Quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, hội nhập và tăng trưởng nhanh đã đặt nhiệm vụ nặng nề lên cơ quan hải quan nước ta. Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, khối lượng hàng hóa thương mại qua lại biên giới ngày càng lớn, chủng loại hàng hóa thay đổi và đa dạng hơn, trong khi nguồn lực tăng cường cho hải quan không tương xứng, đã buộc hải quan Việt Nam phải hiện đại hóa nhanh mới có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, trong trào lưu toàn cầu hóa, hải quan Việt Nam không chỉ thực thi chức năng kiểm soát ngoại thương, thu ngân sách nhà nước, mà còn phải đáp ứng yêu cầu tạo thuận lợi cho thương mại. Những yêu cầu đó càng gây sức ép buộc hải quan Việt Nam phải hiện đại hóa nhanh. Để giải quyết vấn đề này, ngành Hải quan đang từng bước thực hiện cải cách và hiện đại hóa để nâng cao năng lực quản lý, chất lượng phục vụ của Hải quan nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu nói chung của doanh nghiệp (http:www.customs.gov.vn)Xuất nhập khẩu là một hoạt động kinh tế quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng. Nhưng để hoạt động xuất nhập khẩu phát triển một cách ổn định và đi đúng hướng thì các cơ quan quản lý, nhất là Hải quan cần có một giải pháp quản lý đúng đắn và một lộ trình hợp lý để giữ cho nền thương mại đi đúng hướng. Tạo tiền đề cho nền kinh tề thị trường sớm phát triển (Hà Văn Hội, 2012).Cùng với sự phát triển chung của đất nước, Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo đã có những biện pháp thay đổi thích ứng và hướng nền thương mại đi đúng hướng. Trong thời gian qua, mặc dù Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nói riêng ở huyện Hương Sơn cũng như của Tỉnh Hà Tĩnh, đặc biệt là quan hệ hàng hóa với các quốc gia lân cận. Tuy nhiên, do việc quản lý còn nhiều bất cập và có khó khăn từ những điều kiện khách quan nên còn một số hạn chế cần khắc phục. Tuy kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng nhưng sự mất cân đối trong cán cân thương mại ngày càng nghiêm trọng. Sự nhập siêu ngày càng cao, tình thế ngày càng trở nên cấp bách. Để cán cân thương mại được cân bằng cũng như bảo hộ các doanh nghiệp trong huyện và trong tỉnh phát triển, việc đề ra một định hướng đúng đắn trong hoạt động xuất nhập khẩu trở nên vô cùng cấp thiết. Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo” để làm luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN ĐÌNH PHONG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO”
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÁNH HÒA, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN ĐÌNH PHONG
“HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO”
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS: HỒ HUY TỰU
KHÁNH HÒA, 2014
Trang 3Xin trân trọng cảm ơn quí Thầy, Cô đã giảng dạy chúng em trong ba năm học2012-2014 tại Trường đại học Nha Trang - Cơ sở tại Trường Cao đẳng nghề du lịchthương mại Nghệ An.
Đặc biệt chân thành cảm ơn Tiến sĩ Hồ Huy Tựu đã tận tình hướng dẫn tôihoàn thành bản luận văn này
Cảm ơn những đồng nghiệp của tôi cũng như những chuyên gia trong vàngoài ngành Hải quan đã hỗ trợ, tư vấn cho tôi rất nhiều điều bổ ích cho nội dungLuận văn đạt kết quả như mong muốn
Học viên: Trần Đình Phong
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong Luận văn này là chính xác và có nguồn gốc rõràng
Bản luận văn: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNGXUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC HẢI QUANCỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO” là đề tài nghiên cứu của bản thân, chưa được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH iii
PHẨN MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa đóng góp của đề tài 3
6 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 3
1.1.Khái niệm về hoạt động xuất nhập khẩu 3
1.2.Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu 3
1.2.1 Vai trò của hoạt động nhập khẩu 3
1.2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu 3
1.3.Tính tất yếu của việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp .3
1.4 Nội dung quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp 3
1.4.1 Khái niệm quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp 3
1.4.2 Các hình thức xuất nhập khẩu 3
1.4.3 Vai trò của quản lý hoạt động xuất nhập khẩu 3
1.4.4 Nội dung quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp 3
1.4.5 Quy trình quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp 3
1.5 Các nhân tố tác động đến quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp 3
1.5.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 3
1.5.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 3
1.6 Các bài học kinh nghiệm từ các nước và địa phương khác trong nước 3
1.6.1 Kinh nghiệm của các nước 3
1.6.2 Kinh nghiệm của các địa phương khác 3
Trang 6CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI HẢI QUAN CỬA KHẨU QUỐC TẾ
CẦU TREO 3
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của Huyện Hương Sơn và Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo 3
2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của Huyện Hương Sơn 3
2.1.2 Giới thiệu về Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo 3
2.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo 3
2.2.1 Thực trạng xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Cầu treo 3
2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo 3
2.3 Kết quả điều tra khảo sát của các doanh nghiệp về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo 3
2.3.1 Đánh giá về công tác phân loại hàng hóa, xác định xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu 3
2.3.2 Đánh giá về hoạt động thông quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu 3
2.3.3 Các hoạt động nâng cao công tác quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu 3
2.3.3 Đánh giá về việc thực hiện hải quan điện tử tại Chi cục hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo 3
2.3.4 Các hoạt động nâng cao công tác quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu 3
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO 3
3.1 Định hướng hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp 3
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo 3
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 3
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 3
3.2.2.1 Quản lý mặt hàng xuất nhập khẩu 3
3.2.2.2 Quản lý thuế xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp 3
Trang 73.2.2.3 Quản lý doanh nghiệp xuất nhập khẩu 3
3.2.2.4 Nâng cao chất lượng cán bộ 3
3.2.2.5 Cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách trong thủ tục hải quan 3
3.2.2.5 Tăng cường kiểm tra, thanh tra nghiệp vụ 3
KẾT LUẬN 3
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
PHỤ LỤC 3
Trang 8Cơ cấuCông nghiệp hóaCông nghiệpHiện đại hóaHải quanGiá trị gia tăngGiá trị sản xuấtKhu công nghiệpKhu chế xuấtKhu kinh tế
Hệ thống tin học hải quan tự độngNhập khẩu
Số lượngTiểu thủ công nghiệpThương mại-dịch vụTiêu thụ đặc biệtThủ tục hải quan điện tửXây dựng cơ bản
Xuất nhập khẩuXuất khẩu
Tổ chức hải quan thế giới
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình phát triển kinh tế huyện Hương Sơn………33
Bảng 2.2: Bảng thống kê kết quả kim ngạch xuất khẩu từ năm 2011 - 2013…… 39
Bang 2.3: Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu Cầu treo năm 2011……….41
Bảng 2.4: Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu Cầu treo năm 2012 ……… 42
Bảng 2.5:Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu Cầu treo năm 2013 ……….… 43
Bảng 2.6: Bảng thống kê kết quả kim ngạch nhập khẩu từ năm 2011 – 20133… 44
Bảng 2.7:Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu Cầu treo năm 2011.………45
Bảng 2.8: Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu Cầu treo năm 2012 47
Bảng 2.9: Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu Cầu treo năm 2013……… 50
Bảng 2.10: Kết quả phân luồng tờ khai giai đoạn 2011-2013 55
Bảng 2.11: Số tờ khai chuyển luồng giai đoạn 2011-2013: 56
Bảng 2.12: Kết quả thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2013 ……… 57
Bảng 2.13: Số lượng doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong 64
Bảng 2.14: Đánh giá về công tác phân loại hàng hóa, xác định xuất xứ hàng hóa68 xuất nhập khẩu……… 68
Bảng 2.15: Đánh giá về hoạt động thông quan 69
Bảng 2.16: Đánh giá về hoạt động nâng cao công tác quản lý hàng hóa xuất nhập70 khẩu 70
Bảng 2.17:Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về việc Quy trình thực hiện THQĐT71 Bảng 2.18:Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về Sự thuận tiện trong việc giải quyết trong thực hiện TTHQĐT……… ………72
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức 3
2011 – 2013 3
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Chi cục 3
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu xuất nhập khẩu 3
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu đội ngũ cán bộ theo trình độ 3
giai đoạn 2011-2013 3
Trang 11PHẨN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, hội nhập và tăng trưởng nhanh đã đặtnhiệm vụ nặng nề lên cơ quan hải quan nước ta Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhậpcác tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, khối lượng hàng hóa thương mại qua lại biêngiới ngày càng lớn, chủng loại hàng hóa thay đổi và đa dạng hơn, trong khi nguồn lựctăng cường cho hải quan không tương xứng, đã buộc hải quan Việt Nam phải hiện đạihóa nhanh mới có khả năng hoàn thành nhiệm vụ Hơn nữa, trong trào lưu toàn cầuhóa, hải quan Việt Nam không chỉ thực thi chức năng kiểm soát ngoại thương, thungân sách nhà nước, mà còn phải đáp ứng yêu cầu tạo thuận lợi cho thương mại.Những yêu cầu đó càng gây sức ép buộc hải quan Việt Nam phải hiện đại hóa nhanh
Để giải quyết vấn đề này, ngành Hải quan đang từng bước thực hiện cải cách và hiệnđại hóa để nâng cao năng lực quản lý, chất lượng phục vụ của Hải quan nhằm tạothuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu nói chung của doanh nghiệp(http://www.customs.gov.vn)
Xuất nhập khẩu là một hoạt động kinh tế quan trọng đối với sự phát triển của nềnkinh tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng Nhưng để hoạt động xuấtnhập khẩu phát triển một cách ổn định và đi đúng hướng thì các cơ quan quản lý, nhất
là Hải quan cần có một giải pháp quản lý đúng đắn và một lộ trình hợp lý để giữ chonền thương mại đi đúng hướng Tạo tiền đề cho nền kinh tề thị trường sớm phát triển(Hà Văn Hội, 2012)
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tếCầu treo đã có những biện pháp thay đổi thích ứng và hướng nền thương mại đi đúnghướng Trong thời gian qua, mặc dù Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo đãđạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu nóichung và hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nói riêng ở huyện HươngSơn cũng như của Tỉnh Hà Tĩnh, đặc biệt là quan hệ hàng hóa với các quốc gia lâncận Tuy nhiên, do việc quản lý còn nhiều bất cập và có khó khăn từ những điều kiệnkhách quan nên còn một số hạn chế cần khắc phục Tuy kim ngạch xuất nhập khẩungày càng tăng nhưng sự mất cân đối trong cán cân thương mại ngày càng nghiêmtrọng Sự nhập siêu ngày càng cao, tình thế ngày càng trở nên cấp bách Để cán cânthương mại được cân bằng cũng như bảo hộ các doanh nghiệp trong huyện và trongtỉnh phát triển, việc đề ra một định hướng đúng đắn trong hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 12trở nên vô cùng cấp thiết Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tácquản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩuquốc tế Cầu treo” để làm luận văn thạc sỹ của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định khung phân tích (cơ sở lý luận và thực tiễn) phù hợp nhằm phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế cầu treo.
Xác định được những ưu nhược điểm và nguyên nhân của công tác quản
lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế cầu treo.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhậpkhẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của cácdoanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo thuộc huyện Hương Sơn,tỉnh Hà Tĩnh trong phạm vi thời gian từ năm 2011 đến hết năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
- Thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo kết quả hoạt động của cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu, của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo, củaCục Hải quan Hà Tĩnh
- Thông tin sơ cấp được thu thập từ các chuyên gia là các lãnh đạo của cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn
Phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích mô tả, phântích thống kê, phân tích so sánh
5 Ý nghĩa đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài đã góp phần làm rõ lý luận về quản lý hoạt động xuấtnhập khẩu của các doanh nghiệp, giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý hải quan hiểu rõ hơn
về quy trình, công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu củacác doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu Treo Các giải pháp hoàn
Trang 13thiện hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp được đưa ra sẽ là tài liệu thamkhảo có ý nghĩa quan trọng đối với đội ngũ cán bộ quản lý của Chi cục Hải quan cửakhẩu quốc tế Cầu Treo
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.Chương này sẽ nghiên cứu các vấn đề về hoạt động xuất nhập khẩu và quản lý hoạtđộng xuất nhập khẩu Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu sẽ được làm
rõ Bên cạnh đó còn đưa ra được tính tất yếu của việc quản lý hoạt động xuất nhậpkhẩu của các doanh nghiệp Nội dung quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của doanhnghiệp Các nhân tố tác động đến quản lý hoạt động xuất nhâp khẩu của doanh nghiệpbao gồm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp và các yếu tố bên trong doanh nghiệp.Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanhnghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo Chương 2 gồm 5 nội dungchính: đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Hương Sơn và chi cục Hải quan cửa khẩuquốc tế Cầu treo; Thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanhnghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo; Đánh giá các yếu tố ảnh hưởngtới quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửakhẩu quốc tế Cầu treo Đánh giá kết quả điều tra, khảo sát của các doanh nghiệp vềquản lý hoạt động xuất nhập khẩu của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo.Đánh giá công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Chi cụcHải quan cửa khẩu quốc tế Cầu Treo
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động XNKcủa các doanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu treo Trên cơ sởnhững đánh giá về thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của cácdoanh nghiệp tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu Treo và sự cần thiết phảihoàn thiện công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, một sốgiải pháp đã được đề xuất ở chương ba
Trang 14CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1.1.Khái niệm về hoạt động xuất nhập khẩu
Theo qui định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh XNK thì hoạtđộng kinh doanh XNK phải nhằm phục vụ nền kinh tế trong nước phát triển trên cơ sởkhai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh sẵn có về lao động, đấtđai và các tài nguyên khác của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho nhân dânlao động, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và qui trình công nghệ sản xuất, thúc đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước, đáp ứng các yêu cầu cơ bản và cấp bách vềsản xuất và đời sống, đồng thời góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều hoàcung cầu để ổn định thị truờng trong nước (Bùi Xuân Lưu, 2010)
Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Nókhông phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bánphức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sảnxuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng caomức sống của nhân dân XNK là hoạt động dễ đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thểgây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà cácchủ thể trong nước tham gia XNK không dễ dàng khống chế được (Hà Văn Hội,2012)
Xuất nhập khẩu là việc mua bán hàng hóa với nước ngoài nhằm phát triển sảnxuất kinh doanh nâng cao đời sống Song mua bán ở đây có những nét riêng phức tạphơn trong nước như giao dịch với người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớnkhó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán bằngngoại tệ mạnh, hàng hóa vận chuyển qua biên giới cửa khẩu, cửa khẩu các quốc giakhác nhau phải tuân theo các tập quán quốc tế cũng như địa phương (Nguyễn ThịHồng Yên, 2012)
Hoạt động XNK được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu từ điềutra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá XNK, thương nhân giao dịch, các bướctiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng tổ chức thực hiện hợp đồng cho đếnkhi hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao quyền sở hữu cho người mua, hoàn thànhcác thanh toán Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải được nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng
Trang 15đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảohiệu quả cao nhất, phục vụ đầy đủ kịp thời cho sản xuất, tiêu dùng trong nước(Nguyễn Thị Hồng Yên, 2012).
Đối với người tham gia hoạt động XNK trước khi bước vào nghiên cứu, thựchiện các khâu nghiệp vụ phải nắm bắt được các thông tin về nhu cầu hàng hóa thị hiếu,tập quán tiêu dùng khả năng mở rộng sản xuất, tiêu dùng trong nước, xu hướng biếnđộng của nó Những điều đó trở thành nếp thường xuyên trong tư duy mỗi nhà kinhdoanh XNK để nắm bắt được (Nguyễn Thị Hồng Yên, 2012)
Mặc dù XNK đem lại nhiều thuận lợi song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế:
+ Cạnh tranh dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán hàng XNK Nếu không có
sự kiểm soát của Nhà nước một cách chặt chẽ kịp thời sẽ gây các thiệt hại khi buônbán với nước ngoài Các hoạt động xấu về kinh tế xã hội như buôn lậu, trốn thuế, épcấp, ép giá dễ phát triển
+ Cạnh tranh sẽ dẫn đến thôn tính lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế bằng các biệnpháp không lành mạnh như phá hoại cản trở công việc của nhau Việc quản lý khôngchỉ đơn thuần tính toán về hiệu quả kinh tế mà còn phải chú trọng tới văn hóa và đạođức xã hội
1.2.Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu
1.2.1 Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế, nhập khẩu tácđộng một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống Nhập khẩu là để tăngcường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất và các hànghóa cho tiêu dùng mà sản xuất trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất khôngđáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sảnxuất trong nước sẽ không có lợi bằng xuất khẩu, làm được như vậy sẽ tác động tíchcực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốcdân về sức lao động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kĩ thuật (Nguyễn ThịHồng Yến, 2012)
Chính vì vậy mà nhập khẩu có vai trò như sau (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012).:
- Nhập khẩu thúc đẩy nhanh quá trình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 16- Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo một sự pháttriển cân đối ổn định, khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả năng của nền kinh tếvào vòng quay kinh tế.
- Nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất tạo việc làm ổn định cho người laođộng góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân
- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu góp phần nâng cao chất lượngsản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa ra thịtrường quốc tế đặc biệt là nước nhập khẩu
Có thể thấy rằng vai trò của nhập khẩu là hết sức quan trọng đặc biệt là đối với cácnước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) trong việc cải thiện đời sống kinh tế, thayđổi một số lĩnh vực, nhờ có nhập khẩu mà tiếp thu được những kinh nghiệm quản lý,công nghệ hiện đại, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng
1.2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh để đem lại lợinhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy kinh tế Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ,tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng (Nguyễn Thị Hồng Yến,2012) Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuấtkhẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ănviệc làm và tăng thu ngoại tệ (Bùi Xuân Lưu, 2010)
Như vậy xuất khẩu có vai trò hết sức to lớn thể hiện qua việc (Bùi Xuân Lưu,2010):
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
Công nghiệp hóa đất nước đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc,thiết bị, kỹ thuật, vật tư và công nghệ tiên tiến
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
Liên doanh đầu tư với nước ngoài
Vay nợ, viện trợ, tài trợ
Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ
Xuất khẩu sức lao động
Trong các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ cũng phải trảbằng cách này hay cách khác Để nhập khẩu, nguồn vốn quan trọng nhất là từ xuất
Trang 17khẩu Xuất khẩu quyết định qui mô và tốc độ tăng của nhập khẩu (Bùi Xuân Lưu,2010).
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại.+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triển thuận lợi+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào chosản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyênnăng lực sản xuất trong nước Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn và kỹthuật, công nghệ tiên tiến thế giới từ bên ngoài
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hóa sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trườngthế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuấtcho phù hợp với nhu cầu thị trường
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tácquản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành
- Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra nguồn vốn
để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống của nhân dân
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại củađất nước
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế gắn chặt vớiphân công lao động quốc tế Thông thường hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn cáchoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển (Trần VănChu, 2000) Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tíndụng, đầu tư, vận tải quốc tế
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để pháttriển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
1.3.Tính tất yếu của việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh
tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu hướng khu vực hóa và toàncầu hóa đối với nền kinh tế từng quốc gia và thế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế vàcác hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng, phong phú và đang trở thành một
Trang 18trong những nội dung cực kì quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế (Trần Văn Chu,2000).
Vai trò quản lý của Nhà nước bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp hoạt độnglao động chung và do tính chất xã hội hóa của sản xuất quy định Lực lượng sản xuấtngày càng phát triển, trình độ xã hội hóa của sản xuất ngày càng cao thì phạm vi thựchiện vai trò này càng cần thiết và mức độ đòi hỏi của nó ngày càng chặt chẽ vànghiêm ngặt (Trần Văn Chu, 2000) Như đã biết, nền kinh tế hàng hóa với cơ chế thịtrường là bước phát triển tất yếu của kinh tế tự cấp, tự túc một trình độ cao của sự xãhội hóa sản xuất Đặc biệt là khi quan hệ kinh tế quốc tế hình thành và phát triển thìcác hoạt động kinh tế trong và ngoài nước xâm nhập, tác động lẫn nhau, các nguồn lựcbên trong và bên ngoài có thể di chuyển phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu pháttriển kinh tế trong nước, qui mô và cơ cấu nền kinh tế có thể chuyển dịch theo hướngtiến bộ, hợp lý tối ưu hay lạc hậu bất hợp lý, mất cân đối, và nền kinh tế dân tộc củamỗi quốc gia ở vào vị trí phụ thuộc hay là một mắt khâu cần thiết của hệ thống phâncông lao động và quốc tế (Trần Văn Chu, 2000)
Đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong những điều kiện lịch sử mới, vấn đề "mở cửa" nền kinh tế đang trở nêncấp bách và đang tạo cho nhiều quốc gia những cơ hội thuận lợi trong qúa trình đẩynhanh sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên để hoạt động này có hiệu qủa thì cần phải
có sự quản lý của Nhà nước Để tăng tiềm năng ngoại thương thì tăng cường đổi mớicông tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu là rất cần thiết (Trần VănChu, 2000)
Xử lý kịp thời các vi phạm trong quản lý kinh doanh XNK.
Trong kinh doanh thương mại quốc tế hiện nay tình trạng lộn xộn, tranh xuất,tranh nhập diễn ra rất phổ biến gây rối loạn thị trường trong nước, dẫn đến ép giá (HàVăn Hội, 2012) Bên cạnh đó, thủ tục nhiều cửa với những qui định rườm rà cũng gâykhông ít khó khăn cho nhà hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (Hà Văn Hội, 2012).Nguyên nhân chính là chưa có những quy định chặt chẽ, rõ ràng về chức năng nhiệm
vụ cũng như phạm vi can thiệp của các cơ quan quản lý dẫn đến sự chồng chéo trênmột số lĩnh vực khác Việc xử lý các vi phạm trong quản lý kinh doanh xuất nhập khẩuchưa kịp thời nghiêm khắc (Hà Văn Hội, 2012) Thực trạng của kinh doanh xuất nhập
Trang 19khẩu hiện nay đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước một cách hệ thống đúng đắn hơn,khoa học và kịp thời hơn.
Bảo vệ lợi ích quốc gia.
Xu hướng hòa nhập nền kinh tế dân tộc của mỗi nước vào thị trường thế giớingày một tăng Những diễn biến kinh tế trong từng nước và giữa các nước gây ảnh hư-ởng rõ rệt đến lợi ích của nhau Việc ngăn ngừa hay khắc phục những ảnh hưởng bấtlợi cũng như việc khai thác vào sử dụng những tác động có lợi đòi hỏi phải có vai tròcủa Nhà nước Một tổ chức doanh nghiệp dù có quy mô to đến đâu cũng không thểthay thế được vai trò đó Chỉ có Nhà nước và điều kiện thực hiện vai trò này bởi vìtrong quan hệ quốc tế nói chung và trong hoạt động XNK nói riêng, Nhà nước là chủthể của nền kinh tế đọc lập, có chủ quyền, có lợi ích kinh tế tách biệt, Nhà nước lạinắm trong tay những tiềm lực kinh tế quốc phòng quan trọng của đất nước Để bảo vệlợi ích quốc gia, trong đó có lợi ích giai cấp, Nhà nước của mỗi nước phải trực tiếp tácđộng đến các quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm khống chế những hoạt động bất lợi vàphát huy những hoạt động có lợi cho nền kinh tế của đất nước, tạo ra các mối quan hệkinh tế có lợi trong khu vực và quốc tế (Hà Văn Hội, 2012)
Mở rộng quan hệ thị trường
Vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung và hoạt động XNK nói riêngkhông chỉ ở sự điều tiết khống chế định hướng bằng pháp luật, các đòn bẩy kinh tế vàcác chính sách, biện pháp kích thích mà còn bằng thực lực kinh tế của Nhà nước - tứcsức mạnh của hệ thống kinh tế quốc doanh Kinh nghiệm thực tế của các nước đã chỉ
ra là, việc củng cố và tăng cường sức mạnh của các doanh nghiệp quốc doanh trongcác ngành và lĩnh vực kinh tế then chốt của nền kinh tế quốc dân vừa là công cụ quản
lý vừa là lực lượng kinh tế trực tiếp để tham gia hình thành mở rộng quan hệ thị trường(Hà Văn Hội, 2012)
1.4 Nội dung quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
1.4.1 Khái niệm quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
1.4.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Thực tiễn cho thấy, doanh nghiệp như là tế bào của nền kinh tế, một tế bào của
cơ thể sống trong cơ chế kinh tế thị trường Chính vì vậy mà khái niệm doanh nghiệpluôn được quan tâm ở rất nhiều đối tượng khác nhau Đứng trên các góc độ khác nhau
và quan điểm khác nhau, người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về doanh nghiệp:
Trang 20Đứng trên quan điểm hệ thống thì "doanh nghiệp là một tổng thể, một hệ thốngbao gồm con người và thiết bị được tổ chức lại nhằm đạt được những mục đích nhấtđịnh như tạo một sự cân bằng trong ngân quỹ, tạo ra khả năng sinh lời của vốn đầu tư,làm lợi cho chủ sở hữu và đảm bảo tương lai phát triển của doanh nghiệp" (Ngô KimThanh, 2010)
Đứng trên quan điểm tổ chức quá trình và nội dung hoạt động của doanh nghiệpthì "doanh nghiệp là một tổ chức mà tại đó, người ta sẽ lựa chọn những phương phápkết hợp các yếu tố đầu vào một cách tối ưu với khuôn khổ của một số lượng tài sảnnhất định nhằm tạo ra những khoản tiền chênh lệch giữa giá bán và phí tổn" (Ngô KimThanh, 2010)
Đứng trên quan điểm mục đích hoạt động của doanh nghiệp thì: "doanh nghiệp
là một tổ chức thực hiện các hoạt động Kinh doanh như sản xuất, mua bán hàng hoá,cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận"(Nguyễn Vũ Hoàng, 2003)
Do đứng trên các góc độ khác nhau nên các định nghĩa trên chưa thể hiện đượcnhận thức đầy đủ và toàn diện về doanh nghiệp Để có được một khái niệm đầy đủ vềdoanh nghiệp thì cần phải đạt được những yêu cầu sau: Thứ nhất là phải thể hiện đượcđầy đủ những nội dung cơ bản trong hoạt động của bất cứ doanh nghiệp nào, trước hết
là phải thể hiện rõ chức năng, đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Thứ hai là phảithể hiện được đặc điểm chung nhất của mọi loại hình doanh nghiệp cho dù nó thuộcloại hình sở hữu nào Thứ ba là phải thể hiện được mối quan hệ giữa doanh nghiệp vớicác nhân tố, điều kiện khác nhau trong môi trường hoạt động kinh doanh, phải thể hiện
rõ phương tiện và mục đích của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.Xuất phát từ những yêu cầu trên, ta có thể định nghĩa doanh nghiệp như sau: "Doanhnghiệp là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sảnxuất, cung ứng, trao đổi những hàng hóa trên thị trường theo nguyên tắc tối đa hoá lợiích của đối tượng tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích kinh tế của người chủ sởhữu về tài sản của doanh nghiệp, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xãhội" (Ngô Kim Thanh, 2010)
1.4.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu là một hình thức kinh doanh của doanh nghiệp, vị thế doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng mang những đặc điểm chung của doanh
Trang 21nghiệp bình thường như đã nói như ở trên Ngoài ra do tính chất phức tạp và phạm vihoạt động rộng của nó nên nó có một số đặc điểm riêng biệt như (Trần Văn Chu,2000):
- Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu được hiểu là doanh nghiệp cónhững hoạt động giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng xuất, nhập khẩu hàng hoá vàdịch vụ với bạn hàng nước ngoài
- Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải có giấy phép kinh doanhxuất nhập khẩu do Bộ Thương mại và Du lịch cấp Có hai loại doanh nghiệp kinhdoanh xuất nhập khẩu:
+ Loại doanh nghiệp sản xuất
+ Loại doanh nghiệp kinh doanh, bao gồm các doanh nghiệp chuyên buôn bán,chuyên làm dịch vụ (như du lịch, giao dịch vận chuyển) hoặc vừa buôn bán vừa sảnxuất
- Điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu là:
*Trước tiên doanh nghiệp phải được thành lập theo đúng luật pháp
* Kinh doanh xuất nhập khẩu theo đúng ngành hàng đã đăng ký khi thành lậpdoanh nghiệp
- Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, không phân biệt thành phần kinh
tế, không kể kim ngạch xuất khẩu nhiều hay ít, được xuất khẩu các sản phẩm do mình
tự sản xuất ra, được nhập khẩu vật tư, nguyên liệu phục vụ trực tiếp cho sản xuất củadoanh nghiệp mình Còn các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thì được xuấtkhẩu, nhập khẩu hàng hóa theo ngành nghề ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh
Trang 22- Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ngoài việc phải chấp hành theođúng luật pháp Việt nam, thì còn phải tuân thủ theo đúng các điều ước quốc tế mà Việtnam tham gia và phù hợp với tập quán thương mại quốc tế.
- Đối với các Chi nhánh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu:
+ Việc thành lập các Chi nhánh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuộc quyềncủa các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu
+ Các Chi nhánh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu không được coi là chủ thểkinh doanh xuất nhập khẩu độc lập và không phải là đơn vị được cấp giấy phép kinhdoanh xuất nhập khẩu theo các quy chế của Bộ Thương nghiệp mà chi là một bộ phậnkinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty, chịu sự chi phối của công ty
+ Các Chi nhánh chỉ được hoạt động xuất nhập khẩu trên cơ sở kế hoạch xuấtnhập khẩu của đơn vị chủ quản đã đăng ký với Bộ Thương nghiệp, trong đó có phầntrích giao cho Chi nhánh
1.4.2 Các hình thức xuất nhập khẩu
1.4.2.1 Các hình thức xuất khẩu
a Xuất khẩu trực tiếp: là việc nhà sản xuất trực tiếp tiến hành các giao dịch
với khách nước ngoài thông qua các tổ chức của mình Hình thức này được áp dụngkhi nhà sản xuất đủ mạnh để tiến tới thành lập tổ chức bán hàng riêng của mình vàkiểm soát trực tiếp thị trường Tuy rủi ro kinh doanh có tăng lên song nhà sản xuất có
cơ hội thu lợi nhuận nhiều hơn nhờ giảm bớt các chi phí trung gian và nắm bắt kịp thờinhững thông tin về biến động thị trường để có biện pháp đối phó (Trần Văn Chu,2000)
b Xuất khẩu gián tiếp: là việc nhà sản xuất thông qua dịch vụ của các tổ chức
độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu các sản phẩm của mình ranước ngoài Hình thức này được các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường quốc tế
áp dụng (Trần Văn Chu, 2000) Ưu điểm của nó là doanh nghiệp không phải đầu tưnhiều cũng như không phải triển khai lực lượng bán hàng, các hoạt động xúc tiến,khuếch trương ở nước ngoài Hơn nữa rủi ro cũng hạn chế vì trách nhiệm bán hàngthuộc về các tổ chức trung gian Tuy nhiên, phương thức này làm giảm lợi nhuận củadoanh nghiệp do phải chia sẻ với các tổ chức tiêu thụ, không liên hệ trực tiếp với nướcngoài, vì thế nên nắm bắt thông tin về thị trường cũng bị hạn chế, dẫn đến chậm thíchứng với các biến động thị trường (Trần Văn Chu, 2000)
Trang 23c Xuất khẩu theo nghị định thư (xuất khẩu trả nợ): đây là hình thức mà
doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo chỉ tiêu Nhà nước giao cho về một hoặc một sốhàng hóa nhất định do Chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã ký kết giữahai Chính phủ Hình thức này cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí
do nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, tránh sự rủi ro trong thanh toán (TrầnVăn Chu, 2000)
d Gia công quốc tế: là một hình thức kinh doanh theo đó một bên nhập
nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm (bên nhận gia công) của bên kia (bên đặt giacông) để chế biến thành phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (tiềngia công) Đây cũng là hình thức đang phát triển mạnh mẽ Bởi vì thông qua gia công,các quốc gia này sẽ có điều kiện đổi mới, cải tiến máy móc thiết bị và kỹ thuật côngnghệ, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao năng lực sản xuất (Trần VănChu, 2000)
e Tái xuất khẩu: là việc xuất khẩu những hàng hóa mà trước đây đã nhập
khẩu về nhưng vẫn chưa tiến hành các hoạt động chế biến Hình thức này cho phép thulợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng, máy móc thiết
bị, chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu này nhất thiết phải có sự góp mặt của ba quốcgia: nước xuất khẩu - nước nhập khẩu - nước tái xuất khẩu (Trần Văn Chu, 2000)
1.4.2.2 Các hình thức nhập khẩu.
a Nhập khẩu kinh doanh: là hoạt động nhập khẩu nhằm có được hàng hóa để
kinh doanh Hoạt động này hoàn toàn dựa trên những chi phí của doanh nghiệp nhậpkhẩu đồng thời bản thân doanh nghiệp phải chịu mọi trách nhiệm có liên quan đếnhoạt động nhập khẩu và bảo đảm có lãi trong kinh doanh hàng hóa nhập khẩu Để thựchiện hoạt động này thì doanh nghiệp phải kí một hợp đồng nhập khẩu với nước ngoài(bên xuất khẩu) để mua hàng hóa, hợp đồng này gọi là hợp đồng ngoại và một hợpđồng bán hàng hóa với doanh nghiệp trong nước có nhu cầu mua hàng hóa đó (gọi làhợp đồng nội) Khi nhập khẩu kinh doanh, doanh nghiệp được tính kim ngạch nhậpkhẩu doanh số và chịu thuế (Trần Văn Chu, 2000)
b Nhập khẩu ủy thác: là hoạt động nhập khẩu mà doanh nghiệp nhập khẩu
(bên nhận ủy thác - bên B) tiến hành nhập khẩu dựa trên cơ sở đơn đặt hàng của doanhnghiệp trong nước (bên ủy thác - bên A) Trong hoạt động nhập khẩu ủy thác thì bên Bhoạt động trên danh nghĩa của mình để nhập khẩu, mọi chi phí do bên A chịu để tiến
Trang 24hành nhập khẩu (không phải xin hạn ngạch nhập khẩu nếu có và phải chịu trách nhiệmvới bên xuất khẩu trong phạm vi hợp đồng ngoại) sao cho có lợi nhất cho bên A Đồngthời bên B cũng phải chịu mọi trách nhiệm trong phạm vi hợp đồng ủy thác với bên A(Trần Văn Chu, 2000).
c Nhập khẩu trên cơ sở liên doanh: hoạt động nhập khẩu trên cơ sở liên kết
kinh tế một cách tự nguyện giữa các bên liên doanh (phải có ít nhất một bên có chứcnăng xuất nhập khẩu) Bên có chức năng xuất nhập khẩu sẽ đứng ra nhập khẩu trên cơ
sở phối hợp với các bên liên doanh cùng nhau giao dịch đề ra các chủ trương, biệnpháp sao cho hoạt động nhập khẩu có lợi nhất cho liên doanh Các bên liên doanh sẽphân chia quyền lợi và trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình (Trần Văn Chu,2000)
d Nhập khẩu hàng đổi hàng: đây là hình thức của buôn bán đối lưu Việc
nhập khẩu thay vì thanh toán bằng ngoại tệ là thanh toán bằng hàng hóa với một giá trịtương đương với giá trị hàng hóa nhập khẩu Yêu cầu cân bằng trong buôn bán đối lưucũng như trong nhập khẩu hàng đổi hàng là (Trần Văn Chu, 2000):
- Cân bằng về mặt hàng
- Cân bằng về giá cả
- Cân bằng về tổng giá trị hàng hóa trao đổi
- Cân bằng về điều kiện giao hàng
e Nhập khẩu tái sản xuất: hình thức này gần giống như nhập khẩu kinh doanh.
Điều khác biệt ở đây là nhập khẩu hàng hóa về thay vì để tiêu thụ trong nước thì lại đểxuất khẩu sang một nước thứ ba (hàng hóa không qua chế biến ở nước tái sản xuất).Doanh nghiệp thực hiện hoạt động nhập khẩu tái sản xuất phải ký một hợp đồng nhậpkhẩu và một hợp đồng xuất khẩu, không phải chịu thuế xuất nhập khẩu mà phải chịu thuếVAT (Trần Văn Chu, 2000)
1.4.3 Vai trò của quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
Công tác xuất nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài để phát triểnsản xuất, từ đó góp phần nâng cao đời sống nhân dân, nhưng do có yếu tố nước ngoàinên có nhiều nét khác với nội thương Nó rất đa dạng do có giao dịch với các doanhnhân và người có quốc tịch khác nhau, trong một thị trường rộng lớn, khó kiểm soát,việc mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh.Hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới cửa khẩu của nhiều quốc gia khác nhau và
Trang 25tuân thủ tập quán, những thông lệ quốc tế của các địa phương, các vùng lãnh thổ khácnhau (Trần Văn Chu, 2000).
Chính tại nơi đó, ngoài những chủ thể hàng hóa tuân thủ pháp luật còn cónhững chủ thể có những hành vi buôn lâụ, trốn thuế với những thủ đoạn tinh vi Vì vậy
ở nước ta cũng như bất kỳ quốc gia nào, Hải quan có vị trí quan trọng trong lĩnh vựcquản lý xuất nhập khẩu, hàng hoá xuất nhập cảnh và đặc biệt chống buôn lậu và ngănchặn việc vận chuyển buôn bán trái phép hàng hóa, tiền tệ, tài sản, hàng cấm qua biêngiới Mỗi năm phát hiện và xử lý hàng ngàn vụ vi phạm pháp luật nghiêm trọng, trị giáhàng trăm tỷ đồng Việt nam, tịch thu và nộp ngân sách hàng triệu đô la mỹ, hàng ngànlạng vàng, hàng chục cân đá quý, thu hồi hàng ngàn cổ vật trả về cho cơ quan bảo tồn
và di tích lịch sử, ngăn chặn việc đưa vào trái phép hàng ngàn tài liệu phản động và ấnphẩm đồ trụy Kết quả chống buôn lậu của ngành Hải quan đã góp phần bảo vệ an ninhchính trị, an toàn quốc gia và tích cực bảo hộ sản xuất trong nước phát triển Đó là cáccông việc không thể tiến hành trong thời gian ngắn mà phải là một quá trình lâu dài vàliên tục (Trần Văn Chu, 2000)
Hoạt động xuất nhập khẩu bên cạnh những đóng góp tích cực vào tăng trưởng vàphát triển kinh tế thì còn có nhiều tồn tại mà cơ quan chức năng Nhà nước (trong đó cóHải quan và thuế vụ, ngành tài chính, cơ quan quản lý thị trường) Do đó, đòi hỏi cơ quanquản lý, nhất là lực lượng Hải quan phải hiểu rõ để chủ động ngăn ngừa và hạn chế, tậptrung thực hiện hiện đại hóa trong quản lý ở những khâu, những địa bàn trọng điểm Đểthực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu (Nguyễn VũHoàng, 2003)
1.4.4 Nội dung quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
1.4.4.1 Nội dung hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Như đã khẳng định ở trên hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa bao giờ cũngphức tạp hơn và chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với hoạt động buôn bán trong nước bởiphạm vi buôn bán rộng và giữa các bên có thể rất khác nhau về luật pháp, phong tụctập quán Các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu cũng như bất kỳ cácdoanh nghiệp khác đều mong muốn mình có được lợi nhuận càng cao càng tốt Vậy đểthu được lợi nhuận cao thì mỗi doanh nghiệp kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu cónhững biện pháp khác nhau (Bùi Xuân Lưu, 2010)
a Nghiên cứu thị trường
Trang 26Cũng như bất kỳ hoạt động kinh tế của một doanh nghiệp, hoạt động Kinhdoanh xuất nhập khẩu cũng rất cần thiết phải nghiên cứu thị trường, nó quyết định sựthành bại của một hoạt động của doanh nghiệp Nghiên cứu thị trường là quá trình tìmhiểu xem xét có hệ thống cùng với sự phân tích thông tin cần thiết để giải quyết cácvấn đề marketing (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
Nghiên cứu thị trường bao gồm: nghiên cứu về môi trường pháp luật, kinh tếchính trị, văn hóa và con người (hành vi tiêu dùng), môi trường cạnh tranh Từ việcnghiên cứu này, doanh nghiệp sẽ đưa ra kế hoạch xuất nhập khẩu sao cho tận dụng tối
đa các ưu thế và điểm mạnh của doanh nghiệp, hạn chế tốt nhất nhưng bất lợi và điểmyếu của doanh nghiệp; điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp sao cho phù hợp vàthích nghi được những đòi hỏi của thị trường (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
Nghiên cứu thị trường là một hoạt động rất khó kiểm soát Nó có nhiều cấp độkhác nhau, phạm vi khác nhau Vì thế doanh nghiệp phải tổ chức các hoạt động nghiêncứu thị trường một cách khoa học và hợp lý để tránh sự lãng phí, gây tốn kém màkhông đạt hiệu quả (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
Từ hoạt động nghiên cứu thị trường, các doanh nghiệp xác định nguồn hàngxuất dùng để xuất nhập khẩu và lựa chọn đối tác kinh doanh Khi muốn xác định đốitác kinh doanh của doanh nghiệp mình thì phải tìm hiểu kỹ đối tác thông qua các mốiquan hệ bạn hàng hoặc qua các cơ quan tư vấn, cơ sơ giao dịch hoặc văn phòng thươngmại đặt tại nước đối tác (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
b Đàm phán ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu
* Giao dịch đàm phán
Các phương pháp giao dịch chủ yếu được sử dụng trong kinh doanh xuất nhậpkhẩu hiện nay bao gồm (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012):
- Giao dịch thông thường
- Giao dịch qua trung gian mà các trung gian buôn bán bao gồm: các Đại lý, cácmôi giới, buôn bán đối lưu, đấu giá quốc tế, Giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa, dịch
vụ tại hội chợ triển lãm, gia công quốc tế và tái xuất
Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các nhàKinh doanh xuất nhập khẩu để đi đến thống nhất ký kết hợp đồng Để cuộc đàm phán
có kết quả theo như mong muốn của mình người đàm phán phải biết kết hợp giữa
Trang 27chuyên môn, sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình Đàm phán trong hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu bao gồm các hình thức sau:
- Đàm phán trực tiếp: Hai bên gặp trực tiếp để đàm phán và thảo luận nhữngđiều khoản của hợp đồng Đây là hình thức đàm phán nhanh chóng và rõ ràng nhấtnhưng khá tốn kém
- Đàm phán giao dịch qua thư tín: đây là hình thức giao dịch ít tốn kém nhưngtốn rất nhiều thời gian
- Đàm phán giao dịch qua điện thoại: đây là hình thức giao dịch khá tiện lợitrong thời đại thông tin hiện nay
Đàm phán cũng là một quá trình bao gồm các bước sau:
- Chào hàng: là việc nhà kinh doanh giới thiệu mặt hàng xuất khẩu cùng vớiđiều kiện bán hàng kèm theo
- Hoàn giá (mặc cả): Là khi bên nhập khẩu nhận được lời chào hàng của bênxuất khẩu nhưng không chấp nhận mức giá chào hàng mà đưa ra một mức giá mới đểthương lượng
- Chấp nhận: là sự đồng ý hoàn toàn của tất cả các bên đưa ra
- Xác nhận: là việc xác nhận lại những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận trước
đó để tiến tới ký kết hợp đồng
Kết quả của việc đàm phán sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu.Hợp đồng xuất nhập khẩu là căn cứ pháp lý để ràng buộc các bên phải thực hiện cácđiều kiện đã thỏa thuận ở trên
* Ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu
Hợp đồng trong Kinh doanh xuất nhập khẩu bảo đảm quyền lợi cho cả hai bêntrước pháp luật, quy định rõ trách nhiệm của mỗi bên, tránh những biểu hiện khôngđồng nhất trong ngôn từ hay quan niệm Sau khi hợp đồng đã được ký kết nghĩa làquyền lợi và nghĩa vụ của các bên ký kết trong hợp đồng đã được thiết lập các đơn vịkinh doanh xuất nhập khẩu với tư cách là một bên ký kết tổ chức thực hiện hợp đồng,tiến hành sắp xếp việc phải làm, ghi thành bảng biểu theo dõi tiến độ thực hiện hợpđồng, kịp thời ghi lại những diễn biến các văn bản phát đi và nhận được để xử lý giảiquyết cụ thể (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
c Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
Trang 28Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu là quá trình mà mỗi bên phải thực hiện cáccông việc theo đúng hợp đồng đã quy định từ ngay sau khi ký kết hợp đồng đến khithanh lý hợp đồng (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
Các công việc của hợp đồng xuất khẩu: Thực hiện công việc đầu của khâuthanh toán, xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hóa xuất khẩu, kiểm tra hàng xuấtkhẩu, thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu, giao hàng chobên vận tải, lập bộ chứng từ thanh toán, khiếu nại (nếu có) thanh lý hợp đồng (NguyễnThị Hồng Yến, 2012)
Các công việc của hợp đồng nhập khẩu: Mở thư tín dụng (L/C) thống nhất vớicác điều khoản của hợp đồng, phái tầu tiếp nhận vận chuyển hàng hóa, làm bảo hiểmvận chuyển hàng hóa, kiểm tra chứng từ và trả tiền, khai báo hải quan, nghiệm thuhàng hóa và chuyển giao hàng hóa, và bồi thường (nếu có) (Nguyễn Thị Hồng Yến,2012)
1.4.4.2 Nội dung của quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
a Đối tượng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
Đối tượng quản lý nhà nước về hải quan bao gồm: Hàng hóa, hành lý, ngoại hối,tiền Việt Nam, bưu kiện, bưu phẩm, các đồ vật và tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu,phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường Việt Nam khi các đối t-ượng này qua biên giới Việt Nam (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
b Chức năng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
Chức năng quản lý nhà nước về hải quan thể hiện ở hai mặt: Quản lý bằng chínhsách luật pháp và bằng hoạt động kiểm tra, giám sát Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi đốivới hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua biên giới Việt Nam trên cơ sởtuân thủ pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế có liên quan đến hoạt động hải quan màViệt Nam ký kết và công nhận (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
c Phạm vi địa bàn hoạt động của hải quan Việt Nam
Các khu vực cửa khẩu đường bộ bao gồm các cửa khẩu chính, cửa khẩu phụ dọctheo biên giới quốc gia giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Các cảng biển, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế
Trang 29Các bưu điện quốc tế (bưu cục ngoại dịch) có chuyển nhận thư từ, bưu kiện với ước ngoài theo công ước của liên minh bưu chính viễn thông quốc tế và các quy định vềbưu chính viễn thông của Việt Nam
n-Tại các địa điểm khác ở nội địa gồm: Kho, bãi chuyên dụng chứa hàng hoá xuấtkhẩu, nhập khẩu; địa điểm các tổ chức được phép làm dịch vụ xuất nhập khẩu hoặc dịch
vụ bán hàng thu ngoại tệ; bưu cục kiểm quan; địa điểm của cơ quan nhà nước; tổ chức xãhội được hải quan chấp nhận làm địa điểm kiểm tra hải quan và những địa điểm ở nội địa
mà hải quan phát hiện có dấu hiệu hoạt động buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hànghóa, ngoại hối qua biên giới
Các tuyến đường quá cảnh, mượn đường Việt Nam
Khu vực kiểm soát hải quan dọc biên giới, bờ biển, hải đảo, vùng tiếp giáp lãnh hải.Như vậy địa bàn quản lý là rất rộng, đòi hỏi lực lượng hải quan phải đủ mạnh đểđảm bảo tốt công tác (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
d Hoạt động cơ bản của ngành hải quan Việt Nam
Tiến hành thủ tục hải quan, thực hiện kiểm tra giám sát, kiểm soát hải quan
Thực hiện các quy định của nhà nước về XNK, về thuế XNK Đứng về mặt công tácnày, hải quan là người quản lý về thủ tục với hoạt động kinh tế đối ngoại, các quy địnhvới các đối tượng được quản lý không phải do hải quan làm mà được ban hành bởi cácngành khác và hải quan đảm bảo thực hiện; nếu các đối tượng kiểm tra hải quan khônglàm đúng các quy định của nhà nước thì hải quan cửa khẩu có quyền không cho XNK,xuất cảnh, nhập cảnh Đối với công tác thu thuế XNK theo các quy định từ bộ tài chính,hàng năm hải quan đã thu nộp trung bình chiếm 20% tổng nguồn thu ngân sách nhà nước(Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
Tiến hành các biện pháp phát hiện, ngăn ngừa, điều tra và xử lý hành vi buôn lậuhoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới, hành vi viphạm các quy định khác của nhà nước về hải quan trong phạm vi thẩm quyền do pháp luậtquy định (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
Thực hiện thống kê nhà nước về hải quan Công tác này có ý nghĩa quan trọng,không chỉ với ngành hải quan mà cần thiết cho chính phủ và các bộ ngành khác có thôngtin để tổ chức điều hành hoạt động quản lý XNK Cũng qua đó hải quan có thể chủ độngkiến nghị việc xây dựng các văn bản, quy định phù hợp với tình hình thực tiễn chứ không
Trang 30chỉ đơn thuần thực hiện theo các quy định do các Bộ, Ngành khác ban hành (Hoàng ĐứcThân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009).
Ngoài các công tác chính trên, hải quan cũng thực hiện một số mặt công tác khácnhằm xây dựng lực lượng vững mạnh và phát triển những mối quan hệ hợp tác quốc tế vềhải quan, từ đó góp phần tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hải quan(Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
1.4.5 Quy trình quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
1.4.5.1 Xây dựng pháp luật, cơ chế chính sách tạo môi trường pháp lý cho hoạt động XNK
Đây là một trong những chức năng chủ yếu của công tác quản lý nhà nước Thực tếhoạt động XNK luôn luôn biến đổi pháp luật cơ chế, chính sách ban hành chỉ phù hợp vớinhững khoảng thời gian nhất định Thông qua quản lý nhà nước phát hiện ra những bấthợp lý để có những nghiên cứu xây dựng pháp luật, cơ chế chính sách quản lý phù hợpvới tình hình thực tiễn (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
1.4.5.2 Duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu
Trong trường hợp kế hoạch XNK hàng hóa cần được bổ sung điều chỉnh về số ợng, chủng loại và trị giá doanh nghiệp gửi văn bản đề nghị uỷ quyền để xem xét, quyếtđịnh (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
lư-Duyệt kế hoạch XNK gồm: lư-Duyệt kế hoạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, tạo tài sản
cố định, mở rộng sản xuất, đầu tư chiều sâu; Duyệt kế hoạch nhập khẩu nguyên phụ liệuphục vụ sản xuất; Duyệt kế hoạch nhập khẩu để gia công; Duyệt kế hoạch xuất khẩu(Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
1.4.5.3 Kiểm tra giám sát, giải quyết các phát sinh trong XNK của doanh nghiệp
Kiểm tra giám sát là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động quản lý vì nếu khôngkiểm tra giám sát thì khó có thể thực hiện được mục đích của quản lý Việc kiểm tra giámsát được thực hiện thông qua: Quản lý hải quan và thực hiện chế độ báo cáo của doanhnghiệp (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
Căn cứ vào giấy phép đầu tư, văn bản phê duyệt kế hoạch XNK hàng hoá uỷ quyềnduyệt kế hoạch XNK Cơ quan hải quan làm thủ tục XNK hàng hóa theo quy định củapháp luật về hải quan Cơ quan hải quan kiểm tra số lượng danh mục, trị giá hàng xuất
Trang 31nhập có phù hợp với văn bản phê duyệt để làm thủ tục cho thông quan (Hoàng Đức Thân,Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
Về chế độ báo cáo vào tháng 12 hàng năm doanh nghiệp báo cáo kết quả XNK đãđược xét duyệt và những kiến nghị (nếu có) Qua đó để nắm tình hình hoạt động XNKcủa doanh nghiệp, những khó khăn vướng mắc trong hoạt động XNK để giải quyết kịpthời, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo sự quản lý của nhànước (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
1.5 Các nhân tố tác động đến quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa là hoạt động kinh tế tương đối phức tạp,hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, nếu xét hoạtđộng xuất nhập khẩu của một doanh nghiệp thì có thể chia các yếu tố này thành hainhóm: nhóm yếu tổ ngoài doanh nghiệp và nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp(Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
1.5.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
1.5.1.1 Yếu tố pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt
ra và bảo vệ Mọi hành vi mọi cử chỉ đều phải nhất nhất tuân theo pháp luật Vì thếhoạt động xuất nhập khẩu cũng là một hoạt động cần thiết phải tuân thủ đầy đủ cácđiều lệ của luật pháp ban hành Với phạm vi rộng lớn, hoạt động xuất nhập khẩu diễn
ra với sự tham gia của các chủ thể ở các quốc gia khác nhau ở mỗi một quốc gia đều
có những bộ luật riêng, trình độ lập pháp, hành pháp, tư pháp phụ thuộc vào trình độphát triển kinh tế ở mỗi quốc gia Ví dụ với các trình độ khác nhau của nền kinh tế mỗinước lại có sự khác nhau của luật thuế xuất khẩu Các yếu tố luật pháp không chỉ chiphối tới hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc gia đó mà còn chi phối với tất cả cáchoạt động kinh doanh quốc tế (Hoàng Đức Thân, Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
Để có thể tham gia va phát triển hoạt động thương mại quốc tế thì trước hếtdoanh nghiệp phải hiểu hết sức sâu sắc về pháp luật của chính quốc gia của mình vàpháp luật của nước đối tác cùng các thông lệ quốc tế hiện hành, các yếu tố này là cácyếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động Kinh doanh thương mại của doanh nghiệpnày, nó có thể tạo ra những thách thức cũng như những thuận lợi đối với hoạt độngthương mại của doanh nghiệp Từ việc hiểu biết về các luật này doanh nghiệp có thể
Trang 32có những phương thức hành động của mình để tranh thủ được các thuận lợi và đẩy lùiđược những thách thức đối với hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp, và từ
đó đưa hoạt động Kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp phát triển (Hoàng Đức Thân,Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)
1.5.1.2 Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế với các chính sách tiền tệ, chính sách tài chính, các vấn đề lạmphát, thuế quan là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đối với mọi hoạt động kinh tế Yếu tốkinh tế có tác động mạnh mẽ tới hoạt động xuất nhập khẩu ở cả tầm vĩ mô và vi mô:Tầm vĩ mô, các yếu tố kinh tế tác động đến đặc điểm và sự phân bố các cơ hội Kinhdoanh quốc tế và quy mô thị trường quốc tế; tầm vi mô, các yếu tố kinh tế lại ảnhhưởng đến cơ cấu tổ chức và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hoạt động xuấtnhập khẩu Với xu hướng phát triển đi lên của nền kinh tế, với xu thế hội nhập toàncầu, với sự đa dạng hoá và đa phương hóa quan hệ thương mại quốc tế, xóa bỏ dần cáchàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo sự liên kết kinh tế quốc dân ở tầm khu vực vàthế giới Chính những điều này đã tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như thử thách cho hoạtđộng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
1.5.1.3 Yếu tố về khoa học và công nghệ
Khoa học công nghệ là yếu tố luôn gắn liền với sự chuyên môn hóa, mà hoạtđộng xuất nhập khẩu cũng là hoạt động được bắt nguồn từ sự chuyên môn hóa sảnxuất của mỗi nước Vì thế khi khoa học phát triển thì chuyên môn hóa càng cao và nhưvậy thì hoạt động xuất nhập khẩu càng được chú trọng và phát triển Hoạt động lưuthông hàng hóa có ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động sản xuất hàng hóa bởi lẽ tốc độcủa lưu thông nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và giá cả của hànghóa mà những yếu tố này của hàng hóa được quyết định bới yếu tố khoa học kỹ thuậtđược áp dụng trong sản xuất hàng hóa Một sản phẩm được sản xuất ra từ một côngnghệ tốt sẽ có chất lượng cao và có giá thành hạ, vì thế lưu thông nó sẽ tốt hơn Hoạtđộng xuất nhập khẩu cũng vậy, chịu ảnh hưởng hết sức sâu sắc từ yếu tố khoa học vàcông nghệ (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ còn tạo điều kiện cho doanhnghiệp có cả sự nhạy bén trong việc nhận biết thông tin, sự kiện xảy ra xung quanh,giúp doanh nghiệp hiểu được thị hiếu, nhu cầu, sở thích của khách hàng để từ đó đưa
ra phương án thích hợp với sự biến đổi của thị trường, từ đó có những phương án hợp
Trang 33thời đại không bị đi chậm so với đối thủ và không bị lạc hậu so với thời đại Khoa họccông nghệ giúp cho doanh nghiệp tìm hiểu và nắm bắt chính xác về bạn hàng, kháchhàng, đối tác làm ăn về các phương diện, từ đó có thể hạn chế được sự rủi ro trongkinh doanh (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012).
Ngày nay, khoa học công nghệ luôn là yếu tố cần và đủ để hoạt động kinh tếnói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng tiếp tục tồn tại và phát triển, đặc biệt
là hoạt động xuất nhập khẩu khi các đối thủ cạnh tranh của mình không chỉ là các đốithủ trong nước mà bao gồm cả các đối thủ nước ngoài với bề dày và sự phát triển rấtkhác nhau (Nguyễn Thị Hồng Yến, 2012)
1.5.1.4 Yếu tố chính trị
Một môi trường chính trị ổn định chính là điều kiện cần thiết để các hoạt độngkinh tế tồn tại và phát triển lâu dài Yếu tố chính trị có thể là những yếu tố khuyếnkhích hoặc hạn chế đối với hoạt động xuất nhập khẩu (Bùi Xuân Lưu, 2010)
Việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, thiết lập các quan hệ là sựtác động mang tính tích cực, làm tăng cường sự liên kết các thị trường và thúc đẩy tốc
độ tăng trưởng của hoạt động xuất nhập khẩu Nhưng ngược lại, sự không ổn định vềchính trị sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế và bóp nghẹt các mối giao lưu kinh tếgiữa trong nước với nước ngoài Nhiều nơi trên thế giới hiện nay sự bất ổn về chính trị
và cuộc chiến tranh sắc tộc diễn ra mạnh mẽ Tại đây sự an toàn trong kinh doanh làkhông cao hoặc không có Điều này đã và đang sẽ buộc các doanh nghiệp phải tạmngừng hoạt động kinh doanh của mình bởi vì họ đang đánh giá lại cơ hội kinh doanhtrên thị trường và phân bổ lại nguồn lực sang các thị trường khác có độ an toàn tao hơn(Bùi Xuân Lưu, 2010)
Từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế hỗn hợp, Việtnam cũng như các nước tiến hành "mở cửa" nền kinh tế với sự hỗ trợ của nhà nước vềgiá cả, tạo ra một cơ chế định giá theo thị trường tức là được xác định theo quy luậtcung cầu, sự chuyển đổi này ảnh hưởng đến cường độ cạnh tranh giữa các doanhnghiệp hoạt động trên thị trường thế giới và mở ra cơ hội kinh doanh mới trong các thịtrường bị hạn chế trước đây Các doanh nghiệp không có phản ứng linh hoạt, tất yếuphải chịu sự "đào thải tự nhiên" của thị trường Với các yếu tố chính trị có ảnh hưởngđến việc mở rộng phạm vi tiêu thụ sản phẩm và mở ra cơ hội kinh doanh cho các
Trang 34doanh nghiệp Song chính các yếu tố chính trị có thể lại là rào chắn giới hạn sự tự dotrên thị trường thế giới của doanh nghiệp (Bùi Xuân Lưu, 2010).
1.5.1.5 Các yếu tố thuộc về văn hóa xã hội
Yếu tố văn hóa xã hội có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu thị trường, nó có tínhchất quyết định đến sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi nước, đặc biệt
là thành phần hàng hóa tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu của một nước Yếu tốvăn hóa xã hội có thể kể đến là lối sống, phong tục, tập quán, tôn giáo, ngôn ngữ vàđặc biết là thị hiếu tiêu dùng Hoạt động xuất nhập khẩu được coi là một hoạt độngphức tạp vì phạm vi của nó là rộng lớn, vượt qua phạm vi một nước vì thế yếu tố vănhóa xã hội chi phối hoạt động xuất nhập khẩu không chỉ là văn hóa của một nước mà
là văn hóa của nhiều nước cùng tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu đó Mà mỗimột nền văn hóa có một đặc trưng khác nhau Để có thể xúc tiến hoạt động xuất nhậpkhẩu với một nước thì chủ thể tham gia phải có bước tìm hiểu nền văn hóa của nướcđối tác của mình (Bùi Xuân Lưu, 2010)
1.5.1.6 Các yếu tố về đồng tiền thanh toán
Khác với các hoạt động mua bán đơn giản khác, hoạt động xuất nhập khẩu phụthuộc khá lớn vào đồng tiền thanh toán Đồng tiền thanh toán đước lựa chọn trong hoạtđộng xuất nhập khẩu bao giờ cũng là ngoại tệ đối với một nước Khi đồng tiền đượclựa chọn là phương tiện thanh toán này bị biến động thì một trong hai bên sẽ bịphương hại Khi một hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết thì đồng tiền được lựachọn là phương tiện thanh toán là đồng tiền của bên nhập với một thời hạn thanh toánnhất định Đến hạn thanh toán, đồng tiền được lựa chọn này giảm giá so với đồng tiềncủa bên xuất thì bên xuất sẽ bị thiệt và ngược lại Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tụchay ngừng trệ điều này phụ thuộc vào sự thay đổi tỷ giá giữa hai đồng tiền thanh toánlàm cho họ được bảo toàn hay không được bảo toàn Một đồng tiền có giá trị ổn địnhluôn là một yếu tố cần để duy trì sư hoạt động của hoạt động xuất nhập khẩu của mỗinước Chính sách tỷ giá hối đoái cân bằng linh hoạt và được điều chỉnh theo giá cả thịtrường là chính sách hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của hai bên xuất khẩu và nhậpkhẩu (Bùi Xuân Lưu, 2010)
1.5.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Trong mọi hoàn cảnh vẫn tồn tại những doanh nghiệp có hoạt động xuất nhậpkhẩu phát triển vững mạnh và cũng có doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu bị
Trang 35ngừng trệ Điều này cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp không chỉchịu tác động hết sức mạnh mẽ từ môi trường vĩ mô mà còn chịu sự tác động trực tiệpcủa các yếu tố thuộc về doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồm (Bùi Xuân Lưu, 2010):1.5.2.1 Ban lãnh đạo của doanh nghiệp
Đây là bộ phận "đầu não" của doanh nghiệp, quyết định chiến lược Kinh doanhcủa doanh nghiệp đề ra mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp,đồng thời chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện chiến lược
đó Với sự phức tạp của hoạt động xuất nhập khẩu, việc đòi hỏi một ban lãnh đạo tàitình, mạnh dạn và quyết đoán là rất cần thiết
1.5.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp các bộ phận của doanh nghiệp để thực hiện kếhoạch đặt ra của doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ loại trừ nhiễu trong sựtruyền tải thông tin từ ban lãnh đạo đến các thành viên trong doanh nghiệp và ngượclại Một cơ cấu hợp lý còn giúp sửa đổi bổ sung lượng thông tin kịp thời, chính xác,thích hợp, đồng thời tiết kiệm chi phí Đối với mỗi quy mô của một doanh nghiệp vớimỗi hoạt động Kinh doanh của doanh nghiệp cần có một cơ cẩu tổ chức hợp lý để pháthuy được sức mạnh của ban lãnh đạo, tránh sự chồng chéo trong quản lý tạo sự hiệuquả trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Cơ cấu tổ chức ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện kế hoạch của hoạt độngxuất nhập khẩu của doanh nghiệp Trong hoạt động xuất nhập khẩu rất quan trọng yếu
tố uy tín đối với đối tác để duy trì quan hệ hợp tác Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ giúp việcthực hiện kế hoạch đúng theo các khoản mục hợp đồng đã ký cả về chất lượng sốlượng, thời gian đảm bảo chữ tín đối với đối tác
1.5.2.3 Nguồn lực của doanh nghiệp
Hoạt động xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành khi có sự nghiên cứu về thịtrường như: nghiên cứu hàng hóa, về bạn hàng, về phương thức giao dịch, đàm phán
ký kết hợp đồng Do đó, vấn đề ở đây là phải có một đội ngũ cán bộ Kinh doanh giỏinăng động có chuyên môn trong lĩnh vực này, họ có khả năng phân tích và giải quyếtcác thủ tục hành chính trong xuất nhập khẩu Ngoài ra doanh nghiệp rất cần có mộtnguồn lực tài chính đủ lớn để có thể thực hiện các công việc như nghiên cứu thịtrường, các hoạt động marketing, quảng cáo nhằm tạo ra sức mạnh thúc đẩy hoạt độngxuất nhập khẩu phát triển
Trang 361.5.2.4 Các nguồn lực khác
Hệ thống cơ sở vật chất là những yếu tố hỗ trợ đắc lực cho hoạt động kinh doanhxuất nhập khẩu đạt hiệu quả cao như: văn phòng, nhà xưởng, máy móc và các trangthiết bị cho sản xuất sản phẩm đối với các doanh nghiệp sản xuất có hoạt động xuấtkhẩu
1.6 Các bài học kinh nghiệm từ các nước và địa phương khác trong nước 1.6.1 Kinh nghiệm của các nước
1.6.1.1 Nhật Bản
Hải quan Nhật Bản là một trong những cơ quan Hải quan tiên tiến bậc nhất trong
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) Để đạt được mục tiêu hiện đại hóa tất cả quy trìnhnghiệp vụ hải quan, ngành Hải quan Nhật Bản đã phải nỗ lực từng bước khắc phụcnhững khó khăn và cản ngại Một trong những điều mà hải quan Nhật Bản coi trọngtrong qúa trình hiện đại hóa là ứng dụng toàn diện quy trình tin học vào công tácnghiệp vụ
Hải quan Nhật Bản tiến hành đề án tin học hóa ngành hải quan bắt đầu từ năm
1978 với việc áp dụng Hệ thống tin học hải quan tự động (NACCS), xử lý các vấn đềliên quan đến thủ tục thương mại nhằm cải thiện và đẩy nhanh quá trình thông quanhàng hóa Hệ thống này đóng vai trò then chốt trong việc tiến đến mục tiêu chính củangành Hải quan Nhật Bản là thiết lập dịch vụ thông quan “một cửa” cho khách hàng.Việc áp dụng tin học hóa trong ngành hải quan đã thực hiện là bước nhảy vọt chongành Hải quan Nhật Bản Hệ thống NACCS của Hải quan Nhật Bản hiện nay đượccoi như mô hình giao diện chuẩn cho các cơ quan hữu trách có liên quan khác pháttriển hệ thống tin học của mình
1.6.1.2 Singapore
Hải quan Singapore được đánh giá là cơ quan hải quan hiện đại trong khu vựcASEAN và trên thế giới với hệ thống pháp luật hải quan hoàn chỉnh, đồng bộ, áp dụngđầy đủ các chuẩn mực của ASEAN cũng như các quy định của WCO, WTO Hiện nay,100% hàng hoá XNK được làm thủ tục hải quan điện tử thông qua hệ thống thông tinchung - TradeNet
Kinh nghiệm của Hải quan Singapore trong quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu thể hiện ở các hoạt động sau:
Trang 37- Xây dựng quy trình thông quan hàng hóa theo 05 bước: lựa chọn đối tượngkiểm tra; chuẩn bị kiểm tra; thực hiện kiểm tra; kết thúc kiểm tra; đánh giá kết quảkiểm tra Về cơ bản, việc lựa chọn đối tượng kiểm tra sau đối với hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu đều dựa vào nguồn thông tin tình báo thông qua hệ thống dữ liệu phân tích
- Xây dựng cơ cấu tổ chức:
+ Bộ phận lựa chọn đối tượng kiểm tra: Bộ phận này căn cứ vào cơ sở dữ liệu từthông tin tình báo tập trung vào việc nghiên cứu các đối tượng trọng điểm, các ngànhhàng có khả năng thường xuyên xảy ra vi phạm Trên cơ sở đó lập hồ sơ, phân tích lựachọn đối tượng kiểm tra Từ đó xác định các yếu tố rủi ro thấp, vừa và rủi ro cao.+ Bộ phận kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp: Bộ phận này chủ yếu tập trung vàocác doanh nghiệp có độ rủi ro cao và có một số nhiệm vụ như thực hiện kiểm tra theo
kế hoạch tại doanh nghiệp có lập kế hoạch và thông báo trước để doanh nghiệp chuẩn
bị làm việc Mục đích là tìm chứng cứ vi phạm tại doanh nghiệp; tuyên truyền cho cácnhà nhập khẩu về thủ tục hải quan, khuyến khích họ thường xuyên kiểm tra rà soát lại
để xác định các khoản thuế thiếu để nộp cho Nhà nước; nâng cao tính tuân thủ phápluật cho doanh nghiệp thông qua việc chỉ cho họ những sai phạm để họ tự khắc phục;củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ quan hải quan
+ Bộ phận điều tra: Bộ phận này chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có độrủi ro cao và một số nhiệm vụ chủ yếu như thực hiện các hoạt động kiểm tra trong thờigian dài (kiểm tra trong thời gian dài và có thể mở rộng phạm vi kiểm tra) tại trụ sởcủa nhà nhập khẩu để tìm kiếm bằng chứng của sự trốn thuế hải quan, thuế hàng hóa
và dịch vụ chung; tiếp nhận những trường hợp kiểm tra có hành vi nghiêm trọng đượcchuyển từ bộ phận kiểm tra trực tiếp sang; thực hiện điều tra đối với các trường hợpgian lận và đưa ra các biện pháp giải quyết đối với nhà nhập khẩu và các đối tượngkhác có liên quan Thẩm quyền của bộ phận này ngoài việc điều tra còn được bắtngười, khởi tố đưa ra toà án Công việc này thực hiện tại doanh nghiệp, thời gian điềutra dài có thể từ 03 đến 06 tháng
Giữa bộ phận kiểm tra trực tiếp và điều tra có sự quan hệ về thông tin để giúpnhau trong việc thực hiện công việc của mình Ngoài ra, bộ phận điều tra hoặc kiểm tratrực tiếp còn phản hồi lại cho bộ phận lựa chọn đối tượng kiểm tra để xây dựng cáctiêu thức bổ sung cho các đối tượng này
Trang 381.6.2 Kinh nghiệm của các địa phương khác
1.6.2.1 Hải phòng
Hải Phòng là thành phố công nghiệp - thương mại - du lịch, có cảng biển quốc tếlớn nhất miền Bắc Việt Nam, có hệ thống đường bộ, đường sông và đường hàngkhông thuận tiện cho việc vận chuyển, giao lưu hàng hóa, phát triển quan hệ kinh tếtrong nước và quốc tế Trong quá trình xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng,công tác hải quan luôn có vị trí, vai trò quan trọng
Cục Hải quan thành phố Hải Phòng được thành lập từ ngày 14/04/1955 với chứcnăng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan trên địa bàn thành phố HảiPhòng và từ những năm 1990 đã được mở rộng tới địa bàn các tỉnh Hải Dương, HưngYên, Thái Bình Trải qua hơn nửa thế kỷ trưởng thành và phát triển, Cục Hải quanthành phố Hải Phòng trở thành một đơn vị điển hình của Hải quan Việt Nam với nhiềuthành tích xuất sắc Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng
đã phát huy nội lực, sáng tạo, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào quản lý nhànước về hải quan, liên tục là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua toàn ngành Hải quan,hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đạt được những danh hiệu cao quý như: Anh hùngLao động thời kỳ đổi mới năm 2006; Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì;Huân chương Độc lập hạng Nhì; Cờ thi đua và nhiều bằng khen của Chính phủ, các
bộ, ngành, UBND thành phố Hải Phòng và các địa phương
Ngay những ngày đầu của thời kỳ đổi mới của đất nước, Hải Phòng đã xác địnhlợi thế so sánh, xu hướng phát triển của hội nhập và mở cửa, khẳng định thu hút FDI làmột trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy, phát triển kinh tế - xã hội, thựchiện CNH, HĐH Vì vậy, Thành phố đã tập trung chỉ đạo quy hoạch xây dựng, pháttriển các KCX, KCN, KKT nhằm hình thành nhiều mặt bằng sạch, với những điềukiện và môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo sự đột phá về thuhút đầu tư
Để quản lý các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nằm trong các KCN, KCX trênđịa bàn thành phố Hải Phòng, năm 1997 Chi cục Hải quan KCX và KCN Hải Phòngthuộc Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã được thành lập Đây được coi là dấu ấnquan trọng của ngành Hải quan về việc đưa công tác hải quan đến với doanh nghiệp,cùng với doanh nghiệp tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý hànghóa xuất nhập khẩu, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn và thuận lợi nhất, góp phần cùngthành phố đẩy mạnh chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài và cũng là một bước quan
Trang 39trọng triển khai NQ32/NQ-TW của Bộ Chính trị về việc xây dựng thành phố HảiPhòng CNH, HĐH.
1.6.2.2 Lạng Sơn
Lạng Sơn là tỉnh miền núi phía Bắc, có đường biên giới dài trên 223 km giáp vớitỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 7 điểmchợ biên giới; là nơi khởi nguồn của con đường huyết mạch xuyên Việt với quốc lộ 1Anối liền Lạng Sơn – Hà Nội và các tỉnh, thành phố phía Nam; tuyến đường sắt liên vậnquốc tế Việt – Trung (Hà Nội - Lạng Sơn – Trung Quốc)
Hải quan Lạng Sơn là cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn, thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước về Hải quan trên địa bàn 2 tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang
Hải quan Lạng Sơn được thành lập năm 1953 theo Thông tư số 238-TTg của Thủtướng Chính phủ Trong 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống đế quốc Mỹ, Hảiquan Lạng Sơn đã thực hiện tốt nhiệm vụ thông quan, tiếp nhận sự giúp đỡ của cácnước Xã hội chủ nghĩa anh em, đóng góp tích cực vào việc hỗ trợ kịp thời cho tiềntuyến Lạng Sơn trở thành “cảng nổi”, “điểm giải tỏa hàng hóa sôi động” của cả nước
- Chỉ đạo các Chi cục hải quan cửa khẩu quản lý tốt hàng hóa xuất, nhập khẩu,thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ hải quan, bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu thu nộpngân sách Nhà nước Tiếp tục thực hiện tốt “Tuyên ngôn phục vụ khách hàng” Tiếptục quản lý tốt hàng hóa xuất, nhập khẩu, triển khai thực hiện tốt cải cách thủ tục hànhchính và thông quan điện tử
- Tăng cường công tác thanh tra công vụ và kiểm tra việc thực hiện các mặt côngtác chuyên môn, nghiệp vụ tại các đơn vị hải quan cửa khẩu nhằm ngăn chặn tình trạngcán bộ, công chức vi phạm phải xử lý kỷ luật Tập trung giải quyết các vướng mắcphát sinh tại cửa khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông quan hàng hóa nhanhchóng
- Tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnhLạng Sơn về cơ chế, chính sách quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu và khu kinh tế cửakhẩu; thực hiện quản lý tốt nguồn thu phí cho địa phương Tăng cường phối hợp vớicác lực lượng, các huyện biên giới để quản lý tốt hàng hóa xuất, nhập khẩu, đấu tranhchống buôn lậu Tăng cường tổ chức đối thoại với doanh nghiệp, kịp thời giải quyếtnhững khó khăn, vướng mắc trong công tác nghiệp vụ
Trang 40- Tổ chức tốt các phong trào thi đua thiết thực chào mừng các ngày lễ lớn trongnăm; thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa Củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo củacác tổ chức Đảng, đoàn thể trong việc lãnh đạo cũng như phát động các phong trào thiđua./.