MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI * Mục tiêu chung - Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của mô hình sản xuất rau an toàn tại thôn Ngô Xuyên - thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên trên cơ
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau là loại thực phẩm quan trọng không thể thiếu được trong đời sống con người, rau cung cấp vitamin A, B, C, E, K, các loại axít hữu cơ và khoáng chất như
Ca, P, Fe, muối khoáng và chất xơ rất cần cho sự phát triển của cơ thể con người Mặc dù chất xơ không tiêu hóa hấp thu được, không cung cấp năng lượng, nhưng
nó tạo ra khối lượng chất thải lớn trong ruột, làm tăng nhu động ruột, chống táo bón Khẩu phần ăn mà thiếu chất xơ cũng tăng tỷ lệ ung thư tiêu hóa, đại tràng, gây
xơ vữa động mạch Ngoài ra, chất xơ còn thúc đẩy sự hấp thu của cơ thể đối với 3 nhóm thức ăn là đạm, béo, đường Rau là loại thức ăn rẻ tiền nhưng lại có vai trò dinh dưỡng rất cao
Ở các nước phát triển trên thế giới như Hà Lan, Pháp, Mỹ,… công nghệ sản xuất rau quả sạch được hoàn thiện ở trình độ cao, rau sản xuất trong nhà lưới, nhà kính và công nghệ thủy canh đạt được năng suất cao, chất lượng được kiểm soát.Sản xuất rau an toàn ở Việt Nam, đầu tiên phải kể đến thủ đô Hà Nội và Tp HCM vào năm 1996, 1997, sau đó chương trình rau an toàn được mở rộng ra một số tỉnh khác như: Vĩnh phúc, Hải Phòng, Đồng Nai… Hiện nay, đã có trên 30 quy trình trồng rau an toàn được ban hành dễ hiểu, dễ áp dụng So với những năm đầu 1996 -1997 thì hiện nay chủng loại rau cao cấp được sản xuất theo quy trình trên gia tăng như Ớt ngọt, cải bắp trái vụ, dưa chuột bao tử, súp lơ xanh, măng tây, cà chua ăn tươi và cả một số loại rau gia vị…
Văn Lâm là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Hưng Yên, giáp ranh với huyện Gia Lâm - Hà Nội với lợi thế có đường Quốc lộ 5 chạy qua và gần đây hình thành khu công nghiệp chạy dọc theo Quốc lộ 5, Đường 19, Đường 206 Vốn là một huyện nông nghiệp, hiện tại diện tích đất nông nghiệp của Văn Lâm còn trên 3.500 ha đất màu mỡ, rất thuật lợi cho việc cấy lúa và trồng rau, màu Tại đây đã hình thành vùng chuyên canh rau, màu với diện tích hàng trăm ha, tập trung ở một số xã như: Tân Quang, Lạc Đạo, Như Quỳnh,… với hệ số quay vòng đất 4 - 5 lứa rau/năm Các chủng loại rau chính được sản xuất là su hào, cải bắp, súp lơ, cà chua, rau gia vị,… Thị trường tiêu thụ khá ổn định tại địa phương, Hà Nội Hàng năm, Văn Lâm
đã cung cấp cho thị trường hàng ngàn tấn rau các loại
Trang 2Thị trấn Như Quỳnh là địa phương có điều kiện khá thuận lợi để phát triển một vùng trồng rau xanh chất lượng cao như điều kiện thổ nhưỡng, nước tưới, công thức luân canh cây trồng và trình độ thâm canh của nông dân cho phép tiếp tục mở rộng diện tích rau chế biến Bên cạnh đó Như Quỳnh ở vị trí khá thuận lợi gần thị trường Hà Nội, có khu công nghiệp, các trường chuyên nghiệp… Nắm bắt thị hiếu đó, nông dân Thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng tập trung sản xuất rau an toàn chất lượng cao Đây là điểm nhấn trong chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá mà huyện đã đề ra trong giai đoạn 2006 - 2010.Xuất phát từ những điều kiện trên UBND huyện giao phòng NN&PTNT, TT Như Quỳnh kết hợp với trung tâm Khuyến nông, Sở Khoa học & Công nghệ tổ chức đưa các hộ nông dân thôn Ngô Xuyên đi thăm quan thực tế một số vùng sản xuất RAT như Vân hội - Đông Anh, Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội Tháng 5 năm
2005 mô hình sản xuất RAT chính thức bước vào trồng vụ đầu tại đồng Ngô Xuyên thị trấn Như Quỳnh, có 29 hộ tham gia trồng được 1ha gồm dưa chuột, cà chua, bắp cải Đến này qua 4 năm thực hiện đã có 121 hộ tham gia với diện tích lên tới 6,1ha Sản xuất RAT đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, bình quân 1 sào canh tác 1 năm cho thu nhập khoảng 13 - 15 triệu đồng Nghề trồng, sơ chế và chế biến rau cũng thu hút lớn lực lượng lao động vốn đang dư thừa ở nông thôn hiện nay, 1 ha trồng rau an toàn sử dụng thường xuyên từ 20 - 30 lao động
Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất rau an toàn tại Thôn Ngô Xuyên - thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
* Mục tiêu chung
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của mô hình sản xuất rau an toàn tại thôn Ngô Xuyên - thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mô hình sản xuất rau an toàn tại địa phương
* Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn tại địa phương từ 2005 - 2008
- Phân tích tác động xã hộ của mô hình
- Đánh giá được tính bền vững của mô hình
- Đề ra được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn tại thôn Ngô Xuyên - thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên
Trang 3Phần 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH 2.1.1 Những vấn đề chung về mô hình
2.1.1.1 Khái niệm mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu có những ưu thế riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Mô hình là một trong các phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung
và cách hiểu riêng Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là vật cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu [13] Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn
đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu [20] Mô hình cũng được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu [2] và cũng là kiểu mẫu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế
Như vậy, mô hình có thể các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó là tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người
ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu [5]
Trong thực tế, để khái quát hoá các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau
Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng và trình bày là khác nhau Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm mà chúng tôi đều thống nhất
đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu [8].
Trang 4- Mô hình sản xuất:
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình Lịch sử phát triển của xã hội loài người đó chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu được cấu thành trong nền sản xuất Từ những công cụ thô sơ, công cụ thường nay thay vào đó là các công cụ sản xuất hiện đại, công dụng đa năng, đó thay thế một phần rất lớn cho lao động sống và làm giảm hao phí về lao động sống trên một đơn vị sản phẩm Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại
Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong các nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài những yếu
tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà: Mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế [15].
Ví dụ mô hình sản xuất rau giống trong nhà lưới được thực hiện đầu tiên tại nhà bà Nguyễn Thị Tâm từ năm 2006 dưới sự hỗ trợ của Sở KHCN tỉnh, nhằm cung cấp giống cho các hộ tham ra sản xuất mô hình rau an toàn tại thôn Ngô Xuyên - Như Quỳnh
2.1.1.2 Vai trò của mô hình: Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phương
pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống như một tổng thể Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hoá hệ thống Nhờ các mô hình ta có thể kiểm tra laị sự đúng đắn của các số liệu quan sát được và các giả định rút ra Nó giúp ta hiểu sâu hơn các hệ thống phức tạp Và một mục tiêu khác của mô hình là giúp ta lựa chọn quyết định tốt nhất về quản ký hệ thống, giúp ta chọn phương pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống
Việc thực hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng người nông dân có thể đánh giá được sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng vật nuôi tại một khu vực nào đó Từ đó đưa ra được quyết định tốt nhất nhằm đem lại lợi ích tối
đa cho nông dân, phát huy hiệu quả những gì nông dân đó có
2.1.1.3 Các nhân tố trong mô hình sản xuất rau an toàn
Các nhân tố trong mô hình sản xuất rau an toàn gồm chủ thể sản xuất và khách thể sản xuất
Trang 5Tác động
Giữa chủ thể và khách thể sản xuất có một mối liên hệ, mối liên hệ đó thể hiện bằng mức độ tác động giữa chủ thể và khách thể Sự mô phỏng mô hình sản xuất RAT được thể hiện qua hình 2.1:
Môi trường sản xuất
- Khách thể sản xuất:
Khách thể sản xuấtChủ thể sản xuất
Hệ thống tư liệu lao động
Đối tượng lao động
Sản phẩm
Thị trường
Trang 6Khách thể sản xuất là đối tượng tiếp nhận hành động của chủ thể Khách thể
có thể tác động trở lại đối với chủ thể Khách thể có tác động nhất định tới sự tồn tại
và phát triển của mô hình Khách thể là nơi trực tiếp làm ra sản phẩm Khách thể của mô hình sản xuất RAT là hệ thống tư liệu lao động (công cụ sản xuất, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) và đối tượng lao động (RAT)
2.1.2 Đánh giá mô hình
2.1.2.1 Khái niệm đánh giá
- Đánh giá mô hình là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của mô hình trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu
- Đánh giá là so sánh những gì đó thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đó đạt được
- Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động khuyến nông so với kế hoạch ban đầu
- Trong đánh giá mô hình người ta có thể hiểu như sau:
+ Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định:
Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không
Mức độ mà mô hình đó đạt được so với mục tiêu đặt ra thông qua các hoạt động đó chỉ ra trong tài liệu của mô hình
+ Đánh giá sử dụng các phương pháp nghiên cứu để điều tra một cách có hệ thống các kết quả và hiệu quả của mô hình Nó cũng điều tra những vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời
+ Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu theo phương pháp thống kê
+ Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn
+ Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động
2.1.2.2 Các loại đánh giá
Đánh giá có nhiều dạng khác nhau Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành 3 loại chính như sau:
Đánh giá tiền khả thi/khả thi:
- Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của mô hình, để xem xét xem liệu mô hình có thể thực hiện được hay không trong điều kiện nhất định Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả
Trang 7năng thực hiện của mô hình hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt mô hình có được đưa vào thực hiện hay không.
Đánh giá thực hiện:
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định Tùy theo loại mô hình
mà có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là ba tháng, sáu tháng hay một năm một lần Mục đích của đánh giá định kỳ là nhằm tìm ra những điểm mạnh, yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo
- Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc quá trình thực hiện mô hình Đây là đánh giá toàn diện các hoạt động và kết quả của nó Mục đích của đánh giá cuối kỳ là nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện mô hình, những thế mạnh, điểm yếu, những thành công và chưa thành công, nguyên nhân của từng vấn
đề, đưa ra những bài học cần phải rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho các mô hình
- Đánh giá tiến độ thực hiện: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện các nội dung hoạt động của mô hình có đúng thời gian dự định hay không, nhanh chậm thế nào…
- Đánh giá tính hình chỉ tiêu tài chính: Là xem xét lại việc sử dụng kinh phí chi tiêu tiền có đúng theo nguyên tắc đó được quy định hay không để có những điều chỉnh và rút kinh nghiệm
- Đánh giá về tổ chức thực hiện: Đánh giá về việc tổ chức phối hợp thực hiện giữa các thành phần tham gia, xem xét và phân tích công tác tổ chức, cách phối hợp các thành phần tham gia Ngoài ra có thể xem xét việc phối kết hợp giữa các mô hình trên cùng một địa bàn và hiệu quả của sự phối hợp đó
- Đánh giá kỹ thuật mô hình: Là xem xét lại những kỹ thuật mà mô hình đưa vào có phải là mới không Quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đó đặt ra không
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Hiện nay vấn đề môi trường
là một vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vậy chúng ta đều phải quan tâm tới vấn đề môi trường
- Đánh giá khả năng mở rộng: Là quá trình xem xét kết quả của mô hình có thể áp dụng rộng rãi không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì không
Trang 8Tổ chức hội nghị tổng kết thường bao gồm các việc sau:
- Xác định những người tham gia
- Thành lập Ban tổ chức hội nghị
- Công tác chuẩn bị hội nghị
- Các nội dung chính của hội nghị
Trong tổng kết, một văn kiện quan trọng cần được chuẩn bị và thông qua đó là báo cáo tổng kết Báo cáo tổng kết cần đạt mục tiêu:
- Đánh giá thành tựu, các hoạt động đó hoàn thành, đồng thời phân tích các thiếu sót, tồn tại, để rút ra bài học kinh nghiệm
- Mục tiêu, kế hoạch cho giai đoạn kế tiếp
2.1.2.3 Tiêu chí đánh giá
Khái niệm tiêu chí:
- Khái niệm tiêu chí: Tiêu chí như là một hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số có thể định lượng được dựng để đánh giá hay phân loại một hoạt động hay một dự án nào đó.Các đặc điểm của tiêu chí đánh giá
- Đối với các chỉ tiêu mang tính định lượng
Là các tiêu chí có thể đo đếm được, các chỉ tiêu này thường được sử dụng để kiểm tra tiến độ công việc Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có thể được thực hiện qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra hoặc phỏng vấn cũng có thể đo lường trực tiếp trên đồng ruộng và trên hiện trường: sự sinh trưởng của cây trồng, tăng trọng của vật nuôi, năng suất cây trồng…
- Đối với các chỉ tiêu định tính
Là các chỉ tiêu không thể đo đếm được Nhóm chỉ tiêu này thường phản ánh chất lượng của công việc dựa trên định tính nhiều hơn: cây sinh trưởng chậm hay nhanh, màu quả đẹp hay xấu việc xác định các chỉ tiêu này thường thông qua phỏng vấn, quan sát và nhận định của những người tham gia giám sát cũng như của người dân
Trang 9Các loại tiêu chí dùng cho đánh giá:
Các loại chỉ tiêu dùng cho hoạt động đánh giá là các chỉ tiêu mang tính toàn diện hơn Việc xác định các chỉ tiêu đánh giá phải căn cứ vào mục đích và hoạt động của mô hình, thường có các nhóm chỉ tiêu sau đây:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả các hoạt động khuyến nông theo mục tiêu
đó đề ra: diện tích, năng suất, cơ cấu, đầu tư, sử dụng vốn…
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của mô hình hay hoạt động khuyến nông: tổng thu, tổng chi, thu - chi, hiệu quả lao động, hiệu quả đồng vốn
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của mô hình khuyến nông đến đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội: ảnh hưởng đến môi trường đất (xói mòn, độ phì, độ che phủ ), ảnh hưởng đến đời sống (giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bình đẳng giới )
- Các chỉ tiêu đánh giá phục vụ cho quá trình xem xét, phân tích hoạt động khuyến nông với sự tham gia của cán bộ khuyến nông và nông dân
Các vấn đề đánh giá chung và mối liên hệ của chúng
Xác định các vấn đề cần được giải quyết là việc làm cần thiết trong mọi công tác đánh giá Sau đây là nhóm câu hỏi cơ bản sẽ được đặt ra:
Tính thích ứng
- Mô hình có ý nghĩa trong môi trường hoàn cảnh của nó không?
- Tính thích ứng liên quan đến các chính sách hợp tác, phát triển, liệu mục đích, mục tiêu chung và các kết quả của mô hình có phù hợp với các nhu cầu, mong muốn của những người được hưởng lợi từ mô hình án hay không?
Trang 10Tính bền vững
- Các yếu tố được đánh giá là bền vững là: môi trường chính sách, tính khả thi
về kinh tế - tài chính, năng lực thể chế, khía cạnh văn hóa - xã hội, sự tham gia, quyền
sở hữu, vấn đề giới, môi trường và công nghệ thích hợp?
- Điều gì sẽ diễn ra đối với các tác động tích cực của mô hình sau khi sự hỗ trợ từ bên ngoài kết thúc?
Tại địa phương đã có các chính sách hỗ trợ kinh phí cho sự phát triển sản xuất rau an toàn: kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng (xây cống, làm đường điện phục vụ sản xuất, khoan giếng, nhà lưới, nhà chờ), hỗ trợ kỹ thuật của Viện nghiên cứu rau quả
Tính hiệu lực
Hiệu lực của một mô hình nào đó là giới hạn tác động của nó theo thời gian, không gian (lãnh thổ) và phạm vi đối tượng của mô hình
2.1.3 Hiệu quả sản xuất
Là sự phản ánh chung giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra mối quan hệ mật thiết giữa chúng Hiệu quả sản xuất là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực có sẵn tại cơ sở trong một điều kiện nhất định để đạt được hiệu quả cao với chi phí thấp Hiệu quả sản xuất có hai mặt của nó được xác định bằng chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thu được trong một lĩnh vực nhất định, hiệu quả sản xuất được xác định bằng nội dung kinh tế xã hội Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất chính là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
2.1.3.1 Hiệu quả kinh tế và bản chất của nó
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội phải xuất phát từ những luận điểm của triết học Mác và những luận điểm của thuyết
hệ thống
Bản chất của hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là sự thực hiện yêu cầu của qui luận tiết kiệm thời gian biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của xã hội, Mác cho rằng: Qui luận tiết kiệm thời gian là qui luận có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều phải tuân thủ theo qui luận đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân Với mục đích nhất định, con người phải thực hiện trong một thời gian lao động ít nhất hay nói khác đi trong một số lượng thời gian nhất định, kết quả đạt được phải cao nhất Như vậy hiệu quả là một phạm trù phản ánh yêu cầu của qui luận tiết kiệm thời gian [19]
Trang 11Trong lĩnh vực kinh tế hiệu quả là mục tiêu, không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch
và quản lý kinh tế nói chung, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, lợi ích lớn nhất thu được với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng
tỷ lệ so sánh đầu ra với đâu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào các mục đích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội Với hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất nó có liên quan trực tiếp với nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các qui luật khác
Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mất thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất
Từ những vấn đề trình bày trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế là việc sản xuất ra một lượng của cải lớn nhất với một số lượng chi phí lao động xã hội nhỏ nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội
2.1.3.2 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn là tương quan so sánh giữa lượng kết quả thu được và lượng chi phí bỏ ra trong một thời gian nhất định của một loại rau an toàn nào đó đạt được Khi xác định hiệu quả kinh tế chúng ta cần phải xem xét và kết hợp chặt chẽ giữa lượng tuyệt đối và lượng tương đối qua đó biết được khối lượng quy mô mà người sản xuất đạt được cũng như kết cấu tốc độ phát triển của loại rau an toàn Tuy nhiên khi tiến hành sản xuất chúng ta phải căn cứ vào mục tiêu do xã hội đặt ra bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường hiện này thì điều quan tâm nhất của các nhà sản xuất ra những loại rau an toàn với chi phí ít nhất mà đem lại hiệu quả cao nhất
Hiệu quả kinh tế được tính bằng cách so sánh kết quả sản xuất thu được với lượng chi phí để sản xuất ra sản phẩm rau an toàn đó.Thể hiện qua dạng thức thứ nhất của hiệu quả sau:
H =Q/C MaxTrong đó - H hiệu sản xuất
- Q là kết quả sản xuất (có thể là sản lượng, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận)
- C là tổng chi phí sản xuất
Trang 12Ý nghĩa: cho biết 1 đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đồng doanh thu, lợi nhuận.
Hiệu quả kinh tế là tối ưu khi đưa ra giá trị chỉ tiêu đó đạt đến cực đại (H đạt giá trị cực đại thì hoặc là tăng Q hoặc giảm C hoặc đồng thời tăng Q và giảm C Trong trường hợp sản xuất rau an toàn để H đạt cực đạt thì Tăng Q và giảm C là phương án khá thi làm cho lợi nhuận của người sản xuất rau an toàn tăng và chi phí sản xuất giảm đi, tạo lòng tin cho người sản xuất
Trong công thức trên ta thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa chi phí sản xuất rau an toàn với kết quả sản xuất thu được, hiệu quả sản xuất có mối quan hệ tỷ lệ với sản xuất Tuỳ thuộc vào mục đích đối tượng nghiên cứu mà chúng ta lựa chọn chỉ tiêu tính toán đánh gía cho phù hợp Gồm các chỉ tiêu như: hiệu quả sử dụng một đồng vốn hay một đồng chi phí, hiệu quả một đơn vị diện tích đất, hiệu quả một đơn vị lao động đầu tư Nâng cao hiệu quả kinh tế là làm tăng lượng giá trị của các chỉ tiêu trên
Kết quả kinh tế sản xuất rau an toàn được xác định bằng hiệu số giữa giá trị kết quả được của sản xuất rau an toàn và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Thể hiện qua dạng thức thứ hai của kết quả kinh tế sau:
H = Q - CCông thức này cho ta nhận biết được quy mô hiệu quả của đối tượng nghiên cứu Nó được thể hiện bởi nhiều chỉ tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào phạm vi tính toán
Hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn được xác định bằng tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả đạt được so với phần tăng thêm của chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó hay là mối quan hệ tỷ số giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung Thể hiện qua dạng thứ ba của hiệu quả kinh tế
H = Qt - Q0 = QÄ Max
Kt - K0 KÄ
- Qt và Q0 là lượng kết quả ở 2 thời kỳ có nội dung kinh tế khác nhau
- Kt và K0 là lượng chi phí ở hai thời kỳ có nội dung kinh tế khác nhau
- QÄ là mức gia tăng kết quả
- KÄ là mức gia tăng chi phí để tạo nên mức gia tăng kết quả
- H là hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn so sánh giữa 2 thời kỳ hay có nội dung kinh tế khác
Ý nghĩa: công thức trên cho biết một đồng chi phí bổ sung tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, lợi nhuận bổ sung
Trang 13Dạng thứ ba của hiệu quả kinh tế có nội dung rất quan trọng đặc biệt được sử dụng đánh giá hiệu quả kinh tế của tiến bộ kỹ thuật và vốn đầu tư
2.1.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
+ Diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn
+ Giá trị sản xuất: GO (Gross output) là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường một năm), đây là tổng thu của hộ
GO = ∑Qi*Pi
Qi: Là khối lượng sản phẩm loại i
Pi: Là giá của sản phẩm loại i
+ Chi phí trung gian (IC): chi phí trung gian là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của từng tác nhân Chi phí trung gian được thể hiện bằng công thức:
IC = ∑Cj x GjTrong đó: Cj: số lượng đầu tư của đầu vào thứ j
Gj: đơn giá đầu vào thứ jTrong sản xuất rau an toàn Cj là: Giống, phân bón, thuốc BVTV, chi phí khác (phí thuỷ lợi, tiền làm đất, công cụ, dụng cụ sản xuất, tiền điện…), tiền thuê lao động ngoài,đất trồng rau, tiền thuế đất (trong số các hộ điều tra không có hộ nào
sử dụng lao động thuê, thuê đất để trồng rau nên tiền thuê lao động, thuê đất bằng 0, thuế đất nông nghiệp được miễn, chúng tôi không hạch toán trong đề tài này)
Gj là: đơn giá các chi phí trung gian sử dụng trong sản xuất rau an toàn
+ Giá trị gia tăng: VA (Value Added): là phần giá trị tăng thêm của một quá trình sản xuất kinh doanh VA được thể hiện bằng công thức:
VA = GO - ICCác bộ phân của giá trị gia tăng VA bao gồm:
- Chi phí công lao động (W): W là một phần của giá trị gia tăng Sử dụng phương pháp phân tích kinh tế trong nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng đơn giá tính ngày công lao động do phòng Lao động thương binh xã hội cung cấp Đơn giá này được tính căn cứ vào mức lương tối thiểu nhà nước quy định, giá tiền công thực
tế, chi phí để tái sản xuất, sức lao động và trượt giá tăng trưởng
- Khấu hao TSCĐ: do trong sản xuất rau an toàn TSCĐ có giá trị không lớn nên chúng tôi không tính riêng phần khấu hao TSCĐ vào đề tài này
Trang 14+ Lợi nhuận: TPr = GO -TC
GO là giá trị sản xuất
TC là tổng chi phí
* Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả
Để đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp người ta dùng nhiều phương pháp đánh giá và chỉ tiêu khác nhau, trong phương pháp thường dùng là:
- Tính hiệu quả theo chi phí trung gian:
+ Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí trung gian: GO/IC
Qua chỉ tiêu này ta thấy bỏ ra một đồng chi phí trung gian thì thu lại được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất Chỉ tiêu nay càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh tế mang lại càng cao
+ Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí trung gian (TVA): tỷ suất GTGT theo chi phí trung gian là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của đầu tư trong sản xuất kinh doanh, TVA được thể hiện bằng công thức:
TVA = VA/ICQua chỉ tiêu này cho thấy: cứ bỏ ra một đồng vốn vào sản xuất thì sẽ thu được bao nhiêu đồng GTGT TVA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư về mặt chất lượng, TVA
càng lớn thì sản xuất nông nghiệp càng có hiệu quả cao Đây là cơ sở rất quan trọng cho việc ra quyết định sản xuất
+ Tỷ suất giá trị lợi nhuận theo chi phí trung gian: TPr/IC
- Tính hiệu quả kinh tế theo công lao động:
Năng suất lao động: là số lượng hoặc giá trị của yếu tố đầu ra trong một đơn
vị thời gian
Năng suất lao động = GO/CLĐ
Về phương pháp tính toán: đáng lưu ý khi tính toán chỉ tiêu này là việc xác định chính xác lượng hao phí sức lao động Thông thường, để tính toán chính xác được công lao động người ta phải quy đổi từ giờ công ra ngày công theo quy định 8 giờ làm việc bằng 1 công lao động
+ Tỷ suất giá trị gia tăng theo công lao động: VA/CLĐ
+ Tỷ suất giá trị lợi nhuận theo công lao: TPr/CLĐ
- Khả năng tạo công ăn việc là cho người lao động để nâng cao thu nhập, số việc làm được tạo ra bởi phát triển sản xuất rau an toàn
Trang 15- Nâng cao trình độ dân trí, thay đổi cách nghĩ và cách làm của người dân
- Góp phần tích cực vào thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước như: xoá đói, giảm nghèo, bài trừ tệ nạn xã hội, kế hoạch hoá gia đình… Số hộ nghèo giảm, số hộ giàu tăng lên do sự phát triển sản xuất rau an toàn
- Góp phần xây dựng một môi trường sinh thái bền vững cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong vùng
2.1.5 Khái niệm và đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản xuất rau an toàn
* Khái niệm về rau an toàn
Theo quan điểm của hầu hết nhiều nhà khoa học cho rằng:
Rau an toàn là rau không dập nát, úa, hư hỏng, không có đất, bụi bao quanh, không chứa các sản phẩm hoá học độc hại; hàm lượng NO3, kim loại nặng, dư lương thuốc bảo vệ thực vật cũng như các vi sinh vật gây hại phải được hạn chế theo các tiêu chuẩn an toàn và được trồng trên các vùng đất không bị nhiễm kim loại nặng, canh tác theo những quy trình kỹ thuật được gọi là quy trình tổng hợp, hạn chế được sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ở mức tối thiểu cho phép
* Các nguyên tắc chung của sản xuất rau an toàn
Chỉ dùng phân hữu cơ: phân chuồng, phân rác, phân xanh, các chế liệu của lò
mổ, bùn ao… Không dùng những loại phân hoá học dễ tiêu Nếu cần, chỉ dùng phân khoáng loại khó tiêu: phốt phát tự nhiên, bột đá, bột tảo biển, bột đô lô mít… Tuyệt đối không dùng phân đạm, lân, kali, dễ tiêu nhất là phân đạm Đạm sẽ do hoạt động của các vi sinh vật trong đất cung cấp Lân do phốt phát tự nhiên và bột đá cung cấp Kali do phân hữu cơ cung cấp, cùng với một số loại thiểu nguyên tố
Không dùng thuốc hoá học trừ sâu, trừ bệnh trừ cỏ Phát huy khả năng tự đề kháng của cây trồng Phòng trừ sinh học, vệ sinh đồng ruộng Nếu cần thì dùng thuốc thảo mộc
Làm đất cần cải thiện đất thuận lợi cho hoạt động vi sinh vật học trong đất, làm đất nông 10-15 cm Không cầy sâu lật đất, vùi phân xuống sâu, bón ruộng thúc đẩy họat động của vi sinh vật Làm đất tối thiểu, luân canh hợp lý [4]
Viện Nghiên Cứu Rau Quả đã xây dựng một quy trình chung mang tính nguyên tắc trong sản xuất rau an toàn [12]
- Chọn đất
Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của rau Tốt nhất là đất cát pha hoặc thịt nhẹ, hoặc đất thị trung bình có
Trang 16tầng canh tác dày (20 - 30cm) Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200m Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nặng nhưng không được tồn dư hoá chất độc hại
- Nước tưới
Vì trong rau nước chứa trên 90% nên nước tưới ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Cần sử dụng nước sạch để tưới Nếu có điều kiện nên sử dụng nước giếng khoan nhất là đối với vùng trồng rau xà lách và các loại rau gia vị Nếu không có giếng, cần dùng nước sông, ao hồ trong không ô nhiễm Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón lá, thuốc BVTV Tuyệt đối không dùng trực tiếp nước thải công nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư, nước ao mương tù đọng Nguồn nước phải được giám sát hàng năm (theo yêu cầu tiêu chuẩn Việt Nam - TCVN 6773:2000)
- Giống
Chỉ gieo những hạt tốt và trồng cây con khoẻ mạnh không có mầm bệnh Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống Giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật Hạt giống trước khi gieo trồng cần được xử lý hoá chất hoặc nhiệt Trước khi đưa cây con ra ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu hại sau này
- Phân bón
Toàn bộ phân chuồng được ủ hoai mục và phân lân hữu cơ vi sinh được dùng
để bón lót Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau Trung bình để bón lót dùng 15 tấn phân chuồng + 300kg lân hữu cơ vi sinh cho 1ha Lượng phân hoá học tuỳ thuộc yêu cầu sinh lý của cây, bón lót 30%N + 50%K Số đạm và kali còn lại dùng để bón thúc
Tuyệt đối không dùng phân chuồng chưa hoại mục để loại trừ vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho rễ cây và để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng với các nhóm vi sinh vật trong thành phần phân vi sinh đang cần N để phân giải nốt phân chuồng tưới
Với những loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 60 ngày) bón thúc 2 lần Kết thúc bón trước khi thu hoạch 7 - 10 ngày Với các loại rau có thời gian sinh trưởng dài, có thể bón thúc 3 - 4 lần, kết thúc bón phân hoá học trước khi thu hoạch
10 - 12 ngày
Trang 17Có thể sử dụng các loại phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng ngay khi mới bén rễ Có thể phun 3 - 4 lần tuỳ từng loại rau, nồng độ theo hướng dẫn trên bao bì chế phẩm Kết thúc phun ít nhất trước thu hoạch 5 - 10 ngày Nếu sử dụng phân bón lá thì giảm phân hoá học 30 - 40% Tuyệt đối không dùng các loại phân tươi và nước phân pha loãng tưới cho rau
- Bảo vệ thực vật
Không sử dụng thuốc hoá học BVTV thuộc nhóm độc I và II Khi thật cần thiết có thể sử dụng thuốc nhóm III và IV Chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với ký sinh thiên địch Kết thúc phun thuốc hoá học trước khi thu hoạch ít nhất 5 - 10 ngày Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học (BT, hạt củ đậu…), các chế phẩm thảo mộc, các ký sinh thiên địch để phòng bệnh Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM): luân canh cây trồng hợp lý, sử dụng giống tốt, chống chịu bệnh, chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý, bắt sâu bằng tay, dùng bẫy sinh học trừ bướm, sử dụng các chế phẩm sinh học, thường xuyên vệ sinh, kiểm tra đồng ruộng để theo dõi, phát hiện sâu bệnh, tập trung phòng trừ sớm…
- Thu hoạch, bao gói
Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng… Rau được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo nước rồi cho vào bao, túi sạch trước khi mang tiêu thụ tại các cửa hàng Trên bao bì phải có phiếu bảo hành, có địa chỉ nơi sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng
2.1.6 Vai trò của rau an toàn
- Vai trò đối với người tiêu
Trong cuộc sống con người, rau là thức ăn không thể thiếu, là nguồn cung cấp vitamin phong phú nên nhiều thực phẩm khác không thể thay thế được như các loại vitamin A, B, C, E, K, các loại axít hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần cho sự phát triển của cơ thể con người Rau không chỉ cung cấp vitamin và khoáng chất mà còn có tác dụng chữa bệnh Chất xơ trong rau có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, huyết áp, bệnh đường ruột, vitamin C giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày và lợi Vitamin D trong rau giàu caroten có thể hạn chế những biến cố về ung thư phổi [7]
Một số nhà dinh dưỡng của Việt Nam cũng như của thế giới nghiên cứu về khẩu phần thức ăn cho người Việt Nam đã tính rằng hàng ngày chúng ta cần khoảng
1300 - 1500 calo năng lượng để sống và hoạt, tương đương với lượng rau dùng hàng ngày TB cho 1 người vào khoảng 250 - 300gr/ngày (tức khoảng 7,5 -
Trang 189kg/người/tháng) Nghiên cứu của nhà khoa học Pháp, ông Doralle (1942) đã cho biết: lượng rau phải cung cấp TB/người khoảng 360 gr/ngày (tức khoảng 10,8 kg/tháng/người).
Rau an toàn có hàm lượng nitrat, kim loại nặng, vi sinh vật, dư lượng thuốc BVTV trong rau ở trong giới hạn cho phép không ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu Một số chủng loại rau trái vụ đã sản xuất quanh năm làm phong phú thêm chủng loại rau, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn cho bữa ăn gia đình
- Vai trò đối với người sản xuất
Cây rau còn là cây để trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tận dụng đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất
Sản xuất RAT đã làm thay đổi cách sản xuất truyền thống của người nông dân, bảo vệ sức khỏe trong quá trình sản xuất
Sản xuất RAT đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, bình quân 1 sào canh tác 1 năm cho thu nhập khoảng 13 - 15 triệu đồng, trừ chí phí còn lãi 8 -
10 triệu đồng Nghề trồng, sơ chế và chế biến rau cũng thu hút lớn lực lượng lao động vốn đang dư thừa ở nông thôn hiện nay, 1ha trồng rau an toàn sử dụng thường xuyên từ 20 - 30 lao động
-Vai trò đối với cộng đồng
Việt Nam là một nước nhiệt đới có thể trồng rau quanh năm, ngành rau nước ta
đã phát triển từ lâu và đóng góp khoảng 3% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp Phát triển rau có ý nghĩa lớn về kinh tế xã hội: tạo việc làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên cho hộ gia đình Rau là cây ngăn ngày, có những loại rau như cải canh, cải
củ từ 30-40 ngày đã cho thu hoạch, rau cải bắp 75-85 ngày, rau gia vị chỉ 15-20 ngày một vụ… cho nên một năm có thể trồng được 2-3 vụ, thậm chí 4-5 vụ [16]
Rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng và là nguồn nguyên liệu cho chế biến Sản xuất rau có ý nghĩa trong việc mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân trên con đường CNH-HĐH Sản xuất rau tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như cải bắp, cà chua, ớt, dưa chuột
Trang 19Hình 2.2: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Mục tiêu của ngành sản xuất rau những năm tới theo đề án phát triển rau - quả - hoa cây cảnh đến năm 2015, bên cạnh việc giữ mức rau bình quân đầu người hiện nay (115 - 200kg/năm) là: phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu rau quả lên 760 triệu USD vào năm 2010, xuất khẩu rau đạt 200.000 tấn tương đương 155 triệu USD đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006 - 2010
là 23 - 25% và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,2 tỷ USD vào năm 2015 [11]
Trang 20Tóm lại, sản xuất rau có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng, thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho chế biến và sản phẩm cho xuất khẩu, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân, giải quyết việc làm cho ngừơi lao động, tận dụng đất đai, điều kiện sinh thái.
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.2.1 Tình hình sản xuất rau an toàn trên Thế Giới
Theo Trung tâm Rau quả thế giới, rau là loại cây có tốc độ tăng diện tích đất trồng nhanh nhất trên thế giới Nhiều khu vực trước đây trồng ngũ cốc và bông sợi hoặc bỏ hoang thì này đã chuyển sang trồng các loại rau có giá trị kinh tế (Châu Á cũng là khu vực có tốc độ tăng diện tích đất trồng rau cao nhất thế giới hiện nay Trung Quốc là một quốc gia phát triển rộng nhất châu lục, tốc độ tăng trưởng của ngành rau gần bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này) [9]
Trong vòng 20 năm qua, sản xuất rau của Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 6%/năm So với mặt bằng chung của các nước đang phát triển trên thế giới, tốc độ tăng trưởng của ngành rau Trung Quốc cao hơn tới 3%/năm
Tính chung toàn thế giới, tốc độ tăng diện tích đất trồng rau trung bình đạt 2,8%/năm, cao hơn 1,05%/năm so với diện tích đất trồng cây ăn trái, 1,33%/năm so với cây lấy dầu, 2,36%/năm so với cây lấy rễ, 2,41%/năm so với cây họ đậu Trong khi đó, diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi lại giảm tương ứng là 0,45%/năm
và các loại rau củ khác sẽ chỉ tăng khoảng 7 - 8% Giá rau tươi sẽ tiếp tục tăng với tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ nhưng giá rau chế biến sẽ chỉ tăng nhẹ, thậm chí giá khoai tây có thể sẽ giảm nhẹ so với giai đoạn 2002 - 2004
Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/năm, các nước phát triển như Pháp, Đức, Canada, Mỹ vẫn là những nước nhập khẩu rau chủ yếu Các nước
Trang 21đang phát triển đặc biệt Trung Quốc, Thái Lan và các nước Nam bán cầu vẫn đóng vai trò chính cung cấp rau tươi trái vụ.
Đối với các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU 15, hàng năm phải nhập khẩu một lượng rau tươi khổng lồ thì chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm rau quả là điều quan tâm hàng đầu Vì vậy, từ những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, quân đội Mỹ đã xây dựng một quy mô lớn ở Nhật Bản để sản xuất rau an toàn trong dung dịch, năng suất cao gấp 3 lần so với trồng trên đất và năng suất Hành cao cấp 2 lần so với trồng đất
Từ năm 1983 - 1984 ở Nhật Bản người ta đã trồng rau an toàn với công nghệ không dùng đất tăng khoảng 500 ha, năng suất cà chua đạt 130 - 140 tấn/ha/năm, dưa leo 250 tấn/ha/năm và xà lách đạt 700 tấn/ha/năm
Ở Pháp, từ năm 1975 người ta đã ứng dụng công nghệ này không những trồng rau mà trồng cả hoa với quy mô 300ha Theo FAO, năm 2007 diện tích trồng rau tươi của Pháp là 21.000 ha với năng suất đạt được là 245.238 kg/ha tăng gấp 80% so với năm 2004 Đây là một bước nhảy vọt trong quá trình sản xuất nông nghiệp của Pháp
Tại Gabông với kỹ thuật trồng không dùng đất, năng suất dưa tây đạt 3 kg/m2
sau trồng 75 ngày, dưa chuột 7 kg/m2 sau trồng 90 ngày
Tại Anh, người ta xây dựng 1 hệ thống kỹ thuật màng mỏng dung dịch sử dụng nhiệt thừa của nhà máy điện với diện tích 8,1ha để trồng cà chua [1]
Ở Singapore, người ta đã trồng các loại rau diếp, cải bắp, cà chua, su hào và một số loại rau ôn đới khác với kỹ thuật Aeropnic Trước đây, loại rau ôn đới trồng
ở Singapore rất khó khăn, nhưng với kỹ thuật mới này thì các loại rau hiện nay được trồng tương đối dễ dàng Các loại rau ôn đới nếu được được trồng tương đối
dễ dàng Các loại rau ôn đới nếu được trồng theo kỹ thuật Aeropnic thì chỉ tốn một nửa thời gian sinh trưởng so với trồng đất tự nhiên
Ở Bắc Âu, năm 1991 đã có 400 ha trồng rau trong dung dịch, ở Mỹ có 220
ha trồng trong nhà kính, trong đó có 75% diện tích rau được trồng bằng công nghệ không dùng đất Hà Lan có 3.600 ha và Nam phi có 400 ha trồng rau trong dung dịch
Trang 22Hiện nay, công nghệ sản xuất RAT trồng rau không dùng đất theo công nghệ
ở Mỹ đã được nhiều tiểu bang áp dụng Cà chua có thể trồng quanh năm với diện tích khoảng 266,4 ha, năng suất đạt 500 tấn/ha/năm (18 kg/cây), thời gian cho thu hoạch từ 7 - 8 tháng Dưa chuột đạt 700 tấn/ha/3vụ/năm [1]
Theo thực nghiệm của Hồ Hữu An cùng Jesen M H Patrica A Rorabaugh tại trường Đại học TH A2 (Mỹ), năng suất dưa chuột đạt 212,8 tấn/ha/vụ (nếu trồng
3 vụ/năm có thể đạt 640 tấn/ha/năm)
Phải thừa nhận rằng tuỳ chi phí đầu tư ban đầu đối với sản xuất theo công nghệ cao là lớn hơn rất nhiều so với sản xuất rau ngoài đồng, nhưng sản phẩm theo công nghệ cao đã có lợi thế hơn, đặc biệt là sản xuất rau trong nhà lưới, nhà kính với một không gian được thu hẹp hơn nhiều lần so với sản xuất ngoài đồng, người
ta dễ dàng hơn trong công tác BVTV, chăm sóc tốt hơn cùng hệ số vòng quay của đất cao đã dẫn đến năng suất rau trong nhà kính cải thiện hơn nhiều nên góp phần
hạ giá thành, đẩy lùi nguy cơ ô nhiễm trong rau Dinh dưỡng, phân bón cho sản xuất được quản lý, bên cạnh đó người ta đã chủ động bố trí sản xuất rau tránh xa các tác nhân gây ô nhiễm do khói bụi, nước thải và vi sinh bệnh cho người
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất rau như: kỹ thuật thuỷ canh, trồng rau trong điều kiện có thiết bị che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, màng phủ mỏng nông nghiệp) và trồng ở điều kiện ngoài đồng theo quy trình sản xuất nghiêm ngặt đối với từng loại rau và phù hợp với từng vùng sinh thái
Nói như vậy, không có nghĩa là sản xuất rau theo kỹ thuật công nghệ cao chiếm ưu thế tuyệt đối Cho đến nay, sản xuất rau ngoài đồng vẫn chiếm phần lớn diện tích lớn và sản lượng rau của thế giới và có lẽ sẽ chẳng có gì thay thế được hình thực sản xuất này Chặng hạn như sản xuất rau trong nhà kính chỉ thực sự có nghĩa trong mùa đông ở các nước xứ lạnh, trong khi sản xuất rau ngoài đồng vẫn có thể cho năng suất cao với chất lượng đảm bảo và giá thành hạ nếu được áp dụng các quy trình nghiêm ngặt Thêm vào đó ngày nay với công nghệ bảo quản, chế biến tiên tiến người ta có thể dự trữ và cung cấp rau ăn cho cả mùa đông
Trang 232.2.2 Tình hình sản xuất rau an toàn tại Việt Nam
Rau là ngành hàng sản xuất đa chủng loại có địa bàn phân bố trên hầu hết khắp lãnh thổ cả nước với đa dạng các giống rau có khả năng thích nghi với điều kiện nóng ẩm mùa hè hoặc lạnh khô mùa đông hoặc những giống rau trái vụ, rau nhập nội có nguồn gốc ôn đới
Nước ta được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, miền Bắc có 4 mùa rõ rệt, miền Nam có 2 mùa (khô và mưa) chính vì thế Việt Nam có khả năng sản xuất đủ rau cho tiêu dùng và xuất khẩu, giá thành tại ruộng rẻ
Sản xuất rau ở nước ta được tập trung ở 2 vùng chính:
Vùng rau tập trung, chuyên canh ven thành phố, thị xã và khu công nghiệp chiếm 46% diện tích và xấp xỉ 45% sản lượng Sản xuất rau cung cấp cho thị trường nội địa là chính
Chủng loại rau ở đây rất phong phú: 60 - 80 loại trong vụ đông xuân, 20- 30 loại trong vụ hè thu
Vùng rau hàng hoá, luân canh với cây lương thực tại các vùng đồng bằng lớn, chiếm 54% diện tích và 55% sản lượng Rau ở đây tập trung cho chế biến, xuất khẩu và điều hoà, lưu thông trong nước
Theo số liệu thống kế, diện tích trồng rau của cả nước ta năm 2008 là 705.882 ha, tăng 9,61% so với năm 2006 (643.970ha)
Hiện nay, cả nước có 43 tỉnh, thành phố xây dựng quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn, với diện tích khoảng 60 nghìn ha, chiếm 8,5% diện tích trồng rau
“Theo Cục trồng trọt (Bộ NN - PTNT) đến năm 2008 diện tích quy hoạch sản xuất rau an toàn của cả vùng đồng bằng sông Hồng mới đạt 14816 ha (chiếm 13% tổng diện tích rau), nhưng diện tích được chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau
an toàn chỉ có 6.755ha So với năm 2006, diện tích rau an toàn khu vực này tăng 4,6%” [18]
Trang 24Hình 2.3: Sơ đồ các vùng trồng rau chính của
Việt Nam năm 2008
Trang 25* Nghiên cứu xây dựng mô hình và tổ chức triển khai chương trình rau an toàn tại một số địa phương:
* Thành phố Hà Nội là nơi sớm triển khai chương trình rau an toàn với sự tham gia của các ngành Khoa học, Công nghệ, Nông nghiệp, Thương mại Từ 1996
- 2004 thành phố đã đầu tư hơn 10 tỷ đồng cho công tác nghiên cứu khoa học, quy hoạch vùng, xây dựng mô hình trình diễn và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất rau an toàn Cho đến nay đã có 28 mô hình sản xuất rau an toàn với quy mô từ 1.000 m2 - 10 ha được xây dựng tại 400 vùng sản xuất rau an toàn của Hà Nội với nội dung đa dạng: Mô hình sản xuất rau trong nhà lưới, nhà vòm; Mô hình trồng rau thuỷ canh; Mô hình trồng rau quanh năm, an toàn, Cũng trên địa bàn Hà Nội, các
dự án quốc tế như “Rau hữu cơ” của tồ chức Phát triển Nông Nghiệp Đan Mạch (ADDA), “Rau ngoại ô” của CIRAD (Pháp) thực hiện các mô hình trình diễn, tập huấn kỹ thuật IMP, trồng rau an toàn quanh năm giai đoạn 1998 - 2003 Hiện nay,
Hà Nội có khoảng trên 11.000 ha đất trồng rau, nhưng mới chỉ có khoảng hơn 2.000
ha RAT, tập trung chủ yếu ở vùng Hà Nội cũ
UBND thành phố Hà Nội vừa có quyết định phê duyệt đề án sản xuất và tiêu thụ rau an toàn (RAT) trên địa bàn thành phố giai đoạn 2009 - 2015 Tổng vốn đầu
tư dự kiến hơn 900 tỷ đồng, trong đó, ngân sách thành phố chi hơn 700 tỷ đồng
Theo đề án này, đến năm 2015, thành phố sẽ có 5.000 - 5.500 ha RAT, được xây dựng ở 118 vùng tập trung được đầu tư về cơ sở hạ tầng, có cán bộ kỹ thuật cắm chốt để kiểm tra, hướng dẫn bà con trong quá trình sản xuất [10]
* Tỉnh Lâm Đồng
Từ lâu Lâm Đồng đã nổi tiếng với nghề trồng rau, đặc biệt là huyện Đơn Dương và tp Đà Lạt Đây là một vùng trồng rau quan trọng của Việt Nam Cây rau thương phẩm Lâm Đồng sản xuất hàng năm với diện tích trồng lên đến trên 35.000
ha, sản lượng gần 934 ngàn tấn để cung cấp cho các tỉnh phía Nam, cũng như tham gia xuất khẩu vào thị trường các nước châu Á
Năm 2004, Đà Lạt đã có một quy trình sản xuất rau sạch đầu tiên được Hội đồng Khoa học công nghệ cấp nhà nước nghiệm thu và là quy trình sản xuất rau sạch đầu tiên ở Việt Nam được Tổ chức Lương nông Liên Hiệp Quốc (FAO) công nhận Hiện tại, Lâm Đồng mới chỉ có trên 10 cá nhân, đơn vị đăng ký và được cấp chứng nhận rau an toàn Trong đó có 6 doanh nghiệp được trao chứng nhận sản xuất
Trang 26rau an toàn quốc tế: Công ty Hùng Thiên và Ánh Ban Mai, trao chứng nhận Global Gap (tiêu chuẩn đảm bảo cho trang trại nông nghiệp) cho 4 doanh nghiệp: Công ty Ánh Ban Mai, trang trại Langbiang, Mai Nguyên, Hải Đức và 20 hộ nông dân do Công ty Khanh Cát thành lập cũng được trao chứng nhận Việt GAP
Sau 4 năm triển khai (2004 - 2008), Chương trình nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) đã thực sự làm chuyển biến nhận thức trong canh tác của bà con nông dân và tác động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Lâm Đồng Việc xây dựng các mô hình điểm nhà kính ở Đơn Dương, Tp Đà Lạt đã có sức lan toả và nhân rộng các mô hình sản xuất rau chất lượng cao ở nhiều địa phương Nếu năm
2005 Lâm Đồng chỉ mới xây dựng được 6 mô hình thì đến năm 2007 đã có 70 mô hình rau
Hiện nay, toàn tỉnh có 240 ha rau sản xuất trong nhà lưới, nhà kính và 1.235 ha diện tích rau sản xuất theo hướng NNCNC (chiếm trên 10% diện tích gieo trồng rau toàn tỉnh), 3.300 ha rau được sản xuất theo hướng an toàn Hiệu quả sản xuất của các mô hình sản xuất rau theo hướng NNCNC tăng lên rõ rệt, đạt từ 500 - 1.000 triệu đồng/ha
* Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những tỉnh, thành phố đầu tiên xây dự
án trồng rau an toàn Năm 2001, diện tích trồng rau an toàn gần 200 ha, cuối năm 2004, diện tích gieo trồng rau an toàn đạt hơn 5.000 ha, sản lượng đạt hơn 100.000 tấn Nhiều mô hình SX rau an toàn trong nhà lưới có thu nhập từ 150 - 180 triệu đồng/ha/năm cho các loại rau ăn lá, lãi gấp 10 lần so với trồng lúa
Năm 2007 thành phố quy hoạch 8.000 ha trồng rau an toàn Nắm bắt nhu cầu thị trường, nông dân đã phát triển sản phẩm mới: rau mầm, được người tiêu dùng (nhất là các nhà hàng, khách sạn) ưa dùng vì rau mầm là loại rau an toàn và bổ dưỡng do không dùng thuốc bảo vệ thực vật Trung tâm nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và khuyến nông thành phố thí nghiệm ở ba hộ: ông Quách Vĩnh Tấn, ông Thạch Thành và ông Trần Ngọc Toàn ở phường An Lạc, quận Bình Tân Sau ba tháng khảo sát, tỷ lệ nảy mầm đạt 90-95% Giá thành 13.000 đồng/kg, giá bán 30.000 đồng/kg (cây cải trắng) Ở quy mô gia đình, lợi nhuận thu về từ 400.000 đến 500.000 đồng/ngày Mỗi hộ chỉ cần vốn khoảng 10-15 triệu đồng, vòng quay rất nhanh, không đòi hỏi nhiều diện tích đất Lúc đầu, quận Bình Tân có 100 hộ trồng rau mầm, trong đó có mười hộ đã lập công ty sản xuất quy mô lớn, mỗi ngày cung
Trang 27cấp 300 kg hàng cho khách sạn, nhà hàng, quán ăn, giải quyết việc làm cho 30 lao động Hiện nay, các hộ nông dân ở Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Ðức đã trồng rau mầm với nhiều sản phẩm rau khác nhau, theo nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Phát triển rau mầm là tăng khối lượng rau an toàn hằng ngày cho thành phố Thành phố đang quy hoạch đến năm 2010 có 6.500 ha đất trồng rau mầm với sản lượng 600.000 tấn/năm.
Năm 2008, diện tích trồng rau an toàn ước đạt 10.000ha, tương đương 98% diện tích trồng rau quả các loại của TP (10.200ha) Sản lượng thu hoạch từ đầu năm đến nay ước đạt trên 180.000 tấn, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2007
2.2.3 Tình hình sản xuất rau an toàn huyện Văn Lâm
Hưng Yên là một tỉnh ở cửa ngõ phía đông bắc thủ đô Hà Nội, nằm giữa khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Với hệ thống đường thuỷ, đường bộ thuận lợi, tương lai không xa Hưng Yên sẽ là một tỉnh có nền công nghiệp phát triển; thành phố Hưng Yên sẽ là một trong những khu đô thị vệ tinh của
Hà Nội Tại đây, công nghiệp đang trên đà phát triển gắn liền với sự gia tăng dân số
và nhu cầu về các loại hàng hoá tiêu dùng, đặc biệt là các loại nông sản thực phẩm
an toàn, trong đó có sản phẩm rau xanh Mặt khác, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa và hình thành các khu công nghiệp Điều này tạo nên nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, một hậu quả khó tránh khỏi trong giai đoạn hiện tại và tương lai Để có sản lượng rau hàng hoá đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn phục vụ nội tiêu và xuất khẩu thì một trong những giải pháp hữu hiệu nhất là ứng dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật sản xuất nhằm đa dạng hoá chủng loại, nâng cao năng suất, chất lượng sản phảm rau an toàn tại các vùng trồng rau truyền thống và các vùng có điều kiện sản xuất rau hàng hoá của Hưng Yên
Thời gian qua, các ngành chức năng đã tích cực đầu tư xây dựng mô hình trồng rau an toàn; tập huấn, hướng dẫn nông dân trồng rau Điển hình như Sở KHCN phối hợp với Viện Nghiên cứu Rau quả hỗ trợ nông dân trong tỉnh trồng 23 ha rau an toàn với 27 chủng loại rau mới và rau truyền thống, xây dựng nhà lưới, vườn ươm nhân giống và vườn trồng rau thương phẩm, cử cán bộ kỹ thuật giám sát, hướng dẫn các hộ trồng, thu hoạch theo quy trình Các huyện Khoái Châu, Văn Lâm cũng đầu
tư, khuyến khích nông dân mở rộng vùng trồng rau an toàn
Trang 28Để tạo điều kiện cho nhân dân Văn Lâm, nhân dân Khoái Châu chủ động công nghệ về giống, kỹ thuật sản xuất rau an toàn đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ tại chỗ phục vụ các bếp ăn tập thể, công nhân khu công nghiệp, học sinh, sinh viên trường chuyên nghiệp đóng trên địa bàn và nhân dân tại địa phương, các nhà máy công nghiệp thực phẩm đóng trên địa bàn tỉnh, Sở KHCN và UBND huyện Văn Lâm đề xuất và được UBND tỉnh quyết định cho phép chọn Thị trấn Như Quỳnh (Văn Lâm), xã Thuần Hưng (Khoái Châu) với lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi cho việc tiêu thụ, nhân dân có truyền thống lâu năm và nhiều kinh nghiệm trong sản xuất rau triển khai thực hiện dự án “Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn” giai đoạn 2005- 2010.
Trong xu thế phát triển chung của xã hội, nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao ngày càng lớn Nắm bắt được thị hiếu đó, nông dân Thôn Ngô Xuyên - Như Quỳnh - Văn Lâm đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng tập trung sản xuất rau an toàn chất lượng cao Đây là điểm "nhấn" trong chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá mà huyện đã đề ra trong giai đoạn 2005 - 2010
Năm 2005 có 29 hộ tham gia trồng được 1ha, tổng sản lượng 34,64 tấn Để tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân sản xuất Phòng NN&PTNN, UBND thị trấn, HTX SXDVNN hỗ trợ kinh phí 40.000.000đ để xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ cho khu vực sản xuất rau
Năm 2006, diện tích trồng rau an toàn là 2,5ha với 43 hộ tham gia, sản lượng đạt 81,83 tấn Tổng kinh phí hộ trợ của tỉnh và huyện là 72.019.000đ xây dựng nhà lưới, nhà chờ, công điều hành và một số vật tư, vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch
Năm 2007, diện tích trồng là 5ha với các loại rau chủ yếu là: cà chua, cải bắp, súp lơ, dưa chuột, sản lượng 168,29 tấn Sở KHCN tỉnh hỗ trợ 53.500.000 xây dựng 2.400 m2 nhà lưới
Năm 2008 diện tích trồng rau an toàn là 6,1ha, sản lượng đạt 202,23 tấn, số
hộ tham gia lên tới 121 hộ
Mô hình sản xuất an toàn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, bình quân 1 sào rau an toàn đạt từ 3,5 - 6,5 triệu/1sào/vụ Tạo việc làm thường xuyên cho khoảng hơn 300 lao động, môi trường đất, nước, không khí được bảo vệ Đây là hướng sản xuất nông nghiệp bền vững trong thời gian tới
Trang 292.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Thị trấn Như Quỳnh, cách Hà Hội 18 km, cách thành phố
Hưng Yên 45 km, cách Hải Phòng 78 km Với vị trí như vậy rất thuận lợi cho việc
đi lại cũng như giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hoá và tiếp thu các tiến bộ khoa học
kỹ thuật
Phía Bắc giáp với huyện Gia Lâm - Hà Nội
Phía Nam giáp với xã Đình Dù
Phía Đông giáp với xã Tân Quang
Phía Tây giáp với xã Lạc Đạo
Thị trấn Như Quỳnh với vị trí địa lý hết sức thuận lợi, có đường quốc lộ 5 chạy qua đồng thời có đường sắt Hà - Hải và đường thuỷ trên sông Bắc Hưng Hải, hội tụ đủ điều kiện để trở thành vành đai xanh cung cấp rau và các sản phẩm nông nghiệp đáp ứng nhu tiêu dùng của thị trường Hà Nội và các khu công nghiệp liền
kề, thúc đẩy cho sự phát triển sản xuất rau an toàn trong thời gian tới khi khai thác tối đa lợi thế này
* Khí hậu thời tiết: Thời tiết khí hậu chung của vùng đồng bằng sông Hồng:
Tổng tích ôn hàng năm 8.5750C, nhiệt độ trung bình năm là 23,50C, độ ẩm trung bình năm khoảng 87% Mùa hè nắng nóng và mưa nhiều, mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 (tập trung 85% lượng mưa trong năm), lượng mưa trung bình khoảng
1438 mm/năm, song vùng này ít chịu ảnh hưởng của bão lớn, mỗi năm có 4- 5 trận bão nhưng không lớn (cao nhất là cấp 7, cấp 8) Mùa đông lạnh và khô hanh, độ ẩm trung bình tháng có thể dưới 81 Đây là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển các loại rau trên đồng đất Ngô Xuyên
Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, thường có gió mùa đông Nam, nhiệt độ những ngày nóng nhất lên tới 41,50C Vào tháng 2, 3 thường có mưa dầm kéo dài,
độ ẩm cao, nếu gặp nhiệt độ cao, trời âm u, sâu bệnh sẽ phát triển nhanh ảnh hưởng đến sản xuất rau
Trang 30* Địa hình đất đai và thổ nhưỡng của Thị trấn Như Quỳnh
- Địa hình: Nhìn chung địa hình có xu hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông
Nam và tương đối bằng phẳng Đi sâu vào từng vùng nhỏ, địa hình khá phức tạp, độ cao thấp không đồng đều nhau ở dạng cục bộ xen kẽ kiểu làn sóng Do địa hình cao thấp cục bộ nên rất khó khăn trong công tác tưới tiêu
- Thổ nhưỡng: Toàn bộ đất đai của thị trấn là do phù sa sông Hồng bồi đắp,
nhìn chung đất đai của thi trấn khá thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Đất trồng trọt sau nhiều năm cải tạo, độ mặn chua đã giảm đi… ruộng đất của xã thị trấn thuộc đồng bằng phù sa sông Hồng bồi lắng có màu nâu nhạt, thành phần cơ giới trung bình, đất thịt pha cát có độ pH > 5,5 thành phần cơ giới thịt nặng và trung bình có pH < 4,5 - 5,5 ngoài ra còn rất ít diện tích có độ pH < 4,5 nằm giải giác tại vùng trũng trong khu vực
- Đất đai: Qua bảng 2.1 cho thấy tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn là
706.73 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp năm 2008 là 305.14 ha, chiếm 42,89% tổng diện tích đất tự nhiên Đất nông nghiệp có xu hướng giảm, bình quân 3 năm giảm 1,61% là do quá trình CNH-HĐH và đô thị hoá
Nhìn chung diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác hàng năm giảm xuống, trong khi đó số nhân khẩu và số lao động tăng lên do đó các chỉ tiêu bình quân về đất nông nghiệp và đất canh tác/nhân khẩu và lao động đều giảm qua các năm
Đất canh tác của thị trấn liên tục giảm qua các năm do dành đất cho phát triển các khu công nghiệp, trong đó có một diện tích khá lớn đất chuyên canh rau màu, ảnh hưởng điều quá trình quy hoạch đất trồng rau an toàn của thị trấn trong thời gian tới
Trang 31Bảng 2.1 Tình hình đất đai của thị trấn Như Quỳnh năm 2006 - 2008
Chỉ tiêu
Số luợng (ha)
Cơ cấu (%)
Số luợng (ha)
Cơ cấu (%)
Số luợng (ha)
Cơ cấu (%) 07/06 08/07
BQ 06- 08
1- Đất canh tác 255.57 36,16 250.34 35,43 247.86 35,07 97,95 99,01 98,48
4- Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 7.18 1,06 7.18 1,06 7.93 1,12 100 110,4
101,36
5
101,16
100,76
Trang 33* Dân số và lao động của thị trấn Như Quỳnh năm 2006 - 2008
Lao động là yếu tố cơ bản, quan trọng của mọi quá trình sản xuất, đặc biệt ngành nông nghiệp cần một số lượng lao động sống rất lớn Thị trấn Như Quỳnh là thị trấn ven đô, tốc độ tăng dân số cơ học là khá lớn, số nhân khẩu và lao động ngày càng có xu hướng tăng lên Qua điều tra cho thấy tổng số nhân khẩu của thị trấn năm 2008 là 8246 khẩu trong đó khẩu nông nghiệp năm 2008 chiếm 72,39%, khẩu phi nông nghiệp chiếm 27,87% và có hướng giảm, đây là xu hướng phát triển tất yếu và nó phù hợp với quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
Về lao động, năm 2008 có 5415 lao động trong độ tuổi, chiếm 65,67% tổng
số nhân khẩu Nhưng nhìn vào cơ cấu lao động cho thấy cơ cấu lao động nông nghiệp đang có xu hướng giảm mạnh Lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng tỷ trọng, năm 2008 chiếm 30,91%, bình quân hàng năm tăng 2,93% Nguyên nhân là
do trên địa bàn huyện đã có nhiều nhà máy, công ty đi vào hoạt động, do đó một số lao động nông nghiệp đã chuyển sang làm công
* Điều kiện cơ sở hạ tầng
- Hệ thống giao thống đường bộ của thị trấn khá phát triển Phía đông thị trấn
có đường quốc lộ số 5 chạy qua với chiều dài là 7 km, Như Quỳnh còn có tuyến đường WB2 của huyện chạy qua với chiều dài 5,6 km và đường 19 dài 8 km, đường liên thôn, liên xã dài 22,8 km Trong những năm qua, hệ thống giao thông của thị trấn được đầu tư khá lớn, các tuyến đường trong thị trấn đã được nâng cấp, cứng hoá bằng cách trải nhựa, bê tông hoá hoặc xây gạch Như vậy, hệ thống giao thống của thị trấn khá thuận lợi, đáp ứng tốt hơn việc đi lại, giao lưu buôn bán hàng hoá
- Hệ thống thuỷ lợi: tương đối hoàn chỉnh, có 1 trạm bơm tưới với tổng công suất là 8.320 m3/h, có 2 trạm bơm tiêu với tổng công suất là 900 m3/h và có 3 trạm bơm kết hợp tưới tiêu với tổng công suất là 1.080 m3/h Toàn thị trấn có 5 máy bơm
di động với công suất là 40 m3/h/máy Hệ thống kênh mương thường xuyên được tu
bổ, hệ thống mương máng được bê tông hoá tỷ lệ lệ cao đạt 65%
- Giáo dục và y tế: Đảng bộ và nhân dân xã thị trấn quan tâm đến việc nâng
cao trình độ cho con em nông thôn Toàn thị trấn có 4 trường trong đó trường có 1 trường Mầm non; 1 trường cấp I; 1 trường Trung học cơ sở và 1 trường trung Tâm
Trang 34bị dạy và học
Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được xã thường xuyên quan tâm, không để dịch bệnh xảy ra, thực hiện tốt các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu Thị trấn có một trạm y tế với 8 phòng bệnh, và đội ngũ y bác sỹ có trình độ trong đó có 1 Bác sỹ chuyên khoa 1 sỹ đa khoa và 1 nữ hộ sinh trạm y tế đảm nhiệm khám và chữa các căn bệnh thông thường cho người dân trong thị trấn
- Về văn hoá: Thị trấn đã xây dựng nhà văn hoá ở tất cả các thôn Mỗi nhà
văn hoá có một phòng họp rộng và 1 phòng đọc trang bị đầy đủ sách báo phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân trong thị trấn Trụ sở của UBND và hội trường Thị trấn tổng diện tích là 2350 m2 Hợp tác xã dịch vụ với tổng diện tích là 320 m2 Hai sân vận động có diện tích là 9000 m2 Tất cả đều được xây dựng kiên cố khang trang Ngoài ra thị trấn còn có đài phát thanh phục vụ cho công tác tuyên truyền các hoạt động của địa phương và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Giúp cho người dân nắm bắt được các thông tin kịp thời về vấn đề kinh tế xã hội
* Nhận xét: Qua phân tích tình hình kinh tế, xã hội và hoạt động sản xuất kinh
doanh ở thị trấn Như Quỳnh vừa có nhiều thuận lợi vừa không ít khó khăn và thách thức đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và rau an toàn nói riêng
- Thuận lợi:
+ Thị trấn có vị trí thuận lợi trong việc giao thương với các huyện và thị trường Hà Nội, hội tụ đủ điều kiện để trở thành vành đai xanh cung cấp rau và các sản phẩm nông nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường Hà Nội và các khu công nghiệp liền kề
+ Kinh tế phát triển mạnh trên tất cả các ngành Đặc biệt Như Quỳnh đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế mạnh mẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
+ Thị trấn nằm cách trường Đại học nông nghiệp I và Viện nghiên cứu rau quả không xa, đây là điều kiện rất thuận lợi để người sản xuất tiếp cận với các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp
+ Cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất rau và hình thành các vùng sản xuất rau thâm canh, rau an toàn
Trang 35Quỳnh có kinh nghiệm sản xuất rau giống và thâm canh rau.
+ Sản xuất nông nghiệp của thị trấn luôn được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương được thể hiện bằng các nghị quyết, đề án, chương trình như: Nghị quyết số 32 của Ban thường vụ huyện uỷ về phát triển 2 vùng kinh
tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá; Nghị quyết 43 của Ban thường vụ huyện uỷ về ứng dụng khoa học công nghệ, đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp; Nghị quyết số 57 của Ban thường vụ huyện uỷ về đẩy mạnh tiêu thụ và chế biến nông sản hàng hoá; Đề án của UBND huyện về xây dựng và phát triển vùng sản xuất rau an toàn
- Khó khăn:
+ Đất canh tác của thị trấn liên tục giảm qua các năm do dành đất cho phát triển các khu công nghiệp, trong đó có một diện tích khá lớn đất chuyên canh rau màu
+ Do tác động của quá trình đô thị hoá, một bộ phận lớn lao động nông nghiệp
đã chuyển sang làm công nhân trong các khu công nghiệp và các làng nghề Do vậy,
đã xảy ra tình trạng thiếu lao động nông nghiệp mang tính thời vụ
+ Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng hiện còn chịu nhiều rủi ro về thời tiết và giá cả Vấn đề nông sản được mùa mất giá liên tục xảy ra khiến người nông dân gặp rất nhiều khó khăn khi ra quyết định sản xuất
+ Công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn Tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Lâm còn thiếu Công tác thông tin thị trường giá cả chưa theo kịp thực tiễn sản xuất
Trang 36ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Một số mô hình điển hình về sản xuất rau an toàn và sản xuất thường tại các
hộ sản xuất rau tại thôn Ngô Xuyên - Thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng sản xuất rau an toàn tại địa phương từ 2005 - 2008 gồm các nội dung như: Diện tich trồng, Năng suất và Sản lượng
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất rau an toàn và rau thường
+ Chi phí sản xuất cho 1 sào trồng rau an toàn, rau thường
+ Hạch toán kinh tế cho 1 sào trồng rau an toàn, rau thường
+ Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn
- Phân tích tác động xã hội và tính bền vững sản xuất rau an toàn
+ Số hộ tham gia mô hình
+ Tạo ra phương thức sản xuất mới cho người dân địa phương
+ Tạo việc làm cho người dân địa phương
+ Sản xuất ra 1 sản phẩm mới cho người tiêu dùng
+ Khả năng tồn tại và nhân rộng của mô hình
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn tại Thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên trong những năm tiếp theo Đây là nội dung được rút ra từ kết quả nghiên cứu của 3 nội dung trên
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Nguồn số liệu thứ cấp là số liệu đã công bố bao gồm các
thông tin về tình hình sản xuất rau trên thế giới và tình hình sản xuất rau ở Việt Nam được thu thập từ các báo cáo, tạp chí, niên giám thống kê, các trang website của chính phủ và các bộ ngành Các số liệu phản ánh tình hình sản xuất rau an toàn bao gồm diện tích, năng suất, sản lượng do Phòng NN& PTNN cung cấp Các
Trang 37Quỳnh được thu thập từ tài liệu do ban thống kê Thị trấn cung cấp
- Số liệu sơ cấp: Các số liệu sơ cấp là số liệu liên quan đến tình hình sản
xuất, tiêu thụ rau an toàn rau thường của hộ nông dân Phương pháp dùng để thu thập các số liệu này là:
* Chọn hộ điều tra:
- Hộ sản xuất rau an toàn và rau thường tại 2 Xóm 6, 8 thôn Ngô Xuyên - Như Quỳnh
Tiêu chí chọn hộ điều tra rau:
+ Phải là những hộ trồng rau an toàn, rau thường
* Cách chọn mẫu điều tra:
- Cách chọn mẫu điều tra: cách chọn hộ nông dân điều tra trên địa bàn Thôn Ngô Xuyên - Như Quỳnh dựa vào phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản Cụ thể, dựa trên danh sách các hộ nông dân tham gia mô hình, ngoài mô hình, các hộ sản xuất lúa đã được đánh số thứ tự để có thể chọn mẫu ngẫu nhiên, bằng cách cứ trung bình cách 3 hộ ta chọn 1 hộ làm sao đảm bảo các hộ có cơ hội được lựa chọn
là bằng nhau, đủ số lượng mẫu và đảm bảo có tính đại diện cho tổng thể
Số lượng mẫu điều tra của mỗi loại hộ được xác định tương ứng với đặc điểm sản xuất của từng thôn tiến hành điều tra
Bảng 3.1: Số lượng mẫu điều tra
Địa điểm
Số hộ điều tra
Hộ trồng RAT
Hộ trồng rau thường
Lúa
Trang 38dân, với bộ câu hỏi này số liệu thu thập có thể tổng hợp vào các bảng biểu từ đó đưa
ra những nhận định về mô hình sản xuất rau an toàn
+ Đối tượng phỏng vấn:
•Những hộ nông dân tham gia trồng rau an toàn và rau thường, trồng lúa khang dân và Bắc thơm tại thôn Ngô Xuyên
•Cán bộ địa phương (cán bộ khuyến nông, chủ nhiệm HTX, trưởng thôn)
* Chọn địa điểm điều tra
- Điều tra tại thôn Ngô Xuyên - Như Quỳnh - Văn Lâm
* Phương pháp PRA
PRA là viết tắt của cụm từ Tiếng Anh Participatory Rural Appraisal - Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân PRA bao gồm một loạt cách tiếp cận giao lưu và phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân cùng tham gia điều tra, trao đổi, chia sẻ, thảo luận, phân tích những khó khăn, thuận lợi của cộng đồng những kiến thức kinh nghiệm trong đời sống và điều kiện trong nông thôn để họ xây dựng kế hoạch, thực hiện trong hiện tại và tương lai [6]
Đề tài này sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn chính thức nông dân trên
cơ sở bộ câu hỏi đã được xây dựng sẵn để thu thập thông tin
* Thảo luận nhóm: Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm gồm: Thảo luận thông
qua lớp tập huấn kỹ thuật, sinh hoạt nhóm sản xuất RAT nhằm mục đích đánh giá thực trạng sản xuất, tiêu thụ RAT và các yếu tố ảnh hưởng, có các giải pháp trong việc hoàn thiện và phát triển sản xuất rau an toàn
* Tham vấn chuyên gia: Tham vấn, trao đổi thảo luận với các cán bộ
phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, Cán bộ kỹ thuật viện nghiên cứu rau quả, Trung tâm Khuyến Nông, Khuyến Ngư Tỉnh và các cán bộ chỉ đạo sản xuất nông nghiệp giàu kinh nghiệm tại địa bàn nghiên cứu từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu cũng như kiểm chứng kết quả nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
* Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh (thời gian, loại rau trồng…) để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu
Trang 39đối, số bình quân để tính toán, mô tả thực trạng việc phát triển sản xuất, kinh doanh của sản xuất rau an toàn cùng với những thuận lợi và khó khăn một cách khoa học Đồng thời trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu thống kê có thể phản ánh một cách đầy đủ và khách quan về sự phát triển sản xuất rau an toàn của TT Như Quỳnh trong những năm qua.
* Phương pháp thống kế phân tích kinh tế: Trong quá trình nghiên cứu, tiến
hành tổ chức điều tra, xây dựng biểu mẫu, hệ thống chỉ tiêu, hệ thông câu hỏi phỏng vấn Từ kết quả tài liệu thu thập được chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như xác định các chỉ số, so sánh, đối chiếu và cân đối trong nghiên cứu các chỉ tiêu, nội dung, các biểu, các hiện tượng để làm cơ sở cho phân tích và phát triển ra xu hướng phát triển của hiệu quả trong sản xuất rau an toàn
3.4.3 Phương pháp xử lý tài liệu
Quá trình xử lý và phân tích thông tin được thực hiện bằng máy tính theo các phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh các mẫu quan sát, thống kê phân tích
Trang 40KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU4.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TẠI NHƯ QUỲNH
4.1.1 Tình hình phát triển về diện tích, năng suất và sản lượng rau an toàn
Thị trấn Như Quỳnh với vị trí địa lý thuận lợi, đã hình thành vùng chuyên canh rau, nông dân giàu kinh nghiệm sản xuất Đây là các yếu tố quan trọng để xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn đầu tiên của huyện Văn Lâm tại Thôn Ngô Xuyên
- Như Quỳnh
4.1.1.1 Diện tích rau an toàn từ năm 2005 - 2008
Qua điều tra và thu thập số liệu chúng tôi nhận thấy diện tích rau an toàn của Thị trấn Như Quỳnh đều tăng Năm 2005 bắt đầu trồng với 1ha Thì đến, năm 2008
đã lên tới 6,1ha trồng rau an toàn Trong cơ cấu trồng rau an toàn năm 2008 chủ yếu
là rau cải bắp chiếm 20,49%, cà chua chiếm 21,64% Tốc độ phát triển diện tích rau
an toàn của Như Quỳnh bình quân 2005 - 2008 là 90,67% Đây là một tốc độ tăng trưởng cao, có được điều này là do sự nhận thức ngày càng cao của người sản xuất rau, của các cấp chính quyền địa phương và đặc biệt là lợi ích của sản xuất rau an toàn mang lại về kinh tế, xã hội cho người dân địa phương
Bảng 4.1: Diện tích rau an toàn Như Quỳnh năm 2005 - 2008
Loại rau
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%) 06/05 07/06 08/07
BQ 05- 08 Tổng 1 100 2,5 100 5 100 6,1 100 250 200 122 190,67
1 Cải bắp 0,35 35 0,56 22,4 1,17 23,4 1,25 20,49 160 208,93 106,84 158,59 2.Cà chua 0,25 25 0,48 19,2 1,14 22,8 1,32 21,64 192 237,5 115,79 181,76 3.Dưa chuột 0,15 15 0,3 12 0,65 13 0,85 13,93 200 216,67 130,77 182,48 4.Súp lơ 0,05 5 0,4 16 0,7 14 0,95 15,57 800 175 135,71 370,24 5.Các loại cải 0,1 10 0,4 16 0,9 18 1 16,39 400 225 111,11 245,37 6.Đậu cove 0,1 4 0,2 4 0,38 6,24 100 100 190 130
7 Các loại khác 0,1 10 0,26 10,4 0,24 4,8 0,35 5,74 260 92,31 145,83 166,5
(Nguồn: Phòng NN& PTNT)