Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi, mảng bám răng, kiến thức, thái độ thực hành về chăm sóc răng miệng và một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng của học sinh...96 4.1.1... Để đẩy
Trang 1VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực
và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Tạ Quốc Đại
Trang 4Mục lục
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGS.TS Trịnh Đình Hải viện trưởng viện Răng Hàm Mặt quốc gia; TS Đào Thị Dung viện phó viện Việt Nam – Cu Ba là người thầy, người cô đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGS.TS Hồ Bá Do; TS Nguyễn Thị Thuỳ Dương đã giúp đỡ và đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
Ban giám đốc bệnh viện đa khoa Tràng An, Ban giám đốc, phòng QL và TTKH viện khoa học-BHXH Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
Đảng uỷ, Ban giám đốc, phòng đào tạo và quản lý khoa học - Viện Vệ Sinh Dịch
Tễ Trung Ương về tất cả những gì tốt đẹp đã dành cho tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn ban chỉ đạo chương trình Nha Học Đường viện Răng Hàm Mặt quốc gia, sở y tế Hà Nội, trung tâm ”P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam”, công ty Colgate Palmolive Việt Nam, trung tâm y tế, phòng giáo dục huyện Quốc Oai, Gia Lâm, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường trung học cơ sở Đồng Quang, Thạch Thán, thị trấn Quốc Oai, Đa tốn, Cổ Bi, thị trấn Trâu Quỳ đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân thương nhất: Bố mẹ, vợ con, anh chị đã luôn dành cho tôi những tình cảm thương yêu nhất, hết lòng giúp đỡ tôi từ tinh thần đến vật chất trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án này
Tạ Quốc Đại
Trang 51.1 Những hiểu biết về mảng bám răng, bệnh sâu răng, viêm lợi và kiến thức, thái
độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răng
miệng 4
1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa liên quan bệnh răng miệng của chuyên ngành răng hàm mặt - 4
1.1.2 Những hiểu biết hiện nay về mảng bám răng - 4
1.1.3 Bệnh sâu răng, viêm lợi -10
1.1.4 Tình hình sâu răng, viêm lợi -22
1.1.5 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răngmiệng 26
1.2 Các biện pháp kiểm soát mảng bám răng -29
1.2.1 Biện pháp dự phòng chung về sâu răng, viêm lợi -29
1.2.2 Biện pháp kiểm soát mảng bám răng - 33
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - 38
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu -38
2.2 Phương pháp nghiên cứu -38
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu -38
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu -43
2.2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu -44
2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu -45
2.2.5 Một số khái niệm, quy ước, cách tính các chỉ số trong nghiên cứu -49
2.2.6 Đánh giá kết quả -57
2.2.7 Phương pháp và công cụ đánh giá -59
2.3 Khống chế sai số -60
2.4 Xử lý số liệu -61
2.5 Vấn đề y đức -61
2.6 Hạn chế của đề tài -61
Chương 3 Kết quả nghiên cứu -63
Trang 6học sinh 63
3.1.1 Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và mảng bám răng ở học sinh 63
3.1.2 Kiến thức thái, thái độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng -73
3.1.3 Mối liên quan giữa kiến thức thái, thực hành của học sinh với bệnh sâu răng, viêm lợi -78
3.2 Đánh giá hiệu quả kiểm soát mảng bám răng trong dự phòng sâu răng, viêm lợi của học sinh - 80
3.2.1 Hiệu quả kiểm soát mảng bám răng trong dự phòng sâu răng, viêm lợi của học sinh -80
3.2.2 Hiệu quả đối với kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng -87
Chương 4 Bàn luận -99
4.1 Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi, mảng bám răng, kiến thức, thái độ thực hành về chăm sóc răng miệng và một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng của học sinh 96
4.1.1 Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và mảng bám răng ở học sinh - 96
4.1.2 Kiến thức thái, thái độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng - 105 4.1.3 Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành của học sinh với bệnh sâu răng, viêm lợi - 111
4.2 Đánh giá hiệu quả kiểm soát mảng bám răng trong dự phòng sâu răng, viêm lợi của học sinh - 113
4.2.1 Đánh giá hiệu quả kiểm soát mảng bám răng trong dự phòng sâu răng, viêm lợi của học sinh - 113
4.2.2 Đánh giá hiệu quả đối với kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng - 119
Kết luận - 123
Khuyến nghị - 125
Danh mục các công trình khoa học đã công bố - 126
Tài liệu tham khảo - 127
Tiếng việt - 127
Tiếng anh - 134
Trang 7index of treatment needs)
CI-S Chỉ số cao răng đơn giản (Calculus index simplified)
OHI – S Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (Oral Hygiene index Simplified)
OR Tỉ suất chênh (Odds Radio)
RHM Răng hàm mặt
RM Răng miệng
SL Số lượng
SR Sâu răng
SMT Sâu, mất, trám răng vĩnh viễn
SRVV Sâu răng vĩnh viễn
THCS Trung học cơ sở
TL Tỷ lệ
VL Viêm lợi
VSRM Vệ sinh răng miệng
WHO Tổ chức Y tế Thế Giới (World Health Organization)
Trang 8Thực trạng cao răng ở nhóm học sinh nghiên cứu theo huyện
Thực trạng cao răng ở nhóm học sinh nam và nữ
70
70 3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
Chỉ số OHI-S ở nhóm học nghiên cứu theo huyện
Chỉ số OHI-S ở nhóm học sinh sinh nam và nữ
Tình trạng vệ sinh răng miệng ở nhóm học sinh nghiên cứu theo huyện
Tình trạng vệ sinh răng miệng ở học sinh nam và nữ
Điểm trung bình về kiến thức CSRM của nhóm học sinh nghiên cứu theo
Trang 9Thực hành vệ sinh răng miệng hàng ngày (n=1022)
Thực hành phương pháp chải răng (n=1022)
Thời gian chải răng và thời gian thay bàn chải (n=1022)
Loại bàn chải thường dùng và sử dụng kem đánh răng (n=1022)
Sử dụng nước súc miệng Fluor và sử dụng chi nha khoa để làm
sạch mặt bên của răng (n=1022)
3.27 Liên quan giữa tình trạng vệ sinh răng miệng và sâu răng vĩnh viễn
79 3.28 Liên quan giữa tình trạng vệ sinh răng miệng và viêm lợi 80 3.39
3.36
3.37
Số học sinh viêm lợi ở hai nhóm học sinh
Chỉ số CPITN ở hai nhóm học sinh
Số HS có ≥ 3 vùng lục phân lành mạnh ở hai nhóm nghiên cứu
85
86
87 3.38 Điểm trung bình về kiến thức CSRM của hai nhóm học sinh 87 3.39 Thái độ của hai nhóm học sinh về chăm sóc răng miệng 89 3.40 Thực hành vệ sinh răng miệng hàng ngày của hai nhóm học sinh 91 3.41 Thực hành phương pháp chải răng của hai nhóm học sinh 92 3.42 Thời gian chải răng và thời gian thay bàn chải của hai nhóm học sinh
93 3.43 ¡n, uống các loại đồ ngọt và chăm sóc răng miệng sau khi ăn uống các loại
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình Nội Dung Trang
1.2 Sơ đồ cơ chế bệnh sinh sâu răng của Fejerskov và Manji 11
2.1 Lựa chọn răng và đánh giá chỉ số DI-S theo các mức độ 54
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Hình Nội Dung Trang
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ Nội Dung Trang 3.1 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở học sinh nghiên cứu (theo huyện) 63
3.2 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở học sinh nam và nữ 64
3.4 Tỷ lệ học sinh nam và nữ có ≥ 3 vùng lục phân lành mạnh 67 3.4 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở hai nhóm học sinh 84
Trang 11Sâu răng, viêm lợi là hai bệnh rất phổ biến trong các bệnh răng miệng (RM) trên thế giới cũng như ở nước ta Năm 1986, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã coi bệnh răng miệng là mối quan tâm lớn thứ ba của loài người sau bệnh ung thư và bệnh tim mạch
Bệnh mắc rất sớm, ngay từ khi răng mới mọc (6 tháng tuổi) Nếu không được điều trị kịp thời bệnh gây biến chứng tại chỗ và toàn thân, ảnh hưởng đến sự phát triển về thể lực và thẩm mỹ của trẻ sau này Do tính chất phổ biến
và tỷ lệ mắc bệnh cao trong cộng đồng nên chi phí cho chữa trị, phục hồi chức năng nhai và thẩm mỹ rất lớn
Trong 20 năm trở lại đây, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, người ta đã tìm ra nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh răng miệng là
do mảng bám răng Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp phòng bệnh thích hợp
và kết quả là sau khi áp dụng các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu này, bệnh răng miệng đã giảm rõ rệt [81], [82], [119] Phòng bệnh răng miệng là quá trình tương đối đơn giản, không quá khó khăn, không đòi hỏi trang bị đắt tiền, không đòi hỏi cán bộ kỹ thuật có chuyên môn cao và chi phí thấp, dễ thực hiện ở cộng đồng, đặc biệt là ở các trường học
Việt Nam là nước đang phát triển, những năm gần đây, do điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, chế độ dinh dưỡng có nhiều thay đổi như sử dụng nhiều đường, sữa trong khi cộng đồng còn chưa nhận thức đầy đủ về nguy
cơ, tác hại cũng như việc phòng tránh bệnh răng miệng Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy tại nhiều địa phương bệnh răng miệng có xu hướng ngày càng tăng [36], [37] Năm 2001 theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc có trên 90% dân số mắc bệnh răng miệng, trong khi hoạt động của mạng lưới phòng chống bệnh răng miệng còn chưa đáp ứng được yêu cầu Vì vậy hiện nay công tác phòng chống bệnh răng miệng là nhiệm vụ trọng tâm của ngành răng hàm mặt
Trang 12là công tác nha học đường (NHĐ) với 4 nội dung: Giáo dục nha khoa cho học sinh, dùng nước súc miệng có flour 0,2% hàng tuần tại trường học, trám bít
hố rãnh, khám phát hiện và điều trị sớm các bệnh răng miệng tại trường học Tuy nhiên việc thực hiện và hiệu quả của công tác này có khác nhau ở từng địa phương, từng thời gian, một phần nguyên nhân là do kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh khác nhau ở từng lứa tuổi, từng nơi
Ở Hà Nội, kết quả điều tra sức khỏe răng miệng năm 2007 - 2008 ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở cho thấy tỷ lệ bệnh răng miệng ngày càng tăng theo lứa tuổi Trong những năm qua chương trình nha học đường của khu vực Hà Nội đã bước đầu có hiệu quả và các hoạt động đi vào nề nếp, tuy nhiên chất lựơng chưa đồng đều giữa các trường Gia Lâm là một huyện ngoại thành của Hà Nội đã triển khai chương trình nha học đường nhưng hiệu quả hoạt động còn chưa cao nên bệnh răng miệng của học sinh vẫn phổ biến Năm
2008, Hà nội đã được mở rộng cả về diện tích và dân số thêm 15 quận huyện mới, qua khảo sát khu vực Hà Tây trước đây, các trường chưa triển khai hoạt động nha học đường Quốc Oai là một huyện ngoại thành của Hà Tây, do việc phòng và chữa bệnh RM chưa được quan tâm đúng mức vì vậy bệnh răng miệng rất phổ biến
Để đẩy mạnh chương trình nha học đường, cũng như tìm những biện pháp mới kết hợp với chương trình nha học đường nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả phòng bệnh răng miệng cho học sinh, trong khuôn khổ của dự án
“Đánh giá hiệu quả hoạt động Nha Học Đường tại Hà Nội năm 2009 – 2010 của viện Răng Hàm Mặt Quốc gia”, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kiểm soát mảng bám răng trong dự phòng sâu răng,
viêm lợi ở học sinh 12 tuổi tại một số trường ở ngoại thành Hà Nội” nhằm
mục tiêu:
Trang 13miệng ở học sinh 12 tuổi tại một số trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm, huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội năm 2009
2 Đánh giá hiệu quả kiểm soát mảng bám răng trong dự phòng sâu răng, viêm lợi của học sinh 12 tuổi tại 4 trường trung học cơ sở của 2 huyện nghiên cứu
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những hiểu biết về mảng bám răng, bệnh sâu răng, viêm lợi và kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng
1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến bệnh răng miệng của chuyên ngành Răng Hàm Mặt [9]
- Bệnh RM: Là các bệnh về tổ chức cứng của răng (sâu răng), tổ chức quanh răng và niêm mạc miệng (viêm lợi, viêm quanh răng) Trong đó hai bệnh thường găp là bệnh sâu răng và bệnh viêm quanh răng (ở lứa tuổi học sinh là bệnh viêm lợi)
- Chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn (SMT) là số răng sâu, răng mất, răng trám (hàn) trung bình ở mỗi cá thể trong cộng đồng
Chỉ số này được WHO sử dụng làm chỉ số đánh giá tình trạng sâu răng của mỗi nước, mỗi khu vực hay toàn cầu và cũng dùng để đề ra mục tiêu phòng chống bệnh sâu răng
- Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng của cộng đồng (CPITN) có các mức chỉ mức độ của viêm quanh răng được dùng để đánh giá là:
Chảy máu lợi (CPITN 1), cao răng (CPITN 2), túi lợi (CPITN 3)
1.1.2 Những hiểu biết hiện nay về mảng bảm răng
Trang 15Vi khuẩn trong mảng bám răng (MBR) sống thành từng vi cụm nằm gọn trong một khuôn các chất polymer ngoại bào Sử dụng các phương pháp nghiên cứu sinh học phân tử trong đó có kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) đã phát hiện tới 500 loài vi khuẩn khác nhau có trong mảng bám răng [71]
Nhìn chung MBR có các tính chất sau:
- Bảo vệ cơ thể vi sinh vật khỏi hệ thống phòng vệ của chính vật chủ hay của vi sinh vật đối kháng Chống lại sự mất nước
- Chống lại các chất kháng khuẩn thông qua việc tạo kiểu hình mới có tốc
độ sinh trưởng giảm, hạn chế sự tiếp xúc và có khả năng bất hoạt hay trung hoà các chất kháng khuẩn
- Nồng độ các chất dinh dưỡng trong MBR tăng cao hơn so với môi trường xung quanh Những đặc điểm này mà các vi sinh vật sống trên MBR thường có khả năng chống chịu cao với các chất kháng khuẩn so với tế bào vi khuẩn sống tự do trong môi trường nuôi cấy Độ chống chịu có thể cao gấp 1000 lần [31], [129]
Sự hình thành MBR bao gồm 3 giai đoạn chính [102], [103], [110]
Hình 1.1: Các giai đoạn hình thành MBR
Kháng sinh Kháng thể
Màng sinh học tế bào
Tế bào vi khuẩn
Enzym thựcbào
Trang 16- Giai đoạn mở đầu: (a)
Vi khuẩn bắt đầu bám vào bề mặt răng Các mối tương tác đặc hiệu và không đặc hiệu giữa bề mặt răng và tế bào xuất hiện dẫn đến sự tạo liên kết và sự xâm chiếm dần dần
- Giai đoạn bùng nổ tăng trưởng: (b)
Hình thành MBR đồng thời với sự sinh tổng hợp Polymer ngoại bào
- Giai đoạn mất đi các tế bào trên mảng bám răng vào nước bọt: (c,d) Thúc đẩy sự xâm nhập của các cơ thể vi sinh vật mới vào vị trí vừa được giải phóng trên mảng bám răng
Từ những hiểu biết mới về mảng bám răng, Marsh đưa ra quan niệm mới
về mảng bám răng: Mảng bám răng được xem như là màng sinh học trong đó cộng đồng các vi khuẩn bám dính trên bề mặt răng được bao phủ bởi một khuôn polymer ngoại bào của ký chủ hay vi khuẩn [57], [103]
Khả năng gây sâu răng của mảng bám phụ thuộc độ dính của chúng vào răng, khả năng sinh acid từ đường C12 và C6 (các acid lactic, formic và acid khác) và pH của môi trường miệng [23]
Cùng với các điều kiện môi trường trong khoang miệng, vị trí thuận lợi cho mảng bám trên bề mặt răng (rãnh, núm, mặt nhai, mặt kẽ bên) cũng là nguyên nhân gây nên sự mất cân bằng sinh lý giữa răng và MBR dẫn đến mất khoáng của răng Ở vị trí lỗ sâu, các đặc tính chuyển hoá và lan truyền của màng sinh học khác biệt đáng kể so với màng sinh học bao quanh các mặt răng lành mạnh hoặc các mặt sâu răng không hoạt động [110], [114]
Mảng bám răng hình thành trên bề mặt thân răng ngay sau khi ăn, nó có nguồn gốc từ nước bọt do men Carboxydase hay Neuramindase tác động lên axít Sialic của Muxin trong nước bọt làm cho nó kết tủa trên bề mặt răng Sau đó các
vi khuẩn xâm nhập, cố định và phát triển thành mảng bám vi khuẩn sau 2 giờ, ở
Trang 17giai đoạn này các mảng bám vi khuẩn dễ dàng bị làm sạch bằng cách chải răng Sau 24 tiếng Streptococcus chiếm tới 95% các chủng vi khuẩn nuôi cấy được trên mảng bám Nếu ở người bình thường cứ chải răng sạch sau 24 giờ thì các MBR mới lại hình thành, để lâu vài ngày chúng sẽ bám chặt vào bề mặt thân răng và lúc này không thể làm sạch bằng bàn chải răng, nó trở thành cao răng thường sau 7 ngày [19], [31]
Về mặt cấu trúc mảng bám vi khuẩn tụ tập các loại vi khuẩn sống và chết trong một chất tựa hữu cơ giàu polysacharide và Glucoprotein tỷ lệ:
- 70% là vi khuẩn
- 30% là chất hữu cơ
Chiều dày của mảng bám vi khuẩn thay đổi từ 5 – 200 micromet Theo
Theilade và Loe (1966) thành phần, số lượng của các vi khuẩn thay đổi theo thời gian và vị trí của chúng Ở các mảng bám răng trên lợi theo nghiên cứu của Theilade và Loe (1960) lúc mới hình thành mảng bám ít vi khuẩn nhưng có nhiều tế bào bong của niêm mạc rồi sau đó vi khuẩn tích tụ dần, có tới 90% là cầu khuẩn và trực khuẩn Gr (+), 10% là cầu khuẩn Gr (-) Các cầu khuẩn và trực khuẩn Gr (-) tăng dần lên tới ngày thứ 3, thứ 4 có các loại vi khuẩn hình thoi và hình sợi từ ngày thứ 5 có xoắn khuẩn
Sau 7 ngày Streptococcus là chủng vi khuẩn chiếm ưu thế, vi khuẩn sợi yếm khí chiếm ưu thế ở ngày thứ 14 Các loại này không bám chắc vào răng nên
dễ làm sạch Theo Ritz (1969) khi mảng bám vi khuẩn dày lên có nhiều lớp thì vi khuẩn yếm khí và trực khuẩn Gr (-) tăng lên, lúc này là khởi điểm cho quá trình viêm và thấy rõ trên lâm sàng Theo các nhà vi khuẩn học: Viêm lợi xét về phương diện vi khuẩn học chủ yếu là sự gia tăng, nhân lên số lượng vi khuẩn so với lợi bình thường [31]
Trang 18MBR theo vị trí, người ta chia MBR trên lợi và MBR dưới lợi MBR được coi là tác nhân ngoại lai quan trọng nhất trong bệnh sinh bệnh răng miệng, MBR
có khả năng gây hại bởi hai cơ chế tác động [57]:
Tác động trực tiếp: Thông qua các men và nội độc tố Men làm mềm yếu sợi keo, phân hủy tế bào, làm bong tách nhiều mô dính dẫn tới viêm Nội độc tố gây ra sự tiết prostaglandine làm tiêu xương ổ răng
Tác động gián tiếp: Do vi khuẩn và chất tiết của vi khuẩn đóng vai trò là kháng nguyên Các kháng nguyên này kích thích các phản ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân Từ đó, các sản phẩm trung gian của phản ứng miễn dịch gây
ra sự phá hủy tổ chức của lợi
Cao răng được hình thành từ quá trình vô cơ hóa MBR hoặc do sự lắng cặn muối can-xi trên bề mặt răng và cổ răng Cao răng được cấu tạo bởi hai thành phần Thành phần hữu cơ gồm các vi khuẩn và các chất tiết của vi khuẩn Thành phần vô cơ: Được tạo bởi canxi-photphate, canxi-carbonate, magie-photphate Theo vị trí bám, người ta cũng phân ra hai loại cao răng: Cao răng trên lợi
và cao răng dưới lợi Còn theo tính chất người ta lại chia ra: Cao răng nước bọt
và cao răng huyết thanh Cao răng bám vào cổ răng và chân răng dẫn đến tình trạng lợi mất chỗ bám dính, gây tụt lợi Vi khuẩn trên bề mặt cao răng xâm nhập
bờ lợi, rãnh lợi gây viêm lợi [59]
Trên lâm sàng đánh giá MBR thông qua các chỉ số:
Trang 19- Chỉ số mảng bám PI
- Chỉ số cặn bám đơn giản (DI – S)
- Chỉ số cao răng đơn giản (CI – S)
1.1.2.3 Các nghiên cứu về mảng bám răng
a Thế giới: Năm 1976 Axelsson và cộng sự đã có thông báo về hiệu quả của
chương trình kiểm soát MBR ở trẻ em sau 2 năm nghiên cứu Nhóm thử nghiệm (I) được giáo dục về nha khoa và hướng dẫn vệ sinh răng miệng (VSRM) bao gồm cả các biện pháp cơ học làm sạch mảng bám ở mặt bên phối hợp với áp dụng monofluorophosphat tại chỗ Nhóm đối chứng (II): Các em chải răng ở trường với dung dịch fluor natri 0,2%, có giám sát hàng ngày nhưng không được hướng dẫn VSRM
Kết quả: Nhóm I trẻ em giảm đáng kể MBR, viêm lợi và sâu răng Trái lại ở nhóm II, tình trạng này lại tăng thêm [5]
- Teitelbaum AP và CS ở Braxin năm 2009 nghiên cứu kiểm soát cơ học
và hóa học MBR ở những bệnh nhân bị hội chứng Down lứa tuổi 7-13, chia làm
4 nhóm và sử dụng các loại kem đánh răng khác nhau (có chất kháng khuẩn: chlorhexidine, fluor), nghiên cứu kéo dài 25 ngày Kết quả nghi nhận kiểm soát MBR làm giảm chảy máu lợi có ý nghĩa thống kê (p <0,01) [124]
- Chibinski AC và CS năm 2011 đánh giá lâm sàng của chlorhexidine cho
sự kiểm soát MBR trên lứa tuổi 7 – 12: Nghiên cứu mù đôi có đối chứng (có dùng giả dược ở hai nhómđối chứng)
Kết quả: Hai nhóm điều trị với chlorhexidine (gel và phun) đã giảm rõ rệt mảng bám và chảy máu lợi có ý nghĩa thống kê ((p <0,0001) Hai nhóm điều trị giả dược không đạt được sự khác biệt có ý nghĩa (p> 0,05) [73]
b Việt Nam: Khảo sát tình trạng viêm lợi và đánh giá hiệu quả của biện pháp
giáo dục, chải răng có giám sát ở học sinh lớp 5 trường tiểu học Tiền Phong
Trang 20(Thái Bình) Kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ y học năm 2000 của Nguyễn Tiến Vinh ghi nhận tỷ lệ viêm lợi của học sinh giảm từ 89,22% xuống còn 60,88% [59]
- Nguyễn Bích Vân năm 2002 so sánh hiệu quả của thuốc súc miệng givalex và eludril đối với mảng bám, viêm nướu, vết dính trên răng cho kết quả như sau: Thuốc súc miệng givalex và eludril đều làm giảm mảng bám có ý nghĩa thống kê (p< 0,001) Thuốc súc miệng givalex và eludril đều làm giảm viêm nướu có ý nghĩa thống kê (p< 0,001) [58]
- Tác giả Hồ Minh Ngọc và CS (2010), nghiên cứu tình trạng MBR, viêm nướu và sâu răng của HS 10, 15 tuổi ở các quận trung tâm thành phố Đà Nẵng cho thấy có sự liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng mảng bám và tình trạng sâu răng ở HS 10 và 15 tuổi, điều đó chứng tỏ tỷ lệ HS mắc bệnh sâu răng
và viêm nướu cao chủ yếu do tình trạng VSRM còn kém [29]
- Hiện nay các nghiên cứu về kiểm soát MBR tại Việt Nam có rất ít và chúng ta cần phải tiến hành nhiều nghiên cứu về MBR hơn nữa
1.1.3 Bệnh sâu răng, viêm lợi
Trang 21Ngày nay nhờ thiết bị Laser huỳnh quang người ta đã phát hiện, chẩn đoán sâu răng sớm [38]
a Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh sâu răng
Sâu răng là bệnh do nhiều yếu tố gây nên Sơ đồ Keyes (1960) về cơ chế bệnh sinh sâu răng đã được Fejerskov và Manji bổ sung năm 1990 cho thấy mối liên quan giữa yếu tố bệnh căn – lớp lắng vi khuẩn và các yếu tố sinh học quan trọng ảnh hưởng tới sự hình thành thương tổn bề mặt răng Ngoài ra còn có các yếu tố thuộc về hành vi và kinh tế – xã hội, ảnh hưởng đến khả năng hình thành thương tổn ở mức độ cá nhân và cộng đồng
Hình 1.2 Sơ đồ cơ chế bệnh sinh sâu răng của Fejerskov và Manji [82]
Trang 22Hình 1.4: Sự tái khoáng
Hình 1.3: Sự hủy khoáng
Động học sinh lý bệnh quá trình sâu răng là
sự mất cân bằng giữa 2 quá trình huỷ khoáng
và tái khoáng Khi đó các yếu tố gây mất ổn
định mạnh hơn các yếu tố bảo vệ cho mô
răng
- Sự huỷ khoáng (Demineralization)
Sự chuyển muối khoáng quá nhiều từ men ra
dịch miệng trong thời gian dài sẽ gây tổn
thương tổ chức cứng của răng Trên lâm sàng
và thực nghiệm đã chứng minh rằng ở giai đoạn này, khi các matrix protein chưa
bị huỷ thì thương tổn có khả năng hồi phục nếu muối khoáng từ dịch miệng và
cơ thể lắng đọng trở lại Khi các matrix protein đã bị huỷ thì sâu răng là không thể hồi phục được
- Sự tái khoáng (Remineralization)
Nước bọt là nguồn cung cấp chất khoáng cho
sự tái khoáng
Nếu sự tái khoáng mạnh, sẽ tạo được một lớp
rắn sâu vài micron có khả năng ngăn chặn các
yếu tố gây sâu răng Vì vậy, vai trò của các
tuyến nước bọt là rất quan trọng [23]
Sau các bữa ăn, vi khuẩn (chủ yếu là
Streptococcus mutans, Lactobacille và
Antinomyces viscosus) lên men các loại
cacbonhydrat, làm tích tụ acid ở mảng bám răng và gây nên sự mất muối khoáng của men răng Song song với hiện tượng huỷ khoáng, cơ thể cũng tạo ra cơ chế bảo vệ của nước bọt Các acid đệm, các chất kháng khuẩn, calcium, phosphat
Trang 23làm ngưng sự tấn công của acid và sửa chữa các thương tổn Đó là sự tái khoáng [81], [119]
b Các yếu tố liên quan tới sâu răng [46]
* Tuổi, giới, chủng tộc
- Yếu tố tuổi
Trước đây người ta cho rằng sâu răng là bệnh của thời thơ ấu, nhưng nó được chia làm 3 nhóm tuổi hay mắc: thời kỳ 4-8 tuổi, 9-11 tuổi và 55-65 tuổi Cùng với sự phát triển của các biện pháp dự phòng sâu răng như sử dụng fluor, giữ gìn vệ sinh răng miệng ngày càng nhiều người trẻ trưởng thành tổn thương sâu răng xuất hiện ở mặt nhai Bệnh sâu răng đang trở thành bệnh của cả cuộc đời, khi về già, khoảng trên 65 tuổi, bệnh sâu chân răng trở nên phổ biến, nguyên nhân do sự co lợi dẫn đến: Bộc lộ chân răng, mòn cổ răng và giắt thức ăn, ngoài
ra việc vệ sinh răng miệng của người già cũng không còn được khéo léo nữa
- Yếu tố giới tính
Rất nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sâu răng ở nữ cao hơn ở nam trong suốt thời kỳ đến trường và cả giai đoạn đã trưởng thành Tuy nhiên cũng có nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ Sự tăng khả năng mắc sâu răng ở phái nữ có thể do các nguyên nhân: mọc răng sớm, phái nữ
ưa đồ ngọt hơn và sự thay đổi về hormone
- Yếu tố loài hay chủng tộc
Chủng tộc chắc chắn có ảnh hưởng nhiều tới sự đề kháng với sâu răng, điều này đã được nhắc tới từ rất lâu Xuất phát từ những quan sát từ trước đó, người ta tin rằng những tộc người châu Phi hay châu Á có sự miễn nhiễm với sâu răng tốt hơn người châu Âu
Trang 24* Cơ địa:
- Yếu tố vi khuẩn
Bệnh sâu răng được khởi đầu bằng sự hình thành mảng bám răng
Hydratcacbon trong thức ăn được chuyển hoá thành glucose sau đó được
polymer hoá thành dextran bởi enzym dextranase và glucosyltransferase
Dextran có tính dính bám nên tạo điều kiện để các vi khuẩn khác và các mảnh
thức ăn dễ bám thêm vào Sự dính bám còn được gia tăng bởi những protein trên
bề mặt vi khuẩn đang sinh sống tại đó và polysaccharide do chúng chuyển hoá
tạo ra như các glucan [13], [101] Các vi khuẩn tham gia chủ yếu vào quá trình
này là Streptococcus mutans, Antinomyces viscosus, S.sobrinus và một số chủng
Lactobacillus [67], [96]
Streptococcus mutans lần đầu tiên được Clark mô tả năm 1924 sau khi
phân lập được nó từ vùng răng bị tổn thương Tuy nhiên phải đến 1960, khi các
nhà khoa học tập trung nghiên cứu bệnh sâu răng từ giai đoạn sớm, vi khuẩn này
mới được chú ý đến nhiều Streptococcus mutans được phát hiện ở tất cả các
mảng bám răng và có số lượng rất cao ở những vùng răng sâu Streptococcus
mutans có những đặc điểm đặc biệt:
+ Có khả năng chuyển hoá được nhiều loại hydratcacbon khác nhau
+ Chuyển hoá đường bằng cách lên men sinh ra rất nhiều axit lactic
+ Có khả năng dùng đường sucroce tổng hợp chất polyglucans làm khung
(matrix) cho mảng bám vi khuẩn
+ Chống chịu được pH rất thấp của môi trường
Vì thế trong một thời gian dài, vi khuẩn này được coi là thủ phạm chính
của bệnh sâu răng [90], [96]
Trang 25Nghiên cứu trên người đã tìm thấy trong mảng bám có ít nhất 3 loại polyglucans được tổng hợp Vì thế, vai trò gây sâu răng của Streptococcus mutans ở người bắt đầu bị nghi ngờ [23]
Ở Việt Nam khi nghiên cứu từ MBR của người Việt Nam người ta đã phân lập và nhận dạng hai chủng 74 và 94 thuộc chi Streptococus, có khả năng sinh axit mạnh, có sức sống cao đối với tác dụng của một số chất diệt khuẩn thí nghiệm [20], [21]
- Yếu tố di truyền
Răng đẹp hay xấu là từ gia đình Những nghiên cứu về gia đình đó chỉ ra rằng con cái có những đặc điểm giống cha mẹ chúng Nếu cha mẹ ít bị sâu răng, thì các con ít mắc sâu răng, ngược lại cha mẹ mắc sâu răng nhiều con cái cũng sâu răng nhiều tương tự
Mansbridge nghiên cứu [89] thấy những điểm giống nhau nhiều ở các cặp anh em sinh đôi cùng trứng hoặc khác trứng hơn là những cặp trẻ em không có mối liên quan
* Chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố chủ quan vì mỗi cá nhân, tùy thuốc sở thích mà lựa chọn loại thức ăn phù hợp cho mình, có những người thích protein trong khi nhiều người lại thích các thức ăn giàu carbonhydrate
Lady May Mellanby (1943) [89] là người đầu tiên cho rằng sự thiếu hụt Vitamin D là yếu tố nguyên nhân gây ra thiểu sản và phát triển sâu răng
Các bằng chứng dịch tễ học cũng chỉ ra rằng sự thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài trong thời kỳ phát triển của răng có thể dẫn tới thiểu sản và dẫn đến sâu răng
Do chế độ ăn ảnh hưởng lên sâu răng do tác động với bề mặt men răng và cung cấp chất nền cho vi khuẩn gây sâu răng Đường sucrose được cho là nguyên nhân chính của bệnh sâu răng Bằng chứng về mối liên quan của sâu răng và chế
Trang 26độ ăn được rút ra từ các nghiên cứu dịch tễ học Thức ăn và đồ uống của mỗi người đều là chất nền cho quá trình lên men của vi khuẩn trong mảng bám răng, tạo ra các acid hữu cơ dẫn tới sự hủy khoáng cấu trúc răng và gây ảnh hưởng trực tiếp đến sâu răng Thành phần thức ăn và thói quen ăn uống của mỗi cá nhân cũng ảnh hưởng tới sự phát triển loại sâu răng, thành phần vi khuẩn tìm thấy trong mảng bám răng, do đó gián tiếp ảnh hưởng tới quá trình sâu răng [118]
* Xã hội
- Các stress về tinh thần
Các giai đoạn sang chấn tâm lý (stress) có liên quan tới nguy cơ mắc bệnh sâu răng nhiều ở mức độ cao, nhưng rất khó để xác định yếu tố này, vì sâu răng là một bệnh mạn tính, và cũng khó để xác định Stress Những bệnh nhân tâm thần phân liệt ít mắc sâu răng có thể do tăng tiết nước bọt và do độ pH cao của nước bọt Trong các bệnh hệ thống các rối loạn cảm xúc dường như dẫn tới giảm tiết nước bọt và tăng tỷ lệ sâu răng
1960, sau khi fluor và các biện pháp dự phòng sâu răng khác được biết đến, chỉ
số SMT giảm ở các nước kinh tế xã hội cao nhiều hơn ở các nước kinh tế xã hội thấp
* Môi trường
- Điều kiện địa lý
+ Vĩ độ: Ở Hoa Kỳ, các vùng Đông Bắc có tỷ lệ sâu răng cao nhất và các
Trang 27vùng Trung Nam tỷ lệ thấp nhất, điều này cũng đúng với Liên Xô trước đây + Khoảng cách so với bờ biển: Tỷ lệ sâu răng cao nhất ở vị trí ngay bờ
biển và càng xa bờ biển tỷ lệ này càng giảm đi
Những yếu tố địa lý sau đây bi ảnh hưởng bởi hai thông số trên: Ánh nắng mặt trời,
nhiệt độ, độ ẩm tương đối, lượng mưa, fluor ,độ cứng toàn phần của nước
- Quá trình đô thị hóa
Một nghiên cứu được thực hiện bởi WHO cho thấy tỷ lệ sâu răng ở nông thôn cao
hơn ở thành thị, nơi sử dụng nhiều thức ăn tinh chế hơn
1.1.3.2 Bệnh viêm lợi
Khi lợi bị viêm ở các mức độ khác nhau sẽ có biểu hiện sự thay đổi màu
sắc, hình thể trương lực của lợi
a Nguyên nhân, sinh bệnh học của viêm lợi
* Nguyên nhân
Qua nhiều nghiên cứu từ những năm 1960 của Greene, Ramfforg, Loe và
cho tới ngày nay người ta khẳng định được sự hình thành và vai trò của MBR,
một tác nhân ngoại lai quan trọng nhất trong những nguyên nhân của bệnh viêm
lợi và bệnh viêm quanh răng [1]
Ngoài nguyên nhân gây nên bệnh viêm lợi và viêm quanh răng là mảng
bám răng đã nêu ở trên còn phải kể đến các nguyên nhân khác gây nên bệnh
viêm lợi: Virut Herpet, dùng thuốc trong điều trị, hàn răng không đúng kỹ thuật,
do mọc răng và do bệnh toàn thân…
* Bệnh sinh
- Các vi khuẩn xâm nhập vùng quanh răng tác động gây bệnh có thể bằng cách
trực tiếp hoặc gián tiếp:
+ Tác động trực tiếp: Do vi khuẩn hoạt động và sản sinh ra các men như
hyaluronidaza gây phá huỷ tổ chức biểu mô của lợi, Collagennaza phá huỷ tổ
Trang 28chức đệm Ngoài các men vi khuẩn còn tiết ra các nội độc tố và những sản phẩm đào thải, chuyển hoá trung gian như NH3, Urê, hydrosunfua
+ Tác động gián tiếp: Do tính chất kháng nguyên của vi khuẩn chúng khuyếch tán qua biểu mô và khởi động những phản ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân
- Khi lợi bị viêm ở các mức độ khác nhau sẽ có biểu hiện ở sự thay đổi màu sắc, hình thể, trương lực của lợi
- Vị trí biểu hiện dễ thấy là bề mặt lợi chảy máu, dịch viêm ở khe lợi
- Không có túi lợi bệnh lý (không có sự di chuyển của biểu mô bám dính, không
có tiêu xương ổ răng)
- Viêm lợi thường thấy đi đôi với tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt, có nhiều mảng bám răng, cặn thức ăn, cao răng
b Các yếu tố liên quan tới bệnh viêm lợi [44]
* Tuổi, giới
- Tuổi
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhóm người lớn tuổi bị bệnh quanh răng nhiều hơn và nặng hơn so với nhóm tuổi trẻ [50], [132] Một số nghiên cứu cũng cho biết người lớn tuổi có nhiều mảng bám răng hơn và bị viêm lợi nặng hơn nhóm tuổi trẻ Một số nghiên cứu khác lại kết luận rằng sở dĩ người cao tuổi mắc bệnh quanh răng nặng hơn những người trẻ tuổi là do quá trình phá hủy tổ chức quanh răng tích tụ theo thời gian của đời người và nếu yếu tố VSRM được quan tâm đúng mức thì tuổi tác không còn là yếu tố nguy cơ đáng ngại đối với bệnh quanh răng [50]
- Giới tính
Các nhà nghiên cứu cũng cho thấy nam giới mắc bệnh quanh răng nhiều hơn nữ giới trong cùng độ tuổi so sánh Theo báo cáo của trung tâm quốc gia về
Trang 29thống kê sức khỏe Mỹ thì sở dĩ có sự khác biệt trên là do nam giới quan tâm đến VSRM ít hơn và không thường xuyên tới nha sỹ khám hơn so với nữ giới Tuy nhiên, cũng trong một phân tích dựa trên cơ sở dữ liệu trên, khi đã điều chỉnh về tình trạng VSRM, điều kiện kinh tế xã hội, tuổi tác và số lần khám nha sỹ, người
ta thấy rằng nam giới vẫn có tình trạng quanh răng nặng hơn nữ giới
* Cơ địa
- Yếu tố tại chỗ
+ Hệ vi khuẩn quanh răng: Có hơn 400 chủng vi khuẩn khác nhau được tìm thấy trong dịch miệng ở người, tuy nhiên chỉ có số ít trong đó đóng vai trò là tác nhân gây bệnh, làm phát sinh và phát triển bệnh quanh răng
+ Mảng bám răng và cao răng
- Yếu tố di truyền
Trong Y học hiện đại, người ta đã chú ý ảnh hưởng của di truyền tới tình trạng
bệnh quanh răng Các cách tiếp cận nghiên cứu bao gồm:
+ Phân tích sự kết hợp giữa bệnh quanh răng với các dấu ấn di truyền, như nhóm máu hoặc kháng nguyên bạch cầu người
+ Nghiên cứu trên các cặp song sinh
+ Nghiên cứu tính đa hình di truyền trên những gien được chỉ định
Một số nghiên cứu cho rằng có sự kết hợp giữa kháng nguyên bạch cầu người và gien trong bệnh quanh răng khu trú tuổi trẻ [115] Khi nghiên cứu trên những cặp song sinh, các nhà khoa học cũng kết luận chiều cao xương ổ răng bị chi phối bởi gien di truyền Mặt khác, các tác giả cũng phát hiện ảnh hưởng của di truyền đối với viêm lợi, độ sâu thăm dò túi lợi, mất bám dính quanh răng và MBR [104] Trong một nghiên cứu khác, Van Schie và đồng nghiệp đã chứng minh kết hợp điều biến kiểu gien FcyRIIA-H/H131 và FcyRIIIB-NA2/NA2 tăng lên ở nhóm có bệnh quanh răng so với nhóm chứng (18,8% và 3,8%), trong khi
Trang 30sự kết hợp kiểu gien FcyRIIA-R/H131 và FcyRIIIB-NA2/NA2 lại giảm ở nhóm
có bệnh quanh răng (6,3%) so với nhóm chứng (22,9%) Nghiên cứu cũng kết luận do có sự giảm opsonin hóa, qua kết hợp kiểu gien, cuối cùng làm suy yếu khả năng thực bào những vi khuẩn gây bệnh quanh răng ở những cá thể mang những thụ thể nêu trên [127]
* Thói quen có hại
- Chế độ ăn uống mất cân đối
Chế độ ăn uống hợp lí, đầy đủ dưỡng chất đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe toàn thân nói chung và sức khỏe răng miệng nói riêng Trong khẩu phần ăn hàng ngày, nếu thiếu hụt các vitamin và chất khoáng, đặc biệt là canxi
và vitamin C sẽ là một yếu tố nguy cơ cho bệnh quanh răng
+ Thiếu hụt can-xi:
Một phân tích gần đây dựa trên số liệu của NHANES III (1988-1992) (National Health and Nutrition Examination Survey-USA) chỉ ra rằng những người có khẩu phần ăn với hàm lương can-xi thấp có bệnh quanh răng nhiều hơn so với nhóm người có khẩu phần ăn với hàm lượng can-xi đầy đủ [107]
+ Thiếu hụt vitamin C:
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vitamin C đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của lợi Cũng từ các số liệu của NHANES III (1988-1992), một nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa thiếu hụt vitamin C và bệnh quanh răng đã được thực hiện Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thiếu hụt vitamin C làm tăng nguy cơ bệnh quanh răng, đặc biệt ở nhóm hút thuốc lá thì tỷ suất chênh (OR) là 1,28 (95% CI: 1,04-1,59) và với những người có tiền sử hút thuốc lá thì OR là 1,21 (95% CI: 1,02-1,43) so với những người không hút thuốc Nghiên cứu này cũng kết luận giảm lượng vitamin C trong khẩu phần ăn, đặc
Trang 31biệt là ở những người hút thuốc hoặc có tiền sử hút thuốc lá sẽ làm gia tăng nguy
cơ mắc bệnh quanh răng [106]
- Hút thuốc lá
Ngoài tác động xấu gây các bệnh lý ở hệ hô hấp và tuần hoàn, người ta cũng biết đến các tác động bất lợi của hút thuốc lá tới sức khỏe quanh răng Các nghiên cứu đều có chung kết luận hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ cao cho bệnh quanh răng sau khi đã điều chỉnh về tuổi tác, VSRM và tình trạng kinh tế xã hội [93] Khái quát cơ chế tác động của hút thuốc lá đến mô quanh răng như sau:
+ Hút thuốc lá gây co thắt các mạch máu và mao mạch của lợi, dẫn tới làm chậm dòng chảy cung cấp chất dinh dưỡng và thải bỏ các chất độc hại cho tổ chức quanh răng [63]
+ Hút thuốc lá làm giảm chức năng hoạt động của các bạch cầu và đại thực bào trong nước bọt và dịch lợi, đồng thời làm giảm hóa ứng động và hoạt động của đại thực bào trong máu và của bạch cầu trung tính ở mô Từ đó làm giảm đáp ứng bảo vệ trước vi khuẩn gây bệnh quanh răng [121]
+ Ngoài ra, hút thuốc lá có thể ảnh hưởng trực tiếp tới tổ chức quanh răng, các sản phẩm độc có trong thuốc lá có tính độc với tế bảo biểu mô lợi, ảnh hưởng đến tế bào tạo sợi, dẫn đến hiện tượng chậm lành thương tổn [113]
* Xã hội
- Điều kiện kinh tế
Theo báo cáo tổng kết thì bệnh viêm lợi ở châu Á, châu Phi cao hơn hẳn ở châu
Âu, châu Úc và nước Mỹ Người ta cũng cho rằng ở những nơi có đời sống vật chất và văn hóa cao thì ý thức chăm sóc răng miệng tốt hơn, dự phòng bệnh RM được chú trọng hơn, nên bệnh viêm lợi cũng vì thế mà giảm đi
- Stress và các rối loạn tâm thần: Từ đầu những năm 50 của thế kỷ XX,
các nhà khoa học đã chứng minh stress và các rối loạn tâm thần có tác động bất
Trang 32lợi đến sức khỏe quanh răng Gần đây vai trò của stress và rối loạn tâm thần trong bệnh quanh răng đã được chú ý nghiên cứu và ngày càng có nhiều bằng
chứng cho thấy chúng là những nguy cơ thật sự cho bệnh quanh răng [99], [105]
* Bệnh toàn thân khác
Hiện nay, các nhà khoa học cũng đã chứng minh một số bệnh toàn thân có ảnh hưởng tới sự phát sinh và phát triển bệnh quanh răng: Bệnh đái tháo đường, hội chứng Down, hội chứng HIV/AIDS
1.1.4 Tình hình sâu răng và viêm lợi
1.1.4.1 Thế giới
- Từ năm 1969, WHO [128], [133] đã rất quan tâm và liên tục theo dõi tình trạng sức khoẻ răng miệng, đặc biệt là sâu răng ở các nước khác nhau và thông tin được lưu trữ trong ngân hàng dữ liệu về răng miệng toàn cầu ở Geneva Đây là bộ dữ liệu khổng lồ được cung cấp qua nhiều kênh khác nhau
Theo xác định của ngân hàng dữ liệu sức khoẻ răng miệng của WHO hiện nay,
có 2 xu hướng chính của sức khoẻ răng miệng:
- Xu hướng xấu đi cho phần lớn các nước đang phát triển: (SMT trung bình của trẻ 12 tuổi tăng từ 2 lên 4,1)
- Xu hướng cải thiện cho phần lớn các nước công nghiệp hoá cao (SMT trung bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7 - 10 xuống 2 - 4)
Ở các nước đang phát triển: Thập kỷ 60 thế kỷ trước, tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Chỉ số SMT tuổi 12 ở thời kỳ này nói chung từ 1,3-3,0; Thậm chí một số nước dưới 1,0: Thái Lan, Uganda, Zaire Gần đây, sâu răng có chiều hướng tăng lên trừ một số nước như Hồng Kông, Singapore, Malaysia [15], [136]
Trang 33Rất cao ( >6,6) Cao ( 4,5-6,5) Trung bỡnh (2,7-4,4) Thấp (1,2-2,6) Rất thấp ( 0-1,1)
Hỡnh 1.5 Khuynh hướng phỏt triển của bệnh sõu răng Chỉ số SMT lứa tuổi 12 ở một số nước: Úc năm 1997: 4,8 đến năm 2000 giảm cũn 0,8; Nhật năm 1957: 2,8 đến năm 1993 tăng 3,6; Đan Mạch năm 1980 5,0 đến 2003 giảm 0,9 Mỹ năm 2004 là 1,19 [22], [130]
Theo WHO, năm 1997 các nước trong khu vực có trên 90% dân số bị SR và viêm lợi Chỉ số SMT lứa tuổi 12 ở mức cao từ 0,7 đến 5,5 [46], [68], [135]
Trang 341.1.4.2 Việt Nam
a Tình hình diễn biến bệnh sâu răng
Từ những năm của thập kỷ 60 thế kỷ trước đến nay đã có những nghiên cứu tình trạng sâu răng ở Việt Nam nói chung và ở trẻ em nói riêng Năm 1977, Nguyễn Dương Hồng thông báo 77,0% trẻ em 6 tuổi ở Hà Nội và nông thôn bị sâu răng sữa, 30,0% trẻ em 13 tuổi sâu răng vĩnh viễn [12] Năm 1978 bộ môn Răng Hàm Mặt trường Đại học Y Hà nội thông báo tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của trẻ em 6 tuổi trở lên khoảng 39,0%, sâu răng sữa 1 - 5 tuổi là 31,3% [1] Năm
1981, Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sữa ở một số tỉnh Miền Nam: 70,5%,
ở Thuận Hải là 72,1% [53] Lê Đình Giáp và cộng sự cho biết 75,9% trẻ 12 tuổi thuộc 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mắc sâu răng vĩnh viễn [17] Theo Wong H.D chỉ số SMT tuổi 12 ở trẻ em Việt Nam năm 1982: 1,80
Nhìn chung các nghiên cứu đều cho thấy sâu răng ở Việt Nam là bệnh phổ biến và tỷ lệ mắc cao Càng về sau càng có nhiều nghiên cứu ở địa phương, nhiều lứa tuổi và có quy mô rộng hơn Qua đó thấy rằng khi chưa có công tác nha học đường, tình trạng sâu răng ở trẻ em Việt Nam có chiều hướng tăng cao Sâu răng ở Miền Bắc nói chung thấp hơn so với Miền Nam [66] Đặc biệt có những điều tra cơ bản đã công bố tình trạng sâu răng trên phạm vi toàn quốc Qua điều tra lần 1 năm 1990 thấy tỷ lệ sâu răng ở tuổi 12: Miền Bắc: 43,3%; SMT 1,2%; Miền Nam: 76,3%; SMT: 2,9 Toàn quốc là 55,7%; SMT: 1,8 [12]
Từ năm 1991 đến năm 1998 tiếp tục có nhiều nghiên cứu đưa ra tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT ở một số địa phương như Yên Bái, Hoà Bình, Nam Định, Hà Nội, Đà Nẵng… và thấy tỷ lệ sâu răng dao động trong khoảng 34,5% - 62,0%, SMT từ 1,3 – 4,3 [14], [39], [48]
Trang 35Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội phối hợp với Viện nghiên cứu và thống kê sức khoẻ răng miệng Australia tiến hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam trong 3 năm từ 1999 đến 2001 thu được kết quả sau [52]:
Ở nhóm tuổi 6 – 8: Tỷ lệ sâu răng sữa: 84,9%; Chỉ số SMT: 5,4
Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn: 25,4%; Chỉ số SMT: 0,5
Ở nhóm tuổi 9 – 11: Tỷ lệ sâu răng sữa: 56,3%; Chỉ số SMT: 2,0
Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn: 54,6%; Chỉ số SMT: 1,2
Ở nhóm tuổi 12 – 14: Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn: 64,1%; Chỉ số SMT: 2,1
b Tình hình diễn biến bệnh quanh răng :
Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về bệnh quanh răng và đưa ra
nhận xét bệnh quanh răng là phổ biến, tỷ lệ mắc cao [1], [3], [53] Theo điều tra
năm 1990: Trẻ em 12 tuổi ở Miền Nam 63,6% chảy máu lợi, 91,5% có cao răng [3], 98,3% trẻ em 12 tuổi toàn quốc bị viêm lợi
Từ năm 1991 đến năm 1998 có nhiều tác giả thông báo tình hình bệnh quanh răng ở lứa tuổi học sinh ở một số tỉnh như Yên Bái, Hải Hưng, Hà Nội, Nam Định, Đà Nẵng, Thái Bình… trong đó CPITN 1 giao động từ 4,8% đến 40,4%; CPITN 2 từ 10,5% đến 89,2% [4], [19], [53]
Theo Trần Văn Trường, năm 2001 Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội phối hợp với Viện nghiên cứu và thống kê sức khoẻ răng miệng Australia tiến hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam trong 3 năm từ 1999 đến 2001 thu được kết quả sau [52]:
Tỷ lệ trẻ có cao răng Tỷ lệ trẻ có chảy máu lợi Trẻ 6 – 8 tuổi: 42,7% 25,5%
Trẻ 9 – 11 tuổi : 69,2% 56,8%
Trẻ 12 – 14 tuổi: 71,4% 78,4%
Trang 36Qua đó thấy rằng bệnh răng miệng còn rất phổ biến, mặc dù nhờ có chương trình nha học đường, tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh đã giảm Nhưng nhìn chung còn cao, ở mức báo động, đòi hỏi có những giải pháp phòng bệnh và điều trị hữu hiệu và tăng cường chương trình chăm sóc răng miệng trẻ em học đường
là vô cùng cấp bách
1.1.4.3 Tình hình bệnh răng miệng tại Hà Nội
Theo kết quả của Viện RHM năm 1991 tỷ lệ sâu răng lứa tuổi 12 của Hà Nội: 36,0%, tỷ lệ viêm lợi: 84,0% Theo báo cáo của sở y tế Hà Nội năm 1998 tỷ
lệ sâu răng của học sinh tiểu học: 40,8%
Mặc dù chương trình nha học đường được triển khai tại Hà Nội, nhưng năm 2003 theo số liệu của sở y tế Hà Nội tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông: 36,0%, năm 2004: 36,7%, như vậy
tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh tiểu học, trung học cơ sở vẫn tăng theo thời gian [36], [37]
Theo Đào Thị Dung, Nguyễn Ngọc Trang, Lò Thị Hà 2007 tỷ lệ sâu răng của học sinh: 54,1%, viêm lợi: 5,4% [8] Năm 2008 Đào Thị Dung cho biết tỷ lệ học sinh 12 tuổi sâu răng: 15,9%, viêm lợi: 6,1%, tỷ lệ sâu răng viêm lợi ở học sinh ngoại thành cao hơn học sinh nội thành [7]
Tác giả Nguyễn Quốc Trung năm 2011 nghiên cứu trên HS ở Từ Liêm Hà Nội cho biết kết quả sâu răng vĩnh viễn: 57,14% [47]
1.1.5 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng
1.1.5.1 Khái quát về thuật ngữ kiến thức, thái độ, thực hành [24], [25], [35]
Hành vi sức khoẻ, trong đó có hành vi chăm sóc răng miệng (CSRM) là
một trong nhiều khái niệm liên quan đến hành vi con người Hành vi sức khoẻ có vai trò rất quan trọng, tạo lập nên sức khoẻ cho mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng Nghiên cứu về hành vi sức khoẻ là một phần quan trọng trong các nghiên
Trang 37cứu hay hoạt động can thiệp tại cộng đồng Người ta cho rằng hành vi con người
là một phức hợp của nhiều hành động chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố di truyền, môi trường, kinh tế- xã hội và chính trị
Kiến thức (Knowledge), thái độ (Attitude) và thực hành (Practice) nói chung là tập tính, thói quen, cách sống, cách suy nghĩ, hành động của con người đối với môi trường bên ngoài, đối với bệnh tật
Các yếu tố tạo nên hành vi thực hành của con người được tóm tắt:
Kiến thức Thái độ Thực hành
K A P
(Knowledge) (Attitude) (Practice)
Sự hiểu biết (phụ Tư duy, lập trường, Các hoạt động của
thuộc vào yếu tố văn quan điểm con người
hoá, xã hội, kinh tế)
a Kiến thức [25]
Kiến thức bao gồm những hiểu biết của con người, thường khác nhau (do khả năng tiếp thu khác nhau) và thường bắt nguồn từ kinh nghiệm sống hoặc của người khác truyền lại, kiến thức có được từ nhiều thông tin Chọn lọc từ nhiều thông tin để có kiến thức (hiểu biết) đúng đắn, khoa học về 1 sự vật, hiện tượng Hiểu biết nhiều khi không tương đồng với kiến thức mà chúng ta có thể tiếp thu thông qua những thông tin mà thầy cô giáo, cha mẹ người thân, bạn bè, sách báo cung cấp Về kiến thức vệ sinh răng miệng và phòng bệnh sâu răng của học sinh (HS) trung học cơ sở tốt hơn và có sự khác biệt song song với kiến thức văn hoá so với HS tiểu học
Trang 38bè người thân
c Thực hành [117]
Về thực hành, xuất phát từ hiểu biết, có kiến thức và thái độ sẽ dẫn đến thực hành của đối tượng Kiến thức và thái độ đúng sẽ có thực hành đúng và ngược lại Ở lứa tuổi HS, các em thực hành về chăm sóc răng miệng còn chưa tốt Nói chung các em vẫn còn chịu ảnh hưởng từ sự định hướng của nhà trường
và gia đình Tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành về CSRM của HS trung học cơ sở là việc làm cần thiết, đặc biệt là đánh giá mối liên quan với bệnh sâu răng, viêm lợi nó giúp chúng ta tìm ra được những biện pháp can thiệp đúng đắn, thích hợp Như vậy xuất phát từ những hiểu biết, có kiến thức, thái độ sẽ dẫn đến thực hành của các em Thái độ là biểu hiện sự bằng lòng hoặc phản đối một vấn
đề nào đó Kiến thức và thái độ ở mức độ nào thì thực hành sẽ ở mức độ ấy [28], [32] Yếu tố thực hành còn nói đến kỹ năng, là biểu lộ khả năng con người thực hiện hoặc xử lý tốt một việc gì nhờ vào khả năng bẩm sinh được đào tạo và phát triển trong thực hành Kỹ năng và kiến thức quan hệ chặt chẽ, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức vào thực hành [28], [34]
Trang 391.1.6.2 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức, thái độ thực hành về CSRM của học sinh
Mahmoud K Al-Omiri và CS nghiên cứu ở 557 học sinh độ tuổi trung bình
là 13,5 ở một trường học phía bắc Jordan, báo cáo cho thấy 83,1% HS có dùng bàn chải đánh răng và kem đánh răng để VSRM: 36,4% chải răng buổi sáng; 52,6% chải răng buổi tối trước khi đi ngủ và 17,6% chải răng cả buổi sáng và buổi tối trước khi đi ngủ Có 66% HS đi khám răng miệng định kỳ, 46,9% chỉ đến nha sỹ khi đau và 20,1% ít khi hoặc không bao giờ đến nha sỹ [98]
Zhu L và cộng sự nghiên cứu ở 4400 HS từ 12 – 18 tuổi ở Trung Quốc thấy 44% HS chải răng ít nhất 2 lần/ngày nhưng chỉ có 17% có sử dụng thuốc đánh răng có fluor; 29% HS 12 tuổi chỉ đến khám bác sỹ khi răng đã bị đau [139]
Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã công bố:
Theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh năm 2006 đã đánh giá KAP HS lứa tuổi 7 – 11 tại trường tiểu học Thanh Liệt Hà Nội cho kết quả: Về kiến thức 81,6% các em đạt điểm khá giỏi Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức răng miệng giữa nam và nữ [18]
Tác giả Lê Bá Nghĩa năm 2009 nghiên cứu mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng và sâu răng vĩnh viễn ở HS 12 – 15 tuổi tại trường trung học cơ sở Tân Mai- Hà Nội cho thấy: Kiến thức, thái độ, thực hành CSRM tốt của HS chiếm tỷ lệ tương đối cao: 99,3% HS biết được VSRM đúng cách là đề phòng sâu răng Về thực hành: 90,9% đã từng đi khám răng, 94% chải răng ít nhất 2 lần/ngày, 70% chải răng từ 1 – 3 phút, tuy nhiên chỉ có 43,3% chải răng đúng cách [26]
1.2 Biện pháp kiểm soát mảng bám răng
1.2.1 Biện pháp dự phòng chung về sâu răng, viêm lợi
1.2.1.1 Các biện pháp dự phòng sâu răng
Trang 40Mục đích của dự phòng sâu răng trong cộng đồng là giảm tỷ lệ bệnh sâu răng trong cộng đồng và kiểm soát được bệnh sâu răng Hiện nay quan điểm dự phòng sâu răng đã có nhiều thay đổi, liên quan đến sự phát triển của tổn thương sâu răng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hủy khoáng và tái khoáng đặc biệt là yếu
tố môi trường miệng của từng cá nhân Nhưng cơ bản để dự phòng bệnh sâu răng
ở mức độ cộng đồng cần phải áp dụng các phương pháp sau: Hướng dẫn vệ sinh răng miệng, kiểm soát chế độ ăn uống, giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh, sử dụng fluor để dự phòng sâu răng và trám bít hố rãnh răng
a Hướng dẫn vệ sinh răng miệng
Hướng dẫn chải răng, yêu cầu chải răng: Phải làm sạch được tất cả các mặt của răng nhất là các vùng hố rãnh của răng, vùng rãnh lợi và kẽ lợi Chải răng đúng kỹ thuật, chải răng với kem đánh răng có fluor làm giảm quá trình hình thành mảng bám răng Tuy nhiên kẽ răng là nơi có nhiều mảng bám răng nhất và khó đưa bàn chải nên có thể dùng một số biện pháp khác như là: Dùng chỉ tơ nha khoa, bàn chải kẽ răng, tăm răng…
b Chế độ ăn, uống hợp lý phòng sâu răng
Kiểm soát các thức ăn và đồ uống có đường bao gồm các biện pháp:
- Kiểm soát các thực phẩm có đường ở nhà trường
- Giảm số lần ăn các thực phẩm có đường
- Giảm mức độ tiêu thụ đường ở tầm quốc gia
c Chống sâu răng – làm giảm số lượng vi khuẩn gây sâu răng
- Phương pháp hóa học: Trên cơ sở khoa học sâu răng là bệnh nhiễm trùng
và Mutans Streptococcus là vi khuẩn chủ yếu gây sâu răng, phương pháp hóa học được áp dụng trong việc phòng ngừa và điều trị sâu răng là sử dụng nước súc miệng để loại trừ vi khuẩn