1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên

99 371 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 851,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Tác hại của thuốc lá đã được khẳng định trong rất nhiều y văn và tài liệu đã xuất bản ở nhiều nước trên thế giới. Tác hại của việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm thuốc lá đến sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế, môi trường và các vấn đề xã hội là mối quan tâm lo ngại đối với nhiều quốc gia trên thế giớ i trong đó có Việt Nam. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng chỉ rõ thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư phổi, bệnh phổi mạn tính, nhồi máu cơ tim và hàng loạt các vấn đề sức khỏe khác. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hàng năm có trên 4 triệu người chết do các bệnh liên quan đến thuốc lá, dự tính đến năm 2030 sẽ có khoảng 10 triệu người chế t vì khói thuốc lá mỗi năm, trong đó 70% là ở các nước đang phát triển [1], [15]. Tại Việt Nam, theo dự báo của TCYTTG có khoảng 10% dân số Việt Nam sẽ tử vong sớm do các bệnh liên quan đến thuốc lá và một nửa số các trường hợp tử vong là ở độ tuổi lao động, dự báo đến năm 2020 số người chết vì thuốc lá sẽ nhiều hơn tổng số người chết do HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông đường b ộ [6]. Theo ước tính của TCYTTG hàng năm có khoảng 40.000 người tử vong do thuốc lá, dự báo vào năm 2030, con số này sẽ tăng lên tới 70.000 người mỗi năm [25]. Mặt dù tỷ lệ tử vong vì thuốc lá ngày càng tăng, nhưng số lợi nhuận khổng lồ đem lại cho ngành công nghiệp thuốc lá cũng như đóng góp cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm và thu nhập cho một bộ phận người lao động là bài toán đặt ra với chính ph ủ các nước, trong đó có Việt Nam. Để tối đa hóa lợi nhuận, ngành công nghiệp thuốc lá luôn khuyến khích các quốc gia nhất là các nước đang phát triển cũng như người nông dân những nước này trồng ngày càng nhiều cây thuốc lá, coi thuốc lá là thứ có thể mang lại sự thịnh vượng cho người nông dân, cộng đồng và đất nước. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới (WB), trên thế giới có khoảng hơn 100 quốc gia trồng thuốc lá và khoảng 33 triệu người tham gia công việc trồng cây thuốc lá [15]. Việt Nam là quốc gia đang phát triển có điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho việc trồng thuốc lá và cũng đang là đích đến của các công ty thuốc lá. Theo thống kê, hiện nay Việt Nam có trên 200.000 nông dân trồng thuốc lá và hàng trăm ngàn lao động trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại liên quan đến thuốc lá [2]. Do những tác động tiêu cực c ủa thuốc lá tới mọi mặt của đời sống con người, nên hiện nay hầu hết chính phủ các nước đã xây dựng chính sách quốc gia về kiểm soát thuốc lá, trong đó mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia là bảo vệ đến sức khỏe mọi người. Mặc dù với mức độ quan tâm khác nhau do có điều kiện khác nhau về kinh tế, văn hóa, chính trị, nhưng đều với mục đích làm giả m sự đau đớn về thể xác và những mất mát về tinh thần tạo ra bởi gánh nặng bệnh tật và tử vong do thuốc lá gây nên. Tại Việt Nam, một loạt các văn bản pháp quy về kiểm soát thuốc lá đã được Chính phủ phê duyệt, trong đó đặc biệt quan trọng là Việt Nam đã tham gia ký Công ước khung của Tổ chức Y tế thế giới về kiểm soát thuốc lá đưa ra ngày 11/11/2004 [11]. Hiện nay nh ững nghiên cứu về thuốc lá tại Việt Nam vẫn chủ yếu là nghiên cứu về vấn đề tác hại của hút thuốc lá, vẫn còn rất ít nghiên cứu đề cập đến nguy cơ sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá. Để góp phần cung cấp các thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sức khỏe liên quan đến trồng, và chế biến thuốc lá, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạ ng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, nhằm mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng ốm đau của người dân 2 xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, năm 2010. 2. Phân tích mối liên quan giữa ốm đau với trồng, chế biến thuốc lá và một số yếu tố dân số, kinh tế vă n hóa xã hội và hành vi của người dân 2 xã huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC THỊNH

THùC TR¹NG èM §AU CñA NG¦êI D¢N T¹I HAI X·

Cã Vμ KH¤NG TRåNG, CHÕ BIÕN THUèC L¸ T¹I

HUYÖN Vâ NHAI, TØNH TH¸I NGUY£N

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội – 2010

Trang 2

NGUYỄN ĐỨC THỊNH

THùC TR¹NG èM §AU CñA NG¦êI D¢N T¹I HAI X·

Cã Vμ KH¤NG TRåNG, CHÕ BIÕN THUèC L¸ T¹I

HUYÖN Vâ NHAI, TØNH TH¸I NGUY£N

Chuyên ngành : Y tế công cộng

Mã số : 60.72.76

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS KIM BẢO GIANG

Hà Nội - 2010

Trang 3

• Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Y

Hà Nội

• Đảng ủy, Ban giám đốc Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội

• Các thầy, cô trong Khoa Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện hai năm vừa qua

Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Tiến sỹ Kim Bảo Giang, đã cho em ý tưởng của luận văn, giúp em tìm

được đề tài hay, thiết thực và tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn thạc sỹ

Các bạn điều tra viên, giám sát viên của trường Đại học Y Hà Nội, đã nhiệt tình giúp đỡ, phối hợp trong quá trình khảo sát, phỏng vấn, thu thập số liệu nghiên cứu tại Thái Nguyên một cách nhanh chóng và chính xác

Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và nhân dân hai xã Lâu Thượng và Phú Thượng đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn cùng khóa, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã giúp đỡ, động viên, để tôi hoàn thành luận văn này

Học viên

Nguyễn Đức Thịnh

Trang 4

• Phòng Đào tạo sau đại học

• Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ

• Khoa Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội

Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn một cách khoa học, chính xác, trung thực

Các số liệu và kết quả trong luận văn này là của tôi và chưa được đăng tải trên tài liệu khoa học

Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 10 năm 2010

Học viên

Nguyễn Đức Thịnh

Trang 5

Chương I: TỔNG QUAN 3

1.1.ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÁ 3

1.1.1.Ảnh hưởng của thuốc lá đối với sức khỏe 3

1.1.2.Ảnh hưởng của thuốc lá đối với môi trường 9

1.1.3.Ảnh hưởng của thuốc lá đối với kinh tế - xã hội 12

1.2 TÌNH HÌNH TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THUỐC LÁ 15

1.2.1 Tình hình trồng và chế biến thuốc lá trên thế giới 15

1.2.2 Tình hình trồng và chế biến thuốc lá ở Việt Nam 19

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRỒNG THUỐC LÁ VÀ SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRỒNG THUỐC LÁ 21

1.3.1 Một số nghiên cứu của nước ngoài 21

1.3.2 Một số nghiên cứu trong nước 23

Chương II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 26

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 28

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 28

2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu: 30

2.3.4 Quy trình thu thập số liệu 30

2.3.5 Công cụ thu thập số liệu 31

2.3.6 Xử lý và phân tích số liệu 31

2.4 CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ THU THẬP THÔNG TIN 32

Trang 6

2.7 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 35

2.8 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 36

2.9 HẠN CHẾ TRONG NGHIÊN CỨU 36

Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 37

3.2 THÔNG TIN VỀ TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THUỐC LÁ 42

3.3 THỰC TRẠNG ỐM ĐAU CỦA NGƯỜI DÂN 2 XÃ 48

3.3.1 Tình hình mắc các triệu chứng cấp tính 48

3.3.2 Tình hình mắc các bệnh mãn tính 51

3.4 MỐI LIÊN QUAN GIỮA ỐM ĐAU VỚI TRỒNG, CHẾ BIẾN THUỐC LÁ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ DÂN SỐ, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HÀNH VI 55

Chương IV: BÀN LUẬN 65

4.1 Thực trạng ốm đau của người dân 2 xã có và không trồng, chế biến thuốc lá 66

4.2 Mối liên quan giữa ốm đau và một số yếu tố dân số, kinh tế, văn hóa xã hội và hành vi 70

KẾT LUẬN 75

KHUYẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

CDC Center for Diseases Control

(Trung tâm kiểm soát bệnh tật Mỹ)

COPD Chronic Obstructive Pulmonary Disease

(Bệnh tắc nghẽn lưu thông không khí trong phổi) EPA Enviroment Protection Agency

(Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ)

FDA Food and Drug Administration

(Cơ quan kiểm soát dược và thực phẩm Mỹ)

FCTC Framework Convention on Tobacco Control

(Công ước khung về kiểm soát thuốc lá)

GDP Gross Domestic Product

(Tổng sản phẩm quốc nội)

GTS Green Tobacco Sickness

(Hội chứng thuốc lá xanh)

HCBVTV Hóa chất bảo vệ thực vật

IRR Incident Rate Ratio

(Tỷ lệ gia tăng nguy cơ)

NIOSH National Institude for Occupational safety and Health

(Viện quốc gia an toàn - Sức khỏe nghề nghiệp Mỹ)

Trang 8

Bảng 3.2 Thông tin về đối tượng điều tra theo nhóm tuổi 37 Bảng 3.3 Thông tin về đối tượng điều tra theo trình độ học vấn 38

Bảng 3.4 Thông tin về đối tượng điều tra theo nghề nghiệp chính 12

Bảng 3.5 Thông tin về đối tượng điều tra theo phân nhóm quintile 39

Bảng 3.6 Nhà ở và một số điều kiện vệ sinh môi trường của các hộ

Bảng 3.7

Thời gian trung bình tham gia trồng, chế biến thuốc lá của người dân xã Lâu Thượng được điều tra theo giới, nhóm tuổi, học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế

43

Bảng 3.8 Thời gian dành cho việc trồng và chăm sóc các loại cây

trồng trong một tháng trước ngày phỏng vấn 44

Bảng 3.9 Thời gian trồng và chế biến thuốc lá (trong tháng trước) tại

Bảng 3.10

Thực trạng việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, tăng trưởng và hút thuốc lá, uống rượu/bia của người được điều tra (trong một tháng trước ngày phỏng vấn)

46

Bảng 3.11 Tỷ lệ mắc các triệu chứng của người được điều tra trong 1

Bảng 3.12 Số lần triệu chứng ốm đau xuất hiện trung bình của người

được điều tra trong 1 tháng trước ngày điều tra 50

Bảng 3.13

Tình hình mắc các bệnh được nhân viên y tế chẩn đoán của người được phỏng vấn trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn theo từng nhóm/bệnh

52

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Tình hình tham gia trồng và chế biến thuốc lá của người được

Biểu đồ 3.2 Mức độ bảo vệ khi sử dụng trang bị bảo hộ của người được

điều tra khi tham gia lao động (trong tháng trước) 47

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ có các triệu chứng ốm trong 1 tháng qua của người được

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ mắc các bệnh mãn tính được nhân viên y tế chẩn đoán

trong một tháng trước ngày điều tra 51

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tác hại của thuốc lá đã được khẳng định trong rất nhiều y văn và tài liệu đã xuất bản ở nhiều nước trên thế giới Tác hại của việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm thuốc lá đến sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế, môi trường và các vấn đề xã hội là mối quan tâm lo ngại đối với nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

Các nghiên cứu dịch tễ học cũng chỉ rõ thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư phổi, bệnh phổi mạn tính, nhồi máu

cơ tim và hàng loạt các vấn đề sức khỏe khác Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hàng năm có trên 4 triệu người chết do các bệnh liên quan đến thuốc lá, dự tính đến năm 2030 sẽ có khoảng 10 triệu người chết vì khói thuốc lá mỗi năm, trong đó 70% là ở các nước đang phát triển [1], [15]

Tại Việt Nam, theo dự báo của TCYTTG có khoảng 10% dân số Việt Nam sẽ tử vong sớm do các bệnh liên quan đến thuốc lá và một nửa số các trường hợp tử vong là ở độ tuổi lao động, dự báo đến năm 2020 số người chết

vì thuốc lá sẽ nhiều hơn tổng số người chết do HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông đường bộ [6] Theo ước tính của TCYTTG hàng năm có khoảng 40.000 người tử vong do thuốc lá, dự báo vào năm 2030, con số này sẽ tăng lên tới 70.000 người mỗi năm [25]

Mặt dù tỷ lệ tử vong vì thuốc lá ngày càng tăng, nhưng số lợi nhuận khổng lồ đem lại cho ngành công nghiệp thuốc lá cũng như đóng góp cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm và thu nhập cho một bộ phận người lao động là bài toán đặt ra với chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam

Để tối đa hóa lợi nhuận, ngành công nghiệp thuốc lá luôn khuyến khích các quốc gia nhất là các nước đang phát triển cũng như người nông dân những nước này trồng ngày càng nhiều cây thuốc lá, coi thuốc lá là thứ có thể mang lại sự thịnh vượng cho người nông dân, cộng đồng và đất nước Theo thống kê của Ngân hàng thế giới (WB), trên thế giới có khoảng hơn 100 quốc gia trồng

Trang 12

thuốc lá và khoảng 33 triệu người tham gia công việc trồng cây thuốc lá [15] Việt Nam là quốc gia đang phát triển có điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho việc trồng thuốc lá và cũng đang là đích đến của các công ty thuốc lá Theo thống kê, hiện nay Việt Nam có trên 200.000 nông dân trồng thuốc lá và hàng trăm ngàn lao động trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại liên quan đến thuốc lá [2]

Do những tác động tiêu cực của thuốc lá tới mọi mặt của đời sống con người, nên hiện nay hầu hết chính phủ các nước đã xây dựng chính sách quốc gia về kiểm soát thuốc lá, trong đó mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia là bảo vệ đến sức khỏe mọi người Mặc dù với mức độ quan tâm khác nhau do có điều kiện khác nhau về kinh tế, văn hóa, chính trị, nhưng đều với mục đích làm giảm sự đau đớn về thể xác và những mất mát về tinh thần tạo ra bởi gánh nặng bệnh tật và tử vong do thuốc lá gây nên Tại Việt Nam, một loạt các văn bản pháp quy về kiểm soát thuốc lá đã được Chính phủ phê duyệt, trong đó đặc biệt quan trọng là Việt Nam đã tham gia ký Công ước khung của Tổ chức Y tế thế giới về kiểm soát thuốc lá đưa ra ngày 11/11/2004 [11]

Hiện nay những nghiên cứu về thuốc lá tại Việt Nam vẫn chủ yếu là nghiên cứu về vấn đề tác hại của hút thuốc lá, vẫn còn rất ít nghiên cứu đề cập đến nguy cơ sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá Để góp phần cung cấp các thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sức khỏe liên quan đến trồng,

và chế biến thuốc lá, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, nhằm mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng ốm đau của người dân 2 xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, năm 2010

2 Phân tích mối liên quan giữa ốm đau với trồng, chế biến thuốc lá và một số yếu tố dân số, kinh tế văn hóa xã hội và hành vi của người dân 2 xã huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

Chương I

TỔNG QUAN1.1 ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÁ

1.1.1 Ảnh hưởng của thuốc lá đối với sức khỏe

Thuốc lá là lá của cây nicotinana tabacum hay các loại cây tương tự được phơi khô, dùng hút, nhai hoặc làm thuốc hít Thuốc lá được tìm ra ở Châu Mỹ từ thế kỷ XV, đến đầu thế kỷ XIX thuốc lá đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi trên toàn cầu Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XX ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe con người mới được phát hiện [15]

Theo điều tra, hiện nay trên thế giới có trên 33 triệu người làm việc trong ngành trồng cây thuốc lá Bệnh nghề nghiệp đặc trưng cho những người này là bệnh “say lá thuốc” hay còn gọi là hội chứng thuốc lá xanh (green tobacco sickness-GTS), là một dạng nhiễm độc nicôtin qua da do chạm phải lá cây thuốc lá còn ướt trong quá trình chăm sóc cây trồng Do nicôtin là loại alkaloid dễ hòa tan trong nước nên thường tích tụ trong các hạt sương hoặc nước mưa đọng trên lá cây, khi người công nhân chạm phải các lá cây còn ướt, họ sẽ hấp phụ nicôtin trực tiếp qua da của mình Các triệu chứng nhiễm độc xảy ra trong vòng vài giờ sau khi tiếp xúc và giảm dần sau 1 - 3 ngày, các triệu chứng thường thấy gồm đau bụng, buồn nôn, nôn oẹ, tiêu chảy, ốm yếu, nhức đầu chóng mặt cảm lạnh, tăng tiết nước bọt

và mồ hôi, thậm chí co thắt vùng bụng, khó thở, rối loạn huyết áp và nhịp tim [30] Theo báo cáo của McBride JS và cộng sự, GTS xuất hiện ở 1-10% người trồng thuốc lá tại Mỹ [45] Nghiên cứu của NIOSH tiến hành phỏng vấn 40 người bệnh làm việc trong ngành trồng thuốc lá bị GTS thấy rằng thời gian trung bình từ khi làm việc đến khi bắt đầu xuất hiện các triệu chứng là 10 tiếng (từ 3-17 giờ), cũng theo báo cáo thì tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng là: mệt mỏi (100%), buồn nôn (98%), nôn (91%), hoa mắt chóng

Trang 14

mặt (91%), đau bụng (70%), đau đầu (60%), khó thở (60%), thời gian xuất hiện các triệu chứng trung bình là 2,4 ngày [45] Ngày nay GTS đang trở thành vấn đề của toàn cầu mà việc sản xuất thuốc lá phải đối mặt, TCYTTG đang đi đầu trong nghiên cứu các vấn đề về sức khỏe, xã hội và môi trường dưới tác động của việc phát triển thuốc lá trong mối liên quan đến sự phát triển của thế giới, trong đó GTS là một yếu tố cần được tính đến [58]

Ngoài nguy cơ nhiễm độc nicôtin, người trồng thuốc lá còn phải đối mặt với một nguy cơ về sức khỏe khác, đó là các loại hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học được sử dụng trong ngành trồng cây thuốc lá Trong một vụ thuốc lá, người ta phải sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật nhiều lần; ở một số nơi tại Kenya (châu Phi) con số đó là 16 lần Trồng và chăm sóc cây thuốc lá tốn rất nhiều công sức và thường là phải làm bằng tay Một héc ta trồng cây thuốc lá cần tới 3000 giờ công lao động, trong khi đối với cây ngô chỉ cần 265 giờ công Càng cần nhiều giờ công lao động có nghĩa là thời gian phải tiếp xúc với cây thuốc lá và các loại hóa chất bảo vệ thực vật tăng lên Trên thế giới, các loại hóa chất bảo vệ thực vật như: aldicarb, chlorpyrifos,

và 1,3 - dichloropropen (1,3-D) thường được sử dụng cho cây thuốc lá Ngoài ra, chất acephat cũng được sử dụng nhiều Aldicarb là loại thuốc trừ sâu diệt được cả rệp và giun có hại; triệu chứng nhiễm độc cấp tính aldicarb

là chóng mặt, tiêu chảy, nôn mửa, mắt mờ và thở dốc Chlorpyrifos là hóa chất bảo vệ thực vật gốc photpho hữu cơ, có thể gây chứng đau đầu, mắt mờ, rớt nước dãi, làm yếu cơ bắp và loạn nhịp tim Chất 1,3 - D được dùng để diệt giun có hại; triệu chứng nhiễm độc 1,3 - D là đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, đường thở bị kích thích Theo một cơ quan nghiên cứu, 1,3-D có thể gây ung thư Acephat là hóa chất bảo vệ thực vật photpho hữu cơ có thể gây các triệu chứng như: co giật, đau đầu, chảy nước dãi, tiêu chảy, khó thở, nếu nặng có thể dẫn đến tử vong Mặc dù acephat không có độc tính cao nhưng

Cơ quan Bảo vệ môi trường của Mỹ (EPA) lại xếp nó vào loại hóa chất có

Trang 15

thể gây ung thư Đối với cây thuốc lá, người ta cũng dùng maleic hyđrazit để kích thích cho chồi phát triển; chất này cũng có thể gây kích thích da và mắt

Các thống kê ở Braxin cho thấy, trong thời gian từ 1979 đến 1995 tỷ lệ các trường hợp tự tử ở nông dân trồng thuốc lá cao gấp 7 lần so với mức trung bình của cả nước này Tuy nhiên, người ta chưa có một bằng chứng cụ thể nào

về mối liên hệ giữa những trường hợp tự tử nói trên với việc bị nhiễm độc bởi các hóa chất bảo vệ thực vật

Để bảo đảm an toàn cho người lao động làm việc trong ngành trồng cây thuốc lá, việc quan trọng là phải huấn luyện an toàn lao động cho họ, khuyến khích việc sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật ít độc hại hơn như imidacloprid, clomazon và acephat, đồng thời giảm lượng sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật đến mức thấp nhất [17]

Theo một nghiên cứu mới cho thấy, lá thuốc lá có chứa hàng trăm chủng vi khuẩn khác nhau, trong đó có nhiều loại gây bệnh, nhất là bệnh phổi

và bệnh nhiễm trùng đường hô hấp [55]

Theo các nghiên cứu, trong khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hoá chất,

có hơn 200 loại có hại cho sức khoẻ, bao gồm chất gây nghiện và các chất gây độc, trong đó có 43 chất gây ung thư, bao gồm các chất khí kích thích, axit hữu cơ, kim loại và các chất hoá học [5], [49] Các chất hoá học trong khói thuốc lá tồn tại dưới hai dạng: dạng khí và dạng hạt Dạng hạt bao gồm các chất gây nghiện điển hình là nicôtin, chất quyết định mấu chốt của việc gây nghiện và phụ thuộc vào thuốc lá, nicôtin là một chất không màu, chuyển thành màu nâu khi cháy và có mùi thuốc khi tiếp xúc với không khí, nicôtin được hấp thụ qua da, miệng và niêm mạc mũi hoặc hít vào phổi [5], [20] Cơ quan Kiểm soát Dược và thực phẩm Mỹ (FDA) xếp nicôtin vào nhóm các chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu, tương tự như các

Trang 16

chất ma tuý Heroin và Cocain [9] Tác dụng gây nghiện của nicôtin chủ yếu

là trên hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicôtin trên các cấu trúc não Chất alcaloide này tác động lên các thụ thể ở hệ thống thần kinh với chất dẫn truyền thần kinh dopamine Dopamine là một hóa chất chính trong não điều chỉnh mong muốn sử dụng các chất gây nghiện, gây bài tiết adrenaline (nhịp tim nhanh, co mạch ngoại vi, ức chế co bóp và chế tiết dịch vị dạ dày) [20]

Các chất độc ở dạng khí của khói thuốc lá gồm có Monoxit carbon (khí CO), khí CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ được hấp thụ vào máu, gắn với hemoglobine với ái lực mạnh hơn 20 lần oxy Với người hút trung bình một bao thuốc mỗi ngày thì hàm lượng hemoglobine khử có thể tới 7-8% Sự tăng hemoglobine khử làm chuyển dịch đường cong phân tách oxy-hemoglobine dẫn đến giảm lượng oxy chuyển đến tổ chức gây thiếu máu tổ chức và có lẽ góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch Ngoài ra trong khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí khác như: amoniac, diethylnnitrosamin, formaldehyt, hydrogen, cyanide,v.v các chất kích thích này gây nên các thay đổi cấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bào tiết nhầy và làm mất các tế bào có lông chuyển Các thay đổi này làm tăng tiết nhày và giảm hiệu quả thanh lọc của thảm nhày-lông chuyển [5], [16].Trong khói thuốc lá còn có trên 40 chất gây ung thư, trong số đó gồm cả các hợp chất thơm có vòng đóng như Benzopyrene có tính chất gây ung thư, các hoá chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường

hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá huỷ tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến dị sản, loạn sản rồi ác tính hoá [10], [27]

Theo nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc Mayo Clinic tại Rochester, Mỹ, đã nghiên cứu hơn 1.500 tài liệu thu thập từ các công ty lớn sản xuất thuốc lá của nước này và phát hiện ra các công ty sản xuất thuốc lá lớn của Mỹ trong đó có Phillip Morris (sở hữu thương hiệu Marlboro), RJ

Trang 17

Reynolds (sở hữu Camel), British American Tobacco (sở hữu State Express

555 và Dunhill, tất cả đều là những thương hiệu hiện diện và một số rất phổ biến ở Việt Nam) trong suốt 40 năm qua đã che giấu việc trong lá thuốc, điếu thuốc và khói thuốc của các sản phẩm do họ sản xuất có chất Polonium 210 (210Po) Polonium 210 là một chất phóng xạ đặc biệt nguy hiểm và không ổn định, đến mức người ta cấm sử dụng nó trong các hoạt động y tế Nó đọng lại

ở các nhánh phế quản và từ đó gây ra ung thư, tại Mỹ, nó là nguyên nhân của 1% các ca ung thư phổi Sở dĩ Polonium 210 hiện diện trong khói thuốc là do người ta sử dụng phân bón giàu phốt phát khi trồng thuốc lá, loại phân bón này được lấy từ các mỏ apatít, một thứ đá có chứa radium và polonium Chính loại phân bón này góp phần tạo nên hương vị đặc biệt của lá [44]

Khi hút thuốc các chất đó đều được tung vào không khí Ngoài ra các chất độc này còn tỏa ra không khí ngay cả khi trồng trọt, chế biến thuốc lá, do vậy người trực tiếp tham gia quá trình trồng trọt và chế biến thuốc lá cũng chịu ảnh hưởng của các chất độc có trong khói thuốc lá.Có 3 kiểu khói thuốc lá: dòng khói chính, dòng khói phụ và khói thuốc môi trường [5] Dòng khói phụ

có thành phần chất độc hại cao hơn dòng khói chính rất nhiều: nồng độ cacbon monoxyt cao gấp 15 lần, nicôtin cao gấp 21 lần, formaldehyt gấp 50 lần, dimethylnitrosamin cao gấp 130 lần,v.v Chính vì vậy mà những người không hút thuốc lá nhưng thường xuyên phải hít thở trong môi trường có khói thuốc lá (trong đó bao gồm những người tham gia sản xuất thuốc lá)và chịu những tác hại tương tự như những người hút thuốc lá, tuy nhiên dòng khói phụ được pha loãng với không khí nên mức độ gây hại phụ thuộc vào một số yếu tố liên quan [40], [41] Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ đã xếp khói thuốc lá vào nhóm

A trong bảng danh sách các chất gây ung thư và là nguyên nhân gây ra 3.000 ca chết vì ung thư phổi do hút thuốc thụ động [8] Người không hút thuốc nhưng thường xuyên phải hít khói thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn 26% so với người không hít phải khói thuốc lá, nghiên cứu còn cho thấy sự tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động của vợ hoặc chồng trong gia đình là nguyên nhân gây

Trang 18

bệnh suy mạch vành tim và tăng nguy cơ mắc bệnh này tới 30% [55] Tương tự như vậy theo cơ quan kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC), những người không hút thuốc nhưng thường xuyên phải hít khói thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn từ 20-30% và nguy cơ bị bệnh về tim mạch cao hơn từ 25-30% so với người không hít phải khói thuốc lá [34] Khói thuốc lá thụ động làm tăng 22% nguy cơ trẻ sinh nhẹ cân (dưới 2500g) [43]

Sử dụng thuốc lá có thể gây ra tới 25 bệnh nguy hiểm như: ung thư phổi, các bệnh tim mạch, các bệnh đường hô hấp, v.v.[49], [57] Theo tổ chức Y tế thế giới, ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 5 triệu người chết vì thuốc lá và trong 10 trường hợp người lớn tử vong thì có một trường hợp tử vong nguyên nhân do thuốc lá, ước tính đến năm 2023 con số tử vong

do thuốc lá là khoảng 6-10 triệu người/năm Số lượng tử vong do thuốc lá lớn hơn bất kỳ nguyên nhân tử vong nào khác, nhiều hơn cả số tử vong do viêm phổi, lao, tiêu chảy, v.v Nếu gánh nặng do thuốc lá gây ra không giảm thì khoảng 500 triệu người hiện đang sống sẽ chết do thuốc lá, một nửa trong

số đó sẽ chết ở độ tuổi trung niên và tuổi thọ giảm mất 20-25 năm Tử vong

do thuốc lá trước đây phổ biến ở các nước có thu nhập cao, ngày nay nó đang dần chuyển sang các nước có thu nhập trung bình và thấp [15]

Ở các nước đang phát triển, thuốc lá là nguyên nhân chính gây tử vong, khoảng 20% tổng số chết trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX ở Trung Quốc là do hút thuốc lá trong đó 1/3 tử vong là do ung thư phổi, 1/3 do các loại ung thư khác và 1/3 còn lại do các bệnh khác [35] Dự tính đến năm 2020, khoảng 70% tử vong do thuốc lá sẽ xảy ra ở các nước đang phát triển so với hiện tại là 50% TCYTTG dự báo sẽ có khoảng 10% dân số Việt Nam ngày nay sẽ tử vong sớm do các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá và một nửa trong số họ

tử vong ở độ tuổi lao động [9]

Trang 19

1.1.2 Ảnh hưởng của thuốc lá đối với môi trường

Cho đến nay, không ít người đã nhận thức được tác hại to lớn của thuốc lá tới sức khoẻ con người, song có lẽ còn chưa đánh giá đầy đủ những ảnh hưởng xấu của thuốc lá tới môi trường Từ khâu trồng thuốc lá, qua khâu chế biến, sản xuất cho đến khi tiêu thụ, vòng đời của một điếu thuốc lá sản sinh biết bao tác nhân gây ô nhiễm cho môi trường sống của con người

Rừng bị tàn phá cho mục đích lấy đất để trồng thuốc lá, lấy gỗ phục

vụ sấy thuốc lá và xây lò sấy, ngoài ra rừng còn bị phá cho mục đích sản xuất giấy cuốn thuốc lá và bao bì thuốc Qua thống kê, người ta thấy mỗi năm có khoảng 200.000 héc ta rừng trên thế giới đã bị phá để lấy đất trồng thuốc lá Sau khi thu hoạch, thuốc lá phải được sấy khô và gỗ là một trong những nguồn nguyên liệu sấy chủ yếu, mỗi năm người ta phải chặt tới 5 triệu héc ta rừng hay 600 triệu cây xanh để lấy gỗ làm củi sấy thuốc lá Các nhà khoa học đã thực hiện một cuộc điều tra về tình hình sử dụng gỗ củi để sấy thuốc lá ở 23 quốc gia, kết quả cho thấy cứ trung bình để sấy được 1 kg thuốc lá khô, người ta phải sử dụng 5,5 kg củi Rừng bị tàn phá cho mục đích sấy thuốc lá chiếm tới 1,7% diện tích rừng toàn cầu và khoảng 4,6% diện tích rừng của 66 nước trồng thuốc lá trên thế giới (hầu hết là các nước đang phát triển) [39] Nếu tính theo mức độ phá rừng vì mục đích sản xuất thuốc lá, Việt Nam được xếp ở hạng trung bình với khoảng 1,4% diện tích rừng bị phá mỗi năm [18]

Quá trình sản xuất thuốc lá tạo ra lượng chất thải rất lớn, trong đó ngoài những chất hữu cơ thông thường như bụi than, giấy vụn, v.v.,còn có rất nhiều các chất thải hoá học độc hại khác ở dạng rắn, dạng lỏng (thể sương) hoặc dạng khí có trong bụi thuốc lá và môi trường không khí tại nơi sản xuất và khu vực lân cận, bao gồm chất dầu, chất dẻo và nhiều hoá chất như amoniac, etylen, glycol, axit sunfuric, hydrofluorit, nicôtin, v.v.[28] Theo thống kê năm 1995 ngành công nghiệp thuốc lá thế giới thải ra 2.262

Trang 20

triệu kg rác, 209 triệu kg chất thải hóa học Ở Mỹ, các nhà máy thuốc lá đứng thứ 18 trong danh sách các ngành công nghiệp có chất thải hoá học độc hại Mỗi năm ngành công nghiệp thuốc lá trên thế giới thải ra khoảng 300 triệu kilogam nicôtin, một trong những chất mà Cơ quan Bảo vệ môi trường

Mỹ cho rằng rất độc hại Đây là một sự thật hiển nhiên mà ngay các công ty sản xuất thuốc lá có tên tuổi trên thế giới cũng không thể chối bỏ Báo cáo của Công ty thuốc lá BAT cũng đã khẳng định: "Chúng tôi thừa nhận rằng hoạt động của Công ty chúng tôi có ảnh hưởng xấu đến môi trường" [32]

Trong khi đó, ở nước ta vẫn còn nhiều nhà máy sản xuất thuốc lá nằm trong các khu vực đông dân cư Mặc dù doanh nghiệp đã chú ý giảm thiểu ô nhiễm như lắp đặt các hệ thống thiết bị hút gió, thông gió, song hoạt động của các nhà máy này vẫn ảnh hưởng xấu tới môi trường sống và sức khoẻ của người dân địa phương [3]

Các chất thải trong quá trình sản xuất và sử dụng thuốc lá như đầu mẩu thuốc lá, vỏ bao thuốc lá và vỏ kiện thuốc lá Chỉ tính đến năm 1995, ước tính có tới 5.535 triệu tỷ đầu mẩu thuốc lá, 27.675 triệu vỏ kiện thuốc lá

và 276.753 triệu vỏ bao thuốc lá được bán trên phạm vi toàn cầu Đầu mẩu thuốc lá là thành phần chính được vớt lên trong chiến dịch làm sạch nước biển Lao công ở Mỹ lên tiếng phàn nàn rằng, họ phải làm thêm giờ hàng tháng vì quét đầu mẩu thuốc trên đường Đầu mẩu thuốc lá cần 5 đến 7 năm

để phân huỷ hết Các đầu mẩu thuốc lá còn gây ra tác hại tới sức khoẻ động vật, nếu chúng ăn phải đầu lọc thuốc lá sẽ không thể tiêu hoá được các hoá chất trong đó và chúng có thể chết vì những chất hoá học này [32]

Thuốc lá là cây sử dụng nhiều chất dinh dưỡng trong đất Không có loại cây nào hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng trong đất (kali, phốtpho và nitơ) nhiều như cây thuốc lá dẫn đến hiện tượng xói mòn đất ngày càng nhanh do đất bị bạc màu, đặc biệt ở những địa phương nơi mà thuốc lá chủ yếu được

Trang 21

trồng ở vùng đất dốc, ngoài ra cây thuốc lá là loại cây “khát nước” nên người trồng phải sử dụng rất nhiều nước để tưới cho nó

Thuốc lá là một loại cây sử dụng nhiều loại hóa chất bảo vệ thực vật, bao gồm các chất độc hại mà các chất này tích tụ ở bồn nước ngầm, nước mặt (sông, suối, ao ), nước mưa, nước ăn, trung bình mỗi vụ trồng thuốc lá dài ba tháng, người nông dân phải sử dụng tới 16 loại hóa chất bảo vệ thực vật và nhiều loại phân bón hoá học, về lâu dài việc sử dụng nhiều hoá chất

sẽ càng làm đất bị chai cứng, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khoẻ nông dân Một khía cạnh khác của việc sử dụng nhiều loại hóa chất bảo vệ thực vật là nó làm cho việc kiểm soát các bệnh ở người do côn trùng gây ra

sẽ khó khăn hơn, ví dụ như việc phòng chống sốt rét gặp khó khăn do muỗi

và ruồi vẫn tiếp tục phát triển do các loài thiên địch đã bị tiêu diệt [31]

Hút thuốc còn là nguyên nhân gây nên cháy, nổ Tại nước Anh, hầu hết các vụ chết người do cháy gây ra là do hút thuốc lá và sử dụng diêm, người hút thuốc gây nên hơn 9.000 vụ cháy nghiêm trọng ở Anh mỗi năm, làm chết 200 người và bị thương 2.000 người Cháy rừng ở Trung Quốc đã quét sạch rừng Đông Bắc năm 1985, cán bộ lâm nghiệp bị bắt do vứt đầu mẩu thuốc lá xuống cỏ Trong vụ cháy này, 1,3 triệu ha đất bị tàn phá, 300 người bị chết, và 5.000 người bị mất nhà Trên phạm vi toàn cầu, hút thuốc gây nên thiệt hại ước tính khoảng 100.000 triệu đô la Mỹ và khoảng một triệu vụ cháy mỗi năm Hút thuốc gây nên khoảng 30% tổng số người chết ở

Mỹ vì cháy và 10% trên toàn thế giới, với tổng chi phí 5,34-22,8 tỷ đô la Mỹ cho nước Mỹ, và 8,2-89,2 tỷ đôla Mỹ cho toàn thế giới [9], [56]

Ngoài ra thuốc lá còn gây ô nhiễm không khí bằng 2 hình thức: Do sử dụng nhiên liệu để sấy thuốc lá, trong số các loại nhiên liệu được sử dụng, than là nguồn nhiên liệu chủ yếu (chiếm 67,1%) trong sấy thuốc lá ở nhiều nước có sản lượng thuốc lá lớn như: Trung Quốc, Ấn Độ, Zimbabuê, v.v Củi gỗ (chiếm 15,7%) được sử dụng phổ biến ở Pakistan, Lào, Campuchia,

Trang 22

v.v Khí ga (chiếm 17,2%) được sử dụng rộng rãi ở khu vực Bắc Mỹ, dầu được sử dụng nhiều ở Indonexia và điện được sử dụng phổ biến ở Pháp Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời do thải ra ngoài không khí hàng ngàn chất hóa học độc hại Khi tiến hành các hoạt động nhằm giảm ô nhiễm không khí thì không thể không tính đến ô nhiễm không khí trong nhà, v.v.[13]

Rõ ràng việc trồng và sản xuất thuốc lá đã hủy hoại môi trường nghiêm trọng và gây ra hàng loạt những vấn đề sức khỏe liên quan đến người nông dân và gia đình của họ Song, các công ty sản xuất thuốc luôn lẩn tránh và lờ đi các khoản chi phí bù đắp về môi trường và sức khỏe liên quan đến hoạt động trồng thuốc lá [33]

1.1.3 Ảnh hưởng của thuốc lá đối với kinh tế - xã hội

Thuốc lá mang lại lợi nhuận cho các công ty thuốc lá, chứ không phải cho chính phủ hay người nông dân trồng thuốc lá của nước họ Mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá đã có những đóng góp đáng kể cho ngân sách của nhiều quốc gia, tuy nhiên cũng cần thừa nhận thực tế là các quốc gia cũng đang phải gánh chịu những tổn thất kinh tế to lớn do ngành công nghiệp thuốc lá gây ra như: tăng chi phí y tế để chữa trị các bệnh có liên quan đến thuốc lá và năng suất lao động giảm sút do bệnh tật và tử vong, gia tăng ô nhiễm môi trường, các chi phí cơ hội trong trồng trọt và sản xuất thuốc lá, v.v.[9], [12] Nhiều quốc gia còn mất hàng triệu đô la mỗi năm cho việc nhập khẩu thuốc lá, cũng như từ thuế do vấn nạn buôn lậu thuốc lá [9]

Ngành công nghiệp thuốc lá tại Việt Nam đã tạo ra việc làm cho gần 16.000 lao động công nghiệp, trên 200.000 lao động nông nghiệp (tại các vùng nguyên liệu) và hàng trăm ngàn lao động dịch vụ phục vụ ngành thuốc

lá Theo thống kê từ năm 1995 đến năm 2004 tổng nộp ngân sách nhà nước là 30.233 tỷ đồng, năm 2004 nộp 6.177 tỷ đồng tăng gần gấp 4 lần so với năm

1995, ước tính năm 2005 nộp ngân sách khoảng 6.782 tỷ đồng [2]

Trang 23

Cho đến nay hầu hết thuốc lá được tiêu thụ (bao gồm cả thuốc lá nhập lậu và sản xuất nội địa) được sản xuất bởi các công ty đa quốc gia, vì vậy lợi nhuận chính thu được từ kinh doanh thuốc lá rơi vào túi các công ty đa quốc gia này Ngay tại Mỹ các công ty cũng lao vào kiếm tiền, theo thống kê năm

1998 trung bình canh tác thuốc lá mang lại cho người nông dân trồng thuốc lá 19.597 đô la, trong khi số tiền các công ty thuốc lá chi cho quảng cáo và khuyến mại để tăng cường tiêu thụ sản phẩm là 5,6 tỷ đô la, mặc dù Mỹ chỉ chiếm 5% số người hút thuốc trên thế giới [9]

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, thuốc lá ngoại tiêu thụ trên thị trường Việt Nam chiếm từ 15-18%, đồng thời lượng thuốc lá buôn lậu vào Việt Nam ước tính chiếm khoảng 10% lượng thuốc lá được tiêu thụ trên thị trường [8] Năm 1999, chính phủ Việt Nam ước tính mỗi ngày có khoảng

10 triệu điếu thuốc lá trị giá 350.000 đô la Mỹ được buôn lậu từ Campuchia vào Việt Nam gây thất thu cho ngân sách nhà nước 37 triệu đô la Mỹ mỗi năm [42]

Các chi phí và ảnh hưởng do thuốc lá đến sức khỏe, kinh tế và môi trường là rất lớn Những thiệt hại có thể thấy rất rõ bao gồm: Thời gian nghỉ

để hút thuốc lá (để hút hết một điếu thuốc lá cần 7-10 phút, thời gian hút không tập trung làm việc được), hút thuốc lá gây mệt mỏi và bệnh tật nhiều hơn dẫn đến thời gian nghỉ việc do bệnh tật nhiều hơn, sức khỏe kém nên năng suất và chất lượng lao động giảm, hút thuốc lá còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và kinh tế gia đình (tại các nước đang phát triển số tiền chi cho mua thuốc lá chiếm khoảng 25% thu nhập có thể sử dụng của người hút thuốc, chi phí này chiếm mất quỹ chi tiêu cho các nhu cầu cá nhân khác), chi phí cho bệnh tật, chi phí do mất thu nhập, làm bẩn cảnh quan môi trường, mặt khác những người xung quanh cũng bị ảnh hưởng bởi hút thuốc lá thụ động [12] Những yếu tố này dẫn tới giảm năng suất lao động; tăng chí phí chữa bệnh, chi phí xã hội; giảm chi cho thực phẩm, giáo dục, y tế, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp làm thiết hại kinh tế cho xã hội

Trang 24

Trên thế giới, thuốc lá gây thiệt hại 200 tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh

tế thế giới Ước tính chi phí cho y tế để điều trị các bệnh liên quan đến thuốc

lá, giảm năng suất lao động và các chi phí xã hội khác chiếm 1-3% GDP Theo thống kê ở Trung Quốc chi phí trực tiếp và gián tiếp do thuốc lá là khoảng 6,1 tỷ đô la mỗi năm, chi phí cho thuốc lá tại một số nước như sau (chiếm % GDP): Australia 1,4%; Canada 1,9%; Nhật Bản 1,1%; Nam Phi 0,7%; Mỹ 2,0%

Tại Việt Nam, theo điều tra mức sống dân cư năm 1998, số tiền cả nước chi cho việc mua thuốc lá là 5.834 tỷ đồng, nếu quy đổi ra lượng gạo tính ở thời điểm năm 1998 thì số tiền này có thể mua được 1,6 triệu tấn gạo đủ nuôi sống 10,6 triệu người trong một năm Còn tổng số tiền chi cho thuốc lá năm

2002 là 10.400 tỉ đồng, chi thuốc lá trung bình của một người hút thuốc năm

2002 là 682.800 đồng/năm, còn chi cho 3 bệnh (COPD, ung thư phổi, NMCT) hơn 1.160 tỉ đồng Tổng số tiền chi cho thuốc lá năm 2007 là 14.000 tỉ đồng Hiện nay ước tính tổng số tiền người dân chi cho mua thuốc lá mỗi năm là 8.213 tỷ đồng, số tiền này đủ mua 2,4 triệu tấn gạo đủ nuôi 15,6 triệu người trong một năm Các hộ gia đình chi cho thuốc lá tương đương với chi cho giáo dục, y tế Ở hộ nghèo, chi thuốc lá bằng 1,5 chi giáo dục Nếu tiền chi cho thuốc lá dùng mua thực phẩm thì 11,2% hộ nghèo sẽ thoát nghèo Ước tính phần đóng góp của ngành công nghiệp cho ngân sách chỉ chiếm 1/3 số tiền (khoảng 6.000 tỷ đồng) mà người dân dùng để hút thuốc lá [21]

Theo Vũ Xuân Phú và cộng sự nghiên cứu chi phí bệnh viện cho việc điều trị 3 bệnh liên quan đến thuốc lá cho thấy chi phí trung bình cho một đợt nằm viện vì các bệnh liên quan đến thuốc lá (ung thư phổi, các bệnh không ung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) là 11.762.000 đồng, trong đó nhà nước phải trả 18,5%, cá nhân phải trả 43,5%, bảo hiểm trả 38% chi phí Chi phí trung bình cho một đợt nằm viện vì bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là 3.744.000 đồng, cho người

bị ung thư phổi là 12.358.000 đồng, và bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim là 31.399.000 đồng, tổng số tiền điều trị hàng năm cho 3 bệnh là vào khoảng 429,8

Trang 25

tỷ đồng Thời gian điều trị bệnh nhân ở bệnh viện cho 3 bệnh này từ 8,6 đến 43,3 ngày cho một đợt điều trị Đối với xã hội, chỉ tính riêng 3 bệnh được lựa chọn trong nghiên cứu này, thuốc lá gây ra khoảng 50% chi phí xã hội liên quan đến bệnh nhân nội trú và 804 tỷ đồng (khoảng 50 triệu đô la Mỹ), và 0,11% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hay18% kinh phí chính phủ dành cho y tế và 19% kinh phí do các công ty thuốc lá đóng góp cho nhà nước Nói cách khác nếu ngừng hút thuốc, Việt Nam có thể tiết kiệm được 804 tỷ cho điều trị bệnh nhân nội trú mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, ung thư phổi và nhồi máu cơ tim [26]

Đối với người nông dân trồng thuốc lá tại Việt Nam, nghiên cứu bước đầu cho thấy việc trồng cây thuốc lá mặc dù có vẻ đem lại cho người nông dân thu nhập cao hơn so với cây trồng khác, nhưng nó cũng không giúp cho người nông dân cải thiện được tình trạng kinh tế gia đình của họ Mặt khác, những người nông dân trồng cây thuốc lá phải đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe do việc trồng cây thuốc lá đem lại, và hay ốm đau hơn so với những người nông dân khác [46]

Theo NIOSH chi phí trung bình trong một đợt điều trị cho một người trồng thuốc lá điều trị các triệu chứng của GTS như sau: chi phí cho điều trị

250 đô la, chi phí cho bệnh viện là 566 đô la và 2.041 đô la cho công tác chăm sóc tăng cường [47]

Nói chung ngành công nghiệp thuốc lá về mặt nào đó đã đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách quốc gia, nhưng xét về mặt tác hại thì sản xuất và hút thuốc lá gây ra những tổn thất lớn cho xã hội Những chi phí dễ nhận thấy

là tiền dùng để mua thuốc lá, các chi phí cho sức khỏe, chi phí do hỏa hoạn, tai nạn, môi trường, bên cạnh đó còn có nhiều chi phí mang tính dài hạn, lớn, khó lường là các chi phí do giảm khả năng lao động, bệnh tật [9]

1.2 TÌNH HÌNH TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THUỐC LÁ

1.2.1 Tình hình trồng và chế biến thuốc lá trên thế giới

Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4.000 năm, cùng với nền văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ Lịch sử chính thức

Trang 26

của việc sản xuất thuốc lá được đánh dấu vào ngày 12/11/1492 do chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos Hàng ngàn năm trước Công nguyên, người da đỏ đã trồng thuốc lá trên vùng đất mênh mông ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, quần đảo Antil và một số nơi khác

Thuốc lá được đưa vào châu Âu khoảng năm 1496-1498 do Romam Pano (nhà truyền đạo Tây Ban Nha) sau khi đi châu Mỹ về Năm 1556, Andre Teve cũng lấy hạt thuốc lá từ Brazil đem về trồng ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha

Thuốc lá được trồng ở Nga vào năm 1697 do Petro Valeski sau cuộc viếng thăm Anh và một số quốc gia khác đem về Vua Sulemam cho trồng thuốc lá ở Bungari vào khoảng năm 1687 Tại Đức từ năm 1640 đã có nhà máy sản xuất thuốc lá điếu ở Nordeburg và vào năm 1788 đã có xưởng sản xuất xì gà tại Hamburg Tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương, thuốc lá được trồng vào thế kỷ 18

Ngành kỹ thuật trồng trọt, công nghệ sinh học đã phát triển rất nhanh chóng để sản xuất đa dạng các loại nguyên liệu thuốc lá đáp ứng cho công nghiệp chế biến, nhu cầu thị hiếu đa dạng về thuốc điếu và đặc biệt để xuất khẩu

Trong thời gian dài, thuốc lá được gọi rất nhiều tên như La Herba Sanena (cây làm thuốc), Herba Panacea (cây thuốc trị mọi bệnh), L’Herbe etrange (cây làm thuốc dị thường), L’Herbe d’Ambassadeur (cây kỷ niệm tên Đại sứ ở Lisbon) Sau đó các tên mất dần chỉ còn lại tên gọi Nicotiana để

kỷ niệm tên Jean Nicot, người có công truyền bá trồng thuốc lá ở châu Âu Ngày nay nhiều nước có tên gọi thuốc lá giống nhau là Tobacco (Anh, Mỹ), Tabak (Đức, Nga), Trutrun (Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari), Tutun (Rumania) Còn tên khoa học của cây thuốc lá vàng là Nicotiana Tabacum L

Trang 27

Thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên khác nhau, tiêu chí khác hẳn thời nguyên thủy Phạm vi phân bổ vùng trồng từ 40 vĩ độ Nam đến 60 vĩ độ Bắc, nhưng tập trung nhiều ở vĩ độ Bắc Thuốc lá có tính di truyền phong phú, tính thích ứng rộng rãi, dưới sự tác động trực tiếp của con người, ngày nay thuốc lá có nhiều đặc trưng phẩm chất, ngoại hình khác nhau Có thể kể đến loại thuốc lá vàng sấy có hương vị độc đáo là Virginia (Mỹ, Zimbabuê ), thuốc lá Oriental - đặc sản của vùng Địa trung Hải, xì gà nổi tiếng của Cuba và Sumatra (Indonesia)

Việc hút thuốc lá lan nhanh sang các nước châu Âu Năm 1561, Jean Nicot, đại sứ Pháp ở Lisbone, đã giới thiệu bột thuốc lá với bà hoàng Catherine de Medici, người bị chứng đau nửa đầu Bột thuốc lá gây ra hắt hơi, cơn đau của bà hoàng dịu đi Điều đó làm giới quý tộc Pháp ngạc nhiên, nhưng lại khởi đầu cho việc dùng thuốc lá như một cách sống hợp thời trang thú vị trong giới quý tộc Để tỏ lòng ngưỡng mộ Nicot, thuốc lá còn được gọi là Nicôtin

Đến năm 1592, một thế kỷ sau khi Colombus phát hiện ra châu Mỹ, thuốc lá đã được trồng ở Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Anh Sau đó lan ra Philippines, Ấn Độ, Java, Nhật, Tây Phi, Trung Quốc và các lái buôn đã mang thuốc lá đến tận Mông Cổ và Sibêri

Bước sang thế kỷ XVII, thuốc lá đã gây ra tranh cãi ở châu Âu Thuốc

lá đã phân chia quan điểm xã hội, nhưng chính phủ các nước châu Âu không thể ngăn cấm vì những khoản tiền khổng lồ thu được từ thuế thuốc lá cho ngân sách quốc gia Đến thế kỷ XVIII, XIX các nước Âu - Mỹ hoàn thành cách mạng công nghiệp Các phát minh khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp Ngành công nghiệp thuốc lá ra đời và thu được lợi nhuận

to lớn hơn trước

Trang 28

Năm 1881, ra đời chiếc máy có thể sản xuất thuốc lá điếu, từ đó thuốc

lá điếu dần dần thay thế cho các loại thuốc lá dùng tẩu, loại nhai và thuốc lá bột để hít

Cuối thế kỷ XIX và suốt thế kỷ XX, là quá trình hình thành các tập đoàn sản xuất độc quyền - có nhiều vốn, áp dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến, năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao, để dần dần chiếm lĩnh thị trường thế giới Một loạt các tập đoàn thuốc lá đa quốc gia hiện đang chi phối thị trường thế giới về trồng thuốc lá, phối chế, sản xuất thuốc sợi, thuốc điếu, các máy móc chuyên dùng và tất cả các phụ liệu cho sản xuất thuốc lá Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập cũng chú ý phát triển ngành công nghiệp thuốc lá, như Trung Quốc, Indonesia, Triều Tiên, Ấn Độ, Philippines, Ai Cập, Pakistan, Việt Nam [21]

Theo thống kê, hiện nay diện tích trồng cây thuốc lá trên thế giới

khoảng từ 4-4,5 triệu ha và sản lượng lá thuốc lá đạt khoảng 6 triệu tấn/năm, tập trung phần lớn ở những quốc gia sau: Thuốc lá vàng sấy ở Trung Quốc 2.800.000 tấn/năm, Mỹ 407.000 tấn/năm, Brazil 364.000 tấn/năm, Zimbabuê 200.000 tấn/năm, Ấn Độ 150.000 tấn/năm, ngoài ra một số quốc gia khác có sản lượng thuốc lá cao là Canada, Achentina Thuốc lá Burley: Mỹ 300.000 tấn/năm, Malawi 85.000 tấn/năm, Brazil 70.000 tấn/năm; Thuốc lá Oriental: Thổ Nhĩ Kỳ 300.000 tấn/năm, Hy Lạp 110.000 tấn/năm, Bungari 75.000 tấn/năm [22]

Hiện nay trên thế giới có hơn 100 nước trồng thuốc lá với 33 triệu nhân công, với khoảng 80% là các nước đang phát triển Trong đó, khoảng

15 triệu người ở Trung Quốc, 3,5 triệu người ở Ấn Độ Dim-ba-buê có khoảng 100.000 công nhân làm việc trong các nông trường thuốc lá Những người được thuê ở các quốc gia có thu nhập cao xét về mặt số lượng tương đối là nhỏ, nhưng vẫn là một con số đáng kể, Ví dụ Mỹ có 120.000 nông trường thuốc lá, Liên minh châu Âu có 135.000 nông trường Ở các quốc gia

Trang 29

này, số người tham gia trồng trọt, chế biến sản phẩm thuốc lá không lớn vì

nó được cơ khí hóa cao Tại hầu hết các quốc gia, việc sản xuất thuốc lá

chiếm khoảng 1% tổng số công việc sản xuất, tuy nhiên ở nhiều nước sản

xuất thuốc lá lại chiếm một tỷ lệ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (nhất

là các nước đang phát triển) Đáng kể nhất phải kể đến In-đô-nê-xia chiếm

8% trong tổng sản phẩm đầu ra, tiếp đến là Thổ Nhĩ Kỳ, Băng-la-đét,

Ai-cập, Phi-lip-pin và Thái Lan sản xuất thuốc lá chiếm từ 2,5 đến 5% tổng sản

phẩm đầu ra

1.2.2 Tình hình trồng và chế biến thuốc lá ở Việt Nam

Thuốc lá du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ XVIII, cũng giống

như các nước Châu Á - Thái Bình Dương khác (theo chân thực dân châu

Âu) Từ đó đến nay nó tiếp tục được trồng và sản xuất với số lượng ngày

càng tăng Thuốc lá được trồng ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh

miền núi phía Bắc và các tỉnh miền Đông Nam Bộ

Theo số liệu của Tổng cục thống kê: trong hai năm 2007 và 2008,

diện tích trồng thuốc lá, năng suất và sản lượng đạt như sau:

Số liệu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

2007 19,2 16,7 32,0

2008 16,4 17,5 28,7 Thông thường một vụ trồng cây thuốc lá đến thời điểm thu hoạch là 180

ngày và sau đó có thể canh tác quay vòng các loại nông sản khác như lúa gạo,

ngô, vừng và mía Ở Việt Nam có ba loại cây thuốc lá được trồng và canh tác

đó là: (1) loại flue cured virginia (FCV); (2) thân to; và (3) loại chịu nắng,

trong đó FCV chiếm khoảng 60% đến 70% tổng sản lượng

Sau khi thu hoạch người nông dân phải thực hiện sơ chế lá thuốc lá, sơ

chế là một quá trình được kiểm soát cẩn thận để có được lá, cọng lá, màu sắc

Trang 30

và chất lượng chung đạt yêu cầu của từng loại lá thuốc cụ thể Trong quá trình

sơ chế, tinh bột của lá sẽ chuyển thành đường, màu xanh lá biến mất và lá thuốc sẽ chuyển dần thành màu vàng nhạt đến vàng, cam rồi nâu, giống như lá

mùa thu

Có bốn phương pháp sơ chế chính được sử dụng trên thế giới:

Thuốc lá vàng sấy lò (flue curing): quá trình sấy khô thường được thực

hiện qua nhiệt sấy gián tiếp (sử dụng hệ thống đường ống để truyền nhiệt)

Thuốc lá hong gió (Air curing): sử dụng quá trình trao đổi nhiệt tự

nhiên qua lớp không khí được lưu thông

Thuốc lá phơi nắng (Sun curing): sử dụng nhiệt do mặt trời chiếu

xuống để làm khô thuốc lá

Thuốc lá sấy lửa trực tiếp (Fire curing): sử dụng lửa trực tiếp từ gỗ một

số loài cây để làm khô thuốc lá

Mỗi một cách được sử dụng cho một loại thuốc lá riêng và cho ra sản phẩm có hương, vị, màu sắc, đặc thù khác nhau Tại Việt Nam, phần lớn thuốc lá được sơ chế bằng phương pháp sấy lò, sử dụng nhiên liệu đốt là than, củi [7]

Sau khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam vào năm 1994, các công ty thuốc lá là một trong những công ty kinh doanh có mặt đầu tiên tại Việt Nam Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1994, đã có 3 công ty thuốc lá đa quốc gia là Phillip Morris, Rothmans of Pall Mall và BAT đã được phép mở chi nhánh tại Việt Nam Năm 1995, RJ Reynolds liên doanh với nhà máy thuốc

lá Đà Nẵng để sản xuất các loại thuốc lá Camen, Salem, Winston và More bao gồm các hoạt động trồng cây thuốc lá và sản xuất thuốc lá với dây chuyền mới Đến tháng 6 năm 1997, chính phủ Việt Nam đã thông báo ngừng cho phép liên doanh với các công ty thuốc lá đa quốc gia nhưng vẫn

Trang 31

phải tôn trọng những hợp đồng đã ký trước đó, tuy nhiên vào năm 2001 tập đoàn BAT đã ký hợp đồng liên doanh trị giá 40 triệu đôla với Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (Vinataba) để sản xuất các sản phẩm của BAT tiêu thụ tại Việt Nam [51]

Theo điều tra của Trần Thu Thủy, năm 1996 trên toàn quốc có 28 nhà máy thuốc lá (cả trung ương và địa phương) đạt sản lượng 1.970 triệu bao thuốc lá, còn tính trung bình từ năm 1995-1999 tiêu thụ khoảng 1.700 triệu bao [19] Đến năm 2000 toàn Hiệp hội thuốc lá sản xuất 2.619 triệu bao, năm 2003 ước đạt 3.800 triệu bao, tăng hàng năm trung bình 8%

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRỒNG THUỐC LÁ VÀ SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRỒNG THUỐC LÁ

1.3.1 Một số nghiên cứu của nước ngoài

Các công ty thuốc lá thường cho rằng trồng thuốc lá là “giải pháp kỳ diệu” đối với sự phát triển kinh tế gia đình và quốc gia Các công ty thường cho rằng trồng thuốc lá sẽ tạo ra nguồn thu nhập dồi dào cho người nông dân, cộng đồng và các quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế, trong khi ngành công nghiệp thuốc lá không thể chứng minh được trồng thuốc lá tạo ra nguồn thu nhập dồi dào cho người trồng thuốc lá thì hậu quả về mặt sức khỏe và ảnh hưởng lớn đến môi trường do trồng thuốc lá gây nên đã được chứng minh qua các công trình nghiên cứu trên khắp thế giới Nguy cơ đối với sức khỏe của những người trồng thuốc lá xảy ra trong toàn bộ quá trình trồng và chăm sóc thuốc lá, ngay từ khi bắt đầu gieo hạt cho đến khi thu hoạch

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng trồng và chế biến thuốc lá là nguyên nhân gây ra nhiều chấn thương và bệnh tật cho những người trồng thuốc lá Những người tham gia vào trồng trọt và chế biến thuốc lá, đặc biệt là phụ nữ, sẽ có có thể bị “ hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh” (GTS: Green Tobacco Sickness) [29]

Trang 32

Nghiên cứu tổng quan gần đây cho thấy GTS là một vấn đề về sức khỏe công cộng đáng lưu tâm Tỷ lệ mới mắc GTS là 2 trường hợp trong

100 ngày-người có phơi nhiễm Những người trồng thuốc lá không hút thuốc

có nguy cơ mắc GTS cao gấp 17 lần (tỷ suất chênh OR=17) với những người trồng thuốc lá có hút thuốc, điều này có nghĩa là những người trồng thuốc lá và không hút thuốc lá dễ bị mắc GTS [53] Nghiên cứu của Chloros

D và cộng sự năm 2004 cho thấy công nhân trồng thuốc lá có nguy cơ mắc các chứng rối loạn đường hô hấp trên (ví dụ như hoạt động bất thường của mũi) cao hơn so với những người khác [36] Theo Quantd S và cộng sự tiến hành nghiên cứu thuần tập trên 182 công nhân trồng thuốc lá (được phỏng vấn liên tục 5 lần, trung bình 2 tuần một lần) cho thấy tỷ lệ công nhân mắc GTS là 24,2%; tỷ lệ mới mắc GTS trung bình là 1,88 trong 100 ngày-người

có phơi nhiễm; còn tỷ lệ mới mắc GTS là 2,97 trong 100 ngày-người có phơi nhiễm làm việc (trong điều kiện quần áo bị ướt) lớn hơn 25% ngày công, đối với những trường hợp làm việc nhỏ hơn 25% thì tỷ lệ mới mắc GTS là 1,29 trong 100 ngày [49] Theo Oliveira P trong một nghiên cứu bệnh chứng đối với những công nhân có liên quan tới trồng thuốc lá, nhóm bệnh là những người được chẩn đoán bị ngộ độc cấp tính (chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa, suy nhược, đau đầu) từ ngày 01/8 – 25/9 năm 2007, nhóm chứng là những người làm việc trong nhà hoặc người gần gũi của những công nhân có liên quan tới trồng thuốc lá; kết quả nghiên cứu trong 107 người thuộc nhóm bệnh có 57 trường hợp là nam (chiếm 53%), độ tuổi trung bình là 21 năm (từ 8-58 tuổi) Tỷ lệ các triệu chứng chính xuất hiện là: chóng mặt (90%), mệt (88%), nôn (83%), buồn nôn (82%) và nhức đầu (58%) Tính hồi quy logistic các biến độc lập kết hợp với người bệnh có giới tính là nam (OR = 2,1; 95% CI = 1.1-4.0), hút thuốc (OR = 7,0; 95% CI = 2.6-19.1) và làm việc trong giai đoạn thu hoạch của thuốc lá (OR = 2,7; 95% CI = 1,2-6,0) Trong

số những người không hút thuốc, trung vị nồng độ cotinine trong nước tiểu

là 288ng/ml (từ 18-6.313) trong các trường hợp; đối với nhóm chứng là 156ng/ml (từ 0-1,908) với (p = 0,006) [47] Một số yếu tố khác về môi

Trang 33

trường như nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết ẩm cũng được chứng minh có mối liên quan chặt chẽ với các vấn đề sức khỏe của nông dân trồng thuốc lá [53] Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe có liên quan đến trồng thuốc lá đều thực thực hiện tại Mỹ Hiện tại, trong khi số lượng người tham gia trồng trọt và chế biến thuốc lá ở các nước đang phát triển ngày càng tăng lên thì số liệu về các vấn đề sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá ở các nước này còn rất thiếu

1.3.2 Một số nghiên cứu trong nước

Việt Nam là quốc gia đang phát triển nằm ở khu vực Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều và đội ngũ nhân công làm việc cần cù, chăm chỉ, là mục tiêu được các công ty thuốc lá lựa chọn để mở rộng diện tích trồng trọt thuốc lá Năm 2002, tổng diện tích trồng thuốc lá ở Việt Nam vào khoảng 18.000 hecta, chiếm 0,28% tổng diện tích đất trồng trọt Sản lượng thuốc lá ở Việt Nam đạt khoảng 27.400 tấn thuốc lá một năm Hiện tại, các công ty thuốc lá ở Việt Nam

đã có kế hoạch tăng sản lượng thuốc lá trong nước thông qua việc tăng diện tích trồng thuốc lá và cải tiến sản lượng thuốc lá cho đến năm 2010 [2]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thạc Minh và cộng sự, thuốc lá là nguyên nhân làm nhiều hộ gia đình bị rơi vào đói nghèo Nếu số tiền chi tiêu cho thuốc lá được sử dụng cho mua lương thực thực phẩm cho gia đình, 11,2% trong số hộ gia đình nghèo sẽ thoát nghèo Tiêu dùng thuốc lá không chỉ gây nên nghèo đói mà còn làm tăng khoảng cách của bất bình đẳng, tăng khoảng cách giàu nghèo Hệ số Gini của tất cả các vùng đều tăng lên khi tách chi tiêu thuốc lá ra khỏi tổng chi tiêu của hộ [14]

Năm 2007, dưới sự hỗ trợ của hiệp hội kiểm soát thuốc lá Đông Nam Á (SEATCA), Hoàng Văn Minh và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang so sánh về tình hình sức khỏe cũng như thu nhập của những người dân trồng thuốc lá và những người dân không trồng thuốc lá tại một vùng nông thôn Việt Nam

Trang 34

Nghiên cứu được thực hiện dưới sự phối hợp của 3 đơn vị nghiên cứu: Trường Đại học Y tế công cộng, Hội Y tế công cộng Việt Nam, và Trường Đại học Y Hà Nội, đây là một nghiên cứu kết hợp nhiều phương pháp trong đó phương pháp định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung) và điều tra cắt ngang mô tả các hộ gia đình được sử dụng trong nghiên cứu này Hai huyện được chọn để tiến hành nghiên cứu là huyện Võ Nhai thuộc tỉnh Thái Nguyên miền Bắc Việt Nam, và huyện Mỹ Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai miền Nam Việt Nam, nguyên nhân chọn hai huyện này là do tính khả thi có thể tiến hành dự án và tính đại diện cho hai vùng chính của Việt Nam trong việc trồng cây thuốc lá Trong mỗi huyện, một xã trồng cây thuốc lá và một xã không trồng cây thuốc lá được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

đã gợi ý rằng lợi ích kinh tế mà người nông dân thu được từ trồng cây thuốc lá

là rất nhỏ Nghiên cứu cũng cho thấy rằng những người nông dân trồng thuốc

lá có xu hướng có nhiều vấn đề sức khỏe ốm đau, bệnh tật hơn so với những người nông dân không trồng thuốc lá, kết quả của nghiên cứu định tính cũng cho thấy trẻ em và phụ nữ là những người phải tham gia vào rất nhiều hoạt động trong trồng cây thuốc lá Mặc dù việc sử dụng lao động là phụ nữ và trẻ

em không phải chỉ có ở trong trồng cây thuốc lá, nhưng so với trồng các cây khác thì tỷ lệ này cao hơn hẳn [46]

Tuy nhiên nghiên cứu chưa quan tâm đến những yếu tố nguy cơ khác có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người nông dân trồng thuốc lá như: các yếu

tố về môi trường sống, hành vi hút thuốc lá uống rượu, tính sẵn có của hệ thống chăm sóc sức khỏe tại địa phương cũng như khả năng tiếp cận với dịch

vụ y tế của người dân

Tại Việt Nam, kiểm soát thuốc lá đã và đang nhận được nhiều quan tâm của Chính phủ và cộng đồng Nghị định Số 77/2002/QĐ-TTg của Chính phủ phê chuẩn chương trình phòng chống và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002–2010, nghị quyết Chính phủ 12/2000/NQ-CP về chính sách kiểm soát thuốc lá quốc gia 2000 – 2010 đã thể hiện quyết tâm kiểm soát

Trang 35

thuốc lá của Chính phủ Việt Nam cũng đã ký kết công ước khung về kiểm soát thuốc lá ngày 8 tháng 8 năm 2003 và phê chuẩn công ước khung về kiểm soát thuốc lá ngày 17 tháng 12 năm 2004

Hiện nay tại Việt Nam, mặc dù số lượng các nghiên cứu về thuốc lá

ở Việt Nam đang ngày càng tăng, nhưng những thông tin về tác hại của việc trồng thuốc lá đến sức khỏe người trồng thuốc lá còn rất thiếu Nhằm thúc đẩy sự ra đời và tăng cường việc thực hiện các chính sách kiểm soát thuốc lá ở Việt Nam, các thông tin đáng tin cậy về ảnh hưởng của trồng và chế biến thuốc lá đối sức khỏe và kinh tế của những người trồng thuốc lá đang là một nhu cầu bức thiết đối với các nhà hoạch định chính sách, những cán bộ làm công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, cũng như cho toàn xã hội nói chung

Trang 36

Chương II

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Võ Nhai là một huyện nông thôn nằm ở phía Bắc Việt Nam, cách thủ

đô Hà Nội 90 km,cách thành phố Thái Nguyên khoảng 30km về hướng Đông Bắc Phía Đông Võ Nhai giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ

và tỉnh Bắc Kạn, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang và huyện Đồng Hỷ, phía Bắc giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn

Trang 37

Huyện có 14 xã và một thị trấn, dân số của huyện Võ Nhai khoảng 63.000 người, mật độ dân số 72 người/km2 Địa hình của Võ Nhai chủ yếu là

vùng đồi núi và cao nguyên với diện tích tự nhiên là 84.510,4 ha Về khí hậu,

Võ Nhai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình từ 1.500-2.250mm/năm, nhiệt độ trung bình là 23,20C, ở Võ Nhai thường xuất hiện sương muối (tháng 12 và tháng 1 hàng năm) Võ Nhai còn là địa bàn sinh sống của 8 dân tộc như: Kinh (34,17%); Tày (29,88%); Nùng (14,52%); Dao (12,63%); Các dân tộc H’Mông, Cao Lan, Hoa chiếm 8,7%

Võ Nhai có khoảng 29.703 lao động nông nghiệp, chiếm 47,43% dân

số 6 trong tổng số 16 xã (38%) của Huyện Võ Nhai trồng thuốc lá, luân canh với lúa và các loại ngũ cốc khác như ngô, sắn vv

Cây thuốc lá đã được trồng trên đất Võ Nhai trên dưới một thập kỷ, qua kiểm nghiệm, chất lượng của nguyên liệu thuốc lá Võ Nhai được xếp bảng A Thời gian tới, huyện có định hướng khuyến khích phát triển diện tích cây thuốc lá với mục tiêu đạt 400 ha, sản lượng 900 tấn trong vụ đông năm 2009

và những năm tiếp theo

Võ Nhai phấn đấu đến năm 2020, đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 9,5%/năm, sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 35.000 tấn; giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 10% năm; phủ xanh toàn bộ diện tích đất trống, đồi núi trọc; 95% dân số được sử dụng điện; giảm

tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 10%

Hai xã được chọn vào nghiên cứu là xã Lâu Thượng (trồng, chế biến thuốc lá) và xã Phú Thượng (không trồng, chế biến thuốc lá), đây là 2 xã có những đặc điểm tương đối giống nhau về địa lý, văn hóa, kinh tế xã hội và đặc điểm dân cư, người dân 2 xã sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, không

có nghề phụ nào

Xã Lâu Thượng có diện tích 400 ha, dân số 6170 người, trình độ dân trí không cao, ngoài nông nghiệp người dân còn chăn nuôi gia súc, gia cầm với

Trang 38

quy mô nhỏ lẻ Thuốc lá là cây công nghiệp được phát triển trồng ở Lâu Thượng với diện tích trồng khoảng 150 ha, sản lượng ước đạt trên 22 tấn

Năm 2006, tỷ lệ sinh thô là 14,9%o, tỷ lệ tử vong thô là 5,18%o và tỷ lệ

tử vong ở trẻ sơ sinh là 10,9%o Số hộ nghèo trong năm 2000 tại xã là 36%

Xã Phú Thượng có diện tích 544 ha, dân số 4655 người, người nông dân chủ yếu trồng lúa và một số cây hoa màu như ngô, lạc, v.v Năm 2006, tỷ

lệ sinh thô là 16,2%o, tỷ lệ tử vong thô là 5,6%o và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh

là 15,7%o Số hộ nghèo trong năm 2000 tại xã là 37,7% [24]

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Người nông dân thuộc 2 xã trồng, chế biến thuốc lá và không trồng, chế biến thuốc lá được lựa chọn vào nghiên cứu

- Xã trồng, chế biến thuốc lá (Lâu Thượng): Tất cả đối tượng (bao gồm cả trẻ em) thuộc hộ gia đình có trồng, chế biến thuốc lá Những hộ gia đình thuộc xã này nhưng không trồng, chế biến thuốc lá được loại khỏi danh sách nghiên cứu

- Xã không trồng, chế biến thuốc lá (Phú Thượng): Các đối tượng (bao gồm cả trẻ em) thuộc hộ gia đình trồng các cây nông nghiệp khác và không trồng, chế biến thuốc lá

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.3.2.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang so sánh 2 tỷ lệ trong một quần thể:

Trang 39

[(1-p1)/p1] + [(1-p2)/p2]

n = Z 2

1 - ∝ /2

d2Trong đó: n: cỡ mẫu

Z 1 - ∝ /2 = 1,96 (với mức ý nghĩa thống kê α = 5%)

d = 5 % (độ chính xác mong muốn) P1: Tỷ lệ người dân thuộc vùng trồng thuốc lá có các vấn đề về sức khỏe = 45% (theo kết quả của nghiên cứu trước đây đã tiến hành)

P2: Tỷ lệ người dân thuộc vùng không trồng thuốc lá có các vấn đề về sức khỏe = 30% (theo kết quả của nghiên cứu trước đây đã tiến hành)

Theo công thức trên, cỡ mẫu tối thiểu được tính ra là 707 đối tượng trong mỗi xã.Cỡ mẫu nghiên cứu cho mỗi xã có thể đạt được thông qua điều tra khoảng 200 hộ gia đình, tổng số cỡ mẫu cho toàn bộ nghiên cứu là khoảng 400 hộ gia đình Kết quả cho thấy trong 400 hộ gia đình được lựa chọn có 1422 đối tượng được điều tra

Trang 40

Giai đoạn3: Chọn hộ gia đình điều tra, danh sách các hộ gia đình có trồng, chế biến thuốc lá trong xã trồng thuốc lá và danh sách toàn bộ các hộ gia đình thuộc xã không trồng thuốc lá được cung cấp bởi chính quyền địa phương 200 hộ gia đình trồng thuốc lá và 200 hộ gia đình không trồng thuốc lá được lựa chọn ngẫu nhiên từ 2 danh sách trên Toàn bộ các thành viên thuộc các hộ gia đình được lựa chọn nêu trên được điều tra

Hộ trồng, chế biến thuốc lá: được xác định là hộ gia đình có ít nhất một thành viên tham gia trồng, chế biến thuốc lá từ trước đến nay

Hộ không trồng, chế biến thuốc lá: được xác định là hộ gia đình chưa từng có thành viên nào tham gia trồng, chế biến thuốc lá từ trước đến nay

2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:

Các hộ gia đình hoặc thành viên gia đình bị loại khỏi nghiên cứu này trong các trường hợp sau:

- Gia đình từ chối không tham gia nghiên cứu

- Đối tượng phỏng vấn bị mắc bệnh tâm thần, hoặc không có khả năng giao tiếp, hoặc không còn minh mẫn

- Gia đình không thuộc trong danh sách đã được chọn ngẫu nhiên

2.3.4 Quy trình thu thập số liệu

- Tập huấn điều tra viên: 15 điều tra viên là nhân viên y tế thôn bản tại hai xã được chọn thông qua phỏng vấn do nhóm nghiên cứu và lãnh đạo trạm y tế, lãnh đạo trung tâm y tế huyện Võ Nhai thực hiện Sau tập huấn, chỉ 10 cán bộ có kỹ năng phỏng vấn tốt nhất và tinh thần trách nhiệm cao nhất được lựa chọn làm điều tra viên

Ngày đăng: 14/01/2015, 18:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Mai Anh, Ngô Quý Châu, Lê Anh Tuấn và cs (2004), Các bệnh liên quan đến thuốc lá và cách phòng chống, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.6-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh liên quan đến thuốc lá và cách phòng chống
Tác giả: Hoàng Mai Anh, Ngô Quý Châu, Lê Anh Tuấn và cs
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
2. Bộ Công Nghiệp (2006), “ Báo cáo về sản xuất và kinh doanh thuốc lá”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về sản xuất và kinh doanh thuốc lá
Tác giả: Bộ Công Nghiệp
Năm: 2006
3. Bộ Tài Nguyên Môi Trường (2006), Những ảnh hưởng của thuốc lá đối với môi trường, 31/5/2006,http://wwwhttp://.more.gov.vn..more.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ảnh hưởng của thuốc lá đối với môi trường
Tác giả: Bộ Tài Nguyên Môi Trường
Năm: 2006
4. Bộ Y tế (2002), Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và phát triển, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.59-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và phát triển
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
5. Bộ Y tế - Tổ chức Y tế thế giới (2003), Tài liệu hướng dẫn tư vấn cai nghiện thuốc lá, Chương trình PCTHTL Quốc gia, Hà Nội, tr.8-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn tư vấn cai nghiện thuốc lá
Tác giả: Bộ Y tế - Tổ chức Y tế thế giới
Năm: 2003
6. Bộ Y tế - Tổng cục thống kê (2003), Mức độ bao phủ của các chương trình Y tế công cộng, Điều tra Y tế quốc gia 2001-2002, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.57-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ bao phủ của các chương trình Y tế công cộng
Tác giả: Bộ Y tế - Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
7. British American Tobacco Việt Nam (2009), Sản xuất thuốc lá, 06/08/2009, http://www.batvietnam.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất thuốc lá
Tác giả: British American Tobacco Việt Nam
Năm: 2009
8. Debra E (1997), Thuốc lá hay sức khỏe, Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng RTCCD/PATH Canada, tài liệu dịch, Hà Nội, tr.3-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc lá hay sức khỏe
Tác giả: Debra E
Năm: 1997
9. Debra E, Emma M, Flora T (2002), Phòng chống tác hại thuốc lá, Nhà xuất bản Thanh niên, tài liệu dịch, Hà Nội, tr. 7-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống tác hại thuốc lá
Tác giả: Debra E, Emma M, Flora T
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 2002
10. Nguyễn Cự Đồng, Nguyễn Chí Lăng (1999), Ảnh hưởng của hút thuốc lá đến niêm mạc phế quản, Một số kết quả điều tra về tình hình hút thuốc lá ở Việt Nam và các bệnh có liên quan, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.51-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của hút thuốc lá đến niêm mạc phế quản, Một số kết quả điều tra về tình hình hút thuốc lá ở Việt Nam và các bệnh có liên quan
Tác giả: Nguyễn Cự Đồng, Nguyễn Chí Lăng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1999
11. Hội Y tế công cộng Việt Nam (2005), Công ước khung kiểm soát thuốc lá bắt đầu có hiệu lực, Tạp chí Y tế công cộng, số 3, tr.54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước khung kiểm soát thuốc lá bắt đầu có hiệu lực
Tác giả: Hội Y tế công cộng Việt Nam
Năm: 2005
12. Hoàng Văn Kình, Sarah B, Jenkins Ch (1995), Khía cạnh kinh tế về kiểm soát thuốc lá tại Việt Nam, Đại học thương mại Hà Nội – Viện đại học California, San Francisco, tr.20-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khía cạnh kinh tế về kiểm soát thuốc lá tại Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Kình, Sarah B, Jenkins Ch
Năm: 1995
13. Không thuốc lá (2009), Tác hại của thuốc lá đối với môi trường, 22/4/2009, http://www.khongthuocla.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác hại của thuốc lá đối với môi trường
Tác giả: Không thuốc lá
Năm: 2009
14. Nguyễn Thạc Minh, Hoàng Văn Kình, và cộng sự (2002), Gánh nặng tài chính của hút thuốc lá đối với hộ gia đình, báo cáo nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng tài chính của hút thuốc lá đối với hộ gia đình
Tác giả: Nguyễn Thạc Minh, Hoàng Văn Kình, và cộng sự
Năm: 2002
15. Ngân hàng Thế giới (2003), Ngăn chặn nạn dịch hút thuốc lá – Vai trò của Chính phủ và khía cạnh kinh tế của kiểm soát thuốc lá, tài liệu dịch, Washington DC, tr.1-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngăn chặn nạn dịch hút thuốc lá – Vai trò của Chính phủ và khía cạnh kinh tế của kiểm soát thuốc lá
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2003
16. Đào Ngọc Phong (1995), “Môi trường hút thuốc lá và sức khỏe cộng đồng trên quan điểm dịch tễ học”, Hội thảo quốc gia về chiến lược phòng chống thuốc lá lần thứ 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường hút thuốc lá và sức khỏe cộng đồng trên quan điểm dịch tễ học”, "Hội thảo quốc gia về chiến lược phòng chống thuốc lá lần thứ 3
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Năm: 1995
17. Vũ Trung (2004), “Ngành trồng thuốc lá: các vấn đề về sức khỏe và môi trường”, Tạp chí Công nghiệp Hóa chất, HN, số 09/2004, tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành trồng thuốc lá: các vấn đề về sức khỏe và môi trường"”
Tác giả: Vũ Trung
Năm: 2004
18. Phạm Minh Tuấn (2005), “Thuốc lá thủ phạm gây ô nhiễm môi trường”, Tạp chí khoa học và phát triển, Hà Nội, số 47/2005, tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc lá thủ phạm gây ô nhiễm môi trường
Tác giả: Phạm Minh Tuấn
Năm: 2005
19. Trần Thu Thủy (1995), “Hoạt động về phòng chống tác hại thuốc lá những năm qua và kế hoạch hành động từ năm 1995-1999”, Hội thảo quốc gia về chiến lược phòng chống thuốc lá lần thứ 3, Hà Nội, tr.1-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động về phòng chống tác hại thuốc lá những năm qua và kế hoạch hành động từ năm 1995-1999”, "Hội thảo quốc gia về chiến lược phòng chống thuốc lá lần thứ 3
Tác giả: Trần Thu Thủy
Năm: 1995
24. Website giới thiệu tỉnh Thái Nguyên, http://www.thainguyen.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.15.  nhóm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15. nhóm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành (Trang 9)
Bảng 3.1. Thông tin về người được điều tra theo giới - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.1. Thông tin về người được điều tra theo giới (Trang 47)
Bảng 3.3. Thông tin về người được điều tra theo trình độ học vấn - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Thông tin về người được điều tra theo trình độ học vấn (Trang 48)
Bảng 3.4. Thông tin về người được điều tra theo nghề nghiệp chính 12 - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4. Thông tin về người được điều tra theo nghề nghiệp chính 12 (Trang 49)
Bảng 3.5. Thông tin về người được điều tra theo phân nhóm quintile - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Thông tin về người được điều tra theo phân nhóm quintile (Trang 49)
Bảng 3.6. Nhà ở và một số điều kiện vệ sinh môi trường của người được - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Nhà ở và một số điều kiện vệ sinh môi trường của người được (Trang 50)
Bảng 3.7. Thời gian trung bình tham gia trồng, chế biến thuốc lá của  người dân xã Lâu Thượng được điều tra theo giới, nhóm tuổi, học vấn, - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. Thời gian trung bình tham gia trồng, chế biến thuốc lá của người dân xã Lâu Thượng được điều tra theo giới, nhóm tuổi, học vấn, (Trang 53)
Bảng 3.7 trên đây trình  bày số năm trung bình tham gia trồng và chế  biến thuốc lá của  đối tượng nghiên cứu thuộc xã Lâu Thượng - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7 trên đây trình bày số năm trung bình tham gia trồng và chế biến thuốc lá của đối tượng nghiên cứu thuộc xã Lâu Thượng (Trang 54)
Bảng 3.9. Thời gian trồng và chế biến thuốc lá (trong tháng trước) tại - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Thời gian trồng và chế biến thuốc lá (trong tháng trước) tại (Trang 55)
Bảng 3.10. Thực trạng việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, tăng  trưởng và hút thuốc lá, uống rượu/bia của người được điều tra (trong - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Thực trạng việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, tăng trưởng và hút thuốc lá, uống rượu/bia của người được điều tra (trong (Trang 56)
Bảng 3.11. Tỷ lệ mắc các triệu chứng của người được điều tra trong 1 - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Tỷ lệ mắc các triệu chứng của người được điều tra trong 1 (Trang 59)
Bảng 3.13. Tình hình mắc các bệnh được nhân viên y tế chẩn đoán của  người được phỏng vấn trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn theo - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13. Tình hình mắc các bệnh được nhân viên y tế chẩn đoán của người được phỏng vấn trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn theo (Trang 62)
Bảng 3.14. Tự đánh giá tình trạng sức khỏe của người được điều tra - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14. Tự đánh giá tình trạng sức khỏe của người được điều tra (Trang 63)
Bảng 3.15. Mô hình hồi quy logistic về tình trạng ốm đau của các nhóm  theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15. Mô hình hồi quy logistic về tình trạng ốm đau của các nhóm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm (Trang 64)
Bảng 3.16. Mô hình Poisson về tỷ số tỷ lệ mắc ốm đau theo các đặc điểm  về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm trình độ học vấn) - thực trạng ốm đau của người dân tại hai xã có và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.16. Mô hình Poisson về tỷ số tỷ lệ mắc ốm đau theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm trình độ học vấn) (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w