và cộng sự [39] báo cáo 3 trường hợp co cứng cơ tự phát Có nhiều gia đình trong đó phần lớn anh chị em không bị xơ hóa cơ delta dù họ cũng được tiêm nhiều lần như nhau Báo cáo của Chung
DC cho thấy bệnh này chỉ xảy ra trong khoảng 30% anh chị em trong gia đình [26] và tỷ lệ XHCDT phân bố không đồng đều ở các vùng miền Một nghiên cứu trên 17 bệnh nhân ở Calcutta (ấn Độ) [22] cho thấy xơ hóa cơ delta có xu hướng tập trung vào một số dân tộc thiểu số và một số vùng (giống như hiện nay ở nước ta bệnh tập trung huyện Nghi Xuân)
+ Các mô của cơ bị “ngăn hóa dạng sợi” (fibrotic compartmentalization), dẫn đến nguyên nhân thiếu máu cơ và làm tổn thương đến các dây thần kinh (các dây thần kinh có thể bị đứt trong quá trình xơ hóa)
Tổn thương từ tiêm thuốc nhiều lần hoặc khả năng gây độc cho cơ (myotoxicity) của thuốc được xem là hai “yếu tố phát động” quá trình xơ hóa
Trang 18cơ delta, gây nên chứng viêm cơ khu trú (focal myositis) và quá trình thoái hóa cơ (myopathic degeneration process) Dây thần kinh bị tổn thương hay bị
đứt cùng lúc với quá trình xơ hóa của cơ Ngoài ra, các mô liên kết cũng có thể bị tổn thương trong quá trình này Những tổn thương này có thể do thiếu enzyme trong qui trình sản sinh collagen, hay tốc độ sản sinh collagen gia tăng quá cao, hay đột biến từ những gen có chức năng kiểm soát qui trình sản xuất collagen Một trong những cơ chế trên có thể giải thích tại sao một số không ít bệnh nhân không có tiêm thuốc mà cũng bị bệnh xơ hóa cơ delta
• Nguyễn Ngọc Hưng [7], đY đưa ra giả thiết về cơ chế bệnh sinh xơ hóa cơ sau tiêm kháng sinh qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Giả thiết về cơ chế bệnh sinh xơ hóa cơ sau tiêm kháng sinh [7]
Trong một thời điểm nhất thời, Ion calci giảm (trong suy dinh dưỡng, trong nôn nặng, sau mổ, rối loạn nước và điện giải) dẫn đến giảm hoạt động của men Phosphorylase, thoái hóa từ ATP sang ADP ngừng, năng lượng cho quá trình trao đổi giảm hoặc sau tiêm kháng sinh làm thay đổi quá trình vận chuyển ion trong và ngoài tế bào và Ion calci giảm
Trang 191.2.3 Tổn thương giải phẫu bệnh học [25]
1.2.3.1 Đặc điểm đại thể
- Tổn thương cơ bản là dải xơ màu trắng, mật độ chắc vị trí nông hoặc sâu trong bó cơ, dọc theo hướng các sợi cơ Cắt ngang dải xơ là vùng tổ chức màu không trắng thuần nhất
- Kích thước dải xơ không đồng đều mà thay đổi theo từng ca bệnh, độ dày
có thể lên tới 2,5 cm
- Quanh dải xơ là mô cơ màu đỏ sẫm
- Mức độ nhẹ hơn có thể thấy vài dải xơ nhỏ xen lẫn mô cơ hoặc chỉ thấy mô mềm màu xám, hơi dai
1.2.3.2 Đặc điểm vi thể
- Tại vùng tổn thương thấy các bó sợi collagen có mật độ dày đặc thay thế mô cơ, vùng trung tâm có các tế bào thoái hóa kính vùi ít sợi collagen Ranh giới giữa mô cơ và mô liên kết xơ có các tế bào sợi, mạch máu, sợi thần kinh Trường hợp nhẹ hơn thấy tổn thương có dạng xen kẽ giữa mô cơ với các vùng tổn thương nhỏ gồm tế bào sợi, các bó sợi collagen, vùng tế bào thoái hóa kính hoặc chỉ thấy mô liên kết xơ tăng sinh [25]
- Mạch máu: Phần lớn mạch máu có cấu trúc bình thường Một số mạch máu có biến đổi, thành mạch máu dày, mất nội mô, lòng mạch chít hẹp hoặc biến mất Nhẹ hơn thấy tổn thương gián đoạn nội mạc hoặc chỉ thấy tế bào nội mô phồng to [25]
- Thoái hóa cơ ở tất cả các mẫu sinh thiết: màng bào tương gián đoạn,
có các không bào lớn hoặc nhỏ trong cơ tương, một số tế bào mất vân cơ Có chỗ thấy tế bào cơ vân bị biến đổi thành dạng tế bào khổng lồ, nhân tập trung
về giữa tế bào, bào tương rộng bắt màu hồng khi nhuộm HE (Hematoxylin – Eosin) [25]
Trang 20- Không thấy hình ảnh viêm cơ, không thấy tổn thương huỷ hoại mô cơ tiến triển [25]
1.2.4 Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng xơ hóa cơ Delta
1.2.4.1 Lâm sàng
- Nhìn từ phía trước: cánh tay giang xa thân, đầu trên xương cánh tay nhô cao ra phía trước lên trên và vào trong (bán trật khớp vai), rYnh Delta – ngực mất
- Nhìn từ phía bên: mỏm cùng vai hạ thấp, đầu trên xương cánh tay nhô
ra trước rõ Cánh tay và khuỷu đưa ra sau so với trục đứng dọc của cơ thể Có các vết lõm trên bề mặt da RYnh lõm dọc thân cơ thường là bó giữa của cơ Delta
- Nhìn từ phía sau: xương bả vai bên bị xơ hoá kéo xuống thấp, bờ trong xương bả vai bị rời xa khỏi thành sau ngực, cực dưới xương bả vai có xu thế bị xoay ra ngoài Gai sau xương bả vai nhô cao
- Khám vận động khớp vai: trẻ luôn bị dạng khớp vai tạo nên một góc cơ thể giữa cánh tay và thân gọi là góc giang vai, đây là góc có tính quyết
định trong đánh giá xơ hoá cơ delta, nếu góc giang vai > 250 là một trong những chỉ số quyết định lựa chọn phương pháp phẫu thuật hay điều trị phục hồi chức năng
- Vận động khép ngang vai: dễ phát hiện và đánh giá nhất tùy mức độ xơ hoá cơ Delta mà có thể hạn chế vận động khép khớp vai trên mặt phẳng ngang
- Vận động giang vai: có thể hạn chế giang khớp vai < 900, nhưng trong nhiều trường hợp có vận động bù trừ của các khớp cùng vai, cột sống có thể nghiêng sang một bên
- Vận động xoay trong ở tư thế gấp, duỗi và khép bị hạn chế nên trẻ không chạm được các đầu ngón tay vào xương bả vai bên đối diện theo mức
độ khác nhau
Trang 21- Sờ nắn vùng vai cũng giúp phát hiện và đánh giá mức độ xơ hoá cơ Delta Có thể sờ thấy dải xơ, mật độ chắc lằn ở dưới tay, thường gặp nhất là bó giữa cơ Delta mà vị trí là ở giữa mặt ngoài của xương cánh tay
- Để đánh giá mức độ hạn chế của động tác khớp vai, Jih-Yang và cộng
sự lượng hoá bằng cách xác định các góc: giang vai, duỗi vai, khép vai theo mặt phẳng ngang [34,30]
Góc giang vai: được đo tại điểm giao nhau giữa trục đứng của thân (đường song song với gai sống) và cánh tay giang với khớp vai ở vị trí giải phẫu (đường song song với cánh tay)
Hỡnh 1.4 Gúc giang vai [30]
Góc duỗi vai: được đo tại điểm giao nhau giữa trục đứng của thân
và cánh tay duỗi với khớp vai ở vị trí giải phẫu (một đường song song với bờ trước xương cánh tay)
Trang 22Hỡnh 1.5 Gúc duỗi vai [30]
Góc khép vai theo mặt phẳng nằm ngang: là góc được tính khi cánh tay gấp ra trước 900 sau đó khép hết mức vào thân mình Góc khép theo mặt phẳng ngang là góc giữa đường thẳng song song với xương cánh tay và đường thẳng vuông góc với khớp vai Nếu cánh tay có thể khép được vào trong khớp vai, giá trị của góc
là dương tính, nếu cánh tay khi khép vẫn còn ở phía ngoài của khớp vai thì giá trị của góc là âm
- Theo Nguyễn Ngọc Hưng [11, 30] có thể đánh giá mức độ hạn chế của
động tác khớp vai dựa vào đo góc Bả vai- Cánh tay Góc này có giá trị lượng hoá tình trạng “xương bả vai cánh chim” Góc Bả vai- cánh tay được tính là nặng khi < 200
Góc Bả vai – Cánh tay (Nguyễn Ngọc Hưng Angle – NNH.A):
được đo tại điểm giao nhau giữa đường ngang (từ góc trên của xương bả vai tới bờ ngoài mỏm cùng vai) và trục xương cánh tay với khớp vai khép ngang tối đa
Trang 23- Siêu âm: các lớp cắt ngang chi tiết của cơ delta trên siêu âm từ nguyên uỷ
đến lồi củ Delta cho phép xác định vị trí của dải xơ Các lớp cắt dọc cho phép
đánh giá sự lan rộng của tổn thương theo chiều dọc Hình ảnh của xơ cơ Delta trên siêu âm có thể thấy:
- Hình ảnh dải xơ, các lớp cắt ngang cho phép xác định được vị trí (bó trước, bó giữa, bó sau)
Trang 24- Các cấu trúc trong tổn thương như vùng giảm âm hay vôi hoá và đường kính ngang của tổn thương quan sát được tối đa Các hình thái của tổn thương
được dựa vào:
+ Độ I: sợi xơ tăng âm, trong có nhiều nốt giảm âm < 8mm
+ ðộ II: sợi xơ không đồng nhất với các nốt giảm âm từ 8-15 mm + ðộ III: tổn thương vôi hoá > 15 mm
- Chụp cắt lớp vi tính:
- Khi muốn xác định chính xác các tổn thương xương
- Nhằm xác định vị trí của chỏm xương cánh tay với ổ chảo và lồng ngực
- Đánh giá thay ủổi xương gây ra do vị trí bất thường của khớp
- Chụp cộng hưởng từ: cộng hưởng từ không chỉ cho phép đánh giá vị trí
tổn thương mà còn cung cấp thông tin có ích trong việc chuẩn bị phương pháp
điều trị, đặc biệt cho phẫu thuật
- Điện cơ đồ: xác định có tổn thương thần kinh ngoại vi chi phối vận động
- Xương bả vai nhô cao và xoay ngoài (biến dạng bả vai cánh chim)
- Thấy rYnh lõm da dọc theo dải xơ
- Sờ thấy dải xơ trên trục cơ Delta
- Trường hợp nặng thấy tình trạng bán trật khớp vai, vai xuôi và có biến dạng cột sống
Cận lâm sàng:
Trang 25- Chụp X-Q lồng ngực tư thế thẳng và nghỉ: dấu hiệu mỏm cùng chúc xuống thấp, mất khe khớp vai cánh tay, trường hợp nặng có thể thấy hình
7 X- quang cho thấy hình một dải xương sụn ủược nối từ góc trên trong xương bả vai với C5-C6-C7; không sờ thấy dải xơ
• Liệt thần kinh ngực dài dẫn đến liệt cơ răng trước, do ủó xương bả vai
bị kéo bởi cơ thang nên khi nâng cánh tay sẽ làm cho bờ trong xương
bả vai xoay ngoài và lên trên giống như triệu chứng xương bả vai trong
xơ hoá cơ delta [34]
• U xương sụn ở mặt trước xương bả vai cũng làm cho xương bả vai xoay ngoài và lên trên, triệu chứng này sẽ hết khi lấy bỏ u [34]
• Liệt ủám rối thần kinh cánh tay cũng dẫn ủến co dạng khớp vai và xương bả vai xoay ngoài, lên cao nhưng thường liên quan tới cơ trên gai và cơ tròn nhỏ và tổn thương này dễ nhận thấy bởi những cử ủộng không tự chủ của bệnh nhân, không sờ thấy dải xơ hoặc nếp lõm da trên vùng cơ delta [34]
• Xơ hoá các cơ khác: tròn bé, dưới vai
Trang 261.2.6 Hậu quả của xơ hoá cơ Delta
Xơ hoá cơ delta có thể dẫn đến các hậu quả là:
• Kẹt khớp vai dưới mỏm cùng vai (subacromial impingement ) [30, 46]
• Quá phát mỏm cùng vai (acromial hyperplasia) [30, 51]
• Biến dạng cốt sống [30]
• Biến dạng lồng ngực [30]
1.2.7 Phân loại mức độ xơ hoá cơ Delta
Bảng 1.1 Phân loại mức độ bệnh xơ hóa cơ delta [11]
Góc duỗi vai > 15 ủộ > 05 ủộ - ≤ 15 ủộ ≤ 05 ủộ Gúc bả vai-cỏnh tay (NNH.A) ≤ 20 ủộ > 20 ủộ - ≤ 30 ủộ > 30 ủộ Sai khớp một phần hoặc sai
Trang 271.2.8.2 Chống chỉ định phẫu thuật
- Đối với các trường hợp chưa có chẩn đoán rõ ràng
- Đang có bệnh lý toàn thân và ngoài da tại vùng vai có viêm nhiễm
- Có đám tổ chức xơ hóa trong cơ Delta nhưng không gây những biến dạng bệnh lý như mô tả ở trên
- Đối với các trường hợp có bệnh lý như:
+ Loạn dưỡng cơ tiến triển
+ Xơ hóa toàn bộ cơ Delta
+ Teo do thiểu dưỡng nhiều cơ gây biến dạng lồng ngực
+ Các bệnh thần kinh gây teo cơ Delta
1.2.8.3 Điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng
- Giảm đau bằng các thuốc không steroid (non-steroid)
- Điều trị chức năng sau phẫu thuật: tất cả các trường hợp sau phẫu thuật xơ hóa cơ Delta
- Điều trị phục hồi chức năng đơn thuần không phẫu thuật: tất cả các trường hợp xơ hóa cơ Delta không có chỉ định mổ (mức độ vừa, nhẹ)
Trang 28Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em và trẻ vị thành niên < 20 tuổi hiện đang sinh sống tại 6 xY/phường thuộc 2 huyện và 1 thị xY của tỉnh Hà Tây
- Tiêu chuẩn xác định từng trường hợp mắc xơ hoá cơ Delta: dựa vào 05
tiêu chuẩn chính và có hoặc không có tiêu chuẩn phụ [10, 11, 20]
- Tiêu chuẩn chính:
+ Cánh tay không khép hết vào thân mình khi buông lỏng
+ Sờ thấy dải xơ của cơ Delta
+ Xương bả vai nhô cao và xoay ngoài (bả vai cánh chim)
+ Trật khớp vai một phần (bán trật khớp vai)
+ Các động tác khác của khớp vai bình thường và trương lực cơ bình thường
- Có hoặc không có tiêu chuẩn phụ:
+ RYnh lõm chạy dọc theo cơ Delta
+ Không sờ được bả vai bên đối diện
+ Cảm giác đau vùng cổ- vai- cánh tay
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Trường hợp bị bệnh bại liệt
+ Bị các bệnh di chứng về nYo
+ Tiền sử chấn thương khớp vai
Trang 292.2 thêi gian vộ ệỡa ệiÓm nghiến cụu
2.2.1 Thêi gian nghiến cụu: thêi gian nghiến cụu tõ thịng 7/2007 Ờ 8/2008 2.2.2 Giắi thiỷu tãm l−ĩc ệỡa ệiÓm nghiến cụu
- Hộ Tẹy lộ tửnh ệ−ĩc chản chự ệỡnh ệÓ nghiến cụu Theo bịo cịo Hộ
Tẹy còng lộ tửnh cã sè l−ĩng cịc ca bỷnh xể hoị cể Delta khị cao
Dẹn sè vộ ệiÒu kiỷn tù nhiến:
- Tỉnh Hà Tẹy nằm ở phÝa hữu ngạn sềng đà và sềng Hồng thuộc vỉng chẹu thổ sềng Hồng, cã toạ ựộ ựịa lý 20033Ỗ Ờ 21018Ỗ vĩ ựộ bắc và 105017Ỗ-
105059Ỗ kinh ựộ ựềng PhÝa bắc giịp tỉnh Vĩnh Phóc, phÝa nam giịp tỉnh Hà Nam, phÝa ựềng giịp thủ ựề Hà Nội và tỉnh Hưng Yến, phÝa tẹy giịp Hoà Bừnh, Phó Thọ Diện tÝch 2.142,75 km2 với dẹn số 2.237.104 người Trong ựã dẹn tộc Mường cã 21.957 người, dẹn tộc Dao cã 1.320 người Mật ựộ dân số 1.037 người/km2 Cịc huyỷn, thộnh phè cựa Hộ Tẹy găm: thỡ xY Hộ ậềng vộ thộnh phè Sển Tẹy, 12 huyỷn (Ba Vừ, Phó Thả, ThỰch ThÊt, ậan Ph−ĩng, Quèc Oai, Hoội ậục, Th−êng TÝn, Phó Xuyến, Thanh Oai, Ch−ểng Mủ, Mủ
ậục, ụng Hoộ
Y tạ:
- Cịc ựơn vị Y tế tuyến tỉnh gồm: Cơ quan quản lý Nhà nước (Sở Y tế);
cã 03 Bệnh viện ựa khoa, 03 bệnh viện chuyến khoa, 01 cơ sở ựào tạo: Trường Trung học Y tế Hà Tẹy, 08 Trung tẹm, Trạm chuyến khoa tuyến tỉnh, 01 cơ sở giịm ựịnh sức khoẻ
- Cịc ựơn vị Y tế tuyến huyện, thị xY: cã 14 Trung tẹm Y tế cịc huyện,
thị xY với 1.410 giường bệnh và 18 phưng khịm ựa khoa khu vực
- Mạng lưới Y tế cơ sở (xY, phường, thị trấn) và ựược bố trÝ 1620 giường bệnh ựể tổ chức thu dung, ựiều trị những bệnh thềng thường, chăm sãc sức
khoẻ sinh sản Toàn tỉnh cã trến 750 cơ sở hành nghề Y Ờ Dược tư nhẹn
Trang 30Hình 1.7 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tây
Trang 312.3 Phương pháp nghiên cứu
- áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Công thức cho thiết kế nghiên cứu mô tả là:
Trong đó:
- n : số đối tượng cần điều tra
- p : theo số liệu của trung tâm huyện Nghi Xuân- Hà Tĩnh tỷ lệ
hiện mắc XHCDT của trẻ em trong quần thể là 1.5%
- Z(1 - α/ 2) : hệ số tin cậy ở mức sác xuất 95% =1,96
2 huyện và 1 thị xY được lựa chọn là: thị xY Hà Đông, huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất
2
2
) 2 / 1 (
) 1
Trang 32+ Bước 2 chọn xY, phường: liệt kê danh sách các xY/phường của thị xY, huyện được lựa chọn Sau đó chọn hai xY/phường tại mỗi huyện thị bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn Tổng cộng có 6 xY/ phường được lựa chọn là: Dị Nậu, Đại Đồng, Vật Lại, Phú Sơn, Yên Nghĩa, Đồng Mai
+ Bước 3 chọn hộ gia đình: tại mỗi xY/ phường được lựa chọn tiến hành lập danh sách các hộ gia đình Dựa trên danh sách đó chọn ngẫu nhiên hộ gia
đình đầu tiên để điều tra Các hộ gia đình tiếp theo được lựa chọn vào nghiên cứu theo nguyên tắc gần nhất hoặc “nhà liền nhà” cho đến khi đủ số lượng hộ gia đình ở mỗi xY/ phường thì dừng lại Số hộ gia đình mỗi xY/ phường sẽ được lựa chọn theo qui mô dân số của xY/ phường đó so với 5 xY/ phường còn lại tức xY/ phường càng nhiều dân thì số hộ gia đình được lựa chọn vào nghiên cứu càng nhiều Với ước tính có 2 trẻ trong một hộ thì số hộ phải điều tra là 963
Nhi trung ưông thực hiện dựa vào các tiêu chuẩn theo mẫu biểu thống nhất
(Phụ lục 1A)
+ Phỏng vấn bố mẹ hoặc người chăm sóc của những trường hợp mắc bệnh xơ hoá cơ Delta để tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh xơ hoá cơ Delta (Phụ lục 2A)
Trang 33•Công cụ nghiên cứu:
+ Mẫu thăm khám lâm sàng (Phụ lục 1A)
+ Mẫu phiếu phỏng vấn bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ bị mắc xơ hoá cơ Delta để tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh XHCDT (Phụ lục 2A)
2.3.4 Các thông số nghiên cứu:
Số ca mắc phát hiện được tại thời điểm điều tra
Tỷ lệ hiện mắc (%) = - x100 Tổng số người được điều tra
Số mắc XHCDT từng khu vực
Tỷ lệ XHCDT từng khu vực (%) = - x100 Tổng số người được điều tra ở khu vực đó
Số nữ mắc XHCDT tại thời điểm điều tra
Tổng số nam được điều tra
Số mắc XHCDT từng nhóm tuổi
Tỷ lệ XHCDT nhóm tuổi (%) = - x100
Tổng số người được điều tra ở nhóm tuổi đó Phân theo nhóm tuổi: < 5 tuổi; 5 – 9 tuổi; 10 – 14 tuổi; 15 – 19 tuổi
Trang 345 Tỷ lệ mức độ bệnh theo phân loại của Việt nam và thế giới [11, 30, 20]
Bảng 2.2 Phân loại mức độ bệnh XHCDT
Góc duỗi vai > 15 ủộ > 05 ủộ - ≤ 15 ủộ ≤ 05 ủộ Gúc bả vai-cỏnh tay (NNH.A) ≤ 20 ủộ > 20 ủộ - ≤ 30 ủộ > 30 ủộ Sai khớp một phần hoặc sai
Chức năng (Quick DASH) > 75 điểm > 25 - ≤ 75 điểm ≤ 25 điểm
a Tuổi, giới
b Địa dư
c Tiền sử tiêm kháng sinh (có/không), đường tiêm, số đợt tiêm và loại kháng sinh được tiêm
d Tiền sử tiêm vác xin (có/không), đường tiêm
e Diễn biến tại chỗ sau khi tiêm
f Tiền sử gia đình có người mắc bệnh xơ hoá cơ Delta (anh, chị
em ruột)
g Cơ địa
Trang 352.4 Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu được làm sạch, mY hóa và phân tích được tiến hành trên phần mềm spss 13.0 Kiểm định sự khác biệt thống kê với các biến định tính giữa các nhóm bằng thuật toán χ2, χ2 > 3,84 có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0.05
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
- Các đối tượng tham gia vào phỏng vấn sẽ được giải thích rõ mục đích nghiên cứu, quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia nghiên cứu và hoàn toàn tự nguyện đồng ý tham gia
Trang 36Chương 3 kết quả nghiên cứu
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 1.926 đối tượng < 20 tuổi tại 6 xY/phường thuộc 2 huyện và 1 thị xY của tỉnh Hà Tây
Bảng 3.3 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Trang 373.1.1 Tỷ lệ hiện mắc XHCDT:
Nghiên cứu tiến hành trên 1.926 đối tượng < 20 tuổi, trong đó bao gồm
867 nam và 1059 nữ Số bệnh nhân bị XHCDT được xác định là 67 người chiếm tỷ lệ 3.48% Tỷ lệ mắc bệnh XHCDT ở nam 4.5%, nữ là 2.64% Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 3 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 20 tuổi Tỷ lệ mắc XHCDT có sự khác nhau giữa các xY nghiên cứu, được trình bày ở Bảng 3.4
3.1.2 Phân bố XHCDT theo địa điểm điều tra
Bảng 3.4 Phân bố XHCDT tại các xN/phường điều tra
Khu vực điều tra Số điều tra Số ca bệnh Tỷ lệ %
Trang 383.1.3 Ph©n bè XHCDT theo nhãm tuæi
3.1.3.1 Ph©n bè tû lÖ XHCDT theo tuæi ë giíi nam
B¶ng 3.5 Ph©n bè XHCDT theo nhãm tuæi ë nam
3.1.3.2 Ph©n bè tû lÖ XHCDT theo nhãm tuæi ë giíi n÷
Trang 393.1.3.3 Phân bố tỷ lệ XHCDT theo nhóm tuổi
Bảng 3.7 Phân bố XHCDT theo nhóm tuổi chung cho cả nam và nữ
Nhóm tuổi Số điều tra Số ca bệnh Tỷ lệ % P
3.1.3.4 Phân bố nhóm tuổi mắc XHCDT theo xN/phường điều tra
0 0 0
6,85
3,125 1,6 0 3,45
0 0,86 0 2,53
0 012,76
0
5,26
0,74
5,36 6,312,15 0
5 10 15 20 25 30 35 40
Vật Lại Phú Sơn Dị Nậu Đại Đồng Yên Nghĩa Đồng Mai Chung
< 5 5-9 10-14 15-19
XY
Tỷ lệ % XHCDT
Biểu đồ 3.1: Phân bố nhóm tuổi mắc XHCDT theo xN/phường điều tra
Trang 40Nhận xét: Biểu đồ 3.1 cho thấy phân bố tỷ lệ xơ hoá cơ Delta mắc tại
các xY/phường phân bố không đều giữa các nhóm tuổi, cao nhất ở nhóm tuổi
5-9 tuổi, sau đó là nhóm 10-14 tuổi, thấp nhất là nhóm < 5 tuổi XY Vật Lại bệnh xơ hoá cơ Delta gặp ở tất cả các nhóm tuổi, cao nhất là nhóm tuổi 5-9
3.1.5 Đặc điểm lâm sàng chung của bệnh nhân XHCDT
Trong số 67 bệnh nhân có 35 trường hợp bị XHCDT hai bên (52,20%)
và 34 trường hợp bị 1 bên (47.8%) Như vậy có 104 vai bị bệnh (37 vai đY
được phẫu thuật), trong đó gồm: 49 vai phải và 52 vai trái Những dấu hiệu lâm sàng chung của bệnh nhân mắc bệnh XHCDT được trình bày ở Bảng 3.9