329 VẬN DỤNG CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP Việt Nam
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi hoạt động theo
cơ chế thị trường, có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Với chính sách mở cửa
có nguyên tắc và đường lối phát triển nền kinh tế xã hội theo cấu trúc 5 thànhphần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, đã và đang tạo ra những điều kiện tiền
đề rất cơ bản cho quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế đất nước
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (1989) đến nay,trong hơn mộtthập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, nền kinh tế nước ta đãđạt được nhiều thành quả rất quan trọng và cơ bản Tuy nhiên, nghiêm túc mànói thành quả đạt được chưa thật vững chắc Hoạt động của nền kinh tế đãbắt đầu bộc lộ một số vấn đề khá cơ bản cần bàn, nghiên cứu và tìm hướng
khắc phục Nổi bật là vấn đề quản lý kinh tế Quá trình đổi mới nền kinh tế
về thực chất là quá trình thay đổi cơ chế quản lý Là quá trình chuyển đổi từ
cơ chế quản lý hành chính, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang hoạt độngtheo cơ chế quản lý kinh tế hiện đại, vận động theo cơ chế thị trường, lấy thị
trường làm tiêu điểm cho các hoạt động của các doanh nghiệp Việc chậm đưa công nghệ quản lý kinh tế hiện đại vào hoạt động thực tiễn chính là nguyên nhân cơ bản làm giảm thành quả đạt được trong thời gian qua, làm chậm quá trình đổi mới và phát triến nền kinh tế đất nước.
Hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam cũng nằm trong bối cảnhchung của nền kinh tế, hiện cũng đang vấp phải những vấn đề bức xúc củaquá trình phát triển mà nguyên nhân của nó cũng không ngoài vấn đề chậmđưa công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh củamình Điều đó đã hạn chế phần lớn đến kết quả đạt được cũng như địnhhướng hoạt động trong thời gian tới của toàn ngành Ngân hàng Việt Nam
Trang 2Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, viết gọn làNgân hàng Nông nghiệp Việt Nam (viết tắt là NHNOVN) là một ngân hànglớn trong hệ thống ngân hàng quốc doanh ở Việt Nam, cũng nằm trong tìnhtrạng chung trên đây của toàn ngành ngân hàng và của nền kinh tế đất nước.
Như vậy, công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại thực sự là một vấn đềlớn, cấp thiết cần được nghiên cứu và vận dụng vào hoạt động thực tiễn ở cácngân hàng thương mại Việt Nam
Xuất phát từ cách đặt vấn đề trên, tác giả đã chọn và triển khai nghiên
cứu đề tài: " VẬN DỤNG CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY".
2 Mục đích nghiên cứu:
Một là: Luận giải công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là một quá trìnhquản lý mang tính xã hội và vai trò của nó đối với việc phát triển nền kinh tếđất nước.Từ đó thấy được vai trò của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đạiđối với yêu cầu đổi mới hệ thống Ngân hàng Việt Nam
Hai là: Từ nội dung công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại đối chiếuvới hoạt động thực tiễn quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, từ đórút ra những mặt làm được và chưa làm được so với yêu cầu của công nghệquản lý ngân hàng hiện đại
Ba là :Đề xuất một số giải pháp vận dụng công nghệ quản lý ngânhàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp ViệtNam trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trang 3 Đối tượng: Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại
Phạm vi nghiên cứu:Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại và
Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại
Phạm vi vận dụng: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam
Thời gian: Từ nay đến những năm đầu của thế kỷ 21
Giới hạn:
* Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại và công nghệ quản lý ngân
hàng hiện đại vận dụng cho các doanh nghiệp và ngân hàng
thương mại
Khi nghiên cứu công nghệ quản lý hiện đại không nghiên cứu
về mặt kỹ thuật như vi tính, thông tin coi đó như là các yếu tốvật chất tự nhiên cần và có trong quá trình nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu trong phạm vi nội dung công nghệ quản lý,còncác kỹ thuật chi tiết của công nghệ quản lý không thuộc phạm vinghiên cứu của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu:
5 Đề và kết cấu của bài viết:
Đề của bài viết:
"Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay"
Trang 4 Kết cấu của bài viết bao gồm:
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 5Chương 1 QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ KINH TẾ HIỆN ĐẠI
Sự ra đời và phát triển của khoa học quản lý kinh tế gắn liền với sựphát triển của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của xã hội loài người.Chính vai trò to lớn của quản lý kinh tế là cơ sở để tác giả lựa chọn đề tàinghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này đó là: công nghệ quản lý ngân hànghiện đại Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là một ngànhkinh tế đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.Ngành Ngân hàng là mộttrong nhiều ngành kinh tế quan trọng của toàn bộ hoạt động nền kinh tế đấtnước Chính vì vậy, trước khi tìm hiểu nội dung của công nghệ quản lý ngânhàng hiện đại và vận dụng chúng trong thực tiễn cần phải tìm hiểu về quản lýkinh tế, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của công nghệ quản lý kinh tế hiệnđại có liên quan đến công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại Đó là nội dungchính cần làm rõ ở chương này
1.1 VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.[9,9-21]
1.1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ.
Có nhiều dạng quản lý, nói cụ thể là có nhiều đối tượng cần quản lý
Từ quản lý giới vô sinh đến giới hữu sinh, từ quản lý kinh tế đến quản lý xãhội Bài viết này chỉ quan tâm đến lĩnh vực quản lý kinh tế
Quản lý kinh tế có các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Quản lý kinh tế được phân chia thành hệ thống quản lý và
hệ thống bị quản lý (sự phân chia này chỉ là tương đối và trong những điềukiện, hoàn cảnh cụ thể nó có thể thay đổi vị trí cho nhau)
Thứ hai: Quản lý phải có khả năng thích ứng với môi trường hoạt
Trang 6SƠ ĐỒ CHUNG CỦA QUẢN LÝ
(Theo quan điểm điều khiển học)
Chủ thể quản lý phát ra mệnh lệnh quản lý dưới dạng thông tin, đốitượng quản lý tiếp nhận thông tin và có thông tin phản hồi cho chủ thể quản lýbiết được các yêu cầu cần thiết từ việc xử lý thông tin đến để có thông tinphản hồi
Từ các đặc trưng cơ bản của quản lý nêu trên,có rất nhiều cách khácnhau định nghĩa về quản lý kinh tế Tuy nhiên, định nghĩa sau đây thường
được dùng hơn cả: Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
Thông tin
Thông tin
bên ngoài
Chủ thể quản
Thông tin phản hồi
Trang 7hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm duy trì sự phát triển của hệ thống kinh tế Sử dụng một cách hiệu quả nhất các tiềm năng
cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ hội của hệ thống kinh tế để đưa hệ thống đến mục tiêu dự định một cách tốt nhất trong sự biến động không ngừng của môi trường hoạt động kinh tế.
Quản lý diễn ra trước hết như là một quá trình tác động qua lại giữachủ thể quản lý và đối tượng quản lý Tuy nhiên,việc phân biệt giữa chủ thểquản lý và đối tượng quản lý chỉ là ước lệ vì nhiều khi chủ thể quản lý lại trởthành đối tượng quản lý và ngược lại Muốn xác định chủ thể quản lý phải đặtchúng vào từng môi trường hoàn cảnh cụ thể Mối quan hệ giữa chủ thể quản
lý và đối tượng quản lý được xây dựng theo qui tắc mối liên hệ qua lại Điều
đó có nghĩa là: Đối tượng quản lý không chỉ chịu sự tác động có hướng đíchcủa chủ thể quản lý, mà nó còn vận động và phát triển theo những qui tắc vốn
có của nó và từ đó tác động lại chủ thể quản lý Tùy theo nội dung, hình thức
và phương pháp quản lý sẽ dẫn đến kết quả quản lý nhất định Tóm lại, hiệu quả của quản lý do tính chất của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý
và đối tượng quản lý quyết định.
Quản lý có thể được xem xét về phương diện tĩnh là cơ cấu quản lýhay về phương diện động là quá trình quản lý
- Cơ cấu quản lý là các bộ phận của hoạt động quản lý
- Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của cơ cấu quản lý
Khi xem xét quá trình quản lý có thể phân tích trên nhiều mặt như vềnội dung: Làm gì ? Về tổ chức: Ai làm, làm theo trình tự nào ? Và về côngnghệ: Làm như thế nào ?
Điều cần lưu ý khi nghiên cứu về quản lý là: quản lý kinh tế vừa cótính khoa học vừa có tính nghệ thuật Quản lý đã có từ lâu trong lịch sử tồn tại
và phát triển của loài người Nhưng trước đây người ta thường phủ nhận tính
Trang 8khoa học của quản lý kinh tế và đặc biệt là tính nghệ thuật của nó.Người tacho rằng yếu tố quyết định trong thắng lợi của quản lý đó là tài năng củangười quản lý.Vậy tính khoa học của quản lý được thể hiện ở chỗ nào ?
Trong quản lý có những nguyên tắc ổn định và bền vững mà chủ thểquản lý cần nắm bắt, nghiên cứu và vận dụng chúng cho thích hợp với điềukiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp Ngoài ra quản lý kinh tế luôn liênquan đến hoạt động của con người có ý thức, có nhận thức về hành động củamình trong sự tồn tại vói cộng đồng xã hội Tính khoa học của quản lý đòi hỏiviệc quản lý kinh tế phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các qui luật kháchquan, không chỉ các qui luật về kinh tế mà còn cả các qui luật xã hội,qui luật
tự nhiên chứ không phải chỉ dựa trên kinh nghiệm hay trực giác của chủ thểquản lý Mặc dù kinh nghiệm có được cũng chính là kết quả của quá trìnhnhận thức qui luật khách quan mà có
Muốn quản lý kinh tế một cách khoa học đòi hỏi phải có tầm nhìntoàn diện và đồng bộ các hoạt động của doanh nghiệp Quản lý kinh tế khôngchỉ giới hạn về những vấn đề liên quan đến kinh tế mà cả những vấn đề liênquan khác như về tâm sinh lý con người, các qui luật xã hội, qui luật tựnhiên Cả về công nghệ, kỹ thuật và môi trường
Tính khoa học của quản lý còn được hỗ trợ bởi các kỹ thuật và côngnghệ hiện đại mà con người sáng tạo và phát minh ra Từ các công cụ này,chủ thể quản lý có thể khẳng định các quyết định quản lý của mình là có căn
cứ khoa học
Tính nghệ thuật của quản lý có thể tìm được những nguyên tắcchung,thường là qui ước và mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa Nghệ thuậttrong quản lý kinh tế là "biết làm thế nào" để đạt được một kết quả cụ thể.Nghệ thuật quản lý kinh tế liên quan mật thiết đến các quyết định riêng có củachủ thể quản lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong cùng một điều kiện
Trang 9nhất định có nhiều giải pháp đúc kết và rút ra từ qui luật Chẳng hạn trongquản lý kinh tế, việc khuyến khích bằng lợi ích vật chất là quan trọng (điềunày có tính qui luật) Tuy nhiên, chủ thể quản lý vận dụng yếu tố này vào thờiđiểm nào, mức độ bao nhiêu và bằng phương pháp nào để tạo nên kết quảmong muốn lại mang tính nghệ thuật Có thể thưởng trực tiếp cho nhân viên100.000đ, hay nhân dịp sinh nhật của người nhân viên "tặng" cho họ số tiềnđược thể hiện bằng một kỷ vật nào đó thì người nhân viên rất khó quên vànăng lực làm việc, mức độ trung thành với doanh nghiệp đạt được nhiều khivượt xa so với mức độ thưởng trực tiếp.
Điều cần nhấn mạnh là để có tính nghệ thuật trong quản lý kinh tế thìchủ thể quản lý phải nắm bắt được tính khoa học của quản lý, cũng có nghĩa
là tính nghệ thuật của quản lý được bắt nguồn từ tính khoa học của quản
lý nhưng nó "linh diệu" hơn, nâng quản lý lên thành mức "nghệ thuật", "nghệ
thuật" đến mức nhiều người đều biết nhưng chỉ có chủ thể quản lý đó ra đượcquyết định hành động như vậy mà thôi Có những qui luật nhiều người cùngnhận thấy, nhưng nghệ thuật quản lý đòi hỏi chủ thể quản lý cần phải nắm bắtđược những qui luật "ẩn" không chỉ thuộc qui luật kinh tế và vận dụng chúngcho linh hoạt Như ví dụ trên, việc tặng quà sinh nhật của chủ thể quản lýkhông phải là hành động ngẫu nhiên mà có chủ định,ngoài việc vận dụng quiluật trong kinh tế còn tính toán dựa vào qui luật tâm sinh lý của con người.Như vậy có thể khẳng định: nghệ thuật quản lý kinh tế là sự phát triển củatính khoa học trong quản lý Điều đó cũng có nghĩa là nghệ thuật quản lýkhông hoàn toàn là chủ nghĩa kinh nghiệm trong quản lý kinh tế
1.1.2 VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
Trang 10Quản lý kinh tế là một phạm trù liên quan trực tiếp đến sự ra đời củaquá trình hợp tác và phân công lao động xã hội Quản lý là kết quả tất yếu củaquá trình kết hợp nhiều lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một
quá trình lao động xã hội được phối kết hợp lại C.Mác cho rằng: "Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải làm chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ
sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một giàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng"[9,9] Như vậy chức năng quản lý là sự kết hợp một
cách hợp lý các yếu tố cơ bản của sản xuất, là việc tạo lập một quá trình ăn
khớp giữa những cá thể lao động riêng biệt Rõ ràng hoạt động quản lý không thực hiện thì quá trình sản xuất, quá trình hợp tác không thể diễn ra được.
Những nhân tố sau đây làm tăng vai trò của quản lý kinh tế:
Nhân tố thứ nhất: Tính chất và qui mô của sản xuất.
Chừng nào qui mô của hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh chưalớn lắm thì quản lý chưa cần phải có những yêu cầu đặc biệt Qui mô sản xuấtkinh doanh càng mở rộng và phát triển thì chức năng quản lý càng trở nênphức tạp và vai trò của nó càng trở nên rõ nét trong hoạt động của doanhnghiệp Điều này đặc biệt đúng trong nền kinh tế hiện đại ngày nay
Nhân tố thứ hai: Vai trò của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã bảo đảm cho sự phát triển của nhân loạinhững nguồn lợi to lớn về vật chất Từ đổi mới kỹ thuật đến đổi mới công nghệ
và việc áp dụng những thành tựu mới của kỹ thuật cho phép đạt được hiệu quảkinh tế cao hơn.Nhưng điều đó có được trước hết nhờ đổi mới công nghệ quản
Trang 11lý, chính công nghệ quản lý tạo điều kiện cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuậtmới vào hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu không có tầm nhìn, tính khoa họcsáng tạo trong quản lý thì kỹ thuật mới, công nghệ mới chỉ là sự phát triển trên
giấy mà thôi Công nghệ quản lý kinh tế thực sự là điều kiện mở đường cho khoa học kỹ thuật phát triển, trở thành hiện thực trong các quyết định về kinh
tế và là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của các doanh nghiệp.
Nhân tố thứ ba: Nhân tố về chính trị, xã hội.
Quản lý làm cho sản xuất kinh doanh phát triển, làm cho đời sống củanhân dân được cải thiện và nâng cao Mà "dân giầu, nước mạnh" đó là quiluật tất yếu, những tiêu cực trong cuộc sống được giảm thấp, xã hội ngày mộtvăn minh hơn Chính quản lý là tiền đề cho việc thúc đẩy xã hội tiến lên
Quản lý có vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế, nhưng vaitrò của nó trong các doanh nghiệp còn quan trọng hơn nhiều Người ta khôngthể xác định chính xác được mức độ tác động cụ thể của quản lý đối với thànhcông hay thất bại của doanh nghiệp Nhiều người cho rằng không cần xácđịnh mức độ cụ thể vì không có quản lý hoặc quản lý yếu kém thì sự tồn tạicủa doanh nghiệp đó xét theo giác độ thời gian chỉ còn là tạm thời mà thôi.Vậy quản lý có vai trò như thế nào trong sự tồn tại và phát triển của các doanhnghiệp ?
Thứ nhất: Quản lý vạch ra định hướng kinh doanh.
Lĩnh vực kinh doanh cũng giống như người đi đường, nếu không điđúng hướng thì không tới đích Quản lý có vai trò to lớn đối với các doanhnghiệp trước hết ở chỗ xác định hướng đi cho doanh nghiệp Việc xác địnhhướng kinh doanh đúng giúp cho doanh nghiệp gặp thuận lợi ngay từ bướckhởi đầu.Hơn thế, làm cho doanh nghiệp tự tin hơn trong bước đường kinhdoanh của mình
Thứ hai: Quản lý tạo ra sự tiết kiện chi phí, tăng lợi nhuận.
Trang 12Là nhà kinh doanh ai cũng muốn tiết kiệm để tạo ra nhiều lợi nhuậncho đơn vị Nhưng để làm điều đó bằng cách nào ? Quản lý tốt chính là công
cụ để thực hiện mục tiêu đó Vì quản lý tốt cho phép giảm bớt những thấtthoát vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh Ngoài ra quản lý tốt còn cókhả năng làm giảm bớt những lãng phí vô hình, không cần thiết trong quátrình kinh doanh Đó là sự kết hợp một cách khoa học các bộ phận trong dâychuyền sản xuất kinh doanh sao cho chúng ăn khớp với nhau tránh lãng phíthời gian cũng như những lãng phí vô hình khác của doanh nghiệp
Thứ ba: Quản lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ổn định
và vững chắc.
Ngày nay cách mạng khoa học kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của các doanh nghiệp Tuy nhiên việc đưa khoa học kỹ thuật vàothực tế luôn đòi hỏi một sự sàng lọc, tính toán chặt chẽ nhằm đảm bảo không
để xảy ra sự hao mòn vô hình quá nhanh,mặt khác cũng không được vượt quámức khả năng tài chính cho phép của doanh nghiệp Những yêu cầu này đượcgiải quyết thông qua công tác quản lý
Không thể kể hết lợi ích mà quản lý đem lại cho doanh nghiệp Chính
vì quản lý có vai trò quan trọng như vậy, nên thông qua việc nghiên cứu về
quản lý để từ đó xác định được cách thức quản lý tối ưu là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng hoạt động trong nền kinh tế thị trường.
Ngân hàng là một ngành kinh tế,cho nên hoạt động quản lý của ngânhàng cũng không thoát ly được các vấn đề cơ bản của quản lý kinh tế nêutrên Việc nghiên cứu công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại dưới đây cũngphải dựa vào những vấn đề cơ bản đó để luận giải các vấn đề liên quan
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ.[47, 43]
Trang 137-1.2.1 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Trước thế kỷ 16, việc sản xuất kinh doanh chủ yếu là sản xuất nhỏ, tựcung tự cấp là phổ biến nên vấn đề quản lý chưa được quan tâm nghiên cứu
và áp dụng Phải đến cuối thế kỷ 16, khi các hoạt động thương mại, đặc biệt ởkhu vực Địa Trung Hải được mở rộng thì sản xuất kinh doanh mới bắt đầuphát triển,cùng với nó là sự đòi hỏi phải nâng cao trình độ quản lý sản xuấtkinh doanh và việc nghiên cứu về quản lý mới được đặt ra
Nhưng phải tới thế kỷ 18 với nhiều phát minh và sáng chế mới đượccon người tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp, nhất là việc phát minh ra động
cơ hơi nước đưa đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ở Châu
Âu Nền sản xuất kinh doanh được phát triển cả về phạm vi và qui mô hoạtđộng thì vấn đề về quản lý mới thực sự là một đòi hỏi của thực tiễn
Tuy nhiên phải tới những năm cuối của thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19,các tưtưởng về quản lý mới được sắp xếp thành hệ thống và được nghiên cứu mộtcách khoa học Và phải tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mới bắt đầu xuất hiệncác trường phái nghiên cứu về khoa học quản lý
Trong thế kỷ 20 là giai đoạn bùng nổ các trường phái nghiên cứu vềquản lý Có rất nhiều trường phái khác nhau nhưng tựu trung có một số cáctrường phái chủ yếu sau:
- Trường phái cổ điển
- Trường phái tác phong
- Trường phái hệ thống
- Trường phái định lượng
- Các trường phái quản lý hiện đại
Từ cuối thế kỷ 18 đến nay khoa học quản lý đã trải qua 3 giai đoạn
Trang 14chủ yếu sau:
Giai đoạn 1: Cuối thế kỷ 18 đến những năm 30 thế kỷ XX
Phương pháp: đơn lẻ, bất kể miễn đạt lợi nhuận
Chủ yếu nghiên cứu có tính kinh nghiệm chưa thực sự khoa học
Cơ sở kinh tế: xuất phát là nền tảng cá nhân về sở hữu kinh tế
Giai đoạn 2: Từ năm 1930 - 1960
Phương pháp: nghiên cứu có hệ thống, khoa học
Mỗi hệ thống chỉ trọng tâm vào một vấn đề => tạo ra trường phái riêng => có nhiều trường phái
Cơ sở kinh tế : là các công ty tư bản (có tính tập thể).Giai đoạn 3: Từ năm 1960 đến nay
Xu hướng nghiên cứu: phương pháp kết hợp
Lấy thị trường là tiêu điểm của nghiên cứu và ứng dụng khoa học quản lý
Trang 15S Ơ ĐỒ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ ĐỒ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ PHÁT TRI N C A KHOA H C QU N LÝ ỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ ỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ ỌC QUẢN LÝ ẢN LÝ
Giai đoạn 3:
Từ 1960đến nay
Cuối TK 18-1930
Cái gì tốt cho công ty tôithì sẽ tốt cho xã hội
Nền tảng cá nhân
Quan điểm: Cái gì tốt
cho tôi thì sẽ tốt cho XH
1.2.2 MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI KHOA HỌC QUẢN LÝ CHỦ YẾU:
1.2.2.1 Một số trường phái khoa học quản lý tiền hiện đại
Trường phái cổ điển : Từ cuối thế kỷ XIX đến 1930
Trường phái này bao gồm 2 nhánh chính :
Nhánh thứ nhất : Học thuyết quản lý theo khoa học do Frederick
Winslow Taylor (Mỹ) chủ xướng
Nhánh thứ hai : Học thuyết quản lý tổng quát hay học thuyết tổ chức
Trang 16cổ điển do Henri Fayol (châu Âu) đề xướng
Với Học thuyết quản lý theo khoa học, họ đưa ra 4 nguyên tắc cơ bản
để quản lý theo khoa học đó là:
Thứ nhất: Khám phá những nhân tố cơ bản tạo ra tác dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh Điều này khác với trước đó chủ yếu dùng chủ nghĩa kinh nghiệm
Thứ hai: Xác định chức năng định hướng kinh doanh là của chủ thể
quản lý Việc này khác với trước là hoạt động của đơn vịkinh
tế hoàn toàn tự phát
Thứ ba: Đào tạo và chọn lựa lao động một cách tỷ mỷ, khuyến khích
hợp tác trong lao động thay vì mặc ai lấy làm
Thứ tư: Phân chia rõ chức năng quản lý và chức năng thừa hành trong sản xuất
Học thuyết này đã đóng góp đáng kể cho khoa học quản lý, nó đưaviệc nghiên cứu quản lý trở thành một đối tượng của nghiên cứu khoa học.Đồng thời vạch ra được những vấn đề cơ bản trong quản lý như phân chiađược chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, chỉ rõ quản lý là sự phối kết hợpmột cách tốt nhất các nhân tố trong sản xuất
Tuy nhiên học thuyết này cũng có những nhược điểm sau:
Thứ nhất: Thiếu tính nhân bản, coi lao động (người lao động) chỉ là
một bộ phận trong guồng máy sản xuất và tìm mọi cách tận dụng nó (tăng cường bóc lột người thợ)
Thứ hai: Việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ cụ thể.
Thứ ba: Nghiên cứu ở tầm chi tiết, cơ sở.
Cùng trong học thuyết này còn có Hersry L Gantt (1861 - 1919) đónggóp được 2 điều:
Trang 17- Bổ sung hệ thống trả lương theo sản phẩm bằng hệ thống tiền thưởng.
- Biểu đồ Gantt dễ hiểu và có nhiều tác dụng đối với các ngành kỹthuật
Học thuyết hành chính tổng quát.
Henri Fayol (1841 - 1925) là tác giả chính của học thuyết này, ôngđưa ra 5 chức năng của quản lý bao gồm: hoạch định, tổ chức, điều khiển,phối hợp và kiểm soát Ngoài ra ông cũng đưa ra 14 nguyên tắc quản lý sau:
- Chuyên môn hóa lao động
- Quan hệ quyền hành trong hệ thống quản lý
- Kỷ luật lao động
- Thống nhất chỉ huy (thống nhất mệnh lệnh)
- Thống nhất lãnh đạo
- Lợi ích cá nhân được đảm bảo dựa trên lợi ích chung
- Thù lao tương ứng giữa các cấp
- Tinh thần đồng đội tạo sự thống nhất trong quản lý
Trong học thuyết này có Max Weber (1861 - 1920) và CliesterBarnard (1886 - 1961).Đưa tổ chức theo hình chóp nón, tạo sự thống nhấttrong điều khiển hoạt động
Tuy nhiên học thuyết này cũng có nhược điểm sau:
- Không chú trọng đến yếu tố con người và xã hội, mang sắc thái quanliêu mệnh lệnh
Trang 18Nói chung trường phái cổ điển đã phác thảo những vấn đề cơ bản banđầu cho việc nghiên cứu khoa học quản lý dù mới chỉ dừng lại ở bước khởiđầu tựa như hệ thống các kinh nghiệm được đúng kết ra từ cuộc sống, nhưng
nó lại là nhưng tiền đề cần thiết để chúng ta tiếp tục nghiên cứu và ứng dụngtrong thực tiễn sau này
Trường phái tác phong:
Trường phái này cho rằng quản lý là công việc tiến hành thông quacon người Ngoài ra trường phái này cũng nhấn mạnh: Năng suất lao độngkhông chỉ do yếu tố vật chất quyết định mà còn do nhu cầu tâm lý xã hộiquyết định
Các đại diện chủ yếu của trường phái này là: Lislian Gilbrreth, HugoMunsterberg, Mary Parker Follef
Trường phái tác phong cho rằng doanh nghiệp cũng là một hệ thống
xã hội.Việc động viên, khuyến khích trong sản xuất cho người lao độngkhông chỉ bằng yếu tố vật chất mà còn phải hài hòa với yếu tố tinh thần củangười lao động Họ cũng chỉ ra rằng tập thể có ảnh hưởng lớn đến cá nhân cả
về tác phong, kỷ luật, tâm lý Người lãnh đạo ngoài nhiệm vụ tổ chức sảnxuất phải quan tâm cả đến vấn đề tâm lý của người lao động
Tuy nhiên trường phái tác phong chỉ như một trường phái bổ xung chotrường phái cổ điển và vai trò của con người được trường phái nêu ra mớidừng lại ở sự khép kín trong quan hệ nội bộ chưa tính đến sự tác động củamôi trường xã hội
Trường phái hệ thống:
Phương pháp hệ thống đã được nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin sửdụng từ lâu Chính C Mác đã sử dụng phương pháp này để nghiên cứu hệthống các quan hệ kinh tế tư bản trong bộ Tư bản nổi tiếng của ông Từ giữathập kỷ 30 ÷ 40 của thế kỷ XX,các nhà nghiên cứu khoa học phương Tây
Trang 19đánh giá rất cao giá trị của phương pháp này Trong lĩnh vực khoa học quản
lý, trường phái hệ thống tìm cách phân tích tổ chức quản lý thông qua phươngpháp tiếp cận hệ thống Hệ thống được hiểu là tập hợp các thành phần trựcthuộc và tương tác với nhau để tạo thành một chỉnh thể thống nhất Thay vìviệc nghiên cứu riêng lẻ các thành phần khác nhau của tổ chức, người quản lýcần xem xét toàn bộ tổ chức như một chỉnh thể nằm trong một môi trường cụthể với các nhân tố tác động lên tổ chức này Lý thuyết hệ thống cho rằnghoạt động của bất kỳ thành phần nào của hệ thống đều tác động và ảnh hưởngđến các thành phần khác của toàn hệ thống
Trường phái hệ thống chú trọng đến tính năng động và tác động giữacác bộ phận trong hệ thống Từ đó nó cho phép nhà quản lý một đề cương đểsoạn thảo các chương trình hành động của mình Ngoài ra phương pháp phântích hệ thống còn giúp nhà quản lý duy trì sự cân đối giữa các bộ phận trong
hệ thống,giữa đầu vào và đầu ra của toàn hệ thống
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Đầu ra(Output)
sản phẩmdịch vụ
Trường phái định lượng.
Chủ trương của lý thuyết định lượng thể hiện trong câu: quản lý là làmquyết định Việc áp dụng các tiến bộ của ngành điện toán để giải bài toán môhình phức tạp là phương tiện để đưa ra các quyết định với kết quả tối ưu Điều
Trang 20cần lưu ý là quan điểm định lượng không đưa ra các quyết định trong quản lý
mà nó đưa ra cơ sở định lượng để giúp cho nhà quản lý ra quyết định
Thực ra trường phái định lượng là sự nối tiếp của trường phái cổ điểnnhưng dựa vào các công cụ toán học để lượng hóa các yếu tố sản xuất làm căn
cứ ra các quyết định mà thôi
Trường phái định lượng không chú trọng đến yếu tố con người trong
tổ chức quản lý Và kỹ thuật để sử dụng nhiều khi quá phức tạp vượt ra ngoàikhả năng quản lý trong việc đưa ra các quyết định nhanh
Tóm lại, các trường phái về khoa học quản lý nêu trên đều đang đượccác công ty ngày nay sử dụng trong quản lý, nó được phối hợp một cách hàihòa trong hoạt động quản lý của các doanh nghiệp Tuỳ từng hoàn cảnh màdoanh nghiệp sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác,nhưng đềukhông thoát ly được các kỹ thuật mà các lý luận gia của các trường phái quản
lý tiền hiện đại nêu ra Tuy nhiên tất cả các trường phái này vẫn có một điểmchung là xem xét hoạt động của doanh nghiệp dựa vào hoạt động của chính
nó, chưa thực sự coi hoạt động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn bởi sựđiều tiết tích cực của môi trường,đặc biệt là các doanh nghiệp đang hoạt độngtrong cơ chế thị trường với nhiều tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngcủa doanh nghiệp
1.2.2.2 Một số trường phái khoa học quản lý hiện đại
Có nhiều trường phái nghiên cứu khoa học quản lý khác nhau Mỗitrường phải đều có những ưu nhược điểm riêng có của mình và đều có nhữngđóng góp đáng kể vào sự phát triển của khoa học quản lý nói riêng và với sựphát triển của nhân loại nói chung Chính những khiếm khuyết của các trườngphái trước đây sẽ được bù đắp ở trong lý thuyết của các trường phái quản lýkinh tế hiện đại Và ngược lại, tất cả các cống hiến của các trường phái đó đềuđược lưu lại như là một bộ phận cấu thành đương nhiên của khoa học quản lý
Trang 21hiện đại Chính vì vậy, các trường phái khoa học quản lý kinh tế hiện đạiđược đề cập đến sau đây chính là sự kế thừa và phát triển khoa học quản lýcủa nhân loại.
Trang 22Trường phái - Tiến trình quản lý:
Trường phái này được xây dựng từ 1960, với tác giả chính là HaroldKoontz và các cộng sự đã tổng hợp các lý thuyết quản lý của các trường pháitrước đó, đặc biệt dựa vào nền tảng lý thuyết của Henri Fayol (trường phái cổđiển - hành chính tổng quát) Nếu các trường phái tiền hiện đại cũng đã nêu rađược các yếu tố của quản lý nhưng rời rạc, thì ngược lại Học thuyết này lạiđặc biệt quan tâm đến sự phối kết hợp các yếu tố của quản lý: hoạch định, tổchức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát Ngoài ra tác giả của học thuyết đặcbiệt chú ý đến vấn đề thực hành để từ đó có căn cứ tạo ra các lý thuyết kết
hợp các yếu tố cần quản lý Nói tóm lại tinh thần của học thuyết chính là sự xem xét quản lý trong một thể thống nhất của các yếu tố quản lý Sự tác
động qua lại giữa các yếu tố cấu thành chính là sự hoàn thiện của quản lý,
phải xem xét quản lý trong trạng thái động và biến đổi không ngừng.
Trường phái - Tình huống ngẫu nhiên:
Fiedler là tác giả đại diện cho trường phái này còn gọi là trường pháiquản lý theo điều kiện ngẫu nhiên Đây là trường phái được nhiều nhà quản lý
hiện đại quan tâm Trường phái này cho rằng muốn quản lý hiệu quả phải căn cứ vào từng tình huống cụ thể Cơ sở của nhận thức trong quản lý của
trường phái này rất phù hợp với thực tiễn,bởi trong thực tiễn có rất nhiều tìnhhuống khác nhau, hình thức có thể giống nhau nhưng không thể có một khuônmẫu quản lý cố định Dựa trên cơ sở những vấn đề cơ bản của quản lý để vậndụng trong thực tế sao cho phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh cụ thể.Đây thực sự là một bước đột phá trong tư tưởng và cần được các nhà quản lýhiện đại tiếp nhận để vận dụng một cách khoa học trong thực tiễn
Thuyết Z và kỹ thuật quản lý của Nhật Bản.[2,5-19]
Với tác phẩm "Thuyết Z: làm thế nào để các doanh nghiệp Mỹ đápứng được sự thách đố của Nhật" xuất bản năm 1981 William Ouchi đã xây
Trang 23dựng lý thuyết của mình trên cơ sở hợp nhất hai mặt của một doanh nghiệp đólà: Vừa tổ chức hoạt động kinh doanh có khả năng tạo ra lợi nhuận, vừa làcộng đồng sinh hoạt đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên của doanhnghiệp Chính vì vậy cần phải chú trọng đến việc tạo mọi điều kiện cho các
thành viên các quyền lợi có thể Thuyết Z đặc biệt quan tâm đến quan hệ xã hội và yếu tố con người trong tổ chức Cộng với yếu tố cải tiến trong hoạt động coi đó là chìa khóa cho mọi thành công của doanh nghiệp.
Tóm lại : các trường phái khoa học quản lý hiện đại đã đưa ra đượcnhiều luận điển xác đáng và thiết thực cho việc vận dụng chúng vào hoạtđộng thực tế.Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại và công nghệ quản lý ngânhàng hiện đại được nghiên cứu dưới đây cũng dựa vào những tinh thần cơ bảncủa các trường phái khoa học quản lý hiện đại để thể hiện nội dung cầnnghiên cứu.Những tinh thần cơ bản của các trường phái khoa học quản lý hiệnđại cần được lưu ý đó là :
Thứ nhất : Cần xem xét quản lý trong một thể thống nhất của các yếu
1.3 CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ KINH TẾ HIỆN ĐẠI [9,21],
[39,80-82],[48,12-29]
1.3.1.KHÁI NIỆM CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ KINH TẾ HIÊN ĐẠI.
Trang 24Trong quản lý kinh tế có nhiều vấn đề như : về nội dung được hiểu làlàm gì ? Về tổ chức: trả lời câu hỏi: ai làm, làm theo trình tự nào ? Về công
nghệ được hiểu là: làm như thế nào ? [9,21]Trong các vấn đề đó công nghệ quản lý là vấn đề quan trọng nhất vì thông qua việc nghiên cứu công nghệ
sẽ cho ta thấy được tinh thần cơ bản của khoa học quản lý.Thông qua công
nghệ quản lý kinh tế mà chức năng, nhiệm vụ của quản lý được thực hiệntrong thực tiễn cuộc sống
Công nghệ nói chung được hiểu là cách thức để con người tạo ra sản
phẩm phục vụ cho lợi ích của mình Trong quản lý kinh tế,công nghệ quản lý kinh tế là cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động vào đối tượng quản lý trong quá trình sản xuất kinh doanh cuả các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu kinh tế được đề ra.
Công nghệ quản lý kinh tế luôn tác động đến con người, phản ánh mốiquan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể và quan hệ giữa tập thểvới xã hội Những quan hệ này rất sinh động với tất cả sự phong phú và phứctạp của cuộc sống Công nghệ quản lý kinh tế trực tiếp khơi dậy các động lực,kích thích tính năng động sáng tạo của cá nhân và tập thể người lao động.Công nghệ quản lý còn thể hiện được sự uyển chuyển, linh hoạt, biết thay đổitrong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với năng lực và kinh nghiệmquản lý của chủ thể quản lý Công nghệ quản lý thể hiện được qui luật,nguyên tắc quản lý Việc sử dụng công nghệ quản lý kinh tế là quá trình thựchiện và sử dụng các nguyên tắc trong quản lý Điều cần nhấn mạnh là: việc sửdụng phải sáng tạo tránh máy móc, dập khuôn, cứng nhắc Trong thực tế quản
lý, việc vận dụng sáng tạo công nghệ quản lý kinh tế chính là nhằm nâng caogiá trị của công nghệ quản lý Trong nhiều tình huống, hoàn cảnh cụ thể, việcvận dụng sáng tạo công nghệ quản lý có tác dụng quyết định tới sự thànhcông hay thất bại của chủ thể quản lý Trong hoạt động thực tiễn, bên cạnh
Trang 25những yếu tố tích cực, phù hợp với nội dung dự kiến của chủ thể quản lýthường xuất hiện các hiện tượng, sự việc nằm ngoài dự kiến ban đầu của chủthể quản lý Đòi hỏi phải sử dụng công nghệ quản lý một cách linh hoạt,nhằmgiảm thiểu các sự cố đó.Nói cách khác đi là các sự cố bất thường phát sinhtrong quá trình sản xuất kinh doanh phải trở thành một vấn đề đơn giản đượctrù liệu trước trong hoạt động của chủ thể quản lý
Sự phát triển của hoạt động kinh tế trên thế giới đã khách quan đòi hỏi
sự thay đổi cơ bản nội dung của công nghệ quản lý Điều đó có nghĩa là hoạtđộng của quản lý kinh tế không chỉ dừng lại ở việc tăng cường quản lý nội bộ
mà công nghệ quản lý kinh tế hiện đại yêu cầu lấy thị trường làm khâu trung tâm quan trọng nhất của quá trình quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại
được bắt đầu từ nhu cầu của thị trường, từ nhu cầu đó được nhà kinh doanhnắm bắt để nghiên cứu, tổ chức sản xuất, phân phối hàng hoá và bán nó trênthị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội Như vậy, công nghệ quản lý
hiện đại cho rằng: Hãy tổ chức quản lý các hoạt động của doanh nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mà thị trường cần chứ không phải bán những sản phẩm mà mình đang có Giai đoạn này, công nghệ quản lý đã thay đổi về chất trong nội dung của nó Tổng hợp lại công nghệ quản lý kinh
tế hiện đại chính là cách thức quản lý về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một loại sản phẩm hàng hóa naò đó,nhằm mục đích cao nhất là làm cho doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối đa Hay nói một cách khác, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà doanh nghiệp có được những gì họ cần và mong muốn đạt được thông qua việc tạo ra, chào bán và thực hiện sản phẩm trên thương trường Như vậy, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại vừa
Trang 26là phương hướng, công cụ, vừa là nguyện vọng của các doanh nghiệp, chonên chúng là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý doanh nghiệp.
Thực ra công nghệ quản lý kinh tế hiện đại rất gần gũi với các hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp, bất cứ một doanh nghiệp nào đều đã
và đang nhận thức rõ việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho thật
ăn khớp giữa các khâu, điều phối sản xuất sao cho có kế hoạch, quảng cáo đểtiêu thụ tốt sản phẩm Tất cả những vấn đề đó đều nằm trong nội dung củacông nghệ quản lý kinh tế hiện đại,chỉ có khác là các doanh nghiệp mới chỉ sửdụng một phần, không đầy đủ các nội dung của chúng Hơn nữa chưa coi hoạt
động của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là hoạt động tổng hợp, xuyên
suốt mọi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt chưa thấy được chính thị trường mới là tâm điểm của hoạt động quản lý của doanh nghiệp.Công
nghệ quản lý kinh tế hiện đại cần được xem như một thứ "triết lý" kinh doanh
của doanh nghiệp chứ không nên xem nó như là một chức năng độc lập, riêngbiệt
1.3.2 NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ QUẢN
LÝ KINH TẾ HIỆN ĐẠI
Thứ nhất: Cần phải xử lý công việc theo cách nhìn của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại.
Có nhiều vấn đề liên quan đến công nghệ quản lý kinh tế hiệnđại Nhưng nhận thức đầu tiên về nó là cần phải có cách nhìn theoquan điểm mới Nếu trước kia, bất kỳ một doanh nghiệp nào đềumuốn thực hiện được nhiều sản phẩm hiện có của mình Trên cơ sở
đó lãnh đạo của doanh nghiệp ra các quyết định để thực hiện sảnphẩm Họ quyết định thực hiện sản phẩm vào lúc nào, cho ai, lượng
là bao nhiêu Như vậy doanh nghiệp đã thực hiện sản phẩm củamình bằng con mắt của chính mình, bằng chính sản phẩm của mình,
Trang 27không cần biết xem khách hàng họ mong muốn gì ở sản phẩm củadoanh nghiệp Hay nói một cách khác là doanh nghiệp đã tiến hànhthực hiện sản phẩm theo cách nhìn sản phẩm hay cách nhìn bánhàng Các doanh nghiệp theo quan điểm này thường ít tính đếnnhững ý kiến của khách hàng Họ tin tưởng rằng các nhân viên củamình đã tạo ra được những sản phẩm đảm bảo tính tốt đẹp nhất phục
vụ thị trường Hầu hết các doanh nghiệp đều có cách nhìn bán hàngkhi họ có dư công suất phục vụ Mục đích của họ là thực hiện đượcnhững gì họ có chứ không phải là tạo ra sản phẩm gì mà thị trườngmong muốn Ngược lại với quan điểm trên đó là quan điểm của côngnghệ quản lý kinh tế hiện đại Nó thực sự là một “triết lý” trong
kinh doanh đang thách thức các quan điểm trước đây Quan điểm công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cho rằng phải xuất phát từ thị trường mà người thực hiện là khách hàng Nhu cầu của khách hàng mới là động lực hoạt động thực có của doanh nghiệp Quan
điểm công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là mụctiêu, nhu cầu của khách hàng là đối tượng,công nghệ quản lý kinh tếhiện đại là công cụ thực hiện, lợi nhuận là mục đích
Thứ hai: công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là cách thức quản lý mới của toàn doanh nghiệp cùng hướng tới lợi nhuận.
Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại không chỉ là đáp ứng tốt nhấtnhững mong muốn của khách hàng mà còn phải là sự đáp ứng có lợi chodoanh nghiệp Thực ra công nghệ quản lý kinh tế hiện đại quan tâm đến mụctiêu cuối cùng là lợi ích của doanh nghiệp nhưng trong quá trình hoạt độngcủa nó nhiều khi ta có cảm tưởng ngược lại Tăng cường khuyến mại, quảngcáo thực ra doanh nghiệp đã phải chi không lấy lại trực tiếp của khách hàng.Nhưng mọi hoạt động đó đều nhằm một mục tiêu: sẽ thu được kết quả tốt hơn
Trang 28trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Hơn nữa, công nghệ quản lý kinh tế hiện đại phải là nhận thức chung của toàn doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, từ giám đốc đến nhân
viên, từ cán bộ nghiệp vụ đến cán bộ phục vụ đều phải hoạt động theo quanđiểm chung thống nhất về chúng Bất kỳ một bộ phận nào, một cán bộ nàocủa doanh nghiệp không thực hiện những quan điểm cơ bản về công nghệquản lý kinh tế hiện đại đều không đưa lại kết quả hoạt động như mongmuốn.Có nhiều người cho rằng công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là của lãnhđạo, quan điểm đó không phù hợp với đòi hỏi của việc vận dụng công nghệquản lý mới vào hoạt động thực tiễn Đối xử niềm nở với khách hàng khôngphải chỉ do bộ phận tác nghiệp hay lãnh đạo Hình ảnh của doanh nghiệpkhông phải do một ai trong doanh nghiệp làm được mà là tất cả Tất cả đều
cùng có nhận thức mới về quản lý đó là : toàn doanh nghiệp cùng hướng về lợi nhuận Nhận thức này được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Toàn doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò quyết định cho sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp là do khách hàng
-Doanh nghiệp phải là một thể thống nhất giữa các bộ phận, không cóbất cứ sự lệnh pha trong hoạt động của bất cứ bộ phận nào, tất cả đều hướngtới thị trường, phục vụ thị trường, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và tăngthu nhập cho chính bản thân người lao động
- Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại đòi hỏi sự sáng tạo trong hoạtđộng do vậy sự sáng tạo của các bộ phận, các cá nhân phải được đánh giáđúng mức và có sự khen thưởng xứng đáng, kịp thời để khuyến khích các bộphận, cá nhân làm tốt hơn, sáng tạo hơn nữa trong công việc của mình
Thứ ba: Mục tiêu của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại
Thực ra công nghệ quản lý kinh tế hiện đại có thành công hay khôngchính là việc xem xét chúng có đạt được các mục tiêu đề ra hay không Trong
Trang 29thực tiễn mục tiêu của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại cần đạt được là sựthoả mãn cả 3 đối tượng.
Trang 30Sự thoả mãn phải đạt được ở cả 3 đối tượng Nếu chỉ thỏa mãn mộtphần trong 3 đối tượng đó đều có thể nhận dạng sự không thành công củacông nghệ quản lý kinh tế hiện đại trong việc vận dụng chúng vào hoạt độngthực tiễn Rõ ràng nếu chúng ta thỏa mãn được thị trường mà không thỏa mãnđược doanh nghiệp thì không còn ý nghĩa gì với việc vận dụng công nghệquản lý mới Mà đương nhiên không thỏa mãn cho doanh nghiệp thì cũngkhông thể thỏa mãn cho nhân viên của doanh nghiệp Công nghệ quản lý kinh
tế hiện đại là do toàn bộ doanh nghiệp thực hiện nếu không thỏa mãn đượcđội ngũ nhân viên thì ai là người thực hiện công nghệ,như vậy không thể có
sự thắng lợi của công nghệ quản lý mới khi không thỏa mãn được đối tượngnày Tóm lại mục tiêu của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là thỏa mãn cả 3đối tượng: thị trường, doanh nghiệp và nhân viên doanh nghiệp
Sự thỏa mãn đối với cán bộ doanh
nghiệp
Sự thỏa mãn đối với cán bộ doanh
Sự thỏa mãn đối với doanh nghiệp
(Sự trung thành) (Động lực thúc đẩy)
công nghệ quản lý kinh
tế hiện đạI
(Tồn tại và phát triển) (Khả năng sinh lời)
Trang 31Trước đây, công nghệ quản lý cũ thường không có được nhận thứcnhư vậy Với các doanh nghiệp thường chỉ trọng tâm vào mục đích : Thoảmãn lợi ích của doanh nghiệp sao cho đạt được lợi nhuận tối đa Ngoài ra,cùng với quá trình phát triển của doanh nghiệp,các nhà quản lý thấy rằng cóthể tăng cường một chút quyền lợi cho nhân viên của mình để kích thích họlàm việc.Quyền lợi nhân viên của doanh nghiệp chưa thực sự trở thành mộtmục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.Đặc biệt,mục tiêu nhằm thoả mãn nhucầu của khách hàng,nhu cầu của thị trường còn rất xa lạ với công nghệ quản
lý kinh tế trước đây.Chính nhận thức mới về các mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp là cơ sở chính cho sự đổi mới nhận thức của công nghệ quản lýkinh tế hiện đại
Thứ tư: công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là một quá trình hoàn chỉnh:
Khi vận dụng công nghệ quản lý kinh tế hiện đại trong thực tế cầnđặc biệt lưu ý đến vấn đề này.Sự vận động của thực tế là muôn hình, muôn
vẻ Chính vì vậy,công nghệ quản lý kinh tế hiện đại phải luôn vận động, đổimới để thích ứng được với đòi hỏi của thực tiễn Nhận thức và vận dụng côngnghệ quản lý kinh tế hiện đại là một quá trình vận động khoa học thôngthường quá trình đó được thể hiện ở các giai đoạn chính sau:
Giai đoạn thứ nhất: Phân tích
Việc phân tích tập trung vào 3 nội dung chính sau:
- Phân tích môi trường, thị trường
- Phân tích tình hình cạnh tranh
- Phân tích thực trạng của doanh nghiệp
Giai đoạn thứ hai: Chuẩn đoán
Đó là việc tìm cách trả lời các câu hỏi sau:
- Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay như thế nào ?
Trang 32- Cần tăng, giảm, mở rộng hay thu hẹp
Giai đoạn thứ ba: Dự đoán
Doanh nghiệp cần vận động theo hướng nào để đạt được hiệu quảkinh doanh như mong muốn
Giai đoạn thứ tư: Mục tiêu
- Doanh nghiệp muốn gì ? Đi tới đâu ?
- Doanh nghiệp muốn đạt cái gì ?
- Nêu sự tăng giảm theo dự đoán ?
Giai đoạn thứ năm: Chiến lược
Thông thường chiến lược chung đã được hoạch định từ trước từ các giaiđoạn nhận thức trên với từng vấn đề đựoc tập trung so sánh và vận động để tạo
sự phù hợp với chiến lược chung từ đó giai đoạn này cần trả lời các câu hỏi
- Những phương pháp tổng hợp nào để đạt chiến lược ?
- Thị trường với hoạt động của doanh nghiệp như thế nào ?
Giai đoạn thứ sáu: Phương tiện
- Làm thế nào để thực hiện chiến lược hoạch định ?
- Ai thực hiện ?
Giai đoạn bảy: Kiểm tra
Đã được chưa ? Cần sửa đổi cái gì ? Cái gì cần bổ xung ? Cái gì cầnloại bỏ ?
Tuy chỉ với các bước cơ bản trên nhưng trên thực tế việc nhận thức vàvận dụng công nghệ quản lý kinh tế hiên đại là rất khó khăn Thường cácdoanh nghiệp hay rơi vào tình trạng thỏa mãn với các thành quả đã đạt được
Cần xem xét quản lý trong một thể thống nhất của các yếu
tố quản lý Xem xét quản lý trong trạng thái động và biến đổikhông ngừng Lấy hướng nội (doanh nghiệp) làm nền tảng,lấy hướng ngoại(thị trường ) làm cơ sở cho mọi hoạt động quản lý của doanh nghiệp
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Việc nghiên cứu: quản lý kinh tế và công nghệ quản lý kinh tế hiện đạicho thấy được quá trình phát triển của khoa học quản lý từ thấp đến cao, từchi tiết đến khái quát Các trường phái khoa học quản lý kinh tế tiền hiện đạichủ yếu giải quyết các vấn đề liên quan đến quản lý tập trung vào giải quyếtcác vấn đề "hướng nội" trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.Xoay quanh các vấn đề phối kết hợp các bộ phận, các yếu tố của quá trình sảnxuất kinh doanh, tìm hiểu các yếu tố cấu thành riêng biệt của quản lý Tuynhiên, dù rất cố gắng các trường phái đó chỉ giải thích được một phần hay mộtmảng nào đó của khoa học quản lý Họ đều đúng nhưng chưa đủ, chưa kháiquát được tổng thể hoạt động quản lý của doanh nghiệp Chính sự kết hợpchúng lại trong một thể thống nhất, toàn vẹn và xuyên suốt trong mọi hoạtđộng quản lý của doanh nghiệp là một trong những nguyên tắc chính của côngnghệ quản lý kinh tế hiện đại Lấy "hướng nội" của quản lý làm nền tảng choviệc định hướng quản lý mang tính xã hội (hướng ngoại),là cơ sở của côngnghệ quản lý kinh tế hiện đại Nói một cách khác, chính công nghệ quản lýkinh tế hiện đại là sự phát triển, kế thừa từ các công nghệ quản lý trước đó.Với việc lấy thị trường là tiêu điểm, lấy hoạt động xã hội (tình huống thựctiễn) là cơ sở để thực hiện việc quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp, côngnghệ quản lý kinh tế hiện đại đã thay đổi về chất so với các công nghệ quản lýtrước đó Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại làm cho khoa học quản lý kinh
tế phát triển, làm tăng vai trò quản lý trong thực tiễn Chính công nghệ quản
lý kinh tế hiện đại là công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp tồn tại và phát
Trang 34triển trong nền kinh tế thị trường.
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI
Kinh tế thị trường tạo ra bước nhảy vọt cho nền kinh tế xã hội.Trongquá trình phát triển, kinh tế thị trường đã tạo ra một công nghệ quản lý kinh tếmới, đó là công nghệ quản lý kinh tế hiện đại Đến lượt mình, công nghệquản lý kinh tế hiện đại được các doanh nghiệp sử dụng tác động trở lại thịtrường làm cho hoạt động của kinh tế thị trường phát triển nhanh và mạnh hơn
trước, đưa hoạt động của nền kinh tế xã hội lên một tầm cao mới Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại kế thừa tất cả những vấn đề chung của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại Tuy nhiên, ngành ngân hàng - một ngành kinh doanh tiền tệ có những đặc điểm riêng có trong hoạt động của chúng nên công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại mang một số nét đặc trưng riêng có cần chú ý khi vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn.
Việc nghiên cứu nội dung của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại
để có những nhận thức mới trong quản lý ngân hàng,đó là nội dung chủ yếucủa bài viết được làm rõ dưới đây
2.1 HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
Nói đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung vàhoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nói riêng trong nền kinh
tế thị trường là nói đến sự cạnh tranh quyết liệt với vô vàn những rủi ro khólường trước có thể đến với họ Nền kinh tế thị trường đúng là một trận địa đầythách đố đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Mỗimột ngành kinh doanh đều có những đặc thù (đặc điểm) riêng có.Từ các đặcđiểm này có thể hiểu rõ hơn nội tại của ngân hàng hoạt động trong nền kinh tếthị trường,đồng thời cũng là cơ sở để phân tích các vấn đề liên quan đến nội
Trang 36dung của bài viết Dưới đây bài viết tập trung tìm hiểu về các đặc thù (đặc điểm)các 321hoạt động của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
2.1.1.NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ (ĐẶC ĐIỂM) TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Thứ nhất: Về nguyên liệu kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Tiền là "nguyên liệu" chính trong hoạt động nghiệp vụ của ngân hàngthương mại Khách hàng đến ngân hàng để gửi tiền, vay tiền,thanh toán cácnghiệp vụ đó đều không thoát ly được đồng tiền Trong khi đó, tiền là loại
"nguyên liệu" được phổ cập đại chúng Có thể nói rằng không có người nào
trong cuộc sống của mình mà không dùng tới tiền Cho nên, tiền được toàn xãhội quan tâm Đây chính là một loại hàng hóa mang tính xã hội hóa cao nhấttrong các loại hàng hóa mà con người cần thiết tiêu dùng trong cuộc sống.Nếu các hàng hóa khác chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận nào đó của xã hội thìngược lại tiền lại có sức ảnh hưởng vô cùng sâu rộng đến toàn bộ các hoạtđộng của toàn xã hội Nó không chỉ ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh tế mà cònlan truyền đến cả các lĩnh vực khác như văn hóa, chính trị, xã hội Chỉ mộtbiến động nhỏ có liên quan đến tiền như lãi suất, tỷ giá hay sự tăng giảm củagiá trị đồng tiền đều có những ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh tế xãhội nói chung và hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nói riêng.Điều này thấy rõ nhất trong thực tiễn khi giá cả của hàng hóa tăng lên cónghĩa là giá trị đồng tiền giảm xuống và nếu ở mức độ lớn thường xảy ra hiệntượng số dư tiền gửi trong ngân hàng giảm xuống do nhiều người rút tiền khỏingân hàng, đi đôi với hiện tượng tăng chậm hoặc giảm số tiền có thể huyđộng vào ngân hàng Tính nhậy cảm của tiền còn gây nên một tâm lý xã hộinhư tin đồn thất thiệt về kinh doanh tiền tệ như: khả năng phá giá đồng tiền,đổi tiền đều gây ra những đột biến các hoạt động liên quan tới tiền,đặc biệt
là các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Như cơn lốc huê hụi năm 1992
Trang 37với sự mất tín nhiệm của một vài hợp tác xã tín dụng cũng đủ làm mất đi cảmột hệ thống hợp tác xã tín dụng mà Nhà nước mất bao công sức xây dựngtrong suốt mấy chục năm.
Ngoài tầm của kinh tế, có thể lấy ví dụ về sự đổ bể tín dụng ở
An-ba-ni đầu năm 2000 dẫn đến tình hình hỗn loạn tới mức Chính phủ không thểkiểm soát được hoạt động của xã hội,dẫn đến bạo loạn lật đổ chính quyền
Ảnh hưởng của tiền tệ ngày nay không chỉ giới hạn ở một vùng, mộtquốc gia nào đó Ngày nay do nền kinh tế đã phát triển tới mức quốc tế hóahoạt động kinh tế thì biến động tiền tệ ở một nước không chỉ ảnh hưởng đếnnước đó, đến khu vực mà còn mở rộng ra phạm vi rộng lớn trên toàn thế giới
Ví dụ như cuộc khủng khoảng tiền tệ ở Đông Nam Á năm 2000, xuất phátđiểm từ Thái Lan, lan sang các nước toàn khu vực mà Việt Nam cũng khôngphải quốc gia có thể tránh được hậu quả của cuộc khủng hoảng này Cuộckhủng hoảng còn tiếp tục lan rộng ra các thị trường tài chính khác như HồngKông, Nhật Bản, Nam Triều Tiên Mà không phải dễ gì dập tắt được dù chocác nước tập trung nhiều công sức với sự hỗ trợ hàng trăm tỷ đô la của Quĩtiền tệ Quốc tế IMF
Thứ hai: Về dịch vụ của ngân hàng.
Nói đến hoạt động của các ngân hàng thương mại người ta nghĩ ngayđến nguồn tín dụng, nơi cung cấp phương tiện thanh toán Nhưng dịch vụ củangân hàng ngày nay đã được mở rộng ra rất nhiều từ việc tham gia mua cổphiếu của các công ty cổ phần, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh địa ốc,tín dụng thuê mua, thông tin kinh tế, thông tin phòng ngừa rủi ro Ở các ngânhàng tiên tiến trên thế giới các dịch vụ "mới" có thể đem lại cho hoạt động
kinh doanh của họ từ 60 - 70% lợi nhuận thu được hàng năm Như vậy sản phẩm của ngân hàng thương mại ngày nay được hiểu là những dịch vụ mà ngân hàng có thể tạo ra để cung cấp theo nhu cầu của khách hàng Cần lưu
Trang 38ý vấn đề này như là một phương tiện mở rộng hoạt động kinh doanh củangân hàng.
Một điểm cần lưu ý : dịch vụ của ngân hàng rất dễ bị bắt chước Nếu
ngân hàng vừa tổ chức thực hiện một loại dịch vụ nào đó có hiệu quả thì rấtnhanh các ngân hàng khác có thể thực hiện ngay dịch vụ đó nếu họ muốn
Có nhiều dich vụ của ngân hàng gắn chặt chẽ với yếu tố thời gian.
Chúng ta biết rằng với nhiều sản phẩm các ngành kinh doanh khác là "tiềntrao, cháo múc" có nghĩa là yếu tố thời gian không ảnh hưởng gì đến giá cảcủa sản phẩm (chỉ có một số là có sự phân biệt nhưng không coi là một yếu tốtăng giá) Nhưng trong nhiều dịch vụ chính của ngân hàng yếu tố thời gian lạithực chất là yếu tố thực hiện giá trị của sản phẩm Ngân hàng cho các doanhnghiệp vay tiền có nghĩa là ngân hàng đã bán quyền sử dụng số lượng tiềnvay đó cho doanh nghiệp nhưng không bán quyền sở hữu chúng (các sảnphẩm khác được bán cả quyền sở hữu và quyền sử dụng) Giá cả bán quyền
sử dụng lại liên quan trực tiếp đến thời gian sử dụng sản phẩm, chính vì vậyyếu tố thời gian thực sự là yếu tố vật chất gắn liền với việc thực hiện giá trịdịch vụ của ngân hàng
Ở trên chúng ta cũng đã biết dịch vụ của ngân hàng rất đa dạng vàphong phú Tuy nhiên, với quá trình kinh doanh lâu năm,các dịch vụ của ngânhàng trên thương trường đều đã "cũ" đi cả về nội dung lẫn kỹ thuật nghiệp vụ.Khái niệm dịch vụ mới của ngân hàng tương đối khác so với các ngành kinh
tế khác Dịch vụ mới không phải là dịch vụ trước đó chưa ngân hàng nào có
để cung cấp cho xã hội, mà dịch vụ mới của ngân hàng là dịch vụ mà ngân hàng có thể lựa chọn đưa ra thị trường trước các đối thủ cạnh tranh Ví dụ:
dịch vụ chiết khấu kỳ phiếu, đây có thể coi là dịch vụ mới với hoạt động củacác ngân hàng thương mại quốc doanh ở Việt nam,dù rằng dịch vụ này quá
“cũ” đối với hoạt động của ngân hàng
Trang 39Thứ ba: Về khách hàng của ngân hàng.
Hoạt động của ngân hàng nhiều khi bị lầm lẫn như là một dịch vụ côngcộng do hoạt động của ngân hàng thu hút được một số lượng đông đảo kháchhàng (như dịch vụ gửi tiền tiết kiệm, thanh toán ) Hoạt động “công cộng” nàycàng gia tăng hơn cùng với việc hiện đại hóa ngân hàng dẫn đến hầu như mọingười đều phải qua ngân hàng thực hiện việc gửi và rút tiền như tiền lương, tiềnbảo hiểm xã hội, thanh toán các loại dịch vụ: điện, nước đến việc thanh toáncác khoản tiêu dùng thông qua tiền điện tử Trong điều kiện đó, khối lượngkhách hàng của ngân hàng thương mại được tăng lên vô cùng lớn
Khách hàng của ngân hàng đông đảo cả khách hàng mua (tín dụng,thuê mua ) lẫn khách hàng bán (tiền gửi, thanh toán ) Do mỗi khách hàng
có nhiều nhu cầu khác nhau cần được ngân hàng phục vụ, nên rất nhiều kháchhàng là hiện thực với dịch vụ nào đó của ngân hàng lại là khách hàng tiềm ẩnđối với loại dịch vụ khác của nó
Thứ tư: Về tiềm lực vốn của ngân hàng.
Vấn đề tiềm lực vốn,đặc biệt là vốn điều lệ của ngân hàng phải đượcđặt lên hàng đầu bởi các nguyên nhân sau:
- Tiềm lực vốn của ngân hàng tạo ra tiềm lực dịch vụ trực tiếp.
Nguồn vốn của ngân hàng phần lớn là nguồn vốn đi vay để cho vay.Nhưng nguồn vốn huy động của ngân hàng không phải là vô hạn,bởi lẽ việchuy động vốn của ngân hàng bị giới hạn trực tiếp bởi tiềm lực vốn, điều này
có liên quan trực tiếp đến độ an toàn tiền gửi của dân cư Chính vì vậy, thôngthường Nhà nước thông qua các qui định của pháp luật để ấn định một mứcvốn huy động nhất định theo số vốn tự có của ngân hàng Ví dụ: theo pháplệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ban hành ngày24/5/1993; Điều 23 chương IV có qui định: "Tổ chức tín dụng không đượchuy động vốn quá 20 lần tổng số vốn tự có và quĩ dự trữ"[46] Rõ ràng tiềm
Trang 40lực vốn càng lớn các ngân hàng càng có thể huy động nhiều vốn và cho vay ra
để thu được nhiều lợi nhuận hơn lên
để đầu tư vốn hay thực hiện các quan hệ làm ăn với ngân hàng, nhiều vốnngân hàng càng thu hút được nhiều khách hàng, điều đó trở lại càng làm tăngthêm uy tín của ngân hàng.Như vậy, tiềm lực vốn của ngân hàng không nhữngtạo ra dịch vụ trực tiếp cho ngân hàng, tạo ra khách hàng và tạo ra cả uy tín cho
nó hoạt động
Thứ năm: Về môi trường kinh doanh của ngân hàng.
Nếu có thể gọi tên môi trường kinh doanh của đại đa số các doanhnghiệp nói chung là môi trường kinh doanh “mở” thì môi trường kinh doanhcủa ngân hàng là môi trường kinh doanh “đóng”, bởi vì việc kinh doanh trêncác lĩnh vực khác thông thường chỉ lệ thuộc vào pháp lý ở hai điểm: thuế, luậtdoanh nghiệp và một số qui định khác về môi trường, bảo hiểm Nhưng vớihoạt động của các ngân hàng, ngoài các qui định chung đó ra còn có hàngloạt các qui phạm pháp luật khác qui định các giới hạn hoạt động của chúng
Từ mức độ vốn ban đầu đến khối lượng vốn được huy động, từ dịch vụ đến