1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai

73 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây ra. Nó đã xuất hiện từ rất lâu và cũng từng là một vấn nạn y học trong lịch sử. Vào khoảng thập niên 70-80 của thế kỷ trước, nhờ sự ra đời của một số thuốc chống lao rất có hiệu lực, bệnh lao tưởng như có thể tiêu diệt được và nó dần bị quên lãng. Tuy nhiên, tháng 4/1993 Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) báo động sự quay trở lại của bệnh lao và tuyên bố: “Bệnh lao là vấn đề khẩn cấp toàn cầu” [1],[18]. Hiện nay, trên thế giới, có khoảng 2,2 tỉ người mắc lao sơ nhiễm tức 1/3 dân số toàn cầu, với 9 triệu ca mới mỗi năm. Lao cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các bệnh truyền nhiễm (có 3 triệu người chết mỗi năm vì HIV/AIDS, 2 tri ệu người chết vì lao và 1 triệu người chết vì sốt rét). Bệnh lao đang di ễn biến ngày càng nghiêm trọng và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Nước ta có tỉ lệ lao lưu hành cao trên toàn thế giới, đứng thứ 12/23 nước, xếp thứ 3 khu vực Châu Á Thái Bình Dương (sau Trung Quốc và Phillipines) với số mắc lao mới ước tính 198/100.000 dân và tổng số lao mới và cũ 289/100.000 dân (1998) [9]. Năm 1944, thuốc kháng sinh Streptomycin ra đời, tiếp sau đó vào những năm 50 và 60, hàng loạt thuốc chống lao khác được phát minh và đưa vào sử dụng đã cải thiện hẳn tình hình bệnh lao. Việc áp dụng điều trị lao bằng công thức đa hoá trị liệu ngắn ngày (HTLNN) làm cho hiệu quả chữa lao được nâng cao rõ rệt và nhân loại những tưởng đã thanh toán được bệnh lao. Sự sao lãng trong các chương trình ki ểm soát lao, sự bùng phát của đại dịch HIV/AIDS và việc di dân đã khi ến lao trỗi dậy. Năm 1995, Việt Nam đã thành lập Chương trình chống lao quốc gia (CTCLQG) với mục tiêu cơ bản là phát hiện bệnh lao bằng phương pháp nhuộm soi đờm trực tiếp và điều trị khỏi những bệnh nhân có vi khuẩn lao trong đờm. Công tác chống lao đã và sẽ ngày càng là yêu cầu cấp bách, nó đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức cũng như toàn thể cộng đồng. Tại Trung tâm Hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ lao hô hấp lên tới 16,1%; nên đây là một môi trường có nguy cơ lây nhiễm lao cao. Trong đó, người nhà bệnh nhân là những người thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân, đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác phát hiện bệnh; giám sát, theo dõi quá trình điều trị cũng như phòng bệnh [2],[3]. Việc đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân là điều hết sức cần thiết, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: “Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại Trung tâm Hô hấp- Bệnh viện Bạch Mai.”

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây ra Nó đã xuất hiện từ rất lâu và cũng từng là một vấn nạn

y học trong lịch sử Vào khoảng thập niên 70-80 của thế kỷ trước, nhờ sự

ra đời của một số thuốc chống lao rất có hiệu lực, bệnh lao tưởng như có thể tiêu diệt được và nó dần bị quên lãng Tuy nhiên, tháng 4/1993 Tổ chức

Y tế thế giới (TCYTTG) báo động sự quay trở lại của bệnh lao và tuyên bố:

“Bệnh lao là vấn đề khẩn cấp toàn cầu” [1],[18]

Hiện nay, trên thế giới, có khoảng 2,2 tỉ người mắc lao sơ nhiễm tức 1/3 dân số toàn cầu, với 9 triệu ca mới mỗi năm Lao cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các bệnh truyền nhiễm (có 3 triệu người chết mỗi năm vì HIV/AIDS, 2 triệu người chết vì lao và 1 triệu người chết

vì sốt rét) Bệnh lao đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng và Việt Nam cũng không ngoại lệ Nước ta có tỉ lệ lao lưu hành cao trên toàn thế giới, đứng thứ 12/23 nước, xếp thứ 3 khu vực Châu Á Thái Bình Dương (sau Trung Quốc và Phillipines) với số mắc lao mới ước tính 198/100.000 dân

và tổng số lao mới và cũ 289/100.000 dân (1998) [9]

Năm 1944, thuốc kháng sinh Streptomycin ra đời, tiếp sau đó vào những năm 50 và 60, hàng loạt thuốc chống lao khác được phát minh và đưa vào sử dụng đã cải thiện hẳn tình hình bệnh lao Việc áp dụng điều trị lao bằng công thức đa hoá trị liệu ngắn ngày (HTLNN) làm cho hiệu quả chữa lao được nâng cao rõ rệt và nhân loại những tưởng đã thanh toán được bệnh lao

Sự sao lãng trong các chương trình kiểm soát lao, sự bùng phát của đại dịch HIV/AIDS và việc di dân đã khiến lao trỗi dậy Năm 1995, Việt Nam

đã thành lập Chương trình chống lao quốc gia (CTCLQG) với mục tiêu cơ

Trang 2

bản là phát hiện bệnh lao bằng phương pháp nhuộm soi đờm trực tiếp và điều trị khỏi những bệnh nhân có vi khuẩn lao trong đờm Công tác chống lao đã và sẽ ngày càng là yêu cầu cấp bách, nó đòi hỏi phải có sự tham gia

tích cực của mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức cũng như toàn thể cộng đồng

Tại Trung tâm Hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ lao hô hấp lên tới 16,1%; nên đây là một môi trường có nguy cơ lây nhiễm lao cao Trong đó, người nhà bệnh nhân là những người thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân, đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác phát hiện bệnh; giám sát, theo dõi quá trình điều trị cũng như phòng bệnh [2],[3] Việc đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân là điều hết sức cần thiết, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:

Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại Trung tâm Hô hấp- Bệnh viện Bạch Mai.”

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình bệnh lao hiện nay

1.1.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới

Lịch sử của bệnh lao tương đương với lịch sử loài người Hàng trăm thế kỷ trôi qua, nó vẫn lây lan và giết hơn 2 triệu người trên toàn thế giới mỗi năm Tỉ lệ tử vong do lao nhiều hơn cả AIDS (Accquired Immuno Deficency Syndrome), bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới cộng lại Bệnh có thể gặp ở mọi châu lục, mọi quốc gia trên thế giới [5] Trước năm 1944, khi chưa có các thuốc chống lao đặc hiệu ra đời bệnh lao được coi là một trong

“ Tứ chứng nan y” và là nỗi khiếp đảm của loài người

Năm 1944, thuốc kháng sinh Streptomycin ra đời, tiếp sau đó vào những năm 50 và 60, hàng loạt thuốc chống lao khác được phát minh và đưa vào sử dụng đã cải thiện hẳn tình hình bệnh lao Việc áp dụng điều trị lao bằng công thức đa HTLNN làm cho hiệu quả bệnh lao được nâng cao

rõ rệt và nhân loại những tưởng đã thanh toán được bệnh lao [10],[18] Đến năm 1990, hội nghị toàn cầu về bệnh lao lần thứ 23 tại Boston Hoa Kỳ đã cảnh báo rằng tình hình bệnh lao không những không thuyên giảm mà còn có xu hướng gia tăng ở nhiều nước Năm 1993, WHO (World Health Organization) đã báo động tới chính phủ các quốc gia trên toàn cầu

về nguy cơ quay trở lại của bệnh lao và sự gia tăng của bệnh [1],[7],[19] Theo báo cáo của TCYTTG (2008) [9], đã ước tính tình hình dịch tễ bệnh lao như sau:

+ 1/3 dân số thế giới đã nhiễm lao

+ 9,2 triệu người bệnh lao mới xuất hiện trong năm tương đương tỷ lệ 139/100.000 dân

Trang 4

+ 14,4 triệu người bệnh lao cũ và mới lưu hành

+ 4,1 triệu người bệnh lao phổi AFB (+), (tương đương 62/100.000) bao gồm 0,7 triệu trường hợp HIV (+)

+ 1,7 triệu người chết do lao

+ 98% số người chết ở các nước đang phát triển

Hình 1.1 Các quốc gia có tỷ lệ mắc lao cao

Vậy cái gì khiến cho bệnh lao không những không bị tiêu diệt mà còn bùng phát trở lại? Có nhiều nguyên nhân, song những nguyên nhân chính trong 2 thập kỷ cuối của thế kỷ XX, đó là:

(1) Sự xuất hiện của đại dịch HIV/AIDS

(2) Tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo trong các cộng đồng dân cư

Trang 5

(3) Sự lãng quên mang tính chủ quan của loài người tưởng rằng có thể khống chế được bệnh lao khi có các thuốc chống lao mới

(4) Tình trạng di dân tự do giữa các vùng miền trong nhiều lãnh thổ (5) Sự xuống cấp của hệ thống y tế do chiến tranh, khủng hoảng kinh

tế, thiên tai… đã khiến cho bệnh lao gia tăng

1.1.2 Tình hình bệnh lao ở Việt Nam

Tại Việt Nam, dịch lao là một vấn đề y tế công cộng quan trọng Năm

2006, dự án phòng, chống bệnh lao Quốc gia phối hợp với TCYTTG ước tính chỉ số dịch tễ bệnh lao như sau:

- Dân số: 86,2 triệu dân

- Tỷ lệ người bệnh lao mới các thể: 173/100.000 dân

- Tỷ lệ bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới: 77/100.000 dân

- Tỷ lệ hiện mắc các thể: 225/100.000 dân

- Tỷ lệ tử vong do lao: 23/1000.000 dân

- Tỷ lệ kháng đa thuốc ở bệnh nhân lao mới: 2,7%

- Tỷ lệ kháng đa thuốc ở người bệnh lao đã điều trị: 19%

Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 12 trong 22 quốc gia có tỷ lệ bệnh lao cao trên thế giới Trong khu vực Tây - Thái Bình Dương, Việt Nam là nước đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philippines về số lượng bệnh nhân đang lưu hành và số bệnh nhân mới xuất hiện hàng năm Nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở nước ta hiện nay là 1,7%; trong đó ở phía Bắc 1,2%; phía Nam 2,2%; khoảng 44% dân số đã bị nhiễm lao Bệnh lao ở nước ta xếp vào mức trung bình cao so với toàn cầu [9],[19]

Trang 6

1.2 Một số nét về vi khuẩn lao và bệnh lao phổi [1],[18],[22]

1.2.1 Vi khuẩn lao

Vi khuẩn lao được Robert Koch người Đức tìm ra 1882, cho nên nó được mang tên ông Bacille de Koch (BK)

- Đặc điểm sinh học của vi khuẩn lao:

+ Vi khuẩn lao thuộc họ Mycobacteriae, thân mảnh 2 đầu nhọn, dài 3 - 5µm, không có lông, nha bào và vỏ

+ Trực khuẩn lao được xác định dưới kính hiển vi bằng đặc tính nhuộm của nó: nó vẫn giữ màu nhuộm sau khi bị xử lý với dung dịch acid, vì vậy nó được

phân loại là "trực khuẩn kháng acid" (acid-fast bacillus, viết tắt là AFB) Với kỹ

thuật nhuộm thông thường nhất là nhuộm Ziehl-Neelsen

+ Vi khuẩn lao là loại vi khuẩn hiếu khí, trong môi trường phát triển cần có đủ oxy Do đó vi khuẩn thường khu trú ở phổi và số lượng vi khuẩn nhiều nhất là ở trong các hang lao có phế quản thông

+ Trong điều kiện bình thường vi khuẩn lao sinh sản chậm (trung bình 20-24giờ/1lần) nhưng có khi hàng tháng, thậm chí “nằm vùng” ở tổn thương rất lâu mà không bị chết (vi khuẩn tồn tại dai dẳng) khi gặp điều kiện thuận lợi chúng lại phát triển

+ Khả năng gây bệnh phụ thuộc vào số lượng BK Độc tính của BK là

ở khả năng sinh sản, nhân lên trong tổ chức tế bào (đại thực bào) + BK có sức đề kháng cao với các thuốc khử trùng thông thường: cồn

90o giết BK trong vòng 3-5 phút, nhiệt độ 42oC chúng ngừng phát triển, nhiệt độ 100oC chết trong vòng 1phút, ngoài ánh sáng 10 ngày sau mới mất độc tính, trong sách vở sống được 3 tháng, tia cực tím giết BK trong 2-3 phút, axitphenic 5% diệt được BK sau 1 phút, nhưng chất sát trùng tốt nhất

là CloraminB 3%-5%

Trang 7

+ Vi khuẩn kháng với nhiều loại thuốc chống lao và ngày càng tăng lên vì vậy phải tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị và sử dụng phối hợp các loại thuốc chống lao

1.2.2 Một số nét về bệnh lao phổi

Lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất trong bệnh học lao, chiếm khoảng 80% tổng số bệnh nhân lao Lao phổi là nguồn lây vi khuẩn cho những người lành nhiều nhất, đặc biệt là những người bệnh xét nghiệm đờm soi kính trực tiếp có vi khuẩn AFB (+) Đây là nguồn lây chủ yếu làm cho bệnh lao tồn tại ở mọi quốc gia qua nhiều thế kỷ Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập tới bệnh lao phổi (khi nói tới bệnh lao trong nghiên cứu này chỉ bao hàm khái niệm lao phổi)

1.2.2.1 Nguồn bệnh

Nguồn truyền nhiễm của bệnh lao là người bệnh, chủ yếu người lớn và trẻ em trên 15 tuổi Trẻ em nhỏ chỉ có dưới 5% mang vi khuẩn lao ở đờm vì khi bị lao, trẻ em thường nuốt đờm cho nên không là nguồn truyền nhiễm

1.2.2.2 Đường lây bệnh

Đường hô hấp: là chủ yếu Khi người bị bệnh lao phổi, trong thời kỳ lây nhiễm có khoảng 5000 vi khuẩn/lml đờm Khi ho hắt hơi ra những hạt đờm có kích thước khác nhau Những hạt lớn bốc hơi, còn những hạt nhỏ lơ lửng trong không khí xung quanh người đó khoảng 2 mét Nếu người bình thường hít phải hạt đờm có vi khuẩn sẽ bị lây

Trang 8

Hỡnh 1.2 Bệnh lao lõy chủ yếu theo đường hụ hấp 1.2.2.3 Cơ chế bệnh sinh

Bệnh lao diễn biến qua hai giai đoạn: Nhiễm lao và bệnh lao

xâm nhập vào cơ thể gây tổn th− ơng đặc hiệu (th− ờng là ở phổi) Đa số tr− ờng hợp không có biểu hiện lâm sàng, cơ thể hình thành dị ứng và miễn dịch chống lao Khi ch− a có đại dịch HIV/AIDS thì chỉ có khoảng 5-10% ng− ời bị nhiễm lao chuyển thành bệnh lao Nếu nhiễm lao đồng thời với có

HIV thì ít nhất 30% nhiễm lao chuyển thành bệnh lao

giai đoạn hai của bệnh lao, chỉ xảy ra khi cú sự mất cõn bằng giữa khả năng gõy bệnh của trực khuẩn lao và sức đề khỏng của cơ thể (80%-90% người nhiễm lao khụng chuyển sang lao bệnh) Khi số lượng và độc tớnh của vi khuẩn lao vượt quỏ sức đề khỏng của cơ thể, sẽ gõy ra những tổn thương

hủy hoại cỏc cơ quan mà vi khuẩn lao hiện diện

Trang 9

1.3 Chẩn đoán bệnh lao phổi

1.3.1 Xác định người nghi lao phổi

a) Triệu chứng lâm sàng tuy chỉ cho hướng chẩn đoán, nhưng rất cần thiết, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở Người nghi lao phổi có thể được xác định qua các triệu chứng thường gặp như:

- Ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) là triệu chứng nghi lao quan trọng nhất

Có thể kèm theo:

- Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi

- Sốt nhẹ về chiều

- Ra mồ hôi “trộm” ban đêm

- Đau ngực, đôi khi khó thở

b) Nhóm nguy cơ cao cần chú ý:

- Người nhiễm HIV/AIDS

- Người tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, đặc biệt trẻ em

- Người mắc các bệnh mạn tính: loét dạ dày-tá tràng, đái tháo đường

- Người nghiện ma tuý, rượu, thuốc lá, thuốc lào

- Người sử dụng các thuốc giảm miễn dịch kéo dài như Corticoid, hoá chất điều trị ung thư…

1.3.2 Chẩn đoán lao phổi

a) Lâm sàng

- Toàn thân: Sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi đêm, chán ăn, mệt mỏi, gầy sút cân

- Cơ năng: Ho, khạc đờm, ho ra máu, đau ngực, khó thở

- Thực thể: Nghe phổi có tiếng bệnh lý (ran ẩm, ran nổ…)

Trang 10

b) Cận lâm sàng

- Soi đờm trực tiếp tìm AFB: Tất cả những người có triệu chứng nghi lao phải được xét nghiệm 3 mẫu đờm: 1 mẫu tại chỗ khi đến khám, 1 mẫu buổi sáng sớm sau ngủ dậy và mẫu thứ 3 lấy tại chỗ khi đem mẫu đờm buổi sáng đến phòng xét nghiệm

- Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao: Nuôi cấy trong môi trường đặc cho kết quả sau 6-8 tuần Nuôi cấy trong môi trường lỏng (MGIT, BACTEC) cho kết quả khoảng 10 ngày

- Xquang phổi chuẩn: Hình ảnh trên phim Xquang gợi ý lao phổi tiến triển là thâm nhiễm, nốt, xơ hang, có thể co kéo ở 1/2 trên của phế trường, có thể 1 bên hoặc 2 bên Ở người có HIV, hình ảnh Xquang phổi ít thấy hình hang, tổn thương khoảng kẽ nhiều hơn và có thể ở vùng thấp của phổi

- Phản ứng Tuberculin (Mantoux): Phản ứng Mantoux chỉ có ý nghĩa

hỗ trợ trong chẩn đoán, nhất là chẩn đoán lao ở trẻ em khi phản ứng dương tính mạnh (≥ 15 mm đường kính cục phản ứng với Tuberculin PPD) c) Chẩn đoán xác định

- Lao phổi AFB (+)

Thoả mãn 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:

+ Tối thiểu có 2 tiêu bản AFB (+) từ 2 mẫu đờm khác nhau

+ Một tiêu bản đờm AFB (+) và có hình ảnh lao tiến triển trên phim Xquang phổi

+ Một tiêu bản đờm AFB (+) và nuôi cấy dương tính

Riêng đối với người bệnh HIV (+) chỉ cần có ít nhất 1 tiêu bản xét nghiệm đờm AFB (+) được coi là lao phổi AFB (+)

Trang 11

- Lao phổi AFB (-)

Thoả mãn 1 trong 2 tiêu chuẩn sau:

+ Kết quả xét nghiệm đờm AFB âm tính qua 2 lần khám mỗi lần xét nghiệm 3 mẫu đờm cách nhau khoảng 2 tuần và có tổn thương nghi lao tiến triển trên phim Xquang phổi và được hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa lao + Kết quả xét nghiệm đờm AFB âm tính nhưng nuôi cấy dương tính Riêng đối với người bệnh HIV (+) chỉ cần ≥ 2 tiêu bản đờm AFB (-), điều trị kháng sinh phổ rộng không thuyên giảm, có hình ảnh Xquang phổi nghi lao và bác sĩ chuyên khoa quyết định là lao phổi AFB (-)

1.4 Điều trị và phòng bệnh

1.4.1 Điều trị

1.4.1.1 Phác đồ điều trị

Hiện nay ở nước ta có 3 phác đồ được sử dụng để điều trị lao phổi [5],[17]

- Phác đồ điều trị bệnh nhân lao mới:

+ Chỉ định: tất cả các trường hợp bệnh nhân lao mới được phát hiện và điều trị lần đầu

+ Công thức: 2SRHZ/6HE

Trong 2 tháng đầu, bệnh nhân được dùng thuốc hàng ngày với 4 loại thuốc lao là streptomycin, isoniazid, rifampicin, pyrazinamid Đến 6 tháng tiếp theo, bệnh nhân được dùng 2 loại thuốc isoniazid và ethambutol hàng ngày

- Phác đồ điều trị lao phổi thất bại và thất bại:

+ Chỉ định: dùng cho các trường hợp thất bại hay tái phát của công thức điều trị bệnh nhân lao mới

+ Công thức: 2SRHZE/1RHZE/5 R3H3 E3

Bệnh nhân được sử dụng 5 loại thuốc lao S, R, H, Z, E hàng ngày trong 2 tháng đầu Tháng thứ 3, dùng 4 loại thuốc lao R, H, Z, E hàng ngày Đến 5 tháng tiếp theo, bệnh nhân được dùng thuốc 3 lần trong 1 tuần

với 3 loại thuốc lao R, H, E Tổng thời gian điều trị là 8 tháng

- Phác đồ điều trị lao trẻ em:

Trang 12

+ Chỉ định: tất cả cỏc trường hợp lao trẻ em

+ Cụng thức: 2RHZ/4RH

Dựng 3 loại thuốc lao R, H, Z hàng ngày trong 2 thỏng đầu; 4 thỏng tiếp theo, dựng 2 loại thuốc lao R, H hàng ngày Đối với những thể lao nặng như: lao kờ, lao xương khớp, lao màng nóo, cú thể bổ sung streptomycin trong

- Giải quyết nguồn lây

Bệnh lao tồn tại là do sự lây truyền từ ng− ời bệnh sang ng− ời lành Vỡ vậy phỏt hiện sớm và điều trị khỏi cho những bệnh nhõn này là biện phỏp phũng bệnh hiệu quả nhất và là nhiệm vụ quan trọng của CTCLQG ở nước ta, cũng như nhiều nước trờn thế giới [19]

- Tiêm phòng lao bằng BCG vaccin

Tiêm vaccin BCG là một ph− ơng pháp gây miễn dịch chủ động cho cơ thể, đặc biệt với vi khuẩn lao, có tác dụng phòng bệnh lao Đây là một trong những điểm cơ bản quan trọng trong CTCLQG

Trang 13

- Dù phßng ho¸ häc

Trên thế giới, chương trình chống lao (CTCL) của một số nước có dịch lao thấp có chủ trương dùng hóa chất trị lao để phòng lao cho những người bị nhiễm lao có nguy cơ cao trở thành bệnh lao như: có sống chung với nguồn lây lao trong gia đình hay những người nhiễm HIV Liều hóa phòng lao là 5mg INH/kg thể trạng, uống hàng ngày (tối đa 300mg INH mỗi ngày) ít nhất là 6 tháng uống thuốc phòng lao

Ở nước ta, CTCL chưa có chủ trương dùng hóa phòng lao Hiện nay, phát hiện và điều trị tích cực những bệnh nhân lao phổi; tiêm phòng BCG

là hai biện pháp phòng lao hiệu quả nhất cho gia đình và xã hội [5],[8]

- Các bước phòng lao cụ thể cho bệnh nhân và mọi người xung quanh

+ Với người bệnh: không được khạc nhổ bừa bãi xuống đất, che miệng khi ho và hắt hơi, khi bệnh đang phát triển cần được ngủ riêng giường, dùng bát đũa, cốc chén riêng và phải luộc sôi sau khi dùng; áo quần, chăn màn hàng tuần phải được luộc sôi sau khi giặt; đeo khẩu trang; người bệnh phải khạc nhổ đờm vào ống nhổ riêng, sau đó đem ngâm trong nước vôi, nước crezin 4% hoặc nước clorua vôi 2% rồi mới đổ vào cầu tiêu hoặc chôn xuống đất

+ Dinh dưỡng cân bằng với chế độ ăn bao gồm thịt, cá, trứng, đậu đỗ, bánh mỳ nâu, rau xanh và hoa quả…

+ Những người nghiện rượu cần giảm rượu bởi vì nó sẽ làm giảm tác dụng của thuốc, ảnh hưởng tới việc điều trị

+ Hút thuốc gây nguy hại cho phổi và có thể gây ra bệnh tim, ung thư phổi + Thường xuyên tắm nắng, hít thở không khí trong lành, luyện tập và sống trong môi trường sạch sẽ, thường xuyên mở cửa sổ khi ở nhà hay nơi làm việc

Trang 14

1.5 Nghiên cứu K.A.P về bệnh lao

Những nước đang và chậm phát triển, độ lưu hành lao còn cao, phát triển bệnh bằng phương pháp thụ động là chủ yếu và quản lý điều trị lao theo chiến lược DOTS Hiệu quả của phương pháp phát hiện thụ động phụ thuộc vào trình độ hiểu biết, thái độ và khả năng thực hành (K.A.P- Knowledge Attitude Practice) về bệnh của những người tiếp xúc với bệnh nhân cũng như của cộng đồng Chỉ khi có kiến thức đúng, thái độ mặc cảm không còn tồn tại, người dân mới thực hành đúng về khám, phát hiện, điều trị và phòng bệnh; từ đó góp phần cho sự thành công của chiến lược DOTS Tuy nhiên, ngày nay sự hiểu biết, thái độ và thực hành đúng về bệnh lao trong cộng đồng còn khá hạn chế

1.5.1 Nghiên cứu K.A.P về bệnh lao trên thế giới

- Những nghiên cứu về kiến thức bệnh lao trên thế giới cho thấy ở nhiều nơi kiến thức về bệnh lao còn thiếu hụt rất nhiều

Theo Crofton và CS (1992), hiểu biết về bệnh lao rất khác nhau tùy từng quốc gia, tùy từng khu vực, thậm chí tùy từng nhóm dân trong từng khu vực Có nhiều người còn cho rằng bệnh lao là do thần linh, ma quỷ nhập vào người bệnh, quan niệm cho rằng bệnh lao là do di truyền, do lao động nặng cũng rất phổ biến [26] Ở Mỹ, Marinac JS (1998), điều tra về kiến thức bệnh lao của 505 người thuộc nhóm nguy cơ cao sống trong thành phố, trong đó 55% trả lời đúng nguyên nhân gây bệnh, 57% trả lời đúng về đường lây, 89% trả lời đúng về triệu chứng và 49% trả lời đúng về điều trị Tác giả kết luận: kiến thức thiếu hụt chủ yếu là nguyên nhân gây bệnh, đường lây và điều trị bệnh [31]

- Thái độ sai về bệnh lao còn nặng nề ở nhiều nước trên thế giới Tại Sabah, Koay TK (2004), phỏng vấn 205 người thì có 22% nghĩ rằng bệnh nhân lao rất bẩn, 51% không muốn sống cùng bệnh nhân lao, 41% thể hiện rằng mắc lao là đáng xấu hổ, 16% nói rằng bệnh lao là vấn đề

Trang 15

quá nhạy cảm để thảo luận [29] Tại New Delhi, Singh MM và CS (2002), nghiên cứu trên 208 người lớn, tuổi từ 16-70 ở Lok Nayak Colony, có tới 71% cho rằng nên tách bệnh nhân lao ra khỏi gia đình; 74,1% không muốn

ăn chung với người bệnh; 27,6% sẽ ngăn cản việc kết hôn với bệnh nhân lao và 18% đồng ý với việc không cho bệnh nhân tham dự vào các hoạt động xã hội [33]

- Thực hành sai về bệnh lao cũng còn rất phổ biến trên nhiều khu vực

Tỷ lệ bỏ trị rất cao ở nhiều nơi: tại Nepal năm 1994, Shakya TM nghiên cứu công thức 2RHZE/6HE tỷ lệ bỏ trị là 35% [28] Ở Malaysia, theo Kuppusamy I, chỉ có 1/3 số bệnh nhân tiếp tục điều trị sau 6 tháng, đa

số bệnh nhân bỏ trị sau 6 tháng đầu [31] Tại Trung Quốc, trong các chiến dịch điều tra dịch tễ lao toàn quốc năm 1990, 3633 người có triệu chứng nghi lao được phỏng vấn, kết quả chỉ có 34,1% đi khám bệnh tại các cơ sở

y tế còn lại tới 65,9% không đi khám [25]

1.5.2 Nghiên cứu K.A.P về bệnh lao tại Việt Nam

Tại Việt Nam, kiến thức về bệnh lao trong cộng đồng đã được nâng cao nhờ công tác truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) về bệnh Tuy nhiên, những thiếu hụt về K.A.P liên quan tới bệnh lao vẫn tồn tại

- Kiến thức về bệnh lao của người dân

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cồ và Hà Văn Như (1996), cho biết kiến thức về bệnh lao của cán bộ thôn bản, huyện Krongpa tỉnh Gia Lai còn rất hạn chế, chỉ có 23,8% biết về triệu chứng bệnh lao, 21,4% biết về nguyên nhân gây bệnh [11] Phạm Quang Tuệ phỏng vấn 399 người ở 5 xã thuộc 3 tỉnh miền núi: Hà Giang, Gia Lai, Kon Tum chỉ có 46,3% trả lời có nghe nói về bệnh lao, trong số những người này chỉ có 5,9% biết nguyên nhân gây bệnh; 7,6% biết đường lây bệnh; 11,4% biết phòng lao cho trẻ em bằng tiêm chủng Ngược lại, số người có kiến thức sai về bệnh lao chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều: 36,2% cho rằng bệnh nhân lao phổi sống cách ly và không

có ai biết chính xác thời gian chữa bệnh là bao lâu [21]

Trang 16

- Thái độ của người dân đối với bệnh lao

Theo Nguyễn Việt Cồ và Hà Văn Như (1996), cán bộ thôn (bản) huyện Krongpa tỉnh Gia Lai có thành kiến rất nặng nề đối với bệnh lao: 80,1% sợ bệnh lao; 59,52% không dám nói chuyện với bệnh nhân lao [11].Theo Phạm Quang Tuệ phỏng vấn 399 người ở 5 xã thuộc 3 tỉnh miền núi:

Hà Giang, Gia Lai, Kon Tum có 185 người nghe nói về bệnh lao Trong số này có 17,5% sẽ giấu bệnh vì ngại người khác biết mình mắc lao; 27,8% không muốn tiếp xúc với bệnh nhân lao [21] Theo CTCLQG (2005), qua phỏng vấn 1200 người dân ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thấy người dân có thái độ tin tưởng với các cơ sở y tế nhà nước cao: 96%

sẽ đến khám tại đó nếu nghi ngờ lao Tỷ lệ người không giấu bệnh nếu mắc lao cũng khá cao 88%, tuy nhiên vẫn còn tới 26% sẽ tránh tiếp xúc với bệnh nhân lao và gia đình mắc lao [7]

- Thực hành của người dân về bệnh lao

Theo Nguyễn Mạnh Tuấn (2001), nghiên cứu nguyên nhân chấn đoán muộn bệnh lao ở nhóm công chức, do công việc bận rộn có tới 80% bệnh nhân không đi khám bệnh, 60% tự mua thuốc kháng sinh hoặc thuốc lao về điều trị [10] Năm 1996, tỷ lệ bỏ trị chung của cả nước đối với công thức hóa trị liệu ngắn ngày là 2,4% Một số tỉnh tỷ lệ bỏ trị với công thức này còn rất cao: Gia Lai 10,9%; Khánh Hòa 9,5%; Phú Yên 8,3%; Hà Giang 7,2% [20]

Thiếu kiến thức dẫn đến thái độ và những hành vi sai là yếu tố chủ yếu làm tăng tỷ lệ nhiễm lao cũng như mắc lao trong cộng đồng Chính vì vậy cần phải tăng cường công tác TTGDSK trong cộng đồng để cung cấp, nâng cao kiến thức; từ đó làm thay đổi thái độ và mục đích cuối cùng là làm thay đổi hành vi, đưa đến thực hành đúng về bệnh lao

Trang 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: Trung tâm Hô Hấp- Bệnh viện Bạch Mai

- Thời gian: từ tháng 11/2012- 3/2013

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- 300 người nhà của bệnh nhân tại Trung tâm Hô Hấp- Bệnh viện

Bạch Mai có khả năng trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi, trong đó có 22 đối tượng nghiên cứu đã từng được chẩn đoán và điều trị bệnh lao theo tiêu chuẩn của TCYTTG năm 2005

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả (Cross sectional study) [23]

2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

Trong quá trình nghiên cứu, tôi chọn cỡ mẫu là 300 đối tượng để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu

2.4 Nội dung nghiên cứu

Học viên trực tiếp phỏng vấn 300 người nhà bệnh nhân tại Trung tâm

Hô Hấp-Bệnh viện Bạch Mai thông qua bộ câu hỏi đã được thiết kế và xây dựng dựa trên những nghiên cứu trước đây

Nội dung của bộ câu hỏi:

2.4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ( gồm 7 câu)

Trang 18

2.4.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về bệnh lao ( gồm 9 câu)

- Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh, đường lây và các triệu chứng chính của bệnh lao và các biện pháp phòng bệnh

- Hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về nơi khám và điều trị bệnh

- Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về thời gian chữa bệnh lao

2.4.3 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với bệnh lao ( gồm 5 câu)

- Thái độ của đối tượng nghiên cứu khi bản thân hoặc gia đình có người mắc lao

- Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với bệnh nhân lao: là thái độ khi bạn bè, đồng nghiệp hoặc hàng xóm có người mắc lao

- Thái độ tin tưởng của đối tượng nghiên cứu đối với điều trị bệnh lao

- Nơi đối tượng nghiên cứu tin tưởng sẽ đến khám và điều trị nếu nghi ngờ mắc lao

2.4.4 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về bệnh lao ( gồm 4 câu)

- Nơi đối tượng nghiên cứu đã đến khám khi có triệu chứng nghi lao

- Nơi đối tượng nghiên cứu lựa chọn đăng kí điều trị khi mắc lao

- Thực hành của đối tượng nghiên cứu về thời gian điều trị khi mắc lao

- Thực hành của đối tượng nghiên cứu về khuyên nhủ người thân đi khám sớm khi mắc lao

2.4.5 Nguồn cung cấp thông tin về bệnh lao của đối tượng nghiên cứu và các hình thức đưa thông tin đối tượng nghiên cứu mong muốn được tiếp cận ( gồm 2 câu)

- Nguồn thông tin về bệnh lao của đối tượng nghiên cứu

- Các hình thức đưa thông tin mà đối tượng nghiên cứu mong muốn được tiếp cận

Trang 19

2.5 Xử lý số liệu

- Nhập số liệu sử dụng phần mềm Epidata 3.1

- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

2.6 Đạo đức nghiên cứu

- Trước khi tiến hành nghiên cứu, nghiên cứu viên đã giải thích cho đối tượng rõ nội dung, mục đích, ý nghĩa của việc tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ tiến hành với những đối tượng tình nguyện tham gia nghiên cứu

Trang 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm của đối tượng điều tra

Biểu đồ 3.1 Phân bố giới

Nhận xét: Trong số 300 đối tượng nghiên cứu thì nam giới có tỷ lệ là 51,3% cao hơn nữ giới (48,7%)

Trang 21

Nhận xét: Trong tổng số đối tượng nghiên cứu thì nông dân chiếm tỷ

lệ cao nhất (41,6%) và học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ thấp nhất (6%)

Bảng 3.3 Phân bố địa dư

Trang 22

Biểu đồ 3.2 Phân bố trình độ học vấn

Nhận xét: Trong tổng số 300 đối tượng nghiên cứu, nhóm đối tượng có trình độ THPT, THCS chiếm tỷ lệ cao nhất là 51%; trình độ cao đẳng, ĐH, SĐH chiếm tỷ lệ 19,3%; số đối tượng có trình độ trung cấp và học nghề chiếm 12,7% và có đến 17% số đối tượng có trình độ từ tiểu học trở xuống

Bảng 3.4 Chẩn đoán của bệnh nhân tại trung tâm hô hấp

Trang 23

3.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về bệnh lao

Bảng 3.5 Kiến thức của đối tượng về nguyên nhân gây bệnh

Trang 24

Bảng 3.6 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về tính chất lây và đường

Nhận xét: Trong tổng số 300 đối tượng nghiên cứu:

+ Số người quan niệm đúng cho rằng bệnh lao là bệnh lây chiếm tỷ lệ 93% + Tỷ lệ số người cho rằng bệnh lao không lây hoặc không biết bệnh lao có lây hay không là 7%

+ Tỷ lệ số người hiểu đúng về đường lây là 83,4%

+ Tỷ lệ số người hiểu sai về đường lây là 11,6%

Bảng 3.7 Quan niệm của đối tượng nghiên cứu về khả năng di truyền của

Trang 25

Biểu đồ 3.3 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về triệu chứng bệnh

Nhận xét: Trong tổng số 300 đối tượng nghiên cứu, triệu chứng ho khạc kéo dài trên 2 tuần được biết đến nhiều nhất 73%; tiếp theo đó là sốt về chiều 56,7%; gầy sút cân 50,7%; mệt mỏi ăn kém 44,3%; đau tức ngực 35,7%; 18,5% đối tượng biết một số triệu chứng khác như: ho ra máu, khó thở, ra mồ hôi trộm và có tới 19,3% không biết triệu chứng nào của bệnh lao

Bảng 3.8 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về khả năng phòng bệnh

Trang 26

Bảng 3.9 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp phòng bệnh

Biện pháp phòng tránh Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Phát hiện sớm và điều trị khỏi 95 31,7

Nhận xét: Biện pháp được mọi người biết đến nhiều nhất là ăn uống đầy đủ với 43,7%; trong khi hai biện pháp chủ yếu để phòng bệnh lao là tiêm phòng lao; phát hiện sớm và điều trị khỏi thì chiếm tỷ lệ thấp hơn lần lượt là 39,3% và 31,7% 41% người nói về các biện pháp khác như tránh tiếp xúc, đeo khẩu trang và sử dụng riêng bát đũa; có đến 24% số người không biết bất kì một biện pháp phòng tránh nào

Bảng 3.10 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nơi khám phát hiện và

Nhận xét: Trong tổng số 300 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ số đối tượng nghiên cứu biết nơi khám và điều trị bệnh là BV lao tỉnh và BV lao Trung ương cao chiếm 55% và 54%, trong khi tỷ lệ số đối tượng biết TTYT huyện là nơi phát hiện và điều trị bệnh còn thấp, chiếm 27,7%

Trang 27

3.3 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với bệnh lao

Bảng 3.11 Thái độ của đối tượng nghiên cứu khi bản thân hoặc gia đình

Biểu đồ 3.4 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với bệnh nhân lao

Nhận xét: Trong tổng số 300 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ người có thái

độ tránh tiếp xúc với bệnh nhân lao chiếm tỷ lệ cao nhất 53,3%; chỉ có 39% vẫn tiếp xúc bình thường và vẫn còn 7,7% số người có thái độ kỳ thị không tiếp xúc với bệnh nhân lao

Trang 28

Bảng 3.12 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc khuyên người thân

trong gia đình đi khám sớm

số người có ý kiến khác (phần lớn số ý kiến khác cho rằng chỉ đi khám khi có triệu chứng)

Bảng 3.13 Thái độ của đối tượng nghiên cứu tin tưởng bệnh lao có thể

Trang 29

3.4 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về bệnh lao

Bảng 3.14 Thực hành của đối tượng nghiên cứu khi có triệu chứng nghi

Biểu đồ 3.5 Thực hành về nơi điều trị của các đối tượng đã mắc lao

(n= 22)

Nhận xét: Trong số 300 đối tượng điều tra thì có 22 người đã từng mắc bệnh lao Trong đó tỷ lệ điều trị tại TTYT huyện là cao nhất 36,4%, tiếp theo là BV đa khoa tỉnh 31,8% và thấp nhất là BV đa khoa trung ương với 4,5%

Trang 30

Bảng 3.15 Thực hành về thời gian điều trị của các đối tượng đã mắc lao

và có tới 3 người tự ý dừng thuốc khi hết triệu chứng (13,6%)

3.5 Nguồn cung cấp thông tin về bệnh lao mà đối tượng nghiên cứu đã tiếp cận và các hình thức cung cấp thông tin mong muốn được tiếp cận

Biểu đồ 3.6 Nguồn thông tin đã tiếp cận về bệnh lao của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Hầu hết đối tượng nghiên cứu biết thông tin về bệnh lao qua

ti vi, đài, loa phát thanh (86%); thông tin từ sách báo, tờ rơi, tranh ảnh chiếm

tỷ lệ cao thứ hai với 29,7%; có tới 19,3% biết thông tin từ các nguồn khác như: internet, tư vấn trực tiếp tại xã phường và qua truyền miệng Tỷ lệ số người biết thông tin về bệnh qua y tế cơ quan là thấp nhất 17,3%

Trang 31

Bảng 3.16 Nguồn thông tin về bệnh lao mà đối tượng nghiên cứu muốn

tiếp cận

Nguồn thông tin Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Ti vi, đài, loa phát thanh 293 97,7

Sách báo, tờ rơi, tranh ảnh 191 63,7

3.6 So sánh giữa các nhóm đối tượng

Bảng 3.17 Kiến thức đúng của nhóm đã mắc bệnh lao và chưa mắc bệnh lao

Kiến thức đúng về bệnh

Nhóm I:

những người đã mắc bệnh lao (n=22)

Nhóm II:

những người chưa mắc bệnh lao (n=278)

+ Tỷ lệ số người có kiến thức đúng về phòng bệnh bằng tiêm phòng vacxin và phát hiện sớm, điều trị khỏi của nhóm I có cao hơn nhóm II song không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Trang 32

Bảng 3.18 Thái độ đúng của nhóm đã mắc bệnh lao và chưa mắc bệnh lao

Thái độ đúng về bệnh lao Nhóm I

(n=22)

Nhóm II (n=278) P

“trung cấp, học nghề” trở lên (n=96)

Nhóm B: từ

“ THPT” trở xuống (n=204)

nhóm II (p<0,05)

Trang 33

Biểu đồ 3.7 Thái độ đúng của 2 nhóm có trình độ học vấn khác nhau

Nhận xét: Thái độ đúng về bệnh lao của 2 nhóm đối tượng nghiên cứu trên là tương đương nhau (p>0,05)

Bảng 3.20 Kiến thức đúng của nhóm chăm sóc bệnh nhân mắc lao và

nhóm chăm sóc bệnh nhân không mắc lao

Kiến thức đúng về bệnh

Nhóm X:

những người chăm sóc bệnh nhân mắc lao (n=47)

Nhóm Y:

những người chăm sóc bệnh nhân không mắc lao (n=253)

Trang 34

Bảng 3.21.Thái độ đúng của nhóm chăm sóc bệnh nhân mắc lao và nhóm

chăm sóc bệnh nhân không mắc lao

Thái độ đúng về bệnh lao Nhóm X

(n=47)

Nhóm Y (n=253) P

Khi bản thân mắc bệnh lao N 15 102 >0,05

Trang 35

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm của nhóm đối tượng nghiên cứu

Trong tổng số 300 đối tượng nghiên cứu thì trong đó:

+ Nam giới có tỷ lệ là 51,3% cao hơn nữ giới (48,7%)

+ Phần lớn nằm trong nhóm tuổi từ 41-60 (135 người, chiếm 45%), người thấp tuổi nhất là 18 tuổi và người cao tuổi nhất là 84 tuổi

+ Trong tổng số đối tượng nghiên cứu thì nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất (41,6%) và học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ thấp nhất (6%)

+ Tỷ lệ người ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất (59,3%), ở miền núi chiếm tỷ lệ thấp nhất (9%) và ở thành thị chiếm 31,7%

+ Nhóm đối tượng có trình độ THPT, THCS chiếm tỷ lệ cao nhất là 51%; trình độ cao đẳng, ĐH, SĐH chiếm tỷ lệ 19,3%; số đối tượng có trình

độ trung cấp và học nghề chiếm 12,7% và có đến 17% số đối tượng có

trình độ từ tiểu học trở xuống

Các kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Lê Minh Hòa (2008) với tỷ lệ nam giới là 59%, tỷ lệ nông dân là 54,6% [13] và trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Phượng (2006), nhóm người có trình độ học vấn thấp là 15,2% [17]

4.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu đối với bệnh lao

* Kiến thức về nguyên nhân, tính chất lây và đường lây truyền của bệnh lao

- 93% số người quan niệm đúng cho rằng bệnh lao là bệnh lây truyền + 7% số người cho rằng bệnh lao không lây hoặc không biết bệnh lao

có lây hay không

- 83,4% tỷ lệ số người biết bệnh lao lây qua đường hô hấp

Trang 36

+ 10,3% tỷ lệ số người hiểu sai về đường lây

- 33% đối tượng quan niệm đúng là bệnh lao không di truyền

+ 36% số quan niệm sai lầm cho rằng bệnh lao di truyền

+ 31% số đối tượng còn lại thì không biết bệnh lao có di truyền hay không

- 32,7% số người biết nguyên nhân gây bệnh lao là do vi khuẩn lao chiếm tỷ lệ cao nhất

+ 15,3% số người không biết nguyên nhân gây bệnh lao

+ 11% số người cho rằng bệnh lao là do làm việc nặng

+ 9,7% tỷ lệ người cho rằng bệnh lao là do di truyền

Một số nghiên cứu cho thấy cho thấy có tỷ lệ hiểu biết đúng thấp hơn kết quả của chúng tôi

Theo CTCLQG (2005), điều tra K.A.P đối với bệnh lao của người dân tại khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thấy 74,8% quan niệm đúng lao là bệnh lây [7]

Nguyễn Quốc Hoàn (2005), điều tra tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên có 65,6% biết được bệnh lao lây qua đường hô hấp [14]

Những đối tượng này là người dân ở khu vực miền núi và cao nguyên nên có lẽ có nhận thức về bệnh kém hơn đối tượng của chúng tôi

Đối với những nghiên cứu trên đối tượng là bệnh nhân đã điều trị lao thì có hiểu biết cao hơn kết quả của chúng tôi

Nguyễn Quốc Minh (2003), điều tra kiến thức bệnh lao của sinh viên, kết quả có 80% sinh viên hiểu biết đúng nguyên nhân gây bệnh [15]

Vương Thị Tuyên (2005), điều tra trên bệnh nhân lao ở Cao Bằng có 80,3% bệnh nhân biết đúng nguyên nhân gây bệnh [24]

Theo Nguyễn Phương Hoa (2004), nghiên cứu 364 bệnh nhân lao màng phổi AFB (+) ở các huyện của các tỉnh miền núi phía Bắc và miền

Ngày đăng: 14/01/2015, 18:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các quốc gia có tỷ lệ mắc lao cao - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Hình 1.1. Các quốc gia có tỷ lệ mắc lao cao (Trang 4)
Hình 1.2. Bệnh lao lây chủ yếu theo đường hô hấp  1.2.2.3. Cơ chế bệnh sinh - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Hình 1.2. Bệnh lao lây chủ yếu theo đường hô hấp 1.2.2.3. Cơ chế bệnh sinh (Trang 8)
Bảng 3.2. Phân bố nghề nghiệp - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.2. Phân bố nghề nghiệp (Trang 21)
Bảng 3.3. Phân bố địa dư - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.3. Phân bố địa dư (Trang 21)
Bảng 3.4. Chẩn đoán của bệnh nhân tại trung tâm hô hấp - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.4. Chẩn đoán của bệnh nhân tại trung tâm hô hấp (Trang 22)
Bảng 3.5. Kiến thức của đối tượng về nguyên nhân gây bệnh - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.5. Kiến thức của đối tượng về nguyên nhân gây bệnh (Trang 23)
Bảng 3.8. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về khả năng phòng bệnh - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.8. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về khả năng phòng bệnh (Trang 25)
Bảng 3.9. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp phòng bệnh - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.9. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp phòng bệnh (Trang 26)
Bảng 3.12. Thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc khuyên người thân - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.12. Thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc khuyên người thân (Trang 28)
Bảng 3.14. Thực hành của đối tượng nghiên cứu khi có triệu chứng nghi - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.14. Thực hành của đối tượng nghiên cứu khi có triệu chứng nghi (Trang 29)
Bảng 3.16. Nguồn thông tin về bệnh lao mà đối tượng nghiên cứu muốn - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.16. Nguồn thông tin về bệnh lao mà đối tượng nghiên cứu muốn (Trang 31)
Bảng 3.18. Thái độ đúng của nhóm đã mắc bệnh lao và chưa mắc bệnh lao - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.18. Thái độ đúng của nhóm đã mắc bệnh lao và chưa mắc bệnh lao (Trang 32)
Bảng 3.20. Kiến thức đúng của nhóm chăm sóc bệnh nhân mắc lao và - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.20. Kiến thức đúng của nhóm chăm sóc bệnh nhân mắc lao và (Trang 33)
Bảng 3.21.Thái độ đúng của nhóm chăm sóc bệnh nhân mắc lao và nhóm - mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại trung tâm hô hấp- bệnh viện bạch mai
Bảng 3.21. Thái độ đúng của nhóm chăm sóc bệnh nhân mắc lao và nhóm (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w