Đây là bộ đề tài nhằm phục vụ cho sinh Viên Học ngành Âm nhạc nộp thi môn Đề tài Âm nhạc.Đề tài đã soạn đầy đủ nội dung.Chỉ cần tải về thay tên Sinh Viên rồi nộp thi môn đề tài.Ngoài ra đề tài này còn đáp ứng được nhu cầu của các thầy cô giáo làm sáng kiến kinh nghiệm, hay đề tài để đăng kí chiến sĩ thi đua, giáo viên dạy giỏi các cấp.
Trang 1NGHỆ THUẬT HÁT QUAN HỌ XỨ KINH BẮC ( TỈNH BẮC NINH )
Bố cục của đề tài nghiên cứu:
A Phần Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
B Phần Nội Dung:
Chương I: Sơ lược về Dân ca Quan Họ
1.1 Kinh Bắc- chiếc nôi của Quan họ Quan
1.2 Nguồn gốc của Dân ca Quan Họ
1.3 Văn hóa Quan họ được hình thành dựa trên các yếu tố Văn hóa – Nghệ thuật dân gian
1.4 Dân ca Quan họ với các lễ hội truyền thống
Chương II: Giá trị tư tưởng của lời ca
2 Đôi nét về lời ca
2.1 Giá trị tư tưởng của lời ca
2.2 Nghệ thuật thơ ca trong lời ca Quan họ
2.2.1 Sự mộc mạc và trau chuốt của các làn điệu Dân ca Quan họ
2.2.2 Nghệ thuật xây dựng hình tượng trong thơ ca
2.2.3 Nghệ thuật sử dụng từ có nghĩa xác định cụ thể để mở ra sự trừu tượng,
sự hàm ý phong phú, sâu rộng của lời ca
Trang 2A Phần Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đoàn Dân ca Quan họ ra đời 1969 và ngày càng trưởng thành đếnngày 14/07/1994 UBND tỉnh Hà Bắc ra quyết định thành lập trung tâm vănhóa Quan họ Ngày 10/05/1995 tổ chức lễ ra mắt trung tâm văn hóa Quan họ
và đi vào hoạt động Đó là một sự nghiệp mới hết sức có ý nghĩa đối với sựnghiệp chấn hưng văn hóa Quan họ Quê hương ấy vậy là một vùng đất rộnglớn, phía Bắc sông Hồng, nằm trong vùng văn hoá, văn minh châu thổ sôngHồng, sông Thái Bình, giáp ranh với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Thái, Vĩnh Phú,Hải Hưng, Quảng Ninh ngày nay Cư dân Hà Bắc có truyền thống cần cù,thông minh sáng tạo trong lao động cho nên đến thế kỷ XI cùng với sự ra đờicủa Đại Việt triều Lý, Kinh Bắc đã trở thành một vùng kinh tế mạnh của đấtnước, làm nền cho sự phát triển mọi mặt chính trị, văn hoá, xã hội Hàngnghìn năm, trong lịch sử chống ngoại xâm, vùng đất và con người Kinh Bắcđược lịch sử cả nước giao cho trọng trách là "đất phên dậu phía Bắc củaThăng Long" Chính thế đứng và trọng trách lịch sử ấy đã hun đúc nên phẩmchất anh hùng, mưu lược, quyết chiến thắng của người dân Bắc ninh Bắcgiang để họ viết nên những trang sử vàng chói lọi về lịch sử chống ngoại xâm.Chính những phẩm chất, tình cảm cao quý này sẽ chi phối mọi sáng tạo củangười dân Kinh Bắc trong mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật,trong đó, có Quan họ
1.2 Theo dòng chảy của thời gian, hiện nay dân ca quan họ vẩn là loạihình sinh hoạt gắn liền, gần gũi và quan trọng ở Đồng bằng Bắc Bộ nói chung
và tỉnh Bắc Ninh nói riêng Bên cạnh các đoàn nghệ thuật quan họ chuyênnghiệp còn có 100% các làng của tỉnh Bắc Ninh đều có câu lạc bộ hát quan
họ Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại phát triển của dân caquan họ, thì dân ca quan họ vẫn còn hiện tượng dị bản, các nghệ nhân ngàymột già đi trong khi đó giới trẻ ngày nay thiếu nhiệt huyết đam mê lại muốnquay lưng lại với dân ca quan họ và đi theo các loại âm nhạc thị trường hiện
Trang 3nay Đã xuất hiện một số bất cập trong loại văn hóa này như: hát quan họ trênsân khấu có dàn nhạc đệm, và thể hiện phong cách xa lạ so với lối hát truyềnthống “Quan họ chèo” là hát quan họ giống hát chèo “Quan họ tây” hát nhưngười nước ngoài nói tiếng việt nhưng không rõ âm, chuẩn tiếng mà chỉ lơ lớ.Những năm gần đây lại có thêm khái niệm “Quan họ nhà hàng” là những hìnhthức hát quan họ phục vụ trong các nhà hàng, trong các bữa tiệc… nhửngkiểu hát này đang làm mờ dần đi phong cách và tính truyền thống của dân caquan họ Tất cả những điều đó đang có tác động không nhỏ đến sự phát triểnlành mạnh của một loại hình nghệ thuật mang đậm bản sắc một vùng xứ KinhBắc Sự biến dạng từ quan họ gốc đến quan họ hiện đại là điều khó tránhkhỏi Vấn đề quan trọng là cần nhận thức rạch ròi các khái niệm, xác địnhchính xác hình thức nào cần bảo tồn và hình thức nào được phép cải tiến pháthuy Đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu dân ca quan họ, đánhgiá những giá trị đóng góp của loại hình nghệ thuật đặc sắc, độc đáo này như:
1 Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc, Dân ca quan
họ Bắc Ninh, Nxb Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962 2 Nhiều tác giả,Một số vấn đề về dân ca quan họ, Ty Văn hóa Hà Bắc, 1972 3 Đặng VănLung, Hồng Thao, Trần Linh Quý, Quan họ - Nguồn gốc và quá trình pháttriển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978 4 Trần Linh Quý, Hồng Thao,Tìm hiểu dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997 5.Nhiều tác giả, Thông tin văn hóa Bắc Ninh, Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh,
2000 6 Tư liệu điền dã của tác giả năm 1992, 1997, 2006 Hồng Thao, 300bài dân ca quan họ Bắc Ninh, Viện Âm nhạc, Hà Nội, 2002
Các tác phẩm trên đã đi sâu vào nghiên cứu âm nhạc trong dân ca quan
họ hoặc chỉ coi sự hình thành và phát triển của nghệ thuật hát quan họ nhưmột yếu tố, môt tiền đề cho sự hình thành một loại hình nghệ thuật khác… Song nghiên cứu dân ca quan họ từ một góc độ một loại hình nghệ thuật háttrong đời sống văn hóa của người dân để từ đó gợi mở những giải pháp thích
Trang 4hơp Để phát huy tốt vốn di sản văn hóa đặc sắc này, cần phải có những khảosát, đánh giá đúng thực trạng của nghệ thuật hát quan họ.
2 Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu lịch sử và phát triển của dân ca quan họ ở Đồng bằng Bắc Bộnói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng, để nhận thấy nét độc đáo, đặc sắc của một loại nghệ thuật mang tính chất rất rõ nét về văn hóa vùng miền nơi đây
3 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu thực trạng trong nghệ thuật hát quan họ ở xứ Kinh Bắc,nhằm đưa ra hường giải pháp để dân ca quan họ trở thành hoạt động có ý thứctrong đời sồng văn hóa cộng đồng, đồng thời góp phần vào việc bảo tồn, pháttriển hơn loại hình nghệ thuật này, tự hào hơn với vốn di sản văn hóa độc đáocủa vùng Đồng bằng Bắc Bộ, khẳng định hơn nữa vai trò của Dân ca Quan họtrong sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong nước, quốc tế
4 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài có tên: “ Nghệ thuật hát Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh” cho nên đối tượng nghiên cứu sẽ là các yếu tố lịch sử, văn hóa – xã hội và thực trạng của dân ca Quan họ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
5 Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu nghệ thuật hát Quan họ trong mối quan hệ văn hóa – xã hội
mà con người là chủ thể sáng tạo, cho nên các tài liệu mang tính lịch sử, văn hóa – xã hội, nghệ thuật cũng được tham khảo và sử dụng, và tham khảo thêmmột số tài liệu của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được xuất bản, nghiệm thu và công bố
6 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu về nghệ thuật hát quan họ trong đời sống văn hóa của người dân Bắc Ninh Đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp, sưu tầm tư liệu, tóm tắt, trích lược, phê phán,các sách báo xuất bản hoặc chưa xuất bản có liên quan để phục vụ cho việc nghiên cứu
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG Chương I: Lược sử về dân ca Quan họ
1.1 Kinh Bắc nơi khơi nguồn văn hóa Quan họ Kinh Bắc là một trongnhững vùng văn hóa lâu đời và phát triển nhất của người Việt ở vùng đất phíaBắc Thăng Long, sông Hồng (chủ yếu là đất Bắc Ninh, Bắc Giang ngày nay).Đây là một trong những trung tâm của nền văn minh Việt cổ Cũng trên mảnhđất này, những giá trị tinh thần, tư tưởng được phản ánh qua các huyền thoại
về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An DươngVương Cùng với huyền thoại truyền thuyết là các di tích tiêu biểu như lăng
mộ Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đền thờ PhùĐổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du Thành cổ Luy Lâu ở
xã Thanh Khương (Dâu) với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa thápnguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phậtgiáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên Bắc Ninhnổi tiếng với các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ
mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan; Các ditích lịch sử, như: đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc,đình làng Đình Bảng Địa danh Kinh Bắc đã được nói đến từ lâu với cái tên:Bắc Giang Lộ hay Kinh Bắc Lộ, Bắc Giang thừa tuyên hay Kinh Bắc thừatuyên, Kinh Bắc trấn và cái tên Bắc Ninh (ước muốn yên bình cho một vùngđất quan trọng phía Bắc Tổ quốc nằm xa kinh thành Huế) do vua Minh Mạngđổi tên năm 1822 Vùng đất có độ tuổi hàng nghìn năm này là nơi giao lưucủa các luồng văn hóa lớn được du nhập từ Trung Hoa, Ấn Độ Vì lẽ đó, vănhóa Kinh Bắc mang nhiều nét “cung đình”, là một vùng văn hóa ít bị đứt gãy
về mặt thời gian nên các yếu tố văn hóa dân gian còn lưu lại đến ngày nay ítnhiều đều được thừa hưởng nét văn hóa truyền thống Đây chính là sự minhchứng hùng hồn cho sự phong phú đa dạng và tiêu biểu hơn bất cứ địaphương nào trên mảnh đất Việt ngàn năm văn hiến “Bắc Ninh là cái nôi phátsinh của người Việt và văn hóa Việt” Kinh Bắc còn là nơi khơi nguồn văn
Trang 6hóa Quan họ Nói đến Quan họ là nói đến nền văn hoá tổng thể hợp thành từnhiều yếu tố văn hóa hóa nghệ thuật dân gian trong một quá trình lịch sử lâudài, có nhiều tầng, nhiều lớp trong một chỉnh thể văn hóa; gắn bó với văn hóa,văn minh làng xã, thu hút và biểu hiện những ước mơ; tập hợp và hành độngchung cho những nguyện vọng, những khao khát của con người xứ Bắc từnhiều đời đối với quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người trênbình diện văn hóa - xã hội Nền văn hóa Quan họ là do các lối chơi quan họcủa cộng đồng xây dựng nên, luôn luôn được cộng đồng sàng lọc trong dòngchảy lịch sử Việc khôi phục và bảo tồn những tinh hoa nhất, bản sắc độc đáo,đậm đà nhất trong nền văn hóa quan họ là phải khôi phục và bảo tồn kho tàngbài bản của quan họ, cách hát và kỹ thuật hát quan họ (quan họ cổ) và cuốicùng là lối chơi quan họ Làng Viêm Xá (làng Diềm), huyện Yên Phong cóđền thờ vua Bà Truyền rằng, Vua Bà chính là người đã sáng tác ra các lànđiệu dân ca quan họ đầy tình tứ và quyến rũ Nét đặc trưng, độc đáo nhất củalàng Diềm chính là “nghề chơi” quan họ với nghệ thuật và phong cách hátquan họ vừa cổ xưa, vừa độc đáo, vừa phong phú,
điêu luyện Trong số 49 làng Quan họ, làng Diềm còn duy trì được độiquan họ đông tới hàng trăm người, đủ các thế hệ liền anh liền chị Từng bọnQuan họ, mỗi nhóm liền anh, liền chị khi gặp gỡ có thể cất giọng hát tuỳ theonhu cầu, tâm trạng cảm xúc Việc truyền dạy hát quan họ được quan tâm ngaytrong gia đình, không phụ thuộc, hay chờ đợi việc tổ chức lớp học Chính “cáinôi” văn hóa này là nơi sản sinh ra văn hóa Quan họ với những làn điệu dân
ca quan họ trữ tình, đằm thắm; hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa mang tínhchất dân gian, nhưng lại nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi người chơi am tườngtiêu chuẩn, tuân theo lề luật Văn hóa Quan họ là một di sản văn hóa quý giákhông của riêng vùng Kinh Bắc biểu hiện những quan niệm đẹp đẽ, trongsáng, chất phác của người dân lao động sống trên mảnh đất Kinh Bắc xưa vànay Tất cả hợp lại mảnh đất tốt để dân ca quan họ, hay nói rộng hơn là nhữngsinh hoạt văn hóa Quan họ ra đời và phát triển
Trang 71.2 Nguồn gốc của Dân ca Quan Họ : Khi cắt nghĩa "Quan họ", nhiềungười dùng lối phân tích ngữ nghĩa từ đơn, tách thành hai từ rồi lý giải nghĩađen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ" Điều này dẫn đến những kiếngiải về Quan họ xuất phát từ "âm nhạc cung đình" (nhạc của tầng lớp quanlại), hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngấtbởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức("họ") Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không giansinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết
họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợchồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đốinhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian Một sốquan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dânmang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạccung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt vănhóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồitrở lại với dân gian
Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu
và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhómnhững người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc.Tuy vậy vẫn chưa có quan điểmnào được đa số các học giả chấp nhận
1.3 Văn hóa Quan họ là tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa,nghệ thuật dân gian Dân ca quan họ: Từ xa xưa dân ca quan họ đã là món ăntinh thần, một nét sinh hoạt văn hóa đẹp của người dân Kinh Bắc Đây lànhững làn điệu dân ca đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ - thể loại dân caphong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi mộtbài quan họ đều có giai điệu riêng Có ít nhất 300 bài (giai điệu) quan họ đãđược ký âm (ghi âm bằng ký hiệu âm nhạc trên giấy), gồm những đoạn thơ,bài thơ chủ yếu là thể lục bá do các nghệ nhân quan họ truyền thống bàn giaocho các nhà sưu tầm lưu giữ cho đến hôm nay Ngày nay, dân ca quan họ đã
Trang 8phát triển và hoàn chỉnh cả về phương diện âm nhạc, lời ca và hình thức trìnhdiễn Người vùng Kinh Bắc, từ già đến trẻ ai cũng hát được một vài làn điệuquan họ Người chơi quan họ sành điệu không chỉ hát hay, hát được nhiều lànđiệu mà phải hát được nhiều bài lời cổ Người Kinh Bắc hát dân ca quan họ,chơi quan họ không những trong dịp lễ hội mà cả trong khi lao động, trongcác đám giỗ chạp Mỗi khi lễ hội mùa xuân, các làn điệu quan họ với nhữngcâu hát trữ tình làm say đắm lòng người quan họ và khách thập phương ngânlên trong không gian văn hoá quan họ Quá trình hình thành lời ca, làn điệuquan họ gắn liền với quá trình phát triển của đời sống xã hội nhằm nâng cao
và tôn vinh các mối quan hệ cộng đồng và giao lưu văn hóa Cũng vì lẽ đó,sinh hoạt quan họ thường gắn liền với những sinh hoạt hội hè, ca hát, giaolưu; gắn với đời sống tình cảm, tinh thần của người lao động biết hưởng tớicái đẹp Dân ca quan họ mang nhiều nét độc đáo, được chia thành những loạisau: Quan họ truyền thống : Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Quan họ, vùngKinh Bắc có tất cả 49 làng duy trì được lối chơi văn hóa Quan họ (44 làng ởBắc Ninh, 5 làng ở Bắc Giang) với hàng ngàn bài hát lời cổ mộc mạc, dân dãmang nét đẹp riêng ,vừa thiêng liêng, vừa cổ xưa mà rất Việt Nam Kho băngghi âm quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưugiữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh Quan họ truyền thốnghát không nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hộixuân ở các làng quê Trong quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôiliền chị được gọi là hát hội, hát canh; hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đápcùng cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, mừng, hát thờ… "Chơi quan họ"truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởngthức (thưởng thức “cái tình” của bạn hát) Các làn điệu quan họ cổ tiêu biểu:
La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang,Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, Gió mát trăng thanh, Tứ quý vẫn đượccác liền anh, liền chị "chơi quan họ" ưa thích và hát đến ngày nay Quan họmới: Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ" là hình thức biểu diễn (hát)
Trang 9quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng, như: Tếtđầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch Từ sau năm 1954, quan họ được khaithác làn điệu, đặt lời mới thành ra ca cảnh diễn trên sâu khấu Thực tế, quan
họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm Các băng đĩa CD,DVD về quan họ ngày nay đều là hình thức quan họ biểu diễn trên sân khấu.Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khánthính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau Quan họ mới khôngcòn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra nhiều nơi, đến với thính giảtrong nước và các quốc gia trên trên thế giới Quan họ mới có hình thức biểudiễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, háttốp, hát có múa phụ họa Quan họ mới cải biên các bài bản truyền thống theohai cách: không có ý thức và có ý thức Nét đặc trưng của quan họ chính là ởhình thức hát đối đáp giữa một bên liền anh và một bên liền chị trong khônggian văn hoá Quan họ + Hát hội (hát vui và hát thi-hát giải): hình thức "hátvui đôi câu để vui xuân, vui hội, vui bàu, vui bạn" là hình thức ca hát Quan họchủ yếu ở hội
Khi hát mỗi nhóm Quan họ thường sắm sửa trầu, cau, hương, nến, hoaquả để vào đình làm lễ thánh và cũng là lễ trình dân + Hát cầu đảo (cầumưa): Người Quan họ cũng như đông đảo cư dân nông nghiệp trên quê hươngQuan họ dùng tiếng hát thấu đến trời cao và thế giới thần linh mong muốnmưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt, dân an, vật thịnh, âm dương ngũhành, đất trời và con người hoà hợp + Hát kết chạ: Các làng đã kết chạ anhchạ em (có nơi gọi là kết ước, ăn giải), vào dịp có hội lễ, chạ anh chạ emthường mời nhau sang dự hội, mời nhau sang ca vui ở hội hoặc ca những canhhát thâu đêm trong nhà gọi là hát kết chạ + Hát giải hạn: Sau khi thực hiệnxong các nghi thức cúng lễ giải hạn, gia đình thường mời từ 4-6 nhóm Quan
họ vừa nam, vừa nữ đến nhà ca một đêm Quan họ với niềm tin cái may sẽđến, cái rủi sẽ qua Hát giải hạn không bị gò bó nhiều vào lề lối mà có thể chỉ
ca đối đáp một bài theo giọng La rằng + Hát mừng: Hát nhân ngày vui, mở
Trang 10tiệc khao (khánh thành nhà, con cái đỗ đạt, lên thọ, thăng quan tiến chức ).Ngoài những nghi lễ mời họ hàng, dân làng đến ăn mừng thì trong vùng Quan
họ thường mời những canh hát Quan họ của nhiều nhóm kéo dài có khi vàingày đêm.Trong cuộc hát mừng này, Quan họ không phải tuân thủ lề lốinghiêm ngặt mà hầu hết là ca những bài giọng Vặt nội dung lời ca sâu nặngnghĩa tình, gắn bó keo sơn và không khí hát phải thật vui (tránh những bài cólời ca ai oán, trách móc, than thân trách phận) + Hát đối đáp: tuân theo lềluật: đối đáp nam nữ, đối giọng, đối lời và hát đôi nam đối với nữ + Hátcanh: Nhiều nơi kiêng chữ hát, nên canh hát còn được gọi là canh ca; chẳnghạn: ca một canh
Một canh hát Quan họ đúng lề lối xưa thường diễn ra vào mùa xuânhoặc mùa thu, mùa của hội chùa, hội đình làng vào đám, giữa những nhómQuan họ nam và nữ mới nhau đến nhà "ca một canh cho vui bàu vui bạn, vuixóm, vui làng, cầu may, cầu phúc" Canh hát thường được giữ đúng các lề lốinhư Quan họ đã định ra và thường kéo dài từ 7, 8 giờ tối đến 2, 3 giờ sáng.Ðôi khi, hội làng mở nhiều ngày, cũng có những canh hát kéo dài 2, 3 ngàyđêm Trình tự một canh hát đúng lề lối có thể chia thành 3 chặng Chặng đầutiên, người ta hát những giọng cổ cũng gọi là giọng lề lối Vai trò của giọng
La rằng đặc biệt quan trọng trong việc chi phối nghệ thuật ca hát ấy, cả haibên sớm đi vào sự ăn nhập về cao độ, trường độ về sự vang, rền, nền,nẩy của nghệ thuật ca hát Chặng giữa tiếp theo sau chặng hát những bàigiọng cổ như trên Lúc này, Quan họ hát sang những bài thuộc hệ thống màngười Quan họ gọi là Giọng vặt Vào chặng ca giọng vặt, không phải ca theomột trình tự bắt buộc theo thứ tự tên các bài ca Chặng cuối thường diễn ravào khoảng 12 giờ đêm, 1 giờ sáng, có thể cuối hoặc gần cuối chặng hát giữa,
su lúc người Quan họ mời nhau xơi tiệc mặn và tiệc ngọt có nơi uống rượu,
có nơi không Nếu nơi có uống rượu thì Quan họ chủ thường nâng chén rượuhát bài ca chuốc rượu để mời bạn Xong bữa tiệc và tuần trầu, nước, Quan họcũng có thể hát đối đáp thêm một số câu giọng vặt nữa rồi chuyển sang canhững bài ca giã từ bạn, cũng tức là chuyển sang chặng cuối của canh hát
Trang 111.4 Dân ca Quan Họ với các lễ hội truyền thống Tục lệ của các làngQuan họ qui định chặt chẽ: Quan họ phần lễ là để thờ Thần, thờ Phật, nhằmthỏa mãn nhu cầu tâm linh là “cầu may” - tức cầu cho Thần, Phật phù hộ chodân an vật thịnh, mùa màng phong đăng hòa cốc Phần hội là diễn ra các tụctrò dân gian vui chơi giải trí như: tuồng, chèo, ca trù, quan họ, vật… nhằmthư giãn sức dân sau những ngày mùa vụ vất vả trong năm Khác với lễ hộicủa các làng khác, lễ hội của các làng Quan họ thường có tục hát Quan họdiễn ra cả phần lễ và phần hội Quan họ phần lễ: Theo tục lệ của các làng
Quan họ gốc, hát thờ Thần được qui định chặt chẽ như: Chỉ có Quan họnam hoặc nữ của làng được hát Trong hát thờ chỉ được hát những nhữnggiọng lề lối (giọng cổ) như: Hừ la, La rằng, Tình tang, Cây gạo có nội dung
ca ngợi công đức của Thần Tuyệt đối không được hát giọng vặt có nội dungnam nữ yêu đương + Quan họ phần hội: Quan họ phần hội là để Quan họnam và nữ của các làng hát đối đáp giao duyên nhằm tạo không khí vui vẻ,giải trí với nhau Hội của các làng Quan họ hấp dẫn và quyến rũ nhất chính làphần Quan họ hát đối đáp giao duyên với nhau Bởi các liền anh, liền chịbằng những làn điệu, những lời ca ngọt ngào đầy tình cảm thể hiện những tâmtrạng yêu đương, nhớ nhung, đằm thắm, da diết, quyến luyến của những lứađôi Hẳn vì thế, ở những hội Quan họ như Diềm, hội Lim, hội Ó, hội Nhồi người ta thấy từng tốp Quan họ nam và nữ say sưa hát ở sân đình, sân đền,sân chùa, trên đồi núi, quanh đình chùa có khi tràn cả xuống bờ ruộng, trênthuyền giữa sông nước Sau phần lễ là phần hội, Quan họ chủ nhà đưa bạntham gia phần hát hội Các liền anh, liền chị Quan họ từng tốp hát đối đápgiao duyên say sưa bên nhau ở sân đình, sân chùa, tràn cả xuống những vạtnúi, đồi, ruộng và trên ao hồ quanh đình, chùa và đây chính là phần hấp dẫnnhất của các lễ hội Quan họ Sau khi tham gia hát hội, Quan họ chủ nhà đưabạn mình về “nhà chứa” để hát canh Quan họ với nhau Vào canh hát Quan
họ, bao giờ Quan họ chủ nhà cũng mời trầu nước bằng những cử chỉ, lời cacung kính, tế nhị Vào canh hát bao giờ người ta cũng hát đôi và hát đối theo