Một trong những khám phá tiêu biểu của thời kỳ này là: Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ GMR trong các màng mỏng từ đa lớp hay trong các siêu mạng từ gồm các lớp kim loại sắt từ xen kẽ các l
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy GS TS
Nguyễn Hoàng Nghị - người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời
gian làm luận văn tốt nghiệp Mặc dù bận rất nhiều công việc nhưng thầy vẫndành nhiều thời gian chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và cho em những lời khuyên
bổ ích để luận văn của em hoàn thành tốt nhất
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy TS Nguyễn Anh TuấnTrung tâm Quốc tế Đào tạo về Khoa học Vật liệu (ITIMS), đã có những thảo
luận đóng góp quí giá cho luận văn của em và đã tạo điều kiện, giúp đỡ em
thực hiện chế tạo mẫu và một số phép đo thực nghiệm
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới anh Nguyễn Văn Dũng, anh Bùi
Xuân Chiến ở phòng thí nghiệm Vật liệu Vô định hình và Nano tinh thể đã
tạo mọi điều kiện và có những thảo luận, đóng góp giá trị cho em hoàn thành
tốt luận văn tốt nghiệp
Em cũng xin cảm ơn Trung tâm Quốc tế Đào tạo về Khoa học Vật liệu(ITIMS) đã giúp đỡ em thực hiện một số phép đo
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể thầy cô trong Viện Vật lý Kỹ thuật
và trường Đại học Bách Khoa Hà nội đã giảng dậy và giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập
Trang 2Non MagneticRadio FrequencyGiant MagnetoresistanceMagnetoresistance
Magnetic (or Magnetoresistance) Random Access MemoryOrdinary Magnetoresistance
Ruderman-Kittel-Kasuya-YosidaScanning Electron MicroscopeTransmission Electron MicroscopeVibrating Sample MagnetometerX-ray Diffaction
Energy Dispersion Spectroscopy
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn 1
Danh mục các từ viết tắt 2
Mục lục 3
Mở đầu 5
Nội dung luận văn 8
Chương I: TỔNG QUAN 1.1 Điện trở của kim loại 8
1.2 Hiệu ứng từ điện trở thường và từ điện trở dị hướng 9
1.2.1 Hiệu ứng từ điện trở thường OMR (Ordinary Magneto Resistance) 9
1.2.2 Hiệu ứng từ điện trở dị hướng (AMR-Ansitropic Magneto Resistance) .10
1.3 Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ GMR (Giant Magneto Resistance).… 11
1.3.1 Đôi nét lịch sử về hiệu ứng từ điện trở khổng lồ 11
1.3.2 Một số mô hình giải thích hiệu ứng GMR 14
1.3.3 Giải thích hiện tượng trong mẫu hạt 22
1.3.4 Cấu trúc nano trong hệ dạng hạt 24
1.3.5 Tính chất đơn đômen 26
1.4 Bài toán xác định phân bố kích thước hạt từ D bằng lý thuyết thuận từ Langevin 28
1.4.1 Trạng thái siêu thuận từ 28
1.4.2 Xác định phân bố kích thước từ 29
1.5 Một số ứng dụng của hiệu ứng GMR của hệ màng mỏng dạng hạt 33
Chương II: THỰC NGHIỆM 2.1 Công nghệ chế tạo 38
Trang 42.1.1 Công nghệ bốc bay nổ 38
2.1.2 Công nghệ nguội nhanh 40
2.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X-XRD (X ray diffraction) 42
2.3 Phương pháp hiển vi điện tử quét – SEM 44
2.4 Khảo sát tính chất từ bằng từ kế mẫu rung VSM (Vibrating Sample Magnetometer-VSM) 47
2.5 Phương pháp thực nghiệm khảo sát hiệu ứng GMR 48
Chương III: KẾT QUẢ 3.1 Kết quả nhiễu xạ tia X 50
3.1.1 Công nghệ nguội nhanh 50
3.1.2 Công nghệ bốc bay nổ 52
3.2 Kết quả SEM 55
3.2.1 Công nghệ nguội nhanh 55
3.2.2 Công nghệ bốc bay nổ 56
3.3 Kết quả nghiên cứu tính chất từ 57
3.3.1 Công nghệ nguội nhanh 57
3.3.2 Công nghệ bốc bay nổ 58
3.4 Kết quả đo từ trở khổng lồ 60
3.4.1 Công nghệ nguội nhanh 60
3.4.2 Công nghệ bốc bay nổ 62
3.5 Kết quả xác định hàm phân bố tỉ phần kích thước hạt Co 66
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 5MỞ ĐẦU
tính chất vật lý mớiđãđược khám phá vàđược nghiên cứu rấtmạnh mẽ ở các hệ từ có các đặc trưng kích thước giới hạn
Một trong những khám phá tiêu biểu của thời kỳ này là: Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (GMR) trong các màng mỏng từ đa lớp hay trong các siêu
mạng từ gồm các lớp kim loại sắt từ xen kẽ các lớp kim loại phi từ và hiệuứng GMR trong các hệ từ dạng hạt bao gồm các hạt kim loại sắt từ nằm trên nền kim loại phi từ
Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (GMR) là hiệu ứng gây ra sự thay đổimạnh điện trở suất của vật liệu do ảnh hưởng của từ trường ngoài (khoảng vài
(khoảng vài phần ngàn) và có bản chất hoàn toàn mới, dựa trên hiện tượng sựtán xạ phụ thuộc spin của điện tử dẫn Chính vì vậy mà nó trở thành một chủ
đề nổi bậc trong vật lý cũng như trong khoa học và kỹ thuật vật liệu
nước và nước ngoài cho thấy các màng mỏng từ đa lớp (từ hàng chục lớp trởlên) có hiệu ứng GMR lớn, có thể đến hơn trăm phần trăm, nhưng phải ở từtrường khá cao (vài chục kilo Osted) và ở nhiệt độ thấp (thường ở 4,2K), điềunày gây khó khăn cho việc ứng dụng Trong khi đó đối với các hệ từ dạng hạt,hiệu ứng GMR thấp hơn nhưng đạt bão hoà ở từ trường khá cao, rất thích hợp
để làm sensor đo từ trường cao Mặt khác, công nghệ chế tạo hệ từ dạng hạtlại tương đối đơn giản, có khả năng chế tạo được trong điều kiện kỹ thuật hiệnnay ở nước ta
Trang 6Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra vật liệu GMR có cấu trúc
dạng hạt như đã nói trên đây: Ví dụ như phương pháp nguội nhanh từ thể
lỏng, phún xạ RF, bốc bay trong chân không, bay hơi bằng Laze, điện hoá,
lắng đọng hoá học và nhiều phương pháp khác nữa… Song có thể khẳng định rằng phương pháp nguội nhanh là phương pháp chế tạo hệ hợp kim dạng hạtquan trọng vì phương pháp này có năng suất cao, sản phẩm tạo ra có kíchthước lớn, có ý nghĩa trong việc ứng dụng vào thực tế Còn đối với phươngpháp bốc bay trong chân không đây là phương pháp chế tạo màng dạng hạt rấttốt và khá đơn giản tuy nhiên đối với phương pháp này việc khống chế thànhphần pha trên màng bốc bay so với thành phần pha của nguồn bốc bay là rất
cũng đã nghiên cứu đến phương pháp bốc bay nổ trong chân không Đây làphương pháp có thể coi là mới đối với nước ta vì cho đến nay vẫn chưa cómột công trình nghiên cứu nào trong nước công bố về việc chế tạo màng dạnghạt bằng phương pháp này cả
Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu của luận văn được chọn là:
“Nghiên cứu tính chất từ điện trở khổng lồ (GMR) trong các hệ từ dạng hạt bằng công nghệ nguội nhanh và bốc bay nổ”.
Mục tiêu của luận văn là:
- Trong điều kiện thiết bị hiện có chế tạo được màng dạng hạt có hiệu ứngGMR, qua đó tìm hiểu sâu và cụ thể thêm về cơ chế vật lý của hiệu ứng
- Nghiên cứu một số tính chất từ của các mẫu chế tạo bằng công nghệ bốc bay
nổ và nguội nhanh nhằm làm sáng tỏ mối liên hệ với hiệu ứng GMR của vậtliệu chế tạo Xem xét đánh giá mức độ khác nhau về hàm lượng các hạt sắt từ
có trong mẫu ảnh hưởng đến hiệu ứng GMR bằng hai công nghệ này
- Trên cơ sở những hiểu biết trên, nghiên cứu để có thể ứng dụng hiệu ứngGMR của hệ hạt trong lĩnh vực đo lường và điều khiển
Trang 7Kết cấu của luận văn gồm các chương sau:
Chương II: Thực nghiệm
Công nghệ chế tạo mẫu nghiên cứu
Các phương pháp thực nghiệm sử dụng trong luận văn
Chương III: Kết quả và thảo luận
Kết luận
Trang 8Chương I TỔNG QUAN
1.1 Điện trở của kim loại
Điện trở của kim loại là do sự tán xạ của điện tử dẫn với các nguyên tử
tạp chất hay dao động mạng tinh thể (phonon) Trong trường hợp chung, có
tán xạ bởi các loại sai hỏng tĩnh (gồm các tạp chất và các sai hỏng cấu trúc)
Trong trường hợp kim loại ở dạng màng mỏng, ngoài các thành phần là
điện trở suất trên đây còn có thêm thành phần ρs do tán xạ với các bề mặt ngoài của màng mỏng Khi đó điện trở suất tổng cộng của màng mỏng có thể
được viết là:
Thực ra cũng có thể coi các bề mặt ngoài là một dạng sai hỏng cấu trúc
Đối với các kim loại từ tính, chẳng hạn như các kim loại sắt từ, còn có
như trong các kim loại này, tồn tại mạng spin của các spin định xứ ở nútmạng và thực hiện tương tác trao đổi với điện tử dẫn Do đó có thể viết điệntrở suất của các kim loại sắt từ dưới dạng:
Ở nhiệt độ 0K, tất cả các spin ở nút mạng đều song song với nhau, tạo
ra trường thế tuần hoàn nên không gây ra tán xạ điện tử Khi đó thành phần
Trang 9các kim loại sắt từ nói chung thường cao hơn so với các kim loại thường Ở
của điện tử, I 0 là đại lượng đặc trưng cho tương tác trao đổi giữa mạng spin và
điện tử dẫn, S là spin ở mỗi nút mạng và εF là năng lượng Fermi M và M 0 là
độ từ hóa của kim loại sắt từ ở nhiệt độ T và 0K
1.2 Hiệu ứng từ điện trở thường và từ điện trở dị hướng
1.2.1 Hiệu ứng từ điện trở thường OMR (Ordinary Magneto Resistance)
Hiệu ứng từ điện trở thường quan sát thấy ở các kim loại và theo nguyên tắc tồn tại ở mọi kim loại và thường là hiệu ứng dương (điện trở tăng
theo từ trường tác dụng lên mẫu) Hiệu ứng này được giải thích như sau:
Dưới tác dụng của từ trường ngoài, hạt dẫn chịu tác dụng của hiệu ứng Hall, lực Lorentz làm hạt dẫn có thêm thành phần chuyển động tròn so với phương dòng điện và thành phần này không đóng góp vào dòng điện (vận tốc trung bình bằng không trong một chu trình) cho đến khi bị tán xạ Sau khi bị
tán xạ, hạt dẫn tham gia chuyển động tròn tiếp theo Như vậy, thời gian hồi
phục càng lớn (điện trở càng thấp) thì ảnh hưởng của từ trường ngoài lên điệntrở càng lớn Kohler tìm ra liên hệ giữa sự thay đổi điện trở suất theo từ
trường ngoài sau:
( H / )
(1.5)
Trang 10Bởi vì điện trở suất đều tăng khi chuyển động của hạt dẫn bị lệch về cảhai hướng so với dòng điện nên sự thay đổi của điện trở suất phải theo hàm
mũ chẵn của từ trường ngoài Bậc thấp nhất của sự thay đổi điện trở suất là:
1.2.2 Hiệu ứng từ điện trở dị hướng (AMR-Ansitropic Magneto Resistance).
Hiệu ứng AMR là hiệu ứng xảy ra khi điện trở của mẫu thay đổi khác
nhau dưới tác dụng của từ trường ngoài theo các phương khác nhau so với
dòng điện Hiệu ứng AMR xảy ra đối với các kim loại sắt từ, hơn nữa sự thay
đổi của điện trở suất trong hiệu ứng AMR cũng lớn hơn nhiều so với OMR,
lên đến vài phần trăm Ví dụ, ở màng mỏng Fe tỷ số MR 0.2%, hay ở màng ∼
có tỷ số MR lớn nhất đạt được khoảng 4-5% Màng pecmalôi đã từng được sửdụng rộng rãi làm các cảm biến từ trường, đặc biệt là đầu từ MR
Khác với các kim loại thường, do các kim loại sắt từ có cấu trúc domennên dưới tác dụng của từ trường ngoài, ngay cả khi có cường độ nhỏ cũng dẫn
đến làm tăng rất mạnh từ trường nội của mạng tinh thể vì từ độ tự phát ở các
domen từ sắp xếp lại song song với nhau theo phương từ trường ngoài Vì thế
hiệu ứng MR trong các kim loại sắt từ còn do tương tác của điện tử dẫn với
từ trường nội, lớn hơn nhiều so với từ trường ngoài tác dụng Hiệu ứng MR
gây ra bởi sự tương tác này luôn có mặt ngay khi không có từ trường ngoài
(gọi là từ điện trở tự phát)
Bản chất vật lý của AMR được giải thích dựa trên mô hình hai dòng
của Mott và mô hình của J.Smit về liên kết spin-quĩ đạo (liên kết Orbital) và J.Smit cho rằng bản chất của AMR là liên kết SO khi hệ spin
Spin-tương tác với mạng tinh thể Mô hình hai dòng của Mott được trình bày ở
Trang 11Hình 1.1 minh họa hiệu ứng dị hướng của điện trở suất đối với phương
từ trường tác dụng của các kim loại sắt từ, trường hợp a) từ trường song song
với dòng điện, trường hợp b) từ trường vuông góc với dòng điện, ρ s// và ρ s ⊥ là
các giá trị bảo hoà Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng từ điện trở dị hướng (AMR),hiệu ứng này là phổ biến cho tất cả các kim loại sắt từ
Hình 1.1: Sự thay đổi điện trở suất của kim loại sắt từ theo từ trường ngoài
1.3 Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ GMR (Giant Magneto Resistance)
1.3.1 Đôi nét lịch sử về hiệu ứng từ điện trở khổng lồ
Hiện tượng từ điện trở (Magneto Resistance-MR) lần đầu tiên tìm thấyvào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XIX bởi Lord Kelvin Hiện tượng MR là hiện
tượng thay đổi điện trở của vật dẫn hoặc bán dẫn dưới tác dụng của từ trường
ngoài Sự thay đổi này thường vào khoảng vài phần nghìn và được giải thích
là do tác dụng của từ trường ngoài làm điện tích thay đổi hướng chuyển động Vào năm 1988 một nhóm của Albert Fert của trường Đại học tổng hợp
lớp dưới tác dụng của từ trường ngoài (hình 1.2), với cấu trúc
hệ gồm 40 lớp kép, đây là một sự thay đổi lớn chưa từng được quan sát thấy
Trang 12từ trước đến nay Vì vậy mà hiệu ứng này được gọi là hiệu ứng từ điện trở
khổng lồ (Giant Magneto Resistance-GMR) Gọi như vậy không phải chỉ bởi
sự ‘khổng lồ’ của sự thay đổi điện trở mà còn bởi cơ chế hoàn toàn mới củahiện tượng này, ‘Cơ chế tán xạ phụ thuộc spin của các điện tử dẫn’
Hình 1.2 (a)Từ điện trở của ba siêu mạng Fe/Cr đo ở nhiệt độ 4.2K Dòng điện
và từ trường cùng được đặt dọc theo phương tinh thể [110] trong mặt phẳng của
các lớp (b)Cấu trúc của một siêu mạng từ.
(GMR) được quan sát thấy trong các hệ đơn lớp còn được gọi là hệ dạng hạt,
do một nhóm của A.E Berkowitz, J R Mitchell, M J Carey và A.P Young
Trang 13Hình 1.3 Đường cong GMR của hệ hợp kim dạng hạt Co-Cu
hành đối với cả hai hệ màng đa lớp và màng dạng hạt và cũng đã thu đượchiệu ứng GMR rất lớn, ví dụ như vào năm 1991 nhóm SSP parkin lần đầu
tiên chế tạo hệ màng mỏng đa lớp đa tinh thể Co/Cu bằng phương pháp phún
trường 10(kOe) đạt được 65% ở nhiệt độ phòng và 115% ở 4.2K [20] Năm
1992 nhóm của John Q Xiao, J.Samuel Jiang và C.L Chien chế tạo màng đơn
lớp Co/Cu và hiệu ứng đạt được là 13% ở nhiệt độ 5K và 8% ở nhiệt độ phòng [21] Năm 1994 nhóm của R Schad, C D Potter, P.Belien chế tạo hệ
đa lớp [Fe(4,5)/Cr(12)] 50 với lớp sắt rất mỏng, kết quả tại 1,5K hiệu ứng GMR >220%, ở 300K là 42% [22] Đối với tình hình trong nước cho đến nay
hiệu ứng GMR được nghiên cứu vẫn còn ít chủ yếu là hai nhóm: Một của GS
Trang 14Nguyễn Hoàng Nghị chế tạo băng Co-Cu bằng phương pháp nguội nhanhngoài không khí, cho kết quả GMR khoảng 5.5% ở nhiệt độ phòng và nhóm thứ hai là của TS Nguyễn Anh Tuấn, nhóm này tiến hành chế tạo vật liệuGMR dạng màng mỏng bằng phương pháp phún xạ RF chủ yếu với hai hệCo-Cu và Co-Ag đơn lớp và ba lớp, kết quả cho hiệu ứng GMR khoảng 3-4%
Cho đến nay hiệu ứng GMR đã được nghiên cứu rất kỹ và hoàn thiện
cả về hiệu ứng lẫn mô hình lý thuyết, sau đây là phần trình bày của một số mô hình lý thuyết giải thích cơ chế vật lý của hiệu ứng GMR
1.3.2 Một số mô hình giải thích hiệu ứng GMR
1.3.2.1 Mô hình hai dòng Mott
bảo toàn trong hầu hết các tán xạ
Nguyên nhân của hiện tượng này là,
nguyên nhân gây nên quá trình “trộn”
2 trạng thái spin up và down, sinh ra
ít Vì vậy các hạt dẫn có spin up và
Hình 1.4: Mô hình hai kênh dẫn
spin down tạo nên hai kênh tương
ứng song song với nhau Mô hình hai dòng này có thể được biểu diễn bằngmạch song song, trong đó điện trở suất của hai loại hạt dẫn được ký hiệu là
Trang 15n là nồng độ, m * là khối lượng hiệu dụng ,τ là thời gian hồi phục của điện tử,
thuộc spin của ρ liên quan đến sự phụ thuộc spin của n, m * tại mức Fermi của
điện tử dẫn Nguồn gốc bên ngoài liên quan đến sự phụ thuộc spin của thế tạp
chất hoặc thế sai hỏng Trong vật dẫn đơn chất, điện trở suất là tổng các đóng
góp từ các tán xạ của hạt dẫn trên phonon, tạp chất, tán xạ s-d, và các tán xạ
khác Như vậy, điện trở suất của kênh up và kênh down có thể khác nhau do:
m * khác nhau, n khác nhau, τ khác nhau, mật độ trạng thái tại mức Fermi
N (E F) của các điện tử có spin up và spin down khác nhau Nếu bỏ qua tán xạ
s-d trong một kênh dẫn nào đó, điện trở suất của kênh đó sẽ giảm đi Trường
hợp của Ni là một ví dụ Trong Ni, các mức năng lượng có spin up đã điềnđầy, và do đó không bắt điện tử
Người ta định nghĩa hệ số bất đối xứng spin như sau:
= ↓
ρ ↑
Hệ số bất đối xứng spin phụ thuộc vào tính chất từ của hợp kim Trong
Ni, Co cũng như các hợp kim từ tính mạnh, α >> 1 Mật độ trạng thái có spin
up tại mức Fermi (chỉ xuất phát từ các trạng thái liên kết s-p) rõ ràng nhỏ hơn
nhiều mật độ trạng thái có spin down (xuất phát từ các trạng thái s-p + d) Do
vậy α có xu hướng lớn hơn 1 trong các hợp kim của Ni và Co Thực tế α có
Trang 16Khi nhiệt độ gần hoặc vượt quá nhiệt độ Cuire Tc, quá trình trộn hai
kênh spin là không thể bỏ qua và được đặc trưng bởi số hạng điện trở suất
magnon Bản chất vật lý của hiện tượng trộn hai kênh spin là tương tác
Như vậy ở nhiệt độ thấp, việc sinh ra magnon sẽ ít và do đó quá trình
trộn lẫn hai kênh spin được bỏ qua
hạng điện trở suất ρ ↑↓ được đưa vào Chú ý rằng khi nhiệt độ thấp, ρ ↑↓<<ρ↑, ρ↓
Biểu thức (1.11) trở thành (1.7) Khi nhiệt độ đủ cao, ρ ↑↓>>ρ↑, ρ↓thì biểu thức (1.11) trở thành
ρ = ρ ↑ + ρ ↓
4
(1.12)Biểu thức này thể hiện, khi nhiệt độ đủ cao, hiện tượng trộn hai kênh
dẫn xảy ra mạnh (tức là khi thời gian sống của spin nhỏ hơn thời gian hồi
phục không lật spin), tất cả điện tử, spin up cũng như spin down, có cùng tốc
độ hồi phục trung bình
1.3.2.2 Một số mô hình đơn giản giải thích hiệu ứng GMR
Cách giải thích đầu tiên về cơ chế gây ra hiệu ứng GMR trong các cấutrúc từ đa lớp dưới đây cũng đã dựa trên cơ sở mô hình hai dòng của Mott
được đề cập đến trước đây Hình vẽ (1.5) là mô hình đơn giản và trực quan
Trang 17mô tả quá trình chuyển dời của các điện tử có spin up và spin down qua cáclớp từ như thế nào khi từ độ của các lớp sắp xếp khác nhau Các lớp ở đây
được giả thuyết là có chiều dày tương đương với quảng đường tự do trung bình của điện tử Mỗi điện tử khi đi từ một lớp từ này đến một lớp từ tiếp theo
sẽ mang một cấu hình spin nào đó (up hay down) và vẫn giữ nguyên cấu hình
cho đến khi bị tán xạ (tính bảo toàn spin) Các spin có chiều song song với từ
độ bị tán xạ ít hơn các spin có chiều phản song với từ độ Có thể thấy rằng
trong trường hợp a) khi từ trường H = 0 làm cho từ độ trong các lớp từ sắp
xếp theo kiểu phản song với nhau (giống như liên kết kiểu AF
(Antiferromagnetic)), mỗi kênh điện tử với spin up và spin down đều lần lượt
bị tán xạ và không bị tán xạ (hoặc là đều lần lượt bị tán xạ mạnh hoặc tán xạít) khi đi qua lớp từ
Hình 1.5: Sơ đồ minh hoạ cơ chế tán xạ điện tử với các spin khác nhau
Kết quả là toàn bộ điện tử dẫn đều bị tán xạ như nhau, điều này làm cho
hệ đa lớp giống như một cái van (đối với các spin) hạn chế dòng “chảy” của
Trang 18Trong trường hợp b) khi từ trường ngoài H > Hs làm cho từ độ trong
các lớp từ sắp xếp song song với nhau (liên kết kiểu FM(Ferromagnetic)), khi
đó chỉ có một kênh điện tử có spin luôn ngược chiều với từ độ mới bị tán xạ
mạnh, còn kênh kia luôn cùng chiều nên tỷ lệ truyền qua cao Trong tình huấnnày, hệ đa lớp giống như một cái van mở thông cho một kênh spin truyền qua.Như vậy ở trường hợp sau, điện trở suất của toàn hệ nhỏ hơn trường hợp
trước do có sự đoản mạch đối với một kênh spin Sự biến đổi của điện trở suất
ở trường hợp trung giang 0 < H < Hs là giảm dần khi từ trường tăng lên vì từ
độ các lớp sắp xếp dần dần theo từ trường Khi đó sự tán xạ ở một kênh điện
tử có spin ngược với từ độ cũng giảm dần vì từ độ đã chuyển hướng sangcùng chiều với spin Điện trở ứng với kênh đó sẽ giảm dần cho đến khi từ
trường tăng lên đến H > Hs làm cho từ độ trong các lớp hoàn toàn song song
với nhau và với phương spin
Ta chuyển sang sơ đồ giải thích khác đi trên cơ sở cấu trúc dải năng
lượng và quá trình tán xạ giữa các dải s – d Tán xạ s – d này không phải xảy
ra ở trong cấu trúc dải của bản thân mỗi lớp từ mà xảy ra giữa các điện tử 4s
của lớp kim loại phi từ với các điện tử 3d của các lớp sắt từ lân cận Sơ đồ
này cho thấy rỏ hơn ý nghĩa vật lý của hiệu ứng GMR, như trình bày ở hình
vẽ trong đó các lớp kim loại phi từ được kí hiệu là NM, còn các lớp kim loại
phi từ được kí hiệu là FM, E F là kí hiệu mức Fermi Chiều dày các lớp được
giả thuyết là nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình của các điện tử Vì chỉ có
các điện tử từ 3d ở lân cận mức Fermi mới tham gia vào quá trình tán xạ do
mật độ trạng thái chưa được lấp đầy và như đã đề cập đến trước đây, chỉ có các điện tử 4s mới tham gia vào quá trình dẫn điện và chỉ có tán xạ s-d mới gây ra sự dị thường của điện trở suất khi có từ trường ngoài tác dụng, nên các
tán xạ khác được bỏ qua Ta hãy xét các điện tử dẫn 4s (spin up và spin down)
giã sử được xuất phát từ một lớp kim loại phi từ (ví dụ lớp đầu tiên bên trái
Trang 19trong hình vẽ) khi chuyển động đến lớp sắt từ tiếp theo, sẽ có hai trường hợpxảy ra ứng với hai cấu hình sắp xếp từ độ của các lớp sắt từ.
Giả sử trong trường hợp đầu khi từ độ của các lớp sắp xếp phản song
với nhau, các điện tử có spin down bị bắt ngay vào các trạng thái 3d còn trống
(do có cùng trạng thái) của lớp sắt từ bên cạnh, nghĩa là bị tán xạ và không
tham gia tiếp tục vào quá trình dẫn điện (biểu thị bằng đường cung chấm chấm đậm, ngắn) Trong khi đó các điện tử spin up (cùng chiều với từ độ) không bị bắt ở lớp từ đầu tiên vì không có trạng thái 3d spin up nào trống cả.
Các điện tử này truyền sang được lớp sắt từ tiếp theo và bị bắt ở đây vì có các
trạng thái 3d (spin up) còn trống (biểu thị bằng đường cung gạch gạch dài) Vì đây là sơ đồ có cấu trúc tuần hoàn, các trạng thái 3d ứng với spin up và spin
down còn trống đều được phân bố lần lượt nhau, cho nên có thể thấy rằng cả
hai kênh điện tử spin up và spin down đều tương đương nhau trong quá trình
truyền qua hệ và đều bị tán xạ như nhau, dẫn đến điện trở suất của cả hệ ở
trạng thái cao
Trong trường hợp thứ hai khi có mômen từ của các lớp sắp xếp song song nhau, có thể thấy rằng chỉ có các trạng thái 3d spin down là còn trống,nên chỉ có kênh điện tử spin down bị tán xạ (các cung chấm chấm) còn kênhspin up được thông qua hoàn toàn vì các trạng thái 3d với spin tương đương
đã được điền đầy (biểu thị bằng đường cong liền nét) Đó là trường hợp đoảnmạch một kênh điện tử, dẫn đến điện trở suất của cả hệ giảm xuống Ta cũngnhận thấy rằng các dãi 4s của bản thân các lớp từ (không vẽ trong hình) cũng
có thể tham gia vào quá trình tán xạ tương tự các điện tử 4s của lớp kim loạiphi từ Tuy nhiên, quá trình này được cho là yếu hơn nhiều so với quá trình đãđược đề cập đến ở trên
Trang 20Hình1.6: Sơ đồ mật độ trạng thái điện tử trong cấu trúc lớp và quá trình chuyển
dời điện tử phụ thuộc spin qua cấu trúc lớp
Hình 1.7 minh hoạ mô hình chuỗi rào thế giải thích cơ chế GMR, coi
hệ đa lớp như một chuỗi rào thế dạng chữ nhật tuần hoàn (lý tưởng hoá) đối
với sự chuyển động của các điện tử dẫn Trong cấu hình từ độ phản song (a)
cả hai kênh spin đều bị cản trở bởi rào thế có cùng hình thái và độ cao Còntrong cấu hình từ độ song song (b), chỉ có kênh spin up bị chuỗi rào thế cảntrở
Ngoài ra, cơ chế GMR cũng có thể giải thích đơn giản dựa trên mô hình mạng điện trở của J Mathon [8] Giả thiết cơ bản của mô hình này là sự
tán xạ phụ thuộc spin, có nguồn gốc ở trong bản thân của lớp sắt từ, nghĩa là
tán xạ khối Mỗi một lớp kim loại sắt từ và kim loại phi từ đều gồm hai điệntrở ứng với hai kênh dẫn của các điện tử spin up và spin down Mô hình này
cho thấy biên độ GMR có liên quan tới tỷ số tán xạ bất đối xứng giữa hai kênh dẫn mà không cần để ý đến sự tán xạ phụ thuộc spin xảy ra ở đâu, vì xác
suất tán xạ của hai kênh điện tử ứng với spin up và spin down khác nhau, dẫn
Trang 21Hình 1.7: Mô hình chuỗi rào thế
Như vậy, hành vi thay đổi điện trở suất của cấu trúc lớp liên quan đếntương quan của phương từ độ giữa các lớp Biên độ của GMR có liên quan tới
tỷ lệ tán xạ giữa hai kênh spin khi chuyển dời qua các lớp Mặt dù sự tán xạ
phụ thuộc spin bắt nguồn từ các lớp sắt từ nhưng một điều đặc biệt quan trọng
là sự tán xạ giữa các điện tử dẫn với các điện tử từ xảy ra không chỉ ở trong
lòng của mỗi lớp sắt từ mà cả ở bề mặt phân cách giữa lớp sắt từ và lớp kim loại phi từ Sự tán xạ spin ở bên trong của lớp sắt từ gọi là tán xạ khối, còn ởtrên bền mặt phân cách giữa lớp từ và lớp phi từ gọi là tán xạ mặt phân cách.Thực nghiệm đã cho thấy rằng tán xạ phụ thuộc spin ở mặt phân cách là đónggóp chính của GMR, tán xạ càng mạnh thì tỷ số GMR càng lớn Tuy nhiêntrong trường hợp khi chiều dày các lớp sắt từ lớn hơn nhiều so với các lớpkhông từ, đồng thời chiều dày tổng cộng của lớp từ và phi từ đủ lớn, thì phầnđóng góp của tán xạ khối là không thể bỏ qua Ngoài ra các tạp từ trong lớpkim loại phi từ và các khuyết tật từ trong lớp kim loại sắt từ cũng đóng gópvào quá trình tán xạ spin
Trang 221.3.3.Giải thích hiện tượng tán xạ phụ thuộc spin trong mẫu hạt
Hiện tượng từ trở khổng lồ tìm thấy trong mẫu hạt lần đầu tiên vào năm
1992 Bản chất của hiện tượng GMR trong mẫu hạt cũng là sự tán xạ phụ
thuộc spin của các điện tử dẫn và có thể giải thích dựa trên kết quả trong mô
hình tán xạ phụ thuộc spin của các điện tử dẫn trong mẫu đa lớp
Trước hết giả sử ta có mẫu gồm các hạt sắt từ Co,Ni,Fe… nằm trong
nền kim loại không từ Cu,Ag,Au… Ta coi hai hạt sắt từ nằm cạnh nhau giống
như hai lớp sắt từ trong hệ đa lớp, nền phi từ giữa hai hạt sắt từ coi như lớpkim loại phi từ nằm giữa hai lớp sắt từ đó, như minh hoạ trong hình vẽ
Hình 1.8: Sơ đồ minh hoạ cấu tạo của màng mỏng từ đơn lớp có cấu trúc dạng hạt
Khi chưa có từ trường ngoài, mô men từ của hai hạt sắt từ này định
tử sẽ bị tán xạ như nhau khi đi qua biên giới hai hạt sắt từ này Khi đặt từ
trường ngoài đủ lớn, từ trường này sẽ định hướng mô men từ của hai hạt song
song với hướng của nó, lúc đó sẽ có một kênh dẫn bị tán xạ ít hơn, giống nhưtrường hợp đoãn mạch một kênh trong hệ đa lớp
Xét trong toàn hệ, khi không có từ trường ngoài mô men từ của các hạt sắt từ định hướng ngẫu nhiên, do đó cả hai kênh điện tử sẽ bị tán xạ mạnh trên
Trang 23đường chuyển động qua các hạt sắt từ, hệ ở trạng thái điện trở cao Từ trường
ngoài tăng dần sẽ làm tăng dần số các hạt có mô men từ song song với nhau
(do cùng song song với từ trường ngoài) Một kênh spin (kênh có spin song
song với hướng của từ trường ngoài) sẽ bị tán xạ ít dần trong khi kênh còn lại
bị tán xạ mạnh dần, điện trở của hệ giảm dần Khi từ trường ngoài đủ mạnh
làm quay toàn bộ số mô men từ trong hệ, kênh spin có hướng song song với
từ trường ngoài sẽ gần như truyền qua hoàn toàn, kênh còn lại gần như bị tán
xạ hoàn toàn, điện trở của hệ đạt giá trị thấp nhất Giả thiết các hạt sắt từ phân
bố một cách ngẫu nhiên trong nền kim loại không từ với bán kính trung bình
ứng của điện tử trong các hạt sắt từ và không từ; ξ là cường độ tán xạ spin
trên bề mặt các hạt sắt từ Ta thấy rằng, tỉ số GMR trong hệ hạt phụ thuộc vào
các yếu tố: kích thước hạt, quãng đường tự do trung bình, tỉ số tán xạ phụthuộc spin trên tán xạ không phụ thuộc spin
1.3.4 Cấu trúc nano của vật liệu từ điện trở dạng hạt
Vật liệu rắn có cấu trúc dạng hạt đã được quan tâm nghiên cứu và đưa
vào ứng dụng trong đời sống, kỹ thuật từ lâu Ta có thể gặp cấu trúc vật liệu
rắn dạng hạt ở dạng vật liệu thông thường như vật liệu bê tông, gồm những
hạt đá có kích thước cỡ cm và các hạt cát với kích thước cỡ μm trong nền của vật liệu xi măng Tùy theo yêu cầu về kết cấu trong xây dựng mà người ta đưa
ra các thông số khác nhau về kích thước của các loại hạt đá hay cát Như vậy
Trang 24có thể nói kích thước của các hạt trong vật liệu dạng hạt là rất quan trọng nóliên quan đến vấn đề cơ tính của vật liệu
Nghiên cứu vật liệu nano dạng hạt, gồm các hạt kim loại trong nền kim loại khác không hòa tan, chẳng hạn như Co trong nền Cu Ở đây thuật ngữ hạt
Trong vật liệu cấu trúc nano dạng hạt, các vấn đề then chốt quyết định đếncác tính chất vật lý của vật liệu thông qua các yếu tố như tỷ phần thể tích của
thước của các hạt (2r)
Vật liệu rắn kim loại dạng hạt được chia thành 2 loại; loại thứ nhất gồm
đã được biết đến từ năm 1970; loại thứ hai gồm các hạt kim loại từ trong nềnkim loại phi từ, đã đựợc quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây – vậtliệu từ điện trở khổng lồ (GMR), ví dụ như hệ Co – Cu, Co – Ag
Trong vật liệu nano dạng hạt nói chung và trong vật từ dạng hạt nói
Hình 1.9: Mô tả sự thay đổi cấu trúc của vật liệu từ dạng hạt theo sự thay
Trang 25Hình 1.9 cho thấy sự thay đổi cấu trúc của vật liệu rắn dạng hạt với sự
niệm tỷ phần thể tích của phần vật liệu nền xen kẽ giữa các hạt từ (x p ) Các
hạt có hình dạng hình cầu, bán kính r thường được phân bố một cách ngẫu
nhiên và đồng nhất trong vật liệu nền Số lượng các hạt kim loại trong thể tích
thước của một hạt Nó cũng cho thấy:
Đây là các thông số mà các tính chất vật lý, tỷ số GMR của vật liệu đềuliên quan, sự thay đổi của các thông số này dẫn đến sự thay đổi tỷ số GMR
1.3.5 Tính đơn đô men.
Trong hệ vật liệu từ dạng hạt với các hạt từ có thể tích đủ nhỏ, mỗi hạt
từ có một trục từ Khi không có từ trường ngoài các hạt từ được sắp xếp một
cách ngẫu nhiên và có một năng lượng bằng CV, với C tổng dị hướng từ trên
một đơn vị thể tích, và V là thể tích của hạt từ Khi có từ trường ngoài khác
Trang 26không các trục từ quay theo chiều của từ trường ngoài Như vậy từ độ củamẫu (M) bằng tổng từ độ của các hạt đơn đô men:
H = MScos θ
(1.18)Với θ là góc giữa trục dễ của hạt sắt từ và phương của từ trường ngoài,
trên toàn bộ các hạt sắt từ Khi đó đường cong từ trễ của mẫu chính là sự thể
hiện quá trình quay trục từ của các hạt đơn đô men Trong đó các kích thước
và sự điều khiển của các đô men đã bị thay đổi dưới tác động của từ trường
Hình 1.10: (a)Đường cong từ trễ đo ở nhiệt độ 5K, (b,c,d)Sự phụ thuộc
Trang 27Hình (1.10) là một ví dụ về sự phụ thuộc của đường cong từ trễ của vật
liệu dạng hạt vào từ trường ngoài ở nhiệt độ thấp 5K Khi mẫu bắt đầu từ hóa
với M = 0 ở từ trường ngoài H = 0, trục từ của các hạt từ định hướng ngẫu
nhiên, giá trị này bằng tổng dị hướng từ của các hạt từ Hướng của các
mômen từ định hướng ngẫu nhiên và ở trạng thái tĩnh khi nhiệt độ thấp Khi
từ độ đạt đến giá trị bão hòa (M = M S ) với từ trường ngoài đủ lớn, lúc đó tất
cả các mômen từ được định hướng hướng theo chiều của từ trường ngoài.
Nếu từ trường ngoài H giảm tới H = 0, khi đó giá trị của từ dư M r = M S /2 ở
nhiệt độ thấp 5K, bởi vì các trục từ chỉ quay trong phạm vi một nửa bán cầutheo trục dị hướng của hạt đơn đô men
Vật liệu từ với cấu trúc đơn đô men, có lực kháng từ (H C ) của các hạt
từ lớn hơn trong vật liệu dạng khối Theo nghiên cứu lý thuyết, các hạt sắt từ
tinh thể), trong khi đó đối với mẫu khối là 10 Oe [18] Một số vật liệu từ dạng hạt, như Co – Ag, Fe – Cu, Fe – Ag có lực kháng từ H C khá lớn cỡ 3000 Oe.
Như vậy đối với các vật liệu có cấu trúc đơn đô men thể hiện lực kháng từ H C
lớn, hằng số dị hướng C lớn, và lực kháng từ H C sự phụ thuộc vào kích thước
của hạt
1.4 Bài toán xác định phân bố kích thước hạt từ D bằng lý thuyết thuận
từ Langevin cho vật liệu dạng hạt
1.4.1.Trạng thái siêu thuận từ
Vật liệu từ được chia làm 3 loại: Vật liệu nghịch từ, vật liệu thuận từ,
và vật liệu sắt từ, dựa trên cấu trúc vi mô của vật liệu Vật liệu nghịch từ là
loại vật liệu không có mô men từ nguyên tử (mô men từ nguyên tử bằng 0).
Hai loại vật liệu từ còn lại có mô men từ nguyên tử khác không do các lớp
điện tử chưa điền đầy, nhưng trong vật liệu thuận từ không có trật tự từ, tức là các mô men từ nguyên tử sắp xếp hỗn loạn; còn trong vật liệu sắt từ có tồn tại
Trang 28trật tự từ Trong vật liệu thuận từ, các nguyên tử có mô men từ khác không,
nhưng do không có tương tác trao đổi giữa các mô men từ này nên chúng định
thuận từ, trong chất sắt từ tương tác trao đổi giữa các mô men từ nguyên tử
tạo nên trật tự từ
Nhưng nếu trong một hệ sắt từ, kích thước các hạt sắt từ rất nhỏ, sao
cho năng lượng dị hướng từ (yếu tố ‘ghim’ mô men từ của hạt theo 1 phương
- phương dễ từ hoá) nhỏ hơn năng lượng nhiệt (yếu tố làm mô men từ của hạt
dao động xung quanh phương dễ từ hoá ), tức là:
K V < K B T
thì các véc tơ từ độ của các hạt sắt từ không bị ‘ghim’ nữa mà có thể quay tự
do, định hướng một cách ngẫu nhiên Lúc đó hệ tương đương với một hệ thuận từ và được gọi là hệ siêu thuận từ (superparamagnetic system) Tính
chất siêu thuận từ đã được quan sát thấy trong các hệ vật liệu có hiệu ứng từtrở khổng lồ (GMR effect)
1.4.2 Xác định phân bố kích thước từ
Các kết quả nghiên cứu hiệu ứng GMR trong các hợp kim dị thể về mặt
từ dạng hạt Co-Cu, Co-Ag cho thấy hiệu ứng GMR phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như nhiệt độ đo, cấu hình đo, thành phần hợp thức của mẫu, và đặc biệt là chế độ xử lí nhiệt Như vậy một yêu cầu đặt ra là xác định kích thước hạt từ
khi nghiên cứu hiệu ứng GMR Có nhiều phương pháp có thể sử dụng để xác
định kích thước hạt như dùng phương pháp nhiễu xạ tia X, hiển vi điện tử truyền qua TEM, và phương pháp xác định kích thước hạt bằng cách so
sánh đường cong từ hoá thực nghiệm với các đường cong từ hoá lý thuyết M=M(H) với các kích thước hạt D khác nhau dựa trên lý thuyết Langevin về
thuận từ
Trang 29Theo lý thuyết thuận từ Langevin, từ độ của hệ thuận từ với các hạt có
kích thước giống nhau là một hàm số của nhiều tham số trong đó có thể tích
Như vậy ứng với kích thước hạt D khác nhau ta có thể tích V khác nhau
dẫn đến hình dạng đường cong từ hoá M=M(H) khác nhau Cho D một dãy
các giá trị tăng dần cách nhau 0.5 nm (hoặc có thể nhỏ hơn nữa) ta có một hệ
các đường cong từ hoá lý thuyết khác nhau So sánh đường cong từ hoá thực
nghiệm với hệ các đường lý thuyết này cho ta kết quả về kích thước hạt từ của
mẫu
Cụ thể đối với hệ mẫu Co-Cu, Co-Ag giá trị M s – mô men từ bão hoà
của Co ở nhiệt độ phòng cho Co fcc (lập phương tâm khối) [11] là 1.42x10 6
Trong hệ mẫu Co-Cu, Co-Ag có hiệu ứng GMR được nghiên cứu, tính
siêu thuận từ có thể quan sát thấy trên các đường cong từ trễ thực nghiệm trên hình (1.11) cho thấy từ độ của mẫu không đạt tới trạng thái bão hoà với từtrường lên đến 1.3T Do đó ta có thể áp dụng lý thuyết thuận từ Langevin chocác mẫu này
Trang 300.5 0.0 -0.5 -1.0
(c)
(a) (b)
và trường khử từ H c khác không Điều đó chứng tỏ trong các mẫu này còn tồn
M total = M fm + M spm
Để áp dụng lý thuyết thuận từ Langevin cho các mẫu này, yêu cầu đặt
ra là phải tách phần sắt từ ra khỏi đường cong từ hoá thực nghiệm Có thể
nhận thấy rằng đối với các chất sắt từ, từ độ có thể dễ dàng đạt đến giá trị bão
hoà với từ trường ngoài đạt cỡ 0.4T và theo các tính toán lý thuyết và thực
nghiệm cho hệ hạt Co giá trị từ độ bão hoà đạt giá trị:
Ta có từ độ của phần siêu thuận từ:
Trang 31M spm = M total - M r /0.866
Như vậy đây là một phương pháp có thể cho phép xác định kích thướchạt sắt từ Co trong các hệ siêu thuận từ Co-Cu, Co-Ag có hiệu ứng GMR
Tuy nhiên do trong hệ thuận từ hoặc siêu thuận từ thực các hạt đóng
ta cần tính đến hàm phân bố tỉ phần số hạt f(m) theo kích thước hạt và công
Để xác định phân bố tỉ phần số hạt f(m) ta làm như sau:
1) Cho D (kích thước hạt từ) một dãy các giá trị tăng dần từ 2nm đến 5.5nm
(Jm/A), với (T = Jm/A)
2) Từ kết qủa thực nghiệm ta có được đường cong từ hoá M(H) theo H
3) Ta lập một ma trận với các biến theo M và H
Trang 32n (Hn, m1)L(Hn, m2) L(Hn,n) (n)
Trang 334) Giải ma trận này ta được kết quả là các phân bố tỉ phần số hạt f(m) Tuynhiên việc giải ma trận này là rất khó khăn, để thực hiện việc này đơn giảnhơn ta sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm Matlap.
Từ kết qủa thực nghiệm ta vẽ đường cong từ hoá trong Matlap sau đó
dùng công cụ này để fit sao cho trùng khớp với đường thực nghiệm, phương
trình fit thiết lập có dạng của hàm Langevin như sau:
Y = a(coth(0.75*x/0.41) - 0.41/0.75/x) + b(coth(1.45*x/0.41) - 0.41/1.45/x) + c(coth(2.51*x/0.41) - 0.41/2.51/x) + d(coth(3.9*x/0.41) - 0.41/3.9/x) +
e(coth(5.97*x/0.41) - 0.41/5.97/x) + f(coth(8.5*x/0.41) - 0.41/8.5/x) +
k(coth(11.6*x/0.41) - 0.41/11.6/x) + z(coth(15.5*x/0.41) - 0.41/15.5/x)
Trong đó: y là các giá trị biểu thị cho M, x là các giá trị biểu thị cho H, còn các hệ số a, b, c, d, e, f, k, z là các giá trị biểu thị cho f(m) theo kích thước hạt từ 2nm đến 5.5nm Kết qủa fit cho ta các giá trị của a, b, c, d, e, f, k, z
chính là các giá trị của hàm phân bố tỉ phần số hạt f(m)
Phương pháp tách phần sắt từ ra khỏi từ độ tổng thể của mẫu ở trên có thể được thực hiện chính xác hơn bằng cách phân tích sự khác nhau của
đường cong từ trễ theo hai chiều tăng và giảm từ trường, chi tiết có thể tìm
1.5 Một số ứng dụng của hiệu ứng GMR của hệ màng mỏng dạng hạt
Hiện nay các hiệu ứng GMR đã được sử dụng nhiều trong các lĩnh vựcnhư công nghệ thông tin làm đầu đọc từ GMR, bộ nhớ từ không tự xoá kiểuMRAM, v.v…Tuy nhiên, các lĩnh vực đó đòi hỏi một nền công nghệ cao mà
hướng đến một số ứng dụng đơn giản và phù hợp hơn, những khảo sát ở đâytập trung cho mục đích như làm cảm biến từ trường và phần tử chuyển mạchtrong kỹ thuật đo lường và kỹ thuật điện tử
Trang 34Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu trong luận văn có thể định hướngứng dụng hiệu ứng GMR trong một số trường hợp sau:
+ Cảm biến GMR xác định theo vị trí:
S N
Phương tiếp cận của vật
Nam châm vĩnh cửu
Pittông
Cảm biến GMR
N S
Phương chuyển động của pittông
Hình 1.12: (a) Nguyên tắc phát hiện một vật khi đến gần cảm biến GMR.
- Cảm biến gần, nguyên lý như hình vẽ (1.12 (a)) Khi vật có từ trường tiến lại
gần cảm biến (hoặc ngược lại), từ trường làm thay đổi giá trị GMR của cảm
biến Tín hiệu từ cảm biến được đưa đến các mạch điều khiển ở bên ngoài Ví
dụ, kiểu cảm biến này được ứng dụng trong bộ điều khiển đánh lửa của động
cơ đốt trong (hình 1.12 (b)), bàn phím không tiếp xúc, cảm biến xác định vị
trí thẳng, cảm biến điều khiển sự thích ứng của bộ giảm xóc ôtô, cân điện tử,
cảm biến áp suất cơ…
- Cảm biến vị trí góc như: vận tốc kế, bộ biến đổi góc, đo độ nghiên, động cơ
điện DC không chổi quét
+ Kiểm tra không phá huỷ mẫu: Ví dụ kiểm tra vết nứt ở ống thép như (hình
1.13), từ trường H do cuộn dây sinh ra ở ống thép, nếu có vết nứt sẽ phân tán
ra ngoài như thấy ở hình vẽ Cảm biến GMR được đưa lại gần và rà khắp bề
mặt ống thép Ở những chổ có vết nứt, cảm biến GMR sẽ đo và phát hiện từtrường thoát ra
Trang 35Vết nứt Cảm biến GMR
H
Cuộn dây tạo từ trường
Hình 1.13: Kiểm tra vật liệu không phá huỷ mẫu (ống thép) bằng cảm biến GMR
+ Hình 1.14 là kết quả đo điện trở suất phụ thuộc vào từ trường của một màng
mỏng dạng hạt Co 30 Ag 70 đo ở nhiệt độ phòng, chế tạo bằng công nghệ bốc
bay nổ mà luận văn này đã chế tạo được Ta thấy ở từ trường cao 10kOe điện
trở suất của mẫu vẫn chưa đạt bảo hoà, rất thích hợp cho việc ứng dụng để làm sensor đo từ trường cao Trình bày sau đây là một ứng dụng của hiệu ứng GMR của màng dạng hạt Co 28 Ag 72 làm sensor cho động cơ một chiều loại
không chổi quét
4.0 3.5
3.0 2.5 2.0 1.5 1.0 0.5 0.0
Motors được sử dụng rộng rải trong lĩnh vực của điện học và từ học bởi
vì hiệu suất cao của chúng Motor dc bao gồm một rotor là một nam châm
Trang 36điện và một stator là các cuộn dây, rotor quay được là nhờ dòng điện bên
ngoài cung cấp cho cuôn dây Dòng điện này được điều khiển bởi sự tiếp xúc
giữa chổi quét và các điện cực của rotor, đó là sự tương ứng giữa góc quay
của trục quay rotor Chổi quét có hai vai trò đó là nhận ra góc quay của rotor
và cắt dòng điện trong cuộn dây để điều khiển tốc độ quay của rotor
Có những vấn đề trong việc sử dụng chổi quét của Motor, chổi quét
làm mòn do ma sát và gây ra tiếng ồn khi chổi quét thay đổi vị trí tiếp xúc
giữa các điện cực Do đó các Motor không chổi quét được sử dụng rộng rãi để
đạt hiệu suất cao trong việc duy trì độ bền
Trong các Motor không chổi quét, vai trò của chổi quét được thay thế
bằng việc sử dụng hiệu ứng Hall sensors trong mạch bán dẫn Những Hall sensor này tìm ra góc quay của rotor để cắt dòng điện trong cuộn dây, trong
một Motor không chổi quét có 2 nam châm vĩnh cữu trong rotor và 4 cuộn
dây trong stator, góc quay của rotor được xác định bởi tính có cực của 2 Hall
Hình 1.15: (a)Nguyên tắc cấu tạo hoạt động của môtơ điện không chổi quét
(b) Thang điện áp điều khiển đặt trưng của các cuộn dây
Tuy nhiên, hạn chế thường gặp khi sử dụng sensor Hall là phụ thuộc
vào nhiệt độ Như trình bày trong (hình vẽ 1.14(a)) sensor Hall chỉ làm việc
được trong khoảng nhiệt độ nhỏ hơn 400K, nếu vượt quá nhiệt độ này thì sẽ
Trang 37không còn chính xác nữa Trong khi đó, đối với màng mỏng GMR thì nhiệt
độ làm việc mà vẫn di trì được độ chính xác thì cao hơn nhiều so với sensor
Hall
Hình 1.16: (a) Sự phụ thuộc vào nhiệt độ của tỷ số GMR của màng Co 28 Ag 72 và
gian
Theo sự phụ thuộc vào nhiệt độ như (hình vẽ 1.16(a)), tỷ số GMR của
màng mỏng dạng hạt Co 28 Ag 72 chế tạo bằng phương pháp phún xạ RF trên đế
thuỷ tinh trong điều kiện 0,4.10 -3 pa và 6,7.10 -3 pa Ar Phún xạ với bia là một
tấm Ag có đường kính 3 ’’ và dày 0,2 ’’ với sự kết hợp của các mảnh Co có kích
thước 5x5x1mm 3 , bề dày của màng khoảng 200nm, thành phần của màng
được điều khiển bởi sự thay đổi số mảnh Co, đo ở từ trường 10kOe là 13% tại nhiệt độ phòng và giảm xuống 4% tại 573 0 K Mặt khác hiệu ứng GMR đạt được 10% và ổ định ở giá trị này trong khoảng thời gian 7,2Ks ở nhiệt độ
773K hay 100Ks với nhiệt độ 673K khi nhiệt độ hạ thấp hơn nữa thì độ bền
và độ định của hiệu ứng GMR có thể đạt đến khoảng 10 năm Màng mỏng dạng hạt Co 28 Ag 72 có 4% hiệu ứng GMR trong động cơ mô tơ có thể dò ra
chính xác góc quay của rotor từ trạng thái tĩnh đến trạng thái chuyển động là
Trang 383000rpm (Round Per Minute)[16] Điều này có nghĩa là màng mỏng dạng hạt
Màng mỏng dạng hạt Co 28 Ag 72 làm sensor trong động cơ không chổi quét được lắng đọng trên đế thuỷ tinh có kích thước 1x5mm 2 , hiệu ứng GMR
là đẳng hướng không phân biệt được hai cực từ, vì vậy sensor được gắn thêm một nam châm vĩnh cữu và làm việc trong khoảng tuyến tính Những sensorhầu hết được bố trí trong Motor để nhận biết góc quay của rotor Motor mộtchiều không chổi quét đang thử nghiệm là FLB575 (Oriental Motor Co.), điện
áp không thay đổi được áp dụng trong sensor và tín hiêu được khuếch đại lên1000-10000 lần
Trang 39Chương II : THỰC NGHIỆM
Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra vật liệu có hiệu ứng GMRnhư công nghệ nguội nhanh, phún xạ, bốc bay trong chân không, bay hơi
bằng Laze, điện hoá, lắng đọng hoá học và một số phương pháp khác
nữa…Tuy nhiên đối với các vật liệu GMR có cấu trúc dạng hạt chủ yếu đều
được chế tạo bằng phương pháp bốc bay trong chân không và nguội nhanh.
Đây cũng là hai phương pháp mà luận văn đã chọn để chế tạo mẫu và cũng là những phương pháp thích hợp trong điều kiện kỹ thuật của nước ta hiện nay.
Sau đay là phần trình bày của hai công nghệ này
2.1 Công nghệ chế tạo mẫu:
2.1.1 Công nghệ bốc bay nổ:
Bốc bay trong chân không: Phương pháp này dựa trên nguyên tắc làm
nóng chảy và bay hơi các nguyên tử chất rắn và lắng đọng các nguyên tử hoá
hơi lên một đế rắn Ở đây sử dụng nhiệt (Joule) sinh ra khi có dòng điện chạy
qua một vật dẫn, các vật dẫn điện dùng làm nguồn nhiệt thường là các kim loại có điện trở suất lớn chịu được nhiệt độ cao (lớn hơn 1000 0 C), như Wonfram, Molipden, Tantan Ở dạng dây hoặc lá mỏng hoặc các hợp chất
như Nitơrit, cácbít Nguồn nhiệt thường được tạo dưới dạng những cái giỏ, nồi hay thuyền để dựng vật liệu bay hơi Để tránh phản ứng giữa vật liệu bay
hơi với các kim loại làm nguồn nhiệt người ta thường phủ các vật liệu như
Có thể dễ dàng điều khiển nhiệt độ bay hơi bằng cách điều khiển dòng
điện cung cấp Độ chân không tối thiểu chế tạo mẫu tốt khoảng 10 -5 torr,
Các màng dạng hạt nghiên cứu trong luận văn đã được chế tạo từ hệ chân không BALZERS 500 ở viện ITIMS trường ĐHBK Hà Nội, Phương
Trang 40pháp bốc bay nhiệt với hợp kim dạng khối đã được nghiên cứu từ lâu, tuy
nhiên việc khống chế thành phần hợp kim trên màng là rất khó khăn, bởi vì
các kim loại dùng bốc bay để tạo thành hợp kim dị thể có các tính chất hoá lý
rất khác nhau (như nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ bay hơi, năng lượng liên kết
nguyên tử, áp suất hơi bão hoà…) do đó chúng bị kích thích ở mức độ khácnhau dưới tác dụng của cùng một yếu tố vật lý, cụ thể là nhiệt
Vì vậy chúng tôi đã áp dụng phương pháp bốc bay nổ, phương pháp
này có thể khắc phục những nhược điểm đã nói ở trên Với phương pháp này
chúng tôi đã thiết kế thêm một số chi tiết như (hình vẽ 2.1) gồm: Một hệ
thống máng để chứa bột bốc bay, hệ thống này chỉ cho phép các kim loại bốc
bay rơi xuống máng với một lượng rất ít đảm bảo cho vật liệu có thể được bốc
hơi tức thời và hoàn toàn và một hệ thống tạo độ rung Bột bốc bay được đựng trong máng dưới tác dụng của hệ thống rung các hạt kim loại rơi vào
thuyền đang có nhiệt độ rất cao ( hơn 1000 0 C) trong một thời gian rất ngắn nó
lập tức bay hơi hoàn toàn và ngưng tụ trên đế
Hình:2.1 Sơ đồ cấu tạo buồng bốc bay chân không
Thành phần bột được sử dụng để bốc bay nghiên cứu trong luận văn
gồm: Bột Co với Cu và Co với Ag trộn với nhau theo một tỷ lệ xác định
trước với các thành phần từ 20 đến 70 phần trăm nguyên tử Co