Đổi mới phương pháp dạy và học theo các phương châm: Dạy cách học; Phát huy tính chủ động của người học; Tận dụng công nghệ thông tin và truyền thông mới”.[2] Để nâng cao chất lượng đào
Trang 1MỤC LỤC
Trang phụ bìa……… i
Mục lục………1
Danh mục các chữ viết tắt……… 3
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài……… 4
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……… 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 5
4 Giả thuyết khoa học……….5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 5
6 Phương pháp nghiên cứu……… 6
7 Đóng góp của đề tài ……… 6
8 Cấu trúc của luận văn ……….6
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN THÔNG QUA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE TRONG DẠY HỌC 1.1 Tự học 8
1.2 Các hình thức tự học và các loại tự học 10
1.3 Các nhóm năng lực tự học 12
1.4 Quy trình tự học và các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình 15
1.5 Một số khái niệm liên quan đến website 16
1.6 Tiêu chí đánh giá Website dạy học 19
1.7 Những hạn chế khi sử dụng Website dạy học 20
1.8 Tình hình nghiên cứu xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học ở trường Đại học Đồng Tháp 21
Kết luận chương 1 ……….24
Trang 2CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CHƯƠNG “NĂNG LƯỢNG – CƠ HỌC CHẤT LƯU” THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG WEBSITE
2.1 Nội dung kiến thức và những kỹ năng trong chương “Năng lượng và Cơ học chất
lưu”………25
2.2 Sơ đồ cấu trúc của chương………31
2.3 Qui trình tổ chức hoạt động tự học cho SV thông qua việc vận dụng website trong dạy học……… 33
2.4 Hình thức triển khai website trong dạy học………36
2.5 Những giải pháp bồi dưỡng năng lực tự học của SV trong quá trình dạy học… 37
2.6 Tổ chức hoạt động tự học cho SV nhờ việc xây dựng và sử dụng webstie dạy học thông qua chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu” VLĐC……….39
Kết luận chương 2……… 52
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 53
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 53
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 54
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 55
Kết luận chương 3 59
PHẦN KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Dạy học Đối chứng Giáo viên Học sinh Nhà xuất bản Phương pháp dạy học Phương tiện dạy học Quá trình dạy học Sinh viên
Tự học Trung học phổ thông Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm Sách giáo khoa
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kì CNH – HĐH, viễn cảnh đang sôi động, tươi đẹp nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi cần phải đổi mới một cách toàn diện trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong ngành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới cơ bản, mạnh mẽ vươn tới ngang tầm với sự phát triển chung của khu vực
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nhằm đào tạo ra con người
có trí tuệ phát triển, tích cực, năng động, sáng tạo, thể hiện tinh thần hợp tác và tính nhân văn cao, đáp ứng yêu cầu đào tạo con người trong thời kỳ CNH – HĐH đất
nước Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã vạch rõ: “…đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…” [4]
Mục đích của nhiệm vụ và giải pháp thứ hai trong “ Đề án đổi mới giáo dục đại
học Việt Nam” có viết : “Triển khai một cuộc vận động đổi mới dạy và học theo quan điểm về mục tiêu, nội dung và phương pháp nhằm tạo nên con người có các loại tiềm năng: Để học tập sáng tạo; Để phát triển cá nhân gắn kết với xã hội; Để tìm và tạo việc làm Đổi mới phương pháp dạy và học theo các phương châm: Dạy cách học; Phát huy tính chủ động của người học; Tận dụng công nghệ thông tin và truyền thông mới”.[2]
Để nâng cao chất lượng đào tạo, dạy học môn Vật lý ở bậc Đại học, Cao đẳng
và trung học phổ thông cũng đã có một số tài liệu của một số tác giả trong nước bàn đến vấn đề tự học, dạy – tự học Nâng cao chất lượng đào tạo là một nhiệm vụ hết sức cấp thiết bởi vì sản phẩm đào tạo đóng góp quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội của đất nước Có thể khẳng định lợi thế thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực bậc cao đáp ứng nhu cầu khoa học công nghệ trong thời đại mới Đổi mới phương pháp dạy học sẽ mang lại những hiệu quả vượt trội hơn khi có sự hỗ trợ của máy vi tính (MVT) trong tiến trình dạy học MVT sẽ kích thích hứng thú học tập thông qua các khả năng kĩ thuật (kĩ thuật đồ họa; công nghệ Multimedia, phần mềm chuyên dụng, trình chiếu PowerPoint, website ); góp phần tổ chức, điều khiển tiến trình dạy
Trang 5học; hợp lí hoá công việc của thầy và trò Sự kết hợp giữa các lý thuyết mới và sự hỗ trợ của website trong tiến trình dạy học sẽ tạo nên một tiến trình dạy học mới mà trong tiến trình đó người học chủ động, tích cực hơn trong việc xây dựng hệ thống tri thức cho bản thân
Qua quá trình nghiên cứu lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý, lý luận dạy học và vai trò của website trong đổi mới phương pháp dạy học tôi nhận thấy cần thiết phải xây dựng website dạy học, với sự hỗ trợ của website vào dạy học bộ môn Vật lý sẽ giúp cho sinh viên xây dựng được cho mình một hệ thống kiến thức có cấu trúc riêng và có khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các vấn đề đặt ra góp phần nâng cao chất lượng dạy học Với mục tiêu đó mà tôi lựa chọn đề tài
“Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên thông qua việc xây dựng và sử dụng website trong dạy học chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên với sự
hỗ trợ của website dạy học
Xây dựng được qui trình tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên thông qua việc xây dựng và sử dụng website trong dạy học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu”, vật lí đại
cương với sự hỗ trợ của website
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động tự học cho sinh
viên với sự hỗ trợ của website thể hiện qua chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu”
trong quá trình dạy học
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vấn đề tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên thông qua việc sử dụng website được xây dựng thì sinh viên rèn luyện được các kĩ năng tự học, tự tìm tòi nghiên cứu và năng lực tự học được nâng lên, từ đó nâng cao chất lượng dạy học
chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu”, vật lí đại cương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 6- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học với sự hỗ trợ của website
- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lý đại cương dành cho sinh viên các
trường Cao đẳng, Đại học quan tâm chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu”
- Xây dựng được qui trình tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên thông qua việc xây dựng và sử dụng website trong dạy học vật lí
- Thực nghiệm sư phạm, xử lí số liệu và đánh giá hiệu quả của việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên thông qua việc xây dựng và sử dụng website trong dạy học vật lí
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, luật giáo dục, các tạp chí giáo dục, các tài liệu về lí luận dạy học, các phương pháp dạy học vật lí, các luận văn liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu nội dung, chương trình chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu”,
vật lí đại cương
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra tình hình sử dụng các phương pháp dạy học ở trường Đại học Đồng Tháp
- Điều tra mức độ tự học của sinh viên ở trường Đại học Đồng Tháp
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực hiện các phương án đã xây dựng vào dạy học để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp toán học để xử lý thông tin, các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm Từ đó rút ra kết luận, đồng thời đề xuất việc vận dụng cho các phần khác của chương trình vật lí đại cương ở trường Đại học
7 Đóng góp của đề tài
- Bổ sung cơ sở lý luận về việc sử dụng website vào tổ chức hoạt động tự học trong dạy học
- Xây dựng được website hỗ trợ tổ chức, bồi dưỡng năng lực tự học khi dạy học
chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu”, vật lí đại cương
8 Cấu trúc của đề tài
Trang 7Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, về nội dung luận văn bao gồm :
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên
thông qua việc xây dựng và sử dụng website trong dạy học
Chương 2 Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu” thông qua việc sử dụng website
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN THÔNG QUA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG
WEBSITE TRONG DẠY HỌC 1.1 Tự học (TH)
Trong tâm lí học thì TH là một hoạt động học tập, ở đó người học tự tiến hành các hoạt động nhận thức mà không chịu sự điều khiển trực tiếp từ GV Trong lí luận dạy học, TH được xem xét dưới nhiều mức độ khác nhau, có nhiều quan điểm khac nhau về TH nhưng tất cả đều thống nhất ở mốt số quan điểm như sau:
Theo Tác giả Thái Duy Tuyên: “TH là hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học” [22]
Tác giả Bùi Hiền: “TH là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học
và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục- đào tạo” [8]
Tác giả Vũ Văn Tảo: “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong
đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người bằng cách thu nhận, xử lí và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống của chủ thể”
Tác giả Nguyễn cảnh Toàn, “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của nình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[17]
Theo quan điểm này tự học là do chủ thể người học phải tự hoạt động để chiếm lĩnh vực tri thức nào đó, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình mà không có sự hướng dẫn trực tiếp của các nhà giáo dục TH thể hiện qua việc học tập từ việc tham khảo tài liệu, đọc sách, báo các nguồn thông tin đại chúng, hay từ thực tế cuộc sống Tuy nhiên người học phải biết tự tìm tài liệu, lựa chọn tài liệu, và phải biết ghi chép lại, tóm tắt lại những điểm chính cần ghi nhớ tài liệu tham khảo
Trang 9Tự học đòi hỏi ở người học phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và tính kiên trì cao thì mới đạt được mục đích chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kĩ năng Do đó, mỗi người học cần hình thành cho mình phương pháp học tập đúng đắn
Trong các quan điểm trên, dù cách diễn đạt khác nhau nhưng cùng khẳng định
tự học là quá trình người học tự giác, tự chủ, nỗ lực hoạt động nhằm chiếm lĩnh tri thức
1.2 Các hình thức tự học và các loại tự học
1.2.1 Các hình thức tự học
- Tự học hòan tòan: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học không đến
trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, người học tự lựa chọn mục tiêu học
tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra, đánh giá,
từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm
- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không tiếp xúc trực tiếp với
thầy mà chủ yếu nghe giáo viên giảng giải qua phương tiện truyền thông
- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu hướng dẫn: Người học trực tiếp làm việc với tài
liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu tìm kiếm, bổ sung kiến thức
- Tự học trong một giai đọan hay một khâu của quá trình học tập: Học bài và làm bài ở nhà theo nhiệm vụ học tập là việc thường xuyên của bất kỳ người học nào
- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của giáo viên – biến quá
trình tự học thành quá trình tự đào tạo hay nói cách khác là quá trình dạy – tự học
- Tự học làm bài tập ở nhà: Người học tự tìm kiếm những bài tập và nghiên cứu
Trang 10GV và học sinh giáp mặt nhau trên lớp, việc tự học của HS được diễn ra dưới
sự điều khiển của GV GV tổ chức, hướng dẫn các hoạt động trên lớp để HS biết cách
tư duy tự tìm ra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Hình thức tự học này được áp dụng phổ biến vì HS có vấn đề gì không hiểu có thể hỏi trực tiếp ngay GV hoặc trao đổi với bạn bè để được giải đáp và làm sáng tỏ vấn
đề đó Tuy nhiên, hình thức tự học này cũng có mặt hạn chế là nó được diễn ra trên lớp với trình độ HS không đồng đều, GVphải dạy theo kiến thức đại trà, do đó không phát huy tối đa khả năng tư duy của HS Thời gian trên lớp cũng rất hạn chế, thêm vào đó là
sự ỷ lại của HS vào GV khi gặp vấn đề khó, làm giảm khả năng tư duy của học sinh
b) Tự học có hướng dẫn, có hỗ trợ
Đây là hình thức rèn luyện kĩ năng cho HS: GV giúp cho HS thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy (hoạt động học cụ thể) cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ
Ví dụ kĩ năng ghi chép tài liệu và kĩ năng phân tích các tài liệu trong ý nghĩ, trong óc, Để hình thành được kĩ năng, trước hết GV cần giúp HS nắm được kiến thức, có kiến thức hiểu biết làm cơ sở cho sự hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện được một hành động theo đúng mục đích yêu cầu
Ở hình thức này cá nhân được sự giúp đỡ và tăng cường của GV, công nghệ giáo dục hiện đại
c) Học với sách, không có thầy bên cạnh
Đối với các HS ngoài hình thức trên, tự học còn thể hiện bằng cách tự lập làm các bài tập chuyên môn, tham gia các công việc trong các tổ học chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm, sáng tạo và các hoạt động ngoại khóa khác, cũng có thể thông qua các tài liệu như sách giáo khoa, sách báo các loại, Hầu như việc học với sách là một trong những lựa chọn hành đầu và đây cũng là hình thức tự học ở mức độ cao, sách là do thầy viết ra do đó học với sách chính là học gián tiếp với thầy Tuy nhiên, khi gặp những vấn đề khó khăn HS không thể trực tiếp hỏi thầy, không có thầy hướng dẫn Vì vậy, HS phải tự tư duy, tự nghiên cứu thêm để có thể giải quyết được vấn đề đó
Hình thức tự học này đòi hỏi khả năng tự giác và quyết tâm của người học rất cao, cách học này là tiền đề dẫn đến việc nghiên cứu khoa học
1.3 Các nhóm năng lực tự học
Trang 11Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Xét theo sự chuyên môn hóa, năng lực gồm hai loại: Năng lực chung và năng lực riêng Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau; năng lực riêng là những năng lực có tính chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu của một lĩnh vực chuyên biệt nào đó [5]
PGS.TS Lê Công Triêm cho rằng: “Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” [20]
Năng lực TH của người học bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề: Năng lực này đòi hỏi người
học phải nhận biết, hiều, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra những khó khăn, mâu thuẩn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết
- Nhóm năng lực giải quyết vấn đề: Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định
cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vần đề; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho người học phương pháp tự học
- Nhóm năng lực xác định những kết luận đúng: Đây là một năng lực quan trọng cần
cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề hay nói cách khác các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được khi chính bản thên người học có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ một giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới hoặc áp dụng
- Nhóm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn: Kết quả sau cùng của việc học tập
phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống hoặc người học vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn hoặc trên cơ sở kiến thức và phương thức đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Điều đó đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức
- Nhóm năng lực đánh giá và tự đánh giá: Trong dạy học tập trung vào người học, đòi
hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích người học đánh giá và tự đánh giá Có
Trang 12như vậy thì người học mới dám nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái hiệu quả hơn Năng lực đánh giá và tự đánh giá giúp người học xác định chính xác điểm mạnh, yếu, cái đúng, cái sai của mình từ đó có thể chủ động phát huy những mặt mạnh, điều chỉnh những điểm yếu, vững bước trên con đường học tập của mình
1.4 Quy trình tự học và các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tự học
- Tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp tương lai
Ở đây sinh viên đã thể hiện ở mức độ cao vai trò chủ thể nhận thức của mình, kết hợp
và thống nhất một cách hài hòa vai trò của chủ thể nhận thức với vai trò đối tượng trong điều khiển dạy học
- Tự học còn giúp sinh viên hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, lòng say mê nghiên cứu khoa học…Để xây dựng được qui trình tự học một cách hợp lí có thể chia thành ba bước như sau :
1.4.1 Xây dựng kế hoạch tự học
Trên cơ sở quỹ thời gian chung và quỹ thời gian TH nói riêng, SV cần xây dựng
kế hoạch TH và từ đó xây dựng thời gian biểu TH để thực hiện kế hoạch tự học
- Đảm bảo thời gian tự học cho từng môn phù hợp với khối lượng thông tin tương ứng
Ở đại học, SV phải học nhiều bộ môn và các chuyên đề Mỗi bộ môn có vị trí
và khối lượng thông tin cũng như tính chất, nội dung thông tin khác Do đó, SV cần phân phối thời gian tự học cho từng bộ môn một cách hợp lý
- Đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý các dạng tự học, các bộ môn khác
Khi tiến hành hoạt động tự học, cần thay đổi và luân phiên các dạng hoạt động
tự học Chẳng hạn từ đọc sách, nghiên cứu lý thuyết sang làm bài tập…Đồng thời, các
bộ môn với tính chất khác nhau cũng cần được xen kẽ, luân phiên nhau như : từ bộ môn khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội, từ môn đòi hỏi tư duy trừu tượng cao đến môn đòi hỏi tư duy trừu tượng thấp hoặc ngược lại
- Đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý giữa tự học và nghỉ ngơi
Trong quá trình tự học, SV tiến hành lao động trí óc căng thẳng sẽ dần dần có
sự mệt nhọc cũng như sự mệt mõi Để phòng và tránh mệt nhọc cũng như mệt mõi, một trong những biện pháp quan trọng là nghỉ ngơi một cách hợp lý trong quá trình tự
Trang 13học Nghỉ ngơi hợp lý sẽ giúp cho các chức năng hoạt động của cơ thể nói chung, của
vỏ não nói riêng được phục hồi
Điều đáng chú ý phải đảm bảo tốt việc nghỉ ngơi dưới hình thức ngủ ban đêm
Vì giấc ngủ được coi là một hình thức nghỉ ngơi có giá trị nhất sau một ngày làm việc nói chung đặc biệt là lao động trí óc nói riêng, nó giúp cho cơ thể, cho não phục hồi khả năng làm việc bình thường
- Đảm bảo tính mềm dẻo và tính thực tế của kế hoạch và thời gian biểu tự học
Mỗi cá nhân SV cần có kế hoạch và thời gian biểu riêng, vì mỗi SV có những đặc điểm riêng về nhận thức, tình cảm, ý chí, sức khỏe và hoàn cảnh sống
Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu cần mềm dẻo và có tính thực tế: cần phân biệt những công việc khác có tầm quan trọng khác nhau và có tính chất thiết khác nhau
1.4.2 Thực hiện kế hoạch và thời gian biểu tự học
Khi thực hiện kế hoạch và thời gian biểu tự học, sinh viên cần chú ý:
- Phải làm việc độc lập: Hoạt động TH đòi hỏi SV phải nắm được cách thức làm việc độc lập, đọc sách và tài liệu học tập, hoàn thành các bài tập, chuẩn bị xêmina, thực tập, thực hành…
- Biết tập trung tư tưởng: Khi bắt tay vào TH, SV cần tạo cho mình thói quen tập trung
tư tưởng nhanh chóng, không dễ dàng lãng phí thời gian học hoặc giảm thời gian lãng phí đến mức thấp nhất trong những tình huống đặc biệt Để tập trung tư tưởng tốt khi
Trang 14+ Tổ chức ngăn nắp, có trật tự nơi tự học để có thể dễ dàng, nhanh chóng tìm kiếm được những thứ cần dùng (Sách vở, tài liệu, học cụ…) tránh thói quen lộn xộn, bừa bãi
+ Biết tận dụng những thời gian dự trữ bằng cách tận dụng cả những thời gian ngắn, cả những thời gian tưởng chừng như bỏ đi ( như tranh thủ xem sách, báo lúc chờ đợi tàu xe, lúc đi trên tàu…)
+ Biết làm việc khẩn trương, biết hợp lý hóa công việc…
1.4.3 Có ý thức tự kiểm tra kết hợp với kiểm tra của thầy
Việc SV tự kiểm tra hoạt động TH của mình có tầm quan trọng đặc biệt: nó sẽ tạo ra mối liên hệ ngược trong Những tín hiệu này càng thường xuyên, càng có hệ thống, càng phong phú chính xác thì càng giúp sinh viên có cơ sở thực tế với độ tin cậy cao để tự đánh giá kết quả học tập của mình cũng như khắc phục những sai lầm, thiếu sót, những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình học tập Từ đó, họ sẽ tự khẳng định mình, sẽ cũng cố lòng tin ở chính mình, đồng thời tự mình đề xuất những biện pháp thỏa đáng để điều khiển và thúc đẩy hoạt động học của mình phát triển tốt hơn
Trong quá trình học tập, sinh viên thu được hai tín hiệu ngược trong :
-Tín hiệu ngược trong thứ nhất thu được nhờ kết quả tự kiểm tra
-Tín hiệu ngược trong thứ hai thu được nhờ kết quả kiểm tra
Thực tiễn đã chứng minh, tín hiệu ngược trong càng thường xuyên thì sự điểu khiển và tự điều khiển càng liên tục, sinh viên sẽ học tập có hệ thống, đạt được kết quả càng cao Vì vậy, sinh viên cần có ý thức tận dụng việc kiểm tra của thầy và đồng thời lại tiến hành việc tự kiểm tra có hệ thống
Trong quá trình tự học, việc kiểm tra của SV phải được thực hiện có hệ thống bằng nhiều hình thức như: Tái hiện những điều đã học theo bố cục, đề cương nhất định
và tập trình bày cho bản thân hay cho người khác; Làm các bài tập; Trả lời những câu hỏi kiểm tra trong sách giáo khoa hoặc tài liệu hướng dẫn học tập; Có thể biểu diễn quy trình tự học theo sơ đồ sau:
Trang 15Các giai đoạn nêu trên trong qui trình tự học không tách rời nhau mà đan xen nhau, liên hệ với nhau một cách biện chứng Quá trình tự học ở mỗi người là một quá trình phủ định biện chứng liên tục, giải quyết các mâu thuẫn tạo nên quá trình biến đổi bên trong người học, là quá trình tích luỹ tri thức để người học đi đến một trình độ
cao hơn [17]
1.4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
* Nhóm nhân tố bên trong:
- Năng lực tự học: Trong các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quá trình tự học, năng lực tự học của bản thân người học là quan trọng nhất, vì người học là chủ thể
chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chính mình
- Động cơ, hứng thú học tập: Động cơ học tập quyết định kết quả học tập của sinh viên
- Phương pháp tự học: Để tự học mang lại hiệu quả cao đòi hỏi mỗi người học phải
có phương pháp tự học, tự nghiên cứu theo phương pháp của mình
* Nhóm nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến tự học, đó là:
- Phương pháp giảng dạy của giáo viên: Qúa trình dạy học ở Cao đẳng, Đại học là dạy cho SV cách tự học, để sinh viên có được tư duy độc lập và phương pháp công tác
độc lập, ngay khi đang học ở trong trường và cả ngay khi ở giai đoạn hành nghề dạy
Lí Chính sự thay đổi cách dạy đòi hỏi mức độ làm việc độc lập của sinh viên rất cao Nếu giáo viên làm thay, ít khuyến khích sinh viên làm việc độc lập, không đề ra yêu cầu cao cho sinh viên, thì dù giáo viên có tích cực đến đâu mà sinh viên không nổ lực
học thì dạy học không có kết quả
- Yêu cầu của xã hội, nhà trường: Xã hội hiện đại, cộng nghệ thông tin phát triển
cần phải có phương tiện, phương pháp giao lưu mới Đồng thời tri thức của loài người
Sơ đồ 1.1 Quy trình tự học
THỰC HIỆN
NGƯỜI HỌC
TỰ KIỂM TRA
TỰ ĐIỀU CHỈNH
LẬP KẾ HOẠCH
Trang 16đang tăng nhanh về khối lượng, đổi mới nhanh về chất lượng và nội dung Dù kéo dài thời gian học trong nhà trường bao nhiêu cũng chưa đủ để thích ứng với cuộc sống luôn thay đổi, mà phải biết cách học để tiếp tục tự học suốt đời
- Cơ sở vật chất: Trong tự học, tự nghiên cứu điều quan trọng là phải có sách, đồ
dùng và trang thiết bị học tập cần thiết
- Thời gian: Trong quá trình đào tạo, SV phải học nhiều môn, mỗi môn có vị trí, tính chất, nội dung, khối lượng thông tin khác nhau Để học tốt SV phải quản lí thời
gian hợp lí
Hai nhóm nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ, bổ
sung cho nhau tạo điều kiện để tự học đạt kết quả cao [7]
1.5 Một số khái niệm liên quan đến website
1.5.1 Internet
Internet là sự kết nối của hệ thống các mạng máy tính thông qua các phương tiện viễn thông trên toàn thế giới như vệ tinh viễn thông, cáp quang, đường điện thoại Khả năng truyền tải của những phương tiện này rất lớn, có thể chứa được nhiều loại thông tin như dữ liệu, hình ảnh, tiếng nói, hình ảnh động
1.5.2 Công nghệ World Wide Web (WWW)
WWW (World Wide Web) là một dịch vụ thông tin mới và hấp dẫn nhất trên Internet dựa trên kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên gọi là “siêu văn bản” (HyperText) WWW không phải là một hệ thống cụ thể mà là một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (Meta Interface) giúp người sử dụng có thể tạo ra các siêu văn bản
và cung cấp cho những người sử dụng khác trên Internet, người ta gọi tắt là công nghệ Web Công nghệ Web cho phép truy cập và xử lý các trang dữ liệu đa phương tiện
(Hypermedia) trên Internet [13] [19]
1.5.3 Trang Web và ngôn ngữ HTML (HyperText Markup Language)
Trang Web (Web page) là trang tin trên mạng Internet Nội dung thông tin được diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ họa, ảnh tĩnh, ảnh động, phim, âm thanh,… Mỗi trang Web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt với các trang khác và giúp mọi người truy cập đến Để xây dựng các trang thông tin đa phương tiện, Web sử dụng một ngôn ngữ có tên là HTML HTML cho phép đọc và liên kết các dữ liệu khác nhau trên cùng một trang thông tin HTML sử dụng các khóa được gọi là các thẻ để định dạng và định nghĩa các đoạn văn bản trong trang web Trình duyệt sẽ dịch
Trang 17các khóa này thành các đoạn văn bản và các hình ảnh trang Web nhìn thấy trên màn hình Các thẻ HTML còn có nhiều vai trò khác ngoài việc định dạng và hình ảnh, ví
dụ, các siêu liên kết giúp các trình duyệt xác định vị trí các trang Web khác trên Internet và thể hiện nó trên màn hình Một cách thức mới và tiên tiến hơn là sử dụng HTML động (DHTML) DHTML có thể tạo ra các hiệu ứng khác nhau và các ảnh động đơn giản
1.5.4 Siêu liên kết (hyperlink)
Hyperlink là liên kết phổ biến nhất gặp trên web Hyperlink có thể là một từ hoặc một câu xuất hiện trong các hồ sơ điện tử (file) và được liên kết với thông tin trong hồ sơ khác Khi chọn siêu văn bản màn hình sẽ tự động hiển thị các hồ sơ và các thông tin khác liên kết với từ hoặc câu đó Các trình duyệt hiển thị các hồ sơ (browser) trong đó các siêu liên kết được đánh dấu Để định vị thông tin, Web dùng bộ định vị nguồn thông tin đồng dạng (uniform resouse locators – URLs) Một URLs tiêu biểu cho thông tin về công cụ Internet, về địa chỉ Internet của máy tính chủ từ xa, về đường dẫn đôi khi cả tên của tập tin Khi tiến hành lựa chọn trên màn hình, WWW dùng URLs để đi tới mối liên kết mới Các URLs có dạng: Công cụ Internet://máy chủ/đường dẫn/tên file
* Vai trò của website trong việc hỗ trợ dạy học vật lý
Thực tế dạy học cho thấy PPDH đang được sử dụng phổ biến hiện nay trong các trường phổ thông vẫn là thuyết giảng, coi nhẹ hoạt động tích cực, chủ động của
HS Bên cạnh đó, thói quen học tập của trò ảnh hưởng tới cách dạy của thầy, cơ sở vật chất chưa được trang bị một cách đầy đủ, trình độ tin học của GV còn hạn chế thì việc dạy học theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học thực sự là một trở ngại
Dạy học bằng website, GV có thể điều khiển, định hướng người học vào quá trình tìm kiếm và xử lý thông tin, đưa ra phương án để giải quyết nội dung bài học, tăng thời gian dành cho trao đổi, thảo luận trên lớp, giao tiếp giữa HS với nhau…đồng thời tạo nên những chuyển biến căn bản trong hoạt động dạy và học: Chuyển từ hoạt
Trang 18động thông báo và ghi nhớ sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nổ lực hợp tác; phá bỏ sự ràng buộc về không gian và thời gian đối với QTDH; phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của người học Bên cạnh đó, HS có thể dễ dàng tìm thấy các kiến thức cần thiết tại mỗi thời điểm học tập và tra cứu những kiến thức mở rộng, bổ trợ cho bài học Việc sử dụng website DH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để HS chương trình hóa không chỉ nội dung tri thức mà cả con đường tìm tòi và nắm tri thức
a) Sử dụng Website như công cụ hỗ trợ giảng dạy
GV có thể sử dụng trang website trình bày bài giảng với những tính năng đa phương tiện (văn bản, âm thanh, hình ảnh,…) làm cho bài giảng sinh động hơn Những hiện tượng khó quan sát, những thí nghiệm khó thực hiện do các lý do kỹ thuật và tài chính, GV có thể đưa ra các đoạn băng hình vào web để giúp người học tiếp cận với các phương tiện hiện đại mà với điều kiện của một trường phổ thông, thậm chí các trường đại học trong nước khó thể thực hiện được Thông qua Website, GV cũng có thể kiểm soát việc học tập của người học qua những lần truy cập vào trang Web, hoặc các phần mềm kiểm tra trên Website
b) Sử dụng Website như công cụ hỗ trợ học tập
Khi thiết kế Website hỗ trợ DH, người thiết kế phải luôn đặt ra các yêu cầu về mặt sư phạm và kỹ thuật, ngoài các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn website phải đảm bảo các cơ sở lý luận dạy học bộ môn Chính vì lẽ đó, Website luôn có những tác dụng tích cực khi sử dụng với chức năng hỗ trợ hoạt động học tập của HS
Việc xây dựng website học tập một nội dung, một chương, thậm chí cả chương trình học một môn học Người học tự học tập thông qua website với các trình
tự giảng dạy được lập sẵn hoặc người học làm việc với website có sự trợ giúp của GV, giúp cho người học có thói quen học tập tự chủ Thông qua các website kiểm tra, phiếu học tập, ôn tập người học còn có thể tự đánh giá khả năng của mình Ngoài ra, người học còn học được cách điều khiển website, đây cũng là một yếu tố quan trọng trong việc truy tìm thông tin trên Internet
c) Sử dụng Website như công cụ quản lý học tập
Các chương trình ứng dụng có khả năng kiểm soát được việc sử dụng, truy cập vào Website của HS, kiểm tra và lưu trữ kết quả học tập,… thuận lợi trong việc quản
lý việc học tập của HS Các ứng dụng trên website có khả năng cung cấp thông tin chọn lọc, chính xác, nhanh chóng Điều này càng trở nên quan trọng hơn khi lượng
Trang 19thông tin ngày càng lớn, phức tạp và vượt quá khả năng bao quát của GV Đặc biệt, Website có tác dụng rất lớn trong công tác đào tạo từ xa
1.6 Tiêu chí đánh giá Website dạy học
Qua thực tiễn xây dựng và sử dụng Website dạy học, theo chúng tôi các tiêu chí
để đánh giá chất lượng của một Website dạy học gồm có: [6]
Các tiêu chí về mặt khoa học: Tiêu chí này thể hiện ở tính chính xác về nội
dung khoa học chứa đựng trong Website Các nội dung trong Website phải đáp ứng tính đa dạng phong phú (tài liệu học tập và các tài liệu tra cứu), phù hợp với chương trình đào tạo, kiến thức và khả năng tiếp thu của người học Các thuật ngữ khoa học, các khái niệm, định nghĩa… phải chính xác và nhất quán với giáo trình hiện hành, các nội dung trong Website phải nhằm thực hiện mục đích dạy học đề ra
Các tiêu chí về LLDH: Website dạy học phải thực hiện được các chức năng
LLDH mà phần mềm đảm nhận, phải thực hiện đầy đủ các giai đoạn của QTDH, từ khâu củng cố trình độ xuất phát, hình thành tri thức mới, ôn tập, hệ thống hoá kiến thức cho đến kiểm tra đánh giá kiến thức của người học Có sự phối hợp giữa lý thuyết, thực tiễn và các PPDH với sự hỗ trợ của Website Tính chuẩn mực trong Website cho phép GV chủ động về kiến thức và phương pháp tổ chức lớp học Các BGĐT trong Website phải thể hiện được tiến trình của một giờ học
Các tiêu chí về mặt sư phạm: Website DH phải thể hiện được tính ưu việt về
mặt tổ chức DH so với hình thức lớp - bài truyền thống Tính ưu việt của Website DH
so với các phần mềm DH khác là khai thác triệt để khả năng hỗ trợ, truyền tải thông tin
đa dạng, trực quan hoá các hiện tượng, quá trình Vật lý, kích thích động cơ học tập, tính tích cực và khả năng sáng tạo của người học Thông qua việc trình bày kiến thức một cách trực quan, dễ hiểu với các chương trình mô phỏng giúp người học đào sâu nội dung học tập Các tài liệu trong Website phải giúp người học khắc sâu kiến thức đã lĩnh hội, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mở rộng nội dung kiến thức đã học và đi sâu vào bản chất vấn đề nghiên cứu
Các tiêu chí về mặt kỹ thuật: Giao diện trên màn hình thân thiện, cấu trúc site rõ
ràng, các đối tượng phải được sắp xếp hợp lí phù hợp với tiến trình của một giờ học,
có hệ thống liên kết, điều hướng và chỉ dẫn rõ ràng Khả năng tương tác, cập nhật thông tin nhanh chóng, thuận tiện, chính xác và thể hiện được tính mở Việc sử dụng các tương tác âm thanh, màu sắc phải khéo léo, không nên lạm dụng khả năng trình
Trang 20diễn thông tin dưới dạng hình ảnh của máy tính Đặc biệt Website phải dễ sử dụng, phần mềm thiết kế ổn định và có khả năng thích ứng cao với các thế hệ máy tính và các hệ điều hành
1.7 Những hạn chế khi sử dụng Website dạy học
Không có phương pháp, PTDH vạn năng, nó có thể tốt cho người này, mục đích này nhưng chưa hẳn đã tốt với người khác và mục đích khác Với vai trò là PTDH hiện đại, Website DH tỏ ra có nhiều ưu thế nổi trội Tuy nhiên, cần hiểu rằng nó không phải
là “chìa khóa vạn năng”, và dù phát triển đến mức độ nào cũng không thể thay thế vai trò của người GV Như vậy phải khẳng định rằng Website DH là một PTDH đa năng chứ không phải vạn năng, vì vậy trong QTDH phải biết sử dụng một cách hợp lý để phát huy tối đa những thế mạnh và hạn chế những yếu điểm của nó Sau đây là những hạn chế khi sử dụng Website làm PTDH và phương án khắc phục chúng:
- Thực tiễn cho thấy, sử dụng Website có sẵn nhiều khi còn tuỳ thuộc vào sự hiểu biết của một số người Về mặt kiến thức mặc dù đã được chuẩn hóa, tuy nhiên nếu xét về góc độ sư phạm thì chưa hẳn đã có giá trị cao Vì vậy có thể phù hợp với người này nhưng lại không thể áp đặt cho người khác Đây là hạn chế lớn khi sử dụng Website dạy học được thiết kế sẵn Khi sử dụng Website dạy học nếu GV không hiểu chủ đích của nhà thiết kế sẽ dễ xa rời định hướng của bài học, còn người học khi độc lập sử dụng Website để học tập có thể có hiện tượng “nhảy cóc” giữa các nội dung của bài học, người học có thể chỉ đọc những phần mình thích mà bỏ qua những phần khác, hoặc chỉ tìm những thông tin có sẵn để giải quyết yêu cầu của GV Để khắc phục những hạn chế này, khi xây dựng Website cần chú ý tới các yêu cầu sư phạm đồng thời có hướng dẫn sử dụng cụ thể, còn người sử dụng phải thực hiện các yêu cầu đó một cách chặt chẽ và tự giác
- Các Website được cài đặt và sử dụng trên MVT vì vậy nó cũng có những hạn chế như khi sử dụng MVT làm PTDH Ngoài ra còn có nhược điểm: bảo mật dữ liệu, các kết nối bị hỏng hóc bất thường,…có thể làm mất dữ liệu Bên cạnh đó, tốc độ MVT cũng như đường truyền Internet cũng ảnh hưởng ít nhiều nhất là việc tải các mô phỏng Vật lý, các hình ảnh động,…
- Khi người học học tập độc lập với Website cài đặt trên MVT sẽ hạn chế về mặt giao tiếp giữa GV và người học GV không phải là người trực tiếp dẫn dắt, hướng dẫn người học từng bước cụ thể do vậy không thu được những ý kiến phản hồi từ
Trang 21người học Khi sử dụng Website dạy học với nhiều nội dung phong phú dễ dẫn dắt người học xa rời định hướng của bài giảng GV đang dạy Mặt khác, những liên kết và
rẽ nhánh phong phú của Website đòi hỏi GV phải có kiến thức bao quát rộng, phải theo dõi tất cả các liên kết có ích cũng như các liên kết làm sai lệch trọng tâm kiến thức Vì vậy, GV sẽ rất khó thực hiện một giáo án cố định như cách thức tổ chức dạy học truyền thống
- Trong Website dạy học việc kiểm tra, đánh giá thường bằng hình thức trắc nghiệm khách quan Ngoài những ưu thế nổi trội thì cũng có những hạn chế: kết quả kiểm tra GV nhận được từ người học thường là cuối cùng, những lí luận, phép tính trung gian hầu như không được giới thiệu, vì vậy GV không phát hiện được sai sót trong quá trình tư duy của người học, còn người học không được rèn luyện khả năng trình bày, để khắc phục GV cần phối hợp với hình thức kiểm tra tự luận
Trên đây là một số hạn chế khi sử dụng Website làm PTDH Tuy nhiên nếu biết
- Được sự quan tâm của các cấp quản lí giáo dục Trong năm học 2008 – 2009,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định lấy chủ đề năm học là "Năm học ứng dụng công nghệ thông tin" Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT của Bộ GD & ĐT về năm học 2008-
2009 cũng nêu rõ: "Đẩy mạnh một cách hợp lí việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng cấp học"
Trang 22Để thực hiện tốt chỉ thị này, trường Đại học Đồng Tháp đã tích cực triển khai ngay từ đầu năm học Trường đã đưa nội dung, kế hoạch và biện pháp ứng dụng CNTT vào kế hoạch công tác, kế hoạch giảng dạy
Về quan điểm chỉ đạo: Trước hết mọi cán bộ - giảng viên phải biết Tin học Nhà trường thường xuyên tổ chức những lớp bồi dưỡng kiến thức tin học cho toàn bộ cán bộ và giảng viên Qua các lớp bồi dưỡng này, giảng viên được học cách soạn thảo văn bản trên word, xử lý bảng tính trên Excel, soạn giáo án điện tử trên PowerPoint và cách tìm kiếm, tải thông tin từ Internet,…Bên cạnh đó, Trường còn kêu gọi và tích cực vận động giảng viên sử dụng CNTT vào đổi mới PPDH
Khuyến khích các giảng viên chọn đề tài nghiên cứu khoa học hàng năm là các
đề tài có liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy và học có chú trọng đến việc ứng dụng CNTT trong DH
Trong năm học 2008-2009, nhà trường đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và thời gian cho tất cả giảng viên, viên chức trong trường để chuẩn hóa và nâng cao trình
độ tin học Mặt khác, nhà trường yêu cầu mọi viên chức và giảng viên phải ứng dụng CNTT vào quản lí, dạy học và nghiên cứu khoa học giáo dục
1.8.2 Khó khăn
Phần lớn SV chưa nắm rõ những khái niệm tự học, năng lực tự học, kĩ năng tự học Năng lực TH của SV còn hạn chế, đa số SV cho rằng ý thức và khả năng TH của mình chưa tốt, tự học mất nhiều thời gian, không biết phương pháp TH và không biết website để hỗ trợ tự học
Kĩ năng tự học của SV còn hạn thấp, các kĩ năng đọc sách, kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng quan sát, kĩ năng tự kiểm tra đánh giá, kĩ năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề học tập của SV chưa cao
Bên cạnh đó, việc xây dựng và sử dụng website phục vụ cho việc dạy học đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu cho trang thiết bị, cơ sở vật chất tương đối lớn Hơn nữa, để khai thác sử dụng tốt website day học thì GV và SV cần có những kiến thức, kĩ năng thiết yếu nhất về tin học và ý thức tự giác làm việc cao Trong khi đó lịch học của SV gần như khép kín không có nhiều thời gian cho việc TH, SV đã quen với cách dạy học truyền thống nên khá thụ động trong việc suy ngĩ, tìm tòi, phát biểu ý kiến
Mặt khác, vật lí là môn học gắn liền với thực tiễn và đời sống nên khi tổ chức các hoạt động TH cho SV với sự hỗ trợ của website đòi hỏi GV phải đầu tư thời gian,
Trang 23công sức xây dựng website sao cho phù hợp với từng đơn vị kiến thức, phù hợp với trình độ của SV, qua đó rèn luyện được các kĩ năng TH và năng lực TH của các em SV cũng được nâng lên
Trang 24Muốn tự học tốt phải biết các phương pháp tự học (phương pháp đọc, phương pháp ghi chép, cách đặt câu hỏi, cách trả lời câu hỏi,…); phương pháp phát hiện vấn
đề và phương pháp giải quyết vấn đề
Quá trình tự học người học phải biết: Lập kế hoạch – Thực hiện kế hoạch – Tự kiểm tra – Tự điều chỉnh, các hoạt động này được tiến hành theo một chu trình kín
Hệ thống một số khái niệm liên quan đến website dạy học, vai trò của website đối với dạy học, các tiêu chí đánh giá website dạy học, những hạn chế khi sử dụng website dạy học Cuối cùng, nêu ra những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng website cho dạy học
Trang 252.1.1 Đặc điểm chung của môn học
Vật lý học là ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu những qui luật và bản chất của sự vận động, trong đó Cơ học đi sâu nghiên cứu sự chuyển động của các vật thể, tức là sự thay đổi vị trí của vật trong không gian theo thời gian
Trong chương trình VLĐC, Cơ học là môn khoa học cơ bản, là học phần rất quan trọng, những kiến thức của môn học này chính là cơ sở và tiền đề rất cần thiết để học tốt các môn tiếp theo
Phần lớn những kiến thức của môn Cơ học đã được SV làm quen từ bậc phổ thông, do đó những khái niệm, những công thức, những định luật, định lí,…đã khá quen thuộc với SV Tuy nhiên, ở bậc phổ thông, SV chỉ nắm được những lý thuyết cơ bản và vận dụng được vào những bài tập rất đơn giản Phần Cơ học ở VLĐC sẽ giúp cho SV nắm kỹ hơn, đào sâu hơn những kiến thức đó và có thể vận dụng chúng nhiều hơn trong thực tiễn đời sống và kỹ thuật
Mặc khác, đây là môn học mang tính chất nhập môn cho SV bắt đầu học vật lý,
do đó đối với giảng viên khi giảng dạy học phần này phải tạo được sự hứng thú học tập cho SV, giúp SV làm quen với các phương pháp nhận thức vật lý, nhất là phương pháp thực nghiệm Đó là một việc hết sức quan trọng mang ý nghĩa quyết định đến việc gây hứng thú học tập và nghiên cứu vật lý của SV sau này
2.1.2 Vị trí đặc điểm của chương “Năng lượng – cơ học chất lưu”
Theo đề cương môn học VLĐC dành cho các lớp không chuyên thì môn học này gồm 2 tín chỉ và được giảng dạy trong 30 tiết Chương “Năng lượng” và chương
“Cơ học chất lưu” thuộc chương thứ IV và thứ VI trong đề cương môn học, tổng số lí thuyết trong 2 chương này 10 tiết lí thuyết và 6 tiết bài tập
Trong chương “Năng lượng” chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu sự thay đổi của vật về mặt năng lượng: Xác định công, công suất của động cơ; Độ biến thiên năng lượng của
hệ khi chịu và không chịu tác dụng của ngoại lực; Độ biến thiên động năng của hệ khi
Trang 26chịu tác dụng của ngoại lực; Tìm vận tốc của hệ sau va chạm trong va chạm đàn hồi hoàn toàn xuyên tâm và va chạm mềm; Tìm sự thay đổi cơ năng của vật trong trường lực thế
Trong chương “Cơ học chất lưu” chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu đặc điểm của chất lưu; Nguyên nhân gây ra áp suất; Đặc điểm của áp suất chất lưu; Đường dòng, ống dòng, định luật bảo toàn dòng; Định luật Bécnuli
2.1.3 Mục tiêu dạy học của chương
Trong dạy học, việc xác định mục tiêu dạy học của môn học nói chung và mục tiêu dạy học của từng chương, từng bài học nói riêng đóng vai trò rất quan trọng, nó quyết định đến chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học
Mục tiêu dạy học của chương “Năng lượng – Cơ học chất lưu” VLĐC, sau khi
học xong 2 chương này SV sẽ:
* Chương Năng lượng
Về kiến thức:
- Định nghĩa và viết được biểu thức công, công suất
- Phát biểu và viết được biểu thức định luật bảo toàn năng lượng
- Thiết lập và phát biểu được định lí động năng trong trường hợp vật rắn chuyển động tịnh tiến và chuyển động quay
- Định nghĩa được trường lực thế và viết được biểu thức tính công trong trường lực thế
- Đinh nghĩa và viết được biếu thức thế năng trong trường lực thế
- Thiết lập và phát biểu được định luật bảo toàn cơ năng trong trường lực thế
- Đinh nghĩa được thế nào là va chạm, va chạm đàn hồi, va chạm không đàn hồi
- Thiết lập được công thức tính vận tốc sau va chạm của các quả cầu trong 2 trường hợp: va chạm đàn hồi và va chạm không đàn hồi
- Thiết lập được công thức nhiệt lượng tỏa ra trong quá trình va chạm trong va chạm mềm
Về kĩ năng:
- Vận dụng các kiến thức trong chương để giải các bài tập liên quan đến nội dung học tập trong chương như: tính công, công suất của động cơ; tính lực cản trung bình của gỗ tác dụng lên đạn; tìm vận tốc của các quả cầu sau va chạm trong 2 trường hợp: va chạm đàn hồi và va chạm không đàn hồi…
Về thái độ:
Trang 27- Tích cực nâng cao trình độ nhận thức về các vấn đề vật lí
- Có sự hứng thú học tập môn vật lí, lòng yêu thích khoa học
- Có tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mĩ
- Chủ động vận dụng các kiến thức đã học trong phân tích và giải quyết các vấn đề vật
lí
* Chương “ Cơ học chất lưu”
Về kiến thức:
- Phát biểu được chất lưu là gì ? Đặc điểm của chất lưu và chất lưu lí tưởng là gì ?
- Trình bày được nguyên nhân gây ra áp suất; Đặc điểm của áp suất chất lưu; Đường dòng, ống dòng
- Viết được biểu thức áp suất thủy tĩnh
- Phát biểu được nguyên lí Pascal và viết biểu thức
- Phát biểu được định luật Acsimet và viết biểu thức
- Thiết lập được định luật bảo toàn dòng (phương trình liên tục) và phát biểu định luật
- Thiết lập được định luật Bécnuli và phát biểu định luật
Về kĩ năng:
- Vận dụng các kiến thức trong chương để giải các bài tập liên quan đến nội dung học tập trong chương như: tính vận tốc của chất lưu, đường kính của bình chứa chất lưu, áp suất, thời gian chảy của chất lưu…
Về thái độ:
- Tích cực nâng cao trình độ nhận thức về các vấn đề vật lí
- Có sự hứng thú học tập môn vật lí, lòng yêu thích khoa học
- Có tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mĩ
- Chủ động vận dụng các kiến thức đã học trong phân tích và giải quyết các vấn đề vật
lí
2.1.4 Nội dung kiến thức của chương
* Chương “Năng lượng”
Trang 283 Công và công suất của lực tác dụng trong chuyển động quay
Theo định nghĩa r.Ft = M là mômen của lực Ft đối với trục quay , do đó ta có công nguyên tố trong chuyển động quay của vật
dA = Md
Từ đó ta có thể suy ra biểu thức công suất
dt
d M dt
Độ biến thiên nặng lượng của một hệ trong quá trình nào đó có giá trị bằng công mà
hệ nhận được từ bên ngoài trong quá trình đó
W2 – W1 = A
Nếu A > 0 năng lượng của hệ tăng, hệ nhận công từ bên ngoài
Nếu A < 0 năng lượng hệ giảm, hệ sinh cho công cho bên ngoài
Trong trường hợp hệ cô lập, tức A = 0 (hệ không trao đổi năng lượng với môi trường bên ngoài)
W2 = W1= const
Năng lượng của hệ cô lập được bảo toàn
Nội dung của định luật bảo toàn năng lượng: Năng lượng không tự mất đi mà cũng không tự sinh ra, năng lượng chỉ chuyển từ hệ này sang hệ khác
5 Động năng
* Động năng trong trường hợp vật chuyển động tịnh tiến
Trang 29Định lí động năng: Độ biến thiên động năng của chất điểm trên một chuyển dời nào
đó bằng công của ngoại lực tác dụng lên chất điểm ấy trên chuyển dời đó
Wđ2 - Wđ1 = A
Định nghĩa động năng: Động năng là dạng năng lượng mà vật có được do chuyển
động và được đo bằng nữa tích khối lượng với bình phương vận tốc
2 2
W đ
Trong trường hợp tổng quát vật rắn vừa chuyển động tịnh tiến, vừa chuyển động quay
22
2 2
Định nghĩa: Một chất điểm được gọi là chuyển động trong một trường lực nếu tại mọi
vị trí của chất điểm đều xuất hiện lực F tác dụng lên chất điểm ấy hay lực F tác
dụng lên chất điểm phụ thuộc vào vị trí của chất điểm
Thế năng trong trường lực thế: Thế năng là dạng năng lượng đặc trưng cho sự tương
tác giữa trái đất và vật Nó phụ thuộc vào vị trí của vật
Định luật bảo toàn cơ năng trong trường lực thế: Khi chất điểm chuyển động trong
trường lực thế mà không chịu tác dụng của một lực nào khác thì cơ năng của chất
điểm là một đại lượng bảo toàn”
Biểu thức: W = Wđ + Wt = const
7 Va chạm
Va chạm đàn hồi: Va chạm mà sau va chạm các vật không bị thay đổi hình dạng, kích
thước thì được gọi là va chạm hoàn toàn đàn hồi
Biểu thức vận tốc của hai quả sau va chạm
2 2 1 2 2
1
1 2 1 ' 1
2)
(
v m m
m m
m
v m m v
1
2 1 2 ' 2
2)
(
v m m
m m
m
v m m v
Trang 30Va chạm mềm: Va chạm mà sau va chạm hai quả cầu dính vào nhau chuyển động cùng vận tốc gọi là va chạm mềm
Biểu thức vận tốc sau va chạm và nhiệt lượng tỏa ra trong quá trình va chạm
)
1 1
m m
v m V
2 2 1
m m
v m m Q
* Chương “Cơ học chất lưu”
1 Đặc điểm của chất lưu
Chất lỏng và chất khí thì được gọi là chất lưu, chất lưu có đặc điểm chung là không có hình dạng cố định và dễ dàng lưu thông từ nơi này đến nơi khác khi có áp lực tác dụng lên nó
2 Khối lượng riêng
Tại một điểm bất kì trong chất lưu, nếu ta tách một thể tích Vbao quanh điểm
đó và đo được khối lượng m của chất lưu chứa trong thể tích đó thì khối lượng riêng
Nguyên nhân gây ra áp suất chất lưu: Do các phân tử chất lưu chuyển động hỗn
loạn nên va chạm với nhau và va chạm với thành bình Trong quá trỉnh va chạm đó các
phân tử chất lưu đã gây ra biến thiên xung lượng tạo thành lực tác dụng lên thành bình
Đặc điểm của áp suất chất lưu: Áp suất do chất lưu gây ra có đặc điểm là: Tại một vị
trí trong chất lưu có áp suất như nhau theo mọi hướng Điểm khác nhau giữa áp suất
do chất lưu gây ra và áp suất do vật rắn gây ra là: áp suất do vật rắn gây ra chỉ có
hướng theo hướng của áp lực tác dụng
4 Sự thay đổi theo độ sâu Áp suất thủy tĩnh
Biểu thức: p = pa + gh
Áp suất thủy tĩnh p tại một điểm trong lòng chất lỏng lớn hơn áp suất khí quyển trên bề mặt chất lỏng Độ chênh áp suất bằng gh trong đó h là độ sâu của điểm đó so với mặt thoáng của chất lỏng
5 Nguyên lí Pascal
Trang 31Phát biểu: Độ tăng áp suất lên một chất lỏng chứa trong bình kín được truyền nguyên vẹn cho mọi điểm của chất lỏng và thành bình
Biểu thức: p = png + gh
png là áp suất từ bên ngoài nén lên mặt chất lỏng
6 Định luật Acsimet
Phát biểu: Một vật chìm một phần hay toàn bộ trong một chất lỏng đều chịu một lực
đẩy hướng lên trên bằng trọng lượng của khối chất lỏng bị vật chiếm chỗ Lực đẩy này gọi là lực đẩy Acsimet
Biểu thức: Fr Vgr
7 Đường dòng, ống dòng và đặc điểm của chất lưu trong ống dòng
Đường dòng:
- là đường vạch bởi một phần tử rất nhỏ của hạt chất lưu
- Vectơ vận tốc tại một điểm bất kì bao giở cũng tiếp tuyến với đường dòng tại điểm
đó
- Các đường dòng không thể cắt nhau, nếu chúng cắt nhau thì vận tốc các phân tử càng lớn và ngược lại
Ống dòng: Các đường dòng tựa trên một đường cong kín tạo thành ống dòng
Đặc điểm của chất lưu trong ống dòng: Các phần tử chất lưu ở trong ống dòng
không thể đi ra khỏi ống dòng và ngược lại, các phần tử chất lưu ở ngoài ống dòng thì không thể lọt vào trong ống dòng Nếu thoát ra được là trường hợp đường dòng cắt nhau
8 Định luật bảo toàn dòng (phương trình liên tục)
Biểu thức định luật: v S1 1=v S2 2 hay vSconst
Phát biểu: “Dọc theo ống dòng ở nơi có tiết diện lớn thì vận tốc nhỏ và ngược lại”
Phát biểu: “Trong một ống dòng tổng áp suất tĩnh, áp suất động của một đơn vị thể
tích và thế năng của một đơn vị thể tích chất lỏng là không đổi”
2.2 Sơ đồ cấu trúc của chương
* Chương “Năng lượng”