Đặt vấn đề Nội soi phế quản (NSPQ) là kỹ thuật để chẩn đoán một số bệnh lý ở phế quản phổi. NSPQ giúp quan sát cấu trúc trong lòng phế quản và lấy bệnh phẩm làm xét nghiêm tế bào, mô bệnh học, vi sinh dịch phế quản giúp chẩn đoán xác định bệnh [6], [8]. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học có rất nhiều phương pháp được áp dụng để lấy bệnh phẩm qua NSPQ ống mềm (NSPQOM) cho giá trị chẩn đoán tối ưu. Nội soi phế quản ống mềm lần đầu tiên được giới thiệu ở Mỹ vào cuối thập kỷ 60. Kỹ thuật giúp các nhà phổi học có thể quan sát, đánh giá tình trạng trong lòng phế quản. Cho đến nay, có nhiều kỹ thuật lấy bệnh phẩm qua nội soi phế quản cho những tổn thương ngoại vi không thấy qua NSPQ như: phương pháp chọc hút xuyên thành khí phế quản, chải phế quản, sinh thiết xuyên thành phế quản (STXTPQ), rửa phế quản phế nang (RPQPN), giúp chẩn đoán, đánh giá giai đoạn bệnh. Sinh thiết xuyên thành phế quản qua NSPQ được nhiều tác giả đề cập đến. STXTPQ qua NSPQ dễ thực hiện và có tỷ lệ biến chứng thấp, nhưng mẫu bệnh phẩm nhỏ nên giá trị chẩn đoán chưa cao. Sinh thiết phổi mở cho mẫu bệnh phẩm lớn nhưng biến chứng cao. STXTPQ ra đời giúp chẩn đoán được một số tổn thương ngoại vi mà soi phế quản không nhìn thấy và không cho chẩn đoán xác định. Trên thế giới, lần đầu tiên STXTPQ qua NSPQOC được Anderson H.A và Fontana R.S [11] áp dụng năm 1965 đối với các tổn thương phổi lan tỏa cho hiệu quả chẩn đoán: 84%. Tỷ lệ tai biến tràn khí màng phổi (TKMP): 14%, tràn khí trung thất và chảy máu nặng: 1%, không có trường hợp tử vong. Năm 1974, Levin D.C và cộng sự công bố công trình nghiên cứu về STXTPQ qua NSPQOM cho thấy kỹ thuật này có thể áp dụng với bệnh phổi lan tỏa và các tổn thương khu trú cho kết quả tốt, ít tai biến [38]. Kỹ thuật có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với NSPQOC vì có thể sinh thiết được các tổn thương phổi ngoại vi, kể cả những tổn thương thùy trên của phổi. Mặt khác, kìm sinh thiết nhỏ, dễ uốn và có thể luồn theo kênh ống soi một cách dễ dàng mà NSPQOC không thực hiện được. Năm 2006, Berbescu EA và cộng sự tiến hành STXTPQ trên 21 BN được chẩn đoán xác định viêm phổi kẽ bằng sinh thiết phổi mở thấy rằng: có thể phát hiện được các thay đổi mô bệnh học đặc trưng của viêm phổi kẽ qua STXTPQ nhiều hơn, hiệu quả hơn so với những quan sát trước đây. Các báo cáo khác cũng nhấn mạnh tính hiệu quả của STXTPQ trong trường hợp khối u phổi ở ngoại vi, STXTPQ cho phép chẩn đoán xác định tới 60% đối với các tổn thương có kích thước > 2,5 cm [14], [58]. So với các kỹ thuật lấy bệnh phẩm khác, kỹ thuật STXTPQ trong chẩn đoán một số bệnh lý phổi có nhiều ưu điểm hơn hẳn các kỹ thuật lấy bệnh phẩm khác. Kỹ thuật cho phép chẩn đoán nhiều bệnh lý nhu mô phổi mà trước đây phải lấy bệnh phẩm qua sinh thiết phổi mở [39]. ở Việt Nam cho đến nay, kỹ thuật STXTPQ qua NSPQOM để chẩn đoán các tổn thương phổi khu trú ở ngoại vi và tổn thương phổi lan tỏa là kỹ thuật có giá trị chẩn đoán cao. Tuy nhiên, kỹ thuật này mới được áp dụng ở một số trung tâm lớn về bệnh phổi và lồng ngực. Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về hiệu quả cũng như tai biến của kỹ thuật này. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu: 1. Nhận xét giá trị chẩn đoán của phương pháp sinh thiết xuyên thành phế quản qua nội soi phế quản ống mềm trong chẩn đoán bệnh lý nhu mô phổi. 2. Nhận xét về những tai biến của kỹ thuật.
Trang 1======X W======
NguyÔn ThÞ DiÖu Hång
NhËn xÐt gi¸ trÞ cña sinh thiÕt xuyªn thμnh phÕ qu¶n qua néi soi phÕ qu¶n èng mÒm
Chuyªn ngµnh: Néi khoa M· sè: 60.72.20
luËn v¨n th¹c sÜ y häc
Ng−êi h−íng dÉn : PGS.TS Ng« Quý Ch©u
Hμ Néi – 2008
Trang 2Để hoμn thμnh hoμn thμnh luận văn tốt nghiệp nμy, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hết sức quý báu của các Thầy, Cô giáo, đồng nghiệp vμ gia đình
Tôi xin được bμy tỏ lòng biết ơn vμ lời cảm ơn chân thμnh nhất tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Bộ môn Nội Tổng hợp vμ các bộ môn liên quan Trường Đại học Y Hμ Nội
Đảng uỷ, Ban Giám Đốc, khoa Hô hấp, khoa Giải phẫu bệnh, khoa Chẩn
đoán hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai
Tôi xin được bμy tỏ lòng kính trọng vμ biết ơn sâu sắc tới:
Các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ trong Hội đồng thông qua đề cương vμ chấm luận văn đã đóng góp ý kiến quý báu cho tôi, giúp tôi có thể hoμn thμnh luận văn
Tôi xin chân thμnh cảm ơn GS.TS Ngô Quý Châu –P G Đ, Trưởng khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai, Phó chủ nhiệm Bộ môn Nội Tổng hợp trường ĐHY
Hμ Nội, người Thầy đã tạo mọi điều kiện thuận lợi vμ đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình tôi lμm luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn tới các bác sỹ, y tá vμ các kỹ thuật viên khoa Hô Hấp Bệnh viên Bạch mai đã phối hợp cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vμ hoμn thμnh luạn văn
Tôi cũng xin gửi những tình cảm yêu quý tới các bạn bè vμ các bạn cùng lớp Cao học Nội 15, những người đã luôn giúp đỡ, động viên, cùng tôi chia xẻ trong suốt hai năm học
Cuối cùng tôi xin những tình cảm yêu quý nhất tới những người thân trong gia đình, đã luôn ở bên tôi, an ủi động viên vμ cùng chia sẻ khó khăn, vất vả để tôi yên tâm học tập vμ hoμn thμnh luận văn nμy.
Hμ Nội, ngμy 4 tháng 12 năm 2008
Bs Nguyễn Diệu Hồng
Trang 3Mục lục
Đặt vấn đề 1
Chương 1: Tổng quan tμi liệu 3
1.1 Cấu trúc của phổi 3
1.1.1 Cấu trúc phổi, các thùy và phân thùy phổi 3
1.1.2 Khí quản 3
1.1.3 Các phế quản của phổi phải 3
1.1.4 Các phế quản của phổi trái 4
1.1.5 Cây phế quản 7
1.2 Một số bệnh lý nhu mô phổi 8
1.2.1 Bệnh phổi kẽ 8
1.2.2 Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan 10
1.2.3 Ung thư phế quản phổi 11
1.2.4 Xơ phổi vô căn 12
1.2.5 Chảy máu phế nang lan tỏa do nguyên nhân miễn dịch 12
1.2.6 Lao phổi 13
1.2.7 Sarcoidosis 14
1.3 Các kỹ thuật lấy bệnh phẩm chẩn đoán qua nội soi phế quản 15
1.3.1 Rửa phế quản phế nang 15
1.3.2 Chải phế quản 15
1.3.3 Chọc hút xuyên thành khí phế quản 15
1.3.4 Sinh thiết xuyên thành phế quản 16
1.4 Tai biến của kỹ thuật 17
Chương 2: Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 18
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 18
2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu 18
2.3 Các phương tiện 19
2.3.1 Dụng cụ 19
2.3.2 Thuốc và các phương tiện cấp cứu 20
Trang 42.4 Phương pháp nội soi phế quản và sinh thiết xuyên thành phế
quản 20
2.4.1 Chuẩn bị bệnh nhân 20
2.4.2 Soi phế quản 20
2.4.3 Mô tả kỹ thuật STXTPQ 21
2.5 Theo dõi sau thủ thuật 23
2.6 Địa điểm thực hiện các xét nghiệm thăm dò 23
2.7 Phân tích và xử lý số liệu 23
2.8 Khía cạnh đạo đức của đề tài 23
Chương 3: kết quả nghiên cứu 24
3.1 Đặc điểm chung, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 24
3.1.1 Tuổi và giới 24
3.1.2 Đặc điểm địa dư 25
3.1.3 Đặc điểm nghề nghiệp 26
3.1.4 Biểu hiện lâm sàng 27
3.1.5 Tiền sử bệnh tật và các yếu tố nguy cơ 30
3.1.6 Xét nghiệm tế bào máu 31
3.1.7 Tổn thương trên X- quang 32
3.1.8 Tổn thương trên phim chụp HRCT ngực 34
3.1.9 Tế bào học dịch phế quản 36
3.2 Mô bệnh học sinh thiết xuyên thành phế quản 37
3.2.1 Vị trí phân thùy phổi được sinh thiết xuyên thành 37
3.2.2 Kết quả mô bệnh học của sinh thiết xuyên thành phế quản 37
3.2.3 Liên quan giữa vị trí thùy phổi tổn thương trên X- quang và HRCT ngực với kết quả mô bệnh học của STXTPQ 38
3.2.4 Hình ảnh tổn thương trên phim chụp X quang và HRCT ngực với kết quả mô bệnh học 39
3.2.5 Liên quan giữa số lượng mảnh sinh thiết và kết quả mô bệnh học 40
3.2.6 Kết quả mô bệnh học của STXTN 40
3.2.7 Liên quan giữa vị trí thùy phổi tổn thương trên X- quang và HRCT ngực với kết quả mô bệnh học chung 41
3.2.8 So sánh giá trị chẩn đoán lao của sinh thiết xuyên thành phế quản với các phương pháp chẩn đoán khác 42
3.2.9 Chẩn đoán xác định 43
3.2.10 Liên quan giữa triệu chứng cơ năng với kết quả mô bệnh học 44
Trang 53.2.11 Liên quan giữa triệu chứng toàn thân với kết quả mô bệnh
học chung 45
3.2.12 Triệu chứng thực thể với kết quả mô bệnh học chung 46
3.2.13 Liên quan giữa số lượng bạch cầu với kết quả mô bệnh học 46
3.3 Tai biến của thủ thuật 47
3.3.1 Các phiền phức của soi phế quản và tai biến STXTPQ 47
3.3.2 Mối liên quan giữa tai biến của kỹ thuật với số lượng mảnh sinh thiết 48
3.3.3 Liên quan dạng tổn thương với tai biến của kỹ thuật 48
3.3.4 Liên quan giữa nhóm tuổi với tai biến của kỹ thuật 49
Chương 4: Bμn luận 50
4.1 Đặc điểm chung, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 50
4.1.1 Tuổi và giới 50
4.1.2 Phân bố địa dư và nghề nghiệp 51
4.1.3 Tiền sử bệnh lý và tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ 51
4.1.4 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 52
4.1.5 Tổn thương trên phim chụp XQ và HRCT ngực 54
4.1.6 Kết quả tế bào học và xét nghiệm vi sinh dịch phế quản 58
4.2 Giá trị chẩn đoán của sinh thiết xuyên thành phế quản 59
4.2.1 Vị trí thùy phổi được thực hiện thủ thuật 59
4.2.2 Kết quả mô bệnh học của STXTPQ 60
4.2.3 Liên quan giữa thùy phổi tổn thương trên X quang với kết quả mô bệnh học chung 63
4.2.4.Mối liên hệ giữa hình ảnh tổn thương với kết quả mô bệnh học 64
4.3 Nhận xét về tai biến của kỹ thuật: 65
4.3.1 Những phiền phức sau NSPQ và tai biến của STXTPQ 65
4.3.2 Liên quan giữa số mảnh sinh thiết và tai biến 68
4.3.3 Liên quan giữa nhóm tuổi với tai biến của kỹ thuật 69
Kết luận 70 Tμi liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6Danh mục chữ viết tắt
NSPQOM : Nội soi phế quản ống mềm
CLVT : Cắt lớp vi tính
NSPQ : Nội soi phế quản
HRCT : Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao
TKMP : Tràn khí màng phổi
BN : Bệnh nhân
STXTN : Sinh thiết xuyên thành ngực
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Phân bố tuổi và giới của các đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.2 Lý do vào viện 27
Bảng 3.3 Triệu chứng cơ năng 28
Bảng 3.4 Triệu chứng toàn thân 29
Bảng 3.5 Triệu chứng thực thể 29
Bảng 3.6 Tiền sử bệnh tật và các yếu tố nguy cơ 30
Bảng 3.7 Kết quả xét nghiệm tế bào máu 31
Bảng 3.8 Bệnh nhân có số lượng bạch cầu > 10G/l và <10 G/l 31
Bảng 3.9 Hình ảnh tổn thương trên X quang phổi 33
Bảng 3.10 Thùy phổi tổn thương trên HRCT 34
Bảng 3.11 Hình ảnh tổn thương trên phim HRCT ngực 35
Bảng 3.12 Kết quả tế bào học dịch phế quản 36
Bảng 3.13 Kết quả các xét nghiệm tìm lao 36
Bảng 3.14 Vị trí phân thùy phổi được STXTPQ 37
Bảng 3.15 Kết quả mô bệnh học của sinh thiết xuyên thành phế quản 37
Bảng 3.16 Liên quan giữa vị trí thùy phổi tổn thương với kết quả mô bệnh học của sinh thiết xuyên thành phế quản 38
Bảng 3.17 Hình ảnh tổn thương trên phim chụp X quang và HRCT ngực với kết quả mô bệnh học của sinh thiết xuyên thành phế quản 39
Bảng 3.18 Liên quan giữa số lượng mảnh sinh thiết và kết quả mô bệnh học 40
Bảng 3.19 Kết quả mô bệnh học của STXTN 40
Bảng 3.20 Liên quan giữa vị trí thùy phổi tổn thương với kết quả mô bệnh học chung .41
Trang 8B¶ng 3.21 So s¸nh gi¸ trÞ chÈn ®o¸n lao cña sinh thiÕt xuyªn thµnh phÕ
qu¶n so víi c¸c ph−¬ng ph¸p chÈn ®o¸n kh¸c 42
B¶ng 3.22 TriÖu chøng c¬ n¨ng 44
B¶ng 3.23 TriÖu chøng toµn th©n 45
B¶ng 3.24 TriÖu chøng thùc thÓ 46
B¶ng 3.25 Liªn quan gi÷a sè l−îng b¹ch cÇu víi kÕt qu¶ m« bÖnh häc 46
B¶ng 3.26 C¸c phiÒn phøc cña soi phÕ qu¶n vµ tai biÕn STXTPQ 47
B¶ng 3.27 Liªn quan gi÷a tai biÕn cña kü thuËt víi sè l−îng m¶nh sinh thiÕt 48
B¶ng 3.28 Liªn quan d¹ng tæn th−¬ng víi tai biÕn cña kü thuËt 48
B¶ng 3.29 Liªn quan gi÷a nhãm tuæi víi tai biÕn cña kü thuËt 49
B¶ng 4.1 C¸c nghiªn cøu vÒ tai biÕn cña kü thuËt STXTPQ 67
Trang 9Đặt vấn đề
Nội soi phế quản (NSPQ) là kỹ thuật để chẩn đoán một số bệnh lý ở phế quản phổi NSPQ giúp quan sát cấu trúc trong lòng phế quản và lấy bệnh phẩm làm xét nghiêm tế bào, mô bệnh học, vi sinh dịch phế quản giúp chẩn đoán xác định bệnh [6], [8] Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học có rất nhiều phương pháp được áp dụng để lấy bệnh phẩm qua NSPQ ống mềm (NSPQOM) cho giá trị chẩn đoán tối ưu
Nội soi phế quản ống mềm lần đầu tiên được giới thiệu ở Mỹ vào cuối thập kỷ 60 Kỹ thuật giúp các nhà phổi học có thể quan sát, đánh giá tình trạng trong lòng phế quản
Cho đến nay, có nhiều kỹ thuật lấy bệnh phẩm qua nội soi phế quản cho những tổn thương ngoại vi không thấy qua NSPQ như: phương pháp chọc hút xuyên thành khí phế quản, chải phế quản, sinh thiết xuyên thành phế quản (STXTPQ), rửa phế quản phế nang (RPQPN), giúp chẩn đoán,
đánh giá giai đoạn bệnh
Sinh thiết xuyên thành phế quản qua NSPQ được nhiều tác giả đề cập
đến STXTPQ qua NSPQ dễ thực hiện và có tỷ lệ biến chứng thấp, nhưng mẫu bệnh phẩm nhỏ nên giá trị chẩn đoán chưa cao Sinh thiết phổi mở cho mẫu bệnh phẩm lớn nhưng biến chứng cao STXTPQ ra đời giúp chẩn đoán
được một số tổn thương ngoại vi mà soi phế quản không nhìn thấy và không cho chẩn đoán xác định
Trên thế giới, lần đầu tiên STXTPQ qua NSPQOC được Anderson H.A và Fontana R.S [11] áp dụng năm 1965 đối với các tổn thương phổi lan tỏa cho hiệu quả chẩn đoán: 84% Tỷ lệ tai biến tràn khí màng phổi (TKMP): 14%, tràn khí trung thất và chảy máu nặng: 1%, không có trường hợp tử vong
Trang 10Năm 1974, Levin D.C và cộng sự công bố công trình nghiên cứu về STXTPQ qua NSPQOM cho thấy kỹ thuật này có thể áp dụng với bệnh phổi lan tỏa và các tổn thương khu trú cho kết quả tốt, ít tai biến [38] Kỹ thuật
có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với NSPQOC vì có thể sinh thiết được các tổn thương phổi ngoại vi, kể cả những tổn thương thùy trên của phổi Mặt khác, kìm sinh thiết nhỏ, dễ uốn và có thể luồn theo kênh ống soi một cách dễ dàng mà NSPQOC không thực hiện được
Năm 2006, Berbescu EA và cộng sự tiến hành STXTPQ trên 21 BN
được chẩn đoán xác định viêm phổi kẽ bằng sinh thiết phổi mở thấy rằng:
có thể phát hiện được các thay đổi mô bệnh học đặc trưng của viêm phổi kẽ qua STXTPQ nhiều hơn, hiệu quả hơn so với những quan sát trước đây Các báo cáo khác cũng nhấn mạnh tính hiệu quả của STXTPQ trong trường hợp khối u phổi ở ngoại vi, STXTPQ cho phép chẩn đoán xác định tới 60% đối với các tổn thương có kích thước > 2,5 cm [14], [58]
So với các kỹ thuật lấy bệnh phẩm khác, kỹ thuật STXTPQ trong chẩn đoán một số bệnh lý phổi có nhiều ưu điểm hơn hẳn các kỹ thuật lấy bệnh phẩm khác Kỹ thuật cho phép chẩn đoán nhiều bệnh lý nhu mô phổi
mà trước đây phải lấy bệnh phẩm qua sinh thiết phổi mở [39]
ở Việt Nam cho đến nay, kỹ thuật STXTPQ qua NSPQOM để chẩn
đoán các tổn thương phổi khu trú ở ngoại vi và tổn thương phổi lan tỏa là
kỹ thuật có giá trị chẩn đoán cao Tuy nhiên, kỹ thuật này mới được áp dụng ở một số trung tâm lớn về bệnh phổi và lồng ngực Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về hiệu quả cũng như tai biến của kỹ thuật này
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu:
1 Nhận xét giá trị chẩn đoán của phương pháp sinh thiết xuyên thành phế quản qua nội soi phế quản ống mềm trong chẩn đoán bệnh lý nhu mô phổi
2 Nhận xét về những tai biến của kỹ thuật
Trang 11Chương 1 Tổng quan tμi liệu
1.1 Cấu trúc của phổi
1.1.1 Cấu trúc phổi, các thùy và phân thùy phổi
Trọng lượng phổi chiếm 1/100 trọng lượng cơ thể, bình thường nặng
Phân thùy đỉnh của thùy dưới (phân thuỳ số 6) còn gọi là Fowler và phế quản tương ứng phân thùy này gọi là phế quản Nelson Phân thùy 4-5 của thùy trên trái là phân thùy lưỡi (lingular) Đây là vị trí thường gặp của viêm phổi và giãn phế quản [4], [34], [45]
1.1.2 Khí quản
Khí quản dài từ 10-12cm, rộng 18-20mm có khoảng 20 vòng sụn Chỗ khí quản phân chia ra hai phế quản gốc là vị trí tương ứng với đốt sống lưng thứ 5-6, tạo nên một gờ sắc cạnh gọi là carina Các phế quản gốc ở ngoài phổi và các phế quản thùy ở trong phổi
1.1.3 Các phế quản của phổi phải
Phế quản gốc phải ngắn hơn phế quản gốc trái và gần như thẳng đứng với khí quản, nên dị vật hay rơi vào bên phổi phải
Phế quản gốc phải chia ra 3 thùy:
- Thuỳ trên:
Trang 121.1.4 Các phế quản của phổi trái
Phế quản gốc trái dài hơn phế quản gốc phải, đi ngang chếch xuống và ra sau, có quai động mạch chủ vắt ngang
Phế quản gốc trái chia ra 2 phế quản thùy:
Trang 13H×nh d¹ng vμ cÊu tróc phæi, thuú vμ ph©n thuú phæi
H×nh 1: H×nh ¶nh phæi nh×n tõ c¸c phÝa: tr−íc, sau, ngoµi, trong
Trang 14Phæi ph¶i nh×n tõ mÆt ngoµi Phæi tr¸i nh×n tõ mÆt ngoµi
Trang 151.1.5 Cây phế quản
Từ khí quản phân chia 2 phế quản gốc, rồi phân chia tiếp tục cho tới khoảng 16 - 20 thế hệ Từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ 10 là tầng các phế quản có sụn, cấu tạo sụn th−a dần Từ thế hệ thứ 14 đến 16 phế quản không có sụn, thế hệ thứ 16 gọi là tiểu phế quản tận Sau tiểu phế quản tận còn chia ra 3 thế hệ nữa là các tiểu phế quản thở Cuối cùng là các ống phế nang và các túi phế nang Có khoảng 30.000 tiểu phế quản tận cùng và 300 triệu phế nang với
Hình 2: Đơn vị hô hấp
Trang 16đặc hiệu
Sinh bệnh học của phổi trong bệnh phổi lan tỏa là do phổi bị tổn thương gây ra viêm vách phế nang, viêm phế nang dai dẳng có thể dẫn đến xơ kẽ
không hồi phục
Trang 17Thuật ngữ “Viêm phổi kẽ thông thường” hoặc “Viêm phổi kẽ vô căn” dùng để chỉ các trường hợp viêm phổi kẽ không tìm thấy nguyên nhân, bệnh tiến triển chậm, có thể gây tử vong và không có phương pháp điều trị đặc hiệu [14]
Có nhiều nhóm thuốc có thể gây viêm phổi kẽ và không có sự khác biệt nào giữa các loại thuốc cũng như có mối liên quan giữa thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc đến khi có biểu hiện trên lâm sàng Amiodarone, hóa chất chống ung thư, điều trị liều cao Acetylcysteine (1800mg/ngày) là những thuốc thường gây viêm phổi kẽ [19]
Trong quá trình điều trị một số bệnh khác, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng phổi cấp tính nguyên phát không do nhiễm trùng, không rõ nguyên nhân, cần phải xem xét như là có mối liên quan với thuốc đã và đang được sử dụng cho đến khi chứng minh được là do các nguyên nhân khác
Viêm phổi kẽ có thể gặp trong nhiều bệnh lý Tất cả các bệnh khớp (trừ hội chứng Sjogren) đều có thể là nguyên nhân gây tổn thương cấp tính ở phổi [36], [44] Một số trường hợp tổn thương phổi cấp tính có thể là dấu hiệu bắt
đầu của các bệnh lý của khớp (ví dụ như viêm da cơ [20] Để tránh bỏ sót chẩn
đoán viêm phổi kẽ cần khai thác kỹ bệnh sử, đặc biệt là quá trình biểu hiện của các triệu chứng như ho, khó thở khi gắng sức, sốt, gầy sút cân, đau khớp
Các xét nghiệm bao gồm: Tốc độ lắng máu, kháng thể kháng nhân, kháng thể kháng DNA, đo chức năng thông khí, khí máu động mạch
Trên phim chụp HRCT lồng ngực điển hình thấy hình ảnh kính mờ và tổn thương kiểu đông đặc ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, hình ảnh này không cho phép phân biệt giữa phù phổi, tổn thương phổi cấp và chảy máu phế nang ở giai đoạn mạn tính, tổn thương chủ yếu là dạng nốt, lưới nốt, dạng tổ ong dưới màng phổi, tổn thương thường tập trung ở hai đáy phổi và
ở ngoại vi [1], [39], [48]
Soi phế quản, STXTPQ, RPQPN là những kỹ thuật chẩn đoán hàng
đầu trong hầu hết các trường hợp bệnh phổi kẽ Tuy nhiên, vai trò chủ yếu
Trang 18của kỹ thuật STXTPQ là để loại trừ các bệnh khác như: Sarcoidosis, ung thư
di căn theo đường bạch mạch, nhiễm khuẩn, ung thư hạch Kỹ thuật ít có giá trị trong chẩn đoán xác định viêm phổi kẽ [14]
Tổn thương mô bệnh học bao gồm sự xen kẽ giữa xơ tổ chức kẽ với các vùng phổi tương đối bình thường, các ổ nguyên bào sợi có dạng là những đám nhỏ tế bào hình thoi nằm trong chất đệm myxoid, collagen và
rỗ tổ ong
Do kích thước các mảnh bệnh phẩm nhỏ nên cần kết hợp giữa triệu chứng lâm sàng, các tổn thương trên phim chụp x-quang, phim chụp cắt lớp ngực độ phân giải cao (HRCT), các tổn thương mô bệnh học qua STXTPQ
1.2.2 Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan
Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan là hội chứng đặc trưng bởi thâm nhiễm ngoại vi phổi bởi bạch cầu ái toan Bệnh được phát hiện qua rửa phế nang hoặc STXTPQ Bệnh lần đầu tiên được Crofton và cộng sự mô tả năm
1952 và chia thành: viêm phổi tăng bạch cầu ái toan đơn giản, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan kéo dài >1 tháng, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan nhiệt đới và viêm phổi tăng bạch cầu ái toan trong hen phế quản [1], [40]
Năm 1994, Allen và Davies đã mô tả bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan với các biểu hiện: khó thở, thậm chí có thể rất nặng [10] Trong trường hợp cấp tính, khó thở xuất hiện đột ngột và thường nhầm với viêm phổi do nhiễm trùng nếu không được soi phế quản có RPQPN và STXTPQ [57]
Trang 19Có nhiều nguyên nhân gây viêm phổi tăng bạch cầu ái toan, nguyên nhân thường gặp bao gồm: viêm phổi tăng bạch cầu ái toan do thuốc, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan do kí sinh trùng, khoảng 1/3 số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân
Tổn thương trên phim X-quang phổi bao gồm: hội chứng đông đặc nhu mô phổi, tổn thương thường gặp ở thùy giữa và thùy dưới hai phổi Những tổn thương như hình ảnh giãn phế quản co kéo và méo mó thùy phổi
điển hình trên phim chụp X-quang phổi có 64% số BN chẩn đoán xác định viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn tính [40]
1.2.3 Ung thư phế quản phổi
Ung thư phế quản phổi hay ung thư phế quản nguyên phát là những tổn thương ác tính xuất phát từ phế quản, tiểu phế quản tận, phế nang và các tuyến phế quản Bệnh thường phát triển âm thầm và khi phát hiện được thì thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị ít hiệu quả
Bệnh thường gặp ở nam giới, có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào kéo dài Các biểu hiện thường gặp bao gồm: ho kéo dài, có thể ho máu, đau ngực, khó thở, gầy sút cân, hội chứng cận ung thư, hội chứng nhiễm trùng phổi cấp
Hình ảnh X-quang và/hoặc chụp cắt lớp vi tính lồng ngực thường gặp là: đám mờ, nốt mờ, hình xẹp phổi, một số trường hợp có tổn thương dạng lưới nốt lan tỏa do các tế bào ung thư xâm lấn vào mạng lưới bạch mạch ở nhu mô phổi, hình ảnh viêm bạch mạch do ung thư
Trang 20Nội soi phế quản và các phương pháp lấy bệnh phẩm khác nhau cho phép lấy được bệnh phẩm làm xét nghiệm mô bệnh học, tế bào học có tế bào ung thư là tiêu chuẩn vàng để xác định chẩn đoán STXTPQ qua NSPQ
là một trong số các kỹ thuật lấy bệnh phẩm hỗ trợ cho sinh thiết PQ chẩn
đoán [50], [58], [61],
Năm 2004, Szlubowski A và cộng sự thực hiện kỹ thuật STXTPQ trên
65 bệnh nhân có tổn thương ngoại biên trên phim chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có kích thước từ 2,5 đến 6 cm cho kết quả chẩn đoán ung thư đạt 60% [54]
1.2.4 Xơ phổi vô căn
Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng xơ hóa nhu mô phổi tiến triển Thường gặp ở tuổi trung niên và người già Bệnh không có nguyên nhân rõ ràng Các triệu chứng lâm sàng thường gặp bao gồm: Ho khan, khó thở khi gắng sức, nghe phổi có ran nổ nhỏ hạt Chụp X-quang phổi có tổn thương dạng thâm nhiễm khoảng kẽ và thường ở hai đáy phổi Trên phim chụp HRCT lồng ngực có biểu hiện tổn thương xơ kẽ dưới màng phổi, có hình rỗ
tổ ong và thường tập trung thùy dưới Chức năng thông khí có rối loạn thông khí hạn chế, giảm oxy máu khi gắng sức
Nội soi phế quản thường không thấy tổn thương
Chẩn đoán bệnh xơ phổi vô căn thường dựa trên biểu hiện lâm sàng, tổn thương trên phim chụp X-quang phổi, phim chụp HRCT lồng ngực, kết quả RPQPN và sinh thiết phổi [48] Cần lưu ý loại trừ các nguyên nhân khác trước khi có chẩn đoán xơ phổi vô căn
Xét nghiệm mô học do STXTPQ phát hiện có sự kết hợp của thâm nhiễm tế bào và xơ vách phế nang [1]
1.2.5 Chảy máu phế nang lan tỏa do nguyên nhân miễn dịch
Nguyên nhân của chảy máu phế nang trong các rối loạn miễn dịch
được xếp loại như bệnh kháng thể màng chống màng đáy (hội chứng Goodpasture), bệnh mạch tạo keo, viêm mạch (lupus ban đỏ hệ thống và
Trang 21các bệnh khác) và viêm cầu thận tiến triển nhanh tự phát Bệnh do các kháng thể màng chống lại màng đáy cầu thận phát hiện bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang
Triệu chứng lâm sàng thường gặp: ho ra máu, thiếu máu, khó thở và
đôi khi có sốt
Xquang phổi chuẩn và phim chụp CLVT lồng ngực: Tổn thương phổi dạng kính mờ hoặc dạng đông đặc
Xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán: kháng thể kháng nhân, kháng thể
tự miễn kháng bạch cầu trung tính trong bào tương, kháng thể kháng màng tiểu cầu
Soi phế quản thấy: dịch rửa phế quản có màu hồng hoặc đỏ
Chảy máu phế nang lan tỏa do nguồn gốc miễn dịch có thể được chẩn
đoán qua STXTPQ, cho thấy các thực bào ăn hemosiderin – laden trong phế nang, kèm theo sự có mặt của fibrin, viêm phổi tổ chức hóa, viêm mao mạch và viêm mạch hoại tử [1], [39]
Đôi khi lao phổi khó xác định được do dấu hiệu lâm sàng không điển hình, hình ảnh X-quang không đặc hiệu như: hội chứng thùy giữa, tổn thương kê, không tìm thấy vi khuẩn kháng cồn kháng toan trong đờm, phản ứng Mantoux âm tính Soi phế quản không có tổn thương trong lòng phế quản Trong trường hợp này STXTPQ cho hiệu quả chẩn đoán cao
[54] [61], [62]
Trang 221.2.7 Sarcoidosis
Bệnh sarcoidosis là một bệnh tổn thương nhiều cơ quan, nguyên nhân cho đến nay còn chưa rõ, đặc trưng bởi thâm nhiễm u hạt ở phổi Các u hạt này có đặc điểm không có hoại tử bã đậu và có thể có mặt ở một số cơ quan: hạch ngoại vi, hạch trung thất, mắt, da, gan
Triệu chứng lâm sàng: kinh điển thường người bệnh không có triệu chứng lâm sàng nhưng khi chụp X-quang phổi thường qui có hình ảnh bất thường (hạch cạnh khí quản, hạch rốn phổi cả hai bên có tính đối xứng) Dấu hiệu lâm sàng mà bệnh nhân thường gặp: khó thở khi gắng sức hoặc khi nghỉ ngơi, sốt, ho khan, đau ngực không điển hình
Xét nghiệm cận lâm sàng nghèo nàn: có thể thấy giảm bạch cầu, tăng bạch cầu ái toan, canxi máu và canxi niệu tăng, men gan tăng, tăng gammaglobuline Đo chức năng thông khí phổi thường có rối loạn thông khí hạn chế Hình ảnh X-quang phổi điển hình của bệnh là hạch rốn phổi hai bên đối xứng, có hoặc không thâm nhiễm nhu mô phổi kèm theo phụ thuộc vào giai đoạn bệnh Thâm nhiễm nhu mô phổi có thể ở khoảng kẽ, phế nang hoặc cả hai nhưng thường tổn thương phần trên của phổi
Hình ảnh nội soi phế quản có thể thấy các cựa khí phế quản phù nề giãn rộng, đôi khi có thể thấy thâm nhiễm sarcoid nội phế quản Tuy nhiên, hiếm gặp hoặc hình ảnh nội soi hoàn toàn bình thường nếu hạch to ít và tổn thương ở nhu mô phổi
Chẩn đoán xác định dựa vào mô bệnh học: có tế bào khổng lồ, tế bào bán liên nhưng không có hoại tử bã đậu
STXTPQ được lựa chọn đầu tiên khi có tổn thương nhu mô phổi Vùng sinh thiết được định vị dựa vào phim X quang và phim chụp cắt lớp vi tính phổi
Nghiên cứu của tác giả Leonard C và cộng sự năm 1997 cho thấy 58% bệnh nhân có chẩn đoán sarcoidosis giai đoạn I và II dựa trên các triệu
Trang 23chứng lâm sàng và X-quang phù hợp với kết quả mô bệnh học qua STXTPQ [37], [1], [39]
1.3 Các kỹ thuật lấy bệnh phẩm chẩn đoán qua nội soi phế quản
1.3.1 Rửa phế quản phế nang
Rửa phế quản phế nang là kỹ thuật thường được áp dụng trong soi phế quản Đây là phương pháp đơn giản, ít nguy hiểm, cho phép lấy được các tế bào bong ra trong lòng phế quản Kỹ thuật RPQPN được áp dụng từ khi phát minh ra ống soi mềm và được thực hiện lần đầu bởi Reynolds và Newball năm 1974 và trở thành kỹ thuật áp dụng thường xuyên trong NSPQOM tìm nấm, virus (Cytomegalovirus, Herpes simplex), Mycobacteria, vi khuẩn thông thường Xét nghiệm tế bào trong một số bệnh: sarcoidose, viêm bạch mạch do ung thư, bệnh phổi kẽ, lao [37], [39], [50], [52], [28]
1.3.2 Chải phế quản
Chải phế quản là thủ thuật lấy bệnh phẩm bề mặt niêm mạc để xét nghiệm tế bào học, vi khuẩn học ở bệnh nhân nghi tổn thương ác tính hay nhiễm khuẩn phế quản phổi [6], [32], [61]
Chải phế quản được áp dụng nhiều trong những tổn thương ung thư dưới dạng thâm nhiễm (nhất là ung thư tế bào nhỏ), hoặc phế quản bị hẹp
do chèn ép của khối u từ bên ngoài Arroliga và cộng sự nghiên cứu về dịch
tễ học ung thư, thống kê thấy tỷ lệ chẩn đoán do chải phế quản trong trường hợp soi phế quản có u trong lòng phế quản đạt 62 – 72%
Ngoài ra, chải phế quản còn được ứng dụng để tìm vi khuẩn, nấm và các tác nhân gây bệnh khác
Trang 24(49%) [3], [8], [52] cũng như góp phần chẩn đoán sarcoidosis trung thất và rốn phổi (82,76%) [50]
1.3.4 Sinh thiết xuyên thành phế quản
Trên thế giới đã có một số phương pháp mới như: STXTPQ qua NSPQ dưới hướng dẫn của màn huỳnh quang tăng sáng, qua siêu âm nội soi phế quản cho kết quả chính xác và an toàn hơn Tuy nhiên, các thiết bị này phức tạp và đắt tiền, vì vậy kỹ thuật STXTPQ qua NSPQOM không có hướng dẫn của màn huỳnh quang tăng sáng còn gọi là STXTPQ mù vẫn
được áp dụng rộng rãi [50]
1.3.4.1 Chỉ định
Sinh thiết xuyên thành phế quản qua nội soi phế quản được chỉ định cho tất cả những bệnh nhân có tổn thương nhu mô phổi lan tỏa và khu trú ở ngoại vi phổi chưa rõ nguyên nhân
Các xét nghiệm cần làm trước khi tiến hành nội soi phế quản
+ Hỏi thông tin về hành chính
+ Xét nghiệm máu: đông máu cơ bản, tiểu cầu
+ Xét nghiệm đờm: cấy đờm, tìm trực khuẩn kháng cồn, kháng toan trong đờm
+ Đo chức năng hô hấp
+ Chụp X quang hoặc nếu có điều kiện chụp HRCT ngực
+ Xét nghiệm dịch màng phổi (nếu có tràn dịch màng phổi)
Trang 25+ FEV1<1 lít vì thiếu ô xy máu nặng sẽ tiến triển xấu đi khi nội soi và sinh thiết
- Các chống chỉ định tương đối:
+ Suy thận tiến triển
+ Giảm ô xy máu nặng
+ Nhiều bóng khí gần vùng phổi định sinh thiết
Hình 4 STXTPQ qua nội soi phế quản [35]
1.4 Tai biến của kỹ thuật
Tai biến thường gặp sau STXTPQ là tràn khí màng phổi và chảy máu Theo McDougall tần xuất tràn khí màng phổi sau STXTPQ qua NSPQOM gặp dưới 1% và chảy máu với số lượng nhiều >50ml gặp 1%-4% [41]
Theo Deslee G, tần xuất TKMP sau STXTPQ qua NSPQOM gặp dưới 5
% và dưới 10% dưới NSPQOC [66]
Trang 26Chương 2
Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên 52 bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ 01/08/2007 đến 01/10/2008
+ Soi phế quản không thấy tổn thương trong lòng phế quản
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ ra khỏi nghiên cứu những bệnh nhân:
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu mô tả
2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu
Trang 27ư Xét nghiệm đờm: tìm trực khuẩn kháng cồn kháng toan
có thể xẩy ra khi thực hiện kỹ thuật
soi phế quản và tiến hành STXTPQ
2.3 Các phương tiện
2.3.1 Dụng cụ
ống soi Olympus ký hiệu OTV – F3 và các dụng cụ kèm theo :
ống soi dài 70cm cỡ ống soi 5,6 mm, kênh làm việc đường kính 2,2 mm Nguồn sáng Xenon và nguồn Halogen
Màn hình tivi SONY 16 inch
Kìm sinh thiết PRECISOR
Bơm tiêm 50ml
Lọ đựng dung dịch Bouin để đựng bệnh phẩm được sinh thiết
ảnh: ống soi Olympus Kìm sinh thiết PRECISOR
Trang 282.3.2 Thuèc vµ c¸c ph−¬ng tiÖn cÊp cøu
Thuèc cÊp cøu:
- BÖnh nh©n nhÞn ¨n 4 tiÕng tr−íc soi phÕ qu¶n
- Tiªm b¾p Atropin 0.25mg tr−íc soi phÕ qu¶n 15 – 30 phót
2.4.2 Soi phÕ qu¶n
- BÖnh nh©n ®−îc n»m trªn bµn néi soi phÕ qu¶n ThÇy thuèc tiÕn hµnh g©y tª ®−êng mòi, nÒn l−ìi, sôn n¾p thanh qu¶n, d−íi thanh qu¶n b»ng xylocain 2,5%
- §−a èng soi nhÑ nhµng qua ®−êng miÖng hoÆc qua ®−êng mòi, h−íng èng soi ®i th¼ng gãc víi bµn soi, luån èng soi xuèng häng èng soi h−íng tíi mòi øc, lÇn l−ît quan s¸t d©y thanh TiÕp tôc ®−a èng soi xuèng
Trang 29phía dưới, lách qua khe giữa hai dây thanh, quan sát khí quản, vùng ngã ba khí phế quản, phế quản gốc hai bên, cựa khí phế quản và các phế quản thùy đỉnh và thùy đáy
- Với những bệnh nhân không hợp tác hoặc không chịu đựng được gây tê tại chỗ sẽ tiến hành nội soi phế quản dưới gây mê toàn thân
ảnh: Soi phế quản tại khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai
2.4.3 Mô tả kỹ thuật STXTPQ
Sinh thiết xuyên thành phế quản là kỹ thuật lấy bệnh phẩm ở nhu mô phổi làm xét nghiệm giải phẫu bệnh mà không phải phẫu thuật mở Sinh thiết xuyên thành phế quản được tiến hành sau cùng do đây là thủ thuật ít gây ho nhất, do vậy giảm được nguy cơ tràn khí màng phổi Trong quá trình thực hiện, bệnh nhân được theo dõi mạch, huyết áp, SpO2 trên mornitor
Lựa chọn vị trí sinh thiết :
- Trường hợp không có tổn thương phổi khu trú, thùy dưới phải và thùy giữa là những vị trí thường được chọn để sinh thiết nhất
Trang 30- Sinh thiết xuyên thành phế quản luôn được thực hiện ở một bên phổi để tránh nguy cơ tai biến tràn khí màng phổi hai bên và tránh những vùng tổn thương có bóng khí hay giãn phế nang nhiều ở xung quanh
STXTPQ được thực hiện theo các bước dưới đây :
- Tiến hành quan sát toàn bộ cây khí phế quản như nội soi phế quản thông thường
- ống nội soi phế quản được đưa tới nhánh phế quản phân thùy vùng
định sinh thiết
- Tiến hành gây tê nhắc lại và ống soi được cố định tại đây Kìm sinh thiết được đẩy ra xa cho đến khi thấy cảm giác vướng hoặc cảm giác
bị đẩy, rút kìm ra 2 cm, mở kìm, đẩy kìm đến khi vướng, kẹp kìm lại
- Hỏi bệnh nhân có đau không Nếu bệnh nhân đau thì rút kìm trở lại và đưa tới phế quản dưới phân thùy khác và lặp lại thao tác tương tự Nếu không đau, kẹp chặt kìm và thực hiện sinh thiết vào cuối thì thở ra
- Sau khi cắt bệnh phẩm, ống soi vẫn được giữ cố định tại nhánh phế quản dưới phân thùy vừa được sinh thiết, hút máu trong lòng phế quản và giữ cho đến khi máu ngừng chảy để ngăn máu chảy tràn sang các nhánh phân thùy khác [66]
- Tùy theo mức độ chảy máu, chảy máu mức độ nhiều (>50ml), bơm 2ml Adrenaline pha loãng 10%, đồng thời tiêm dưới da 01 ống Morphin 10mg
- Mảnh bệnh phẩm lấy được sẽ đưa ngay vào bơm tiêm 50ml có chứa dung dịch natriclorua 0,9%, đầu ngón tay bịt đầu bơm tiêm rồi rút mạnh piston của bơm tiêm ra tạo áp lực âm để mảnh nhu mô phổi vừa sinh thiết nở trở lại
- Cuối cùng gắp mảnh bệnh phẩm cho sang lọ cố định bệnh phẩm bằng dung dịch Formol hoặc Bouin Quy trình sinh thiết được lặp lại nhiều lần để có thể thu được các mảnh bệnh phẩm gửi khoa Giải phẫu bệnh
Trang 312.5 Theo dõi sau thủ thuật
Sau thủ thuật, bệnh nhân được theo dõi:
- Các triệu chứng lâm sàng: khó thở, ho máu, khám phổi phát hiện TKMP
- Chụp phim phổi thẳng sau sinh thiết 2 - 5 tiếng kiểm tra để phát hiện biến chứng tràn khí màng phổi và chảy máu phế nang
- Theo dõi tình trạng chảy máu trên lâm sàng trong vòng 24 giờ sau khi soi phế quản, sinh thiết
2.6 Địa điểm thực hiện các xét nghiệm thăm dò
- Các xét nghiệm huyết học, sinh hoá thực hiện tại khoa Huyết học
và khoa Sinh hóa Bệnh viện Bạch Mai
- Phim chụp X-quang phổi chuẩn và cắt lớp vi tính lồng ngực được thực hiện tại khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai
- Kỹ thuật sinh thiết xuyên thành phế quản do học viên cùng các Bác sỹ của khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Quý Châu, TS Hoàng Hồng Thái và TS Chu Thị Hạnh
- Xét nghiệm tế bào học, mô bệnh học được thực hiện tại Trung tâm Giải phẫu bệnh Bệnh viện Bạch Mai
2.7 Phân tích vμ xử lý số liệu:
- Tất cả các thông tin được thu thập theo một mẫu bệnh án thống nhất
- Số liệu thu được được xử lý bằng chương trình SPSS 15.0:
- Thiết kế file nhập dữ liệu
- Tính tần xuất, giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn
- Kiểm định X2, tính giá trị p
2.8 Khía cạnh đạo đức của đề tμi:
- Bệnh nhân chỉ được thực hiện thủ thuật khi có sự đồng ý của bệnh nhân và sau khi có biên bản hội chẩn của khoa
- Chuẩn bị đầy đủ phương tiện, thuốc cho cấp cứu khi có tình huống tai biến xảy ra
- Toàn bộ số liệu thu được phục vụ mục tiêu chẩn đoán bệnh và cho nghiên cứu
Trang 32Chương 3 kết quả nghiên cứu
3.1 Đặc điểm chung, triệu chứng lâm sμng, cận lâm sμng
của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
3.1.1 Tuổi và giới
Bảng 3.1 Phân bố tuổi và giới của các đối tượng nghiên cứu (n =52)
Nam Nữ Giới
Trang 35NhËn xÐt: C¸c triÖu chøng khiÕn bÖnh nh©n vµo viÖn th−êng gÆp lµ
- Khã thë: 20/52 BN (38,46%), sù kh¸c biÖt cã ý nghÜa thèng kª víi
c¸c gi¸ trÞ p tÝnh ®−îc ≤ 0,05
- §au ngùc: 18/52 BN (34,6%)
- Sèt: 18/52 BN (34,6%)
- Ho khan: 16/52 BN (30,8%)
Trang 36- Các triệu chứng còn lại ít gặp hơn và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với các giá trị p tính đ−ợc ≥ 0,05
- Phần lớn bệnh nhân vào viện có từ 2 hoặc 3 triệu chứng kết hợp
- Các triệu chứng ho khan, ho khạc đờm, ho máu gặp với tỷ lệ thấp hơn
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với các giá trị p tính đ−ợc ≥ 0,05
Trang 38ư Ran nổ ở nhóm tổn thương lan toả gặp nhiều hơn nhóm tổn thương khu trú, với p < 0,05
3.1.5 Tiền sử bệnh tật và các yếu tố nguy cơ
Bảng 3.6 Tiền sử bệnh tật và các yếu tố nguy cơ (n =52)
Tiền sử bệnh tật – các yếu tố nguy cơ n %
- Hút thuốc lá gặp ở 50% các đối tượng nghiên cứu
- 4 BN đã được chẩn đoán bệnh hệ thống và đã được điểu trị corticoid kéo dài 2 bệnh nhân dùng thuốc hạ huyết áp, các thuốc này không có nguy cơ gây bệnh lý phổi
- Một số bệnh lý có nguy cơ làm tăng tỷ lệ tai biến khi tiến hành STXTPQ như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản
Trang 393.1.6 XÐt nghiÖm tÕ bµo m¸u
B¶ng 3.7 KÕt qu¶ xÐt nghiÖm tÕ bµo m¸u (n=52) B¹ch
cÇu (G/l)
BC ®a nh©n TT(%)
BC ¸i toan (%)
BC lympho (%)
Hång cÇu (T/l)
TiÓu cÇu (G/l)
M¸u l¾ng giê 1(giê)
M¸u l¾ng giê 2(giê)
- 69,05% (29/42) bÖnh nh©n cã m¸u l¾ng > 20mm sau giê thø nhÊt vµ
90,48% (38/42) (bÖnh nh©n cã m¸u l¾ng > 20mm sau giê thø hai
- Cã 10 BN kh«ng lµm xÐt nghiÖm m¸u l¾ng