530Các giải pháp huy động vốn đổi mới máy móc thiết bị công nghệ may tại Công ty Cổ Phần Thương mại và Xuất nhập khẩu Quế Võ (72 tr)
Trang 1Lời mở đầu
Lãi suất là giá cả của tiền tệ, là công cụ điều hành kinh tế vĩ mô lãi suất tác
động đến cung- cầu vốn thị trờng, tạo động lực kích thích tiết kiệm, phân bổ cácnguồn vốn tài chính, chống lạm phát thông qua kích thích hoặc hạn chế đầu t
Thực tiễn hoạt động ngân hàng trong thời kỳ mới vừa qua cho thấy lãi suấtvừa là tín hiệu thị trờng hết sức quan trọng để điều hành chính sách tiền tệ, đồngthời lại là công cụ trong tay Ngân hàng Nhà nớc để điều chỉnh các luồng vốn vàkhối lợng tiền nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ Trong thời gian qua,Ngân hàng Nhà nớc đã hoạch định và điều hành chính sách lãi suất một cách chủ
động, nới lỏng dần sự kiểm soát lãi suất theo hớng tự do hoá, phù hợp với điều kiệnkinh tế – xã hội Đối với Việt Nam hiện nay, hội nhập quốc tế là một xu thế tấtyếu Sự di chuyển vốn giữa các quốc gia là tự do, lãi suất hoàn toàn đợc xác địnhtheo quan hệ cung cầu, giá vốn vì vậy cũng phải đợc tự do hoá, mà Việt Nam khôngnằm ngoài quy luật đó
Từ chỗ lãi suất đợc quy định các mức cụ thể, thứ đến là quy định sàn lãi suấttiền gửi, trần lãi suất cho vay, rồi tự do hoá hầu hết lãi suất tiền gửi, chỉ khống chếtrần lãi suất cho vay Từ tháng 8/ 2000, Ngân hàng Nhà nớc đã áp dụng lãi suất cơbản, và đến tháng 6/ 2002 là cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận, một bớc tiến quantrọng trong tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam Đây là một trong những vấn đềthu hút sự quan tâm chú ý thờng xuyên của nhiều ngời, nhiều ngành, đặc biệt làngành Ngân hàng Là một sinh viên khoa Ngân hàng- Tài chính, em mong muốn đ-
ợc nghiên cứu vấn đề này để đợc hiểu sâu về cơ chế lãi suất ngân hàng mà hiện nay
là cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận đang đợc áp dụng cho hệ thống các NHTM
Việt Nam Vì vậy tên luận văn em thực hiện là : “Giải pháp áp dụng cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận tại các NHTM Việt Nam (cụ thể tại Sở Giao dịch I-” (cụ thể tại Sở Giao dịch I-
Ngân hàng Công Thơng Việt Nam).
Bố cục của luận văn:
Lời mở đầu
Nội dung của luận văn đợc chia ra 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề chung về lãi suất cho vay của NHTM
Chơng 2: Thực trạng áp dụng cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận tại SGD I
Chơng 3: Giải pháp áp dụng cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận bằng VNĐ
Trang 2Kết luận
Do sự hạn chế về kiến thức nên luận văn không thể không có những thiếu sót,
em rất mong nhận đợc sự chỉ bảo hớng dẫn của các thầy cô giáo khoa Ngân Tài chính, đặc biệt là thầy giáo Đặng Ngọc Đức, các cán bộ SGD I- NHCT VN để
hàng-em có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp Em xin chân thành cảm ơn!
về phần lớn nguồn tiền mà ngân hàng huy động đợc cấu thành chi phí của ngânhàng và ngợc lại khách hàng cũng phải trả giá cho các sản phẩm mà ngân hàngcung cấp- cấu thành thu nhập của ngân hàng
Trang 3Lãi suất tiền gửi:
Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vợng và phát triển của ngân hàng, là cơ sởchính của các khoản cho vay và do đó nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận Lãisuất tiền gửi là lãi suất hiện tại tính trên tài khoản tiền gửi đợc niêm yết tại tất cả
các chi nhánh của ngân hàng Lãi suất tiền gửi là lãi suất danh nghĩa, là lãi suất
không tính đến tác động của lạm phát, hay nói cách khác lãi là lãi suất ghi trên hợp
đồng tín dụng, hay các giấy tờ có giá
Lãi suất tiền gửi = Lãi suất cơ bản + Tỷ lệ lạm phát
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàngthơng mại Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tàikhoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hànghuy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân c
Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại hình tiền gửi khác nhau, có thể phân loại
nh sau:
Tiền gửi giao dịch ( tiền gửi thanh toán ): bao gồm
Tiền gửi giao dịch không hởng lãi
Tiền gửi giao dịch hởng lãi :
-Tài khoản NOW- negotiable order of withdrawal- tài khoản lệnh rút tiền cóthể thơng lợng
-Tài khoản tiền gửi trên thị trờng tiền tệ (MMDA): là tài khoản tiền gửi cóthời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần hay vài tháng Lãi suất của loạinày cao nhất trong 3 loại tiền gửi giao dịch không hởng lãi
-Tài khoản Super NOW (SNOW) : là tài khoản có thể đợc phát sec thờngxuyên nên lãi suất của SNOW thấp hơn của MMDA
Tiền gửi phi giao dịch ( tiền gửi tiết kiệm):
Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giaodịch
Các loại tiền gửi có các mức lãi suất khác nhau, và đợc tuân theo nguyêntắc :
Lãi suất bình quân thực dơng, tơng quan về an toàn và sinh lợi với cáchoạt động đầu t khác nh mua vàng, bất động sản, chứng khoán;
Trang 4 Lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất cho vay với cùng kỳ hạn;
Lãi suất tỷ lệ thuận với kì hạn;
Lãi suất tỷ lệ thuận với quy mô;
Lãi suất tỷ lệ nghịch với tính thanh khoản;
Lãi suất tỷ lệ thuận với khả năng sử dụng của tiền gửi;
Lãi suất tỷ lệ nghịch với độ an toàn của ngân hàng và các tiện ích màngân hàng cung cấp
Mỗi loại tiền gửi nói trên đều mang một mức lãi suất khác nhau Nói chung,theo lý thuyết giá trị của tiền theo thời gian và theo mối quan hệ tỷ lệ thuận trong đ-ờng cong thu nhập thì tiền gửi có kỳ hạn thanh toán càng dài sẽ tạo ra mức lãi càngcao cho ngời gửi tiền Ví dụ, tài khoản NOW và tài khoản tiết kiệm đều có thể đ ợcrút tiền ngay lập tức, và do đó lãi suất đối với loại này là thấp nhất
Quy mô và mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọngtrong việc hình thành lãi suất tiền gửi Ví dụ, các ngân hàng ở Newyork, Londonnhờ vào quy mô lớn và sức mạnh tài chính nên có thể thu hút tiền gửi ở mức lãi suấtbình quân thấp nhất, trong khi lãi suất thông báo ở các ngân hàng khác thờng caohơn Những yếu tố quan trọng là triết lý về Marketing và mục tiêu của việc cungcấp các dịch vụ ngân hàng Ngân hàng nào quyết định chọn mục tiêu là cạnh tranhgiành tiền gửi sẽ luôn luôn đặt ra mức lãi suất cao hơn để kéo khách hàng khỏi các
đối thủ cạnh tranh Ngợc lại khi ngân hàng muốn hạn chế quy mô của một loại hìnhtiền gửi nào đó, ngân hàng sẽ hạ lãi suất công bố thấp hơn mức lãi suất các đối thủcạnh tranh đa ra
Hiện nay, hầu hết các nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tìnhtrạng tiến thoái lỡng nan trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi-nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng Một mặt, ngân hàng phải trả một mứclãi suất đủ lớn để thu hút và duy trì sự ổn định trong lợng tiền gửi của khách hàng.Mặt khác, ngân hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao vì điều này sẽlàm giảm thu nhập của ngân hàng Các nhà quản lý ngân hàng thờng phải lựa chọngiữa hai mục tiêu tăng trởng và khả năng sinh lời Trả lãi suất cao hơn cho cáckhoản tiền gửi và các nguồn vốn khác giúp cho ngân hàng tăng trởng nhanh hơn,nhng lại có thể khiến cho lợi nhuận của ngân hàng giảm Vì vậy nghiên cứu các ph-
ơng pháp định giá tiền gửi là rất cần thiết, có nhiều mô hình định giá tiền gửi, chủyếu gồm : Định giá theo chi phí- thu nhập; Định giá xâm nhập thị trờng; Định giá
Trang 5có điều kiện; Định giá mục tiêu trọng điểm và Định giá theo quan hệ với kháchhàng.
1.1.1.1 Định giá tiền gửi theo phơng pháp tổng hợp chi phí- thu nhập
Mỗi dịch vụ liên quan tới tiền gửi thờng đợc định giá sao cho khoản thu đủ
bù đắp tất cả hoặc phần lớn chi phí cho việc cung cấp dịch vụ đó Giá của các dịch
vụ này đợc xác định theo công thức tổng hợp chi phí- thu nhập nh sau:
+
Chi phí quản lý chung dự tính phân
bổ cho bộ phận nhận tiền gửi
+
Định mức lợi nhuận từ một
đơn vị dịch
vụ tiền gửi
Việc định giá theo phơng pháp này đòi hỏi ngân hàng phải tính toán chínhxác chi phí cho mỗi dịch vụ tiền gửi, khuyến khích các ngân hàng đặt giá sát hơnvới chi phí
1.1.1.2 Định giá xâm nhập thị trờng:
Xâm nhập thị trờng là một phơng pháp định giá không nhấn mạnh tới vấn đềlợi nhuận, ít nhất là trong ngắn hạn ý tởng ở đây là nâng cao lãi suất , thờng là caohơn hẳn mặt bằng lãi suất thị trờng hoặc thu phí dịch vụ thấp hơn mức phí thị trờng
để có thể thu hút đợc nhiều khách hàng Ngân hàng hy vọng rằng sự gia tăng nhanhchóng tiền gửi và những khoản tín dụng sẽ bù đắp một phần sự giảm sút trong lợinhuận cận biên Với chiến lợc này, ngân hàng muốn tối đa hoá thị phần trong mộtthị trờng đang tăng trởng nhanh chóng
1.1.1.3 Định giá có điều kiện (Thiết lập bảng giá đối với các nhóm khách hàng gửi tiền)
Theo phơng pháp này, khách hàng sẽ phải trả một khoản lệ phí rất nhỏ thậmchí là không phải trả lệ phí nếu số d tiền gửi bình quân của họ cao hơn một mứcnhất định hoặc khách hàng sẽ phải trả một lệ phí cao hơn nếu số d tài khoản trungbình thấp hơn mức giới hạn Do đó mức giá dịch vụ mà khách hàng phải trả phụthuộc vào việc họ sử dụng tiền gửi nh thế nào
Giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi thay đổi trên cơ sở một hoặc một sốnhững yếu tố sau:
-Số lần giao dịch thực hiện qua tài khoản
-Số d tài khoản trung bình trong một thời kỳ nhất định
Trang 6-Kỳ hạn của tiền gửi theo ngày, tuần, hoặc tháng.
1.1.1.4 Định giá nhằm mục tiêu trọng điểm:
Mỗi ngân hàng đều xây dựng mục tiêu trọng điểm trong chiến lợc hoạt động.Mục tiêu trọng điểm có thể gắn với lợi thế và duy trì lợi thế so sánh của ngân hàng
Định giá nhằm mục tiêu trọng điểm là xác định giá mang lại lợi thế so sánh chokhách hàng qua đó ngân hàng mong muốn thu hút các cá nhân và doanh nghiệp gửitiền Ví dụ: mục tiêu trọng điểm của ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam là phục vụxuất nhập khẩu, do đó phí dịch vụ hoặc giá mua bán ngoại tệ thờng ở mức thấp sovới nhiều ngân hàng khác
Ngày nay, trên các thị trờng tiền gửi, sức cạnh tranh gay gắt giữa các ngânhàng cùng với việc ngày càng nhiều ngân hàng sử dụng phơng pháp định giá mụctiêu trọng điểm và phơng pháp định giá có điều kiện đã khiến cho khách hàng có đ-
ợc thông tin tốt hơn và nhạy cảm hơn với giá tìm đợc cho mình sao cho có lợi nhất
1.1.1.5 Định giá tiền gửi trên cơ sở mối quan hệ tổng thể với khách hàng.
Với ý tởng tranh thủ những khách hàng tôt nhất, ngân hàng đã tiến hành địnhgiá tiền gửi theo số lợng dịch vụ mà khách hàng sử dụng Những khách hàng sửdụng từ hai dịch vụ trở lên có thể phải chịu lệ phí ở mức thấp, thậm chí không phảitrả lệ phí, còn những khách hàng chỉ có quan hệ hạn chế với ngân hàng sẽ phải trả
lệ phí cao hơn Nhà quản lý cho rằng việc sử dụng nhiều các dịch vụ sẽ làm tăng sựphụ thuộc của khách hàng vào ngân hàng và điều này sẽ khiến khách hàng khó rời
bỏ ngân hàng để tìm một ngân hàng khác Bởi vậy, ít nhất là trên lý thuyết, chínhsách định giá trên cơ sở quan hệ sẽ tạo sự trung thành của khách hàng và làm cho
họ kém nhạy cảm hơn với lãi suất tiền gửi của đối thủ cạnh tranh
Trong các phơng pháp định giá trên, phơng pháp định giá phổ biến nhất hiệnnay là lập bảng định giá hay định giá có điều kiện, theo đó phí dịch vụ phụ thuộcvào mức độ sử dụng từng loại dịch vụ tiền gửi Phơng pháp này cho phép kháchhàng dễ dàng lựa chọn kế hoạch tiền gửi để tối thiểu hoá chi phí, qua đó ngân hàngcũng nhận đợc các thông tin về thói quen sử dụng tiền của khách hàng
Lãi suất cho vay:
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và truyền thống của ngân hàng Khicạnh tranh trên thị trờng cho vay càng cao, ngân hàng càng phải cố gằng duy trì giá
Trang 7của các khoản tín dụng tại mức hợp lý, phù hợp với mặt bằng chung của thị trờngtài chính Trong một thị trờng có tính cạnh tranh cao, ngân hàng chỉ có thể đóng vaitrò là ngời chấp nhận giá, ngân hàng không thể là ngời đặt giá Cùng với quá trình
tự do hoá hoạt động ngân hàng tại nhiều quốc gia, sự gia tăng trong cạnh tranh đãthu hẹp đáng kể khả năng sinh lời của ngân hàng từ các nghiệp vụ nhận tiền gửi vàcho vay Chính vì vậy, việc định giá chính xác các khoản cho vay ngày càng trởthành vấn đề cấp thiết đối với ngân hàng trong giai đoạn hiện nay
Lãi suất cho vay là tỷ lệ số tiền lãi so với số tiền gốc khách hàng vay phải trảcho ngân hàng thơng mại
Lãi suất
Lãi suất tiền gửi +
Chi phí nghiệp
vụ Ngân hàng
Nhiều yếu tố cần đợc xem xét khi định giá những khoản cho vay bao gồm:
Phí tổn lãi suất trực tiếp của các quỹ
Chi phí quản lý ngân hàng
Các chi phí để kiếm và điều hành khoản cho vay Chi phí này phụthuộc quy mô của khoản cho vay, số lãi suấtợng điều tra tín dụng cầnthực hiện, chi phí bảo quản và duy trì sự kiểm soát vật cầm cố và chiphí để thu nợ
Rủi ro tín dụng ( vỡ nợ ) của khoản cho vay
Rủi ro đáo hạn ( lãi suất ) của khoản cho vay
Mức lãi có thể chấp nhận đối với ngời vay từ nguồn vốn cạnh tranh,bao gồm ngời cho vay và các thị trờng trái phiếu và thơng phiếu
Toàn bộ mối liên hệ giữa ngân hàng và ngời vay, điều này bao gồm lãisuất thu đợc ở số d tiền gửi của ngời vay cũng nh các chi phí nảy sinhtrong việc thực hiện các dịch vụ nh chi trả séc và thâu ngân các khoản
đợc ký thác cho ngời vay
Lợi tức có thể thu đợc nhờ các nguồn đầu t khác
Lợi tức chia cho vốn cổ phần
Ngân hàng định lãi suất cho tất cả các loại hình cho vay, bao gồm :
Trang 81.1.2.1 Lãi suất cho vay kinh doanh:
Lãi suất áp dụng cho các hoạt động kinh doanh thờng là thấp nhất trong sốtất cả các mức lãi cho vay của ngân hàng, đặc biệt là các lãi suất cho vay ngắn hạn
+ Chi phíhoạt động +
Phần bùrủi ro +
Mức lợinhuận cậnbiên dự tínhTrong đó :
Chi phí hoạt động : bao gồm tiền công, lơng cho nhân viên và chi phí vềtrang thiết bị cho việc giải quyết các thủ tục cho vay
Phơng pháp định giá theo lãi suất cơ sở:
Do những hạn chế của phơng pháp tổng hợp chi phí nêu trên, ngời ta đã đa ramô hình định giá theo lãi suất cơ sở Lãi suất cơ sở đợc xem nh là lãi suất thấp nhất
mà ngân hàng áp dụng trên các khoản cho vay ngắn hạn ( vốn lu động) đối với cáckhách hàng có chất lợng tín dụng cao nhất Lãi suất đối với từng món vay cụ thể đ-
+ Phần bùrủi ro tíndụng
Lãi suất cơ bản của một ngân hàng là một loại lãi suất quan trọng đối với đa
số khách hàng đi vay vốn Lãi suất cơ bản là lãi suất mà một ngân hàng cần phảitính cho ngời đi vay để trang trải phần lớn chi phí hoạt động của ngân hàng trongkhi vẫn đảm bảo thu hút nguồn tiền gửi một cách có hiệu quả Lãi suất cơ bản sẽ rấtsát với lãi suất ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ, thờng nhạy cảm với các nhân tố trênthị trờng tiền tệ và vì vậy rất dễ bị thay đổi Ví dụ, nếu lãi suất cơ bản của một ngânhàng thấp hơn lãi suất của thị trờng tiền tệ, thì khách hàng sẽ vay vốn của ngânhàng và sau đó đem số vốn này cho vay trên thị trờng tiền tệ và kiếm đợc lời
Trang 9Có nhiều phơng pháp xác định lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản đợc xác địnhdựa trên tổng chi phí và thu nhập, áp dụng cho khách hàng vay tốt nhất ( rủi ro bằngkhông).
Lãi suất
cơ bản =
Lãi suất huy động +
Chi phí ròng khác +
Phần bù cho rủi ro vàlợi nhuậnHiện nay, hoạt động cho vay quy mô lớn chủ yếu dựa vào các lãi suất cơ bảntrên thị trờng tiền tệ với một tỷ lệ lợi nhuận hạn chế Điều này phản ánh sự cạnhtranh quyết liệt giữa các ngân hàng nhằm thu hút những khách hàng tốt nhất và lớn
nhất Tuy nhiên xu hớng định giá cho vay kinh doanh trên cơ sở tổng thể mối quan
hệ giữa ngân hàng và khách hàng, tính tới mọi khoản thu nhập và chi phí của việccung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng xin vay vốn đang đợc chú ý thay vìchỉ căn cứ vào bản thân yêu cầu tín dụng
1.1.2.2 Lãi suất cho vay tiêu dùng:
Lãi suất cho vay tiêu dùng thờng cao hơn lãi suất đối với hầu hết các khoảncho vay khác do quy mô nhỏ và rủi ro Lý do chủ yếu là trong quá trình cho vay,cần đến nhiều ngời thực hiện Do nhiều rủi ro trong cho vay tiêu dùng góp phần làmcho chi phí cho vay tơng đối cao so với các loại tín dụng khác Khả năng hoàn trảcủa ngời vay có thể bị gián đoạn bởi thất nghiệp, bệnh tật, tai nạn
1.1.2.3 Lãi suất cho vay bất động sản
Lãi suất cho vay bất động sản bị ảnh hởng đặc biệt bởi kỳ hạn cho vay, tỷ lệcho vay, nhu cầu về thanh khoản, và tính chất bảo đảm hay bảo hiểm bởi một cơquan thuộc chính phủ
Trang 10Kỳ hạn cho vay là một yếu tố rất quan trọng vì kỳ hạn càng lâu thì rủi rocàng lớn Tỷ lệ của khoản cho vay với giá trị càng cao thì lãi suất càng cao vì rủi rotín dụng chắc chắn lớn hen Sự bảo đảm và bảo hiểm của các cơ quan chính phủ vềthế chấp bất động sản ảnh hởng đến lãi suet, rủi ro tín dụng giảm xuống Do cácngân hàng thơng mại có nhu cầu về thanh khoản lớn hơn những ngời cho vay vốnbất động sản, khi nhu cầu thanh khoản gia tăng, lãi suất thờng đợc tăng theo.
Lãi suất cho vay liên ngân hàng:
Thị trờng tiền tệ liên ngân hàng là thị trờng mà các ngân hàng thơng mại thựchiện việc vay và cho vay lẫn nhau sau khi họ đã tự cân đối giữa nguồn vốn và sửdụng vốn tại ngân hàng của mình Lãi suất cho vay liên ngân hàng là mức lãi suấttrên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng, nó chỉ dẫn khá chính xác về chi phí vốn vaycủa các NHTM và cung- cầu vốn trên thị trờng
Nói đến lãi suất cho vay liên ngân hàng thì không thể không nhắc tới lãi suấtcho vay liên ngân hàng London ( LIBOR) Về thực chất, đối với ngân hàng, đó làlãi suất tiền vay qua phơng thức huy động tiền gửi; còn đối với khách hàng thì đó làlãi suất tiền gửi LIBOR đợc xác định hàng ngày giữa một nhóm 5 ngân hàng ởLondon có hoạt động kinh doanh hàng đầu về hối đoái, gồm có : NationalWestminster Bank (Anh), Chi nhánh ngân hàng Morgan (Mỹ), Chi nhánh ngânhàng Banque National de Paris (Pháp), Chi nhánh Ngân hàng Deutsche Bank( CHLB Đức ), và Chi nhánh Ngân hàng Bank of Tokyo Misubishi ( Nhật Bản).LIBOR áp dụng các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tự do, tức là ngoại tệ không thuộc
sự quản lý của Nhà nớc hữu quan, thờng đợc gọi là “ngoại tệ Châu Âu” (cụ thể tại Sở Giao dịch ( Eurocurrency), nh Euro USD, Euro GBP, Euro JPY v.v Mỗi loại ngoại tệ đợcchào mời với một lãi suất riêng biệt, chủ yếu với thời hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 thángvào thời điểm khoảng 11 giờ (giờ London) khi mà tình hình cung cầu đã rõ nét trênthị trờng vốn quốc tế Các khoản lớn và có tính quốc tế thờng áp dụng LIBOR, trừkhi có thoả thuận riêng vì rằng London là trung tâm tài chính truyền thống lớn nhất
I-và sôi động nhất thế giới I-và những ngân hàng thuộc nhóm đề ra LIBOR là nhữngngân hàng có nhiều hoạt động và kinh nghiệm trên thị trờng vốn quốc tế
Ngày nay, với sự xuất hiện các con rồng Châu á và sự hình thành khối kinh
tế ASEAN đầy tiềm năng, Singapore đã trở thành một trung tâm tài chính tầm cỡ ở
Đông á và SIBOR ( Singapore InterBank offered Rate) đã đợc nhiều ngân hàng sửdụng trong nhiều quan hệ tín dụng lẫn nhau
Trang 11Từ những năm 90 ( thế kỷ 20) trở về trớc, chúng ta chỉ sử dụng LIBOR trongquan hệ vay mợn với các ngân hàng nớc ngoài, còn bây giờ, việc sử dụng LIBORhay SIBOR tuỳ thuộc vào sự lựa chọn và thoả thuận của cả hai bên cho vay và vay
nợ, và thờng do bên cho vay đề xuất
1.2 Cơ chế lãi suất cho vay của ngân hàng:
1.2.1 Lãi suất cố định:
Lãi suất cố định là mức lãi suất cho vay đợc ấn định ngay khi cho vay vốn và
không thay đổi trong một thời khoảng, thời hạn nhất định Đây là cách làm cổ điểnnhất ( vì nó có từ trớc thời đại Hy- La) Các ngân hàng đa ra các thang lãi suất đãlập sẵn để thông báo cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn từ ngân hàng, kháchhàng chỉ có việc chấp nhận mức lãi suất ấy nếu muốn vay tiền Cách làm này cónhững mặt tích cực:
-Giúp ngân hàng ớc tính khá chính xác đợc lợi nhuận từ mỗi khoản cho vay,-Chủ động tính đợc lãi suất cần đa ra để huy động tiền gửi và các loại tài sản
nợ khác
Tuy nhiên, cơ chế này cũng bộc lộ những mặt bất tiện nh:
-Cố định lãi suất làm cho ngân hàng tự hạn chế mình về khả năng cho vay và
đầu t, ngân hàng không thể cho vay dới mức ấn định, vì thế có tình trạng nhiều khithừa vốn mà không thể hoặc không giám đầu t
-Cố định lãi suất có nghĩa là không có việc thơng lợng về chi phí vốn giữangời cần vay và ngời cho vay
-Với lãi suất cố định, khách hàng luôn bị trói chặt vào mức lãi suất này trongmột khoảng thời gian nào đó, dù cho các loại lãi suất khác thay đổi nh thế nào Vìvậy ngời đi vay mà vay với lãi suất cố định trong khi lãi suất cao, sẽ bất lợi khi lãisuất giảm
-Cố định lãi suất cũng sẽ làm cho ngân hàng khó đầu t vào chứng khoán, vìhầu hết chứng khoán ngày nay đều để lãi suất cho cung cầu quyết định
Từ những nguyên nhân trên, cách cố định lãi suất trong hoạt động chỉ thịnhhành từ thập niên 60 trở về trớc, tiền mặt mà các ngân hàng thừa vào cuối kỳ rất lớnxấp xỉ 20% tổng tài sản có, nguyên nhân chính là do các ngân hàng cố định lãi suất
để đảm bảo an toàn cho lợi nhuận và vì thế không cho vay hoặc đầu t đợc hết nguồn
Trang 12huy động, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trở nên kém và rủi ro cao hơn Dovậy, từ những năm 1970 trở đi, ngân hàng các nớc đã bắt đầu áp dụng lãi suất thảnổi.
1.2.2 Lãi suất thả nổi:
Lãi suất thả nổi là lãi suất thay đổi theo cung cầu trên thị trờng Khi ngân
hàng thả nổi lãi suất và chấp nhận tính lãi theo từng kết quả thơng lợng của từnghợp đồng, sẽ có nhiều khách hàng tìm đến và ngân hàng sẽ có nhiều cơ hội tốt đểchọn lựa đầu t Cả khách hàng và ngân hàng đều thấy có lợi qua thơng lợng, một sự
“thuận mua vừa bán” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- Ngân hàng sẽ có thể ở một vài trờng hợp- cho vay với lãi suấtthấp để giữ những khách hàng có uy tín, hoặc sẵn sàng đầu t vào những loại chứngkhoán với lãi suấtợi nhuận thấp để giải quyết hết ER
Với lãi suất cố định, ngân hàng quan tâm đến lợi nhuận về mặt ngắn hạn mà
bỏ quên khách hàng, quản lý tài sản có kém hiệu quả Ngợc lại với lãi suất thả nổi,ngân hàng quan tâm đến khách hàng và lợi nhuận trong những mục tiêu dài hạn.Cách làm đơn giản của các ngân hàng thơng mại Âu- Mỹ là nó đa ra những mụctiêu về tài sản có cho tơng lai rồi vận động vốn cấp và lãi suất theo từng tình huống
1.2.3.Khung lãi suất ( lãi suất cơ bản)
Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các tổ chức tíndụng ấn định lãi suất kinh doanh của mình Lãi suất cơ bản mà NHTW công bố đợcdựa trên việc tham khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thờng của các NHTM ápdụng đối với khách hàng có uy tín Mức lãi suất cơ bản đợc cộng thêm một biên độbằng số phần trăm (%) tuyệt đối sẽ là giới hạn lãi suất tối đa cho các TCTD đợcphép cho vay Việc điều chỉnh các mức lãi suất cơ bản hàng tháng một cách linhhoạt đã tạo điều kiện bám sát tín hiêụ thị trờng, cung cầu vốn tín dụng, đáp ứngmục tiêu của chính sách tiền tệ, đảm bảo sự kiểm soát của NHNN trên thị trờng tiềntệ
1.3 Lãi suất cho vay thoả thuận
Nghị quyết Hội nghị lãi suấtần thứ năm BCHTW Đảng Khoá IX về đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 đã
Trang 13đề ra chủ trơng: “ Các tổ chức tín dụng ( ngân hàng thơng mại quốc doanh, ngânhàng cổ phần ) hoạt động dới nhiều hình thức đa dạng ở nông thôn với lãi suấtthoả thuận ” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- Chủ trơng này đặt ra yêu cầu bỏ cơ chế điều hành lãi suất cơ bảnhiện nay, chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận hay còn gọi lãi suấtà cơ chế lãisuất thị trờng Đây lãi suấtà vấn đề lãi suấtớn , mang dấu ấn có tính bớc ngoặttrong điều hành chính sách tiền tệ, tác động đến thị trờng tài chính-tiền tệ.
Có thể nói thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận lãi suấtà bớc tiếnquan trọng về điều hành lãi suất trên con đờng tiến tới tự do hoá lãi suất Tự do hoálãi suất đợc hiểu là lãi suất đợc hình thành và biến động theo cung cầu vốn trên thịtrờng Sự can thiệp của Nhà nớc lúc này chỉ bằng công cụ gián tiếp tác động lêncung-cầu vốn nhằm hớng lãi suất thị trờng biến động, phù hợp với mục tiêu củachính sách tiền tệ
Trong điều hành chính sách lãi suất , NHTW chỉ công bố các mức lãi suất ápdụng đối với các khoản cho vay, tái chiết khấu của mình đối với các NHTM Khi
đó, cơ cấu về các mức lãi suất ( bao gồm lãi suất cho vay và huy động vốn ) của cácNHTM đối với nền kinh tế do NHTM tự quyết định dựa trên cơ sở cung-cầu về vốn
và sự cạnh tranh trên thị trờng, từ đó mà hình thành nên các mức lãi suất phản ánh
đúng yêu cầu của thị trờng
1.3.1 Cơ sở khoa học, thực tiễn của lãi suất thỏa thuận
Lãi suất là giá cả của tín dụng Ngân hàng, bao gồm giá mua và giá bán Hoạt
động tín dụng thực chất là đi vay để cho vay, vì vậy Ngân hàng luôn tìm cách đivay đợc, đồng thời cũng phải cho vay đợc Muốn vậy, một điều kiện cơ bản là lãisuất đi vay và cho vay phù hợp, cả ngời gửi và ngời vay đều chấp nhận Chênh lệchlãi suất đầu ra và đầu vào đủ bù đắp chi phí nghiệp vụ Ngân hàng, trích lập rủi ro vàmang lại lợi nhuận cho Ngân hàng Trong nền kinh tế thị trờng lãi suất do thị trờng
mà cụ thể trớc hết là do ngời vay quyết định Khi nền kinh tế phát triển, lợi nhuậntăng, nhu cầu đầu t sản xuất kinh doanh phát triển, nhu cầu vốn cao, ngời vay chấpnhận lãi suất vay cao hơn Nói cách khác giá cả của tiền vốn cũng do cung cầu thịtrờng vốn quyết định Nhng khác với các hàng hóa thông thờng, “ hàng hóa” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- tiềnvốn gắn chặt và ảnh hởng lớn tới nền kinh tế : Lạm phát, tỷ giá, và lãi suất gắn chặtvới nhau và nếu không có cơ chế quản lý tốt phù hợp, có thể dẫn tới rối loạn, khủnghoảng kinh tế Điều này đã xảy ra ở khu vực các năm 1997-1998 và mới đâyMehico, Achentina Nghĩa là, mặc dù là sản phẩm của thị trờng, kinh tế hàng hóa,
Trang 14lãi suất phải đợc quản lý với cơ chế thích hợp Vai trò của Ngân hàng Nhà nớc qua
điều hành lãi suất 10 năm qua đã góp phần không nhỏ vào thành tựu của công cuộc
đổi mới ở nớc ta Giả sử, ngay từ khi xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp, chúng tacũng cho tự do hóa lãi suet, giống nh bỏ quản lý giá cả đối với gạo, thực phẩm thì
điều gì sẽ xảy ra :
Trớc hết do các cơ chế quản lý vĩ mô và hoạt động của các Ngân hàng Nhànớc cha đủ mạnh, môi trờng pháp lý cha đồng bộ, chặt chẽ, các tổ chức tín dụngcòn non yếu cả về nghiệp vụ và quản lý, nhiều tổ chức tín dụng sẽ huy động và chovay vô tôị vạ, cốt kiếm lợi nhuận cao, buông lỏng điều kiện cho vay Điều này đãxảy ra với hệ thống quỹ tín dụng đô thị các năm 1989-1990 khi cho áp dụng lãi suấtthỏa thuận
Thứ hai: Do cạnh tranh không lành mạnh, các Tổ chức tín dụng đua nhaunâng lãi suất huy động và cho vay Vốn đầu t sẽ dẫn về khu vực có lợi nhuận giả tạo( thí dụ kinh tế bong bóng, hoặc kinh doanh lừa đảo ) trong khi các khu vực sảnxuất kinh doanh lành mạnh không hấp thụ đợc vốn vì : Lãi suất cho vay cao hơn lợinhuận thu đợc
Hệ quả của hai điều kiện trên sẽ dẫn tới đổ vỡ từng tổ chức hoặc thậm chí cả
hệ thống tín dụng, bởi vì khu vực kinh tế bong bóng đơng nhiên sẽ phá sản, khôngtrả đợc nợ Ngân hàng Chúng ta đã có kinh nghiệm thực tế trong các thời kỳ 1989-
đặc điểm là nhu cầu vốn có tính thời vụ, cấp bách Những vùng kinh tế hàng hóaphát triển, nh Đồng bằng Sông Cửu Long, nhu cầu vốn lớn, thờng xuyên hơn, vàsẵn sàng chấp nhận lãi suất cao hơn Trong khi lãi suất cho vay các doanh nghiệplớn hiện nay khoảng 0.6%-0.7%/tháng, thì từ nhiều năm nay hầu hết các chi nhánhNgân hàng Nông nghiệp ở khu vực nông thôn cho vay hộ nông dân, doanh nghiệpnhỏ lãi suất biên độ tối đa ( ngắn hạn 0.9%/tháng, trung hạn 1.1%/tháng ), và nhucầu vốn vẫn rất lớn Ngân hàng có thể tạo vốn để mở rộng cho vay thêm bằng cách
Trang 15nâng lãi suất huy động và điều vốn từ các khu vực khác nhng điều này sẽ làm tăngchi phí, trong khi không tăng đợc lãi suất cho vay sẽ dẫn đến không lãi hoặc lỗ.
Tỷ trọng nguồn vốn / d nợ của các vùng tại NHN0&PTNT cuối năm 2001 nhsau:
- Miền núi trung du Bắc bộ 129%
Vấn đề đặt ra là nếu thực hiện liệu có dẫn đến những tiêu cực :
Một là: Các tổ chức tín dụng ở khu vực nông thôn cạnh tranh không lành
mạnh, chạy theo lãi suất cao dẫn đến buông lỏng, cho vay khách hàng chấp nhận lãisuất cao nhng không đủ điều kiện tín dụng
Hai là: Vốn sẽ tập trung cho các khu vực kinh tế thuận lợi, các hộ nông dân
trang trại giàu Những khu vực sản xuất khó khăn, hộ nông dân nghèo không tiếpcận đợc vốn Ngân hàng
Ba là: ở những địa bàn chỉ có một Tổ chức tín dụng, thì Tổ chức tín dụng
này sẽ độc quyền tăng lãi suất bắt bí nông dân
Tuy nhiên, những lo ngại trên là không có cơ sở bởi vì môi trờng kinh tế xãhội hiện nay đã khác xa so với giai đoạn đầu đổi mới Nói cách khác hiện nay các
điều kiện cơ bản cho việc áp dụng lãi suất thoả thuận đã chín muồi
Trang 161.3.2 Tác động tích cực và tính tất yếu của việc thay đổi cơ chế lãi suất theo hớng thị trờng:
Lãi suất thỏa thuận là lãi suất đợc xác định trên cơ sở sự nhất trí giữa ngời
cho vay và ngời đi vay trong thoả thuận về một hợp đồng vay mợn Lãi suất cơ bản
do Ngân hàng Nhà nớc công bố chỉ mang tính chất tham khảo Nếu mức lãi suấtthỏa thuận này không bị khống chế bởi biên độ quản lý, thì mức lãi suất thoả thuậntrong các quan hệ vay mợn song phơng cũng không nằm ngoài mức lãi suất thị tr-ờng đợc hình thành trên quan hệ cung cầu
1.3.2.1 Tác động ảnh hởng tích cực
Thực hiện cho vay theo lãi suất thị trờng, cung cầu về vốn sẽ quyết định mứclãi suất thị trờng Đây là bớc tiến lớn của cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Namtrong tiến trình phát triển của hệ thống tài chính, tiến tới tự do hoá lãi suất hoàntoàn Kinh nghiệm của các nớc cho thấy việc tự do hoá lãi suất sẽ có tác động tíchcực tới sự phát triển của hệ thống tài chính trong nớc Sau mỗi giai đoạn tiến hànhcải tiến cơ chế lãi suất , việc mở rộng cho vay của tổ chức tín dụng đợc nới lỏnghơn, dòng vốn đổ về khu vực nông thôn phục vụ phát triển khu vực này tăng cao
Việc áp dụng cơ chế lãi suất mới ngày càng tạo cơ hội cho NHNN thực hiệncác công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hớng gián tiếp, hạn chế dần các công
cụ trực tiếp, tiến tới việc điều hành chính sách tiền tệ theo một hệ thống các công
cụ hiện đại, chỉ can thiệp vào các nguyên tắc thị trờng mà không phá vỡ các nguyêntắc hoạt động của thị trờng
Cạnh tranh trên thị trờng tín dụng mạnh hơn, có lợi cho nền kinh tế Cạnhtranh lành mạnh sẽ thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện thị trờng Chu chuyển vốn sẽ
đến đợc nơi có hiệu quả kinh tế cao
Tạo khả năng cho thị trờng tài chính Việt Nam phát triển theo chiều sâu hơn,thể hiện trong biểu đồ biến động tăng chỉ tiêu M2/GDP:
Từ đó tạo môi trờng thuận lợi cho các cơ chế chính sách của NHNN lan truyềnnhanh chóng và tác động tích cực tới nền kinh tế
Sự thay đổi của chính sách lãi suất là phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô,nhng cũng chính yêu cầu phát triển nền kinh tế, tiền tệ hóa các mối quan hệ kinh tế
và sự hình thành các nhân tố kinh tế thị trờng đã buộc chính sách lãi suất phải có sự
“nới lỏng” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- để chuyển sang cơ chế lãi suất thỏa thuận nhằm tạo điều kiện cho việchuy động tối đa nguồn lực trong nớc phục vụ cho đầu t phát triển và đồng bộ với
Trang 17tổng thể chính sách kinh tế- tài chính- đối ngoại ( vốn huy động và tín dụng đối vớinền kinh tế tăng trởng trên 20%/năm; vốn tín dụng cung ứng cho nền kinh tế tuytăng trởng mức cao, năm 1991 tơng đơng 21% GDP, năm 2001 là 40% ).
Việc nới lỏng cơ chế lãi suất làm cho lãi suất tự điều chỉnh linh hoạt và phùhợp hơn với quan hệ cung cầu vốn thị trờng, các luồng vốn đợc lu chuyển đến nơi
có lợi nhuận cao , nâng cao hiệu quả đầu t thúc đẩy các NHTM phát triển nhanhchóng mạng lới chi nhánh ở thành thị, nông thôn, đa ra các mức lãi suất , sản phẩmdịch vụ thích hợp cho các khách hàng Điều này sẽ rất hạn chế, nh thực tế nhữngnăm 1991-1995, NHNN khống chế chặt chẽ mức trần lãi suất cho vay ở mức thấp
đã khuyến khích sự vay mợn lòng vòng trên thị trờng không chính thức, trốn tránh
sự kiểm soát, lãi suất tiền gửi tăng, nhng lãi suất cho vay lại không tăng đợc vàchênh lệch lãi suất chỉ đủ bù đắp chi phí kinh doanh, lợi nhuận rất thấp, khả năngtài chính của các NHTM bị yếu đi, dễ gây xáo trộn, tổn thơng cho thị trờng tàichính
Đẩy lùi đợc hiện tợng cho vay nặng lãi ở nông thôn Với việc thực hiện cơchế lãi suất thỏa thuận, lãi suất phản ánh đúng cung cầu thị trờng, vốn sẽ đợc chuchuyển hợp lý hơn từ thành thị về nông thôn, đáp ứng nhu cầu vốn đầu t phát triểnnông nghiệp và nông thôn nh Nghị quyết Trung Ương V khoá 8 đề ra, (tín dụng đốivới khu vực nông thôn 05 năm gần đây tăng bình quân 23-25%/năm, lớn hơn mứcbình quân chung), dần tiến tới xóa bỏ các hiện tợng cho vay nặng lãi ở khu vựcnông thôn hiện nay
Quá trình chuyển dần sang cơ chế lãi suất thỏa thuận đi liền với quá trình
“nới lỏng” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- kiểm soát ngoại hối và thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt làm cho lãi suấttrong nớc bám sát hơn lãi suất quốc tế, việc huy động vốn ở trong nớc và từ nớcngoài tăng lên để tài trợ cho nhu cầu tín dụng trong nớc
Ngân sách nhà nớc có điều kiện huy động đợc tối đa nguồn lực trong nớc để
bù đắp thâm hụt, thay vì phải đi vay nớc ngoài quá lớn hoặc sử dụng tiền phát hành
Trang 18và của ngời dân Song dù là hoạt động nh thế nào, dịch vụ ra sao, thì hoạt động chovay vẫn là một hoạt động “khởi thuỷ” (cụ thể tại Sở Giao dịch I-, cơ bản mà các NHTM luôn coi là nghiệp vụhàng đầu, và cũng là một nghiệp vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng cho đầu t pháttriển nền kinh tế.
Nói là “khởi thuỷ” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- vì vốn xa nghiệp vụ cho vay là hoạt động đầu tiên của cáigọi là hoạt động ngân hàng Ngay từ lúc đầu nó đã mang tính thơng mại, bởi mục
đích của cho vay là để lấy lời Nói một cách khác, những ngời có tiền muốn cho
ng-ời khác vay, sau một khoảng thng-ời gian nào đó thu về với một khoản tiền lớn hơnkhoản gốc ban đầu và thế là họ có một khoản lãi Khoản lãi có đợc đó là do họ đãbán với giá cao hơn vốn gốc của họ và việc bán mua đợc thoả thuận giữa ngời bán
và ngời mua ngay từ đầu Khoản lãi đợc tính theo phần trăm đó là lãi suất Nh vậylãi suất ra đời từ hoạt động thơng mại Vậy lãi suất tín dụng thực sự mang trong nó
ý nghĩa thơng mại
1.3.2.3.1.2 ý nghĩa xã hội:
Thực ra mà nói hoạt động cho vay không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa thơngmại, mà ngay từ thời xa xa hoạt động này đã mang ý nghĩa xã hội Trong thực tếkhông phải bao giờ ngời cho vay cũng chỉ với mục đích lấy lãi, họ cho vay đôi khivới ý định hỗ trợ ngời vay trong lúc thiếu thốn mà không đặt đến vấn đề lấy lãi Sựtrợ giúp hoàn toàn hay một phần lãi suất cho vay vì lợi ích của ng ời vay chính là ýnghĩa xã hội của hoạt động tín dụng Thời bao cấp, cái thời mà “đem tiền Chínhphủ cho bản làng vay ” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- đã nói lên hoạt động cho vay thấm đợm tình nhân đạo xãhội Thời bao cấp, các tổ chức tín dụng ( thực sự là chỉ có ngân hàng thơng mạiquốc doanh và hợp tác xã tín dụng ) cho vay trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ vàcũng chỉ cho vay chủ yếu các doanh nghiệp nhà nớc Tín dụng mang tính bao cấp
Trang 19Các tổ chức tín dụng ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế của việc cho vay, quan tâm
đến bảo toàn vốn, đến đầu t phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho đất nớc
Với lý do đó lãi suất cho vay phải là lãi suất “thực dơng” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- Trong thời kỳ baocấp ngân hàng chỉ quan tâm đến quản lý tài sản, quản lý sử dụng vốn nh cấp phátvốn cho đối tợng nào, với lãi suất bao nhiêu nhng cha quan tâm đến lãi đó là thựccha và lãi đó đã lớn hơn các chi phí cần thiết v.v Nhng từ khi 2 pháp lệnh ngânhàng ra đời, các tổ chức tín dụng đã chuyển từ quan niệm tín dụng bao cấp sang tíndụng thơng mại, nghĩa là phải thực hiện chính sách lãi suất thực dơng của NHNN.Trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng nhất thiết phải đem lại hiệu quảkinh tế, ít nhất phải bù đắp đợc các chi phí đã bỏ ra Lãi suất cũng không thể cố
định Nó thay đổi đặc biệt trong cơ chế thị trờng và thực tế khi NHNN điều hànhcác công cụ của chính sách tiền tệ sao cho phù hợp với tín hiệu thị trờng thì công
cụ lãi suất cũng phát huy vai trò của nó Chính sách lãi suất của NHNN đã từng bớc
đổi mới và do đó đã tạo sự thay đổi của lãi suất lãi suất thay đổi thờng gây ra rủi
ro lãi suất trong hoạt động ngân hàng Đây cũng là một thực tế cần tính đến Khi lãisuất thay đổi đơng nhiên sẽ ảnh hởng đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáothu nhập cuả ngân hàng Chính vì lẽ đó, lãi suất là một mắt xích rất quan trọngtrong một chuỗi các hoạt động của ngân hàng
1.3.2.3.2.Thực hiện chính sách lãi suất trong thời gian qua:
1.3.2.3.2.1 Thời kỳ bao cấp:
Suốt trong thời kỳ bao cấp hay nói chính xác là ngay từ khi ngành ngân hàng
ra đời, thì một trong những nhiệm vụ cơ bản và quan trọng lúc bấy giờ là cung cấptín dụng cho các tổ chức kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Việc cấp tín dụng lúcnày là theo chỉ đạo trực tiếp của Nhà nớc Thực ra ngân hàng chỉ là ngời quản lý
Trang 20vốn và trong hoạt động của mình, ngân hàng không hề có đợc sự chủ động hay kháiniệm kinh doanh bởi lẽ, hoạt động ngân hàng cũng không đặt hiệu quả kinh tế làvấn đề quan trọng Thực tế là bao cấp tín dụng và đơng nhiên chính sách lãi suất làchính sách hỗ trợ.
Một thời gian rất dài trong điều hành chính sách tiền tệ, NHNN không quantâm mấy đến công cụ lãi suất , không vận dụng nó mà áp đặt nó trong quản lý
1.3.2.3.2.2 Trong thời kỳ đổi mới:
Cùng với sự đổi mới của đất nớc, hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời rồi Luậtngân hàng đợc thực hiện Hoạt động ngân hàng đã có đợc một môi trờng pháp lý t-
ơng đối hoàn chỉnh Chính sách tiền tệ đợc điều hành một cách bài bản, khoa học
và từng bớc phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế theo cơ chế thị trờng có sự
điều tiết của Nhà nớc Chính sách lãi suất đợc NHNN chú trọng và vận dụng nómột cách sáng tạo linh hoạt Chính sách lãi suất thực dơng đã tạo cho các NHTM ýthức kinh doanh tín dụng Nhng để thể hiện sự quản lý Nhà nớc, giữ cho sự tự dokinh doanh trong khuôn khổ, chính sách lãi suất sàn, trần là một cách điều tiết tíchcực, tạo sự chủ động của các NHTM Song đã là khuôn thì khó mà có đ ợc sự tự do,sáng tạo, vận dụng linh hoạt
Từ tháng 8 năm 2000, NHNN Việt Nam điều hành lãi suất cho vay của cácNHTM bằng lãi suất cơ bản có cộng trừ biên độ 0.3%/tháng đối với cho vay ngắnhạn và 0.5%/tháng đối với cho vay trung và dài hạn Chính sách lãi suất này ápdụng chung cho cả khu vực thành thị cũng nh khu vực nông thôn
Điều hành bằng lãi suất cơ bản là đã một bớc nới rộng đối với các tổ chức tíndụng Họ đã có thể vận dụng vào từng trờng hợp cụ thể, vào tình hình nguồn vốncủa từng ngân hàng trong từng giai đoạn Tóm lại các tổ chức tín dụng đã có đợcquyền tự quyết, đã có chỗ dựa pháp lý để vận dụng sáng tạo trong kinh doanh
1.3.2.3.3 Thực hiện lãi suất cho vay thỏa thuận bằng VNĐ:
1.3.2.3.3.1 Xuất phát từ thực tế:
NHNN thờng xuyên phải công bố lãi suất cơ bản để các TCTD căn cứ vào đó
mà vận dụng vào trờng hợp khả năng nguồn vốn, nhu cầu tín dụng, lợng kháchhàng của đơn vị mình để quyết định mức lãi suất cho vay cụ thể
Trang 21Từ khi áp dụng chính sách lãi suất này, NHNN đã 4 lần công bố thay đổimức kể từ tháng 8/2000 đến nay Sự thay đổi này là NHNN dựa trên tín hiệu thị tr-ờng vốn, nhu cầu thị trờng, tình hình kinh tế đất nớc Song từ tháng 11/2001 đếntháng 5/2002, lãi suất cơ bản mà NHNN công bố vẫn giữ ở mức 0.6%/tháng cộng0.3%/tháng đối với cho vay ngắn hạn và 0.5%/tháng đối với cho vay trung và dàihạn.
Đã goị là điều hành linh hoạt theo tín hiệu thị trờng thì phải phản ánh kịpthời tính biến động của nó Có nh vậy chính sách mới luôn sát thực với thực tế củacuộc sống Việc giữ ổn định mức lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản củaNHNN công bố thì đã không đúng bản chất của lãi suất trong cơ chế thị trờng Ôngcha ta thờng nói “một trăm kẻ bán, một vạn ngời mua” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- Có kẻ bán, có ngời mua đó
là thị trờng, ở đó thị trờng quyết định và có ngời bán khắc có ngời mua Giá bán tuỳtheo từng phiên chợ Và thị trờng vốn cũng vậy, nhu cầu bao giờ cũng lớn hơn cung( trừ trờng hợp khủng hoảng trầm trọng hay chiến tranh khốc liệt) Nói chung nhucầu vốn tín dụng ở Việt Nam rất lớn, đất nớc đang trên con đờng công nghiệp hóa,hiện đại hoá, nh một công trờng xây dựng khẩn trơng thì vốn luôn là yếu tố cầnthiết và không thể có chuyện thừa vốn Vấn đề là giá bán vốn đó nh thế nào? có hợp
lý hay không? Khi còn ấn định một mức cần phải bán thì cho dù TCTD có thể bándới mức đó vẫn có thể chấp nhận đợc vẫn đành khoanh tay ngồi nhìn Ví dụNHN0&PTNT với biên độ 0.5%/tháng đối với cho vay trung và dài hạn chỉ sử dụng0.3% hay hội sở Ngân hàng Ngoại Thơng Việt Nam lãi suất cho vay cao nhất chỉbằng lãi suất cơ bản do NHNN công bố không dùng đến các biên độ mà NHNNcho phép v.v Ngợc lại có TCTD có thể có thể có thể bán cao hơn kể cả đã cộnghết biên độ cũng không thể vợt rào Ví dụ Ngân hàng TMCP Kỹ thơng cho vay vớilãi suất cao hơn lãi suất cơ bản cộng biên độ mà NHNN công bố tới 0.1%/tháng
Nh vậy là lãi suất cơ bản là cha sát thực tế Những TCTD nào có khả năng thu hútvốn, quản lý tốt, chi phí giảm nghĩa là họ có khả năng cung cấp tín dụng bằng hìnhthức thoả thuận đợc với khách hàng về lãi suất , còn về phía khách hàng họ cảmthấy đợc tự do mua với giá mà khả năng họ cho phép thì rất hợp lý
Trong thực tế, chúng ta đã áp dụng lãi suất cho vay bằng ngoại tệ qua việc bỏcơ chế khống chế theo biên độ ( lãi suất SIBOR 3 tháng cộng 1% năm đối với chovay ngắn hạn, lãi suất SIBOR 6 tháng cộng 2.5% năm đối với cho vay trung và dàihạn) thực sự là đã chuyển sang tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ Với chính sáchnày, các tổ chức tín dụng đã có quyền tự quyết rất lớn trong việc cung cấp tín dụng
Trang 22ngoại tệ trong nớc, và nó phù hợp kịp thời với xu hớng lãi suất trên thị trờng quốctế.
1.3.2.3.3.2 Các yếu tố khách quan
Nền kinh tế Việt Nam từ khi đổi mới đến nay, liên tục tăng trởng khá Đặcbiệt cả ngay khi khủng hoảng khu vực Đông Nam á xảy ra, GDP Việt Nam vẫntăng ở mức hơn 6% năm ( năm 2000 là 7.1%, năm 2001 là 6.8%) Có thể nói nềnkinh tế- chỗ dựa căn bản cho hoạt động ngân hàng phát triển vừa để phục vụ trở lại,vừa để thực hiện những cải cách và hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệphù hợp với cơ chế hiện hành Trong đó có vấn đề lãi suất Từ hơn 10 năm nay vấn
đề lạm phát đã đợc kiểm soát Giá trị đồng Việt Nam đợc ổn định Đây là những
điều kiện thuận lợi để thay đổi chính sách lãi suất
Trong điều hành lãi suất theo lãi suất cơ bản, các tổ chức tín dụng đã đợc tậpdợt với việc năng động và sáng tạo trong công tác tín dụng Sự cạnh tranh đã xảy ratuy nhiên cha ở mức độ quyết liệt Nhng các tổ chức tín dụng thực sự đã phải tínhtoán thận trọng trong áp dụng mức lãi cho vay, đồng thời đã tính đến chiến lợckhách hàng và Marketing trong kinh doanh Hơn nữa, mong muốn thực sự của cácTCTD là đợc chủ động hơn nữa trong việc vận dụng cơ chế lãi suất Chính vì lẽ đó,
đã đến lúc phải thực hiện lãi suất cho vay thoả thuận bằng VNĐ Thực hiện chínhsách này phù hợp chẳng những với tính tất yếu trong “buôn bán” (cụ thể tại Sở Giao dịch I- mà còn là việclàm phù hợp với quy luật thị trờng, phù hợp với xu thế tiến bộ của nguyên tắc quản
lý trong cơ chế thị trờng Và trong điều kiện các tổ chức tín dụng đang cơ cấu lại,sắp xếp lại để mọi TCTD tồn tại tồn tại đều bình đẳng đợc với nhau trên cùng sânchơi và cạnh tranh nhau một cách đúng mức và đàng hoàng
Mặt khác, thực hiện cho vay theo lãi suất thoả thuận bằng VNĐ là thực hiện
đờng lối của Đảng và yêu cầu của Chính phủ Dù muốn dù không, trong xu thế hộinhập với các nớc trong khu vực và thế giới, Việt Nam không thể làm theo cáchriêng biệt những hoạt động nghiệp vụ mà thế giới cũng có Ngày nay, với tốc độphát triển cực nhanh và rộng khắp về công nghệ thông tin, đồng thời sự giao luquốc tế là một điều kiện thu nhận những tiến bộ và tính tiên tiến của các mặt Nhờphơng tiện thông tin phong phú, trình độ dân trí đã đợc và sẽ đợc nâng cao hơn.Ngời dân đã quen dần với việc hoạt động và chấp nhận trong cơ chế thị trờng Họrất muốn đợc quyền lựa chọn giá bán tín dụng, ngời chủ nợ và những lợi ích mà họ
có đợc trong quyền tự do vay mợn
Trang 231.4 Yêu cầu và điều kiện áp dụng lãi suất thả nổi trong hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam.
Quá trình tự do hoá lãi suất ở các nớc trên thế giới cho thấy, tuỳ thuộc tìnhhình phát triển kinh tế, mức độ phát triển của thị trờng tiền tệ ở mỗi nớc mà cónhững bớc khác nhau trong quá trình tự do hoá lãi suất Tuy nhiên, ở bất kỳ nớcnào quá trình tự do hoá lãi suất chỉ đợc xem là thành công nếu sau khi tự do hoá lãisuất hệ thống tiền tệ vẫn đợc ổn định, lãi suất trên thị trờng tiền tệ không có giao
động lớn do cạnh tranh quá mức của các trung gian tài chính dẫn đến sự sụp đổ của
hệ thống tiền tệ, làm ảnh hởng đến sự ổn định kinh tế- xã hôịi, đến lợi ích của cácnhà đầu t, của ngời gửi tiền
Và để đảm bảo sự thành công của tự do hoá lãi suất , Việt Nam cũng nh cácnớc trên thế giới đều đa ra những bớc đi thân trọng phù hợp với các điều kiện pháttriển kinh tế của quốc gia Trên thực tế, Việt Nam đã đặt nền tảng cho quá trình tự
do hoá lãi suất từ năm 1992 khi nền kinh tế đang trong giai đoạn đầu của quá trìnhchuyển đổi, và đến thời điểm này, Việt Nam đã gần tiến sát tới tự do hoá lãi suấthoàn toàn, cụ thể đã tự do hoá đợc lãi suất tiền gửi ở tất cả các loại kỳ hạn, ở tất cảcác loại công cụ huy động vốn ( riêng lãi suất tiền gửi ngoại tệ cha đợc tự do hoáhoàn toàn, mới tự do lãi suất tiền gửi ngoại tệ của khu vực dân c) Đối với lãi suấtcho vay VNĐ cha đợc tự do hoá hoàn toàn, nhng với cơ chế lãi suất cơ bản hiệnnay, yếu tố thị trờng chứa đựng trong đó là tơng đối lớn, đó là bớc đi tiếp theo, thậntrọng trong tiến trình tự do hoá hoàn toàn lãi suất của Việt Nam Tuy nhiên, cơ chếlãi suất cơ bản vẫn còn có những hạn chế nhất định đến sự luân chuyển vốn hợp lýtrong xã hội, đến sự phát triển của thị trờng tiền tệ , nên thực hiện cơ chế lãi suấtthoả thuận không tồn tại biên độ quản lý là cần thiết để đảm bảo sự phân bổ nguồnvốn hợp lý, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế nôngnghiệp, nông thôn
Song, để đảm bảo cho sự thành công, và cho vay theo lãi suất thoả thuậnmang lại những hiệu quả thiết thực, thì cần xem xét đến các điều kiện về kinh tế vĩmô, về sự phát triển của khu vực tài chính trong thời điểm này Bên cạnh đó cũngcần xem xét đến khía cạnh tâm lý, để việc thực hiện lãi suất cho vay thoả thuận
đảm bảo có nhiều ngời chấp thuận với ít tác động về mặt chính trị, tạo ra một độnglực cho việc huy động tiết kiệm và sử dụng vốn có hiệu quả nhất là ở khu vực nôngthôn
Trang 24Xét về điều kiện kinh tế vĩ mô:
Điều kiện chung nhất đặt ra cho tất cả các nớc khi quyết định tự do hoá lãisuất là kinh tế vĩ mô phải ổn định Điều này cũng đặc biệt quan trọng để giảm áplực tăng lãi suất sau khi tự do hoá lãi suất Nếu tự do hoá lãi suất đợc bắt đầu tronggiai đoạn khi các điều kiện về lạm phát đang lan rộng và các công ty có nhu cầucao về vốn, khi nền kinh tế đang phát triển quá nóng, áp lực về lạm phát sẽ rất cao,thì áp lực tăng lãi suất sẽ rất mạnh Kinh nghiệm của các nớc đã qua thời kỳ tự dohoá lãi suất thì ổn định kinh tế thực sự quan trọng cho việc tự do hoá lãi suất thànhcông Tuy nhiên đảm bảo đợc các điều kiện ổn định kinh tế cũng cần xem xét đếnchu kỳ kinh doanh Nếu tự do hoá lãi suất trong giai đoạn mở rộng kinh doanh, nhucầu vốn sẽ tăng lên làm tăng lãi suất trong giai đoạn đầu của quá trình tự do hoá lãisuất , việc kinh doanh bị chậm lại, tác động làm giảm nhu cầu tín dụng và đầu tgiảm Ngợc lại, nếu tự do hoá lãi suất trong giai đoạn chu kỳ sản xuất không mởrộng, thì áp dụng lãi suất trong giai đoạn đầu tự do hoá tơng đối thấp
1.4.2 Xét về các điều kiện tiên quyết trong khu vực tài chính:
“Tự do hoá lãi suất ” (cụ thể tại Sở Giao dịch I-có thể đợc xem nh con dao hai lỡi tác động vào hệ thốngtiền tệ Trên thực tế ( ở các nớc cũng nh ở Việt Nam) cho thấy lãi suất bị quản lý đãhạn chế Ngân hàng Trung Ương kiểm soát diễn biến tiền tệ thông qua các công cụtiền tệ gián tiếp, chẳng hạn khi NHTW muốn kiểm soát dự trữ của các NHTMthông qua nghiệp vụ thị trờng mở, có nghĩa là kiểm soát tiền cung ứng, song do lãisuất bị quản lý (kém linh hoạt), sự thay đổi trong dự trữ của các NHTM không tác
động một cách tích cực lên lợi nhuận hay khả năng thanh khoản của họ Mặt kháclãi suất bị quản lý sẽ không có bất kỳ một mối quan hệ giữa giá chứng khoán trênthị trờng thứ cấp với lãi suất thị trờng, các tín hiệu thị trờng bị bóp méo, không thểphát huy tính hiệu quả nhằm đạt đợc mục tiêu của chính sách tiền tệ Đối với cáctrung gian tài chính, một cơ chế lãi suất quản lý làm giảm tính năng động kinhdoanh của họ, nguồn vốn bị phân bổ méo mó, các giao dịch vốn trên thị trờng tàichính bị hạn chế, qua đó hiệu quả sử dụng đồng vốn sẽ thấp Chính vì vậy, tự dohoá lãi suất có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tiền tệ ( nănglực kiểm soát tiền tệ của NHTW đợc nâng lên, các giao dịch trên thị trờng tiền tệ sẽ
mở rộng, các NHTM có điều kiện đầu t vốn hợp lý, hiệu quả )
Tuy nhiên, thực tế cũng đã chứng minh, sau khi tự do hoá lãi suất , lãi suấttrên thị trờng có áp lực tăng lên, mức độ cạnh tranh giữa các NHTM, các môi giới
Trang 25tài chính trở nên gay gắt hơn, nếu lúc đó NHTW với t cách là ngời điều hành thị ờng, quản lý các hoạt động tiền tệ tín dụng trên nguyên tắc an toàn, lại không thể sửdụng các công cụ tiền tệ gián tiếp tác động vào thị trờng tiền tệ để ngăn chặn áp lựctăng lãi suất , đồng thời cha có một cơ chế thanh tra giám sát với một hệ thống quychế an toàn đủ mạnh để hạn chế canh tranh gay gắt giữa các NHTM thì hệ thống tàichính dễ rơi vào tinh trạng khủng hoảng Do vậy, điều kiện tiên quyết trong khuvực tài chính để có thể tự do hoá lãi suất , đó là:
tr NHTW phải điều tiết đợc thị trờng tiền tệ một cách kịp thời thông qua các
công cụ tiền tệ gián tiếp và phải có cơ chế giám sát can thiệp đủ mạnh để phản ứngkịp thời những rủi ro có thể xảy ra đối với thị trờng
-Ngoài ra, sự vững mạnh của các NHTM đảm bảo đợc các tiêu chí an toàn về
chất lợng tài sản Có, khả năng chi trả, mức vốn tự có v.v cũng là một điều kiệnquan trọng trong khu vực tài chính để đảm bảo tự do hoá lãi suất thành công Vì cácNHTM có vững mạnh thì mới có khả năng chống đỡ về lãi suất sau khi tự do hoálãi suất ở Thổ Nhĩ Kì, do xem xét không thận trọng nên tiến trình tự do hoá lãisuất vào đầu những năm 1980 đã thất bại Ngay sau khi tự do hoá lãi suất , các ngânhàng đã bắt đầu cạnh tranh lãi suất tiền gửi, bằng cách đa ra lãi suất cao mà khôngquan tâm tới việc làm thế nào họ có thể sử dụng tiền gửi với lãi suất cao nh vậy.Cuối cùng, điều này đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng hệ thống tài chính, nhiềungân hàng nhỏ yếu và các tổ chức môi giới đã bị sụp đổ
-Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hiệu quả và có khả năng tài chính: năng lực tài chính thực tế của các doanh nghiệp cần phải ở mức đáp ứng đợc
các nhu cầu thanh toán thờng xuyên để giảm thiểu áp lực của việc tăng lãi suất vàogiai đoạn thả nổi Nếu doanh nghiệp với khả năng tài chính yếu thì các khoảnthanh toán lãi suất tăng lên và các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi đơng
đầu với các biến động về lãi suất do tính không co dãn cầu về vốn của họ
-Tài chính công mạnh: thể hiện ở việc thâm hụt ngân sách Nhà nớc ở giới
hạn cho phép và có dự trữ tài chính để đáp ứng các chi tiêu đột xuất cho khắc phụchậu quả thiên tai, an ninh, quốc phòng Chính phủ không sử dụng tiền phát hành đểchi tiêu, chấm dứt các khoản bao cấp cho các DNNN
-Chính sách tỷ giá linh hoạt và sự ổn định của thị trờng tiền tệ thế giới: Quá
trình tự do hoá lãi suất đặt ra yêu cầu thực hiện cùng với chế độ tỷ giá linh hoạt,nhằm tăng khả năng huy động vốn từ nớc ngoài, khuyến khích xuất khẩu và quan
Trang 26hệ lãi suất nội tệ- tỷ giá- lãi suất ngoại tệ không bị bóp méo, tránh tác động xấu đốivới thị trờng tiền tệ trong nớc.
-Tính minh bạch của thị trờng đợc thực hiện trên thực tế: đảm bảo cho sự
cạnh tranh bình đẳng giữa các định chế trung gian tài chính và Hiệp hội Ngân hàngthực hiện đợc vai trò thiết lập sự liên kết giữa các tổ chức tài chính trong việc ápdụng lãi suất cho vay thoả thuận và lãi suất tiền gửi nhằm chống phá giá
Các điều kiện nói trên, có điều kiện là yếu tố nôị sinh, có điều kiện là yếu tố ngoại sinh Đối với các điều kiện mang tính ngoại sinh ( ổn định kinh tế vĩ mô, lãi suất thị trờng tiền tệ quốc tế) giúp chúng ta lựa chọn thời gian và không gian thích hợp, kết hợp với điều kiện có tính nội sinh đã đợc tạo lập để thực hiện thành công quá trình tự do hoá lãi suất