Tài liệu ôn thi Tôn giáo trong triết học 1. Bản chất của tôn giáo: Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định. Do đó xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước sức mạnh tự nhiên và sức mạnh xã hội.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TÔN GIÁO TRONG TRIẾT HỌC
Câu 1: Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tôn giáo:
1 Bản chất của tôn giáo:
Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định Do đó xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước sức mạnh tự nhiên và sức mạnh xã hội
Theo C.Mác: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim … tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
Tuy nhiên tôn giáo cũng chứa đựng một số nhân tố giá trị văn hóa, phù hợp với đạo đức, đạo lý của xã hội Về phương diện thế giới quan thì thế giới quan duy vật Mác xít và thế giới quan tôn giáo là dối lập nhau Tuy vây, những người cộng sản có lập trường mác xít không bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của nhân dân Ngược lại, chủ nghĩa ML và những người cộng sản, chế độ xhcn luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân
2 Nguồn gốc của tôn giáo:
Nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo:
Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gắn cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa nhứn sức mạnh đó Từ đó, họ xây dựng nên những biểu hiện tôn giáo để thờ cúng
Khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước sức mạnh của thế lực giai cấp thống trị Họ không giải thích được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức, bóc lột, tội ác … tất cả họ quy về số phận và định mệnh Từ đó, họ đã thần thành hóa một số người thành những thần tượng có khả năng chi phối suy nghĩ và hành động người khác mà sinh ra tôn giáo
Như vậy, sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp bức, bóc lột về chính trị, bất lực trước những bất công của xã hội là nguồn gốc sâu xa của
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân mình còn có giới hạn Mặt khác, trong tự nhiên và xã hội có nhiều điều khoa học chưa khám phá và giải thích được nên con người lại tìm đến tôn giáo
Sự nhận thức của con người khi xa rời hiện thực, thiếu khách quan dễ rơi vào ảo tưởng, thần thành hóa đối tượng
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Do sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội mà dẫn đến việc ính ra tôn giáo Các nhà duy vật cổ đại thường đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra tôn giáo” Lênin cũng cho rằng, sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản … sự phá sản “đột ngột” “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm họ bị diệt vong …, dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại
Ngay cả những tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng cũng có khi được thể hiện qua tôn giáo
Trang 23 Tính chất của tôn giáo:
Tính lịch sử của tôn giáo:
Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù nó còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới mức độ nhất định
Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng giai đoạn lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo
Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên, xã hội, làm chủ được bản thân mình và xây dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo sẽ không còn
Tính quần chúng của tôn giáo:
Tôn giáo là nơi sinh hoặt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động Hiện nay, số lượng tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số thế giới
Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo, song nó phản ánh khát vọng của những con người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bát ái … Bởi vì, tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo hướng thiện Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội
Tính chính trị của tôn giáo
Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chi giai cấp, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình
Trong nội bộ tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp
Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ ở quốc gia mà còn cả phạm vi quốc tế Đó là sự xuất hiện các tổ chức quốc tế của tôn giáo với thế lực lớn đã tác động đến nhiều mặt, trong đó có chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Vì vậy, cần nhận thức rõ: đa số quần chúng đến với tôn giáo nhằm thõa mãn nhu cầu tinh thần; song trên thực tế đã và đang bị các thế lực chính trị – xã hội lợi dụng để thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ
Các chức năng Tôn giáo:
Luận điểm nổi tiếng của C.Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bật chức năng đền bù hư ảo Giống như thuốc phiện tôn giáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của “sự làm nhẹ” tạm thời nỗi đau khổ của con người, an ủi cho những mất mát, những thiếu hụt hiện thực của đời sống con người, đồng thời gây ra những tác động có hại đối với con người khi tạo ra ở họ nhu cầu thường xuyên tách khỏi hiện thực, tiêm nhiễm cho họ những quan niệm phản khoa học
Đây là cách hiểu của đại đa số người nghiên cứu về chủ nghĩa Marx, nhưng thực tế có phải Marx có ý nói như vậy không? câu trả lời là không phải bởi vì Trung Quốc là nơi mà chủ nghĩa Marx lan đến trước Việt Nam, vào bối cảnh đầu thế kỷ XX, các học giả Trung Quốc đặc biệt yêu thích câu nói tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân vì cuộc chiến tranh thuốc phiện (chiến tranh nha phiến) thế kỷ XIX vẫn là một sự kiện đánh dấu chủ nghĩa thực dân xâm chiếm Trung Quốc như thế nào Do vậy người ta hiểu thuốc phiện theo ý ác cảm, cho rằng nó là chất gây nghiện, có hại, đem lại hạnh phúc hư ảo cho con người Tới hiện nay các học giả Trung Quốc đã có cái nhìn khách quan hơn và đã hiểu lại rằng câu nói này của Marx ý nói tôn giáo là một hiện tượng tồn tại dai dẳng, lâu bền, không thể biến mất một sớm một chiều được, như khi người ta bị nghiện thì rất khó bỏ Do vậy trong thời
Trang 3gian dài tôn giáo vẫn phải đảm nhiệm chức năng an ủi, giảm nhẹ nỗi đau, là tiếng thở dài của chúng sinh mà không gì có thể thay thế được Chúng ta nên hiểu đây là quan điểm thiện cảm, là lời khuyên của Marx trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo, không phải đơn thuần là phê phán
• Đáp ứng nhu cầu tâm linh, tình cảm của con người
Chế ngự nỗi sợ hãi: con người ai cũng có nỗi sợ, và nỗi sợ lớn nhất là cái chết Người ta luôn lo sợ cái chết là một điều khủng khiếp vì chưa ai hiểu được sau cái chết là gì Sự bí hiểm của cái chết khiến người ta sợ hãi nó Nắm được điểm này mà tôn giáo nào cũng xây dựng cho mình một thế giới sau khi chết như thiên đàng, địa ngục, diêm phủ, niết bàn tức là cho người ta thấy viễn cảnh sau khi chết, nó như thế nào tùy thuộc vào sự mộ đạo, chân thành và tu dưỡng đạo đức
Giải tỏa căng thẳng, lo âu: Biểu hiện rõ nhất qua lễ xưng tội của Kito giáo Trong Công giáo người ta giãi bày mọi phiền não, lo âu của mình cho cha và nhận lại những lời khuyên Đây là một phương pháp trị liệu tâm lý rất hiệu quả Ở một số tôn giáo khác không cần qua những hoạt động thế này mà biểu hiện ngay trong giáo lý dạy cho tín đồ
• Giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, văn hóa con người
Tôn giáo tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành vi của con người có đạo Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà cả ở cuộc sống hàng ngày trong gia đình và xã hội của giáo dân VD: Phật giáo : cấm sát sinh, tà dâm, nói dối
Không có tôn giáo nào dạy con người làm điều xấu, điều ác (trừ một số loại biến thái và chúng chẳng tồn tại được lâu) Bởi vì hai lý do: tôn giáo cần những chuẩn mực cho tín đồ
Chức năng giáo dục của tôn giáo được thể hiện ở hệ thống giáo dục một số nước Về điểm này cần nói đến Nho giáo, một điều rất đặc biệt mà nho giáo đem lại cho xã hội phương Đông đó là khiến Nhà nước phải tuyển chọn người tài bằng con đường thi cử, học hành
• Chức năng nhận thức:
Tôn giáo cũng là một phương cách nhận thức khác khoa học Có những khoa học dạy con người nhận thức thế giới một cách gián tiếp hoặc trực tiếp, trên cơ sở tri thức xác thực, duy lý, dựa trên lý tính, chân lý khách quan, phổ quát trong khi tôn giáo giúp con người nhận thức thế giới theo cách riêng, bằng thần bí, đức tin, cảm quan, trải nghiệm cá nhân
Khoa học giúp con người nhận thức thế giới một cách khách quan, quan tâm tới các sự kiện; còn tôn giáo giúp con người nhận thức thế giới một cách chủ quan, quan tâm tới các giá trị Tôn giáo có sự lý giải các vấn đề tự nhiên và xã hội - hướng con người tới cái siêu nhiên, thần thánh, xen nhẹ đời sống hiện thực
VD: được lên thiên đàng (quan niệm của kitô giáo, islam, Do thái) ở hiền gặp lành, tránh điều ác, tu nhân tích đức để giải thoát (đạo Phật)
• chức năng liên kết cộng đồng qua tổ chức giáo hội
là chức năng có sau cùng, vì tôn giáo mang bản chất xã hội nên tôn giáo cũng có chức năng liên kết tín đồ, liên kết cộng đồng Những người có cùng niềm tin tôn giáo thì dễ hiểu nhau và có xu hướng sống cố kết với nhau hơn với những người không cùng hoặc không có tôn giáo Họ có thể bảo vệ nhau, chống lại những mối đe dọa hoặc chế độ phản tiến bộ đương thời Nhưng cũng có khi Những cuộc thập tự chinh có những đoàn người Kito hành hương về đất thánh, trên đường đi họ bị cướp phá, sát hại Giáo hội liền tổ chức các dòng kị sĩ đền để bảo vệ các đoàn hành hương này, thậm chí tham gia chiến tranh
Trang 4• Chức năng giao tiếp, nhiều khi nó đồng nhất với chức năng liên kết cộng đồng
Thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng Sự liên hệ được thể hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thần thánh được coi là giao tiếp tối cao
Câu 2 Những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam.
Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, công tác tôn giáo đã có những biến đổi sâu sắc và đạt được kết quả khả quan hơn Việc thực hiện tự do tín ngưỡng đã đi vào nề nếp bên cạnh việc bảo đảm sự phát triển của kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, trong đó có cả đồng bào có đạo
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hoạt động tôn giáo trong cả nước khá sôi động; đó là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng cũng như sự quản lý có hiệu quả của Nhà nước ta Những thành quả trong công tác này, được thể hiện rõ trên một số mặt:
1 Hoàn thiện pháp luật, cơ chế chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo
Từ khi có Nghị quyết 25/NQ-TW ngày 12-3-2003 của Trung ương Đảng về công tác tôn giáo, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành từng bước cụ thể hóa các quan điểm, giải pháp và các nhiệm vụ chủ yếu trong Nghị quyết của Đảng thành các quy định của pháp luật, các kế hoạch, giải pháp, cơ chế Điều đó đã bảo đảm việc thực hiện và đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động tôn giáo, sự thống nhất trong việc giải quyết nhu cầu sinh hoạt tôn giáo trên phạm vi cả nước, tăng cường hiệu lực và hiệu quả công tác tôn giáo
Các bộ, ngành liên quan đã tham mưu và giúp Chính phủ, Thủ tướng xây dựng và trình Quốc hội thông qua các văn bản liên quan trực tiếp và gián tiếp đến công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo Ban Tôn giáo Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiến hành bổ sung vào Dự thảo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể hóa chính sách tôn giáo của Đảng trong Nghị quyết 25/NQ-TW; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học, quản lý và chức sắc đại diện cho các tổ chức tôn giáo Thừa ủy quyền của Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo ngày 29-6-2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15-11-2004
Ban Tôn giáo Chính phủ chủ trì soạn thảo Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo trình Chính phủ và được ban hành ngày 01-3-2005 Sau đó, Chính phủ ban hành tiếp Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 4-2-2005 về một số công tác đối với đạo Tin Lành Như vậy, Nghị quyết số 25/NQ-TW cùng với ba văn bản nói trên đã công khai, minh bạch đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta trong lĩnh vực tôn giáo; đồng thời là cơ sở để giải quyết các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tôn giáo của nhân dân, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tôn giáo đang hoạt động ở Việt Nam
Mặt khác, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành và sửa đổi 16 văn bản quy phạm pháp luật có những nội dung liên quan đến các lĩnh vực hoạt động tôn giáo như: về đất đai có Luật Đất đai sửa đổi năm 2003, Nghị quyết số 23/2003/QH XI về nhà đất do Nhà nước quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01-7-1991; về xây dựng có Luật Xây dựng; về thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo, có Luật Khiếu nại, tố cáo; về đăng ký hộ khẩu, có Luật Cư trú… Hệ thống chính sách mới được ban hành, sửa đổi, bổ sung có tác động tích cực trong việc bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của nhân dân, cũng như quản lý các hoạt động tôn giáo theo pháp luật một cách cụ thể, rành mạch, nghiêm chỉnh
Như vậy, việc xây dựng các văn bản pháp luật và cơ chế chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo trong thời gian qua đã được chú trọng hơn, có sự phối hợp của các bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, phát huy được sự đóng góp trí tuệ của hệ thống chính trị, các nhà khoa học, chức sắc tôn giáo Vì
Trang 5vậy, các văn bản ban hành đã tạo được sự đồng bộ và hiệu lực hơn Đặc biệt, khi đã hình thành được hệ thống chính sách pháp luật rồi thì công việc tiếp theo là tuyên truyền nó sâu rộng trong nhân dân là rất quan trọng Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trong những năm vừa qua, cả nước đã tổ chức 4.517 lớp, với 221.953 lượt người tham dự để tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị
Do có hệ thống luật pháp về tôn giáo và được tuyên truyền sâu rộng trong xã hội nên việc thực thi luật pháp diễn ra suôn sẻ Tập thể, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt được biểu dương khen thưởng; ngược lại, nếu không thực hiện tốt hay vi phạm luật pháp thì bị trừng trị Điều này giải thích tại sao vừa qua ở nước ta có những cá nhân, tín đồ vi phạm luật pháp đã bị Nhà nước ta xử phạt Việc xử phạt đó chính là nhằm thực hiện nghiêm luật pháp
2 Tăng cường đầu tư và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các tôn giáo Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là khi có Nghị quyết 25/NQ-TW cũng như Chương trình hành động của Chính phủ, Đảng và Nhà nước ta đã xác định, việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác tôn giáo Từ nhiệm vụ tổng thể trên, các chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, các khu vực như: Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long,… được xác định khá cụ thể trong việc phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào trên nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
Các bộ, ngành, trung ương trong quá trình hướng dẫn địa phương xây dựng định hướng quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các vùng, các địa phương đều đã gắn với kế hoạch chung của cả nước về chính sách hỗ trợ đất ở và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; về công tác định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số; về phát triển văn hóa, y tế, giáo dục trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào các tôn giáo khó khăn, các xã, bản nghèo,… Trên cơ sở đó, tham mưu cho Chính phủ cân đối nguồn lực bảo đảm thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình Xóa đói giảm nghèo, Chăm sóc sức khỏe, Phát triển giáo dục, Văn hóa thông tin…Các chương trình này được chú trọng và ưu tiên đã tạo điều kiện tốt cho việc bố trí nguồn lực ở các xã, thôn, bản có đông đồng bào dân tộc, đồng bào tôn giáo Quá trình triển khai thực hiện chính sách tôn giáo trong các vùng, miền trọng điểm như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ đã mang lại những kết quả ban đầu quan trọng, tạo lập được niềm tin của đại đa số đồng bào dân tộc nói chung, đồng bào theo đạo nói riêng đối với Đảng và Nhà nước Điều này đã góp phần giữ vững ổn định tình hình xã hội, an ninh chính trị ở các vùng; đồng thời; tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm, đoàn kết dân tộc được củng cố
Vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo đã được ghi nhận và cân đối trong các kế hoạch, cơ chế, chính sách của các bộ, ngành liên quan và của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đây là cơ sở để cân đối và bảo đảm nguồn lực phát triển hài hòa của hệ thống chính sách của Nhà nước
Kết quả thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội thời gian qua với số vốn hàng trăm tỉ đồng đã tác động tích cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào nói chung, đồng bào các tôn giáo nói riêng, góp phần ổn định và phát triển, làm cho đồng bào an tâm, đoàn kết xây dựng đời sống “tốt đời, đẹp đạo” Một bộ phận lớn đồng bào dân tộc, tôn giáo được giao đất ở, đất sản xuất; được hướng dẫn kỹ thuật, được vay vốn, nhận các điều kiện hỗ trợ cần thiết để sản xuất, tăng thu nhập; tích cực tham gia xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, góp phần giữ vững ổn định tình hình xã hội vùng giáo, vùng đồng bào dân tộc
3 Mở rộng các hoạt động đối ngoại trong lĩnh vực tôn giáo
Trang 6Trong những năm đổi mới, nhất là 3 năm qua, Chính phủ, các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã thực sự quan tâm đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại tôn giáo và liên quan đến tôn giáo nhằm tháo gỡ những rào cản, vướng mắc ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế, chính trị, ngoại giao và nhiều mặt khác Thông qua kênh Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức, cá nhân tôn giáo và liên quan đến tôn giáo ở trong nước với các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài; các cuộc hội thảo chuyên đề do các tổ chức phi chính phủ tổ chức, cũng như việc tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân có dịp tiếp cận với thực tế ở các vùng, miền nhạy cảm về tôn giáo, các nhân vật tôn giáo đã làm cho dư luận quốc tế hiểu rõ hơn tình hình và chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam
Các kênh đối ngoại tôn giáo được tăng cường như: trao đổi đoàn; tham dự các diễn đàn, hội thảo đối thoại về nhân quyền, tôn giáo với các nước EU, Mỹ, Ốt-xtrây-lia, với Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế (Mỹ), diễn đàn nhân dân ASEM hàng năm, hội thảo về pháp luật tôn giáo các nước Đông Nam Á, các cuộc tiếp xúc giữa sứ quán các nước, các tổ chức quốc tế, phóng viên, báo chí nước ngoài với các cơ quan trung ương, các tỉnh, thành phố một cách thường xuyên, thân tình, khách quan đã mang lại kết quả quan trọng tạo được niềm tin, sự hiểu biết, chia sẻ của các nước, các tổ chức về chính sách tôn giáo, cũng như những vướng mắc trong công tác xử lý một số vấn đề tôn giáo của Việt Nam
Các cuộc trao đổi kinh nghiệm quản lý với các nước trong khu vực như: Lào, Căm-pu-chia, Trung Quốc, trên kênh cơ quan chức năng nhà nước và các tổ chức tôn giáo được tiếp tục duy trì và tăng cường hơn trong thời gian qua Cùng với các hoạt động đó là việc hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo cử đoàn tham dự các hội nghị, hội thảo, các sinh hoạt tôn giáo ở nước ngoài như Hội đồng Giám mục Việt Nam tham gia làm thành viên Hội đồng Giám mục Á châu, các Giám mục tham dự lễ tang Giáo hoàng Gioan Phao-lô II và lễ đón nhận chức Giáo hoàng Bên-dic-to XVI, các đại hội Giới trẻ Công giáo thế giới,… Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo quốc tế được tổ chức hàng năm, thăm và trao đổi với Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Thái Lan, Liên minh Phật giáo Lào, Phật giáo Căm-pu-chia và các cuộc hội thảo về Phật giáo do các nước trong khu vực tổ chức…là những nét mới trong chính sách tôn giáo của Nhà nước ta Đáng chú ý là: Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã mời và tổ chức đón đoàn Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai (Pháp) vào thăm và tổ chức một số hoạt động tôn giáo trong thời gian 3 tháng đầu năm 2005 và chuyến thứ hai vào đầu năm 2007; Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức đón đoàn Bộ trưởng Bộ Truyền giáo Tòa Thánh Va-ti-căng thăm Hội đồng Giám mục Việt Nam và một số giáo phận; Đoàn các Mục sư Mỹ tham dự Đại hội đồng Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) lần thứ hai,…
Đặc biệt, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam được các ngành liên quan, các tỉnh, thành phố quan tâm tạo điều kiện phù hợp với truyền thống mỗi nước, mỗi tôn giáo, đã tạo được sự ủng hộ của dư luận trong và ngoài nước
Thực tiễn công tác đối ngoại tôn giáo và liên quan đến tôn giáo từ sau khi có Nghị quyết 25/NQ-TW và Chương trình hành động của Chính phủ đã thực sự thấm nhuần đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, có sự quan tâm, điều hành khá thống nhất, đồng bộ và có sự tham gia tích cực chủ động, của các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố liên quan đã mang lại kết quả rất quan trọng trong việc làm thay đổi nhận thức, tình cảm của bạn bè quốc tế
Có thể nói, công tác tôn giáo trong những năm gần đây của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thành tựu và nhiều bài học kinh nghiệm quý Những thành tựu và kinh nghiệm ấy đã và đang được đúc kết thành những bài học để làm cơ sở cho những năm tới thực hiện tốt hơn Chỉ với một số mặt rất cơ bản nêu trên, đã chứng tỏ Đảng và Nhà nước ta rất tôn trọng tự do tín ngưỡng, quan tâm sâu sắc đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động, trong đó có cả đồng bào có đạo Rõ ràng, chính sách của Đảng và Nhà nước ta là nhân đạo, đúng đắn, là phù hợp với xu thế tiến bộ của nhân loại Không thể chỉ vì vừa qua, một vài tín đồ vi phạm luật pháp, bị Nhà nước Việt Nam trừng trị theo luật pháp mà phủ nhận thành tựu của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề tôn giáo
Trang 7Câu 3 Quan điểm của CN Mác về giải quyết vấn đề tôn giáo (Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin
về vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, liên hệ đến việc thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay).
Ngày nay tín ngưỡng, tôn giáo đang là vấn đề sôi động trong mỗi nước và trên toàn thế giới, các thế lực thù địch với CNXH và độc lập dân tộc đang tiếp tục thực hiện lợi dụng về vấn đề tôn giáo để tác động và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, phục vụ các ý đồ chính trị đen tối của chúng
Ở nước ta đang tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo và đang có xu hướng phát triển Tình trạng tuyên truyền đạo trái phép, nhiều tà giáo mới xuất hiện, hiện tượng mê tín dị đoan đang có chiều hướng phát triển Một số người trong các tôn giáo đang có ý định liên kết với nhau, thực hiện “liên tôn” chống cộng Do vậy, việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới của nước ta, nó đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và những biến động thực tiễn của cách mạng nước ta về vấn đề tôn giáo
1- Bản chất tôn giáo :
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hiện tượng xã hội đa dạng, phức tạp gắn liền với những lĩnh vực xã hội khác nhau của đời sống con người; là một hình thái ý thức xã hội do con người sáng tạo ra, nó phản ánh cách giải quyết mối quan hệ giữa con người với cái siêu nhiên, cái hiện thực với cái hư ảo, cái trần tục với cái thiêng liêng, các trần gian với cái siêu trần gian Tôn giáo là sự sáng tạo, nó phản ánh hư ảo, ảo tưởng, sự tưởng tượng, là thế giới quan lộn ngược của con người với những sức mạnh bên ngoài chi phối họ Ăngghen viết “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người, là những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó sức mạnh ở thế gian đã mang hình thức siêu thế gian” (Ăngghen trong Chống Đuyrinh)
Tôn giáo là một nhu cầu của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Nó không chỉ là việc đạo, nó còn là việc đời
Tôn giáo không có nội dung riêng, nó phản ánh hiện thực xã hội một cách sai lệch, hư ảo Tôn giáo là hạnh phúc
hư ảo, là thuốc phiện của tín đồ tôn giáo
Tóm lại, tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một thực thể xã hội Song xét về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, nó phản ánh một cách hoang đường, hư ảo, lệch lạc hiện thực khách quan vào đầu óc con người Sự hoang đường của tôn giáo do chính con người sáng tạo ra; cái thế giới hư ảo ấy không ai nhìn thấy được và chưa ai chứng minh được bằng cơ sở khoa học Hoang đường và hư ảo chính là bản chất của tôn giáo
2- Nguồn gốc tôn giáo:
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng tôn giáo ra đời có 3 nguồn gốc cơ bản:
- Trước hết là nguồn gốc nhận thức: tôn giáo đã nảy sinh trong xã hội mà trình độ sản xuất hết sức thấp kém, con người hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, bất lực trước những hiện tượng tự nhiên không thể giải thích được, dẫn đến sự bất lực, “bổ sung” bằng cách giải thích là có một lực lượng siêu nhiên có sức mạnh ghê gớm ở bên ngoài con người, đang chi phối con người Vì vậy, tôn giáo lúc đầu là đa thần, tôn giáo gắn liền với đặc điểm nhận thức Ánh sáng khoa học đi đến đâu thì tôn giáo lùi đến đó Biết và chưa biết còn khoảng cách thì còn tôn giáo Vì vậy, tôn giáo còn tồn tại lâu dài
- Thứ hai là nguồn gốc KT-XH: Khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp và có đối kháng giai cấp, con người phải chịu sự bóc lột của giai cấp thống trị, xã hội bất bình đẳng, con người không giải thích được, nên tìm đến
Trang 8tôn giáo Con người tìm đến tôn giáo để được che chở bởi đức chúa trời, đức phật, thượng đế… Giai cấp thống trị luôn luôn sử dụng tôn giáo, lợi dụng triệt để tôn giáo để thống trị nhân dân, khống chế nhân dân
- Thứ ba là nguồn gốc tâm lý tình cảm: Con người tìm đến tôn giáo như tìm đến niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần, tôn giáo đã có tác dụng giữ trạng thái thăng bằng, tâm tư, tình cảm của con người Nó là quan niệm, lòng tin, tình cảm của con người trước những sức mạnh của tự nhiên, những biến cố của xã hội Vì thế tôn giáo chỉ là hạnh phúc hư ảo, song người ta vẫn cần đến nó
3- Chức năng cơ bản của tôn giáo : gồm 4 chức năng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo có các chức năng:
- Chức năng đền bù hư ảo: Mặc dù tôn giáo phản ánh xuyên tạc, hoang đường cái hiện thực khác quan nhưng từ sự bất lực thực tiễn của con người, tôn giáo đáp ứng nhu cầu niềm tin tạo sự thăng bằng tâm lý và vấn an con người
- Chức năng thế giới quan: giúp cho con người nhận biết về sự giải thích thế giới quan thông qua sự giải thích của tôn giáo
- Chức năng điều chỉnh hành vi hoạt động của con người thông qua hệ thống chuẩn mực những giá trị xã hội
do tôn giáo đưa ra
- Chức năng liên kết: Nó duy trì củng cố hệ thống xã hội hiện hành, củng cố cộng đồng, củng cố các mối quan hệ xã hội, nó có thể gắn hàng triệu con người vào mục tiêu nào đó
Đồng thời với những chức năng trên, tôn giáo còn có những hạn chế Nó gò bó con người, làm cho con người lệ thuộc bên ngoài Làm mờ nhạt ý thức đấu tranh, ý chí tự chủ vươn lên, ý thức trách nhiệm của con người, làm cho con người nghèo đi Dễ bị lợi dụng vì mục đích đen tối
Từ nguồn gốc xuất hiện của tôn giáo, ta thấy rằng tôn giáo chỉ ra đời trong điều kiện lịch sử nhất định Vì vậy, nó là phạm trù lịch sử, tôn giáo bao giờ cũng biến động theo sự biến động của lịch sử và chính nó là hệ quả của sự biến động lịch sử Trong tương lai, khi điều kiện xã hội tạo ra lực lượng sản xuất phát triển, xã hội không còn giai cấp thì tôn giáo không còn cơ sở để tồn tại Tôn giáo có tính chất quần chúng, nó thâm nhập vào đông đảo quần chúng nhân dân, nó ăn sâu vào tâm tư tình cảm nhân dân qua nhiều thế hệ, thể hiện số lượng tín đồ chiếm số lượng lớn trong dân cư Tôn giáo có tính chất chính trị, khi xã hội có giai cấp thì tôn giáo cũng có yếu tố chính trị, các tôn giáo khác nhau thì có tính chất chính trị khác nhau Tôn giáo ra đời là sự phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp của quần chúng, chống áp bức bóc lột của giai cấp thống trị; giai cấp thống trị biến tôn giáo thành công cụ thống trị để duy trì sự bóc lột Ngoài ra tôn giáo còn có tính phản khoa học, do bản chất hoang đường, hư ảo của tôn giáo quy định
4- Giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa Mác-Lênin:
Trong quá trình bảo vệ và phát triển tư tưởng của Mác-Ăngghen về tôn giáo, Lênin đã chỉ ra rằng: Thứ nhất, việc giải quyết vấn đề tôn giáo là rất quan trọng nhưng không phải là cái hàng đầu, cái chủ yếu trong mọi chính sách Thứ hai, phải phân biệt chính xác giữa hệ tư tưởng tôn giáo với những người chịu ảnh hưởng của tôn giáo, tức là phân biệt giữa hai mặt chính trị và tư tưởng tồn tại trong vấn đề tôn giáo để tránh những sai lầm tả hoặc hữu khuynh trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
Lênin cho rằng, cuộc đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, nhằm xóa bỏ nguồn gốc xã hội của tôn giáo Muốn thế, cần giải quyết vấn đề tôn giáo trong mối quan hệ chung của cuộc đấu tranh cách mạng với xây dựng CNXH; phải giáo dục tư tưởng mácxít, thế giới quan khoa học và làm cho nhân dân lao động hiểu được lợi ích của mình trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới Tư đó Lênin đề ra những nguyên tắc: Phải giải thích nguyên nhân tồn tại của tôn giáo một cách khoa học trên cơ sở duy vật
Trang 9Từ đó phải thấy rằng tôn giáo còn tồn tại trong xã hội mới Phải củng cố sự đoàn kết thống nhất giữa những người có tôn giáo và không có tôn giáo Không thể giải quyết vấn đề tôn giáo bằng những biện pháp hành chính cực đoan
5- Thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, dân tộc Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết có ở Việt Nam Những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế và ổn định về chính trị- văn hóa, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo diễn ra khá sôi động Nước ta hiện có 6 tôn giáo được Nhà nước công nhận về mặt tổ chức: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài và Hòa hảo; với hơn 20 hệ phái khác nhau Tổng số tín đồ có khoảng 20 triệu người, chiếm gần 20% dân số cả nước; khoảng 10 vạn chức sắc tôn giáo, trong đó có 5 vạn hoạt động chuyên nghiệp Nhìn chung các chức sắc, tín đồ tôn giáo đều có tinh thần gắn bó dân tộc Nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã có nhiều tín đồ trở thành đảng viên cộng sản, thành những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm hy sinh cho Tổ quốc, nhiều nhà sư, linh mục đã đi theo kháng chiến, nhiều chùa chiền và thánh thất là nơi nuôi giấu, che chở cho cán bộ cách mạng Ngày nay, các tổ chức giáo hội đều tuân theo Hiến pháp và pháp luật, đều mong muốn đất nước được ổn định và phát triển Tuy nhiên vấn đề tôn giáo vẫn còn nhiều phức tạp như trình độ nhận thức của tín đồ còn nhiều hạn chế, nên bị lệ thuộc nặng vào thần, giáo lý từ đó bị một số người lợi dụng để gây rối, một số giáo sĩ chức sắc do điều kiện lịch sử để lại thể hiện thái độ mặc cảm với xã hội mới nên thường chống đối lại cách mạng Điển hình như sự kiện chính trị - xã hội diễn ra tháng 02/2001, vụ gây rối ngày 1-4-2004 vừa qua xảy ra ở một số tỉnh Tây Nguyên đã cho thấy các thế lực phản động vẫn không từ bỏ âm mưu lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp xây dựng hòa bình của dân tộc Việt Nam
Tôn giáo là một vấn đề tế nhị, nhạy cảm, dễ bị kích động Có chính sách tôn giáo đúng đắn, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo là góp phần quan trọng vào việc củng cố khối đại đoàn kết nhân dân Trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, thời gian qua, cùng với việc ban hành các chủ trương, chính sách đổi mới về kinh tế, ổn định về chính trị, Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước xây dựng và hoàn thiện các chính sách, pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, khẳng định quan điểm nhất quán trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó bao hàm cả quyền tự quyết tự do không tín ngưỡng, tôn giáo, quyền thay đổi tôn giáo một cách tự nguyện của nhân dân Điều này được thể hiện rõ tại Điều 70 của Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước"
Đại hội IX của Đảng ta khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo Chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống của đồng bào Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo Từng bước hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành TW Đảng khóa IX về công tác tôn giáo, đã thống nhất quan điểm và chính sách của Đảng ta như sau:
1 Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trang 102 Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng tôn giáo Nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
3 Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách KT-XH, an ninh quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo
4 Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn Công tác quản lý Nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng
5 Vấn đề theo đạo và truyền đạo Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo qui định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động tôn giáo theo pháp luật qui định và được pháp luật bảo hộ Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động
mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các qui định của Hiến pháp và pháp luật
Tóm lại, chủ nghĩa Mác-Lênin đã lý giải vấn đề tôn giáo một cách có khoa học, khách quan, đúng đắn, làm nền tảng tư tưởng để từ đó Đảng và Nhà nước ta đề ra chủ trương chính sách về tôn giáo, giải quyết được những vấn đề tư tưởng của nhân dân có đạo, thực hiện được đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước Là cán bộ, đảng viên đặc biệt là cán bộ quản lý cần phải nhận thức sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tín ngưỡng, tôn giáo để làm nền tảng tư tưởng trong mọi hoạt động, đồng thời thực hiện tốt chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo, nhằm góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Câu 4: Tư tưởng HCM về tôn giáo.
Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Liên hệ tình hình thực hiện chính sách tôn giáo nước ta hiện nay
Bài làm
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, đa dạng gắn liền với những lĩnh vực xã hội khác nhau của đời sống con người Hiện nay tôn giáo là vấn đề sôi động trong mỗi nước và trên toàn thế giới Các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc đang tiếp tục thực hiện lợi dụng về vấn đề tôn giáo để tác động và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, phục vụ các ý đồ chính trị đen tối của chúng
Ơû nước ta hiện nay, tôn giáo cũng đang có chiều hướng phát triển Tình trạng truyền đạo trái phép, nhiều tà giáo mới xuất hiện, hiện tượng mê tín dị đoan đang có chiều hướng phát triển Một số người trong các tôn giáo đang có ý định liên kết với nhau, thực hiện “liên tôn” chống cộng Do vậy, việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới của nước ta Nó đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ những quan